1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và đề xuất một số giải pháp phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái ở huyện sóc sơn, thành phố hà nội

125 237 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 6,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan Đề tài “Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và đề xuất một số giải pháp phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái ở huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội” l

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

- -

NGUYỄN THỊ THANH MAI

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP VÀ

ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP

ĐÔ THỊ SINH THÁI Ở HUYỆN SÓC SƠN,

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội, năm 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

- -

NGUYỄN THỊ THANH MAI

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP VÀ

ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP

ĐÔ THỊ SINH THÁI Ở HUYỆN SÓC SƠN,

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành: Quản lý đất đai

Mã số: 60850103

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS TS NGÔ ĐỨC PHÚC

Hà Nội, năm 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Đề tài “Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và đề

xuất một số giải pháp phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái ở huyện Sóc Sơn,

thành phố Hà Nội” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Các số liệu, kết quả

nêu trong Luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa từng được ai công bố trong

bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều có xuất xứ,

nguồn gốc cụ thể Việc sử dụng các thông tin này trong quá trình nghiên cứu là

hoàn toàn hợp lệ

Nguyễn Thị Thanh Mai

Trang 4

Tôi xin cảm ơn các Thầy, Cô giáo trong Khoa Địa lý, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc Gia Hà Nội, đặc biệt là các Thầy, Cô trong Bộ môn Địa chính đã hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành Luận văn

Tôi xin cảm ơn các Thầy, Cô giáo và cán bộ thuộc Phòng sau đại học – Trường Đại học Khoa học Tự nhiên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi thực hiện Luận văn

Tôi xin cảm ơn các cơ quan chức năng, tổ chức và cá nhân có liên quan thuộc huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội đã cung cấp tài liệu và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài; xin cảm ơn các anh, chị đồng nghiệp và các bạn học viên Cao học ngành Quản lý đất đai khóa 2015-2017 đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện Luận văn; xin cảm ơn bạn bè tôi, những người thân trong gia đình tôi đã luôn cổ vũ, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện Luận văn này

Nguyễn Thị Thanh Mai

Trang 5

MỤC LỤC

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2

3 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 2

4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3

5.1 Phương pháp điều tra, thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp: 3

5.6 Phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất: 4

6 CẤU TRÚC LUẬN VĂN 5

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 6

1.1 Cơ sở lý luận về sử dụng đất nông nghiệp khu vực đô thị hóa 6

1.1.1 Một số khái niệm về đất, đất nông nghiệp, nông nghiệp đô thị

1.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu về sử dụng đất nông nghiệp theo

1.2.1 Sử dụng bền vững đất nông nghiệp theo hướng nông nghiệp đô

1.2.2 Kinh nghiệm một số nước trên thế giới và nước ta về phát triển

1.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 27

1.3.1 Chỉ tiêu kinh tế 27 1.3.2 Chỉ tiêu xã hội 28

Trang 6

1.3.3 Chỉ tiêu môi trường 28

CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT

NÔNG NGHIỆP HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 29

2.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Sóc Sơn 29

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 38

2.2 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp năm 2017 và biến động sử dụng

2.2.1 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp năm 2017 45

2.2.2 Biến động sử dụng đất nông nghiệp từ năm 2010 – 2017 47

2.2.3 Các loại hình sử dụng đất nông nghiệp tại huyện Sóc Sơn 49

2.3 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cho các loại hình chính tại

huyện Sóc Sơn 53 2.3.1 Đánh giá hiệu quả kinh tế 53

2.3.2 Đánh giá hiệu quả xã hội 55

2.3.3 Đánh giá hiệu quả môi trường 57

2.4 Kết quả điều tra, khảo sát hiệu quả của một số mô hình sử dụng đất

theo hướng nông nghiệp đô thị sinh thái trên địa bàn huyện Sóc Sơn 61

2.4.2 Mô hình sản xuất rau hữu cơ 62

2.4.4 Mô hình sử dụng đất chăn nuôi gà đồi 67

CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT ĐỊNH HƯỚNG, GIẢI PHÁP SỬ DỤNG BỀN VỮNG

ĐẤT NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP ĐÔ

THỊ SINH THÁI TẠI HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 77

Trang 7

3.1 Mục tiêu, định hướng phát triển kinh tế - xã hội của huyện Sóc Sơn đến

3.2 Định hướng sử dụng đất nông nghiệp của huyện Sóc Sơn đến năm 2030 84

3.2.1 Tiềm năng đất nông nghiệp 84

3.2.2 Phân tích định hướng sử dụng đất nông nghiệp khu vực nghiên

cứu đến 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đã được xác định của

huyện Sóc Sơn 85

3.3 Đề xuất định hướng sử dụng đất nông nghiệp theo hướng phát triển

nông nghiệp đô thị sinh thái đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 tại

huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội 88

3.3.1 Khai thác tiềm năng đất, sử dụng đất hợp lý 88

3.3.2 Bảo vệ cảnh quan thiên nhiên, môi trường 89

3.3.3 Các đề xuất cụ thể 89

3.4 Đề xuất các giải pháp sử dụng bền vững đất nông nghiệp huyện Sóc

Sơn theo hướng phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái 96

3.4.1 Giải pháp về quy hoạch 96

TÀI LIỆU THAM KHẢO 103

PHỤ LỤC 107

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Dân số và lao động của huyện Sóc Sơn 39

Bảng 2.2 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp năm 2017 huyện Sóc Sơn 46

Bảng 2.3 Bảng biến động tình hình sử dụng đất nông nghiệp giai đoạn 2010-2017 48

Bảng 2 4 Hiện trạng các loại hình sử dụng đất nông nghiệp tại huyện Sóc Sơn 49

Bảng 2 5 Hiệu quả kinh tế sử dụng đất 54

Bảng 2 6 Hiệu quả xã hội của các loại hình sử dụng đất chính huyện Sóc Sơn 55

Bảng 2.7 Tổng hợp mức độ bón phân của một số cây trồng chính 58

Bảng 2.8 Tình hình sử dụng thuốc BVTV cho một số cây trồng 59

Bảng 2.9 Cơ cấu diện tích của mô hình rau hữu cơ 63

Bảng 2.10 Một số chỉ tiêu hiệu quả kinh tế của mô hình rau hữu cơ 64

Bảng 2.11 Cơ cấu diện tích của mô hình rau an toàn 66

Bảng 2.12 Hiệu quả kinh tế mô hình rau an toàn 66

Bảng 2.13 Cơ cấu diện tích của mô hình chăn nuôi gà đồi 69

Bảng 2.14 Hiệu quả kinh tế mô hình gà đồi 69

Bảng 2.15 Cơ cấu diện tích của mô hình VAC 71

Bảng 2.16 Hiệu quả kinh tế mô hình V-A-C 72

Bảng 2.17 Hiệu quả kinh tế mô hình dịch vụ sinh thái 74

Bảng 3 1 Một số chỉ tiêu chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2016-2020 78

Bảng 3.2 Định hướng quy hoạch sản xuất tập trung theo hướng nông nghiệp đô thị sinh thái 89

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 1 1: Phát triển bền vững 13

Hình 2 1: Sơ đồ vị trí huyện Sóc Sơn 30

Hình 2 2: Chứng nhận PGS của Rau hữu cơ Thanh Xuân 62

Hình 2 3: Khu sinh thái Bản Rõm 73

Hình 3 1: Chè an toàn Bắc Sơn 95

Hình 4 1: Bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 108

Trang 10

UBND: Ủy ban nhân dân

VAC: vườn – ao – chuồng

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các công trình kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng… là nguồn vốn, nguồn nội lực trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay; đồng thời đất đai là nguồn tài nguyên hữu hạn

Trong những năm gần đây, việc sử dụng đất đai tại nhiều địa phương ở nước

ta ngày càng có hiệu quả Tuy nhiên tại một số khu vực, đặc biệt là các khu vực ngoại thành đang trong quá trình đô thị hóa khá nhanh, thực trạng sử dụng đất đang đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết Do yêu cầu của quá trình đô thị hóa, một diện tích lớn đất nông nghiệp đã và đang chuyển sang các mục đích phi nông nghiệp Mặt khác, để đảm bảo nhu cầu sống tốt của con người, diện tích đất nông nghiệp cần được quy hoạch sử dụng có hiệu quả cao nhằm cung cấp lương thực, thực phẩm cho nội thành và các vùng lân cận, cải thiện môi trường sinh thái đô thị

Sóc Sơn là một huyện nằm ở phía Bắc của thành phố Hà Nội Huyện Sóc Sơn được thành lập trên cơ sở sáp nhập hai huyện Đa Phúc và Kim Anh thuộc tỉnh Vĩnh Phú ngày 5/7/1977 của Hội đồng Chính phủ Việt Nam Ngày 29/12/1978, huyện Sóc Sơn được chuyển về Hà Nội.[38]

Sóc Sơn có “diện tích đất tự nhiên 306,5 km2, trong đó: đất sản xuất nông nghiệp là 13.559 ha, đất lâm nghiệp là 4.557 ha Toàn huyện có 25 xã, 1 thị trấn được chia thành 3 khu vực: 9 xã đồi gò, 8 xã vùng trũng và 8 xã vùng giữa Dân số của huyện trên 32 vạn người” [23]

Huyện Sóc Sơn đã được UBND Thành phố Hà Nội phê duyệt Quy hoạch chung tỷ lệ 1/10.000 định hướng đến năm 2030, với tính chất cơ bản là: Thương mại – dịch vụ, công nghiệp, du lịch, giáo dục – đào tạo, nông nghiệp sinh thái, có vị trí quan trọng về an ninh quốc phòng; hướng tới một huyện phát triển xứng tầm là

Trang 12

cửa ngõ phía Bắc của Thủ đô Hà Nội, là đầu mối giao thông quan trọng của Quốc gia, của Vùng và Thủ đô Hà Nội [23]

Trước đây, người dân trong huyện chủ yếu sinh sống bằng việc sản xuất nông nghiệp Do đó, để phát triển đúng hướng, Sóc Sơn cần có những nghiên cứu cụ thể

về thực trạng và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp để đưa ra định hướng, giải pháp cho sử dụng bền vững đất nông nghiệp

Xuất phát từ những vấn đề trên, học viên chọn đề tài luận văn “Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và đề xuất một số giải pháp phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái ở huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội”

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

- Làm rõ thực trạng sử dụng đất nông nghiệp và đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp chính tại huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội

- Đề xuất một số định hướng, giải pháp sử dụng bền vững đất nông nghiệp theo hướng phát triển nông nghiệp sinh thái tại khu vực nghiên cứu

3 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

- Tìm hiểu, nghiên cứu tổng quan về cơ sở lý luận sử dụng bền vững đất nông nghiệp khu vực đô thị, lý luận về nông nghiệp sinh thái

- Điều tra, thu thập tài liệu, số liệu, bản đồ có liên quan đến địa bàn nghiên cứu

- Phân tích hiện trạng sử dụng đất của huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội năm

2017 và biến động sử dụng đất nông nghiệp của huyện giai đoạn 2010 – 2017

- Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp (hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp chính) khu vực nghiên cứu

- Điều tra khảo sát các mô hình sử dụng đất theo hướng nông nghiệp đô thị sinh thái trên địa bàn nghiên cứu

- Đề xuất định hướng, giải pháp sử dụng bền vững đất nông nghiệp huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội theo hướng phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái

Trang 13

4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

 Phạm vi không gian: toàn bộ địa bàn huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội

 Phạm vi nội dung: do nhóm đất nông nghiệp gồm khá nhiều loại đất nên đề tài luận văn tập trung nghiên cứu hiện trạng và hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp và một số mô hình đất nông nghiệp khác

 Phạm vi thời gian nghiên cứu: tập trung vào các năm từ 2015 đến 2017

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

5.1 Phương pháp điều tra, thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp:

Thu thập các tài liệu, số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội; các số liệu thống kê về diện tích đất nông nghiệp, tình hình sử dụng đất… từ các báo cáo của địa phương, định hướng sử dụng đất nông nghiệp, quy hoạch sử dụng đất của huyện; để so sánh, đối chiếu để hệ thống hóa các vấn đề nghiên cứu, phục vụ cho việc đánh giá hiện trạng và biến động sử dụng đất nông nghiệp khu vực nghiên cứu Tất cả các số liệu thứ cấp được thu thập từ UBND huyện Sóc Sơn, các phòng, ban và các xã của huyện Sóc Sơn như: Văn phòng HĐND-UBND huyện Sóc Sơn, phòng Tài nguyên và Môi trường, phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, chi cục thống kê…

5.2 Phương pháp điều tra nhanh nông thôn:

Điều tra ngẫu nhiên, phỏng vấn nông hộ về hiệu quả các loại hình sử dụng đất nông nghiệp chính trên địa bàn nghiên cứu thông qua các phiếu điều tra Học viên

đã tiến hành điều tra 150 hộ với các nội dung chủ yếu sau: thành viên của hộ gia đình/tổ chức, nguồn thu nhập chính, diện tích đất, tình hình sử dụng đất, đầu tư – chi phí cho sản xuất nông nghiệp, hiệu quả sử dụng đất, việc sử dụng các hóa chất trong sản xuất nông nghiệp, khả năng tiêu thụ sản phẩm trên thị trường…

Các điểm điều tra là đại diện cho các khu vực có loại cây trồng chủ yếu và số lượng các loại hình sử dụng đất tập trung và đa dạng nhất, đại diện cho các khu vực của huyện Sóc Sơn

Sóc Sơn là vùng bán sơn địa với 3 loại địa hình chính: vùng đồi gò, vùng giữa

và vùng đồng bằng ven sông Do vậy, học viên đã điều tra 50 phiếu/vùng

Trang 14

- Vùng đồi gò: là hệ thống núi thấp và đồi gò, diện tích khoảng 12.500 ha, gồm 8 xã: Bắc Sơn, Nam Sơn, Minh Trí, Minh Phú, Hiền Ninh, Quang Tiến, Tiên Dược và Hồng Kỳ

- Vùng giữa: địa hình chủ yếu là ruộng bậc thang, độ cao trung bình từ 20 - 40m, diện tích khoảng 9.300 ha, nằm trên địa bàn 6 xã: Tân Minh, Tân Dân, Phù Linh, Trung Giã, Mai Đình, thị trấn Sóc Sơn

- Vùng đồng bằng ven sông: địa hình khá bằng phẳng, độ cao trung bình từ 10

- 20 m, trong đó có khoảng 1.000 ha đất thường xuyên bị ngập úng, nằm trên địa bàn 12 xã: Thanh Xuân, Phù Lỗ, Việt Long, Kim Lũ, Xuân Giang, Phú Minh, Phú Cường, Đông Xuân, Đức Hoà, Tân Hưng, Xuân Thu và Bắc Phú

5.3 Phương pháp thống kê, so sánh:

Tập hợp nhiều tài liệu, số liệu liên quan đến đề tài từ các cơ quan, phòng, ban chuyên môn… và từ kết quả điều tra, hiện trạng; xem xét, phân tích để đưa ra nhận xét Đề tài có tiến hành thống kê, so sánh số liệu qua các năm để thấy được sự biến động, thay đổi sử dụng đất nông nghiệp

5.4 Phương pháp tổng hợp, phân tích:

Từ số liệu thu thập được và hiện trạng, hiệu quả sử dụng đất tiến hành tổng hợp, phân tích làm rõ những tồn tại, những điểm chưa hợp lý trong sử dụng đất nông nghiệp khu vực nghiên cứu

5.5 Phương pháp chuyên gia:

Tham khảo, lấy ý kiến của cơ quan chuyên môn, cán bộ địa phương, cán bộ phòng Tài nguyên và Môi trường, cán bộ phòng Kinh tế, cán bộ Hội đồng nhân dân huyện, cán bộ phòng Quản lý đô thị… về định hướng và giải pháp sử dụng đất nông nghiệp tại huyện Sóc Sơn

5.6 Phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất:

Phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất bao gồm các chỉ tiêu:

- Hiệu quả kinh tế cây trồng theo hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2009) bao gồm các chỉ tiêu: giá trị sản xuất, chi phí sản xuất, giá trị gia tăng tính trên 1 ha

Trang 15

- Hiệu quả xã hội: số công lao động/1ha; giá trị gia tăng/1 công lao động; khả năng cung cấp lương thực; phù hợp năng lực nông hộ về đất, nhân lực, vốn…

- Hiệu quả môi trường: mức độ sử dụng phân bón, thước bảo vệ thực vật, nguy

cơ ô nhiễm môi trường sinh thái

6 CẤU TRÚC LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, nội dung luận văn được cấu trúc thành 3 chương:

Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Chương 2: Đánh giá hiện trạng và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội

Chương 3: Đề xuất định hướng, giải pháp sử dụng bền vững đất nông nghiệp theo hướng phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái tại huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội

Trang 16

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Cơ sở lý luận về sử dụng đất nông nghiệp khu vực đô thị hóa

1.1.1 Một số khái niệm về đất, đất nông nghiệp, nông nghiệp đô thị sinh thái

Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinhtế, văn hoá, xã hội, an ninh và quốc phòng [10] Tuy nhiên, đất đai là nguồn tài nguồn tài nguyên hạn chế

1.1.1.2 Khái niệm về đất nông nghiệp

Theo điều 10 Luật đất đai 2013, Việt nam phân loại đất gồm: đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp, đất chưa sử dụng Trong đó, nhóm đất nông nghiệp bao gồm các loại đất sau đây:

a) Đất trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm khác; b) Đất trồng cây lâu năm;

c) Đất rừng sản xuất;

d) Đất rừng phòng hộ;

đ) Đất rừng đặc dụng;

e) Đất nuôi trồng thủy sản;

Trang 17

g) Đất làm muối;

h) Đất nông nghiệp khác gồm đất sử dụng để xây dựng nhà kính và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt, kể cả các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất; xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khác được pháp luật cho phép; đất trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản cho mục đích học tập, nghiên cứu thí nghiệm; đất ươm tạo cây giống, con giống và đất trồng hoa, cây cảnh

1.1.1.3 Khái niệm về đất nông nghiệp đô thị sinh thái

 Nông nghiệp sinh thái

Nền nông nghiệp sinh thái là nền nông nghiệp kết hợp hài hòa những cái ưu điểm, tích cực của hai nền nông nghiệp: nông nghiệp hóa học và nông nghiệp hữu cơ một cách hợp lý và có chọn lọc nhằm: thỏa mãn nhu cầu hiện tại nhưng không gây hại đến các nhu cầu của các thế hệ tương lai (nông nghiệp bền vững); thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của con người về sản phẩm nông nghiệp, nghĩa là phải đạt năng suất cao, phẩm chất nông sản tốt với mức đầu tư vật chất ít và hiệu quả kinh tế cao [32] Nhiều học giả nhận định: nông nghiệp sinh thái cũng chính là nông nghiệp bền vững, mang lại hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội Nhưng một nền sản xuất nông nghiệp mang lại hiệu quả kinh tế cao, chưa chắc đã là một nền nông nghiệp sinh thái và bền vững nếu như nó không có tác động đến bảo vệ môi trường sinh thái và con người

 Nông nghiệp đô thị sinh thái

Chương Trình Phát triển Liên Hiệp Quốc UNDP định nghĩa: Nông nghiệp đô thị là một ngành công nghiệp mà sản xuất, chế biến và buôn bán thực phẩm và chất đốt thực hiện trên các vùng đất và mặt nước xen kẽ, rải rác trong các đô thị và vùng ngoại ô

Theo Tổ chức Nông Lương Liên Hiệp Quốc FAO (1996) và Chương Trình Phát Triển Liên Hiệp Quốc UNDP (1999): Nông nghiệp đô thị là những hoạt động sản xuất nông nghiệp ở trung tâm, ngoại ô và khu vực lân cận đô thị, có chức năng trồng trọt, chăn nuôi, chế biến và phân phối các loại thực phẩm, lương thực và các

Trang 18

sản phẩm khác, sử dụng các nguồn lực tự nhiên và nhân văn, các sản phẩm cùng các dịch vụ ở đô thị và vùng lân cận đô thị để cung cấp trở lại cho đô thị các sản phẩm

và dịch vụ cao cấp Nông nghiệp đô thị bao gồm nông nghiệp nội thị và nông nghiệp ngoại thị với các hoạt động chủ yếu là trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và thủy sản [26]

Nhiều tác giả quan niệm: Nông nghiệp đô thị là ngành kinh tế trong và ven đô thị, sản xuất, chế biến và cung ứng cho người dân lương thực, thực phẩm tươi sống, hoa, sinh vật và thực vật cảnh; dùng phương pháp canh tác hữu cơ và công nghệ cao không cần nhiều đất đai, không gây ô nhiễm môi trường, sử dụng và tái sử dụng tài nguyên thiên nhiên và chất thải đô thị; tăng thêm không gian xanh và cơ hội thư giãn cho người dân đô thị và xuất khẩu

Nông nghiêp đô thị có thể phân chia theo khu vực như sau:

+ Nông nghiệp nội đô

+ Nông nghiệp vùng vành đai nhạy cảm

+ Nông nghiệp ngoại đô (ngoại thành)

Do đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội và môi trường của mỗi vùng khác nhau nên sản xuất nông nghiệp ở mỗi vùng cũng khác nhau

Theo học giả Lê Quý Đôn: “ Nông nghiệp đô thị sinh thái là một quá trình sản xuất được bố trí phù hợp với điều kiện tự nhiên của từng đô thị nhằm khai thác triệt

để các tiềm năng với công nghệ sản xuất sạch tạo ra sản phẩm chất lượng cao, an toàn thực phẩm, nâng cao chất lượng môi trường, cảnh quan tạo ra hệ sinh thái bền vững”

1.1.2 Đặc điểm nông nghiệp khu vực đô thị hóa

Đất nông nghiệp khu vực đô thị hóa ngày càng giảm nhanh thay do đất nông nghiệp chuyển sang đất phi nông nghiệp, đất dịch vụ Quá trình đô thị hóa ngày nay gắn liền với công nghiệp hóa, hiện đại hóa; phản ánh nền kinh tế: phát triển mạnh công nghiệp, dịch vụ, thu nhỏ nông nghiệp

Khu vực ven đô nhanh chóng hình thành các khu công nghiệp, khu chế xuất, các trung tâm dịch vụ, các khu đô thị mới, khu tái định cư… xuất hiện nhiều ngành nghề mới, tạo việc làm, thu nhập cho người lao động, góp phần thúc đẩy sự phát

Trang 19

triển kinh tế, sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế

Thực tế, nhiều khu công nghiệp, dịch vụ được xây dựng nhưng có rất ít các doanh nghiệp phục vụ trực tiếp cho sản xuất nông nghiệp Phần lớn nông sản được sản xuất ra ở khu vực ven đô có giá trị tăng gia thấp, lợi ích từ các sản phẩm nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp; trong khi sản xuất nông nghiệp đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm cho cư dân đô thị, góp phần tiết kiệm trong tiêu dùng ở khu vực đô thị hóa

Thực tế đã diễn ra, quá trình trồng trọt và chăn nuôi thực hiện không đúng quy trình, kĩ thuật, không đảm bảo an toàn về các tiêu chuẩn nuôi trồng, sử dụng nhiều chất hóa học đã gây ảnh hưởng lớn tới con người, môi trường sống của khu vực Mặt khác, trồng trọt có ảnh hửng tích cực trong việc điều hòa khí hậu, cải tạo môi trường, hạn chế ô nhiễm, làm sạch môi trường

Tại nhiều khu vực đô thị hóa, không ít người sử dụng đất nông nghiệp chỉ với mục đích giữ đất, chiếm đất, đón đầu dự án, quy hoạch Những người sử dụng đất kiểu này thường là những hộ có khả năng về kinh tế, họ không muốn sản xuất nông nghiệp do sản xuất nông nghiệp vất vả mà thu nhập lại không cao, đôi khi phải bù lỗ cho những thửa đất nuôi trồng nông nghiệp Những thửa đất nông nghiệp này chỉ được đầu tư vừa phải, do chủ sử dụng thửa đất không quan tâm và mong muốn có

dự án đầu tư, hoặc quy hoạch khu vực để bán lại với giá cao hơn gấp nhiều lần so với việc thu lợi nhuận từ sản xuất nông nghiệp Do vậy, để phát triển nông nghiệp bền vững cần đầu tư vốn, áp dụng những dịch vụ khoa học, công nghệ vào sản xuất

1.1.3 Đặc điểm của nông nghiệp đô thị sinh thái

- Ưu điểm của nông nghiệp đô thị là diện tích sản xuất nhỏ, phù hợp với điều kiện ở thành thị; để phát triển thành công nông nghiệp đô thị phải gắn liền với khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại hay còn gọi là nông nghiệp công nghệ cao và các sản phẩm sản xuất ra tập trung phục vụ ngay cho nhu cầu của khu vực đô thị như: hoa lan, cây cảnh, cá cảnh, nuôi trồng các loại đặc sản, cao sản,… ngoài giá trị trong sinh hoạt còn góp phần tạo mỹ quan đô thị, tạo nét văn hóa đô thị và cải thiện

Trang 20

môi trường sinh thái theo hướng xanh - sạch - đẹp, hài hòa giữa thiên nhiên với con người [33]

- Sản phẩm của nông nghiệp sinh thái là sản phẩm sạch, phù hợp với mục tiêu duy trì sự phát triển bền vững, cảnh quan môi trường tươi đẹp và không khí trong lành Tất cả các sản phẩm này phải đảm bảo sạch, an toàn, không bị nhiễm độc tố, phải có đầy đủ hàm lượng các chất dinh dưỡng, vitamin và khoáng chất cần thiết cho

sự phát triển thể lực của con người Cảnh quan môi trường tự nhiên hài hòa, trong sạch, có thể kết hợp tạo những khu vui chơi giải trí trong lành, tươi đẹp giúp điều hòa khí hậu và đáp ứng nhu cầu tinh thần của con người như: khu vườn sinh thái, hồ câu sinh thái… kết hợp các dịch vụ vui chơi, giải trí lành mạnh (bể bơi, cắm trại…)

- Công nghệ sản xuất của nông nghiệp sinh thái là sự thống nhất giữa kinh nghiệm truyền thống với công nghệ hiện đại: để bảo vệ môi trường trong khi vẫn đảm bảo an ninh lương thực, nông nghiệp sinh thái có xu hướng giảm sử dụng các yếu tố hóa học, tăng cường áp dụng công nghệ cao, công nghệ sạch, công nghệ sinh học kết hợp với kinh nghiệm truyền thống, tái tạo nguồn lực Công nghệ sinh học (sự lai ghép, nuôi cấy mô tế bào, công nghệ gen) ngày nay được coi là động lực của

sự phát triển Các giống mới sẽ cho phép cây trồng, vật nuôi tự chống chịu sâu bệnh, từ đó loại trừ việc sử dụng các hóa chất Công nghệ sử dụng phân hữu cơ (phân chuồng, phân xanh), phân vi sinh, các loại cây họ đậu hay kỹ thuật trồng cây che phủ đất, chống xói mòn vẫn đang là những phương pháp thích hợp trên thế giới (chiếm 5 – 10% diện tích đất canh tác của châu Âu) [5]

Tóm lại, nông nghiệp đô thị sinh thái áp dụng được kể cả khi quỹ đất eo hẹp, hướng phát triển chăn nuôi và trồng trọt theo tự nhiên, giảm tối việc sử dụng các loại hóa chất tăng trưởng nhanh; áp dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật, công nghệ sinh học, nhằm tăng cường khả năng thích nghi của cây trồng, vật nuôi… phù hợp với điều kiện khu vực và phát triển tốt

Trong sản xuất, để các sản phẩm nông nghiệp sạch có kết quả cao về hiệu quả kinh tế, năng suất, chất lượng, môi trường… người nông dân cần kết hợp cây trồng với vật nuôi hay sử dụng các phương thức sản xuất thâm canh, luân canh và trồng xen

Trang 21

kẽ các loại cây trồng có thể bổ sung chất dinh dưỡng, giúp loại trừ sâu bệnh, bảo tồn

và giữ đa dạng sinh học, bảo vệ đất, điều hòa khí hậu, tạo cảnh quan môi trường Ngoài các ưu điểm trên, sản xuất nông nghiệp đô thị sinh thái còn tạo công ăn việc làm, tăng thêm thu nhập cho một số cư dân đô thị Việc áp dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất nông nghiệp góp phần làm tăng năng suất, chất lượng sản phẩm nông sản cao, tạo điều kiện phát triển công nghiệp chế biến, thượng mại, dịch vụ, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững

Tình trạng đô thị hóa đang diễn ra nhanh chóng, diện tích đất nông nghiệp ngày càng giảm mạnh, người dân mất tư liệu sản xuất, buộc phải chuyển đổi nghề nghiệp trong khi trình độ, kinh nghiệm, vốn không cao nên khó tìm được công việc phù hợp Mặt khác, sự di dân từ nông thôn về thành thị tăng nhanh Do vậy, vấn đề giải quyết việc làm và thu nhập cho lao động trong quá trình đô thị hóa, hiện đại hóa đất nước là một trong những vấn đề lớn cần giải quyết Sự phát triển của nông nghiệp đô thị giúp tận dụng quỹ đất đô thị và lao động dư thừa, góp phần gải quyết vấn đề việc làm và tăng thu nhập trong quá trình đô thị hóa

- Nông nghiệp đô thị sinh thái dễ tiếp cận các dịch vụ đô thị

Trong khi quỹ đất đô thị hạn chế, người nông dân cần áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật để tăng năng suất và thu nhập, có thể cung cấp nhiều dịch vụ cho

đô thị như: lương thực, thực phẩm, rau sạch, cây xanh, hoa tươi… cho cư dân đô thị, nhà hàng, khách sạn và các dịch vụ thăm quan du lịch, an dưỡng…

- Nông nghiệp đô thị sinh thái góp phần quản lý bền vững tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường

Nông nghiệp đô thị có thể tái sử dụng chất thải đô thị để làm phân bón, nước tưới cho sản xuất nông nghiệp, góp phần quan trọng trong việc làm giảm ô nhiễm môi trường Chất thải đô thị đang thực sự tạo thành áp lực ngày càng tăng cùng với

sự gia tăng dân số ở đô thị Bằng công nghệ xử lý thích hợp, một phần nguồn chất thải đô thị phục vụ sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất sạch, an toàn và hiệu quả, góp phần cải thiện môi trường, nâng cao chất lượng cuộc sống Mặt khác, nông nghiệp là ngành sản xuất yêu cầu một lượng nước rất lớn, tuy nhiên với nông

Trang 22

nghiệp đô thị bằng cách tái sử dụng nguồn nước thải nó có thể cải thiện công tác quản lý tài nguyên nước hướng tới mục tiêu phát triển bền vững cho các đô thị Một trong những nghiệm vụ quan trọng của nông nghiệp đô thị sinh thái là tái tạo chất dinh dưỡng cho đất thông qua tái sử dụng các chất thải hữu cơ từ các hoạt động của đô thị Điều này vừa góp phần giảm ô nhiễm môi trường cho các đô thị vừa giảm các hóa chất khi đưa phân bón hóa học vào đất dễ gây ô nhiễm thêm lại vừa giảm được chi phí mua phân bón Nông nghiệp đô thị sinh thái được sản xuất tại chỗ ven các đô thị nên sau thu hoạch, chi phí đóng gói, vận chuyển và bảo quản bằng kho lạnh được bỏ qua nên góp phần giảm giá thành đến mức tối đa, giảm tai nạn và ô nhiễm môi trường Chất lượng sản phẩm được đảm bảo an toàn [13]

- Nông nghiệp sinh thái đô thị góp phần tạo cảnh quan đô thị và cải thiện sức khỏe cộng đồng

Phát triển “đô thị sinh thái” hay “đô thị xanh” là những cụm từ đang trở nên phổ biến tại các diễn đàn về phát triển đô thị hiện nay Mục tiêu hướng tới là quy hoạch

và xây dựng các đô thị có môi trường và cảnh quan thân thiện với thiên nhiên, đảm bảo các tiêu chuẩn tốt cho sức khỏe cộng đồng Trong tiến trình đô thị hóa và phát triển của các đô thị, phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái thực sự là một giải pháp hiệu quả nhất Nông nghiệp đô thị sinh thái sẽ tạo ra hệ thống cảnh quan, các vành đai xanh rất ý nghĩa cho các đô thị Sản xuất nông nghiệp đô thị sinh thái một mặt vừa đảm bảo các nhu cầu về dinh dưỡng, mặt khác nó cũng chính là một hình thức lao động, giải trí góp phần nâng cao thể lực, trí lực cho cư dân đô thị [13]

Hiện nay, nhiều nước trên thế giới đang khuyến khích phát triển các mô hình: nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp du lịch, nông nghiệp nghỉ dưỡng, nông nghiệp công nghệ cao

1.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu về sử dụng đất nông nghiệp theo hướng nông nghiệp đô thị sinh thái

1.2.1 Sử dụng bền vững đất nông nghiệp theo hướng nông nghiệp đô thị sinh thái

Trang 23

Để tăng năng suất, tăng thu nhập, nhiều người đã sử dụng thuốc hóa học, áp dụng khoa học không đúng cách, không đảm bảo quy trình, thời gian như: thuốc trừ sâu, thuốc kích thích, tăng trọng… đã gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe con người,

hệ sinh thái, môi trường

Ngày nay, con người đang hướng tới mục tiêu phát triển bền vững trong mọi lĩnh vực Như vậy, phát triển bền vững là gì?

Năm 1987 Uỷ ban Môi trường và Phát triển của Liên Hợp Quốc đã đưa ra khái niệm Phát triển bền vững:

"Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thoả mãn các nhu cầu hiện tại của con người nhưng không tổn hại tới sự thoả mãn các nhu cầu của thế hệ tương lai"

Hình 1 1: Phát triển bền vững

Ðể xây dựng một xã hội phát triển bền vững, Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc đã đề ra 9 nguyên tắc:

1 Tôn trọng và quan tâm đến cuộc sống cộng đồng

2 Cải thiện chất lượng cuộc sống của con người

3 Bảo vệ sức sống và tính đa dạng của Trái đất

4 Quản lý những nguồn tài nguyên không tái tạo được

5 Tôn trọng khả năng chịu đựng được của Trái đất

6 Thay đổi tập tục và thói quen cá nhân

7 Ðể cho các cộng đồng tự quản lý môi trường của mình

Trang 24

8 Tạo ra một khuôn mẫu quốc gia thống nhất, thuận lợi cho việc phát triển và bảo vệ

9 Xây dựng một khối liên minh toàn cầu [36]

Để bảo vệ, đảm bảo cuộc sống của chúng ta và thế hệ tương lai, con người cần phải có những hành động, chiến lược đúng đắn về đất, tài nguyên thiên nhiên để vừa duy trì những khả năng hiện có vừa khôi phục được những khả năng đã mất

Sử dụng đất bền vững hướng tới các mục tiêu sau:

+ Duy trì, nâng cao sản lượng (hiệu quả sản xuất);

+ Giảm rủi ro sản xuất (an toàn);

+ Bảo vệ tiềm năng nguồn lực tự nhiên và ngăn ngừa thoái hóa đất và nước (bảo vệ);

+ Có hiệu quả lâu dài (lâu bền);

+ Được xã hội chấp nhận (tính chấp nhận)

Ở Việt Nam, sử dụng đất bền vững cần:

- Bền vững về kinh tế: cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao và được thị trường chấp nhận Hệ thống sử dụng đất phải có mức năng suất sinh học cao trên mức bình quân vùng có điều kiện đất đai Năng suất sinh học bao gồm các sản phẩm chính và phụ Một hệ thống sử dụng đất bền vững phải có năng suất trên mức bình quân vùng, nếu không sẽ không cạnh tranh được trong cơ chế thị trường

Về chất lượng: sản phẩm phải đạt tiêu chuẩn tiêu thụ địa phương, trong nước

và xuất khẩu, tùy mục tiêu của từng vùng

Tổng giá trị sản phẩm trên đơn vị diện tích là thước đo quan trọng nhất của hiệu quả kinh tế đối với một hệ thống sử dụng đất Tổng giá trị trong một giai đoạn hay cả chu kỳ phải trên mức bình quân của vùng, nếu dưới mức đó thì nguy cơ người sử dụng đất sẽ không có lãi, hiệu quả vốn đầu tư phải lớn hơn lãi suất tiền vay vốn ngân hàng

- Bền vững về xã hội: thu hút được nhiều lao động, đảm bảo đời sống người dân, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển Đáp ứng nhu cầu của nông hộ là điều cần

Trang 25

quan tâm trước nếu muốn họ quan tâm đến lợi ích lâu dài Sản phẩm thu được cần thỏa mãn cái ăn, cái mặc, và nhu cầu sống hàng ngày của người nông dân

Nội lực và nguồn lực địa phương phải được phát huy Hệ thống sử dụng đất phải được tổ chức trên đất mà nông dân có quyển hưởng thụ lâu dài, đất đã được giao và rừng đã được khoán với lợi ích các bên cụ thể Sử dụng đất sẽ bền vững nếu phù hợp với nền văn hóa dân tộc và tập quán địa phương, nếu ngược lại sẽ không được cộng đồng ủng hộ

- Bền vững về môi trường: loại hình sử dụng đất bảo vệ được độ màu mỡ của đất, ngăn chặn sự thoái hóa đất và bảo vệ môi trường sinh thái Giữ đất được thể hiện bằng giảm thiểu lượng đất mất hàng năm dưới mức cho phép

+ Độ phì nhiêu đất tăng dần là yêu cầu bắt buộc đối với quản lý sử dụng bền vững

+ Độ che phủ tối thiểu phạt đạt ngưỡng an toàn sinh thái (>35%)

+ Đa dạng sinh học biểu hiện qua thành phần loài

Ba yêu cầu bền vững trên là tiêu chuẩn để xem xét là đánh giá các loại hình sử dụng đất hiện tại Thông qua việc xem xét và đánh giá các yêu cầu trên để giúp cho việc định hướng phát triển nông nghiệp ở vùng sinh thái [8]

1.2.2 Kinh nghiệm một số nước trên thế giới và nước ta về phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái

1.2.2.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới

1.2.2.1.1 Thái Lan

Thái Lan là nước phát triển mạnh mẽ về nông nghiệp, cách đây 40 năm Thái Lan có xuất phát điểm tương đối thấp, chỉ gần bằng hoặc thấp hơn miền Nam Việt Nam Những năm qua, kinh tế nông nghiệp Thái Lan phát triển mạnh Tốc độ tăng trưởng GDP nông nghiệp tăng bình quân hàng năm là 3,1%/ năm [5]

Sự phát triển bùng nổ của kinh tế Thái Lan trong các thập kỷ 70 và 80 được thể hiện rõ nét qua quá trình đô thị hóa và phát triển nông nghiệp ven đô thị ở Bangkok Quá trình đô thị hóa đã làm dân số Bangkok tăng lên 41% [5]

Trang 26

Các hoạt động công nghiệp và dịch vụ phát triển mạnh và tập trung ở vùng Bangkok và ngoại vi của nó Các hoạt động nông nghiệp bị đẩy ra các vùng xa bên ngoài và hình thành những vùng sản xuất tập trung, chuyên môn hóa với các sản phẩm chính là lúa gạo để phục vụ cho chiến lược xuất khẩu và các sản phẩm rau quả đa dạng phục vụ nhu cầu tiêu dùng cho dân cư đô thị

Giống như các đô thị khác trên thế giới, đô thị hóa ở Bangkok làm tăng nhu cầu về lương thực, thực phẩm, dặc biệt là nhu cầu về các loại rau xanh và thực phẩm cao cấp, an toàn cũng như nhu cầu về nghỉ ngơi, giải trí cuối tuần ở các ngoại

ô Giá đất ngoại ô Bangkok tăng và hiện tượng đầu cơ ruộng đất phát triển Đô thị hóa nhanh cũng kéo theo sự ô nhiễm nặng nề về môi trường càng đòi hỏi nông nghiệp Bangkok phải làm tốt vai trò của mình để đáp úng nhu cầu cho dân cư đô thị

và điều tiết môi trường Để giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quá trình đô thị hóa, sau một thế kỉ tập trung vào thâm canh lúa (1880 – 1980), nông nghiệp ven đô Bangkok chuyển sang đa dạng hóa sản phẩm từ sau 1980 [5]

Bên cạnh phát triển rau quả ở ngoại thành, Thái Lan còn rất nổi tiếng trong phát triển các mô hình nông nghiệp kết hợp nhằm đa dạng hóa sản phẩm và cải tạo đất đai, nguồn lực Một trong các mô hình nông nghiệp kết hợp được phát triển ở tỉnh Sisaket ở phía Đông Bắc Thái Lan là mô hình lúa – cá [22], được xây dựng theo kiểu đa dạng như các ao nuôi cá nhỏ định vị bên trong hoặc bên cạnh các cánh đồng lúa, các lồng nuôi cá được đặt trong các ao lớn hoặc kết hợp thả cá vào các vùng trồng lúa nước được cung cấp đủ nước vào mùa khô

Mô hình kết hợp giữa trồng trọt (lúa – rau – quả) và chăn nuôi (lợn – gia cầm) bắt đầu phát triển ở ngoại ô Bangkok từ khi chính phủ giới thiệu các tiến bộ kỹ thuật về giống và công nghệ chăn nuôi Các mô hình chăn nuôi thâm canh cao được các nông dân ở ngoại thành phát triển trên cơ sở đầu tư mạnh mẽ về vốn và kỹ thuật

đã đem lại lợi nhuận khá lớn cho nông dân Tuy nhiên, các trang trại chăn nuôi ngoại ô cũng gây ra nhiều vấn đề như ô nhiễm nguồn nước, bệnh dịch Những chi phí môi trường đã không được tính đến trong hợp đồng giữa các hộ chăn nuôi và các công ty thu mua nên tình trạng ô nhiễm môi trường xảy ra Trước thực tế này,

Trang 27

Chính phủ Thái Lan đã thực hiện một chương trình có tên gọi: “Quản lý các trang trại chăn nuôi”, trong đó trập trung vào giải quyết các vấn đề về môi trường như xử

lý chất thải để sản xuất biogas và phân bón Trong chương trình này, Chính phủ rất quan tâm đến trợ giúp tài chính, kỹ thuật cũng như sự hỗ trợ về thể chế nhằm đảm bảo mức thu nhập tối thiểu cho những hộ nông dân tham gia chương trình này Như vậy sản xuất nông nghiệp Thái Lan nói chung và thủ đô Bangkok nói riêng đã đạt được được những thành quả to lớn không chỉ về tốc độ tăng trưởng sản xuất nông nghiệp mà còn về chất lượng sản phẩm và mức độ đáp ứng nhu cầu của người dân cả về vật chất lẫn cảnh quan môi trường Thành công của Thái Lan là đã giải quyết tốt quá trình dịch chuyển cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng xuất khẩu, kết hợp với thúc đẩy, đa dạng hóa sản phẩm, nhằm giải quyết những vấn đề của nông nghiệp ven đô thị Các yếu tố quan trọng nhất góp phần đạt được các kết quả trên là sự phát triển của cơ sở hạ tầng, sự tiếp cận dễ dàng về tín dụng đối với các hộ nông dân, chính sách khuyến nông cho phép dễ dàng tiếp cận các tiến bộ kỹ thuật và chính sách phát triển quan hệ cộng đồng giữa các công ty chế biến và nông dân nhằm tạo đầu ra cho nông sản Vai trò của Nhà Nước cũng rất quan trọng trong việc xây dựng và thực hiện chính sánh quy hoạch đất đai, điều tiết giá cả, giải quyết các vấn đề môi trường và tư vấn tạo khung pháp lý cho phát triển nông nghiệp [13]

1.2.2.1.2 Trung Quốc

Trung Quốc là nước có sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp mạnh mẽ gắn liền với cải cách kinh tế Trung Quốc thực hiện các chính sách cải cách trong nông nghiệp như chính sách khoán hộ, tách quyền sở hữu ruộng đất với quyền kinh doanh, xóa bỏ chế độ nhà nước độc quyền thu mua nông sản, thực hiện chính sách hai giá, khuyến khích các doanh nghiệp tăng sản lượng bán ra thị trường, cải cách chế độ thuế chia sẻ thu nhập giữa trung ương và địa phương, cải cách pháp lý để tạo điều kiện cho kinh tế thị trường phát triển Kết quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp Trung Quốc: tỷ lệ ngành trồng trọt giảm từ 80% năm 1968 xuống 55% năm 2001, chăn nuôi tăng từ 15% đến 30%, thủy sản tăng từ 2% đến 11% [4]

Trang 28

Trung Quốc thực hiện đô thị hóa mạnh mẽ với những đặc điểm cơ bản là: tốc

độ cao, quy mô lớn, mật độ dân số cao và những tác động lớn về môi trường Chiến lược đô thị hóa ở Trung Quốc là chiến lược phi tập trung, với nhiều đô thị nhỏ nằm xen kẽ trong các vùng nông thôn Quá trình đô thị hóa mang lại triển vọng kinh tế

và sự phát triển xã hội, gây ra nhiều vấn đề ô nhiễm nguồn nước, không khí, tiếng

ồn, chất thải và cạn kiệt tài nguyên Vì vậy, từ năm 1980 đến nay, khoảng hơn 80 thành phố ở Trung Quốc đã thực hiện chương trình xây dựng các thành phố sinh thái [19] Đây là một đơn vị hành chính có hiệu quả về sinh thái và kinh tế, có trách nhiệm về xã hội và văn hóa, hài hòa về cảnh quan môi trường Một phần của chương trình thành phố sinh thái là thực hiện các nội dung chuyển dịch từ truyền thống sang sinh thái như: chuyên môn hóa sang đa dạng hóa, từ cây trồng trên mặt đất sang tạo màu xanh trên không gian

Gần đây, tại các đô thị Trung Quốc, xu thế chuyển đất canh tác thành vườn cây lâu năm và ao cá khá phát triển, ao chiếm khoảng 3,5% và vườn chiếm khoảng 4,5% diện tích đất nông nghiệp đô thị Tổng cộng ao, vườn chiếm 11% diện tích đất ở các

đô thị cấp I, 1,7% diện tích các đô thị cấp II và 5,4% diện tích trong vùng nông thôn [7] Về quy mô nông hộ, trong vùng đô thị trung bình một hộ có 0,27 ha, vùng nông thôn là 0,4 ha Trung Quốc tham gia WTO có lợi thế là các sản phẩm cần nhiều lao động như rau xanh, nuôi trồng thủy sản và các hoạt động trong nhà lưới Cây ăn quả cũng được phát triển mạnh ở các vùng quanh đô thị, tạo những vành đai xanh cho các thành phố sinh thái

Ngày nay, hệ thống sản xuất kết hợp chủ yếu đang được áp dụng ở nhiều vùng của Trung Quốc là mô hình kết hợp cá – cỏ hoặc cá – cỏ - lợn [20] Những hệ thống kết hợp này phù hợp với điều kiện địa hình thấp nhưng chủ động về tưới tiêu như lưu vực sông Changjang, Pearl và Yangtze Nông dân tận dụng trồng cỏ trên những mảnh đất nhỏ, ven chân đê, ven hệ thống kênh mương và sử dụng nguồn nước sẵn

có từ ao, hồ, mương [13]

Trang 29

Tại nhiều thành phố lớn của Trung Quốc như Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng Châu nông nghiệp đô thị cung cấp tới 85% nhu cầu về rau xanh, 50% về thịt trứng của người dân [33]

1.2.2.1.3 Mỹ

Là một siêu cường quốc trên thế giới về phát triển kinh tế nhưng Mỹ đang gặp phải những vấn đề của đô thị hóa Khoảng 100 năm trước có 50% dân số Mỹ còn sống ở các trang trại nông thôn nhỏ và sử dụng thức ăn tự sản xuất tại địa phương Hiện nay, dân số đô thị ở Mỹ chiếm khoảng 80% Khi dân số đô thị tăng lên cùng với quá trình đô thị hóa, sản xuất nông nghiệp gặp phải những thách thức của an ninh lương thực, chi phí môi trường và sức khỏe cộng đồng An ninh lương thực đòi hỏi phải thỏa mãn đầy đủ, kịp thời về số lượng lương thực, chất lượng và thành phần dinh dưỡng cho nhu cầu của 80% dân số đô thị Chi phí môi trường bao gồm: chi phí của ô nhiễm không khí, nhiễm độc nguồn nước ngầm và nước bề mặt, xói mòn đất đai, suy giảm đa dạng sinh học đã ảnh hưởng lớn đến sức khỏe cộng đồng Một trong các vấn đề nông nghiệp Mỹ phải giải quyến là đảm bảo cung cấp đủ lương thực để giải quyết nạn đói cho 12,4% dân số vào năm 2020 [21]

Nông nghiệp sinh thái đô thị ở Mỹ có vai trò rất quan trọng trong việc giải quyết vấn đề an ninh lương thực và môi trường Chính phủ Mỹ rất quan tâm việc khuyến khích tận dụng các nguồn lực để phát triển nông nghiệp đô thị, như tận dụng diện tích đất trống để phát triển sản xuất rau, quả trong từng hộ gia đình, thậm chí

sử dụng đất ở các sân sau trường học, bệnh viện hoặc công viên quốc gia Theo số liệu của Ủy ban Nông nghiệp đô thị Bắc Mỹ năm 2003, dự án “vườn cho người nghèo” ở Santa Cruz, California đã đóng góp 55% sản lượng các sản phẩm nông nghiệp đô thị và quản lý thành công chương trình sản xuất hoa tươi bằng phương pháp hữu cơ Chất thải đô thị được tái sinh thành phân bón cho các vườn đô thị, vùng ven đô và thức ăn cho chăn nuôi Các vườn cây ăn quả và hệ thống cây xanh tạo thành vành đai xanh điều hòa khí hậu cho thành phố Các sản phẩm chính được sản xuất ở đô thị và ven đô thị các thành phố bao gồm rau, hoa quả, bơ sữa, trong đó

Trang 30

hoa quả chiếm 79%, rau tươi chiếm 68%, bơ sữa chiếm 52% so với tổng sản lượng trên toàn quốc [21]

Một nghiên cứu điển hành ở Bắc mỹ về mô hình phát triển nông nghiệp đô thị

đã gắn kết lợi nhuận sản xuất nông nghiệp với chiến lược sử dụng ruộng đất, phân vùng nông nghiệp và bảo vệ môi trường là mô hình vành đai xanh – Greebelt của Boal [5] Theo Boal, có thể hình thành ba vành đai khác nhau đối với nông nghiệp

đô thị Vành đai thứ nhất tại trung tâm thành phố, đất đai đã được quy hoạch ổn định, nông nghiệp đạt được mức lợi nhuận ởn định do có nhiều lợi thế về thị trường Vành đai thứ hai cận kề ngoại ô, quy hoạch đất đai chưa ổn định, lợi nhuận sản xuất nông nghiệp thấp do nông dân không muốn đầu tư mà trong chờ sự tăng giá đất do chuyển đổi mục đích sử dụng Vành đai thứ ba ở ngoại cùng xa thành phố, nông nghiệp đạt lợi nhuận rất cao trên đơn vị diện tích, và tác giả của nó cho rằng, công tác quy hoạch và phân vùng nông nghiệp để sử dụng hợp lý tài nguyên là rất quan trọng cho nông nghiệp đô thị và ven đô thị trong quá trình đô thị hóa để kết hợp giải quyết vấn đề an ninh lương thực và bảo vệ môi trường [13]

Ngoài ra, hàng vạn cư dân ở Niu Oóc (Hoa Kỳ) có vườn trồng rau trên sân thượng [33]

Một số khó khăn xuất hiện trong quá trình phát triển nông nghiệp sinh thái ở

Mỹ bao gồm vấn đề sở hữu ruộng đất, thiếu vốn để phát triển sản xuất, khó khăn tiếp cận thị trường do sự độc quyển phân phối của các nhà bán buôn, thiếu kiến thức

và kỹ năng sản xuất, chế biến, dự trự và marketing, môi trường sản xuất bị ô nhiễm gây mất an toàn thực phẩm Để giải quyết những khó khăn trên, Ủy ban Nông nghiệp đô thị Bắc Mỹ đã khuyến nghị một số chính sách bao gồm: giải quyết một số vấn đề quyền sử dụng đất, đảm bảo những cam kết lâu dài cho nông dân yên tâm sản xuất, hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng cho quá trình sản xuất, chế biến và quảng cáo, quy hoạch lại đất đai, ưu tiên cho phát triển cây ăn quả và cây xanh, triển khai những chương trình đào tạo kỹ thuật sản xuất cho nông dân, đào tạo nhận thức về môi trường và an ninh lương thực ngay trong trường phổ thông Đặc biệt khuyến nghị nhấn mạnh tầm quan trọng của hoạt động nghiên cứu khoa học và giáo dục

Trang 31

nhận thức về nông nghiệp đô thị, coi nó như một bộ phận quan trọng của kế hoạch phát triển đô vùng đô thị [13]

1.2.2.1.4 Một số nước khác trên thế giới:

Ở Matxcơva (Nga), 65% gia đình có mô hình VAC đô thị, ở Dactxalam là 68%, Maputo 37% Tại Béclin (Đức), có 8 vạn mảnh vườn trồng rau ở đô thị [33] Những kinh nghiệm trên đã cho thấy hướng đi đúng đắn theo con đường nông nghiệp đô thị sinh thái trên thế giới

1.2.2.2 Những kinh nghiệm rút ra từ quá trình phát triển nông nghiệp theo hướng nông nghiệp đô thị sinh thái của một số nước

- Hầu hết thủ đô và thành phố lớn của các nước nông nghiệp cũng như các nước đang phát triển đều hình thành các vùng vành đai phát triển nông nghiệp nằm xen kẽ hoặc tạo thành vành đai bao quanh vùng đô thị, các vùng này phần lớn bị chia cắt, quy mô nhỏ, sản xuất ra các sản phẩm tự nuôi mình và cung cấp cho thị trường đô thị Hình thành vành đai nông nghiệp, vành đai môi trường sinh thái cho

đô thị vùng

- Vùng nông nghiệp nội đô, hay ngoại vi đều bị ảnh hưởng ô nhiễm môi trường: nước, đất, không khí và rác thải từ vùng đô thị Điều này gây không ít khó khăn cho vùng nông nghiệp Áp lực rất lớn đặt ra cho vùng nông nghiệp đô thị là vừa phải tiến hành sản xuất, vừa phải tạo ra hệ sinh thái và môi trường cảnh quan cho đô thị

- Các nước công nghiệp đều đầu tư rất lớn cho sản xuất nông nghiệp và đặc biệt quan tâm đầu tư cho nông nghiệp ngoại thành nhằm thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp, phát triển nông thôn, khắc phục hậu quả về môi trường, giúp các

đô thị phát triển bền vững hơn

- Định hướng cho vùng nông nghiệp ở đô thị cũng có ý tưởng rõ ràng

Đối với vùng đô thị: Diện tích đất nông nghiệp vẫn dùng trồng hoa, cây cảnh, cây ăn quả và nuôi trồng thủy sản, nhưng không chỉ để lấy sản phẩm tiêu dùng mà còn để tạo cảnh quan, môi trường sinh thái cho đô thị [13]

Trang 32

Đối với vùng ngoại ô sát đô thị: tạo ra một vùng đệm về cảnh quan sinh thái cho khu đô thị, cụ thể: tiến hành sản xuất nông nghiệp sạch, dựa vào tự nhiên, nhằm tạo ra các sản phẩm có chất lượng cao, không yêu cầu phải có năng suất cao vì Nhà nước sẽ trợ giá để tồn tại

Đối với vùng ngoại ô xa, hoặc các tỉnh lân cận: cần đáp ứng các yêu cầu của

đô thị về nông sản và môi trường nên tiến hành sản xuất nông nghiệp quy mô lớn

- Các vùng sản xuất nông nghiệp ngoại ô: qua quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa ở mức độ cao sẽ xuất hiện việc di cư của lực lượng lao động trẻ tại khu vực này đi vào đô thị để học tập và làm việc

1.2.2.3 Thực tiễn tại Việt Nam

Ở nước ta, năm 2007, tỷ trọng của nông nghiệp trong GDP của TP Hồ Chí Minh là 0,9%, Hà Nội (cũ) 2,0%, Đà Nẵng 5,6%, Hải Phòng 11,0%, TP Cà Mau 11%, TP Lạng Sơn 5,2%, TP Quy Nhơn 8,3%, TP Thanh Hoá 4,5% Hiện tượng tỷ trọng thấp ngành nông nghiệp ở Việt Nam cũng phù hợp với qui luật chung của thế giới: quá trình đô thị hóa càng phát triển thì tỷ trọng của nông nghiệp trong GDP càng thấp và giảm xuống

Việt Nam coi sản xuất nông nghiệp làm chủ đạo nên thu nhập từ nông nghiệp

là một nguồn thu nhập quan trọng cho một số lớn gia đình, nhất là những hộ ở vùng ven đô và các gia đình nghèo có điều kiện tiếp cận với các nguồn lực để phát triển nông nghiệp tại các đô thị

Theo tính toán, nông nghiệp đô thị đã đáp ứng nhu cầu lương thực, thực phẩm của một số đô thị như sau: nhu cầu lương thực: Hà Nội 33%, Hải Phòng 85%, Đà Nẵng 23%, TP Hồ Chí Minh 10% và Cần Thơ 100%; nhu cầu rau, củ, quả thực phầm: Hà Nội 55%, Hải Phòng 65%, Đà Nẵng 30%, TP Hồ Chí Minh 18% và Cần Thơ 70%; nhu cầu thịt gia súc, gia cầm: Hà Nội 25%, Hải Phòng 60%, Đà Nẵng 20%, TP Hồ Chí Minh 10% và Cần Thơ 70%; nhu cầu cá, tôm: Hà Nội tự túc được 22%, Hải Phòng 70%, Đà Nẵng 100%, TP Hồ Chí Minh 45 % và Cần Thơ 80% (bao gồm cả sản lưọng cá, tôm nước lợ, nước ngọt, nước mặn nuôi trồng và đánh bắt được trên địa bàn)

Trang 33

Nông nghiệp ở một số đô thị cũng đã tạo ra một số nông sản có giá trị xuất khẩu: nghề nuôi tôm, cá sấu, cây cảnh, cá cảnh ở thành phố Hồ Chí Minh; nghề trồng hoa ở thành phố Đà Lạt; nghề trồng chè ở thành phố Thái Nguyên, thị xã Tuyên Quang, thị xã Bắc Cạn, thị xã Sông Công; nghề trồng vải ở Hải Dương, Bắc Giang; nghề trồng cà phê, cao su, hồ tiêu ở ngoại ô các đô thị ở Tây Nguyên; trồng cây ăn quả, nuôi tôm, cá ba sa ở các đô thị vùng đồng bằng sông Cửu Long So với khu vực nông thôn, trung bình năng suất cây trồng ở khu vực ven đô có năng suất cao hơn 30-50% nhờ hệ thống hạ tầng nông nghiệp phát triển

Ngày 13/11/2010, Khoa Sinh - Môi trường, Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng (Đại học Đà Nẵng) đã phối hợp với Công ty Tầm nhìn Sinh thái tổ chức Hội thảo “Nông nghiệp sinh thái đô thị - giải pháp của tương lai”

Tại Hội thảo, các nhà khoa học đã đưa ra các giải pháp cho nông nghiệp sinh thái đô thị như: “Kỹ thuật thủy canh tĩnh - ưu điểm và sự thích hợp với các hộ gia đình nội thành thành phố Đà Nẵng” của Thạc sĩ Đỗ Thị Trường; “Thủy canh hồi lưu

& Khí canh - giải pháp của nền nông nghiệp sinh thái đô thị” của Tiến sĩ Võ Văn Minh; “Cây xanh trong kiến trúc đô thị hiện đại” của Thạc sĩ Nguyễn Văn Khánh;

“Cây cảnh thủy canh - sự lựa chọn của các hộ gia đình, phòng khách và trường học thân thiện”; “Nuôi cấy mô tế bào thực vật - giải pháp cung ứng giống cho nền nông nghiệp sinh thái đô thị” của Kỹ sư Trần Quang Dần…

Đây là một trong những kỹ thuật sản xuất nông nghiệp mới do các nhà khoa học nghiên cứu trong nhiều năm qua để giải quyết những bức xúc của ngành nông nghiệp bị thu hẹp do tốc độ đô thị hóa quá nhanh Ngoài ra, nông nghiệp đô thị không chỉ là nguồn tạo nên GDP (giá trị kinh tế thuần tuý) mà còn tạo ra nhiều giá trị khác: sinh thái, môi trường, giáo dục, nghỉ dưỡng, tận dụng thời gian rỗi

Sự kết hợp giữa nông nghiệp với du lịch, nghỉ dưỡng (còn gọi là loại hình nông nghiệp du lịch và nông nghiệp nghỉ dưỡng) cũng là một hướng phát triển đang được sử dụng, tuy nhiên vẫn mang tính cá thể tại các khu vực ven đô

Theo thực tiễn cho thấy, sản xuất nông nghiệp theo hướng nông nghiệp sinh thái ở nước ta cũng đã có những bước đi đầu tiên, phù hợp với điều kiện tự nhiên –

Trang 34

xã hội của một số vùng trong cả nước Tuy nhiên, việc áp dụng rộng rãi nông nghiệp đô thị sinh thái trên các đô thị ở Việt Nam thì vẫn còn nhiều hạn chế do chưa nhận được sự quan tâm từ các hộ nông dân trực tiếp sản xuất nông nghiệp và các cơ quan quản lý chuyên ngành Hơn nữa, quá trình tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp sạch, sản phẩm chất lượng cao cũng gặp phải nhiều vấn đề do chưa có sự thống nhất quản lý giá các loại sản phẩm sạch và các sản phẩm nông nghiệp truyền thống [8] Một trong số những địa phương đã có những thay đổi lớn về nông nghiệp là: thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương

Theo Trọng Luận: Ngành nông nghiệp thành phố Hồ Chí Minh đã đạt nhiều thành tích nổi bật trong việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng nông nghiệp đô thị, công nghệ cao, đã có đóng góp không nhỏ trong tổng quan phát triển kinh tế - xã hội thành phố Hồ Chí Minh Việc phát triển mô hình nông nghiệp

đô thị, công nghệ cao là hướng đi phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế

Thành phố Hồ Chí Minh đã có nhiều hoạt động điển hình như: khuyến nông, tập trung vào các chương trình chuyển giao tiến bộ về giống, đẩy mạnh áp dụng công nghệ và cải tiến kỹ thuật canh tác cho nông dân trồng rau, hoa, cây cảnh… Giá trị sản xuất ngành nông lâm ngư nghiệp thành phố giai đoạn 2011 – 2015 tăng bình quân 6%/năm, bằng 1,6 lần so với mức trung bình của cả nước; GDP ngành nông lâm nghư nghiệp tăng 5,8%/năm, bằng 1,9 lần so với mức tăng trung bình của cả nước Qua đó, đã đưa ngành nông nghiệp thành phố Hồ Chí Minh hoàn thành nhiệm

vụ, mục tiêu kế hoạch mà ngành đã đề ra giai đoạn 2011 -2015

Trong quá trình thực hiện, sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn thành phố

đã tiến hành chuyển đổi theo đúng định hướng của Bộ Nông nghiệp; cơ cấu kinh tế nông nghiệp tiếp tục chuyển dịch theo hướng giảm dần diện tích trồng lúa một vụ, hiệu quả kém sang các loại cây trồng vật nuôi có hiệu quả kinh tế cao, phù hợp với điều kiện của thành phố như: hoa lan, cây kiểng, cá cảnh, rau an toàn… Cụ thể, về chuyển dịch cơ cấu năm 2015: Trồng trọt chiếm tỷ trọng 23,3%, chăn nuôi chiếm 41,4%, thủy sản chiếm 28,3%

Trang 35

Thành phố còn quan tâm đến công tác quy hoạch và bố trí quỹ đất dành cho xây dựng khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao nhằm thu hút các doanh nghiệp trong

và ngoài nước tham gia đầu tư, cụ thể: đã có 01 khu nông nghiệp công nghệ cao được thành lập và đi vào hoạt động từ năn 2010 với diện tích gần 90ha; đã có 14 doanh nghiệp đầu tư tại xã Phạm Văn Cội, huyện Củ Chi Kết quả sau 05 năm triển khai đã nhân hơn 900.000 cây lan giống các loại; ươm hơn 610.000 cây giống rau ăn quả; hơn 4000 cây hoa nền; sản xuất được hơn 59 tấn loại giống F1 các loại…

Ngoài ra, thành phố đang thực hiện 04 dự án khu nông nghiệp công nghệ cao khác như: Dự án mở rộng Khu nông nghiệp Công nghệ cao tại xã Phạm Văn Cội;

Dự án nuôi trồng thủy sản công nghệ cao tại xã Long Hòa, huyện Cần Giờ; Dự án Khu Nông nghiệp Công nghệ cao tại xã Phước Vĩnh An, huyện Củ Chi; Dự án xây dựng Khu chăn nuôi công nghệ cao tại xã Phạm Văn Hai, huyện Bình Chánh

Bên cạnh việc ban hành nhiều cơ chế, chính sách nhằm khuyến khích nông dân, ngành còn xây dựng nhiều chương trình xúc tiến thương mại nhằm kết nối giữa người sản xuất và doanh nghiệp tiêu thụ nông sản Điển hình là Hội nghị kết nối nông sản tại thành phố, qua đó đã có 48 hợp đồng được ký kết và ghi nhớ giữa 10 doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở tiêu thụ với 21 doanh nghiệp Cơ sở sản xuất nông sản được chứng nhận VietGAP trên địa bàn thành phố với 11 loại sản phẩm rau được chứng nhận VietGAP…

Để duy trì và phát triển nền nông nghiệp đô thị hiện đại, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã đề ra một số nhiệm vụ trọng tâm: tiếp tục thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững gắn với xây dựng nông thôn mới; Đẩy mạnh các hoạt động ứng dụng công nghệ cao vào trong vào sản xuất nông nghiệp; Tập trung phát triển nông nghiệp thành phố theo hướng ứng dụng khoa học và công nghệ, công nghệ sinh học; Đẩy nhanh tiến

độ các công trình, dự án trọng điểm như Khu Nông nghiệp Công nghệ cao, Trung tâm Công nghệ sinh học Đồng thời, tiếp tục triển khai các cơ chế, chính sách khuyến khích đầu tư về vốn với sự tham gia của các thành phần kinh tế trong quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp, nông thôn [37]

Trang 36

Tác giả "Mô hình nông nghiệp đô thị ở Bình Dương" là Hồng Lâm, Trịnh Bình cho biết:

Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bình Dương, toàn tỉnh hiện

có diện tích sản xuất nông nghiệp đô thị khoảng 130,5 ha với các loại cây trồng chủ yếu như: rau thủy canh, rau mầm, nấm, hoa lan, cây cảnh Ngoài ra, có 410 hộ đầu

tư nuôi hơn 80.200 con các loại, chủ yếu là cá cảnh, cá sấu, ba ba, chim yến, trĩ, nhím, rắn… Nhiều mô hình đã chứng minh sự hiệu quả với điểm chung: Diện tích nhỏ, lợi nhuận cao

Để nông nghiệp đô thị cũng như nông nghiệp công nghệ cao phát triển, thời gian qua, tỉnh Bình Dương đã ban hành nhiều chương trình, chính sách hỗ trợ kịp thời, hiệu quả, có tác dụng khuyến khích nhiều người đầu tư phát triển

Năm 2012, UBND tỉnh Bình Dương có quyết định về “Những giải pháp, chính sách phát triển nông nghiệp theo hướng nông nghiệp đô thị - nông nghiệp kỹ thuật cao - nông nghiệp sinh thái gắn với công nghiệp chế biến trên địa bàn tỉnh Bình Dương giai đoạn 2012 - 2015” đã tạo điều kiện cho người dân vay vốn ưu đãi từ nguồn vốn ngân sách tỉnh cấp cho Quỹ Đầu tư phát triển tỉnh theo hình thức ủy thác cho vay

Đầu năm 2016, UBND tỉnh Bình Dương tiếp tục có quyết định về “Chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp theo hướng nông nghiệp đô thị - nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tỉnh Bình Dương giai đoạn 2016 - 2020”, các phương án sản xuất của các cá nhân, tập thể, tổ chức đầu tư lĩnh vực nông nghiệp đô thị có thể vay vốn với lãi suất vay ưu đãi bằng 70% lãi suất cho vay tối thiểu của Quỹ Đầu tư phát triển tỉnh Bình Dương tại từng thời điểm do UBND tỉnh quyết định Mức vay tối đa bằng 90% giá trị đầu tư của phương án, nếu quy mô đầu tư của phương án từ một tỷ đồng trở xuống; tối đa bằng 80%, nếu quy mô đầu tư của phương án hơn một

tỷ đồng Chu kỳ vay kéo dài đến 60 tháng Tính đến ngày 31-3-2017, Quỹ Đầu tư phát triển tỉnh Bình Dương đã thẩm định và quyết định cho vay 22 phương án với tổng mức vốn được duyệt vay 102 tỷ đồng, lãi suất 3,2%/năm; hiện đang tiếp tục nhận và xét duyệt các hồ sơ vay vốn

Trang 37

Những chương trình, chính sách được tỉnh Bình Dương ban hành đã giúp nông nghiệp đô thị trên địa bàn tỉnh phát triển nhanh về số lượng cơ sở và quy mô diện tích Nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật, sản xuất tiên tiến được ứng dụng rộng rãi UBND tỉnh Bình Dương đã phê duyệt báo cáo Đề án “Phát triển nông nghiệp

đô thị vùng phía nam tỉnh Bình Dương giai đoạn 2016 - 2020” nhằm phát triển nông nghiệp đô thị với nhiều loại hình, phát triển chuỗi giá trị một cách bền vững trên cơ

sở ứng dụng công nghệ cao Theo Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Bình Dương - Mai Hùng Dũng, đây là chương trình nhằm tiếp tục đẩy mạnh quá trình tái

cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng đa dạng hóa các loại hình sản xuất nông nghiệp đô thị, kết hợp nông nghiệp truyền thống với nông nghiệp công nghệ cao Sản phẩm sản xuất ra phải theo hướng an toàn, áp dụng quy trình VietGAP, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và mức độ an toàn của sản phẩm Gắn sản xuất với thị trường tiêu thụ, công nghiệp chế biến và quá trình đô thị hóa Phát triển nông nghiệp đô thị còn có vai trò quan trọng đối với phát triển đô thị thông qua cải thiện cảnh quan đô thị, cung cấp nguồn thực phẩm sạch, tại chỗ cho người dân đô thị, bảo đảm sức khỏe của người dân… [29]

1.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

Theo Cẩm nang sử dụng đất nông nghiệp (Tập 2, Phân hạng đánh giá đất đai) của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn [1], các chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả

sử dụng đất nông nghiệp gồm: kinh tế, xã hội, môi trường

1.3.1 Chỉ tiêu kinh tế

+ Giá trị sản xuất (GTSX): là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh toàn bộ giá trị của sản phẩm vật chất (thành phẩm, bán thành phẩm, sản phẩm dở dang) và dịch vụ sản xuất ra trong một thời kỳ nhất định

+ Chi phí trung gian (CPTG): toàn bộ chị phí vật chất quy ra tiền sử dụng trực tiếp cho quá trình sử dụng đất (giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật (BVTV), dụng cụ, nhiên liệu, nguyên liệu…)

+ Giá trị gia tăng (GTGT): giá trị mới tạo ra trong quá trình sản xuất được xác định bằng giá trị sản xuất (GTSX) trừ chi phí trung gian:

Trang 38

1.3.2 Chỉ tiêu xã hội

- Gia tăng lương thực để đả bảo an ninh lương thực

- Khả năng thu hút lao động, giải quyết việc làm cho người dân

- Gia tăng sản phẩm, hàng hóa

- Mức độ phù hợp với năng lực sản xuất của nông hộ, việc nâng cao trình độ

và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất

1.3.3 Chỉ tiêu môi trường

Để đánh giá mức độ ảnh hưởng của việc sử dụng đất và hệ thống cây trồng hiện tại tới môi trường là một vấn đề lớn, đòi hỏi phải có số liệu phân tích các mẫu đất, nước và nông sản phẩm trong một thời gian dài Trong phạm vi nghiên cứu, đề tài chỉ đề cập tới một số chỉ tiêu ảnh hưởng về mặt môi trường của các loại hình sử dụng đất như sau:

+ Mức độ đầu tư phân bón và ảnh hưởng của nó đến môi trường

+ Mức sử dụng thuốc BVTV và ảnh hưởng của nó đến môi trường

Trang 39

CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP HUYỆN SÓC SƠN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

2.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Sóc Sơn

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

2.1.1.1 Vị trí địa lý

Sóc Sơn là huyện ngoại thành nằm ở cửa ngõ phía Bắc của Thủ đô Hà Nội:

- Phía Bắc giáp huyện Phổ Yên (Thái Nguyên)

- Phía Đông Bắc giáp huyện Hiệp Hoà (Bắc Giang)

- Phía Đông Nam giáp huyện Yên Phong (Bắc Ninh)

- Phía Nam giáp huyện Đông Anh

- Phía Tây giáp huyện Mê Linh và thị xã Phúc Yên (Vĩnh Phúc)

Sóc Sơn cách trung tâm Thủ đô Hà Nội khoảng 30 km, có tổng diện tích đất tự nhiên 306,5 km2, trong đó: đất sản xuất nông nghiệp là 13.559 ha, đất lâm nghiệp là 4.557 ha Toàn huyện có 25 xã, 1 thị trấn

Sóc Sơn là đầu mối giao thông quan trọng ở phía bắc của Thủ đô Hà Nội với nhiều tuyến đường giao thông quan trọng như: Quốc lộ 2, Quốc lộ 3, Quốc lộ 18, đường Võ Văn Kiệt, đường Võ Nguyên Giáp, Quốc lộ 3 B (Hà Nội - Thái Nguyên), đường cao tốc Nội Bài - Lào Cai…; đặc biệt Sóc Sơn có Cảng khàng không Quốc tế Nội Bài là đầu mối giao thông lớn, quan trọng của quốc gia Đây là điều kiện thuận lợi để phát triển nhanh nền kinh tế, văn hóa, xã hội [23]

Ngày đăng: 09/10/2018, 23:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w