1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sáng tạo nhân vật anh hùng trần nguyên hãn qua ba tiểu thuyết lịch sử sóng hận sông lô; người con trang sơn đông; người về chốn cũ

102 133 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 1,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đồng thời, qua những tác phẩm đó, các nhà văn còn tập trung sáng tạo nhân vật lịch sử Trần Nguyên Hãn để đem đến cho người đọc hình ảnh người anh hùng, người con đất Sơn Đông “bằng xương

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ––––––––––––––––––––––––

NGUYỄN QUANG DUY

SÁNG TẠO NHÂN VẬT ANH HÙNG TRẦN NGUYÊN HÃN

QUA BA TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ: SÓNG HẬN SÔNG LÔ; NGƯỜI CON TRANG SƠN ĐÔNG; NGƯỜI VỀ CHỐN CŨ

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

THÁI NGUYÊN - 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ––––––––––––––––––––––––

NGUYỄN QUANG DUY

SÁNG TẠO NHÂN VẬT ANH HÙNG TRẦN NGUYÊN HÃN

QUA BA TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ: SÓNG HẬN SÔNG LÔ; NGƯỜI CON TRANG SƠN ĐÔNG; NGƯỜI VỀ CHỐN CŨ

Ngành: Văn học Việt Nam

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Các nội dung trình bày trong luận văn là kết quả làm việc của tôi và chưa được công bố trong bất cứ một công trình nào khác

Thái Nguyên, tháng 4 năm 2018

Tác giả luận văn

Nguyễn Quang Duy

Trang 4

LỜI CẢM ƠN Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Ngọc Thiện - người thầy đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi về tri thức, phương

pháp và kinh nghiệm nghiên cứu trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu, quý thầy cô giáo Khoa Ngữ văn, Khoa Sau đại học - Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu tại trường

Tôi cũng xin được bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới người thân, đồng nghiệp, bạn bè đã động viên, quan tâm chia sẻ và tạo mọi điều kiện giúp tôi hoàn thành tốt khoá học này

Thái Nguyên, tháng 4 năm 2018

Tác giả luận văn

Nguyễn Quang Duy

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2

3 Mục đích nghiên cứu 10

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 10

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 11

6 Phương pháp nghiên cứu 11

7 Dự kiến đóng góp 12

8 Cấu trúc luận văn 12

NỘI DUNG 13

Chương 1: QUAN NIỆM VỀ TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ VÀ DIỆN MẠO CỦA TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ VIỆT NAM 13

1.1 Quan niệm về tiểu thuyết lịch sử 13

1.2 Diện mạo của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam 18

1.2.1 Tiểu thuyết lịch sử trong văn học trung đại 18

1.2.2 Tiểu thuyết lịch sử từ đầu thế kỷ XX đến năm 1945 20

1.2.3 Tiểu thuyết lịch sử từ năm 1945 đến 1985 23

1.2.4 Tiểu thuyết lịch sử thời kỳ đổi mới (Từ năm 1986 đến nay) 25

Tiểu kết chương 1 28

Chương 2: BỨC TRANH ĐỜI SỐNG XÃ HỘI VÀ SÁNG TẠO NHÂN VẬT ANH HÙNG TRẦN NGUYÊN HÃN QUA BA TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ: SÓNG HẬN SÔNG LÔ; NGƯỜI CON TRANG SƠN ĐÔNG; NGƯỜI VỀ CHỐN CŨ 30

Trang 6

2.1 Hình ảnh xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XV qua ba tiểu thuyết lịch sử:

Sóng hận sông Lô; Người con trang Sơn Đông; Người về chốn cũ 30

2.2 Sáng tạo nhân vật anh hùng Trần Nguyễn Hãn qua ba tiểu thuyết lịch sử: Sóng hận sông Lô; Người con trang Sơn Đông; Người về chốn cũ 35

2.2.1 Người con trung hiếu, nặng lòng với quê hương, gia đình và dòng tộc 35

2.2.2 Người anh hùng với lý tưởng, khát vọng lớn lao 39

2.2.3 Người anh hùng mưu lược, tài trí trong chiến trận 44

2.2.4 Cái chết bi kịch của người anh hùng 56

Tiểu kết chương 2 60

Chương 3: NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT ANH HÙNG TRẦN NGUYÊN HÃN QUA BA TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ: SÓNG HẬN SÔNG LÔ; NGƯỜI CON TRANG SƠN ĐÔNG; NGƯỜI VỀ CHỐN CŨ 62

3.1 Nghệ thuật xây dựng nhân vật qua miêu tả ngoại hình 62

3.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật qua miêu tả tâm lý 64

3.3 Nghệ thuật xây dựng nhân vật qua ngôn ngữ 69

3.3.1 Xây dựng nhân vật qua ngôn ngữ đối thoại 69

3.3.2 Xây dựng nhân vật qua ngôn ngữ độc thoại nội tâm 74

3.4 Nghệ thuật xây dựng nhân vật qua giọng điệu 78

3.4.1 Giọng điệu ngợi ca 78

3.4.2 Giọng điệu xót xa, thương cảm 84

Tiểu kết chương 3 87

KẾT LUẬN 89

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN 92

TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Lịch sử là một đề tài lớn, nguồn cảm hứng bất tận cho người nghệ sĩ thỏa sức sáng tạo Viết về đề tài lịch sử là một truyền thống của nền văn học Việt Nam và đến nay nó vẫn tồn tại một cách bền bỉ, thậm chí là bộ phận phát triển mạnh mẽ của văn học Việt Nam đương đại Đã có nhiều nhà văn dành trọn tâm huyết và rất thành công khi tìm đến với đề tài lịch sử Chúng ta có thể

kể đến Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Quang Thân, Vũ Ngọc Tiến, Hoàng Quốc Hải Với đề tài lịch sử, các nhà tiểu thuyết đã dựng lại cả một giai đoạn, một thời kỳ với những biến động xã hội, đồng thời đem đến một cái nhìn, một tư tưởng và gửi gắm những suy tư, trăn trở về con người, cuộc đời xưa và nay

1.2 Trần Nguyên Hãn là nhân vật lịch sử, anh hùng dân tộc, có công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Minh dưới ngọn cờ khởi nghĩa của Lê Lợi đầu thế kỷ XV Nhưng cuộc đời của một vị tướng lừng danh

đã kết thúc một cách bi thảm với cái chết oan khuất Những tài liệu chính sử viết về Trần Nguyên Hãn không nhiều Trong những năm gần đây, ba bộ tiểu thuyết lịch sử viết về Trần Nguyễn Hãn đã ra đời và thu hút được sự chú ý của

bạn đọc Đó là các tác phẩm Sóng hận sông Lô (Vũ Ngọc Tiến), Người con trang Sơn Đông (Nguyễn Anh Đào), Người về chốn cũ (Xuân Mai) Cả ba tiểu

thuyết trên đã dựng lại cả giai đoạn lịch sử Việt Nam đầu thế kỷ XV- một trong những giai đoạn lịch sử bi tráng và hào hùng của dân tộc Đồng thời, qua những tác phẩm đó, các nhà văn còn tập trung sáng tạo nhân vật lịch sử Trần Nguyên Hãn để đem đến cho người đọc hình ảnh người anh hùng, người con đất Sơn Đông “bằng xương bằng thịt” mà nhân dân ta tự hào và ngưỡng vọng

1.3 Khi viết ba tiểu thuyết trên, các nhà văn Vũ Ngọc Tiến, Nguyễn Anh Đào, Xuân Mai đã sưu tầm, nghiên cứu các tài liệu chính sử và các truyền thuyết dân gian được lưu truyền ở địa phương Các tác giả đã hư

Trang 8

cấu, sáng tạo nghệ thuật, qua đó tái dựng chân dung người anh hùng lịch sử Trần Nguyên Hãn

Vì vậy, để khẳng định thành công của các tác giả đối với những tiểu

thuyết lịch sử này, chúng tôi đã chọn nghiên cứu đề tài: “Sáng tạo nhân vật

anh hùng Trần Nguyên Hãn qua ba tiểu thuyết lịch sử: Sóng hận sông Lô;

Người con trang Sơn Đông; Người về chốn cũ” Nghiên cứu vấn đề này sẽ

giúp chúng ta hiểu rõ hơn về người anh hùng Trần Nguyên Hãn và một giai đoạn lịch sử đầy biến động của dân tộc Đồng thời, đó còn là một hướng đi cần thiết trong việc nhìn nhận, khám phá tài năng nghệ thuật của các nhà văn, khẳng định những đóng góp quan trọng của các tác giả đối với tiểu thuyết lịch

sử Việt Nam thời kỳ đổi mới

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

2.1 Nghiên cứu về nhân vật lịch sử Trần Nguyên Hãn

Trần Nguyên Hãn (1386 - 1429) xuất thân dòng dõi vua Trần Thái Tông,

là cháu nội của Chương Túc Quốc Thượng hầu, Đại Tư đồ Trần Nguyên Đán

và là cháu 6 đời của Chiêu Minh đại vương, Tướng quốc Thái sư Trần Quang

Khải Ông là người Sơn Đông (Lập Thạch, Vĩnh Phúc) có học thức, giỏi binh

pháp Tả tướng quốc Trần Nguyên Hãn sinh vào thời kỳ đất nước có nhiều biến động ở cuối thế kỷ XIV Nhà Trần suy yếu Hồ Quý Ly rắp tâm chiếm đoạt ngôi vua, đã thẳng tay giết hại tôn tộc nhà Trần Năm 1406, giặc Minh dùng chiêu bài “phù Trần diệt Hồ”, sang xâm lược nước ta Năm 1407, chúng bắt được toàn bộ vua quan triều đình nhà Hồ đem về Trung Quốc Từ đó, đất nước

ta chịu cảnh áp bức, bóc lột thậm tệ của giặc Minh

Vào lúc này, Trần Nguyên Hãn (người con làng Quan Tử, trang Sơn Đông, huyện Lập Thạch, phủ Tam Đới - nay là xã Sơn Đông, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc) đã trở thành lao động chính trong gia đình, vừa tiếp tục học tập, vừa làm ruộng, ép dầu Nhìn lũ giặc hoành hành khắp nơi trong vùng, Trần Nguyên Hãn bầm gan tím ruột, nhưng cố nuốt hận, ra sức rèn luyện võ

Trang 9

nghệ, nghiền ngẫm binh thư, nuôi chí cứu nước giúp dân Tháng 2 năm Canh Dần (1410), ông bí mật chiêu tập thanh niên trai tráng trong vùng tổ chức luyện quân, lập căn cứ tại rừng Thần, ao Tó, đầm Trạch (nay gọi là đầm Đa Mang) thuộc hai xã Sơn Đông, Văn Quán để chờ thời cơ đánh giặc cứu nước Cuối năm Ất Mùi (1415), Trần Nguyên Hãn cùng với Nguyễn Trãi (anh em con cô con cậu) trèo đèo, lội suối tìm đến Lam Sơn để theo Lê Lợi khởi nghĩa Gần tết năm Mậu Tuất (1418), Trần Nguyên Hãn đem 200 quân tinh nhuệ của nghĩa quân Rừng Thần cùng hơn 100 ngựa chiến vào tụ nghĩa với nghĩa quân Lam Sơn Trần Nguyên Hãn đã dâng Lê Lợi thanh bảo kiếm của Tướng quốc Thái

sư Trần Quang Khải để tỏ một lòng một dạ phò Lê Lợi làm minh chủ chống giặc cứu nước

Tài năng, nhân cách, đức độ của Trần Nguyên Hãn được thể hiện rõ nét trong cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược Trong suốt những năm sát cánh cùng Lê Lợi, Trần Nguyên Hãn đã cùng với nghĩa quân Lam Sơn không quản ngại khó khăn, gian khổ, hi sinh làm nên những chiến thắng thần kỳ, bảo

vệ vững chắc giang sơn, Tổ quốc Trần Nguyên Hãn luôn bất chấp nguy hiểm, gian khổ để làm tròn trách nhiệm của một kẻ bề tôi trung quân báo quốc, được

Lê Lợi tin dùng, các tướng sĩ nể phục, kính trọng, tôn vinh Năm 1428, kháng

chiến thành công, Lê Lợi lên ngôi, Trần Nguyên Hãn được gia phong “Tả tướng quốc, Bình chương quân quốc trọng sự, Khu mật đại sứ” Tuy nhiên, sau

khi đất nước được thanh bình, Lê Thái Tổ nghe theo lời xiểm nịnh của bọn gian thần dẫn đến cái chết bi thảm của Trần Nguyên Hãn trên bến Đông Hồ Nhưng

dù bị oan khuất, Trần Nguyên Hãn vẫn luôn tỏ rõ lòng trung thành của mình với vua Lê và luôn nghĩ đến gia đình, dòng họ Theo các tài liệu còn lưu giữ được, vào ngày 26 tháng 2 năm Kỷ Dậu (tức 30-3-1429), vua Lê nghe theo lời xiểm nịnh của bọn gian thần bèn sai 42 lực sĩ xá nhân đi bắt Trần Nguyên Hãn

về triều hỏi tội Trước tình hình đó, gia nhân và lính hầu nhà Trần Nguyên Hãn rất đông và nhiều người có võ nghệ, họ vô cùng tức tối và khuyên ông chống

Trang 10

lại lệnh vua, nhưng ông nói: “Việc lớn đã thành, nay vua muốn giết ta Ta

không thể sống được với nhà vua, nhưng nếu ta ra mặt chống lại, nhà vua sẽ viện cớ đó tàn sát giết hại hết con cháu họ Trần Nay chỉ để mình ta và gia quyến chịu chết là hơn!” [3, tr.42] Trên đường về Thăng Long, khi thuyền vừa cập bến Đông Hồ (thuộc dòng sông Lô), Trần Nguyên Hãn ngửa mặt lên trời khấn rằng: “Tôi với Hoàng Thượng cùng mưu cứu nước cứu dân Nay sự nghiệp lớn đã thành, Hoàng Thượng nghe lời gièm pha mà hại tôi Hoàng Thiên có biết xin soi xét cho” rồi ông tự trầm mình [3, tr.41-42]

Theo tài liệu dòng họ Trần Nguyên Hãn, 26 năm sau, năm Diên Ninh thứ

2 (1455), vua Lê Nhân Tông xuống chiếu minh oan cho Trần Nguyên Hãn, trả lại ruộng đất, của cải cho con cháu ông, ra lệnh phục chức, truy phong ông là

“Phúc Thần”, cho gọi con cháu ra làm quan nhưng không ai ra, đồng thời tôn phong ông hiệu “Khai quốc Nguyên huân” Đời nhà Mạc (1527-1593), ông được truy phong là “Tả tướng quốc Trung liệt đại vương” Đời nhà Nguyễn, năm Thiệu Trị thứ 6 (1846), triều đình ban sắc phong cho ông là “Tuấn hương lương trực Tả tướng quốc Trần phủ quân chi thần”

Hiện nay, những tài liệu chính sử viết về Trần Nguyên Hãn không nhiều

Tư liệu để lại về danh nhân này là rất ít so với một con người, một cuộc đời và

một thời đại như vậy Sách Đại Việt sử kí toàn thư có viết ngắn gọn về ông:

“Lê Hãn là cháu của tư đồ nhà Trần là Trần Nguyên Đán, có học thức, tinh binh pháp, thì Thái Tổ yêu dùng, thường dự bàn mưu kín và theo đi đánh dẹp, đến đâu là lập công ngay Năm Mậu Thân thứ 1, bàn công, được gia hữu tướng quốc, cho quốc tính, công lao danh vọng hơn người Hãn nói riêng với người thân rằng: “Vua có tướng như Việt Vương (Câu Tiễn) Không có thể cùng hưởng yên vui được”, bèn xin về nghỉ Vua cho Hãn là con cháu nhà Trần, bị vua ngại Khi đã về Sơn Đông (ấp thuộc huyện Lập Thạch), ở làng mà dựng nhà đóng thuyền, không tránh hình tích, có kẻ gièm là mưu phản Vua tin, sai lực sĩ đến bắt Xuống thuyền đậu ở bến Sơn Đông, tự trầm chết” [32, tr.530]

Trang 11

Tài năng quân sự kiệt xuất cùng tấm lòng yêu nước thương dân của Trần Nguyễn Hãn được các nhà nghiên cứu, bác học, sử học và quân sự đánh giá cao

Nhà bác học Lê Quý Đôn trong Lê triều thông sử ở thế kỷ XVIII có viết:

“Ông Hãn luôn luôn nuôi chí cứu đời giúp dân” và “Ông Hãn là người tinh binh pháp, hữu học thức” [Dẫn theo 3, tr.45]

Trong bài “Trần Nguyên Hãn, nhà chỉ huy sáng tạo”, Thượng tướng,

GS Hoàng Minh Thảo đánh giá: “Trong tất cả những hoạt động quân sự của mình, khi trực tiếp chỉ huy một đạo quân, khi đảm nhiệm một hướng, khi vận động phục kích, khi công thành, khi đối đầu trực tiếp với lực lượng thiện chiến nhất của giặc, khi lĩnh nhiệm vụ diệt phá hậu cần của chúng, Trần Nguyên Hãn đều hoàn thành xuất sắc, xứng đáng là một vị tướng giỏi” [Dẫn theo 3, tr.46]

GS Lê Văn Lan, trong bài “Về thời đại của Trần Nguyên Hãn” viết:

“Ông là người có một phẩm chất lớn mà một phần quan trọng trong việc làm nên bản lĩnh, nhân cách của ông là: thức - hiểu Trần Nguyên Hãn rất hiểu đời, hiểu người và hiểu mình” [Dẫn theo 3, tr.47-48]

Tại cuộc hội thảo về thân thế, sự nghiệp của Trần Nguyên Hãn tại huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phú năm 1988, GS Văn Tạo, Viện trưởng Viện sử học nói: “Tả tướng quốc Trần Nguyên Hãn là một vĩ nhân, một vị anh hùng dân tộc, xứng đáng được nhân dân phụng thờ” [Dẫn theo 3, tr.48]

Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong chuyến thăm, dâng hương đền thờ Tả tướng quốc Trần Nguyên Hãn ngày 19/3/1999 khẳng định: “Trần Nguyên Hãn không chỉ là một vị tướng kiệt xuất trong chiến thắng chống quân Minh ở thế

kỷ XV mà ông còn là một Anh hùng dân tộc” [Dẫn theo 3, tr.48]

Trong bài tham luận “Cuộc đời và sự nghiệp của Đức Tổ Trần Nguyên Hãn gắn liền với non sông, đất nước” năm 2017, ông Trần Quang Trung đã khẳng định tài năng xuất chúng của Trần Nguyên Hãn: “Ngay từ nhỏ, Đức Tổ

tỏ ra là người thông minh, tài trí, xuất chúng và có chí lớn Năm 16 tuổi đã đọc

Trang 12

hết Tứ thư ngũ kinh và sách Binh thư yếu lược, đây chính là nền tảng hình

thành nên tài thao lược quân sự của Người sau này Trong số rất nhiều trận đánh do Trần Nguyên Hãn chỉ huy khiến quân Minh phải kinh hồn, bạt vía, có

lẽ trận đánh thành Xương Giang và tiêu diệt 10 vạn quân viện binh của giặc sang cứu thành Đông Quan đã đi vào lịch sử dân tộc như mốc son chói lọi trong cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược - đội quân phương Bắc hùng mạnh nhất trong thế kỷ XV” [54]

Tóm lại, Trần Nguyên Hãn là người “hữu học thức, tinh binh pháp”, một tài năng quân sự lỗi lạc Ông là anh hùng dân tộc và có công lớn trong sự nghiệp bảo vệ giang sơn, Tổ quốc Chỉ vì sự ganh ghét, đố kỵ của bọn gian thần

mà dẫn đến cái chết bi thảm của ông trên bến Đông Hồ Tuy nhiên, với lòng trung quân ái quốc và chiến công lừng lẫy trong cuộc kháng chiến chống giặc

ngoại xâm, tên tuổi của ông vẫn luôn sống mãi trong lòng dân tộc

2.2 Nghiên cứu về những tác phẩm văn học viết về Trần Nguyên Hãn

Ba tiểu thuyết lịch sử Sóng hận sông Lô, năm 2013 (Vũ Ngọc Tiến), Người con trang Sơn Đông, năm 2013 (Nguyễn Anh Đào), Người về chốn cũ,

năm 2014 (Xuân Mai) là những tác phẩm mới được ra đời trong những năm gần đây Ngay từ khi xuất hiện, ba tiểu thuyết lịch sử đã trở thành đối tượng thu hút và quan tâm của giới nghiên cứu, phê bình văn học

Trong buổi tọa đàm ra mắt cuốn tiểu thuyết lịch sử Sóng hận sông Lô

(ngày 10/8/2013) của Vũ Ngọc Tiến, đã có nhiều nhà văn, nhà nghiên cứu phê bình đánh giá, nhận định về những nét đặc sắc và thành công của tác phẩm này

Nhà văn Hoàng Quốc Hải, một cây bút tiểu thuyết lịch sử cho rằng Sóng hận sông Lô là “cuốn sách kịp thời cảnh tỉnh những ai giả vờ, hoặc cố tình ngủ

quên trước hiểm họa đất nước Đồng thời thổi một luồng sinh khí mới vào tinh thần yêu nước có lúc bị xúc phạm” [Dẫn theo 41] Nhà văn tâm đắc với những thông điệp nổi và chìm trong tiểu thuyết này

Trang 13

Nhà nghiên cứu sân khấu Nguyễn Văn Hồng “cảm nhận tính kịch trong tiểu thuyết, đặc biệt là với nhân vật Trần Nguyên Hãn” [Dẫn theo 41]

PGS.TS La Khắc Hòa cho rằng “Vũ Ngọc Tiến đã dựng được cái khung mới cho tiểu thuyết lịch sử ở ta Vũ Ngọc Tiến không viết Lịch Sử như ngụ ngôn, rút ra bài học; nhà văn đã kể “câu chuyện thú vị” về Lịch Sử để người đọc nhận lấy thông điệp” [Dẫn theo 41]

Trong bài viết “Một cách viết mới về đề tài lịch sử” ở cuối tiểu thuyết

Sóng hận sông Lô, PGS.TS Vũ Nho đã có nhận định về những thành công của

tác phẩm Tác giả cho rằng Vũ Ngọc Tiến “không chỉ khắc họa được chân dung Trần Nguyên Hãn, một người cương trực, dũng mãnh và cái chết oan khuất của ông, mà còn dựng lên chân dung một loạt những nhân vật quan trọng tham gia khởi nghĩa Lam Sơn và tham gia sáng lập nhà Hậu Lê Tất nhiên, tác giả

không minh họa Lịch sử, nhưng tô đậm và làm rõ hơn những nhân vật lịch sử”

[Dẫn theo 52, tr.341] Bên cạnh đó, PGS TS Vũ Nho còn đánh giá cao nét đặc

sắc trong Sóng hận sông Lô khi nhận thấy Vũ Ngọc Tiến đã lồng vào tác phẩm

những kiến thức về lịch sử, địa lý, triết học, tôn giáo Cuối bài viết, PGS.TS

Vũ Nho khẳng định đây là “một cuốn sách công phu, hấp dẫn Điều quan trọng nhất là tác giả đã suy nghĩ và tìm lời giải về các nhân vật lịch sử, làm phong phú,

rõ thêm những vấn đề của thời đó, mời gọi người đọc cùng tưởng tượng, suy ngẫm về lịch sử, đặc biệt là về âm mưu thâm độc của giặc ngoại xâm phương Bắc thời hậu chiến đối với nước ta” [Dẫn theo 52, tr.347]

Trong bài viết “Đọc Sóng hận sông Lô: Lê Lợi giết Trần Nguyên Hãn?” (ngày 14/8/2013), nhà văn Đông La nhận định Vũ Ngọc Tiến viết Sóng hận sông Lô theo cách viết của Tiểu thuyết giáo trình ở Mỹ Vũ Ngọc Tiến đã bồi

đắp một cách tự nhiên cho người đọc nhiều tri thức về “tôn giáo, lịch sử, địa lí, triết học quyện trong các tình tiết của cốt truyện” [30]

Nhà văn Phạm Thuận Thành trong bài “Mấy cảm nhận về Sóng hận sông

Lô của Vũ Ngọc Tiến” (ngày 14/8/2013) nói rằng khi đọc Sóng hận sông Lô,

Trang 14

ông đã “được khám phá cả một chương oai hùng của dân tộc: Cuộc kháng chiến trường kì chống quân xâm lược Minh do Lê Lợi lãnh đạo” [46]

Tiểu thuyết dã sử Người con trang Sơn Đông của nhà văn Nguyễn Anh

Đào cũng được người đọc đón nhận và có những đánh giá bước đầu Trong bài tham luận “Cuộc đời và sự nghiệp của Đức Tổ Trần Nguyên Hãn gắn liền với non sông, đất nước” (ngày 25-2-2017), ông Trần Quang Trung nhận định:

“Trong cuốn sách của Nguyễn Anh Đào nêu lên rất nhiều chi tiết phi lịch sử khi cho rằng, sau khi Hồ Quý Ly cướp ngôi, âm mưu hãm hại tôn tộc nhà Trần, để bảo toàn gia tộc, Trần Nguyên Đán đành phải hạ mình, gửi con trai mình là Trần Nguyên Mộng cho Quý Ly như một thứ con tin rồi xin cầu hôn với con gái riêng của Quý Ly để được phong chức Đông cung Phán thủ Tác giả còn lý giải, nhờ đó mà gia đình Trần Nguyên Đán vượt qua được hoạn nạn, giữ được giống nòi kế thế mai sau Cuốn sách cũng không đề cập đến việc chạy nạn lên Sơn Đông của hai vợ chồng Trần Án - thân sinh Đức Tổ Trần Nguyên Hãn, thậm chí còn viết nhầm lẫn họ của Tổ Mẫu là Đặng Thị Hoàn Theo cách phân tích diễn giải của tác giả thì hai vợ chồng cụ Trần Án lên Sơn Đông là để khai hoang lập ấp, kiếm kế sinh nhai, chứ không phải đi lánh nạn Tác giả còn hư cấu một cách thái quá, không phù hợp với lịch sử, khi nói rằng hai vợ chồng Trần Án lên Sơn Đông 3 năm chưa có con Một buổi tối, bà Hoàn đi tắm sông, được một tiên đồng giáng thế, sau đó mang thai, sinh ra Trần Nguyên Hãn Chưa hết, tác giả còn tự ghép mối quan hệ giữa Trần Nguyên Hãn với Nguyễn Trãi là quan hệ chú cháu chứ không phải con cô, con cậu Rõ ràng, với việc sử dụng thủ pháp hư cấu chủ quan mang tính võ đoán của tác giả đã làm cho cuốn tiểu thuyết lịch sử bị méo mó, không có giá trị thông tin, cũng như ý nghĩa về mặt lịch sử” [54] Như vậy, ông Trần Quang Trung cho rằng tác giả của tiểu

thuyết Người con trang Sơn Đông đã hư cấu quá nhiều, không đúng với sự thật

lịch sử Mối quan hệ giữa sự thật lịch sử và hư cấu nghệ thuật là vấn đề vẫn còn nhiều tranh luận Hư cấu là một yêu cầu tất yếu của nghệ thuật nhưng không

Trang 15

được đi ngược với chân lý lịch sử Từ cuốn Về lợi ích và tác hại của chủ nghĩa lịch sử (F Nietzsche) đến cuốn Sự khốn cùng của Chủ nghĩa lịch sử (Karl

Popper) đã xuất hiện nhiều quan điểm làm cho không chỉ các nhà sử học, nhà văn viết tiểu thuyết lịch sử, mà cả những người đọc tiểu thuyết lịch sử cũng phải suy nghĩ Karl Popper cho rằng lịch sử cần được viết lại, vì mỗi thế hệ mới lại đặt ra trước nó những vấn đề mới, nghĩa là không có lịch sử như trong quá khứ mà chỉ có những cách giải thích lịch sử khác nhau và không có cách giải thích lịch sử nào là cuối cùng

Về tiểu thuyết Người về chốn cũ của Xuân Mai, nhà văn Phạm Ngọc

Chiểu trong bài viết “Một nỗi đau truyền đời” (ngày 15/6/2014) đã có những

cảm nhận sâu sắc khi đọc tác phẩm Với những tư liệu chính sử không nhiều và một vài câu chuyện dã sử được lưu truyền trong dân gian nhưng Xuân Mai đã xây dựng thành công nhân vật Trần Nguyên Hãn, “giới thiệu với người đọc cả cuộc đời của nhân vật, với đầy đủ dung mạo, tính tình, mối quan hệ xã hội, rồi những biến cố lịch sử nhân vật trải qua cách nay ngót sáu trăm năm” [6] Nhân

vật chính của Người về chốn cũ là một nhân vật có thật trong lịch sử và được

nhà văn Xuân Mai “chăm chút tái hiện từ lúc sinh ra cho đến tận cuối đời Một Trần Nguyên Hãn hiện lên trước mắt người đọc khá sống động, từ lúc còn

là cậu bé con, đến lúc là trang nam nhi tuấn tú luôn ấp ủ thù nhà nợ nước, biết yêu và lấy vợ, sinh con, cho đến khi là tướng võ nghệ cao cường, tinh thông binh pháp, đánh đâu thắng đó Những trận Trần Nguyên Hãn cùng Thượng tướng Doãn Nỗ dẫn quân vào đánh chiếm hai xứ Tân Bình, Thuận Hoá, sau đánh thành Xương Giang trên xứ Bắc chỉ vẻn vẹn trong có hai giờ lấy được thành, cho đến những trận đánh viện binh của Liễu Thăng khi cùng Lê Sát, lúc cùng Lê Lý… được ngòi bút Xuân Mai tái hiện thật sinh động” [6] Trong

Người về chốn cũ, Xuân Mai còn “kết hợp đưa vào mạch truyện chính rất nhiều

truyện dân gian, những phong tục tập quán, những lễ hội, những trò chơi dân gian Có thể thấy nhà văn Xuân Mai có một vốn liếng văn học dân gian dày dặn, phong phú và ông có ý thức dân gian hoá lịch sử nên đã chọn lọc, đưa vào

Trang 16

Người về chốn cũ những chuyện dân gian khá đắc địa, giúp cho tiểu thuyết có

không khí xã hội sinh động để nhân vật chính có đất sống và hoạt động như thật, không bị khô cứng Tôi rất ấn tượng với trang miêu tả về cái chết đầy bi tráng của Trần Nguyên Hãn và đoàn người đi theo ông khi họ nhất loạt gác chèo để thuyền lao xuống ghềnh Đông Hồ Câu hỏi lớn của Trần Nguyên Hãn khi ông ngửa mặt hỏi trời cao trước khi chết thật có sức lay động người đọc - một thành công trong sáng tạo của Xuân Mai khi khép lại câu chuyện về bậc danh tướng” [6] Nhà văn Phạm Ngọc Chiểu đã có những đánh giá về thành công của Xuân Mai, đặc biệt trong việc tái dựng một cách sống động nhân vật anh hùng trong lịch sử dân tộc và đem đến cho tác phẩm một không gian lễ hội, không gian văn hóa đậm đà bản sắc

Chúng tôi nhận thấy các bài viết về ba tiểu thuyết lịch sử này còn chưa nhiều và mới chỉ dừng lại ở những nhận định, đánh giá có tính chất khái quát Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện về ba tiểu

thuyết lịch sử (Sóng hận sông Lô, Người con trang Sơn Đông, Người về chốn cũ) và về nhân vật Trần Nguyên Hãn Tuy nhiên, những ý kiến và nhận định về

ba tiểu thuyết trên là những gợi dẫn quan trọng để chúng tôi tiến hành khảo sát, nghiên cứu và triển khai đề tài này

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu sự sáng tạo của các nhà văn khi xây dựng

nhân vật anh hùng Trần Nguyên Hãn qua ba tiểu thuyết lịch sử Sóng hận sông

Trang 17

Lô (Vũ Ngọc Tiến), Người con trang Sơn Đông (Nguyễn Anh Đào) và Người về chốn cũ (Xuân Mai) Trong những trường hợp cần thiết, chúng tôi liên hệ so sánh

với những tác phẩm cùng đề tài lịch sử để làm sáng tỏ nội dung nghiên cứu

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn khảo sát chủ yếu trong phạm vi ba cuốn tiểu thuyết lịch sử

Sóng hận sông Lô của nhà văn Vũ Ngọc Tiến (Nxb Hội Nhà văn, 2013), Người con trang Sơn Đông của nhà văn Nguyễn Anh Đào (Nxb Phụ nữ, 2013) và Người về chốn cũ của nhà văn Xuân Mai (Nxb Văn học, 2014)

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Phân tích, phát hiện những sáng tạo của các nhà văn khi xây dựng nhân

vật anh hùng Trần Nguyên Hãn qua ba tiểu thuyết lịch sử Sóng hận sông Lô (Vũ Ngọc Tiến), Người con trang Sơn Đông (Nguyễn Anh Đào) và Người về chốn cũ (Xuân Mai)

Phân tích được những nét độc đáo của Vũ Ngọc Tiến, Nguyễn Anh Đào, Xuân Mai trong nghệ thuật xây dựng nhân vật anh hùng Trần Nguyên Hãn qua

ba tiểu thuyết lịch sử

Chỉ ra những điểm giống và khác nhau của ba nhà văn khi xây dựng nhân vật anh hùng Trần Nguyên Hãn Từ đó, thấy được nét riêng và phong cách độc đáo của mỗi nhà văn

6 Phương pháp nghiên cứu

Tiến hành luận văn, chúng tôi tích hợp đồng bộ một số phương pháp sau đây:

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Chúng tôi tìm hiểu phương pháp phân tích, tổng hợp nhằm tìm hiểu tài liệu có liên quan đến đề tài Phân tích những dẫn chứng cụ thể, tiêu biểu để làm rõ sự sáng tạo nhân vật anh hùng Trần Nguyên Hãn qua ba tiểu thuyết lịch sử Phương pháp tổng hợp giúp chúng tôi có cái nhìn khái

quát về vấn đề nghiên cứu và khái quát lại nội dung chính ở các chương, mục

- Phương pháp so sánh văn học: Đặt hình tượng nhân vật anh hùng Trần Nguyên Hãn trong tiểu thuyết lịch sử của Vũ Ngọc Tiến, Nguyễn Anh Đào và Xuân Mai trong cái nhìn tương quan để tìm ra những nét tương đồng, khác biệt

Trang 18

- Phương pháp tiếp cận Thi pháp học: Phương pháp này giúp người nghiên cứu giải quyết các yêu cầu của đề tài theo hướng đã được xác định bởi đối tượng nghiên cứu: hình tượng nhân vật

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi có liên hệ, sử dụng một cách đúng mực kiến thức của ngành lịch sử, văn hóa học, triết học nhằm giúp cho việc đánh giá và nhìn nhận vấn đề nghiên cứu được toàn diện, sâu sắc hơn

7 Dự kiến đóng góp

Đây là công trình khoa học đầu tiên, kịp thời nghiên cứu về ba cuốn tiểu thuyết lịch sử viết về Trần Nguyên Hãn trong văn học đương đại đã và đang thu hút sự chú ý của người đọc Từ công trình này, người viết muốn khẳng định vị trí và những đóng góp của các nhà văn vào quá trình phát triển của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn có kết cấu 3 chương:

Chương 1: Quan niệm về tiểu thuyết lịch sử và diện mạo của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam

Chương 2: Bức tranh đời sống xã hội và sáng tạo nhân vật anh hùng Trần

Nguyên Hãn qua ba tiểu thuyết lịch sử: Sóng hận sông Lô; Người con trang Sơn Đông; Người về chốn cũ

Chương 3: Nghệ thuật xây dựng nhân vật anh hùng Trần Nguyên Hãn qua

ba tiểu thuyết lịch sử: Sóng hận sông Lô; Người con trang Sơn Đông; Người về chốn cũ

Trang 19

NỘI DUNG Chương 1 QUAN NIỆM VỀ TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ VÀ DIỆN MẠO

CỦA TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ VIỆT NAM 1.1 Quan niệm về tiểu thuyết lịch sử

Trong cuốn Tiểu thuyết hiện đại của hai giáo sư người Pháp Dorothy

Brevvster và Jonh Bureell, tiểu thuyết lịch sử được hiểu như sau: “Những chuyện đó chỉ là những tiểu thuyết về quá khứ, và chỉ vì nhân nhượng mà ta gọi

là tiểu thuyết lịch sử Gọi theo tên hiệu này hay tên hiệu khác tùy thuộc vào cách nhà phê bình định nghĩa, đọc và ưa thích (hay chán ghét) chúng Vì khi thích một cuốn truyện nào thì nhà phê bình thường muốn đưa nó vào một loại văn học có danh” [7, tr.211] Như vậy, với quan niệm này thì tiểu thuyết lịch sử trước tiên là tiểu thuyết viết về thời quá khứ của một dân tộc, một quốc gia nào

đó và điều quan trọng nó phụ thuộc vào quan điểm chủ quan của người phê bình muốn xếp nó vào loại nào

Theo Từ điển thuật ngữ văn học, thể loại văn học lịch sử, tiểu thuyết lịch

sử được quan niệm như sau: “Các tác phẩm viết về đề tài lịch sử này có chứa đựng các nhân vật và các chi tiết hư cấu, tuy nhiên nhân vật chính và sự kiện chính thì được sáng tạo trên các sử liệu xác thực trong lịch sử, tôn trọng lời ăn tiếng nói, trang phục, phong tục, tập quán phù hợp với giai đoạn lịch sử ấy Tác phẩm văn học lịch sử thường mượn chuyện xưa nói chuyện đời nay, hấp thu những bài học quá khứ, bày tỏ sự đồng cảm với những con người và thời đại đã qua, song không vì thế mà hiện đại hóa người xưa, phá vỡ tính chân thật lịch sử của thể loại này” [20, tr.302]

Còn Từ điển văn học, tiểu thuyết lịch sử được quan niệm: “Tác phẩm tự

sự hư cấu lấy đề tài lịch sử làm nội dung chính Lịch sử trong ý nghĩa khái quát,

là quá trình phát triển của tự nhiên và xã hội Các khoa học xã hội (cũng được gọi là các khoa học lịch sử) đều nghiên cứu quá khứ của loài người trong tính

Trang 20

cụ thể và đa dạng của nó Tuy vậy, những tiêu điểm chú ý của các sử gia lẫn các nhà văn quan tâm đến đề tài lịch sử, thường đều là sự hình thành, hưng thịnh, diệt vong của các nhà nước, những biến cố lớn trong đời sống xã hội của cộng đồng quốc gia, trong quan hệ giữa các quốc gia như chiến tranh, cách mạng , cuộc sống và sự nghiệp của những nhân vật có ảnh hưởng đến tiến trình lịch sử” [42, tr.1725]

Như vậy, tiểu thuyết lịch sử là những tác phẩm mang trọn đặc trưng của tiểu thuyết nhưng lại lấy nội dung lịch sử làm đề tài và cảm hứng sáng tạo nghệ thuật Đối tượng của tiểu thuyết lịch sử là nhân vật, sự kiện, thời kỳ hay tiến trình lịch sử Đó có thể là một thời quá khứ xa xôi hay một thời kỳ lịch sử đặc biệt Tiểu thuyết lịch sử đòi hỏi người viết vừa phải có kiến thức uyên bác, tỉ mỉ của một nhà sử học, lại vừa phải có khả năng sáng tạo nghệ thuật

Cho đến nay, có cả một hệ thống quan niệm về tiểu thuyết lịch sử Trong khuôn khổ của Luận văn, người viết xin được đưa ra quan điểm về tiểu thuyết lịch sử của một số tác giả, nhà nghiên cứu và phê bình văn học sau:

Alexandre Dumas, nhà tiểu thuyết lịch sử người Pháp cho rằng: “Lịch sử

đối với tôi là gì? Nó chỉ là một cái đinh để tôi treo các bức họa của tôi mà thôi” [Dẫn theo 39, tr.31] Quan điểm của Dumas rõ ràng đứng về phía hư cấu lịch

sử, xem những sự kiện, nhân vật lịch sử chỉ là phương tiện để nhà văn viết tiểu thuyết và gửi gắm suy nghĩ, ý tưởng riêng của mình

Lucacs, nhà mỹ học Mác xít lớn với nhiều công trình mỹ học, trong đó

có cuốn nghiên cứu về tiểu thuyết lịch sử khẳng định tiểu thuyết lịch sử phải có nhiệm vụ nghệ thuật hóa lịch sử: “Nhiệm vụ của tiểu thuyết lịch sử là chứng minh sự tồn tại của hoàn cảnh và nhân vật lịch sử bằng công cụ nghệ thuật” [Dẫn theo 39, tr.31]

Trong Lời đầu sách cuốn tiểu thuyết Người về chốn cũ, nhà văn Xuân

Mai đã dẫn ý kiến của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều khi bàn về tiểu thuyết lịch

sử Theo Nguyễn Quang Thiều, các tác phẩm văn học về đề tài lịch sử cần phải

Trang 21

làm hiện lên chân lý và nhân cách của lịch sử: “Các nhà văn không phải là các nhà sử học Bởi vậy, sáng tạo văn học về đề tài lịch sử không phải là công việc ghi chép các chi tiết hay tổng hợp những tư liệu về một sự kiện lịch sử, một giai đoạn lịch sử hay một nhân vật lịch sử Sáng tạo văn học về đề tài lịch sử là làm hiện lên chân lý và nhân cách của sự kiện lịch sử ấy và của nhân vật làm ra lịch

sử ấy Vì vậy, trực tiếp hay hay gián tiếp thì cái cốt yếu trong tác phẩm văn học viết về lịch sử là dựng lên nhân cách và tinh thần sống của những con người làm nên lịch sử bằng cái nhìn vừa mang tính khoa học, vừa đầy trí tưởng tượng phong phú của mình” [Dẫn theo 37]

Nhà văn Hoàng Quốc Hải cho rằng, công việc của người viết tiểu thuyết lịch sử “là tái hiện lịch sử như nó có Nhưng không phải tái hiện tất cả những gì

mà lịch sử chứa đựng Nghĩa là phải chọn lựa những con người tiêu biểu cho cả hai mặt thiện và ác, những con người có tác dụng chi phối lịch sử Các sự kiện lịch sử cũng vậy thôi, phải chọn lấy những sự kiện gây ấn tượng mang dấu mốc tiêu biểu cho từng chặng đường lịch sử” [19] Mặc dù là nhà văn chuyên viết khá sát sự thực lịch sử nhưng theo Hoàng Quốc Hải, tiểu thuyết lịch sử cần có

sự hư cấu: “Cho nên lịch sử đối với nhà văn chỉ là cái cớ Do đó nhiệm vụ của nhà văn viết về lịch sử là giải mã lịch sử chứ không lặp lại các thông tin lịch sử Sự hư cấu là một tất yếu nằm trong thuộc tính của mọi loại hình tiểu thuyết Lại hỏi: Biên độ hư cấu đến mức nào? Đáp: Không giới hạn” [Dẫn theo 12, tr.260-262]

Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh, tác giả của những cuốn tiểu thuyết lịch sử

Hồ Quý Ly, Mẫu Thượng ngàn, Đội gạo lên chùa lại quan niệm: “Tôi quan

niệm rằng tiểu thuyết lịch sử không phải là kể lại lịch sử, minh họa lịch sử mà

là phản ánh những vấn đề của con người hiện tại Trong tiểu thuyết tất cả là giả định để độc giả rộng quyền hư cấu tưởng tượng, độc giả là người tham dự vào tiểu thuyết, tạo ra những góc nhìn còn ẩn khuất trong lịch sử” [28] Như

Trang 22

vậy, lịch sử không phải là đích đến của nhà văn mà đó chỉ là cái cớ, là phương tiện để nhà văn thể hiện cách đánh giá, nhìn nhận, suy ngẫm về nhân vật lịch sử

và sự kiện lịch sử

Nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ cho rằng: “Trong quá trình sáng tác, các nhà tiểu thuyết lịch sử vừa phải tôn trọng các sự kiện lịch sử, vừa phải phát huy cao độ vai trò của hư cấu, sáng tạo nghệ thuật” [11, tr.164] Với quan niệm này, tác giả nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa sự thật lịch sử và hư cấu nghệ thuật trong tiểu thuyết lịch sử

Trong tiểu luận đề dẫn Hội thảo về chủ đề “Lịch sử và văn hóa - Cái nhìn

nghệ thuật của Nguyễn Xuân Khánh”, Nguyễn Đăng Điệp nhận định: “Khác

với truyền thống coi lịch sử là đại lịch sử (đã xong xuôi), lý thuyết hiện đại, hậu hiện đại khẳng định lịch sử là quá trình chưa hoàn tất mà đang được cấu tạo lại với sự xuất hiện của các tiểu lịch sử Tại đấy, lịch sử được hình dung như những mảnh vỡ Có người khẳng định, nhà văn có quyền tưởng tượng đến vô hạn và tác phẩm của họ thực chất là cách cấu tạo lịch sử theo quan điểm cá nhân Tại đó, có một thứ lịch sử khác (ngoại vi) so với lịch sử được thừa nhận (trung tâm), và lịch sử, khi đã đi vào lãnh địa tiểu thuyết, phải được tổ chức trên cơ sở hư cấu và nguyên tắc trò chơi vốn là một đặc trưng của nghệ thuật” [12, tr.5-8] Như vậy, theo quan điểm của tác giả, tiểu thuyết lịch sử cần được sáng tạo theo quan điểm cá nhân, phát huy cao độ vai trò của yếu tố hư cấu

Trong phần lời bạt kỷ yếu của chính Hội thảo trên, Trần Đình Sử cũng nhận định ủng hộ cho tính hư cấu của văn học về đề tài lịch sử: “Trên thế giới

sự đổi thay của tiểu thuyết lịch sử gắn với quan niệm về lịch sử Từ chủ nghĩa cấu trúc đến hậu cấu trúc, từ hậu cấu trúc đến chủ nghĩa tân lịch sử người ta nhận rõ lịch sử chỉ là sự trần thuật về lịch sử, tạo nên sự hoài nghi đối với tính chân thực của văn bản lịch sử Do đó, “sự thật lịch sử” là một khái niệm ẩn

dụ, mang tính chủ quan” [Dẫn theo 12, tr.467-469]

Trang 23

Tác giả Văn Giá trong bài “Tiểu thuyết lịch sử theo lối phác giản, đời thường” đã căn cứ vào thái độ tiếp cận lịch sử của các tác giả viết tiểu thuyết lịch sử và thấy có hai cách phổ biến: “Thứ nhất: ngợi ca, tôn vinh triều đại hoặc nhân vật lịch sử; thứ hai, dựng lại một cách chân thực lịch sử với tất cả những

gì mà thông sử cho biết trong hầu hết những mặt tốt xấu vốn có Ở cả hai cách này có một điểm chung là đều lấy lịch sử thông sử làm hệ quy chiếu, từ đó nhìn lịch sử theo một tâm thế nghiêm trang, thành kính, cách nhìn “sử thi” Với cách nhìn này, các nhà tiểu thuyết lịch sử lấy việc phục dựng nguyên trạng lịch sử làm đích Người đọc không chỉ được thỏa mãn trí tưởng tượng nghệ thuật sống động,

mà còn lĩnh hội được khá nhiều tri thức lịch sử của các thời đại đã qua” [14]

Trong bài viết “Sự thật lịch sử và hư cấu nghệ thuật”, Đỗ Ngọc Yên nhấn mạnh người nghệ sĩ hoàn toàn có quyền tái hiện lịch sử theo cách riêng của

mình nhưng tuyệt nhiên không được phép bịa đặt ra lịch sử Ông nói những

người sáng tác “vừa phải tôn trọng đến mức tối đa sự thật lịch sử, nhưng mặt khác bằng cảm xúc, tài năng cá nhân, anh ta cần phải sáng tạo ra một lịch sử khác, mà tôi gọi là lịch sử của văn học nghệ thuật Nhưng như vậy không có nghĩa anh ta chỉ là người sao chép lại nguyên si những sự kiện đã từng xảy ra trong đời sống thực Tôi rất tâm đắc với câu nói nổi tiếng của đại thi hào Nga Macxim Goorki khi ông ta nói về vai trò của cảm xúc và tưởng tượng cá nhân

trong sáng tạo nghệ thuật một cách thật sự hóm hỉnh đại ý rằng: Nếu một bài

thơ viết về chiếc bánh mỳ mà không có gì khác chiếc bánh mỳ thì người ta sẽ chọn chiếc bánh mỳ, chứ không ai chọn bài thơ cả” [56]

Trong buổi tọa đàm về cuốn tiểu thuyết lịch sử Kim thiếp vũ môn của tác

giả Thâm Giang Trần Gia Ninh, GS.TS Trần Nho Thìn cũng thể hiện quan niệm chung về tiểu thuyết lịch sử: "Lịch sử là tài sản chung của mọi người, nói lịch sử là nói sự thật Nhưng tiểu thuyết lại đòi hỏi phải hư cấu Vậy hư cấu thế nào thì vừa? Có lẽ nên hư cấu sao cho độc giả đã bắt đầu đọc là muốn đọc tới

Trang 24

cùng, khi ấy họ không còn câu nệ lắm với sự thật lịch sử" [Dẫn theo 22] Tác giả quan niệm tiểu thuyết lịch sử cần có sự kết hợp giữa sự thật lịch sử và hư cấu nghệ thuật để tạo nên sự lôi cuốn, hấp dẫn đối với người đọc

Như vậy, cho đến nay những ý kiến, quan niệm về tiểu thuyết lịch sử vẫn còn nhiều tranh luận và chưa thống nhất Tuy nhiên, mỗi quan niệm dù nhấn mạnh vào các khía cạnh khác nhau của thể loại, chung quy vẫn đề cập đến yếu

tố lịch sử và yếu tố tiểu thuyết - hạt nhân cốt lõi trong tiểu thuyết lịch sử

Trong công trình nghiên cứu này, tác giả Luận văn cũng xin đưa ra quan điểm về tiểu thuyết lịch sử: Tiểu thuyết lịch sử trước hết phải là những tác phẩm viết về đề tài lịch sử của quá khứ, với những gì đã diễn ra trong quá khứ, được khuất lấp trong một khoảng thời gian dài Tuy nhiên, nhiệm vụ của nhà văn không phải là khôi phục lịch sử, tái tạo lịch sử cho người đọc Nhiệm vụ đó

là của nhà Sử học Nhà văn và người đọc, không nên mặc định, “đóng đinh” trong cái gọi là “sự thật lịch sử” Thực ra, viết tiểu thuyết lịch sử không phải là

kể lại lịch sử mà cần có sự hư cấu, sáng tạo của một tác phẩm nghệ thuật Sự

hư cấu, sáng tạo đó tạo nên những hình tượng nghệ thuật độc đáo và đặc sắc Nhà văn không phán xét, không mong muốn thay đổi lịch sử mà thể hiện cách cắt nghĩa, lý giải vấn đề để rút ra những bài học nhân sinh sâu sắc Qua những tác phẩm đó, nhà văn đem đến cho người đọc một cái nhìn, một quan điểm, một

tư tưởng về lịch sử

1.2 Diện mạo của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam

1.2.1 Tiểu thuyết lịch sử trong văn học trung đại

Văn học Việt Nam phát triển gắn bó chặt chẽ với sự phát triển của lịch

sử Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam thời kỳ trung đại là một bộ phận không nhỏ trong di sản văn học dân tộc Trong thời kỳ văn học trung đại, xuất hiện các bộ

tiểu thuyết lịch sử viết bằng chữ Hán như: Nam triều công nghiệp diễn chí (Nguyễn Khoa Chiêm), Hoàng Lê nhất thống chí (Ngô gia văn phái), Hoàng Việt long hưng chí (Ngô Giáp Đậu), Việt Lam tiểu sử (Lê Hoan) Trong các bộ

Trang 25

tiểu thuyết lịch sử này, nhà văn đã trung thành tuyệt đối với các sự kiện lịch sử, nhân vật lịch sử Tác giả là một thư ký cần mẫn, ghi chép khá đầy đủ và chi tiết những bước đi của lịch sử Tiểu thuyết lịch sử thời kỳ này rất gần với sử kí Đọc những tác phẩm này, người đọc có thể tìm thấy nhiều tư liệu lịch sử chính xác

Nam triều công nghiệp diễn chí (truyện kể về công lao sự nghiệp của

Nam triều) là một tiểu thuyết lịch sử viết bằng chữ Hán (có khoảng 8 tập) của Nguyễn Khoa Chiêm viết vào khoảng thế kỷ 18 Đây có thể coi “là tác phẩm mở đầu cho thể loại thiểu thuyết chương hồi Việt Nam thời trung đại Trên nền những sự kiện lịch sử thế kỷ 16 - 17, thân thế, hành trang, tính cách của nhiều nhân vật lịch sử cũng hiện lên khá rõ” [42, tr.1033]

Hoàng Lê nhất thống chí (Ngô gia văn phái) là tác phẩm văn xuôi đầu

tiên có quy mô lớn (17 hồi) của một bộ sử thi Tác phẩm đã hội tụ được tinh hoa của văn xuôi tự sự trung đại và giữ một vị trí quan trọng trong dòng tiểu thuyết lịch sử chương hồi ở Việt Nam

Tác phẩm chủ yếu phản ánh cuộc tranh chấp quyền lực giữa các tập đoàn phong kiến thời Lê mạt và phong trào Tây Sơn Thời gian miêu tả tác phẩm trong khoảng hơn 30 năm cuối thế kỷ 18, từ khi Trịnh Sâm lên ngôi chúa (1767) đến lúc Nguyễn Ánh lên ngôi vua (1802) Đây chính là giai đoạn rất nhiều biến động trong lịch sử Việt Nam, cả cơ cấu xã hội phong kiến cùng

những hình thái ý thức, tư tưởng, đạo đức bị đảo lộn và lay chuyển tận gốc

Thành công lớn nhất của tiểu thuyết này là xây dựng được những nhân vật điển hình đa dạng, vừa khái quát, vừa sâu sắc Tác phẩm đã xây dựng được một thế giới nhân vật phong phú gồm vua chúa, văn thần, võ tướng, con buôn, cung tần mĩ nữ, trí thức Các nhân vật được khắc họa sinh động và có cá tính

rõ nét Tác phẩm vừa có giá trị lịch sử, vừa mang giá trị văn học và xứng đáng

là đỉnh cao của văn xuôi tự sự trung đại

Sau khi đạt đến đỉnh cao với Hoàng Lê nhất thống chí, tiểu thuyết

chương hồi rơi vào tình trạng bế tắc nhưng còn lại hai đại diện cuối cùng là

Hoàng Việt long hưng chí (Ngô Giáp Đậu) và Việt Lam tiểu sử (Lê Hoan)

Trang 26

Hoàng Việt long hưng chí là tiểu thuyết chương hồi (34 hồi) của Ngô

Giáp Đậu được hoàn thành năm 1904 Tác phẩm kể lại quá trình hưng vương của Hoàng đế Gia Long trong giai đoạn lịch sử nửa sau thế kỷ XVIII, đầu thế

kỷ XIX Đồng thời, tiểu thuyết chương hồi này còn chỉ ra nguyên nhân sụp đổ, lụn bại của phong trào Tây Sơn Trong tác phẩm này, Ngô Giáp Đậu chú trọng nhiều đến sự kiện mà ít chú ý tới việc xây dựng tính cách nhân vật Tác giả ghi

chép khá tỉ mỉ, chi tiết từng bước đi của quá trình “long hưng” Với Hoàng Việt long hưng chí, Ngô Giáp Đậu đã làm sống lại dòng chảy của tiểu thuyết

chương hồi ở Việt Nam trong giai đoạn xế chiều, đồng thời ông cũng khẳng định được một vị trí xứng đáng trong tiểu thuyết chương hồi Việt Nam

Việt Lam tiểu sử (Lê Hoan) là tác phẩm có quy mô rộng lớn (gồm 60

hồi), phản ánh những biến cố lịch sử quan trọng ở thế kỷ XV Đó là cuộc khởi nghĩa Lam Sơn với chiến công của người anh hùng Lê Lợi Là một đại biểu cuối cùng của tiểu thuyết chương hồi ở Việt Nam, tác phẩm đã có những bước phát triển về mặt thể loại để chuẩn bị cho sự ra đời của tiểu thuyết hiện đại ở giai đoạn sau

Có thể nói, các tiểu thuyết lịch sử trung đại đã xây dựng thành công một

số nhân vật điển hình, tuy nhiên cách miêu tả theo lối ước lệ tượng trưng vẫn là phương thức miêu tả chính mà các tác giả lựa chọn Các nhân vật được chú ý nhiều ở hành động, tâm lý nhân vật ít được đề cập đến, và mức độ đề cập cũng đơn giản hơn chứ không phức tạp như trong tiểu thuyết hiện đại Diễn biến tâm

lý nhân vật chỉ mang tính chất mô tả chứ chưa thực sự đi sâu vào miêu tả thế giới tâm lý tinh vi, phức tạp trong tâm hồn nhân vật

1.2.2 Tiểu thuyết lịch sử từ đầu thế kỷ XX đến năm 1945

Đầu thế kỷ XX là giai đoạn diễn ra quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam Nó đưa văn học dân tộc rời khỏi phạm trù trung đại đến với phạm trù hiện đại Từ đầu thế kỷ XX, tiểu thuyết lịch sử bắt đầu có những chỗ đứng vững chắc trong nền văn học và trở thành lực lượng nòng cốt cho sự phát triển

Trang 27

của văn học Việt Nam hiện đại Tiểu thuyết lịch sử thời kỳ này phát triển mạnh

mẽ cả về số lượng và chất lượng Có thể kể đến các tác phẩm như Trùng Quang tâm sử (Phan Bội Châu); Vua Hàm Nghi, Vua Quang Trung, Bánh xe khứ quốc (Phan Trần Chúc); Tiếng sấm đêm đông, Đinh Tiên Hoàng, Vua Bố Cái, Trần Nguyên chiến kỉ, Hai Bà đánh giặc, Mai Hắc Đế, Lý Nam Đế (Nguyễn Tử Siêu); Hòm đựng người, Bà Chúa Chè, Chúa Trịnh Khải (Nguyễn Triệu Luật); Chiếc ngai vàng, Cái hột mận, Ai lên Phố Cát (Lan Khai); Vua Hàm Nghi với việc kinh thành thất thủ, Lịch sử Đề Thám (Ngô Tất Tố); Đêm hội Long Trì, An

Tư (Nguyễn Huy Tưởng); Giọt máu chung tình, Gia Long phục quốc (Tân Dân Tử); Lê Thái Tổ (Chu Thiên)

Tiểu thuyết lịch sử thời kỳ này mang nội dung yêu nước sâu sắc Các tác phẩm đã ca ngợi những tấm gương yêu nước, căm thù giặc, những trang anh hùng, những liệt nữ đã hi sinh cho sự nghiệp giữ gìn non sông đất nước Những nhân vật lịch sử đều đẹp một cách lý tưởng, thể hiện sự sùng bái, ngưỡng vọng của cả cộng đồng Các tác phẩm tiêu biểu cho nội dung này có thể kể đến

Trùng Quang tâm sử (Phan Bội Châu); Tiếng sấm đêm đông (Nguyễn Tử Siêu); Giọt máu chung tình (Tân Dân Tử); Trần Nguyên chiến kỉ, Hai Bà đánh giặc

(Nguyễn Tử Siêu) Đây là thời kỳ đất nước ta đang chịu cảnh áp bức, đô hộ của thực dân Pháp Trước thực tại đất nước, đã có nhiều phong trào yêu nước nổi lên mạnh mẽ như phong trào Duy Tân, Đông Kinh nghĩa thục, Việt Nam Quang phục hội Những phong trào yêu nước đó đã tác động tới các nhà viết tiểu thuyết lịch sử để họ cho ra đời những tác phẩm có nội dung yêu nước sâu sắc

Bên cạnh nội dung yêu nước, tiểu thuyết lịch sử thời kỳ này còn mang nội dung thế sự Nhà văn lựa chọn viết về những giai đoạn lịch sử đầy biến động, phức tạp của đất nước Các tác giả đã đi sâu khai thác nhằm phơi bày thực trạng xã hội: số phận bất hạnh của những người dân thường, quan lại phong kiến dâm loạn, tàn ác Các tác phẩm tiêu biểu cho nội dung này có thể

Trang 28

kể đến như Đinh Tiên Hoàng (Nguyễn Tử Siêu); Cái hột mận, Ai lên phố cát (Lan Khai); Đêm hội Long Trì (Nguyễn Huy Tưởng)

Tiểu thuyết lịch sử đầu thế kỷ XX đến năm 1945 có sự vận động đa dạng, phong phú và nổi bật ở một số xu hướng chính:

Thứ nhất là “xu hướng thông qua việc khắc họa hình ảnh những người anh hùng yêu nước để khơi dậy lòng tự hào dân tộc, khích lệ ý thức trách nhiệm của người dân đối với vận mệnh đất nước” [39, tr.45] Nhà Nho, nhà chí

sĩ cách mạng Phan Bội Châu là người tiêu biểu cho cách viết này

Thứ hai, xu hướng “khai thác những chuyện thật của lịch sử đan xen với truyền thuyết” [39, tr.45] Nguyễn Tử Siêu, Tân Dân Tử là những người tiêu biểu cho xu hướng này

Thứ ba, “xu hướng khai thác những câu chuyện thế sự, đời tư trong đề tài lịch sử, cách viết in đậm màu sắc lãng mạn, đã li khai hoàn toàn với tiểu thuyết chương hồi” [39, tr.45] Tiểu biểu cho xu hướng này là các tác giả Phan Trần Chúc, Lan Khai, Nguyễn Triệu Luật

Thứ tư, “xu hướng xem lịch sử chỉ là cái cớ để nhà văn triển khai những băn khoăn, trăn trở về thân phận con người, về ý thức công dân và sứ mệnh của nghệ thuật” [39, tr.45] Người viết đã phát huy khả năng sáng tạo, hư cấu nghệ thuật Tiêu biểu cho xu hướng này là lối viết của Nguyễn Huy Tưởng Xu hướng này đặt nền móng và được phát huy rất mạnh ở giai đoạn sau, đặc biệt là

từ năm 1986 đến nay với nhiều tiểu thuyết lịch sử có tiếng vang lớn của văn học Việt Nam

Tóm lại, tiểu thuyết lịch sử đầu thế kỷ XX đến năm 1945 bước đầu đã có những cách tân về nghệ thuật nhằm hiện đại hóa thể loại Tuy nhiên, tiểu thuyết lịch sử thời kỳ này nhìn chung vẫn chưa thoát khỏi hệ thống thi pháp của văn học trung đại Tiểu thuyết lịch sử vẫn chịu ảnh hưởng của tiểu thuyết chương hồi, kết cấu thời gian đơn tuyến Nhân vật chủ yếu được khắc họa qua hành động Tâm lý nhân vật ít được miêu tả và chưa rõ nét Yếu tố độc thoại nội tâm

Trang 29

đã bắt đầu xuất hiện nhưng vẫn còn mờ nhạt Lối diễn đạt còn chịu ảnh hưởng của câu văn biền ngẫu, sử dụng nhiều điển tích, điển cố

1.2.3 Tiểu thuyết lịch sử từ năm 1945 đến 1985

Cách mạng Tháng Tám thành công, lịch sử dân tộc bước sang một trang mới Hoàn cảnh lịch sử đã tạo ra một bước ngoặt mới cho nền văn học dân tộc

Từ năm 1945 đến năm 1985, đất nước ta đã trải qua nhiều biến cố lịch sử trọng đại Trong vòng 30 năm (1945-1975), dân tộc Việt Nam đã trải qua hai cuộc kháng chiến với thực dân Pháp và đế quốc Mĩ Sau 1975, đất nước được giải phóng và đứng trước những nhiệm vụ không nhỏ: bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Văn học Việt Nam đã nảy nở, phát triển trong bối cảnh lịch sử ấy Chính vì vậy, văn học đã gắn bó chặt chẽ với từng bước đi của lịch sử, với vận mệnh dân tộc và đời sống nhân dân Văn học

đi sâu phục vụ Cách mạng, phục vụ cuộc kháng chiến của dân tộc Trước bối cảnh hiện thực của đất nước thời kỳ này, thơ trữ tình, kí, truyện ngắn là những thể loại phát triển mạnh

Trước yêu cầu thúc bách của thời đại, tiểu thuyết lịch sử vẫn duy trì được một quá trình phát triển liên tục Các tiểu thuyết lịch sử vẫn thực hiện sứ mệnh cao cả của văn học nghệ thuật đó là cổ vũ, ca ngợi cuộc chiến đấu, ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng; đồng thời giáo dục lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc và ý chí đấu tranh chống kẻ thù xâm lược Nhân vật quần chúng được các nhà văn chú ý khắc họa, mang vẻ đẹp tiêu biểu của cộng đồng Do đó, tiểu thuyết lịch sử thời kỳ này mang đậm âm hưởng sử thi Các tác phẩm tiêu biểu

như Quận He khởi nghĩa, Tổ quốc kêu gọi, Người Thăng Long (Hà Ân); Hùng khí Thăng Long, Bóng nước Hồ Gươm (Chu Thiên); Cờ nghĩa Ba Đình, Biến động (Thái Vũ); Núi rừng Yên Thế (Nguyên Hồng); Sao Khuê lấp lánh (Nguyễn Đức Hiền); Đô đốc Bùi Thị Xuân (Quỳnh Cư); Lá cờ thêu sáu chữ vàng, Kể chuyện Quang Trung (Nguyễn Huy Tưởng)

Trang 30

Tiểu thuyết lịch sử thời kỳ này đã hoàn toàn được hiện đại hóa, thoát khỏi lối viết của tiểu thuyết chương hồi, trong diễn đạt không còn kiểu câu văn biền ngẫu Đồng thời, các nhà văn đã có sự sáng tạo, hư cấu nghệ thuật ở một chừng mực nhất định để tạo nên những hình tượng nghệ thuật sinh động, đặc sắc

Tiểu thuyết lịch sử giai đoạn 1945 - 1985 nổi bật ở một số xu hướng như sau: Thứ nhất, “khắc họa những sự kiện trọng đại nhằm lý giải dấu mốc bi

tráng trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc” [39, tr.51] Tiểu biểu là tác phẩm Cờ nghĩa Ba Đình (Thái Vũ), Bóng nước Hồ Gươm (Chu Thiên)

Thứ hai, “khắc họa kiểu nhân vật quần chúng nhân dân, qua đó làm sống

dậy sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc” [39, tr.52] Đây là xu hướng phát triển rất mạnh ở giai đoạn này Tiêu biểu là những tác phẩm như Quận He khởi nghĩa (Hà Ân), Núi rừng Yên Thế (Nguyên Hồng)

Thứ ba, “khắc họa những vĩ nhân, danh nhân trong lịch sử” [39, tr.52]

Xu hướng này phát triển mạnh ở cả hai chặng đường trước và sau năm 1985

Tiêu biểu là các tác phẩm Lá cờ thêu sáu chữ vàng (Nguyễn Huy Tưởng), Người Thăng Long (Hà Ân) Tuy nhiên, việc khắc họa những anh hùng lịch sử

ở hai giai đoạn trước và sau năm 1985 của các nhà văn cũng có sự khác nhau Trước năm 1985, các nhà văn xuất phát từ điểm nhìn của lịch sử khi miêu tả nhân vật Các tác giả nhìn nhận nhân vật trong mối quan hệ với cộng đồng, với vai trò xã hội Sau năm 1985, các nhà văn đặt nhân vật dưới nhiều điểm nhìn khác nhau như điểm nhìn lịch sử, điểm nhìn văn hóa khi miêu tả nhân vật lịch sử Nhân vật một mặt được nhìn nhận trong mối quan hệ với cộng đồng

và xã hội, một mặt được chú ý ở góc độ con người đời thường Bên cạnh vẻ đẹp của một anh hùng, vĩ nhân, các nhân vật lịch sử còn hiện lên gần gũi, chân thực, đời thường

Tóm lại, tiểu thuyết lịch sử thời kỳ này đã tạo dựng được một bức tranh hoành tráng về lịch sử và khắc họa được những nhân vật lịch sử có tính cách đa dạng, có chiều sâu nội tâm Tuy nhiên, so với các thể loại khác (thơ trữ tình, kí,

Trang 31

truyện ngắn) thì tiểu thuyết lịch sử phát triển kém sôi động hơn Thời gian này,

số nhà văn quan tâm đến thể loại văn học lịch sử chưa có nhiều Nền văn học nước nhà đang phải đảm nhiệm vai trò phục vụ trước mắt hai cuộc chiến tranh cứu nước và giải phóng dân tộc, cho nên thể loại văn học lịch sử hiện đại của

chúng ta chưa phát triển mạnh Mặc dù chưa có được những tác phẩm thật sự

xuất sắc, gây được tiếng vang lớn nhưng tiểu thuyết lịch sử thời kỳ này vẫn có những tìm tòi, thể nghiệm riêng so với giai đoạn trước đó

1.2.4 Tiểu thuyết lịch sử thời kỳ đổi mới (Từ năm 1986 đến nay)

Với phương châm đổi mới để tồn tại và phát triển, Đại hội Đảng lần VI (1986) đã mở ra bước ngoặt, đem lại những chuyển biến mạnh mẽ, tích cực về nhiều mặt Tinh thần “đổi mới tư duy” đã tạo cơ sở tư tưởng cho xu hướng dân chủ hóa trong văn học phát triển mạnh mẽ Xu hướng dân chủ hóa được biểu hiện trên nhiều bình diện của sáng tác văn học, từ đề tài, chủ đề, cốt truyện, kết cấu cho đến giọng điệu và ngôn ngữ Tinh thần đổi mới, dân chủ đã khơi dậy những suy nghĩ, những tìm tòi, sáng tạo mới trong giới văn nghệ sĩ Nó đã truyền được cảm hứng, tạo dựng không gian văn hóa mới cho những khao khát của người nghệ sĩ thăng hoa để cho ra đời những tác phẩm nghệ thuật có sức sống mạnh mẽ Để đem lại sự chuyển biến sâu sắc, mới mẻ về tư tưởng và nghệ thuật tiểu thuyết, các tác giả tiểu thuyết lịch sử thời kỳ này đã có những thể nghiệm, tìm tòi và cách tân độc đáo

Với việc tự do sáng tác được mở rộng, đề tài lịch sử bắt đầu sống lại và trở thành một trong những đề tài chủ chốt của văn học Tiểu thuyết lịch sử nhanh chóng chiếm vị trí quan trọng với những bộ tiểu thuyết cỡ lớn, như muốn chứng minh cho tiềm năng bị bỏ quên của nó Quả thực, văn học giai đoạn này đang chứng kiến sự xuất hiện của một loạt tiểu thuyết lịch sử có tiếng vang Có thể nói, tiểu thuyết lịch sử đang lên ngôi trên văn đàn Việt Nam Các

tác phẩm tiêu biểu như: Gươm thần vạn kiếp (Ngô Văn Phú); Bão táp cung

đình, Thăng Long nổi giận, Huyền Trân công chúa, Vương triều sụp đổ (Hoàng

Trang 32

Quốc Hải); Danh tướng Trần Hưng Đạo, Vằng vặc sao Khuê (Hoàng Công Khanh); Sông Côn mùa lũ (Nguyễn Mộng Giác); Gió lửa (Nam Dao); Mười hai

sứ quân, Hào kiệt Lam Sơn, Bắn rụng mặt trời (Vũ Ngọc Đĩnh); Hồ Quý Ly, Mẫu thượng ngàn, Đội gạo lên chùa (Nguyễn Xuân Khánh); Quân sư Nguyễn Trãi (Trần Bá Chí); Lê Lợi, Bà Triệu, Đinh Bộ Lĩnh, Lý Nam Đế (Hàn Thế Dũng); Giàn thiêu (Võ Thị Hảo); Trần Quốc Toản (Lưu Sơn Minh); Tây Sơn bi hùng truyện (Lê Đình Danh); Đàn đáy (Trần Thu Hằng); Hội thề (Nguyễn Quang Thân); Sóng hận Sông Lô (Vũ Ngọc Tiến), Người về chốn cũ (Xuân Mai); Tể tướng Lưu Nhân Chú (Hồ Thủy Giang), Người con trang Sơn Đông

(Nguyễn Anh Đào)

Tiểu thuyết lịch sử thời kỳ đổi mới đã thể hiện khát vọng vượt thoát cái

cũ, truy tìm cái mới trong sáng tạo nghệ thuật về đề tài lịch sử Từ góc nhìn của chủ thể sáng tạo, giờ đây văn học không chỉ là tiếng nói của dân tộc, cộng đồng

mà còn là phát ngôn của mỗi cá nhân nghệ sĩ, là phương thức tự biểu hiện bao gồm cả việc phát biểu tư tưởng, quan niệm, chính kiến của nhà văn về xã hội và con người Nhà văn có quyền bày tỏ công khai sự nhận thức của cá nhân trước những chân lý tưởng như bất di bất dịch, giải thiêng các thần tượng, nghi ngờ những tín điều, đề xuất những chuẩn mực mới Cái nhìn của nhà văn giai đoạn này mang màu sắc và kinh nghiệm cá nhân rõ nét Các tác giả thiên về luận giải

lịch sử hơn là mô tả, minh họa lịch sử

Chẳng hạn trong Người về chốn cũ, nhà văn Xuân Mai đã đưa ra một

cách nhìn nhận, luận giải mới về người anh hùng Trần Nguyên Hãn Bên cạnh một Trần Nguyên Hãn anh hùng, còn có một Trần Nguyên Hãn gần gũi, đời thường, luôn có những suy tư trăn trở để giữ đạo trung hiếu, để đem lại cuộc sống no ấm cho nhân dân.Trong tiểu thuyết Hồ Quý Ly (Nguyễn Xuân Khánh),

nhân vật Hồ Quý Ly cũng được nhà văn xây dựng “với những kiến giải rất riêng, lý giải theo một góc độ mới, đó là một vị anh hùng đa mưu túc trí, nhiều

Trang 33

tham vọng, lắm toan tính, một nhà tư tưởng lớn, một con người có đời sống nội

tâm phong phú” [53]

Có thể nhận diện tiểu thuyết lịch sử ở giai đoạn này có một số xu hướng chính như sau:

Thứ nhất, “tái hiện những sự kiện lịch sử theo lối biên niên, kết cấu theo

kiểu chương hồi của truyền thống” [39, tr.57] Đây là xu hướng phát triển mạnh

từ đầu thế kỷ XX đến năm 1945 do ảnh hưởng của tiểu thuyết chương hồi truyền thống thời trung đại Từ năm 1945 đến 1985, khi công cuộc hiện đại hóa văn học đã hoàn tất thì xu hướng này không còn nữa Từ sau 1985, các nhà tiểu thuyết đã mượn mô hình kết cấu chương hồi quen thuộc để làm mới truyền thống từ cái nhìn hiện đại về cách khắc họa nhân vật, ngôn ngữ Số lượng

những tác phẩm viết theo hướng này không nhiều, tiêu biểu như Mười hai sứ quân, Hào kiệt Lam Sơn, Bắn rụng mặt trời (Vũ Ngọc Đĩnh); Tây Sơn bi hùng truyện (Lê Đình Danh)

Thứ hai, “khắc họa những nhân vật lịch sử nổi tiếng và suy tư về các vấn

đề đương đại” [39, tr.58] Xu hướng tiểu thuyết lịch sử này phát triển mạnh ở thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI bởi nó thể hiện đủ nhất những đặc trưng của thể tài khi viết về những nhân vật có vai trò quan trọng đối với lịch sử dân tộc

Tiêu biểu cho xu hướng này là những tác phẩm: Danh tướng Trần Hưng Đạo, Vằng vặc sao khuê (Hoàng Công Khanh); Hồ Quý Ly (Nguyễn Xuân Khánh);

Lê Lợi, Bà Triệu, Đinh Bộ Lĩnh (Hàn Thế Dũng)

Thứ ba, “khắc họa cả một thời đại lịch sử lớn với nhiều sự kiện, nhiều nhân vật” [39, tr.59] Ở giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX, xu hướng này chưa phát triển Đến giai đoạn 1945-1985, xu hướng này bắt đầu xuất hiện và sau 1985 thì

xu hướng này phát triển mạnh Tiêu biểu cho xu hướng này là bộ tiểu thuyết về

triều Trần của Hoàng Quốc Hải (Bão táp cung đình, Thăng Long nổi giận, Huyền Trân công chúa, Vương triều sụp đổ); trường thiên tiểu thuyết Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác

Trang 34

Thứ tư, “mượn lịch sử để gửi gắm những vấn đề thế sự” [39, tr.59] Xu

hướng này đã xuất hiện trước năm 1945 với những sáng tác của Nguyễn Huy

Tưởng (Đêm hội Long Trì), Nguyễn Triệu Luật (Bà Chúa Chè), Lan Khai (Cái hột mận) Từ năm 1945 đến 1985, xu hướng này tạm thời bị gián đoạn và sau

1985 thì tiếp tục phát triển mạnh

Thứ năm, “tái hiện những vấn đề về lịch sử - văn hóa” [39, tr.59] Xu hướng này chỉ xuất hiện sau năm 1985 Những tác phẩm viết theo xu hướng này có sự hòa trộn giữa văn hóa, phong tục và lịch sử Tiêu biểu là các tác

phẩm Mẫu thượng ngàn (Nguyễn Xuân Khánh), Đất trời (Nam Dao) Trong

bầu không khí dân chủ và tự do sáng tạo, các nhà văn đã có những tìm tòi, cách tân trong thể tài lịch sử Lịch sử trong tiểu thuyết lúc này trở thành lịch sử trong cảm nhận cá nhân, được nhà văn nhìn nhận bằng điểm nhìn văn hóa, triết học

và thụ hưởng trên tinh thần nhân văn hiện đại

Thứ sáu, “tái hiện những phần khuất lấp và “xét lại” nhân vật lịch sử” [39, tr.60] Đây là xu hướng chỉ phát triển từ sau năm 1985 Tiêu biểu là Giàn thiêu (Võ Thị Hảo), Mạc Đăng Dung (Lưu Văn Khuê), Vua Minh Mạng (Hoài

Anh) Tiểu thuyết lịch sử đã thể hiện những suy tư về đời sống của các nhà văn Các cây bút tiểu thuyết đã thoát khỏi những ràng buộc trong sáng tạo nghệ thuật để trình bày những suy ngẫm, chiêm nghiệm của cá nhân

Tóm lại, trong không khí dân chủ của thời kỳ đổi mới, các nhà văn đã có

sự đổi mới, cách tân mạnh mẽ trong sáng tạo nghệ thuật Tiểu thuyết lịch sử giai đoạn này có sự phát triển mạnh mẽ với nhiều xu hướng và có những đóng góp quan trọng cho sự phát triển của tiểu thuyết lịch sử nói riêng, văn học Việt Nam nói chung

Trang 35

tiểu thuyết lịch sử chung quy vẫn đề cập đến yếu tố lịch sử và yếu tố tiểu thuyết, giữa sự thật lịch sử và hư cấu nghệ thuật

Trải qua những giai đoạn khác nhau, tiểu thuyết lịch sử vẫn duy trì được một quá trình phát triển liên tục Ở mỗi giai đoạn, tiểu thuyết lịch sử đều có những thành tựu trên cả phương diện nội dung và nghệ thuật Những tác phẩm

về đề tài lịch sử ngày càng khẳng định được vị trí trên văn đàn và đóng góp vào

sự phát triển chung của nền văn học dân tộc

Trang 36

Chương 2 BỨC TRANH ĐỜI SỐNG XÃ HỘI VÀ SÁNG TẠO NHÂN VẬT ANH HÙNG TRẦN NGUYÊN HÃN QUA BA TIỂU THUYẾT LỊCH SỬ:

SÓNG HẬN SÔNG LÔ; NGƯỜI CON TRANG SƠN ĐÔNG;

NGƯỜI VỀ CHỐN CŨ

2.1 Hình ảnh xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XV qua ba tiểu thuyết lịch sử:

Sóng hận sông Lô; Người con trang Sơn Đông; Người về chốn cũ

Lịch sử là đề tài truyền thống của nền văn học dân tộc Viết về đề tài này, mỗi nhà văn đều tìm về một thời kỳ và một giai đoạn lịch sử khác nhau để thể hiện sự chiêm nghiệm về con người, về thời đại Bức tranh đời sống xã hội

ở từng giai đoạn lịch sử được các nhà văn dựng lên sinh động, hấp dẫn, giúp người đọc như được sống lại thời kỳ quá khứ xa xưa

Qua ba tiểu thuyết lịch sử Sóng hận sông Lô (Vũ Ngọc Tiến), Người con trang Sơn Đông (Nguyễn Anh Đào), Người về chốn cũ (Xuân Mai), các nhà

văn đã tái hiện cho chúng ta thấy phần nào hình ảnh xã hội Việt Nam đầu thế

kỷ XV Đó là thời kỳ với những biến động xã hội dữ dội và là một trong những trang sử bi tráng, hào hùng trong lịch sử dân tộc Việt Nam

Sau khi nhà Hồ sụp đổ, đất nước ta rơi vào thảm cảnh chịu sự áp bức, đô

hộ của giặc Minh Những nơi chúng chiếm đóng, bốn bề đều “tua tủa những cung tên, giáo mác trông như một con ác thú ngày đêm rình rập, bất ngờ nuốt chửng con mồi” [9, tr.24] Đi đến đâu cũng thấy bóng dáng, tội ác của kẻ thù:

“Dọc đường đi, chỗ nào cũng thấy cảnh quân Ngô ức hiếp dân lành, săn bắt gà lợn, cưỡng bức con gái” [9, tr.53] Sự hiện diện của chúng đã gây bao cảnh tang tóc, đau thương cho nhân dân Đại Việt: “Phía trước mặt hai người, sau lũy tre làng có mấy cột khói đang cuồn cuộn bốc cao Từ nơi ấy rất nhiều tiếng nổ

“đùng, đoàng” rộ lên liên tiếp Không cần hỏi Trần Nguyên Hãn cũng biết, bọn giặc Minh đang đốt nhà, cướp của của nhân dân Dọc đường vào Lam Sơn, Trần Nguyên Hãn không còn nhớ đây là lần thứ mấy phải chứng kiến cảnh

Trang 37

tượng này?” [37, tr.117-118] Tội ác của chúng đối với nhân dân ta không thể nào mà kể hết được Chúng đốt phá, cướp bóc, bắt đàn bà con gái để thỏa mãn dục vọng tầm thường: “Giặc Minh đi đến đâu thì chó, gà vắng đến đấy Của tha

hồ chúng cướp, người chúng tha hồ giết Đàn bà, con gái chúng bắt vào đồn làm hầu hạ, làm đồ chơi” [37, tr.119] Nỗi đau của chúng gây ra cho nhân dân Đại Việt là quá lớn Bàn tay chúng nhúng đầy máu và tội ác Chúng đã gây ra biết bao cảnh bất nhân, bất nghĩa trên mảnh đất Đại Việt

Giặc Minh sang xâm lược nước ta với chiêu bài “Phù Trần diệt Hồ” Thực chất, âm mưu của chúng là để vơ vét tài nguyên của đất nước, để làm chủ một vùng đất phía Nam với nhiều sản vật quý hiếm mà cha ông chúng đã nhòm ngó từ lâu: “Quan lại nhà Minh đã thi hành chính sách triệt để cướp bóc, vơ vét

từ trâu bò, voi ngựa, thóc gạo, thuyền bè đến vàng bạc, châu báu Tất cả các nghề thủ công, buôn bán đều bị bọn chúng đánh thuế Nhân dân khắp nơi còn

bị chúng cưỡng bức đi khai thác vàng, bạc; Xuống biển mò ngọc trai; Lên rừng khai thác lâm thổ sản cùng các hương liệu quý Rồi đi lao dịch Thợ thủ công, dân phu, phụ nữ, trẻ em, đào hát, phường nhạc cùng nhiều người khác bị bắt đem về Trung Quốc làm nô tì, phục vụ cho bọn quan lại nhà Minh Quân Minh còn cướp ruộng đất của nông dân xung quanh Trại đóng quân của chúng, biến thành đồn điền cho quân lính đi cày, cấy” [37, tr.95] Chúng đã thi hành chính sách vơ vét đến tận cùng khiến đời sống của nhân dân ta điêu đứng, làng xóm hoang tàn Tội ác chồng chất của chúng đến “trúc Lam Sơn không ghi hết tội”,

“nước Đông Hải không rửa sạch mùi” Tác giả cũng đã để cho nhân dân lao động cất lên tiếng nói căm phẫn đến đau đớn, tột cùng: “Dân tình chúng tôi khổ lắm ông ơi! Cùng với phải đóng sưu cao thuế nặng, bà con còn phải vào rừng sâu tìm sa nhân, bẫy bắt hươu đen, rồi thì đi xây nhà, đắp lũy Làm không được, bọn chúng đánh đập rất dã man: Người lớn bị thiêu sống, trẻ con bị chôn sống” [37, tr.145] Giặc Minh gieo rắc tội ác trên khắp mọi miền Hễ ở đâu có bóng dáng chúng thì ở đó nhân dân không được hưởng yên vui, no ấm Đời

Trang 38

sống của nhân dân lao động chông chênh như đang đứng trên miệng bờ vực thẳm Để xây dựng thành Xương Giang vững chắc, chúng đã huy động hết sức người, sức của khiến bà con điêu đứng, lầm than Bà con “khắp vùng Lạng Giang này, từ người trẻ đến người già đều phải đến Xương Giang làm lao dịch Nào khoét đồi lấy đất, nào đào hầm hào, nào đóng gạch, nào nung gạch ngói, nào xây thành, nào xây dinh thự Thôi thì, việc gì dân cũng phải làm Biết bao người dân hiền lành đã ngã xuống làm nền móng cho thành Xương Giang cao chất ngất như bây giờ” [37, tr.179]

Không chỉ đốt phá, vơ vét tài sản của nhân dân, chúng còn tàn phá những

công trình văn hóa, tâm linh của người Việt Ngôi chùa Thiên Ân “có tòa chính

điện bằng gỗ đã bị giặc Minh đốt trụi, chỉ còn trơ lại nền gạch vỡ nát, loang lổ những dấu vết ám khói, mọc đầy cỏ dại Tăng đường và trai đường phía sau tòa chính điện cũng đổ nát, hoang tàn theo phong hóa của thời gian” [52, tr.134] Nhiều “đình chùa miếu mạo bị triệt phá” [37, tr.159] bởi âm mưu thâm độc của

kẻ thù Những nơi chúng đến, văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần đã bị xóa sạch Chúng tàn phá không thương tiếc tất cả những gì thuộc về sản phẩm trí tuệ của dân tộc ta, nó là biểu trưng cho văn minh, văn hóa

Điều còn làm nên thành công của ba tiểu thuyết là các tác giả đã tái dựng không khí chiến trận hào hùng của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn mà người đứng đầu là anh hùng Lê Lợi Trước cảnh nước mất, nhà tan, người anh hùng xứ Thanh đã kêu gọi hào kiệt bốn phương tụ nghĩa để đánh đuổi giặc Minh xâm lược Những buổi đầu, nghĩa quân còn gặp nhiều khó khăn do lương thực, binh lính còn ít, lại chỉ làm chủ một vùng đất nhỏ hẹp Dưới sự lãnh đạo xuất chúng của Lê Lợi, cùng với sự đoàn kết đồng lòng của anh em tướng sĩ và sự ủng hộ của nhân dân, nghĩa quân Lam Sơn ngày một lớn mạnh và làm chủ một vùng đất đai rộng lớn Đó chính là cơ sở giúp cho Lê Lợi và nghĩa quân tấn công triệt

hạ những nơi trọng yếu cuối cùng của giặc để giải phóng đất nước Những trận

Trang 39

chiến đó chính là đỉnh cao của nghệ thuật quân sự, làm cho kẻ thù kinh hồn bạt vía: “Đoàn quân Bắc tiến dũng mãnh của Bình Định vương chia làm ba cánh quân ào ạt tràn về bao vây thành Đông Quan Từng cánh quân theo kế sách của Nguyễn Trãi trên đường ra Bắc lại chia nhiều mũi nhỏ tỏa ra chiếm giữ các vùng quê trù phú ở đồng bằng và trung du Bắc Hà nên khi hợp quân thành ba hướng bao vây Đông Quan thì cả một vùng lãnh thổ rộng lớn đã rợp bay cờ nghĩa Lam Sơn” [52, tr.66] Chiến thắng của quân ta trước kẻ thù xâm lược ngày càng giòn giã: “Lúc này, thế quân ta như chẻ tre, vừa đánh vừa reo hò khoa trương thanh thế Quân địch chống cự một cách yếu ớt, nhiều tên bó giáo xin hàng, còn lại, sẵn sàng chờ cho quân ta bắt sống để mong toàn được tính mạng” [9, tr.166] Trước thanh thế và sức mạnh như nước vỡ bờ của nghĩa quân, giặc Minh đã thất bại thảm hại Vương Thông ngoan cố là vậy nhưng cuối cùng cũng phải quy hàng “khi thấy đầu Thôi Tụ treo trước cổng thành nhe răng cùng với ấn tín, giáp trụ của An Viễn hầu Liễu Thăng” [9, tr.173]

Đất nước sạch bóng quân thù, nhân dân được sống trong cảnh yên vui,

no ấm Khắp mọi miền Tổ quốc đang tràn ngập một sinh khí mới: “Mùa xuân Đại Việt năm nay đến sớm Mới tết Ông Táo mà hoa đào ở các làng Nhật Tân, Quảng Bá, Nghi Tàm đã thi nhau đua nở Phía Nam kinh thành, làng Hoàng Mai cũng bắt đầu ánh lên màu vàng của những cánh hoa mai ôm lấy những giọt sương sớm long lanh ngũ sắc” [9, tr.183] Thiên nhiên đua nhau khoe sắc như đón mừng ngày vui độc lập, như báo hiệu cuộc sống đủ đầy của người dân lao động: “Cành đào, cành mận bung nở những chùm hoa khoe sắc màu rực rỡ Hoa chanh, hoa bưởi trong vườn cũng đang vào độ mãn khai Những làn gió xuân thổi đung đưa ngọn cờ lau lả lướt ngoài bờ sông Trong các xóm ngõ, chỗ nào cũng ngan ngát mùi hương thôn dã, nơi bắt đầu có dấu hiệu của sự no ấm, thanh bình” [9, tr.225]

Trang 40

Bên cạnh điểm tương đồng, sự khác biệt giữa ba tác phẩm được thể hiện

rõ trong việc phản ánh hiện thực xã hội qua không gian văn hóa làng quê So

với tiểu thuyết Sóng hận sông Lô (Vũ Ngọc Tiến), việc tái hiện không gian văn hóa, sinh hoạt làng quê được thể hiện đậm nét hơn trong hai tiểu thuyết Người con trang Sơn Đông (Nguyễn Anh Đào) và Người về chốn cũ (Xuân Mai) Trong Người con trang Sơn Đông, lễ hội truyền thống, lâu đời của bà con nhân

dân được Nguyễn Anh Đào chú ý tô đậm: “Sơn Đông vừa qua những ngày lễ hội tưng bừng, dưới sông đua thuyền, trên bờ rước kiệu, trai thi tài đấu vật, đấu

cờ, gái thi múa hát không khí náo nhiệt chưa từng có” [9, tr.225] Đến với

Người về chốn cũ, những hội thi, những trò chơi, lễ hội cổ truyền được Xuân

Mai tái hiện mang đậm không gian văn hóa Việt Đó là hội thi nấu cơm: “Chưa

rõ từ bao giờ, cứ vào ngày mùng tám, tháng giêng hằng năm, ăn Tết xong, trang Sơn Đông lại tổ chức hội thi nấu cơm Những nồi cơm đoạt giải: Thứ nhất, nồi nấu cơm phải là nồi đồng điếu, thân và cổ nồi phải sạch bóng, đỏ au màu đồng Cơm chín phải đầy đến cổ nồi Thứ hai, cơm phải thật trắng, thật thơm và thật dẻo Khi đơm cơm ra bát, lấy đũa cả đè lên, các hạt cơm phải dính chặt lại với nhau, khi úp bát xuống, cơm phải tuột ra khỏi bát thật gióc, khi cắt ra thành miếng, miếng cơm phải vừa mịn, vừa dẻo, vừa thơm như xôi Thứ cơm này gọi

là “cơm in” Thứ ba, trong nồi không có cháy, lượt cơm dưới đáy nồi không

khô cứng, xung quanh nồi không ướt” [37, tr.54] Đó là hội thi đánh phết - một

trò chơi dân gian truyền thống của trang Sơn Đông mùng 7 tháng giêng hằng năm Đó còn là lễ hội mùa xuân của bà con nhân dân làng Cổ Loa, làng Phù Ninh, “lễ hội cổ truyền của Đại Việt, một hình thức sinh hoạt văn hóa tâm linh cộng đồng đã được hình thành từ rất lâu đời Lễ hội truyền thống này không những thể hiện tinh thần tự hào dân tộc, đạo lý uống nước nhớ nguồn mà còn là

sự tôn vinh các vị anh hùng dân tộc, những danh nhân văn hóa, những người có công với dân với nước” [37, tr.210-211] Những trò chơi, lễ hội, phong tục tập

Ngày đăng: 09/10/2018, 15:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phan Tuấn Anh (2013), “Lịch sử như là hư cấu - Quan điểm sáng tạo mới về đề tài lịch sử”, Tạp chí Sông Hương, (298), tr. 82-89 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử như là hư cấu - Quan điểm sáng tạo mới về đề tài lịch sử”, Tạp chí "Sông Hương
Tác giả: Phan Tuấn Anh
Năm: 2013
2. Trần Phước Bình (sưu tập, năm 2016), “Tả tướng quốc Trần Nguyên Hãn bị hại”, Bản tin dòng họ Trần Nguyên Hãn Việt Nam, (5), tr. 9-11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tả tướng quốc Trần Nguyên Hãn bị hại”, "Bản tin dòng họ Trần Nguyên Hãn Việt Nam
3. Đào Trần Quang Cát (biên soạn, 2016), Thân thế sự nghiệp Tả tướng quốc Trần Nguyên Hãn (Tài liệu lưu hành nội bộ), Ban liên lạc dòng họ Trần Nguyên Hãn chịu trách nhiệm xuất bản, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thân thế sự nghiệp Tả tướng quốc Trần Nguyên Hãn
4. Đào Trần Quang Cát (2016), “Dòng dõi Tả tướng quốc Trần Nguyên Hãn”, Bản tin dòng họ Trần Nguyên Hãn Việt Nam, (5), tr. 5-6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dòng dõi Tả tướng quốc Trần Nguyên Hãn”, "Bản tin dòng họ Trần Nguyên Hãn Việt Nam
Tác giả: Đào Trần Quang Cát
Năm: 2016
5. Đào Trần Quang Cát (2017), “Báo cáo của Ban liên lạc dòng họ Trần Nguyên Hãn”, Đại hội đại biểu dòng họ lần thứ II, Sơn Đông - Lập Thạch - Vĩnh Phúc ngày 25/02/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo của Ban liên lạc dòng họ Trần Nguyên Hãn
Tác giả: Đào Trần Quang Cát
Năm: 2017
7. Dorothy Brevvster và Jonh Bureell (1971), Tiểu thuyết hiện đại (Bản dịch của Dương Thanh Bình), Tủ sách Kim Văn, Ủy ban dịch thuật phủ quốc vụ khanh đặc trách văn hóa, xuất bản Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết hiện đại
Tác giả: Dorothy Brevvster và Jonh Bureell
Năm: 1971
8. Trương Đăng Dung (2004), Tác phẩm văn học như là quá trình, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm văn học như là quá trình
Tác giả: Trương Đăng Dung
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2004
9. Nguyễn Anh Đào (2013), Người con trang Sơn Đông, Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người con trang Sơn Đông
Tác giả: Nguyễn Anh Đào
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 2013
10. Phan Cự Đệ (2003), Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
11. Phan Cự Đệ (chủ biên, 2004), Văn học Việt Nam thế kỷ XX, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam thế kỷ XX
Nhà XB: Nxb Giáo dục
12. Nguyễn Đăng Điệp (chủ biên, 2012), Lịch sử và văn hóa - Cái nhìn nghệ thuật Nguyễn Xuân Khánh, Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử và văn hóa - Cái nhìn nghệ thuật Nguyễn Xuân Khánh
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
13. Hà Minh Đức (chủ biên, 2007), Lý luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
15. Hoàng Quốc Hải (1993), Thăng Long nổi giận, Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thăng Long nổi giận
Tác giả: Hoàng Quốc Hải
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 1993
6. Phạm Ngọc Chiểu (2014), Một nỗi đau truyền đời, http://www.phongdiep.net, ngày 15/06/2014 Link
19. Hoàng Quốc Hải (2011), Công việc của người viết tiểu thuyết lịch sử, http://vannghequandoi.com.vn, ngày 23/10/2011 Link
22. Nguyễn Hằng (2017), Hư cấu và sự thật trong tiểu thuyết lịch sử, http://dantri.com.vn, ngày 06/05/2017 Link
28. Nguyễn Xuân Khánh (2006), Nghề văn thật hấp dẫn, http://www.nhandan.com.vn, ngày 21/07/2006 Link
38. Nguyễn Thị Tuyết Minh (2009), Tư duy phân tích và giả định lịch sử trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1986, http://vannghequandoi.com.vn, ngày 17/1/2012 Link
43. Đỗ Hải Ninh (2012), Vấn đề ngôn ngữ trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại, http://phongdiep.net, ngày 10/4/2012 Link
56. Đỗ Ngọc Yên (2016), Sự thật lịch sử và hư cấu nghệ thuật, http://vanvn.net, ngày 17/08/2016 Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w