39 Chương 2:QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN VỚI VIỆC TIẾP NHẬN, GIẢI QUYẾT TỐ GIÁC, TIN BÁO TỘI PHẠM, KIẾN NGHỊ KHỞI TỐ VÀ THỰC TRẠNG TRÊN ĐỊ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS TRẦN THU HẠNH
Hà Nội – 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và
đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Ngô Long Khánh
Trang 41.2.1 Khái niệm vai trò của Viện kiểm sát nhân dân 141.2.2 Các phương diện thể hiện vai trò của Viện kiểm sát nhân dân 16
1.3 Nội dung, đặc điểm và cơ sở vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong việc giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố 22 1.3.1 Nội dung vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong tiếp nhận, giải
quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố 221.3.2 Đặc điểm vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong hoạt động tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố 281.3.3 Cơ sở vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong hoạt động tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố 29
1.4 Pháp luật tố tụng hình sự một số nước trên thế giới về vai trò của Viện kiểm sát, Viện Công tố trong hoạt động tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm 30
1.4.1 Một số quốc gia tiêu biểu trong hệ thống Dân luật 30
Trang 51.4.2 Một số quốc gia tiêu biểu trong hệ thống Thông luật 33
1.4.3 Một số quốc gia tiêu biểu trong hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa 35
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 39
Chương 2:QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN VỚI VIỆC TIẾP NHẬN, GIẢI QUYẾT TỐ GIÁC, TIN BÁO TỘI PHẠM, KIẾN NGHỊ KHỞI TỐ VÀ THỰC TRẠNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI BÌNH 40
2.1 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành về vai trò của Viện kiểm sát nhân dân với việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố 40
2.2 Thực trạng hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân với việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố trên địa bàn tỉnh Thái Bình (giai đoạn 2011 – 6/2017) 49
2.2.1.Những thành tích đạt được 49
2.2.2.Những bất cập, hạn chế 54
2.2.3.Nguyên nhân của những bất cập, hạn chế 63
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 69
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP TIẾP TỤC HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN VỚI VIỆC TIẾP NHẬN, GIẢI QUYẾT TỐ GIÁC, TIN BÁO TỘI PHẠM VÀ KIẾN NGHỊ KHỞI TỐ 70
3.1 Giải pháp tiếp tục hoàn thiện pháp luật về vai trò của Viện kiểm sát nhân dân với việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố 70
3.1.1 Quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân với việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố 70
Trang 63.1.2 Giải pháp tiếp tục hoàn thiện các quy định của Bộ luật tố tụng hình
sự 2015 77
3.1.3.Giải pháp tiếp tục hoàn thiện pháp luật khác 85
3.2 Một số giải pháp nâng cao vai trò của Viện kiểm sát nhân dân với việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố 86
3.2.1.Một số giải pháp nâng cao chất lượng nhân sự ngành kiểm sát 86
3.2.2 Một số giải pháp tăng cường cơ sở vật chất cho ngành kiểm sát 88
3.2.3.Một số giải pháp nâng cao vai trò của người dân, phương tiện truyền thông trong hoạt động tiếp nhận tố giác, tin báo tội phạm 89
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 92
KẾT LUẬN 93
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLTTHS: Bộ luật Tố tụng Hình sự
CQĐT: Cơ quan Điều tra
CQTHTT: Cơ quan tiến hành tố tụng
KSV: Kiểm sát viên
Thông tư 06: Thông tư số 06/2013/TTLT – BCA – BQP – BTC
-BNN&PTNT - VKSNDTC THQCT: Thực hành quyền công tố
VKSND: Viện kiểm sát nhân dân
Trang 8DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU
Số hiệu
2.1 Số liệu thụ lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm
trên địa bàn tỉnh Thái Bình giai đoạn 2011 – 6/2017 50
2.2 Kết quả giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm trên địa
bàn tỉnh Thái Bình giai đoạn 2011 – 6/2017 51
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố
là hoạt động tố tụng hình sự đầu tiên, có ý nghĩa tạo định hướng điều tra chính xác, góp phần không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội Tham gia hoạt động này có nhiều chủ thể khác nhau: Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra Để việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố được tiến hành hiệu quả, vai trò của mỗi cơ quan, trong đó có Viện kiểm sát nhân dân cần được làm rõ Với tầm quan trọng như vậy, nghiên cứu vai trò của Viện kiểm sát nhân dân với việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố là việc làm cần thiết,
cả trên phương diện lý luận và thực tiễn
Về mặt lý luận, Viện kiểm sát nhân dân thực hiện vai trò của mình thông qua chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp và thực hành quyền công tố Tuy nhiên, đã và đang có những tranh luận học thuật xung quanh hai chức năng này Điều đó sẽ dẫn đến những quan điểm khác nhau về vai trò của Viện kiểm sát nhân dân với việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố Trong khi đó, Việt Nam đang thực hiện công cuộc cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị
quyết số 08 ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về “Một số nhiệm vụ trong
tâm công tác tư pháp trong thời gian tới”; Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày
25/4/2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ
thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020” và
Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về “Chiến
lược cải cách tư pháp đến năm 2020” Để công cuộc cải cách tư pháp đạt
Trang 10được những thành tựu to lớn hơn nữa, sự thống nhất trong nhận thức và áp dụng pháp luật là yếu tố quyết định
Trong thực tiễn, sự thể hiện vai trò của Viện kiểm sát nhân dân với việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố liên quan trực tiếp tới kết quả công cuộc đấu tranh, phòng chống tội phạm Điều này có thể được minh họa bằng thực trạng tại tỉnh Thái Bình từ năm 2011 đến tháng 6 năm 2017 Với những nỗ lực của toàn ngành kiểm sát, công tác tiếp nhận và kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác tội phạm, kiến nghị khởi tố ở Thái Bình đã có nhiều chuyển biến tích cực Nhưng bên cạnh đó, vẫn tồn tại một số hạn chế như vi phạm về thời gian giải quyết nguồn tin, nhiếu trường hợp cơ quan điều tra giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố nhưng không thông báo cho Viện kiểm sát nhân dân… Thực trạng trên đặt ra yêu cầu phải tìm hiểu một cách hệ thống các quy định pháp luật nhằm tăng cường hơn nữa vai trò của Viện kiểm sát nhân dân với việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố Điều này càng trở nên cần thiết trong bối cảnh Bộ luật tố tụng hình sự 2015
đã được ban hành và có nhiều điểm mới quan trọng
Với những lý do nêu trên, tác giả xin chọn đề tài: “Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân với việc tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác tội phạm
và kiến nghị khởi tố (trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Thái Bình)” làm đề
tài cho luận văn thạc sĩ luật học của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Trong khi vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự nói chung luôn là đề tài thu hút được sự quan tâm của các nhà khoa học thì việc đi sâu vào vai trò của Viện kiểm sát nhân dân với hoạt động tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố còn khá hạn chế
Trang 11Ở cấp độ luận văn thạc sĩ, luận văn “Kiểm sát việc giải quyết tin báo,
tố giác tội phạm trong luật tố tụng hình sự Việt Nam” (bảo vệ năm 2015 tại
Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội) của tác giả Dương Tiến Mạnh là một trong số ít những công trình nghiên cứu về vấn đề này Nhưng tác giả Dương Tiến Mạnh chưa đề cập tới quy định của Bộ luật tố tụng hình sự
2015 trong quan điểm của mình Một số luận văn khác có giá trị là: “Kiểm
sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự - Một số vấn đề lý luận
và thực tiễn” (bảo vệ năm 2005 tại Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội)
của tác giả Lê Lan Chi, “Vai trò của Kiểm sát viên trong quá trình giải
quyết vụ án hình sự (Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Thái Bình)” (bảo vệ
năm 2016 tại Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội) của tác giả Nghiêm Thị Thanh Thư Những luận văn nói trên đã phân tích một số vấn đề lý luận
và thực tiễn về vai trò của Viện kiểm sát nhân dân với việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố nhưng những phân tích đó chỉ được trình bày ngắn gọn, không phải quan điểm chủ đạo của luận văn
Ở cấp độ bài báo khoa học, đề tài vai trò của Viện kiểm sát nhân dân với việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố
được khai thác nhiều hơn Có thể kể đến các bài báo: “Về nhiệm vụ, quyền
hạn của Viện kiểm sát trong công tác kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác
về tội phạm và kiến nghị khởi tố theo yêu cầu cải cách tư pháp” của tác giả
Nguyễn Duy Giảng đăng trên Tạp chí kiểm sát số 18 & 20/2008; “Cần thống
nhất nhận thức về các khái niệm tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi
tố và các nguồn thông tin về tội phạm” của tác giả Lê Ra, tạp chí kiểm sát số
20/2012; “Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác
kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố” của
tác giả Lưu Trọng Nguyên, Tạp chí kiểm sát, số 12/2009 Bài báo“Một số
vấn đề về công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong tiến trình cải cách”
Trang 12của tác giả Nam Trung, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 11(212) – 2009 tuy không đề cập trực tiếp tới vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố nhưng đưa ra những phân tích cụ thể về mặt lý luận vai trò của thiết chế này
Ở cấp độ sách chuyên khảo, chưa có công trình nào tập trung vào hoạt động tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố Hầu hết những công bố có giá trị đều phân tích về vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự nói chung hoặc vị trí của Viện kiểm sát nhân dân trong hệ thống cơ quan Nhà nước Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân với việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố có thể được rút ra từ những phân tích này Một số sách chuyên khảo tiêu biểu bao
gồm: Quy định về Viện kiểm sát nhân dân trong Hiến pháp 1992: Một vài đề
xuất sửa đổi, Hiến pháp: Những vấn đề lý luận và thực tiễn (2011), nhà xuất
bản Đại học Quốc gia Hà Nội của PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí; Viện kiểm sát
nhân dân trong nhà nước pháp quyền (2014), nhà xuất bản Tư pháp do GS
Nguyễn Đăng Dung chủ biên; Một số vấn đề về luật tố tụng hình sự Việt
Nam (2015), nhà xuất bản Tư pháp của TS Nguyễn Văn Tuân Gần đây nhất
là sách Những nội dung mới trong Bộ luật tố tụng hình sự 2015 (2016), nhà
xuất bản chính trị quốc gia, do PGS.TS Nguyễn Hòa Bình chủ biên
Như vậy, nhìn một cách tổng quan, đề tài vai trò của Viện kiểm sát nhân dân với việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố chưa được nghiên cứu rộng rãi Những công trình khoa học hoặc chưa cập nhật các quy định mới trong Bộ luật tố tụng hình sự 2015 hoặc chỉ chú trọng vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự nói chung, từ đó rút ra vai trò trong hoạt động tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố Tình hình này cho thấy việc nghiên cứu đề
tài: “Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân với việc tiếp nhận, giải quyết tin
Trang 13báo, tố giác tội phạm và kiến nghị khởi tố (trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Thái Bình)” là đòi hỏi khách quan, cấp thiết, vừa có tính lý luận, vừa
có tính thực tiễn
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu một số vấn đề lý luận và luật thực định về vai trò của Viện kiểm sát nhân dân với việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố
Về phạm vi nghiên cứu, luận văn tập trung vào nghiên cứu vai trò của Viện kiểm sát nhân dân với việc tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác tội phạm và kiến nghị khởi tố trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam qua các quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự 2003 và Bộ luật tố tụng hình sự
2015 Số liệu, tư liệu thực tế trong luận văn chủ yếu trích dẫn từ các báo cáo tổng kết của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình trong giai đoạn từ năm 2011 đến tháng 6 năm 2017 Một số tư liệu lấy từ báo điện tử và trang web chính thức của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng; quan điểm của Đảng và Nhà nước
về vấn đề cải cách tư pháp được thể hiện trong các Nghị quyết số NQ/TW ngày 02/01/2002, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 26/5/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 của Bộ Chính trị
08-Trong luận văn, các phương pháp nghiên cứu khoa học được sử dụng bao gồm: phương pháp phân tích, so sánh, phương pháp thống kê, tổng hợp, phương pháp diễn dịch và quy nạp Đặc biệt, phương pháp phân tích,
so sánh đóng vai trò chủ đạo trong quá trình nghiên cứu
Trang 145 Những điểm mới của luận văn
Luận văn đã phân tích tương đối hệ thống một số vấn đề lý luận về vai trò của Viện kiểm sát nhân dân với việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố; sự thể hiện vai trò này thông qua những quy phạm cụ thể trong Bộ luật tố tụng hình sự 2003 và Bộ luật tố tụng hình
sự 2015
Luận văn đã khái quát lịch sử hình thành và phát triển các quy định
về vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố từ năm 1959 đến khi Bộ luật tố tụng hình sự 2015 được ban hành
Nghiên cứu một số nét cơ bản về vai trò của Viện kiểm sát, Viện công tố với hoạt động tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm trong pháp luật một số quốc gia trên thế giới Qua đó, đưa ra nhận xét về quan điểm lập pháp ở từng quốc gia và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Phác thảo trung thực, khách quan thực tiễn hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân hai cấp tỉnh Thái Bình với việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố trong giai đoạn 2011 – 6/2017; những thành tựu đạt được, hạn chế cần khắc phục và nguyên nhân của hạn chế đó
Trên cơ sở nghiên cứu, luận văn đưa ra đề xuất nhằm hoàn thiện quy định về vai trò của Viện kiểm sát nhân dân với việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố trong Bộ luật tố tụng hình sự 2015 Bên cạnh đó, kiến nghị một số giải pháp nâng cao chất lượng nhân sự, bảo đảm cơ sở vật chất, thu hút sự hợp tác của người dân và báo chí Qua đó, nâng cao vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trên thực tế, đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp
Trang 156 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về lý luận, kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần hoàn thiện lý luận về vai trò của Viện kiểm sát nhân dân với việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố; chức năng thực hành quyền công
tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp Đồng thời, luận văn đưa ra kiến nghị nhằm hoàn thiện một số quy định trong Bộ luật
tố tụng hình sự 2015 về vai trò của Viện kiểm sát nhân dân với việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố
Về thực tiễn, luận văn đã phân tích những hạn chế trong hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân hai cấp tỉnh Thái Bình với việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố Qua đó, đưa ra một số giải pháp nhằm khắc phục phần nào những hạn chế này Ngoài ra, luận văn còn có giá trị với việc nghiên cứu khoa học cũng như áp dụng thực tế thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm ba chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về vai trò của Viện kiểm sát nhân dân với việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố
Chương 2: Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về vai trò của Viện kiểm sát nhân dân với việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố và thực trạng trên địa bàn tỉnh Thái Bình
Chương 3: Một số giải pháp tiếp tục hoàn thiện pháp luật và nâng cao vai trò của Viện kiểm sát nhân dân với việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố
Trang 16Từ góc độ ngôn ngữ học, các thuật ngữ tin, báo, tố giác, kiến nghị được định nghĩa như sau:
Tin (danh từ): 1) Điều được truyền đi, báo đi cho biết về sự việc, tình hình xảy ra 2) Sự truyền đạt, sự phản ánh dưới các hình thức khác nhau, cho biết về thế giới chung quanh và những quá trình xảy ra trong nó
Báo (động từ): 1) Cho biết việc gì đó đã xảy ra 2) Cho người có trách nhiệm nào đó biết về việc xảy ra có thể hại đến trật tự an ninh chung
Kiến nghị (động từ): Nêu ý kiến đề nghị về một việc chung
để cơ quan có thẩm quyền xem xét (Danh từ): Điều kiến nghị
Tố giác (động từ): Báo cho cơ quan chính quyền biết người hoặc hành động phạm pháp nào đó [17]
Từ các định nghĩa trên, có thể hiểu “tin báo”, “tố giác”, “kiến nghị"
là những danh từ, động từ để chỉ thông tin được truyền từ chủ thể này sang chủ thể khác hoặc cách thức truyền tin “Báo” vốn là một động từ, nhưng khi kết hợp với “tin” để tạo thành từ ghép “tin báo” thì “tin báo” là danh từ
“Tố giác” là động từ “Kiến nghị” là danh từ hoặc động từ tùy theo ngữ cảnh Do các khái niệm khác nhau về mặt từ loại nên khi xuất hiện cùng nhau dễ gây thiếu nhất quán ở góc độ ngôn ngữ Điều này được phản ánh trong BLTTHS 2015 và Thông tư 06 Ở hai văn bản, khái niệm “tin báo”
Trang 17được định nghĩa là danh từ [20, khoản 2, Điều 144], [4, khoản 2, Điều 3];
“kiến nghị khởi tố” là động từ [20, khoản 3, Điều 144], [4, khoản 3, Điều 3]; “tố giác” được quy định là danh từ theo Thông tư 06 [4, khoản 1, Điều 3] và động từ theo BLTTHS 2015 [20, khoản 1, Điều 144] Tuy nhiên, đa
số các điều luật còn lại ở BLTTHS 2015 và Thông tư 06 đều sử dụng thuật ngữ “tố giác”, “kiến nghị khởi tố” như những danh từ với ý nghĩa là thông
tin, ví dụ “Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo
về tội phạm, kiến nghị khởi tố…” [20, Điều 147, khoản 1] hoặc “Khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố …” [4, khoản 3, Điều
4] Luận văn tiếp cận cả ba khái niệm: tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố ở góc độ danh từ với ý nghĩa là thông tin Bởi thông tin là yếu tố trung tâm trong hoạt động tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố, đồng thời gợi ra mối quan hệ chủ thể báo tin – chủ thể tiếp nhận, xử lý thông tin và mối quan hệ giữa các chủ thể tiếp nhận, xử lý thông tin với nhau (CQĐT, VKSND ) Trong khi đó, nghĩa động từ của các thuật ngữ trên là cách thức truyền thông tin, do vậy, chỉ gợi ra mối quan hệ chủ thể báo tin – chủ thể tiếp nhận, xử lý thông tin Để chính xác
về mặt ngôn ngữ, hai thuật ngữ “tố giác” và “kiến nghị khởi tố” cần được thay thế bằng “tin tố giác”, “tin kiến nghị khởi tố” Tuy nhiên, do thuật ngữ
“tố giác” và “kiến nghị khởi tố” đã trở nên quen thuộc nên luận văn tiếp cận các thuật ngữ này với ý nghĩa là thông tin
Ở góc độ pháp lý, hai yếu tố cốt lõi của “tố giác”, “tin báo tội phạm”,
“kiến nghị khởi tố” là: nội dung thông tin, chủ thể truyền – nhận thông tin
Về nội dung thông tin, “tố giác”, “tin báo tội phạm”, “kiến nghị khởi tố” là các thông tin về sự việc có dấu hiệu cấu thành tội phạm Bởi cấu
thành tội phạm là “tổng hợp các dấu hiệu được quy định trong luật hình sự
đặc trưng cho một loại tội phạm cụ thể” [6, tr.124] Cấu thành tội phạm
Trang 18bao gồm bốn yếu tố: 1) chủ thể của tội phạm – “con người cụ thể, đang
sống” [6, tr.161] hoặc một pháp nhân cụ thể, 2) khách thể của tội phạm –
“những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ bị tội phạm xâm hại” [6, tr.136], 3) mặt khách quan – “các dấu hiệu biểu hiện tội phạm diễn ra
trong thế giới khách quan” [6, tr.145], 4) mặt chủ quan của tội phạm – thái
độ tâm lý của người phạm tội đối với hành vi mà họ thực hiện và hậu quả của hành vi ấy Mặt chủ quan của tội phạm bao gồm: lỗi, động cơ phạm tội
và mục đích phạm tội Trong thực tiễn, các thông tin về tội phạm rất đa dạng nhưng đều có thể xếp vào một trong bốn yếu tố nói trên Ví dụ, thông tin về một vụ cướp có thể bao gồm: chủ thể - số người tham gia cướp, đặc điểm từng người; mặt chủ quan – lỗi cố ý trực tiếp, được thể hiện qua việc
uy hiếp nạn nhân; mặt khách quan – thời gian, địa điểm xảy ra vụ cướp, hung khí dùng để cướp; khách thể - quan hệ sở hữu Do đó, có thể khẳng định “tố giác”, “tin báo tội phạm”, “kiến nghị khởi tố” là những thông tin
về sự việc có dấu hiệu cấu thành tội phạm
Hiện nay, có sự phân biệt về mặt nội dung giữa các loại thông tin trong Thông tư 06 và BLTTHS 2015 Theo Thông tư 06, tố giác và tin báo
là thông tin về hành vi có dấu hiệu tội phạm, kiến nghị khởi tố là “phát hiện
sự việc có dấu hiệu tội phạm” [4, Điều 3] Theo BLTTHS 2015, nội dung
của tin báo là “hành vi có dấu hiệu tội phạm”, của tố giác và kiến nghị khởi
tố là “vụ việc có dấu hiệu tội phạm” [20, Điều 144] Tuy nhiên, hai văn bản
trên chưa quy định sự khác biệt giữa hành vi và vụ việc có dấu hiệu tội phạm Thông tin về một vụ việc chi tiết, trong đó có hành vi phạm tội, do
cá nhân báo cho CQĐT sẽ thỏa mãn đặc điểm của cả tin báo và tố giác tội
phạm theo BLTTHS 2015 Như vậy, việc phân loại tin dựa trên “hành vi”
và “vụ việc có dấu hiệu tội phạm” chưa thực sự hợp lý Có thể thấy, sự
khác biệt quan trọng nhất là: kiến nghị khởi tố bao gồm văn bản kiến nghị khởi tố vụ án hình sự và các chứng cứ, tài liệu liên quan bên cạnh những
Trang 19thông tin về sự việc có dấu hiệu cấu thành tội phạm Nói cách khác, thông tin trong kiến nghị khởi tố đã được xử lý bước đầu, có mức độ tin cậy cao hơn và gắn với trách nhiệm của cơ quan Nhà nước Trong khi đó, tố giác và tin báo chưa được xử lý, có mức độ tin cậy thấp hơn
Tóm lại, về nội dung, tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố là những thông tin về sự việc có dấu hiệu cấu thành tội phạm nhưng kiến nghị khởi tố kèm theo văn bản kiến nghị khởi tố vụ án hình sự và các chứng cứ, tài liệu liên quan
Về chủ thế truyền – nhận thông tin, điểm tương đồng giữa tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố là những thông tin này được phát hiện bởi chủ thể không có thẩm quyền giải quyết và được báo cho chủ thể có thẩm quyền Điều này được rút ra trên cơ sở tính chất của các loại thông tin Thông tin về tội phạm có thể được phát hiện bởi bất kỳ ai nên không cần quy định thẩm quyền với chủ thể truyền tin Tin báo và kiến nghị khởi tố có chủ thế truyền tin là cơ quan, tổ chức, cơ quan Nhà nước nhưng những cơ quan đó không phải cơ quan có thẩm quyền xử lý thông tin
Những thông tin tội phạm cần được xác minh chính xác, nhanh chóng nhằm ngăn ngừa tội phạm hoặc khắc phục kịp thời hậu quả của tội phạm Đồng thời, việc xác minh cũng cần khách quan, công bằng để không làm oan người vô tội Muốn cân bằng hai yếu tố này, phải có những chủ thể giải quyết thông tin đủ mạnh, được pháp luật trao quyền Đó là CQĐT, VKSND, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra Các thông tin có thể được báo trực tiếp đến cơ quan có thẩm quyền hoặc đăng tải trên phương tiện thông tin đại chúng Trong trường hợp thông tin xuất hiện trên truyền thông, đó cần được coi là một hình thức thông báo khác đến cơ quan có thẩm quyền Bởi truyền thông hướng đến đối tượng tiếp nhận rộng rãi, trong đó có những cơ quan có thẩm quyền giải quyết thông tin tội phạm
Trang 20Tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố khác biệt ở chủ thể truyền tin Có các loại chủ thể truyền tin chính: cá nhân; cơ quan tổ chức;
cơ quan Nhà nước Cơ quan Nhà nước là chủ thể đặc trưng của kiến nghị khởi tố Cá nhân là chủ thể của tố giác tội phạm Với chủ thể truyền tin của
“tin báo”, theo Thông tư 06, đó là cơ quan, tổ chức [4, khoản 2, Điều 3] Nhưng theo BLTTHS 2015, chủ thể đó là cá nhân, cơ quan, tổ chức [20, khoản 2, Điều 144] Chúng tôi cho rằng, nên thống nhất chủ thể truyền tin của tin báo là cơ quan, tổ chức mà không bao gồm cá nhân Điều đó giúp phân biệt tin báo và tố giác Bởi hai loại tin này có bản chất thông tin và chủ thể nhận tin giống nhau Vì thế, chủ thể truyền tin trở thành tiêu chí phân biệt tin rõ ràng nhất
Từ các phân tích trên, có thể rút ra định nghĩa như sau
Tố giác về tội phạm là thông tin về sự việc có dấu hiệu cấu thành tội phạm do cá nhân cung cấp cho cơ quan có thẩm quyền
Tin báo về tội phạm là thông tin về sự việc có dấu hiệu cấu thành tội phạm do cơ quan, tổ chức cung cấp cho cơ quan có thẩm quyền hoặc thông tin về tội phạm trên phương tiện thông tin đại chúng
Kiến nghị khởi tố là thông tin về sự việc có dấu hiệu cấu thành tội phạm, được gửi kèm văn bản kiến nghị khởi tố vụ án hình sự, do Cơ quan Nhà nước cung cấp cho Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền
Có thể rút ra định nghĩa chung cho “tố giác”, “tin báo về tội phạm”
và “kiến nghị khởi tố” như sau:
Tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố là những thông tin
về sự việc có dấu hiệu cấu thành tội phạm do các chủ thể không có thẩm quyền giải quyết cung cấp cho cơ quan có thẩm quyền theo quy định của
Bộ luật tố tụng hình sự
Tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố có các đặc điểm sau:
Trang 21Là cơ sở mở đầu quá trình tố tụng hình sự, tạo tiền đề cho các hoạt động tố tụng tiếp theo được thực hiện chính xác, có căn cứ Từ khi tiếp
nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã phát sinh Đó là sự bắt đầu quá trình tố tụng hình sự Tố giác, tin báo tội phạm
và kiến nghị khởi tố tạo tiền đề cho các hoạt động tố tụng tiếp sau vì chất lượng của những thông tin này quyết định mức độ xác minh, làm rõ của các
cơ quan tiến hành tố tụng cũng như khả năng khởi tố vụ án hình sự
Không được phát hiện bởi cơ quan tiến hành tố tụng Do đặc điểm
này, tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố đa phần có chất lượng thông tin không cao nhưng số lượng tin rất lớn và đóng vai trò chủ yếu trong việc giúp CQTHTT phát hiện tội phạm Để tiếp nhận đầy đủ, kịp thời
tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố, các CQTHTT nên tạo nhiều kênh liên lạc, đồng thời khuyến khích ý thức phòng chống tội phạm của
mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức
Mức độ chi tiết, chính xác của thông tin rất đa dạng Đặc điểm này
xuất phát từ việc đa phần hành vi, vụ việc có dấu hiệu tội phạm được phát hiện ngẫu nhiên mà mức độ chính xác, chi tiết của một thông tin phụ thuộc vào hoàn cảnh thông tin đó được phát hiện Một lý do khác dẫn đến đặc điểm này là các cá nhân, cơ quan, tổ chức (chủ thể truyền tin) không có nguồn lực và nghiệp vụ như những CQTHTT nên không thể kiểm tra, đánh
giá chất lượng thông tin
Phản ánh hiện tượng (chứ chưa phản ánh bản chất) của hành vi, vụ việc có dấu hiệu tội phạm Theo chủ nghĩa duy vật biện chứng, “hiện tượng
là những biểu hiện bề ngoài, bên ngoài của sự vật”; “bản chất là tổng hợp tất cả những mặt, những mối liên hệ tất nhiên, tương đối ổn định bên trong, quy định sự tồn tại, vận động và phát triển của sự vật” [24] Do hành vi, vụ
Trang 22việc có dấu hiệu tội phạm thường được phát hiện ngẫu nhiên nên tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố chỉ phản ánh được phần nào biểu hiện bên ngoài cuả toàn bộ hành vi, vụ việc ấy Trong khi đó, các CQTHTT cần xác định bản chất của hành vi, vụ việc để ấn định trách nhiệm hình sự Do vậy, tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố cần trải qua quá trình xác minh, làm rõ bởi CQTHTT có thẩm quyền
1.2 Khái niệm và các phương diện thể hiện vai trò của Viện kiểm sát nhân dân
1.2.1 Khái niệm vai trò của Viện kiểm sát nhân dân
Theo từ điển tiếng Việt, “vai trò” là “Tác dụng, chức năng trong sự
hoạt động, phát triển của cái gì đó” [17] Định nghĩa này cho thấy thuật ngữ
“vai trò” và “chức năng” có sự tương đồng nhất định Mối quan hệ giữa vai trò và chức năng của VKSND là: vai trò được thể hiện thông qua các chức năng khác nhau Phân tích vai trò của VKSND là phân tích từng chức năng
và sự thể hiện những chức năng đó Ngược lại, nghiên cứu hoàn thiện chức năng của VKSND cần hướng đến bảo đảm vai trò của thiết chế này
Dưới góc độ pháp lý, hai chức năng chính của VKSND trong tố tụng hình sự là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp Đó
là cơ sở để xác định vai trò của VKSND trong tố tụng hình sự nói chung, trong tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố nói riêng Theo khoản 3, Điều 23 BLTTHS 2003, Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật nhằm:
Bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được xử lý kịp thời; việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội
Trang 23Trong khi đó, theo Điều 20, BLTTHS 2015, hai chức năng này phản ánh vai trò của VKSND trong tố tụng hình sự là:
Bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người phạm tội, pháp nhân phạm tội, vi phạm pháp luật đều phải được phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh, việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành
án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, pháp nhân phạm tội, không làm oan người vô tội
So với BLTTHS 2003, BLTTHS 2015 có những bổ sung quan trọng
về mặt lý luận: vai trò “phát hiện” được ghi nhận bên cạnh vai trò “xử lý”
và “vi phạm pháp luật” được coi là đối tượng cần ngăn chặn giống như
“hành vi phạm tội” Vai trò “phát hiện” được ghi nhận là sự bổ sung kịp thời, cần thiết Bởi hành vi “phát hiện” mang tính chất khác với hành vi
“xử lý” “Phát hiện” nhằm nhận biết sự tồn tại của thông tin tội phạm còn
“xử lý” nhằm đánh giá tính chất, mức độ của thông tin đó Việc thực hiện tốt vai trò “phát hiện” là điều kiện tiên quyết để tiến hành “xử lý” Nếu vai trò “phát hiện” không được nhắc đến hoặc chỉ được coi là một bộ phận của vai trò “xử lý”, công tác nhận thức cũng như thực tiễn phát hiện thông tin tội phạm sẽ không được coi trọng
“Vi phạm pháp luật” được nêu tại Điều 20 BLTTHS 2015 cần được hiểu là những vi phạm từ cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ án Vì thế,
“vi phạm pháp luật” tách riêng với “hành vi phạm tội” mặc dù nếu chỉ xét
về nội hàm, hai thuật ngữ có sự tương đồng nhất định
Ngoài ra, BLTTHS 2015 cũng đã bổ sung quy định “không để lọt
pháp nhân phạm tội” vào vai trò của VKSND bởi theo Bộ luật Hình sự
2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, pháp nhân cũng là chủ thể chịu trách nhiệm hình sự
Trang 24Từ vai trò của VKSND trong tố tụng hình sự, có thể rút ra vai trò của VKSND trong tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố như sau:
Bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người phạm tội, pháp nhân phạm tội, vi phạm pháp luật đều phải được phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh, đúng pháp luật
1.2.2 Các phương diện thể hiện vai trò của Viện kiểm sát nhân dân
VKSND thể hiện vai trò thông qua chức năng THQCT và kiểm sát việc tuân theo pháp luật Tuy nhiên, một vấn đề đang tồn tại hiện nay là nền tảng lý luận của hai chức năng vẫn chưa được thống nhất Chưa có văn bản pháp lý nào giải thích chính thức về quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật Trong khi đó, giới học thuật vẫn đang đưa ra những quan điểm trái chiều Tình trạng này tất yếu dẫn đến nhận thức khác nhau
về cách thể hiện vai trò của VKSND Trong bối cảnh đó, nghiên cứu về chức năng THQCT và kiểm sát việc tuân theo pháp luật có ý nghĩa định hướng phân tích vai trò của VKSND với việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố
Bên cạnh những nhiệm vụ, quyền hạn trong hai chức năng chính, một phương tiện khác để VKSND thể hiện vai trò của mình là thẩm quyền tiếp nhận tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố, được quy định tại các Điều 145, 146, 160 BLTTHS 2015 Quy định trong BLTTHS 2015 cho thấy thẩm quyền này vừa mang tính chất độc lập, vừa nằm trong nhiệm vụ, quyền hạn kiểm sát việc tuân theo pháp luật Vì vậy, cùng với hai chức năng chính của VKSND, thẩm quyền tiếp nhận tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố cần được nghiên cứu một cách sâu sắc, toàn diện
Trang 25a) Chức năng thực hành quyền công tố
Giữa BLTTHS 2003 và BLTTHS 2015 có một số điểm khác biệt trong quy định về THQCT Nếu như trong BLTTHS 2003, THQCT là quyết định việc truy tố người phạm tội [19, Điều 23, khoản 1] thì theo BLTTHS 2015, đó là quyết định việc buộc tội [20, Điều 20] Thời điểm bắt
đầu THQCT trong BLTTHS 2015 là từ lúc “giải quyết nguồn tin về tội
phạm” [20, Điều 159], sớm hơn luật hiện hành, từ khi “khởi tố vụ án” [19,
Điều 109] Mấu chốt để đánh giá những thay đổi này là lý luận về quyền công tố Luận văn tiếp cận quyền công tố dựa trên những bình diện sau: đối tượng, chủ thể, nội dung và phạm vi thời gian của quyền
Đối tượng của quyền công tố là tội phạm và người phạm tội Điều này xuất phát từ đặc điểm của tố tụng hình sự: Nếu sự cáo buộc trách nhiệm hình sự thuộc về tư nhân, hoặc người buộc tội không đủ mạnh nên
họ không thể buộc tội Hoặc họ quá mạnh nên xâm hại đến quyền của người bị buộc tội Khi quyền công tố được thực hiện bởi Nhà nước, nhu cầu lập lại công lý và bảo vệ quyền của người bị buộc tội mới được cân bằng Ở các lĩnh vực luật khác không tồn tại đặc điểm này
Về chủ thể, duy nhất Viện kiểm sát được THQCT Trách nhiệm hình
sự là trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất nên chỉ cần một thiết chế đóng vai trò chủ thể buộc tội Nếu quyền công tố được trao cho nhiều cơ quan thì không những gây chồng chéo thẩm quyền mà khả năng xâm phạm quyền của người bị buộc tội cũng cao hơn
Về nội dung quyền công tố, các nhà khoa học cho rằng đó là sự truy cứu trách nhiệm hình sự với người phạm tội Đây cũng là cách tiếp cận trong phạm vi luận văn Quyền công tố là tổng hợp các quyền nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự với người phạm tội trong các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử Để truy cứu trách nhiệm hình sự , VKSND phải tổng hợp và đánh giá các chứng cứ trong giai đoạn điều tra, buộc tội ở giai đoạn truy tố
và bảo vệ sự buộc tội trước Tòa khi xét xử
Trang 26Về phạm vi thời gian, quyền công tố phát sinh từ lúc tội phạm được thực hiện và kết thúc khi bản án của Tòa có hiệu lực pháp luật Hiện nay, vẫn tồn tại ba luồng ý kiến về thời điểm phát sinh quyền công tố Thứ nhất:
“quyền công tố bắt đầu khi các cơ quan tiến hành tố tụng phát hiện có dấu
hiệu tội phạm ” [9, tr 176] Thứ hai: “sau khi kết thúc điều tra tội phạm”
[14] Thứ ba: “bắt đầu khi tội phạm được thực hiện” [23] Về nguyên tắc,
căn cứ phát sinh quyền và nghĩa vụ là sự kiện pháp lý Đối tượng của quyền công tố là tội phạm và người phạm tội nên sự kiện phát sinh quyền
là tội phạm xảy ra Tuy nhiên, thời điểm THQCT chỉ diễn ra từ khi giai đoạn điều tra bắt đầu Thời điểm phát sinh không trùng với thời điểm THQCT bởi đa phần các tội phạm không bị phát hiện ngay khi thực hiện
Từ các phân tích trên, có thể kết luận những quy định trong BLTTHS
2015 về THQCT trong tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố cần được sửa đổi Đối chiếu về phạm vi thời gian, quyền công
tố chỉ được thực hành từ giai đoạn điều tra Ở góc độ đối tượng, quyền công tố hướng đến tội phạm và người phạm tội Nói cách khác, quyền công
tố chỉ được thực hiện khi đã xác định có sự tồn tại của những đối tượng này Trong khi đó, nếu việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm
và kiến nghị khởi tố chưa đưa ra kết quả cuối cùng, chưa thể khẳng định có
sự tồn tại của dấu hiệu tội phạm Vì vậy, VKSND không THQCT trong tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố
b) Chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật
Dưới góc độ pháp lý, kiểm sát là hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước Về chủ thể của hoạt động này, ngoài VKSND, Hiến pháp 2013 không quy định bất kỳ một cơ quan nào khác So với Hiến pháp 2013, phạm vi chủ thể trong BLTTHS 2015 rộng hơn vì ngoài VKSND còn có Viện kiểm sát quân sự Nhưng sự khác biệt này không làm thay đổi nội
Trang 27dung cốt lõi: Khi giải quyết vụ án, Viện kiểm sát có thẩm quyền là cơ quan duy nhất thực hiện chức năng kiểm sát Đặc tính đó bắt nguồn từ hoàn cảnh thành lập Viện kiểm sát Năm 1722, Sa hoàng Pie thiết lập tổ chức kiểm sát
ở Nga nhằm giám sát các chính quyền địa phương Sau khi được tái lập ở Liên Xô vào năm 1922, Viện kiểm sát có vai trò bảo đảm pháp luật được thi hành nghiêm chỉnh và thống nhất trên toàn quốc [42] Vai trò đó không thay đổi khi mô hình Viện kiểm sát được xây dựng ở Việt Nam
Đối tượng của sự kiểm sát là hoạt động của các chủ thể trong quan hệ
tố tụng hình sự Các hoạt động đó bao gồm: hoạt động của Cơ quan điều tra; cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; Tòa án; hoạt động của những người tham gia tố tụng; các cơ quan, tổ chức và cá nhân tham gia vào tố tụng hình sự trong những trường hợp nhất định
Về thuật ngữ “Tuân theo pháp luật”, theo TS Lê Lan Chi, nếu hiểu
thuật ngữ theo quan điểm lý luận chung về nhà nước và pháp luật thì nội hàm thuật ngữ sẽ bị thu hẹp đáng kể [7] Chúng tôi tán thành quan điểm này Theo lý luận chung về nhà nước và pháp luật:
Tuân theo pháp luật là một dạng thực hiện pháp luật mang tính chất thụ động, thể hiện ở việc các chủ thể phải kiềm chế bản thân để không thực hiện những hành vi mà pháp luật cấm Những quy phạm pháp luật cấm trong luật hình sự, luật hành chính được thể hiện dưới hình thức này [11]
Ngoài tuân theo pháp luật, ba dạng thực hiện pháp luật còn lại bao gồm: áp dụng pháp luật, sử dụng pháp luật, thi hành pháp luật Rõ ràng là,
trong tố tụng hình sự, các cơ quan chịu sự kiểm sát không chỉ “kiềm chế
bản thân”, “thụ động” mà còn thực hiện những hành vi tố tụng mang tính
chủ động Hoạt động của những cơ quan này đã bao hàm tất cả các hình thức thực hiện pháp luật Thiết nghĩ, thuật ngữ “kiểm sát việc tuân theo
Trang 28pháp luật” trong BLTTHS 2015 nên được thay bằng “kiểm sát việc thực hiện pháp luật” Nếu giữ nguyên thuật ngữ “kiểm sát việc tuân theo pháp luật”, BLTTHS 2015 cần bổ sung các quy định giải thích khái niệm “tuân theo pháp luật” và “kiểm sát việc tuân theo pháp luật” để tạo thống nhất giữa luật thực định và khoa học pháp lý
Qua những nghiên cứu trên đây, có thể đưa ra khái niệm kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự như sau:
Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự là hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước của Viện kiểm sát, có nội dung là kiểm tra, giám sát liên tục việc thực hiện pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án hình sự
Như đã phân tích, VKSND không THQCT trong giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố Tương tự, cần đặt ra vấn đề đánh giá sự thể hiện chức năng kiểm sát trong giải quyết nguồn tin về tội phạm Có thể thấy, hoạt động giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố là hoạt động
tố tụng hình sự Chủ thể thực hiện là CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra Như vậy, chủ thể cũng như tính chất pháp lý của hoạt động này hoàn toàn mang đặc điểm của đối tượng bị kiểm sát Do đó, VKSND có thực hiện chức năng kiểm sát trong giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố Có thể định nghĩa như sau:
Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố là hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước của Viện kiểm sát, có nội dung là kiểm tra, giám sát liên tục việc thực hiện pháp luật của cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong việc giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố
Trang 29c) Hoạt động tiếp nhận tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố
Trong BLTTHS 2015, có hai trường hợp VKSND tiếp nhận tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố Trường hợp đầu tiên, VKSND tiếp
nhận từ các chủ thể không có thẩm quyền tiến hành tố tụng: “Tiếp nhận đầy
đủ tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố do cơ quan, tổ chức, cá nhân chuyển đến…” [20, Điều 160, khoản 1] Khi đó, VKSND có trách
nhiệm “chuyển ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền giải quyết” Ở
trường hợp này, VKSND đóng vai trò trung gian thuần túy Trường hợp thứ hai được quy định tại khoản 2 Điều 146 BLTTHS 2015:
Trường hợp quy định tại điểm c khoản 3 Điều 145 của Bộ luật này thì trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày Viện kiểm sát có yêu cầu, cơ quan có thẩm quyền đang thụ lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố đó phải chuyển hồ sơ có liên quan cho Viện kiểm sát để xem xét, giải quyết
Dẫn chiếu đến điểm c, khoản 3 Điều 145 BLTTHS 2015: “Viện kiểm
sát giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trong trường hợp phát hiện Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một
số hoạt động điều tra có vi phạm pháp luật nghiêm trọng… ” Thực chất,
đây là hoạt động kiểm sát nhằm khắc phục vi phạm pháp luật đã diễn ra và
có bản chất hoàn toàn khác với hoạt động trung gian truyền tin cho CQĐT Vậy hoạt động tiếp nhận tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố của Viện kiểm sát cần được hiểu là việc trung gian truyền tin cho CQĐT và không có vấn đề lý luận cần đề cập
Tổng hợp tất cả những phân tích nêu trên, có thể kết luận: Vai trò của VKSND trong tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố được thể hiện thông qua chức năng kiểm sát và hoạt động tiếp nhận
tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố
Trang 301.3 Nội dung, đặc điểm và cơ sở vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố
1.3.1 Nội dung vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố
Hoạt động kiểm sát được thực hiện nhằm bảo đảm tính hợp pháp trong giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố Nói cách khác, kiểm sát chống lại sự vi phạm pháp luật của CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra Sự vi phạm pháp luật trong tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố bao gồm những hành vi có thể xảy ra và những hành vi đã xảy ra Tương ứng với đó, mục đích kiểm sát được phân loại làm hai thành tố nhỏ hơn: 1) Ngăn ngừa những vi phạm có thể xảy ra, phát hiện vi phạm và 2) Khắc phục, xử lý hậu quả của những vi phạm đã diễn ra Xét trên khía cạnh sự tồn tại của hành vi, mục đích phát hiện vi phạm và khắc phục, xử lý hậu quả của vi phạm đều hướng đến hành vi đã diễn ra Trong khi đó, mục đích ngăn ngừa hướng đến hành vi chưa xảy ra Nhưng mục đích ngăn ngừa và phát hiện vi phạm được phân loại cùng một nhóm vì nếu một chủ thể biết
Trang 31hành vi của mình bị kiểm tra, giám sát, chủ thể đó sẽ có ý thức thực hiện pháp luật cao hơn Các quyền kiểm sát được xây dựng trong BLTTHS 2015 nhằm phục vụ hai nhóm mục đích trên
kiến nghị khởi tố Bởi lẽ, khoản 1 Điều 103 BLTTHS 2003 quy định: “Cơ
quan điều tra, Viện kiểm sát có trách nhiệm tiếp nhận đầy đủ mọi tố giác, tin báo về tội phạm do cá nhân, cơ quan, tổ chức và kiến nghị khởi tố do cơ quan nhà nước chuyển đến…” mà tiêu đề của Điều 103 là “Nhiệm vụ giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố” Quan điểm của nhà
lập pháp trong BLTTHS 2003 tiếp tục được thể hiện tại BLTTHS 2015 vì
tiêu đề Điều 160 BLTTHS2015 là: “Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm
sát trong việc tiếp nhận và kiểm sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm”
Chức năng tiếp nhận tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố của Viện kiểm sát được quy định tại khoản 1 Điều 160 BLTTHS 2015 Trong khi đó, khoản 2 điều luật này quy định về các biện pháp được thực hiện khi kiểm
sát việc giải quyết nguồn tin tội phạm có liệt kê “kiểm sát việc tiếp nhận”:
Trang 32Kiểm sát việc tiếp nhận, trực tiếp kiểm sát, kiểm sát việc kiểm tra, xác minh và việc lập hồ sơ giải quyết nguồn tin về tội phạm của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; kiểm sát việc tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin về tội phạm; kiểm sát việc phục hồi giải quyết nguồn tin về tội phạm
Như vậy, nếu các chủ thể tiếp nhận tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố không phải VKSND thì hoạt động tiếp nhận này được coi là việc giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố và chịu sự kiểm sát của VKSND Nhưng nếu hoạt động tiếp nhận được thực hiện bởi chính VKSND thì không phải đối tượng của sự kiểm sát
Ngoài hoạt động tiếp nhận, các hoạt động giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố khác trong BLTTHS 2003 là kiểm tra, xác minh nguồn tin [19, khoản 2, Điều 103] Còn theo BLTTHS 2015, những hoạt động giải quyết nguồn tin bao gồm tiếp nhận, kiểm tra, xác minh, lập hồ sơ giải quyết, tạm đình chỉ việc giải quyết và phục hồi việc giải quyết Tất cả những hoạt động này đều là đối tượng của sự kiểm sát
Về chủ thể của hành vi bị kiểm sát, Điều 103 BLTTHS 2003 chỉ quy định duy nhất CQĐT Điều 160 BLTTHS 2015 quy định phạm vi rộng hơn, bao gồm: CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra Các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra là : các cơ quan của Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư, các cơ quan của Công an nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, các cơ quan khác trong Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra [20, Điều 35, khoản 1]
Trang 33Quy định theo hướng “mở rộng” trong BLTTHS 2015 khá hợp lý bởi mục đích của sự kiểm sát là chống lại những vi phạm pháp luật của cơ quan
có thẩm quyền Khi có nhiều chủ thể thực hiện quyền, phạm vi kiểm sát cần phải được mở rộng tương ứng
Từ các phân tích trên, có thể kết luận đối tượng chịu sự kiểm sát của VKSND trong giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố là các hoạt động giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố của CQĐT,
cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra
Có ý kiến cho rằng: “chủ thể nào thực hiện giải quyết tin báo, tố giác
về tội phạm sẽ là đối tượng của hoạt động kiểm sát” [13] Chúng tôi không
đồng tình với ý kiến này Đối tượng chịu sự kiểm sát là hành vi giải quyết
tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố mà không phải những chủ thể thực hiện hành vi đó
c) Thời hạn thực hiện
Đối với hoạt động tiếp nhận tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi
tố, pháp luật không quy định thời hạn thực hiện Điều này hoàn toàn hợp lý bởi hoạt động tiếp nhận thông tin phụ thuộc vào việc cá nhân, cơ quan, tổ chức phát hiện thông tin mà việc phát hiện này mang tính ngẫu nhiên
Thời hạn của hoạt động kiểm sát tương ứng với thời hạn của hoạt động giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố Theo đó, hoạt động kiểm sát bắt đầu khi cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố và kết thúc khi cơ quan giải quyết ra quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự
d) Hình thức thực hiện
Tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố được báo trực tiếp cho cơ quan có thẩm quyền hoặc gián tiếp qua các phương tiện thông tin đại chúng (với trường hợp tin báo) Vậy, về mặt lý thuyết, VKSND thực hiện vai trò
Trang 34tiếp nhận thông tin bằng hai hình thức: trực tiếp hoặc gián tiếp qua truyền thông Nhưng khi thông tin đăng tải trên truyền thông, CQĐT cũng nhận biết được nên sẽ triển khai việc xác minh, làm rõ Vậy, việc tiếp nhận thông tin của VKSND qua truyền thông không mang nhiều giá trị thực tiễn Các giải pháp thúc đẩy vai trò tiếp nhận thông tin tội phạm của VKSND chỉ cần tập trung vào hình thức tiếp nhận trực tiếp
Hình thức kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố bao gồm hai thành tố: Phương thức kiểm sát và và các quyền hạn mà VKSND được sử dụng Hai thành tố này không đứng riêng rẽ mà kết hợp với nhau, cùng được thể hiện trong hành vi kiểm sát
Phương thức kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố là sự kiểm tra, giám sát liên tục các hoạt động của CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra Tính chất liên tục có nghĩa VKSND kiểm sát mọi hoạt động giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố, như: lập hồ giải quyết nguồn tin, áp dụng các biện pháp ngăn chặn… Nếu tính chất liên tục không được duy trì đồng nghĩa với việc có hoạt động không bị kiểm sát Điều này sẽ tạo ảnh hưởng xấu đến vai trò bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người, pháp nhân phạm tội, vi phạm pháp luật được phát hiện và xử lý kịp thời, đúng pháp luật của VKSND Do đó, duy trì tính liên tục của hoạt động kiểm sát có ý nghĩa quyết định tới chất lượng kiểm sát
Thành tố thứ hai của hình thức kiểm sát là những quyền hạn của VKSND được quy định tại Điều 160 BLTTHS 2015 Các quyền kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố được phân thành hai nhóm tương ứng với mục đích kiểm sát: nhóm các quyền ngăn ngừa, phát hiện vi phạm và nhóm các quyền khắc phục, xử lý hậu quả của vi phạm
Trang 35Nhóm các quyền nhằm ngăn ngừa, phát hiện vi phạm bao gồm: Kiểm
sát việc tiếp nhận, trực tiếp kiểm sát, kiểm sát việc kiểm tra, xác minh và lập hồ sơ giải quyết nguồn tin về tội phạm của CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; kiểm sát việc tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin về tội phạm; kiểm sát việc phục hồi giải quyết nguồn tin về tội phạm; phê chuẩn, không phê chuẩn các quyết định của CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; yêu cầu CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra cung cấp tài liệu liên quan; đề ra yêu cầu kiểm tra xác minh và yêu cầu cơ quan có thẩm quyền thực hiện
Nhóm các quyền khắc phục, xử lý hậu quả vi phạm gồm các quyền:
Trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố trong trường hợp phát hiện CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố hoặc có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm mà VKSND đã yêu cầu bằng văn bản nhưng không được khắc phục;
Yêu cầu CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện các hoạt động: Tiếp nhận, kiểm tra, xác minh, ra quyết định giải quyết nguồn tin về tội phạm đầy đủ, đúng pháp luật; kiểm tra việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm và thông báo kết quả cho VKSND; cung cấp tài liệu về vi phạm pháp luật trong việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm; khắc phục vi phạm pháp luật và xử lý người vi phạm; yêu cầu thay đổi điều tra viên, cán bộ điều tra; hủy bỏ các quyết định tố tụng trái pháp luật của CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra
Trang 361.3.2 Đặc điểm vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong hoạt động tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố
Vai trò của VKSND với việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm bao gồm những đặc điểm sau:
Thứ nhất, bản chất pháp lý của vai trò là sự thực hiện quyền lực Nhà
nước trong hoạt động tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố Đặc điểm này biểu hiện thông qua các quyền hạn cụ thể của VKSND trong BLTTHS
Thứ hai, khi thực hiện vai trò, VKSND vừa giám sát, vừa hợp tác với
các chủ thể bị giám sát Trong việc giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố, VKSND giám sát CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra Điều này giúp ngăn chặn các sai phạm
có thể xảy ra hoặc khắc phục các sai phạm đã xảy ra từ những chủ thể trên Nhưng bên cạnh đó, VKSND cũng cần phối hợp với các chủ thể bị giám sát bởi những chủ thể này đóng vai trò tiếp nhận chính và giải quyết trực tiếp thông tin tội phạm
Thứ ba, để thực hiện tốt vai trò, VKSND cần thu hút sự hợp tác của
các cá nhân, cơ quan, tổ chức báo tin – những người không có quyền và nghĩa vụ liên quan trong tố tụng hình sự Đặc điểm này bắt nguồn từ việc người phát hiện thông tin có thể là bất kỳ cá nhân, cơ quan, tổ chức nào trong xã hội Do đó, bên cạnh những quy định pháp luật, cần có những giải pháp khuyến khích tinh thần phòng chống tội phạm cũng như thúc đẩy lòng tin vào VKSND của người dân
Thứ tư, thực hiện vai trò này có ý nghĩa tiền đề cho các hoạt động tố
tụng tiếp theo Do tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố là hoạt động tố tụng đầu tiên nên việc thực hiện chính xác hoạt động này là yếu tố tiên quyết để thực hiện vai trò của VKSND trong những
Trang 37hoạt động tố tụng sau đó Đặc biệt, việc kết luận có hay không có dấu hiệu tội phạm từ những thông tin nhận được sẽ là cơ sở pháp lý để VKSND tiến hành chức năng thực hành quyền công tố
1.3.3 Cơ sở vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong hoạt động tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố
Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong hoạt động tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố dựa trên hai cơ sở: sự phân công quyền lực Nhà nước và mục đích của hoạt động tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố
Sự phân công quyền lực Nhà nước là yếu tố có tính nền tảng tạo nên vai trò của VSND trong tố tụng hình sự nói chung và trong tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố nói riêng Theo khoản 3,
Điều 2 Hiến pháp 2013: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân
công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước…” [21] Việc tiếp
nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố là sự thực hiện quyền lực Nhà nước, được tiến hành bởi các cơ quan: CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, VKSND Mỗi cơ quan tham gia - trong đó có VKSND - đóng một vai trò riêng biệt Nói cách khác, vai trò của VKSND trong tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố chính là sự thể hiện nguyên tắc phân công quyền lực Nhà nước trong hoạt động này Vai trò của VKSND không tách biệt mà
có tác dụng hỗ trợ vai trò của CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra
Cơ sở thứ hai tạo nên vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong hoạt động tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố là mục đích của hoạt động tiếp nhận thông tin Hoạt động tiếp nhận tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố nhằm hai mục đích chính: 1) tiếp nhận
Trang 38đầy đủ và 2) xử lý chính xác, kịp thời thông tin về tội phạm Hai mục đích này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau và phải cùng được thực hiện mới mang lại hiệu quả cho công tác tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố Dựa trên hai mục đích này, các nhà lập pháp ấn định quyền hạn cụ thể, qua đó tạo nên vai trò của VKSND
Qua những phân tích trên, có thể nhận thấy vai trò của VKSND với hoạt động tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố bắt nguồn từ những cơ sở mang tính nền tảng, cốt lõi Nếu yếu tố thứ nhất
là tư tưởng pháp lý chủ đạo thì yếu tố thứ hai là mục đích khách quan của thông tin Xác định cơ sở của vai trò của VKSND trong hoạt động tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố giúp việc tiếp cận các quy định trong BLTTHS mang tính hệ thống và hiệu quả hơn
1.4 Pháp luật tố tụng hình sự một số nước trên thế giới về vai trò của Viện kiểm sát, Viện Công tố trong hoạt động tiếp nhận, giải quyết
tố giác, tin báo tội phạm
1.4.1 Một số quốc gia tiêu biểu trong hệ thống Dân luật
Hệ thống Dân luật, hay còn gọi là hệ thống pháp luật châu Âu lục địa là hệ thống luật lớn nhất trên thế giới Hệ thống này phát triển hình thức tố tụng thẩm vấn, kết quả điều tra có tính quyết định đến phán quyết của Tòa Vì vậy, để đảm bảo chất lượng hoạt động điều tra, Viện Công
tố có những thẩm quyền quan trọng ngay từ đầu quá trình tố tụng Pháp luật Cộng hòa Pháp và Cộng hòa liên bang Đức là minh chứng rõ nét nhất cho nhận định này
a) Cộng hòa Pháp
Trong pháp luật tố tụng hình sự Cộng hòa Pháp, các giai đoạn tố tụng được phân chia như sau: giai đoạn điều tra, giai đoạn kết thúc điều tra, giai đoạn thẩm tra (không bắt buộc), giai đoạn xét xử và giai đoạn thi hành án
Trang 39Giai đoạn điều tra bao gồm: điều tra sơ bộ của Cảnh sát và điều tra của Tòa
án [10, 3.1.1] Công tác tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác tội phạm thuộc giai đoạn điều tra sơ bộ Nhiệm vụ điều tra chủ yếu do cơ quan cảnh sát thuộc Bộ Nội vụ hoặc cơ quan quân cảnh thuộc Bộ Quốc phòng đảm nhận Nhưng khi tiến hành điều tra sơ bộ, dù các Điều tra viên thuộc lực lượng nào, họ đều chịu sự chỉ đạo của Viện trưởng Viện công tố bên cạnh Tòa sơ thẩm [10, 3.1.2] Người tố giác có quyền gửi đơn hoặc trình báo sỹ quan Cảnh sát tư pháp nhưng sau khi chấp nhận phải chuyển tố giác đó đến Viện công tố để xem xét, xử lý:
Sỹ quan Cảnh sát tư pháp phải thông báo ngay cho Viện trưởng Viện công tố bên cạnh Toà sơ thẩm những trọng tội khinh tội và tội vi cảnh mà họ đã biết Sau khi kết thúc công việc, họ phải gửi thẳng cho Viện trưởng Viện công tố bên cạnh Toà sơ thẩm bản chính và bản sao có chứng thực của tất cả các biên bản
mà họ đã lập cũng như những văn bản và tài liệu liên quan Những đồ vật kê biên thuộc quyền xem xét của Viện trưởng Viện công tố bên cạnh Toà sơ thẩm [16, Điều 19]
Ðiều 40 Bộ luật tố tụng hình sự Cộng hòa Pháp quy định:
Viện trưởng Viện công tố bên cạnh Toà sơ thẩm nhận tố giác đánh giá và quyết định việc xử lý Mỗi nhà chức trách, mỗi viên chức công quyền hoặc mỗi công chức trong khi thực hiện nhiệm vụ, nếu biết có một trọng tội hoặc khinh tội xảy ra, phải thông báo ngay cho Viện trưởng Viện công tố bên cạnh Toà sơ thẩm và chuyển cho Viện công tố tất cả các thông tin, các biên bản và văn bản có liên quan
Trang 40Ngoài ra, Viện trưởng Viện Công tố bên cạnh Tòa sơ thẩm được thông báo về mọi trường hợp tạm giữ và trả tự do cho người bị tạm giữ, được yêu cầu cho phép kéo dài thời hạn tạm giữ, kiểm tra việc tạm giữ
Như vậy, cơ quan công tố ở Pháp vừa là cơ quan có quyền tiếp nhận vừa là cơ quan quyết định việc xử lý tố giác, tin báo tội phạm
b) Cộng hòa Liên bang Đức
Ở Cộng hòa Liên bang Đức, Viện công tố, Toà án và cảnh sát là ba
cơ quan được giao trách nhiệm tiếp nhận đơn, thư, tin tố giác tội phạm:
“Thông tin về tội phạm hoặc yêu cầu truy tố có thể được thông báo bằng
miệng hoặc bằng văn bản tới cho Cơ quan Công tố, những người thẩm quyền và cán bộ trong lực lượng cảnh sát, và tới Toà án địa phương” [41,
Điều 158, khoản 1] Vì toà án không có quyền xác minh, nên khi nhận được đơn, thư, tin báo, tố giác tội phạm, Toà án phải chuyển cho Viện công
tố Viện công tố đóng vai trò chính trong việc xác minh những thông tin
này: “Ngay sau khi Cơ quan Công tố có được thông tin về việc tội phạm bị
nghi ngờ đã được thực hiện thông qua tin báo hoặc các nguồn khác, nó sẽ phải xác minh các tình tiết để quyết định có khởi tố hay không” [41, Điều
160, khoản 1] Cảnh sát cũng có thẩm quyền xác minh thông tin tội phạm, nhưng nếu cơ quan cảnh sát không thể xác định được hành vi bị tố giác là hành vi phạm tội hay không phạm tội thì cảnh sát có trách nhiệm chuyển đơn, thư, tin báo cùng tất cả các tài liệu đã xác minh đến cho Viện công tố Cảnh sát không được tự ra quyết định trong trường hợp này Như vậy, tương tự Viện Công tố Pháp, cơ quan công tố ở Đức cũng có chức năng kiểm tra, giám sát việc tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác tội phạm
Nguyên nhân của những quy định này nằm ở quan điểm về chức năng của Viện Công tố trong giải quyết vụ án hình sự Luật tố tụng Đức xác định, Viện công tố là " Ông chủ" ở giai đoạn điều tra (Herrin des