Tác động của kiều hối đến nền kinh tế của một số nước ASEAN (Luận văn thạc sĩ)Tác động của kiều hối đến nền kinh tế của một số nước ASEAN (Luận văn thạc sĩ)Tác động của kiều hối đến nền kinh tế của một số nước ASEAN (Luận văn thạc sĩ)Tác động của kiều hối đến nền kinh tế của một số nước ASEAN (Luận văn thạc sĩ)Tác động của kiều hối đến nền kinh tế của một số nước ASEAN (Luận văn thạc sĩ)Tác động của kiều hối đến nền kinh tế của một số nước ASEAN (Luận văn thạc sĩ)Tác động của kiều hối đến nền kinh tế của một số nước ASEAN (Luận văn thạc sĩ)Tác động của kiều hối đến nền kinh tế của một số nước ASEAN (Luận văn thạc sĩ)Tác động của kiều hối đến nền kinh tế của một số nước ASEAN (Luận văn thạc sĩ)Tác động của kiều hối đến nền kinh tế của một số nước ASEAN (Luận văn thạc sĩ)
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
TÁC ĐỘNG CỦA KIỀU HỐI ĐẾN NỀN KINH TẾ
CỦA MỘT SỐ NƯỚC ASEAN
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
VŨ THẾ CƯỜNG
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
TÁC ĐỘNG CỦA KIỀU HỐI ĐẾN NỀN KINH TẾ
CỦA MỘT SỐ NƯỚC ASEAN
Ngành: Tài chính – Ngân hàng – Bảo hiểm Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 8340201
Họ và tên học viên: Vũ Thế Cường
Người hướng dẫn: TS Nguyễn Phúc Hiền
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của riêng tôi Các số liệu
sử dụng phân tích trong luận văn là trung thực được chỉ rõ nguồn trích dẫn Các kết quả nghiên cứu trong luận văn do tôi tự tìm hiểu, phân tích một cách trung thực, và khách quan Kết quả của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào khác
HỌC VIÊN
Vũ Thế Cường
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Với lòng biết ơn sâu sắc của mình, tôi xin cảm ơn TS Nguyễn Phúc Hiền đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, các cô giảng dạy tại lớp Cao học TCNH-K23A trường Đại học Ngoại thương đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và người thân trong gia đình, vì những sự động viên đầy ý nghĩa trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
HỌC VIÊN
Vũ Thế Cường
Trang 5MỤC LỤC
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN i
CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 2
1.2.1 Các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới 2
1.2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam 8
1.3 Mục tiêu nghiên cứu 10
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
1.5 Phương pháp nghiên cứu 10
1.6 Cấu trúc luận văn 11
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỀU HỐI VÀ TÁC ĐỘNG CỦA KIỀU HỐI ĐẾN NỀN KINH TẾ 13
2.1 Lý thuyết chung về di cư 13
2.1.1 Thuyết tân cổ điển 14
2.1.2 Thuyết lịch sử - cấu trúc 14
2.1.3 Thuyết kinh tế mới về di cư lao động 15
2.2 Lý thuyết chung về kiều hối 15
2.2.1 Động lực tạo kiều hối 17
2.2.2 Mục đích sử dụng kiều hối 18
2.3 Lý thuyết chung về tác động của kiều hối lên nền kinh tế 20
2.3.1 Kiều hối và phân phối thu nhập 20
2.3.2 Kiều hối và tăng trưởng kinh tế 22
2.3.3 Kiều hối và cán cân thanh toán 26
CHƯƠNG 3 TỔNG QUAN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA KIỀU HỐI ĐẾN NỀN KINH TẾ CỦA MỘT SỐ NƯỚC ASEAN 28
3.1 Tổng quan về nền kinh tế ASEAN 28
3.2 Tổng quan về kiều hối của ASEAN 31
3.3 Tổng quan về tác động của kiều hối đến nền kinh tế của một số nước ASEAN 36
3.3.1 Kiều hối và phân phối thu nhập ở một số nước ASEAN 36
3.3.2 Kiều hối và tăng trưởng kinh tế ở một số nước ASEAN 37
Trang 63.3.3 Kiều hối và cán cân thanh toán ở một số nước ASEAN 39
CHƯƠNG 4 NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ TÁC ĐỘNG CỦA KIỀU HỐI ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA MỘT SỐ NƯỚC ASEAN 42
4.1 Dữ liệu 42
4.2 Mô hình 43
4.3 Thống kê mô tả 48
4.4 Kết quả hồi quy 50
4.5 Ý nghĩa của kết quả hồi quy 54
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN 56
5.1 Kết quả nghiên cứu 56
5.1.1 Kết quả quan sát một số nước cụ thể 56
5.1.2 Kết quả nghiên cứu thực nghiệm 56
5.2 Khuyến nghị chính sách 58
5.2.1 Về thu hút kiều hối 59
5.2.2 Về kiểm soát dòng kiều hối 60
5.2.3 Về việc sử dụng kiều hối 61
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO i
PHỤ LỤC vi
Trang 7DANH MỤC HÌNH Hình 1.1 Kiều hối của các khu vực (chỉ tính các nước đang phát triển) trong năm
2017 2
Hình 3.1 Vị trí các nước ASEAN 27
Trang 8DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 GDP các quốc gia cao nhất thế giới 28
Biểu đồ 3.2 Tốc độ tăng trưởng GDP của các nước ASEAN (2010 – 2015) 29
Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ dân số nghèo cùng cực ở một số nước ASEAN (1996 – 2012) 29 Biểu đồ 3.4 Lượng kiều hối toàn cầu (1990 – 2017) 30
Biểu đồ 3.5 Các nguồn vốn của các nước đang phát triển (1990 – 2019) 31
Biểu đồ 3.6 Tỷ lệ kiều hối giữa các nhóm quốc gia (2010 – 2019f) 31
Biểu đồ 3.7 Số lượng người di cư từ ASEAN (1960 – 2013) 32
Biểu đồ 3.8 Lượng kiều hối chảy vào các nước ASEAN 2012 (triệu Đô-la Mỹ) 33
Biểu đồ 3.9 5 quốc gia nhận được nhiều kiều hối nhất năm 2014 33
Biểu đồ 3.10 Tỷ lệ kiều hối trong GDP của các nước ASEAN (2012) 34
Biểu đồ 3.11 GDP và kiều hối của một số nước ASEAN (2000 - 2016) 37
Biểu đồ 3.12 Kiều hối và REER của Việt Nam (2000 – 2017) 39
Biểu đồ 3.13 Kiều hối và REER của Thái Lan (2000 – 2017) 40
Biểu đồ 3.14 Kiều hối và REER của Phi-líp-pin (2000 – 2017) 40
Biểu đồ 4.1 Tốc độ tăng GDP trên đầu người của các nước trong phân tích 48
Biểu đồ 4.2 Tỷ lệ kiều hối trên GDP của các nước trong phân tích 49
Trang 9DANH MỤC BẢNG Bảng 3.1 Tỷ lệ kiều hối/GDP và tốc độ tăng GDP trên đầu người của In-đô-nê-xi-a,
Lào và Phi-líp-pin 38
Bảng 4.1 Kết quả ước lượng hồi quy 53
Trang 10TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN
Trong những năm qua, một số quốc gia ASEAN, tiêu biểu là Phi-líp-pin và Việt Nam, liên tục nhận được luồng kiều hối lớn và tăng trưởng đều đặn qua các năm, đổng thời có tốc độ tăng trưởng kinh tế khá ấn tượng so với mặt bằng chung toàn thế giới Về mặt lý thuyết, có rất nhiều ý kiến về tác động của kiều hối đến nền kinh tế,
có thể là tích cực, cũng có thể là tiêu cực Tuy nhiên, các lý thuyết này vẫn còn ít được chứng minh bằng thực nghiệm tại các quốc gia ASEAN Do đó, luận văn này tập trung phân tích tác động của kiều hối đến nền kinh tế của một số quốc gia ASEAN
Cụ thể hơn, bằng phân tích hồi quy, luận văn đã cho thấy kiều hối có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế thông qua làm tăng năng suất các nhân tố tổng hợp tại các quốc gia ASEAN trong mẫu nghiên cứu
Trang 11CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU 1.1 Lý do chọn đề tài
Kiều hối, lượng tiền được những người di cư ra nước ngoài chuyển về tổ quốc của họ, liên tục tăng trong vài chục năm qua, đặc biệt tăng nhanh trong vài năm gần đây, và đạt mức khoảng 600 tỷ Đô-la Mỹ trong năm 2017 Phần chủ yếu của nguồn vốn dồi dào này chảy vào các nền kinh tế đang phát triển, chiếm
tỷ lệ cao trong GDP của nhiều nền kinh tế, đặc biệt cao như nước Cộng hoà gi-ki-xtan với 41,7% trong năm 2014 Đối với những quốc gia đang phát triển với nền kinh tế còn nhiều khó khăn thì đây là nguồn lực dồi dào hiếm có Thậm chí, trong hai thập kỷ qua, lượng kiều hối chảy vào các quốc gia đang phát triển còn cao hơn nhiều lần lượng vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), đồng thời
Tát-ổn định hơn lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Đông Nam Á cũng là khu vực nhận được lượng kiều hối đáng kể so với nhiều khu vực khác trên thế giới, với các quốc gia nổi bật như Phi-líp-pin (kiều hối năm 2012 chiếm 10,7% GDP) và Việt Nam (kiều hối năm 2012 chiếm 6,6% GDP) Hầu hết các quốc gia trong khu vực này là các quốc gia đang phát triển, đang phải đối mặt với nhiều thử thách trong phát triển kinh tế, với nhiều đặc điểm kinh tế tương đồng Các quốc gia ở khu vực Đông Nam Á đã cùng lập nên Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), và thống nhất cùng xây dựng một Cộng đồng ASEAN, trong đó hàng hóa, dịch vụ, đầu tư và con người được lưu chuyển tự do Tương lai này có khả năng tạo ra một thị trường lao động chung của ASEAN, lao động của nước này có thể dễ dàng làm việc tại một nước khác, từ đó dẫn đến khả năng lượng kiều hối trong ASEAN tiếp tục tăng cao trong tương lai
Hiện nay đã có nhiều nghiên cứu lý thuyết cũng như thực nghiệm về kiều hối, vai trò của kiều hối trong nền kinh tế, các tác động của kiều hối trong một nền kinh tế,… ở nhiều khu vực khác nhau như các quốc gia đang phát triển, một
số quốc gia châu Phi, châu Á, … nhưng có rất ít nghiên cứu thực nghiệm để kiểm tra lại các lý thuyết về kiều hối nói trên ở khu vực ASEAN
Trang 12Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi đã quyết định chọn đề tài của luận văn này
là “Tác động của kiều hối đến nền kinh tế của một số nước ASEAN”
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Phần này sẽ tóm tắt một số nghiên cứu thực nghiệm trước đây về tác động của kiều hối đến tăng trưởng kinh tế của các quốc gia, từ đó có cơ sở để lựa chọn phương pháp cũng như mô hình phân tích của luận văn
1.2.1 Các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới
Tác động của kiều hối đối với nền kinh tế của các quốc gia châu Á được nghiên cứu nhiều lần, một phần do châu Á là nơi cung cấp nguồn lao động di cư cao nhất thế giới, đồng thời cũng nhận về lượng kiều hối lớn nhất trên thế giới Trong năm 2017, tính riêng trong nhóm những quốc gia đang phát triển, nhóm nhận hầu hết kiều hối trên thế giới, khu vực châu Á – Thái Bình Dương ước tính nhận 29% lượng kiều hối của nhóm này
Hình 1.1 Kiều hối của các khu vực (chỉ tính các nước đang phát
triển) trong năm 2017
Nguồn: World Bank (2017b)
Ở khu vực châu Á, Cooray (2012), Siddique et al (2012),
Hassan G (2012) đã nghiên cứu một số nước Nam Á Ang (2007) nghiên cứu Phi-líp-pin Jongwanich (2007) thì mở rộng phạm vi nghiên cứu ra cả khu vực châu Á và các quốc gia Thái Bình Dương
Trang 13Cooray (2012) nghiên cứu đóng góp của kiều hối vào tăng trưởng kinh tế, sử dụng dữ liệu bảng về các quốc gia Nam Á, bao gồm: Băng-la-đét, Ấn Độ, Nê-pan, Ma-đi-vơ, Pa-kít-tan, Sri Lan-ka trong khoảng thời gian từ 1970 – 2008 Phương pháp phân tích sử dụng phương pháp bình phương bé nhất (OLS), phương pháp tác động cố định (fixed effects) và phương pháp mô-men tổng quát (GMM) Mô hình phân tích sử dụng các biến đại diện cho thu nhập trên đầu người, tích lũy tư bản trên đầu người,
tỷ lệ học trung học cơ sở, cung tiền M2, chi tiêu chính phủ, kiều hối, kim ngạch xuất khẩu, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và chỉ số về chính trị Kết quả nghiên cứu cho thấy kiều hối có tác động tích cực lớn lên tăng trưởng kinh tế thông qua ảnh hưởng thúc đẩy giáo dục và phát triển thị trường tài chính
Năm 2012, Siddique et al nghiên cứu dữ liệu chuỗi thời gian trong vòng 25 năm, xem liệu kiều hối có tác động lên nền kinh tế Băng-la-đét, Ấn Độ và Sri Lan-ka không bằng phương pháp phân tích nhân quả Granger trong mô hình tự hồi quy véc-tơ (vector autoregression) Nghiên cứu này không đưa được ra kết quả thống nhất ở ba quốc gia Ở Băng-la-đét, kiều hối có tác động lớn, một chiều đến tăng trưởng kinh tế Tại Ấn Độ, không
có mối quan hệ nào giữa hai yếu tố này được tìm thấy Còn đối với Sri Lan-ka, quan hệ giữa kiều hối và tăng trưởng kinh tế là quan hệ hai chiều, kiều hối góp phần vào tăng trưởng kinh tế và kinh tế tăng trưởng làm tăng kiều hối đổ về
Hassan, G (2012) nghiên cứu tác động của dòng kiều hối đến tăng trưởng thu nhập GDP trên đầu người ở Băng-la-đét Nghiên cứu sử dụng
dữ liệu hàng năm ở Băng-la-đét trong khoảng thời gian từ 1974 đến 2006
Mô hình dùng để phân tích có ba phương trình khác nhau Mỗi phương trình sẽ được ước lượng sử dụng ba phương pháp ước lượng bình phương nhỏ nhất (OLS), hồi quy hai giai đoạn với biến công cụ (IV-2SLS) và mô-men tổng quát với biến công cụ (IV-GMM) Các biến trong mô hình gồm có: Tăng trưởng GDP trên đầu người, tổng vốn đầu tư nội địa, tăng trưởng
Trang 14dân số, chi tiêu chính phủ, cung tiền, tỷ lệ làm phát, kiều hối (tỷ lệ kiều hối trên GDP), bình phương của tỷ lệ kiều hối trên GDP (để xem xét tác động của kiều hối đến GDP là tuyến tính hay phi tuyến), và trình độ phát triển của thị trường tài chính Kết quả của nghiên cứu cho thấy tác động tăng trưởng kinh tế của kiều hối là tác động phi tuyến tính Kết quả này có thể các cách sử dụng kiều hối khác nhau Trong phân tích, kiều hối có tác động tích cực đến tăng trưởng GDP khi yếu tố trình độ phát triển của thị trường tài chính được đưa vào trong mô hình
Ang (2007) tập trung nghiên cứu các cách thức mà kiều hối có thể kích thích phát triển và tăng trưởng kinh tế tại Phi-líp-pin Nghiên cứu đã xem xét 4 khía cạnh gồm, quan hệ giữa kiều hối và tăng trưởng kinh tế, giữa kiều hối và kinh tế vi mô, và giữa kiều hối với tái cấu trúc nền kinh
tế Nghiên cứu này cho thấy, tại Phi-líp-pin, kiều hối có tác động tích cực đối với nền kinh tế, tuy nhiên, cần thiết có các chính sách hợp lý và môi trường thuận lợi để kiều hối có thể phát huy hết tác động tích cực của nó
Mô hình phân tích trong nghiên cứu gồm các biến: Tốc độ tăng GDP thực
tế, tốc độ tăng trưởng kiều hối, tốc độ tăng trưởng của đầu tư, tốc độ tăng trưởng của đầu tư trực tiếp nước ngoài, được ước lượng bằng phương pháp bình phương nhỏ nhất (OLS)
Jongwanich (2007) sau khi nghiên cứu dữ liệu bảng về các quốc gia châu Á - Thái Bình Dương trong thời kỳ 1993 - 2003, thấy kiều hối có tác động lớn giúp giảm đói nghèo thông qua tăng thu nhập, hỗ trợ tiêu dùng
và giảm các gánh nặng tài chính cho người nghèo nhưng chỉ có tác động nhỏ đối với tăng trưởng kinh tế thông qua đầu tư nội địa và phát triển vốn con người Mô hình sử dụng để phân tích tác động của kiều hối đến tăng trưởng kinh tế có các biến số: Tốc độ tăng trường GDP bình quân đầu người, tốc độ tăng trường thu nhập ban đầu, vốn con người, đầu tư, chỉ tiêu chính phủ, tỷ lệ lạm phát, kiều hối, lãi suất thực, được ước lượng bằng phương pháp mô-men tổng quát (GMM)
Trang 15Ngoài các nghiên cứu kể trên, có nhiều nghiên cứu khác về kiều hối
tại các khu vực khác trên thế giới Ví dụ như, Orrenius và các cộng sự
(2009) thực hiện nghiên cứu tại Mê-hi-cô, Adam (2004) nghiên cứu về kiều hối và đói nghèo ở Gua-te-ma-la, Gupta, Pattillo & Wagh, (2007) nghiên cứu ảnh hưởng của kiều hối đến đói nghèo và phát triển tài chính
ở khu vực miền Nam sa mạc Sa-ha-ra, Oke, B O và các cộng sự (2011)
đã nghiên cứu tác động của kiều hối của lao động xuất khẩu đến phát triển tài chính ở Ni-giê-ri-a
Orrenius và các cộng sự (2009) xem xét tác động gộp của kiều hối lên các biến số kinh tế vĩ mô như tiền lương, lao động, tỷ lệ thất nghiệp,
tỷ lệ trẻ em đến trường Nghiên cứu sử dụng dữ liệu về Mê-hi-cô trong 5 năm (2003 – 2007), ước lượng bằng phương pháp bình phương nhỏ nhất (OLS), hồi quy hai giai đoạn (2SLS) Kết luận của nghiên cứu này là kiều hối có những tác động quan trọng đến phát triển kinh tế Lượng kiều hối cao có tương quan nhẹ với việc giảm thất nghiệp Kiều hối cũng có tác động tích cực đến sự phân phối thu nhập, làm tăng lương đặc biệt đối với mức lương trung bình Ngoài ra, kiều hối không có tác động đến tỷ lệ trẻ
em đi học
Adam (2004) sử dụng dữ liệu về kiều hối của một mẫu gồm 7276 hộ gia đình ở thành thị và nông thôn Gua-te-ma-la trong thời gian từ tháng 7 đến tháng 12 năm 2000 Tác giả đo lường tác động của kiều hối đến việc giảm đói nghèo thông qua xem xét mức độ quan trọng của kiều hối trong thu nhập của các hộ gia đình trong mẫu nghiên cứu Trong nghiên cứu, kiều hối được chia thành hai loại là kiều hối nội địa (chuyển qua lại trong Gua-te-ma-la), và kiều hối quốc tế (chuyển từ nước ngoài về) Kết quả, cả kiều hối nội bộ và quốc tế đều là thành phần quan trọng trong thu nhập của các hộ gia đình ở nước này Thêm vào đó cả hai hình thức của kiều hối đều làm giảm mức độ, độ sâu và tính phân hoá đói nghèo ở Gua-te-ma-la, kiều hối có tác động làm giảm tính phân hoá đói nghèo hơn là mức độ đói nghèo ở Gua-te-ma-la
Trang 16Gupta, Pattillo & Wagh, (2007) đánh giá tác động của sự phát triển
ổn định của dòng kiều hối đến 44 quốc gia vùng miền nam sa mạc
Sa-ha-ra nghiên cứu này phát hiện rằng kiều hối ổn định giảm đói nghèo trực tiếp, và thúc đẩy phát triển tài chính Mô hình sử dụng để phân tích tác động của kiều hối với nghèo đói sử dụng dữ liệu của một khảo sát từ năm
1980 về 76 quốc gia, gồm các biến mức độ nghèo đói, thu nhập bình quân đầu người, bất bình đẳng trong thu nhập (Chỉ số Gini), và kiều hối Mô hình phân tích tác động của kiều hối với sự phát triển tài chính sử dụng dữ liệu bảng không cân bằng của 44 quốc gia trong 6 giai đoạn 5 năm từ 1974 – 2004, gồm các biến đại diện cho GDP, GDP trên đầu người, lạm phát, xuất nhập khẩu, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, và kiều hối Các phương pháp ước lượng được dùng là phương pháp bình phương nhỏ nhất (OLS),
và hồi quy ba giai đoạn
Oke, B O và các cộng sự (2011) sử dụng dữ liệu hàng năm của giê-ri-a trong thời gian từ 1977 đến 2009, kết hợp phương pháp bình phương bé nhất (OLS) và phương pháp mô-men tổng quát (GMM) Phương pháp OLS cho thấy kiều hối ảnh hưởng trực tiếp và có ý nghĩa đến phát triển tài chính ở Ni-giê-ri-a, trong khi đối với phương pháp GMM, hệ số hồi quy của kiều hối lại không có ý nghĩa thống kê
Ni-Nhiều nhà nghiên cứu khác sử dụng dữ liệu ở phạm vi rộng hơn,
như Catrinescu và các cộng sự (2006), Giuliano và Ruiz-Arranz (2005),
và Chami, R và các cộng sự (2008)
Ý tưởng chính trong nghiên cứu của Catrinescu và các cộng sự (2006) là xem xét liệu kiều hối có thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong dài hạn thông qua đóng góp vào vốn tài chính và con người, hay kiều hối sẽ làm giảm tăng trưởng kinh tế trong dài hạn do làm giảm lao động và các tác động của “căn bệnh Hà Lan” Tác giả sử dụng dữ liệu về 162 quốc gia trong khoảng thời gian 34 năm, ước lượng bằng phương pháp dữ liệu bảng động (Dynamic Panel Data), với mô hình phần tích gồm các biến đại diện cho: Tăng trưởng GDP trên đầu người, GDP trên đầu người năm 1970,
Trang 17kiều hối (tỷ lệ kiều hối trên GDP), bình phương của tỷ lệ kiều hối trên GDP, tổng vốn đầu tư nội địa, vốn tư nhân ròng, và các chỉ số khác về môi trường chính trị và chính phủ Cuối cùng, nghiên cứu phủ nhận tác động tiêu cực của kiều hối lên tăng trưởng kinh tế, và chỉ ra rằng trình độ phát triển của các trung gian tài chính đóng vai trò quan trọng trong ảnh hưởng của kiều hối đến tăng trưởng kinh tế
Giuliano và Ruiz-Arranz (2005) sử dụng phương pháp mô-men tổng quát (GMM) phân tích dữ liệu về hơn 100 quốc gia trong khoảng thời gian
từ năm 1975 – 2002 để tìm hiểu quan hệ giữa tỷ lệ kiều hối trên GDP với tốc độ tăng trưởng GDP trên đầu người Mô hình nghiên cứu gồm các biến đại diện cho: Tốc độ tăng trưởng GDP trên đầu người, kiều hối, đầu tư, cán cân ngân sách, độ mở thương mại, lạm phát, tốc độ tăng dân số, số năm giáo dục trung học trung bình, lượng cho vay, lượng tiền gửi, lượng cung tiền M2 Nghiên cứu không tìm thấy tác động mang ý nghĩa thống
kê của kiều hối đến tăng trưởng kinh tế, nhưng ủng hộ quan điểm rằng kiều hối giúp làm giảm các khó khăn tài chính, do đó có tác động tích cực đến kinh tế chỉ ở các nước có khu vực tài chính kém phát triển
Chami, R và các cộng sự (2008) sau khi nghiên cứu dữ liệu của 84 quốc gia trong khoảng thời gian 1974 – 2004 lại không thể tìm thấy tác động tích cực của kiều hối đến tăng trưởng kinh tế Nghiên cứu sử dụng
ba mô hình phân tích mối quan hệ giữa biến phụ thuộc là tốc độ tăng GDP trên đầu người và các biến độc lập là tỷ lệ kiều hối trên GDP, bình phương của tỷ lệ kiều hối trên GDP, và tích của kiều hối và lượng cung tiền M2 trên GDP (thể hiện sự tương tác giữa kiều hối và phát triển tài chính), với
ba bộ biến điều kiện, bộ biến điều kiện cơ bản gồm mức GDP trên đầu người ban đầu của mỗi giai đoạn 5 năm, tỷ lệ thương mại trên GDP trung bình của mỗi giai đoạn 5 năm, tỷ lệ cung tiền M2 trên GDP (tất cả các biến được chuyển qua dạng lô-ga-rít), và tỷ lệ lạm phát; bộ biến điều kiện thứ hai gồm bộ thứ nhất và biến tổng vốn đầu tư nội địa; bộ biến điều kiện thứ
ba gồm bộ thứ hai và các biến đại diện cho vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài,
Trang 18cân đối ngân sách, tăng trưởng dân số và chỉ số rủi ro chính trị ICRG Biến công cụ là bình quân trọng số tốc độ tăng trưởng GDP trên đầu người của 20 quốc gia là đối tác thương mại lớn nhất của nược nhận kiều hối (đây là lần đầu tiên, chỉ số này được dùng làm biến công cụ trong các phân tích về kiều hối) Các phương pháp ước lượng được sử dụng là phương pháp ước lượng bình phương nhỏ nhất (OLS), ước lượng tác động cố định (fixed effects), và sử dụng các phương pháp trên cùng biến công cụ vừa nêu
Nhìn chung, các nghiên cứu thực nghiệm về kiều hối và kinh tế vẫn còn đưa ra các kết luận không đồng nhất Điều này có thể được lý giải bởi tình trạng các nghiên cứu khác nhau sử dụng các cách khác nhau để đo kiều hối, sử dụng các cách khác nhau để xác định tác động của kiều hối,
và mẫu nghiên cứu khác nhau nhiều về đối tượng cũng như thời gian nghiên cứu Barajas và các cộng sự (2009)
1.2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam
Tại Việt Nam hiện nay đã có một số công trình nghiên cứu về tác động của kiều hối đối với nền kinh tế Một số nghiên cứu nổi bật, có giá trị có thể kể ra như: Lê Thanh Tùng và Nguyễn Hồng Thái (2017), Lê Đạt Chí và Phan Thị Thanh Thúy (2014), Nguyễn Đức Thành (2007)
Lê Thanh Tùng và Nguyễn Hồng Thái (2017) đã sử dụng hai phương pháp hồi quy tác động cố định và tác động ngẫu nhiên với dữ liệu bảng gồm 7 quốc gia ASEAN trong giai đoạn 1990 – 2014 nhằm làm rõ sự tác động của kiều hối đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia 7 quốc gia này Kết quả nghiên cứu cho thấy kiều hối đã làm tăng sản lượng, qua đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia ASEAN Bên cạnh đó, kết quả cũng khẳng định đầu tư trong nước đã đóng góp nhiều nhất vào giá trị sản lượng tại các quốc gia trong khu vực trong thời kỳ nghiên cứu
Lê Đạt Chí và Phan Thị Thanh Thúy (2014) sử dụng phương pháp mô-men tổng quát chỉ ra tác động của kiều hối đến tăng trưởng kinh tế của các quốc gia trong mẫu là không tuyến tính Khi tỷ lệ kiều hối trên GDP
Trang 19tương đối thấp sẽ có tác động kích thích tăng trưởng kinh tế nhưng khi vượt qua một ngưỡng nào đó thì tác động của kiều hối trở nên tiêu cực Nghiên cứu này sử dụng dữ liệu bảng và phương pháp ước lượng mô-men tổng quát với biến công cụ (IV-GMM) cho 29 quốc gia đang phát triển từ 2000-2011 Các biến trong mô hình gồm tăng trưởng GDP bình quân đầu người, kiều hối, nguồn vốn đầu tư trong nước, tăng trưởng dân số, chi tiêu chính phủ, cung tiền M2 và tỷ lệ lạm phát Ngoài ra, nghiên cứu cũng sử dụng biến bình phương của tỷ lệ kiều hối trên GDP để xác minh tác động phi tuyến của kiều hối, và tích của kiều hối và lượng cung tiền M2 trên GDP (đại diện cho sự tương tác giữa kiều hối và phát triển tài chính) Nguyễn Đức Thành (2007) sử dụng kỹ thuật mô hình cân bằng tổng thể (CGE) để phân tích tác động của kiều hối lên nền kinh tế Việt Nam Nghiên cứu chỉ ra rằng kiều hối có ảnh hưởng phức tạp theo nhiều khuynh hướng khác nhau lên nền kinh tế của các nước đang phát triển Trong khi
hộ gia đình có khuynh hướng thu được lợi ích từ việc tăng thêm thu nhập, thì ảnh hưởng lên khu vực sản xuất lại không rõ ràng như vậy Dòng kiều hồi chảy có thể làm tăng tiêu dùng của một số mặt hàng, dẫn đến sự dịch chuyển trong cấu trúc của tổng cầu, từ đó gây áp lực phân phối lại các nhân tố sản xuất Các ước lượng trong nghiên cứu này cho thấy khu vực sản xuất công nghiệp chịu ảnh hưởng lớn nhất và có khuynh hướng bị thu hẹp Kết luận là trong dài hạn ảnh hưởng của kiều hối lên mặt cung của nền kinh tế có thể theo chiều hướng tiêu cực, và có thể lấn át những ảnh hưởng tích cực mang tính ngắn hạn từ phía cầu nếu kiều hối không được
sử dụng cho các mục đích đầu tư
Nhìn chung, các nghiên cứu của các tác giả Việt Nam đều chỉ ra những tác động tích cực của kiều hối như làm tăng nguồn vốn cho tiết kiệm và đầu tư, bù đắp thâm hụt cán cân vãng lai, tăng thu nhập cho người nhận kiềm hối, và các tác động tiêu cực như gây áp lực làm tăng tỷ giá hối đoái thực, hạn chế khu vực sản xuất, tiềm ẩn nguy cơ rửa tiền,
Trang 201.3 Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn nhằm xác định kiều hối có tác động như thế nào, tích cực hay tiêu cực, thông qua cách thức nào để tác động đến nền kinh tế của một số quốc gia ASEAN, từ đó đưa ra một số khuyến nghị chính sách để các quốc gia này
sử dụng tối ưu nguồn lực kiều hối
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
- Tác động của kiều hối đến nền kinh tế của một số quốc gia ASEAN
- Riêng trong phần nghiên cứu thực nghiệm, luận văn tập trung vào phân tích một yếu tố đại diện cho nền kinh tế là tăng trưởng kinh tế, với biến phụ thuộc đại diện cho nền kinh tế được lựa chọn là tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người hàng năm
Nhìn chung, khi xem xét tổng quát về một nền kinh tế, chỉ tiêu đầu tiên được phân tích là tốc độ tăng trưởng kinh tế Đồng thời do những trở ngại như khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn dữ liệu chính xác và đầy đủ về các yếu
tố của nền kinh tế của nhiều nước ASEAN, cũng như sự phức tạp trong việc phân tích các yếu tố này vượt quá khả năng của tác giả, nên luận văn này chỉ lựa chọn biến đại diện cho nền kinh tế như đã nêu trên
Phạm vi nghiên cứu:
- Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2000 đến năm 2016
- Không gian nghiên cứu: Tám quốc gia ASEAN, bao gồm: Cam-pu-chia, In-đô-nê-xi-a, Ma-lay-xi-a, My-an-ma, Lào, Phi-líp-pin, Thái Lan, và Việt Nam
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập số liệu:
- Dữ liệu sử dụng trong luận văn như lượng kiều hối, tốc độ tăng trưởng
GDP,… được lấy từ nguồn dữ liệu của Ngân hàng Thế giới, được cập nhật mới
nhất là tháng 10 năm 2017
Phương pháp xử lý số liệu:
- Phân tích, so sánh, thống kê các số liệu để đưa ra kết quả nghiên cứu
Trang 21- Xử lý số liệu bằng phần mềm thống kê STATA trên nền tảng kiến thức về xác suất, thống kê và kinh tế lượng để đưa ra được kết quả nghiên cứu có ý nghĩa
- Sử dụng phân tích hồi quy bằng 03 phương pháp ước lượng là bình phương nhỏ nhất gộp (pooled OLS), tác động cố định (fixed effects), và tác động ngẫu nhiên (random effects)
1.6 Cấu trúc luận văn
Luận văn gồm có năm chương:
Chương 1 Mở đầu
Chương 1 giới thiệu chung về đề tài, lý do chọn đề tài, tổng quan lịch sử nghiên cứu của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu,
và cấu trúc các chương của luận văn
Chương 2 Cơ sở lý luận về kiều hối và tác động của kiều hối đến nền kinh tế
Chương 2 tóm tắt lại các lý thuyết chung về tác động của kiều hối đến nền kinh tế và các lý thuyết liên quan để làm cơ sở lý luận cho các phân tích của luận văn
Chương 3 Tổng quan về tác động của kiều hối đến nền kinh tế của một số nước ASEAN
Chương 3 trình bày những nét chính về nền kinh tế và tình hình, đặc điểm của luồng kiều hối chảy vào một số nước ASEAN Một phần quan trọng của chương này là trình bày một số case study là quốc gia cụ thể trong ASEAN để thấy được tác động của kiều hối đến nền kinh tế
Chương 4 Nghiên cứu thực nghiệm về tác động của kiều hối đến tăng trưởng kinh tế của một số nước asean
Chương 4 trình bày chi tiết về dữ liệu, phương pháp và kết quả nghiên cứu thực nghiệm tác động của kiều hối đối với tăng trưởng kinh tế của một số nước ASEAN, đồng thời đưa ra giải thích về ý nghĩa của kết quả thu được
Chương 5 Kết luận
Trang 22Chương 5 tổng kết kết quả nghiên cứu trong luận văn, và đưa ra một số khuyến nghị chính sách chung dựa trên kết quả nghiên cứu và tổng hợp các lý thuyết trước đây về kiều hối
Ngoài ra, luận văn còn có phần danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục đính kèm
Trang 23CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỀU HỐI VÀ TÁC ĐỘNG CỦA
KIỀU HỐI ĐẾN NỀN KINH TẾ
Chương này trình bày các lý thuyết chung về di cư, kiều hối, và tác động của kiều hối đến nền kinh tế để làm cơ sở lý luận cho phần phân tích tiếp theo của luận văn
Các lý thuyết về di cư cần thiết được nêu ra do mối quan hệ giữa di cư và các dòng kiều hối, có di cư thì mới có kiều hối, và giữa các nguyên nhân của việc di cư
với các yếu tố tác động đến kiều hối
2.1 Lý thuyết chung về di cư
Theo Tổ chức Di cư Quốc tế, một cơ quan về di cư của Liên Hợp Quốc (IOM, 2017), di cư là việc một người hoặc một nhóm người vượt qua biên giới giữa các quốc gia, hoặc giữa các vùng trong một quốc gia, không kể thành phần nhóm người, thời gian hay nguyên nhân; bao gồm cả tị nạn, di cư vì mục đích kinh tế, di cư để đoàn tụ gia đình, và các lý do khác
Theo thống kê của Liên Hợp Quốc (United Nations, 2017), trong năm
2015, trên thế giới có khoảng 258 triệu người di cư quốc tế, chiếm xấp xỉ 3.4% dân số thế giới Trong đó có nhiều hình thức như di cư tự nguyện hoặc bị ép buộc, di cư hợp pháp hoặc trái phép Người tị nạn hoặc xin tị nạn là những người buộc phải di cư do các lý do chính trị hoặc môi trường sống và có thể là di cư trái phép, trong khi đó lao động di cư lại là tự nguyện, và đa phần là hợp pháp
Do gần như không có số liệu chính xác về số lượng người di cư trái phép, nên hầu như các thống kê về di cư đều là các con số ước tính Đồng thời, trong nhiều trường hợp, lao động giữa các quốc gia có thể tự do di chuyển mà không cần đăng ký, do giữa các quốc gia có các hiệp định về tự do di chuyển thể nhân, do
đó cũng rất khó để tính chính xác số lượng lao động di cư hợp pháp
Có rất nhiều trường phái lý thuyết khác nhau về di cư Có thể kể ra như lý thuyết tân cổ điển trong những năm 50 và 60, như Mô hình Lực hấp dẫn và Mô hình Todaro Trong những năm 70 và 80, lý thuyết lịch sử – cấu trúc xuất hiện,
có nguồn gốc từ trường phái kinh tế chính trị Mác-xít, tập trung chủ yếu vào hiện tượng chảy máu chất xám và sự hội nhập Trong những năm 90, đáp lại
Trang 24những lý thuyết trước đây, một lý thuyết mới mang tên Thuyết kinh tế mới về
di cư lao động trở thành trào lưu chính trong giai đoạn này
2.1.1 Thuyết tân cổ điển
Thuyết di cư tân cổ điển có thể được chia thành hai trường phái chính: Vi mô và Vĩ mô Lương, năng lực lao động và chi phí di cư là các
yếu tố quyết định trong cả hai trường phái (Massey, 1993)
Thuyết di cư tân cổ điển vĩ mô cho rằng các dòng lao động chuyển dịch do sự khác biệt trong tiền lương, từ những quốc gia có tiền lương thấp đến những quốc gia có tiền lương cao, và vốn sẽ chuyển dịch theo hướng ngược lại Các quốc gia có tiền lương thấp sẽ có nhiều lao động hơn một cách tương đối, và chính nguồn cung lao động lớn này giữ tiền lương ở mức thấp hơn Các quốc gia có tiền lương cao hơn có nguồn vốn dồi dào hơn một cách tương đối, do đó, vốn sẽ chuyển dịch sang các quốc gia lương thấp, và lao động sẽ chuyển dịch sang các quốc gia lương cao Quá trình này sẽ làm cho tiền lương trở về mức cân bằng Trong dài hạn, dòng
di cư sẽ suy giảm do sự cân bằng của tiền lương làm giảm động lực để lao động di cư
Thuyết di cư tân cổ điển vi mô lại giải thích di cư thông qua phân tích chi phí và lợi ích của các cá nhân mong muốn tối đa hóa thu nhập của bản thân Các cá nhân sẽ xem xét thu nhập ròng từ việc di cư trước khi quyết định Nếu khả năng có được việc làm với thu nhập dự kiến cao hơn các cơ hội ở quê nhà với chi phí di cư, cá nhân đó có thể sẽ di cư Mỗi cá nhân sẽ xem xét một mức thu nhập ròng từ việc di cư khác nhau, tùy thuộc vào hoàn cảnh của họ (Massey, 1993)
2.1.2 Thuyết lịch sử - cấu trúc
Trong những năm 70 và 80, đáp trả lại thuyết tân cổ điển, một thuyết mới có nguồn gốc từ Học thuyết kinh tế chính trị Mác-xít, mang tên thuyết lịch sử - cấu trúc được phát triển Thuyết này tập trung vào việc sử dụng lao động quy mô lớn, cho rằng di cư không phải là quyết định tự nguyện của các cá nhân, mà chính hệ thống kinh tế truyền thống buộc người ta
Trang 25phải rời khỏi quê hương mình để duy trì một sự phân phối nguồn lực bất bình đẳng giữa các quốc gia giàu và nghèo Theo đó, di cư là một cách duy trì nguồn lao động giá rẻ cho các quốc gia giàu có Thuyết này cho rằng,
di cư tạo ra sự kém phát triển và không thúc đẩy sự phát triển ở các quốc gia nghèo (Castles, 2014)
2.1.3 Thuyết kinh tế mới về di cư lao động
Thuyết kinh tế mới về di cư lao động xuất hiện vào những năm 90, phản biện lại những lý thuyết trước đây về di cư, đặc biệt là thuyết tân cổ điển Điểm mấu chốt của thuyết này là quyết định di cư không phải là quyết định cá nhân, mà là quyết định tập thể của gia đình người di cư Các quyết định di cư nhằm mục đích tối đa hóa thu nhập gia đình, đồng thời giảm thiểu rủi ro và giảm thiểu các ràng buộc do các thất bại thị trường Kiều hối có thể đóng vai trò như một khoản bảo hiểm cho các rủi ro trong tương lai Kiều hối cũng có thể được sử dụng như nguồn đầu tư, khi không thể tiếp cận với các nguồn vốn nhà nước hay tư nhân khác (Massey, 1993)
2.2 Lý thuyết chung về kiều hối
Kiều hối là dòng tiền từ người di cư ở nước ngoài chuyển về cho gia đình của họ ở tổ quốc (Koser, 2007) Nói một cách khác, kiều hối là dòng ngoại tệ được chuyển qua các cá nhân sống ở nước ngoài Khái niệm kiều hối chỉ bao hàm các dòng vốn tài chính, không bao hàm các sự luân chuyển khác như thông tin hay công nghệ Carling (2008) cho rằng chính kiều hối là động lực chính của
di cư
Ảnh hưởng của di cư không chỉ bó hẹp ở những người di cư, do trong rất nhiều trường hợp, người di cư để lại gia đình của mình ở nhà, sau đó gửi kiều hối về hỗ trợ cuộc sống của gia đình mình Hàng triệu người trên thế giới chịu ảnh hưởng trực tiếp của kiều hối Nguồn tiền này thường được sử dụng để xóa đói, giảm nghèo, cung cấp thực phẩm, quần áo, thuốc men, chỗ ở cho những người nhận kiều hối (Barajas và các cộng sự, 2009) Đồng thời, kiều hối làm tăng thu nhập của người nhận, và tăng dự trữ ngoại hối của quốc gia nhận Kiều hối còn góp phần kích thích sản xuất thông qua tăng tiêu dùng, và đầu tư vào
Trang 26thị trường nội địa Những lợi ích này có thể bù đắp được những tổn thất về nhân lực chất lượng cao mà một quốc gia phải chịu khi lao động di chuyển sang quốc gia khác (Ratha, 2005) Adelman và Taylor (1990) cho rằng mỗi Đô-la Mỹ kiều hối chuyển cho khu vực thành thị của Mê-xi-cô, từ lao động ở nước ngoài, làm tăng tổng sản phẩm quốc gia (GNP) thêm 2,9 Đô-la Mỹ, và tổng sản phẩm quốc gia của Mê-xi-cô tăng thêm 3,4 Đô-la Mỹ cho mỗi Đô-la Mỹ kiều hối mà vùng nông thôn nước này nhận được Sự khác biệt giữa hai trường hợp này là do những người sống ở nông thôn thường có xu hướng chi dùng kiều hối cho hàng hóa nội địa, nên nó có tác động lớn hơn đến nền kinh tế trong nước Lowell (2000) lại chỉ ra thêm rằng, kể cả khi kiều hối không được sử dụng để đầu tư,
mà được dùng cho các nhu cầu cơ bản hàng ngày, nó vẫn có tác động tăng cầu hàng hóa và dịch vụ, từ đó kích thích sản xuất, góp phần tạo thêm việc làm Phần tiếp theo sẽ trình bày các yếu tố tác động đến kiều hối Việc hiểu được động lực của kiều hối là cần thiết để phân tích các tác động của kiều hối đến nền kinh tế, do hai lý do sau Thứ nhất, lượng kiều hối được người di cư chuyển về cho gia đình phụ thuộc vào nguyên nhân ban đầu khiến một cá nhân lựa chọn việc di cư Lượng kiều hối và thời điểm chuyển kiều hối sẽ quyết định tác động của kiều hối đến nền kinh tế của nước nhận Thứ hai, mục đích chuyển kiều hối sẽ ảnh hưởng đến cách kiều hối được sử dụng, việc kiều hối được sử dụng như thế nào quyết định tác động của nó đến nền kinh tế của nước nhận Hiện nay, mặc dù có khá nhiều lý thuyết về nguyên nhân và mục đích của kiều hối, nguyên nhân và mục đích của kiều hối vẫn còn khá mơ hồ Một phần của thực trạng này là do hoạt động chuyển kiều hối, nhìn có vẻ đơn giản, nhưng thực ra rất phức tạp Một phần lại do sự thiếu hụt dữ liệu chính xác, từ đó khiến cho kết quả của các phân tích thống kê bị giới hạn rất lớn Bên cạnh đó, nhiều
dữ liệu về kinh tế hiện nay không được xây dựng vì mục đích nghiên cứu kiều hối nên không thể tận dụng tối đa được trong nghiên cứu kiều hối Ngoài ra, dữ liệu không được thu thập đồng đều giữa các đối tượng khác nhau, và phương pháp thu thập, thống kê cũng không thống nhất, dẫn đến nhiều kết quả nghiên
Trang 27cứu không đồng nhất, khó so sánh được với nhau (Chami, R và các cộng sự 2008)
Có ba khía cạnh chính cần quan tâm khi nghiên cứu về kiều hối, đó là điều
gì khiến cho người di cư chuyển kiều hối về quê nhà, cách kiều hối được sử dụng và lượng kiều hối Phần tiếp theo sẽ trình bày quan hệ giữa ba khía cạnh này
2.2.1 Động lực tạo kiều hối
Hầu hết lý thuyết về kiều hối hiện nay đưa ra hai động lực chính để một người chuyển kiều hối về quê nhà, đó là: Lòng vị tha và lợi ích cá nhân (hoặc mục đích trao đổi) (Chami, R và các cộng sự 2008)
Các nghiên cứu đầu tiên về kiều hối, như của Johnson và Whitelaw (1974) xác định và mô tả các chi phí và lợi ích của việc chuyển kiều hối về quê hương, thường thuộc vào nhóm các lý thuyết xác định lòng vị tha
là động lực của kiều hối Theo đó, các thành viên trong một gia định cảm thấy có nghĩa vụ giúp đỡ lẫn nhau, từ đó giải thích cho quyết định chuyển kiều hối về quê nhà (Stark và Lucas, 1988) Người di cư sẵn sàng chuyển các nguồn lực để bù đắp nhu cầu tiêu dùng hoặc đầu tư của các thành viên trong gia đình Các nguồn lực này có thể dưới dạng vật chất hoặc thời gian,
… Người di cư, trong trường hợp này, không cần sự đền đáp, trực tiếp hoặc gián tiếp, cho hành động của họ Sự chấp nhận hi sinh lợi ích của bản thân người di cư vì cuộc sống tốt hơn cho những người thân xuất phát từ tình yêu thương, sự lo lắng mà họ dành cho nhau Như vậy, các cá nhân tự
bị ràng buộc về ý thức để từ bỏ lợi ích cá nhân vì những người khác Nhiều nhà kinh tế học, đặc biệt là trong thời kỳ trước sự ra đời của thuyết kinh tế mới về di cư lao động, cho rằng các mối quan hệ trong gia đình dưới hình thức quan tâm lẫn nhau là động lực chính của kiều hối, đã nhắc đến động lực lòng vị tha của kiều hối
Một động lực khác khiến người di cư ở nước ngoài chuyển kiều hối về quê hương là vì lợi ích cá nhân của chính họ Các lý thuyết gần đây hơn tập trung nhiều hơn vào động lực này (Chami, R và các cộng sự 2008)
Trang 28Theo đó, người di cư mong muốn khi quay về quê hương sẽ được hưởng lợi ích từ mối quan hệ tốt với gia đình được duy trì bằng việc liên tục gửi kiều hối cho gia đình Hoặc, kiều hối được chuyển cho gia đình của người
di cư để đầu tư, và người di cư có thể được hưởng lợi từ lợi nhuận của các khoản đầu tư đó Hoặc, kiều hối có thể được dùng để mua các tài sản ở quê hương, sau đó, người di cư có thể quay về thừa kế tài sản này Nhìn chung, trong mối quan hệ này, gia đình có thể đóng nhiều vai trò khác nhau Gia đình có thể được xem như một trung gian quản lý các khoản đầu
tư bằng kiều hối của người di cư (Lucas và Stark, 1985), hoặc một công ty bảo hiểm bảo vệ các thành viên khỏi các cú sốc kinh tế bằng việc đa dạng hóa nguồn thu nhập (Aggarwal và Horowitz, 2002), hoặc trung gian tài chính cung cấp tài chính cho các thành viên (Poirine và Bernard, 1997) Ngoài ra, một số lý thuyết xem xét động lực của kiều hối mang tính dung hòa giữa hai giả thuyết nêu trên Theo đó, chuyển kiều hối cho gia đình là một thỏa thuận hai bên cùng có lợi giữa người chuyển và người nhận Thỏa thuận này có hai thành tố chính là đầu tư và rủi ro Di cư có thể được xem là một hành động để giảm thiểu rủi ro kinh tế một gia đình phải đối mặt bằng cách đa dạng hóa nguồn thu nhập Các gia đình có thể giảm rủi ro kinh tế bằng cách đưa thành viên trong gia đình sang làm việc
ở một nền kinh tế khác Người di cư sẽ gửi kiều hối về hỗ trợ gia đình mình khi gia đình gặp khó khăn, và ngược lại gia đình sẽ hỗ trợ người di
cư trong trường hợp người di cư không có việc làm, nghỉ hưu hoặc các tình huống làm giảm thu nhập của người di cư (Opong, K 2012)
2.2.2 Mục đích sử dụng kiều hối
Xem xét một cách đơn giản nhất, người di cư chuyển kiều hối để tối
đa hóa ích lợi của họ Mục đích này có thể đạt được thông qua một số cách
sử dụng kiều hối nhất định Các cách sử dụng này có thể được người chuyển và người nhận kiều hối cùng lên kế hoạch Cách sử dụng kiều hối
có thể cụ thể như mua hàng hóa, dịch vụ, tài sản hoặc cũng có thể chung chung Dù thế nào thì kiều hối cũng giúp thỏa mãn một số nhu cầu kinh tế
Trang 29cơ bản Theo đó, có thể phân loại cách sử dụng kiều hối bằng mục đích kinh tế của kiều hối (Chami, R và các cộng sự 2008)
Có thể chia mục đích kinh tế của kiều hối làm hai loại: Chia sẻ rủi ro (bảo hiểm) và thay đổi thói quen chi tiêu (tiêu dùng, tiết kiệm và đầu tư) Kiều hối có thể thay đổi mạnh thói quen tiêu dùng của những người nhận kiều hối, đặc biệt là những cá nhân có hoàn cảnh khó khăn Nguồn tiền dồi dào và đều đặn sẽ tạo điều kiện giúp người nhận kiều hối chi tiêu nhiều hơn cho các nhu cầu hàng ngày, những nhu cầu mà trong điều kiện không có kiều hối có thể không bao giờ được đáp ứng Số tiền dư ra sau khi được chi cho nhu cầu cơ bản có thể được tiết kiệm Thậm chí, lượng kiều hối lớn còn giúp cho các cá nhân nhận kiều hối đầu tư phát triển kinh
tế gia đình, ví dụ như đầu tư vào trang trại, chăn nuôi quy mô lớn
Theo một cách nhìn khác, có thể coi kiều hối như một khoản đảm bảo cho cuộc sống của cả người nhận kiều hối và người gửi kiều hối trước những biến động kinh tế mà họ có thể gặp phải Vai trò bảo hiểm của kiều hối càng quan trọng hơn khi thấy rằng những ít có rủi ro nào có thể tác động đến những người ở các quốc gia khác nhau cùng một lúc Khả năng cao là người ở nước ngoài không chịu rủi ro như thiên tai, tai nạn, lừa đảo, mất mùa, mà người ở trong nước gặp phải, và người ở trong nước cũng ít
bị tác động bởi các rủi ro ở nước ngoài Thậm chí, nhiều nghiên cứu đã chỉ
ra, trong trường hợp, người nhận kiều hối gặp sự cố, lượng kiều hối được chuyển về còn tăng mạnh do người gửi kiều hối muốn giúp đỡ người thân
ở quê hương
Người nhận kiều hối có trách nhiệm thực hiện ý định sử dụng kiều hối của người chuyển kiều hối Kiều hối có thể được dùng để mua hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng cuối cùng, hoặc tài sản tài chính, hoặc bất động sản Những cách sử dụng này có thể đúng theo ý muốn của người chuyển kiều hối, hoặc có thể hoàn toàn trái ngược với ý muốn của người chuyển kiều hối Người chuyển kiều hối hoàn toàn hiểu được điều này và có thể điều
Trang 30chỉnh lượng kiều hối chuyển về tùy thuộc vào sự sai khác giữa ý định của
họ và cách sử dụng kiều hối trên thực tế
2.3 Lý thuyết chung về tác động của kiều hối lên nền kinh tế
Cĩ thê thấy, kiều hối là một nguồn lực quan trọng đối với các quốc gia nhận kiều hối, đặc biệt là các nước đang phát triển Nguồn lực lớn như vậy cĩ tiềm năng ảnh hưởng cực kỳ lớn đến nền kinh tế của mỗi quốc gia
Cĩ khá nhiều lý thuyết kinh tế về tác động của kiều hối đến nền kinh tế của các nước nhận kiều hối Hầu hết các lý thuyết này tập trung vào ba tác động chính: Thứ nhất là tác động trực tiếp của kiều hối lên phân phối thu nhập, giảm nghèo, và tăng phúc lợi cá nhân; Thứ hai là tác động gián tiếp của kiều hối đến tổng thể nền kinh tế, phân tích qua các chỉ tiêu như tăng trưởng kinh tế, năng suất của nền kinh tế, hay tỷ lệ thất nghiệp; Thứ ba là tác động của kiều hối đến cán cân thanh tốn (OECD, 2006)
2.3.1 Kiều hối và phân phối thu nhập
Các lý thuyết về kiều hối và phân phối thu nhập hiện nay thường cĩ hai cách tiếp cận, hoặc coi kiều hối như một nhân tố ngoại sinh, hoặc coi kiều hối như phần thay thế cho thu nhập trong nước mà người di cư cĩ thể tạo ra nếu họ khơng di cư
Cách đơn giản nhất để xem xét tác động của kiều hối đến phân phối thu nhập giữa các hộ gia đình là coi nguồn tiền này như một khoản thu nhập tăng thêm vào thu nhập hiện tại của hộ gia đình Bằng cách này, một
số nhà nghiên cứu chỉ ra tác động làm giảm mất bình đẳng thu nhập của kiều hối ở các nước nhận kiều hối (Christian H E và Mặlan L G 2011) Đặc biệt là ở những nước mà việc di cư phổ biến, hoặc nhà nước tạo điều kiện hỗ trợ những người dân cĩ hồn cảnh khĩ khăn được xuất khẩu lao động để cải thiện cuộc sống
Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, cĩ vẻ như tác động ban đầu của kiều hối lại là làm trầm trọng thêm bất bình đẳng thu nhập do chủ yếu những người thu nhập tốt mới cĩ điều kiện di cư Điều này đặc biệt rõ ràng
ở những nước phát triển ở trình độ thấp, khi khả năng tiếp cận của người
Trang 31dân với việc di cư ra nước ngoài còn hạn chế do nhiều cản trở như: Không
có thông tin về việc di cư, chi phí di cư cao (phí cho người tuyển dụng, phí
hộ chiếu, phí visa, vé máy bay,…) Do đó, những gia đình khó khăn không thể tiếp cận được việc di cư, hoặc có biết đến cũng không thể chi trả được các chi phí này, dẫn đến nhưng gia đình có điều kiện lại là có người di cư
và có nhận thêm được kiều hối Vì thế, ở một mức độ nào đó, kiều hối lại
có thể là tác nhân gây trầm trọng thêm bất bình đẳng thu nhập ở những nơi nhận kiều hối (Ravanilla M và Robleza P 2003)
Thêm vào đó, làm việc ở nước ngoài đòi hỏi một trình độ học vấn và tay nghề nhất định Điều này càng làm cho những người thu nhập thấp bất lợi hơn người có thu nhập cao trong việc di cư do những người có thu nhập thấp thường có trình độ thấp hơn, khó đáp ứng yêu cầu của công việc ở nước ngoài
Tác động của kiều hối đến phân phối thu nhập còn phụ thuộc vào tỷ
lệ của kiều hối trong thu nhập của người nhận kiều hối Nếu tỷ lệ này thấp,
rõ ràng tác động của kiều hối đến bất bình đẳng thu nhập là không đáng
kể Nếu tỷ lệ này cao, vai trò của kiều hối trong việc làm giảm hoặc làm tăng sẽ lớn hơn nhiều lần
Như vậy, tác động của kiều hối đến phân phối thu nhập sẽ phụ thuộc vào trình độ phát triển cụ thể của những nước cung cấp nguồn lao động di
cư (Stark và Bloom 1985) Điều này có thể giải thích những kết quả khác nhau trong nghiên cứu về tác động của kiều hối đến bất bình đẳng thu nhập
ở những nước khác nhau Ngoài ra, tác động của kiều hối đến phân phối thu nhập ở một quốc gia cũng thay đổi theo thời gian nếu nghiên cứu trong một thời gian đủ dài Việc nghiên cứu trong thời gian dài như vậy cần tính đến sự thay đổi trong trình độ phát triển của quốc gia đó (như khả năng tiếp cận thông tin, thu nhập, hỗ trợ của nhà nước) để xác định các giai đoạn thay đổi của tác động của kiều hối đến phân phối thu nhập
Trang 322.3.2 Kiều hối và tăng trưởng kinh tế
Phần này sẽ xem xét các hướng mà kiều hối có thể tác động đến tăng trưởng kinh tế, bao gồm tích lũy tư bản, phát triển lực lượng lao động, và tăng năng suất các nhân tố tổng hợp
2.3.2.1 Kiều hối và tích lũy tư bản
Tích lũy tư bản có thể được xem xét dưới hai dạng là vốn vật chất và vốn con người
Kiều hối và tích lũy vốn vật chất
Theo Barajas, A., và các cộng sự (2009), có rất nhiều cách thức
để kiều hối có thể tác động đến tốc độ tích lũy tư bản của nước nhận kiều hối Cách rõ nhất có thể thấy là bằng việc làm tăng trực tiếp nguồn vốn, đặc biệt trong trường hợp nước nhận kiều hối phụ thuộc chủ yếu vào các nguồn vốn nội địa để đầu tư Từ góc độ kinh tế vi
mô, nếu một hộ gia đình đối mặt với các rào cản tài chính như thị trường tài chính kém phát triển, từ đó các cơ hội đầu tư bị bó hẹp, thì kiều hối có thể trực tiếp giúp hộ gia đình vượt qua các giới hạn đó, cho phép hộ gia đình nhận kiều hối tăng tích lũy vốn vật chất và con người
Tuy nhiên, tác động của kiều hối đến đầu tư nội địa không chỉ đơn giản là tăng thêm nguồn vốn cho đầu tư Trong nhiều trường hợp, việc tiếp cận được với kiều hối giúp cải thiện uy tín tín dụng của các nhà đầu tư nội địa, thì kiều hối còn có thể làm giảm chi phí vốn của nền kinh tế, Đồng thời, kiều hối cũng có thể thúc đẩy sự tăng trưởng tín dụng trong nền kinh tế, do những luồng kiều hối về trong tương lai có thể được dùng để trả cho những khoản nợ hiện tại Ngoài ra, kiều hối còn có thể tác động đến tích lũy tư bản của nền kinh tế bằng hiệu ứng làm ổn định nền kinh tế vĩ mô nội địa Ở một mức độ nhất định, các luồng kiều hối giúp cho nền kinh tế bớt biến động, từ đó làm giảm chi phí rủi ro của một khoản đầu tư, kết quả là làm cho các cơ hội đầu tư trở nên hấp dẫn hơn nhiều
Trang 33Tuy nhiên, các tác động của kiều hối không phải lúc nào cũng
có thể tác động tích cực Hoàn toàn có thể xảy ra khả năng kiều hối sẽ được người nhận chi hết cho tiêu dùng cuối cùng chứ không được đầu tư Đặc biệt, khi nguồn kiều hối được nhận là đều đặn, nó càng
có xu hướng kích thích tiêu dùng của người nhận hơn là kích thích đầu tư Ngoài ra, ở các nền kinh tế phát triển, thậm chí đang phát triển, thị trường tài chính ở đây đã phát triển ở một mức độ khá cao, khiến cho các rào cản tài chính không còn nhiều, từ đó, tác động của kiều hối đến việc làm giảm tác động tiêu cực của thị trường tài chính kém phát triển cũng không còn nhiều
Kiều hối và tích lũy vốn con người
Kiều hối có thể làm tăng đầu tư vào con người, bằng cách trực tiếp, như trang trải các chi phí sinh hoạt, giáo dục, y tế,…, hoặc bằng cách gián tiếp như cho phép trẻ em nghèo không phải nghỉ học sớm
để đi làm phụ giúp gia đình, từ đó làm tăng vốn con người Edwards
và Ureta (2003) sau khi nghiên cứu 8000 gia đình ở El San-va-do, đã kết luận rằng kiều hối đóng vai trò chủ yếu trong việc duy trì việc học của các trẻ em nơi đây Tuy nhiên, tác động theo dạng này còn phụ thuộc vào tỷ lệ tham gia vào lực lượng lao động trong nước của những người nhận kiều hối Nếu một tỷ lệ lớn trẻ em, sau khi được hưởng lợi từ kiều hối, di cư đến một quốc gia khác, thì kiều hối khó
có tác động tích cực đến tích lũy vốn con người (Barajas, A., và các cộng sự, 2009)
2.3.2.2 Kiều hối và phát triển lực lượng lao động
Kiều hối có thể ảnh hưởng đến lực lượng lao động thông qua tỷ
lệ tham gia lực lượng lao động và tỷ lệ sinh
Thông qua tỷ lệ tham gia lực lượng lao động, kiều hối có thể có tác động tiêu cực đến lực lượng lao động do lượng kiều hối lớn có thể làm giảm nỗ lực lao động của người nhận, người nhận có thể
Trang 34không cần lao động mà sống nhờ vào kiều hối, từ đó tỷ lệ tham gia lực lượng lao động và nguồn cung lao động của nền kinh tế sẽ bị giảm Kozelt và Alderman (1990), nghiên cứu tỷ lệ tham gia lực lượng lao động và nguồn cung lao động tại Pakistan, đã tìm thấy mối quan hệ ngược chiều đáng chú ý giữa kiều hối và tỷ lệ tham gia lực lượng lao động nam
Thông qua tỷ lệ sinh, có thể cho rằng điều kiện kinh tế tốt hơn
và nhiều thời gian rảnh rỗi hơn, kết quả của việc nhận được kiều hối,
có thể làm tăng tỷ lệ sinh, từ đó làm tăng nguồn cung lao động Tuy nhiên, giả thiết này không thực sự được chứng minh trên thực tế Fargues (2007) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa hai chỉ số này ở Ma-rốc, Thổ Nhĩ Kỳ và Ai Cập, kết quả là mối quan hệ thuận mạnh ở Ai Cập và mối quan hệ nghịch mạnh ở Ma-rốc và Thổ Nghĩ Kỳ
2.3.2.3 Kiều hối và năng suất các nhân tố tổng hợp
Theo Barajas, A., và các cộng sự (2009), kiều hối có thể tác động đến năng suất các nhân tố tổng hợp thông qua hiệu quả của việc đầu tư nội địa, cũng như quy mô của các khu vực kinh tế tạo ra ảnh hưởng ngoại lai tích cực Các tác động này lại phụ thuộc vào các nhân tố cụ thể của từng nền kinh tế
Tác động của kiều hối đến hiệu quả đầu tư phụ thuộc vào chất lượng của trung gian tài chính trong nước đầu tư các khoản kiều hối
đó Trong trường hợp kiều hối được người di cư chuyển về nước cho người thân, sau đó người thân đóng vai trò trung gian đầu tư khoản tiền này thay cho người di cư, nếu người thân có năng lực đầu tư thấp hơn năng lực đầu tư của các trung gian tài chính trong nước khác, thì
rõ ràng hiệu quả của khoản tiền này dưới dạng kiều hối sẽ thấp hơn hiệu quả của khoản tiền này dưới dạng dòng tiền đầu tư trực tiếp cho các trung gian tài chính Đồng thời, hiệu quả tác động của kiều hối cũng phụ thuộc vào lượng kiều hối được sử dụng để đầu tư
Trang 35Kiều hối cũng có thể ảnh hưởng đến năng lực phân phối tư liệu sản xuất của nền kinh tế nhận kiều hối Kiều hối làm tăng lượng vốn chảy vào hệ thống ngân hàng, từ đó có thể thúc đẩy sự phát triển tài chính, dẫn đến góp phần tăng trưởng kinh tế, thông qua hai cách thức: Một là tăng tính kinh tế theo quy mô của các trung gian tài chính; hai
là tác động kinh tế chính trị, mà người gửi tiền giá trị lớn hơn có khả năng tạo áp lực để chính phủ thực hiện cải cách làm tăng hiệu quả của hệ thống tài chính Tuy nhiên, những tác động tích cực kể trên đều không chắc chắn Người gửi tiền có thể vận động chính phủ thực hiện các thay đổi đảm bảo sự an toàn cho tài sản của họ, thay vì làm tăng tính hiệu quả của hệ thống tài chính, do đó các ngân hàng có thể tăng giữ tiền thay vì dùng tiền để đầu tư vào các cơ hội mạo hiểm hơn, nhưng có khả năng sinh lời cao hơn
Ngoài ra, còn có tác động kinh tế chính trị của kiều hối Kiều hối cung cấp nguồn thu nhập không phụ thuộc vào quá trình sản xuất nội địa cho các cá nhân Từ đó, quan tâm của các cá nhân đối với nền kinh tế nội địa giảm đi, kết quả là các chính sách của chính phủ không được suy tính kỹ càng khi không có sự giám sát của người dân sẽ có hiệu ngày càng thấp Hiệu quả của các chính sách chính phủ thấp đi, trong dài hạn nền kinh tế đi xuống Tác động của nền kinh tế kém hiệu quả một phần được chuyển cho những người di cư ở nước ngoài, làm cho hiệu quả kém của nền kinh tế bớt rõ ràng hơn, khiến chính phủ không có nhu cầu cải cách kinh tế Khi cuộc sống của người thân trong nước gặp khó khăn, người di cư có thể tăng chuyển kiều hối về nước để hỗ trợ người thân Điều này làm cho tình hình trong nước càng thêm trầm trọng Như vậy, kiều hối có thể tác động đến hiệu quả hoạt động của chính phủ nước nhận kiều hối Chính phủ hoạt động kém sẽ tác động tiêu cực đến cả tích lũy tư bản, tăng trưởng lực lượng lao động và năng suất các nhân tố tổng hợp Abdih và các cộng
Trang 36sự (2008) đã chứng minh được tác động tiêu cực của kiều hối lên chất lượng của chính phủ nước nhận kiều hối
Nhìn chung, kiều hối có thể có nhiều tác động lớn, theo nhiều chiều hướng, thậm chí trái ngược nhau, đến tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, các tác động này lại không chắc chắn, có thể xảy ra có thể không
2.3.3 Kiều hối và cán cân thanh toán
Không chỉ có tác động đến thu nhập của hộ gia đình và tăng trưởng kinh tế mà kiều hối còn có tác động đến cán cân thanh toán của quốc gia nhận kiều hối
Theo OECD (2006), kiều hối có thể có tác động trực tiếp làm giảm thâm hụt cán cân thanh toán, đồng thời làm giảm thiếu hụt nguồn cung ngoại tệ của quốc gia nhận kiều hối Luồng ngoại tệ này có thể làm giảm tác động tiêu cực của thâm hụt cán cân thanh toán đến nền kinh tế
Tuy nhiên, kiều hối cũng có thể có những tác động gián tiếp tiêu cực lên cán cân thanh toán của quốc gia nhận kiều hối, tùy thuộc vào tác động của kiều hối đến sản xuất, và xuất nhập khẩu của quốc gia đó Một trong những yếu tố quan trọng cần xét đến là liệu nhu cầu tăng thêm trong nước
do kiều hối tăng có thể được đáp ứng bằng sản xuất trong nước hay không Nếu sản xuất trong nước không có khả năng đáp ứng được nhu cầu tăng cao của hộ gia đình do thu nhập tăng nhờ kiều hối, nhập khẩu vào quốc gia đó sẽ tăng lên để đáp ứng nhu cầu, từ đó làm tăng thâm hụt cán cân thanh toán
Một tác động tiêu cực khác của kiều hối đến cán cân thanh toán xảy
ra kiều hối có thể làm tăng tỷ giá hối đoái thực cân bằng (Montiel, 2006) Tác động của kiều hối đến giá trị đồng nội tệ thông qua biến tỷ giá hối đoái được nghiên cứu và định nghĩa thành thuật ngữ “Căn bệnh Hà Lan”, thuật ngữ này được sử dụng lần đầu tiên để mô tả hiện tượng tại Hà Lan, khi ngành khai thác khí ga tự nhiên phát triển thu hút dòng vốn nước ngoài
từ đó làm tăng giá trị của đồng nội tệ nước này, làm cho giá hàng hóa xuất
Trang 37khẩu đắt hơn và hàng hóa nhập khẩu rẻ hơn tương đối, nên làm giảm khả năng cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu của Hà Lan vì vậy ảnh hưởng tiêu cực lên cán cân thương mại (Nguyễn Phúc Cảnh 2015) Tuy nhiên, quan
hệ giữa kiều hối và tỷ giá hối đoái thực cân bằng cũng không chắc chắn,
và phụ thuộc vào đặc điểm của khu vực sản xuất ở mỗi nền kinh tế Phần tiếp theo sẽ xem xét cụ thể một số tác động của kiều hối đến nền kinh tế của một số nước ASEAN
Trang 38CHƯƠNG 3 TỔNG QUAN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA KIỀU HỐI ĐẾN
NỀN KINH TẾ CỦA MỘT SỐ NƯỚC ASEAN
Chương này sẽ giới thiệu một cách sơ lược về kiều hối và tác động của nó đến nền kinh tế của một số nước ASEAN, từ đó có thể thấy được thực trạng tác động kiều hối hiện nay của một số nước trong phạm vi nghiên cứu
3.1 Tổng quan về nền kinh tế ASEAN
Đông Nam Á là một khu vực của châu Á, bao gồm các nước nằm ở phía nam Trung Quốc, phía đông Ấn Độ và phía bắc của Úc, bao gồm 11 quốc
gia: Việt Nam, Cam-pu-chia, Đông Ti-mo, In-đô-nê-xi-a, Lào, Ma-lay-xi-a My-an-ma, Phi-líp-pin, Xinh-ga-po, Thái Lan và Bru-nây
Năm 1967, năm quốc gia tại khu vực Đông Nam Á là Thái Lan, In-đô-nê-xi-a, Ma-lay-xi-a, Xinh-ga-po, và Phi-líp-pin thành lập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á, gọi tắt là ASEAN Sau đó, tổ chức này tiếp tục kết nạp thành viên Từ năm 1999 đến nay, ASEAN có 10 thành viên chính là 10 quốc gia tại khu vực Đông Nam Á bao gồm, Việt Nam, Cam-pu-chia, In-đô-nê-xi-a , Lào, Ma-lay-xi-a, My-an-ma, Phi-líp-pin, Xinh-ga-po, Thái Lan và Bru-nây
Hình 3.1 Vị trí các nước ASEAN
Trang 39ASEAN bao gồm diện tích đất gần 4,49 triệu km², chiếm khoảng 3% tổng diện tích đất của Trái Đất, và có số dân năm 2015 là gần 629 triệu người, khoảng 8,8% dân số thế giới Vùng biển của ASEAN lớn hơn ba lần so với vùng đất liền Năm 2015, tổng GDP danh nghĩa tại ASEAN là hơn 2,4 nghìn tỷ Đô-la
Mỹ Nếu ASEAN là một thực thể duy nhất, quốc gia đó sẽ xếp hạng trong các nền kinh tế lớn thứ 6 trên thế giới, sau Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Pháp và Đức (ASEAN Secretariat, 2016)
Biểu đồ 3.1 GDP các quốc gia cao nhất thế giới
Nguồn: ASEAN Secretariat (2016)
Năm 2016, ASEAN vươn lên trở thành nền kinh tế lớn thứ 6 của thế giới
và thứ 3 châu Á với GDP đạt 2.550 tỷ USD năm 2016 Đến năm 2020,
ASEAN được dự báo sẽ trở thành nền kinh tế lớn thứ 4 toàn cầu
Trong suốt hơn 20 năm qua, trừ khoảng thời gian khủng hoảng tài chính
1997 – 1998 và khủng hoảng kinh tế thế giới 2008 – 2009, tốc độ tăng trưởng GDP của khối ASEAN đạt mức trung bình khoảng 6%, thuộc loại cao nhất thế giới
0 2,000
Trang 40Biểu đồ 3.2 Tốc độ tăng trưởng GDP của các nước ASEAN
(2010 – 2015)
Nguồn: ASEAN Secretariat (2016)
Trong những năm qua, các nước ASEAN đã đạt được những thành tựu đáng kể trong quá trình xóa đói, giảm nghèo Đặc biệt một số quốc gia như Việt Nam hay In-đô-nê-xi-a, tỷ lệ dân số sống trong mức nghèo cùng cực (có thu nhập một ngày dưới 1,9 đô-la Mỹ (tính theo ngang giá sức mua năm 2011) đã giảm một nửa trong vòng khoảng 5 năm
Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ dân số nghèo cùng cực ở một số nước ASEAN