1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát tín ngưỡng giải hạn qua dân ca nghi lễ Tày ở Pác Nặm Bắc Kạn (Luận văn thạc sĩ)

104 79 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khảo sát tín ngưỡng giải hạn qua dân ca nghi lễ Tày ở Pác Nặm Bắc Kạn (Luận văn thạc sĩ)Khảo sát tín ngưỡng giải hạn qua dân ca nghi lễ Tày ở Pác Nặm Bắc Kạn (Luận văn thạc sĩ)Khảo sát tín ngưỡng giải hạn qua dân ca nghi lễ Tày ở Pác Nặm Bắc Kạn (Luận văn thạc sĩ)Khảo sát tín ngưỡng giải hạn qua dân ca nghi lễ Tày ở Pác Nặm Bắc Kạn (Luận văn thạc sĩ)Khảo sát tín ngưỡng giải hạn qua dân ca nghi lễ Tày ở Pác Nặm Bắc Kạn (Luận văn thạc sĩ)Khảo sát tín ngưỡng giải hạn qua dân ca nghi lễ Tày ở Pác Nặm Bắc Kạn (Luận văn thạc sĩ)Khảo sát tín ngưỡng giải hạn qua dân ca nghi lễ Tày ở Pác Nặm Bắc Kạn (Luận văn thạc sĩ)Khảo sát tín ngưỡng giải hạn qua dân ca nghi lễ Tày ở Pác Nặm Bắc Kạn (Luận văn thạc sĩ)Khảo sát tín ngưỡng giải hạn qua dân ca nghi lễ Tày ở Pác Nặm Bắc Kạn (Luận văn thạc sĩ)Khảo sát tín ngưỡng giải hạn qua dân ca nghi lễ Tày ở Pác Nặm Bắc Kạn (Luận văn thạc sĩ)

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN HẢI BẰNG

KHẢO SÁT TÍN NGƯỠNG GIẢI HẠN QUA DÂN CA

NGHI LỄ TÀY Ở PÁC NẶM - BẮC KẠN

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC

VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

THÁI NGUYÊN - 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC

VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS VŨ THỊ TÚ ANH

THÁI NGUYÊN - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS TS Vũ Tú Anh trong khuôn khổ chương trình đào tạo Thạc sĩ chuyên ngành Văn học Việt Nam, Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên

Thái Nguyên, tháng 7 năm 2018

Tác giả luận văn

Nguyễn Hải Bằng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận văn này là kết quả của một quá trình học tập và nghiên cứu của bản thân tôi ở bộ môn Văn học Việt Nam, Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên Khi hoàn thành luận văn, tôi muốn được gửi lời cảm ơn chân thành nhất những người đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian đầy thách thức nhưng rất quan trọng với cuộc đời và sự nghiệp của tôi Trước tiên, tôi xin được gửi lời tới PGS TS

Vũ Thị Tú Anh lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất, cảm ơn cô đã hướng dẫn tôi tận tình trong quá trình hình thành ý tưởng, xây dựng đề cương nghiên cứu, triển khai thu thập tài liệu và viết kết quả nghiên cứu thành bản luận văn này

Tôi cũng muốn được bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô trong bộ môn Văn học Việt Nam, Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã dạy tôi những tri thức khoa học và tạo điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn này

Trong quá trình khảo sát, điền dã Tín ngưỡng giải hạn qua dân ca nghi lễ Tày ở địa bàn huyện Pác Nặm, luận văn này đã nhận được nhiều sự hỗ trợ, quan tâm và lời động viên từ nhiều ban, ngành, đồng nghiệp, bà con nhiều xã trên địa bàn huyện Nhân đây, tôi muốn cảm ơn thầy Then Dương Văn Mu, thầy Mo Hoàng Văn Phúc và Hoàng Văn Lý, những người đã hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong các chuyến điền dã tín ngưỡng giải hạn trên địa bàn huyện Pác Nặm

Gia đình và bạn bè tôi chính là động lực tinh thần quan trọng giúp tôi hoàn thành luận văn này Tôi luôn ghi nhận và cảm kích với những hỗ trợ và động viên của họ trong suốt quá trình tôi thực hiện đề tài luận văn này

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC BẢNG, HÌNH iv

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 3

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 6

4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 6

5 Phương pháp nghiên cứu 7

6 Bố cục đề tài 7

7 Dự kiến kết quả nghiên cứu 7

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÍN NGƯỠNG GIẢI HẠN QUA DÂN CA NGHI LỄ DÂN TỘC TÀY HUYỆN PÁC NẶM, TỈNH BẮC KẠN 9

1.1 Một số nghiên cứu về tín ngưỡng và nghi lễ ở Việt Nam 9

1.2 Các công trình nghiên cứu về văn học dân gian Tày 12

1.3 Các công trình nghiên cứu âm nhạc dân gian 16

1.4 Những công trình khác 18

Tiểu kết chương 1 18

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM NỘI DUNG TÍN NGƯỠNG GIẢI HẠN QUA DÂN CA NGHI LỄ DÂN TỘC TÀY HUYỆN PÁC NẶM, TỈNH BẮC KẠN 20

2.1 Những quan niệm của người Tày Pác Nặm liên quan tới tín ngưỡng giải hạn qua dân ca nghi lễ Then của dân tộc Tày 20

2.1.1 Quan niệm về vũ trụ 20

2.1.2 Quan niệm về ma (phi), vía (khoăn), số phận (thổ), tướng mạo (mình) Quan niệm về ma 20

Trang 6

2.2 Nguyên nhân thực hành nghi lễ Then giải hạn 24

2.3 Thực hành trong nghi lễ giải hạn qua dân ca (Then) của người Tày ở Pác Nặm 27

2.3.1 Người thực hành nghi lễ Then giải hạn 27

2.3.2 Đồ lễ/ đồ cúng trong nghi lễ Then giải hạn 30

2.3.3 Tiến hành một nghi lễ Then giải hạn của người Tày ở Pác Nặm 32

2.3.4 Một số đoạn trích trong lời Then cúng 37

2.4 Thực hành trong nghi lễ giải hạn qua dân ca bằng chữ Nôm Tày (những thầy Mo) của người Tày ở Pác Nặm 42

2.4.1 Quan niệm về vũ trụ 42

2.4.2 Tín ngưỡng giải hạn của thầy Mo, Tào ở Pác Nặm thể hiện trường phái tôn giáo 44

2.4.3 Những văn bản về lễ cúng giải hạn cầu an của người Tày và cách diễn xướng trong lễ cúng giải hạn (cầu an) 45

2.4.4 Thời gian, không gian và cách diễn xướng và trang phục, đạo cụ của nghi lễ giải hạn (cầu an) bằng chữ Nôm tày 46

2.4.5 Nội dung của văn bản Mo giải hạn bằng chữ Nôm Tày ở Pác Nặm 49

Tiêu kết chương 2 63

Chương 3 GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT TÍN NGƯỠNG GIẢI HẠN QUA DÂN CA NGHI LỄ DÂN TỘC TÀY HUYỆN PÁC NẶM, TỈNH BẮC KẠN 64

3.1 Nghi lễ giải hạn qua dân ca ở Pác Nặm và sự thể hiện những giá trị văn hóa và cuộc sống của người Tày 64

3.2 Giá trị nghệ thuật tín ngưỡng giải hạn qua dân ca nghi lễ Tày ở Pác Nặm - Bắc Kạn 69

3.2.1 Các thể hát dân ca nghi lễ 69

3.2.2 Thành tố văn học trong nghi lễ giải hạn qua dân ca 77

3.2.3 Nghệ thuật làn điệu tín ngưỡng giải hạn qua dân ca nghi lễ Tày ở Pác Nặm - Bắc Kạn 78

Trang 7

3.2.4 Thành tố mỹ thuật trong các nghi lễ giải hạn qua dân ca 79

3.3 Nghi lễ giải hạn và an ninh sức khỏe, an ninh sinh kế đối với người Tày 81

Tiêu kết chương 3 83

KẾT LUẬN 83

TÀI LIỆU THAM KHẢO 86 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC BẢNG, HÌNH

Bảng:

Bảng 3.1: Bảng tổng hợp người am hiểu hát dân ca nghi lễ Tày Pác Nặm 69 Bảng 3.2: Bảng thống kê số lượng người hát Then cổ, Then mới ở Pác Nặm 72 Bảng 3.3: Bảng tổng hợp tên gọi và làn điệu Then Bắc Kạn 74 Bảng 3.4: Bảng so sánh số lượng người hát dân ca Tày Bắc Kạn 77

Hình:

Hình 2.1: Lầu kỷ tượng trưng cho mường trời 50 Hình 2.2: Hình nộm mão làng 51 Hình 2.3: Giải hạn thêm lương thực cho bài mệnh, cho người được giải hạn 52 Hình 2.4: Con cháu tạ lễ công ơn sinh thành của ông bà, cha mẹ 53 Hình 2.5: Mâm cúng Nam Tào, Bắc Đẩu 55 Hình 2.6: Lời cúng và niệm chú trong nghi lễ giải tinh kỷcủa thầy Hoàng

Văn Phúc 56 Hình 2.7: Thầy cúng Hoàng Văn Phúc ban phúc lộc cho cả gia chủ 61

Trang 9

Bắc Kạn là vùng văn hóa của người Tày có cuội nguồn lịch sử hàng ngàn năm Nơi đây đang lưu giữ một kho tàng nghệ thuật dân gian đồ sộ, trong đó phải nhắc tới nhiều làn điệu dân ca chưa được nghiên cứu tỉ mỉ, có hệ thống Trữ lượng âm nhạc dân gian Bắc Kạn rất phong phú với nhiều thể hát, lối hát khác nhau đã đặt ra yêu cầu cần phải có chính sách, phương pháp bảo tồn nguồn di sản quý báu của nhiều thế hệ người Tày Bắc Kạn sáng tạo nên

Nghi lễ giải hạn qua dân ca (lẩu then, lẩu pụt, Mo) của người Tày ở Pác Nặm- Bắc Kạn, phản ánh một trong những nét văn hóa tâm linh đặc sắc mạng đậm chất tín ngưỡng đặc thù của dân tộc Tày

Phong tục cúng giải hạn của dân tộc Tày ở Pác Nặm- Bắc Kạn đã có từ rất lâu, và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Cho đến nay nghi

lễ này vẫn được thực hành bởi nhiều thế hệ trong các gia đình và cộng đồng người Tày

Pác Nặm là một huyện vùng cao của tỉnh Bắc Kạn Tuy đời sống của đồng bào dân tộc còn gặp nhiều khó khăn, nhưng cứ vào độ xuân về, khi vào thời điểm

cỏ cây, hoa lá trong rừng nở rộ, nhất là sau tết nguyên đán thì các hộ gia đình người Tày lại tìm gặp thầy Tào, thầy Mo, thầy Then, thầy Pụt, để xem ngày lành, sau đó tiến hành chuẩn bị lễ vật và đi đón thầy Tào, thầy Mo, thầy Then Thầy

Trang 10

Pụt đến nhà để làm lễ cúng giải hạn cho các con cháu gia đình, nhằm xua đuổi cái xấu, cầu mong một năm an lành, mùa màng bội thu…

1.2 Nghiên cứu dân ca nghi lễ Tày từ góc độ văn hóa, văn học dân tộc Tày

Trong số các nghiên cứu về đời sống văn hóa, những vấn đề về tín ngưỡng

và nghi lễ của người Tày là những chủ đề được nhiều nhà khoa học quan tâm và nghiên cứu Tuy nhiên đời sống tín ngưỡng và nghi lễ của người Tày lại chỉ là một phần trong các công trình nghiên cứu tổng quan về các dân tộc Tày Tuy nhiên theo khảo sát của chúng tôi mới chỉ một vài công trình nghiên cứu chuyên sâu và chuyên biệt về các vấn đề tín ngưỡng và nghi lễ của người Tày, chủ yếu tập trung vào các vấn đề (số lượng, nội dung, các chặng tín ngưỡng giải hạn dân tộc Tày, các hình thức diễn xướng…) Trong các công trình nghiên cứu này, Then và Mo là vấn đề thu hút được sự quan tâm của nhiều tác giả hơn cả Then

và Mo được khảo sát trên địa bàn rộng và thường được xem xét dưới góc độ hình thức diễn xướng dân gian Với những người hành nghề Then và Mo, một trong những công việc quan trọng và chủ yếu nhất của họ là thực hành nghi lễ giải hạn, cầu an theo các yêu cầu của gia chủ

1.3 Giảng dạy dân ca nghi lễ Tày ở Pác Nặm - Bắc Kạn

Giải hạn là một trong những nghi lễ tồn tại phổ biến trong đời sống của cộng đồng người Tày truyền thống và hiện đại ở huyện Pác Nặm- Bắc Kạn Là một giáo viên công tác tại huyện Pác Nặm- Bắc Kạn 12 năm và xuất phát từ thực tiễn cuộc sống và công việc của một giáo viên Ngữ văn ở trường THPT Bộc Bố, tôi mong muốn tìm hiểu bản sắc dân tộc, nghi lễ văn hóa truyền thống của dân tộc Tày, cũng như của các dân tộc khác để có thể giảng dạy những giá trị nhân văn, nhân bản cho những người học trò địa phương thật sâu sắc và đầy đủ với tâm hồn con người

và bản sắc văn hóa địa phương Tôi nghĩ, là một thầy giáo dạy văn, mình cần hiểu văn học từ bối cảnh văn hóa, từ văn hóa lại hiểu thêm cái hay cái đẹp của ngôn ngữ trong những áng văn gắn liền với phong vị đời sống văn hóa dân gian Từ đó tạo tiền đề đi sâu tìm hiểu, khám phá các tác phẩm và giúp học sinh có cái nhìn sâu sắc hơn về bản sắc, văn hóa của dân tộc mình

Trang 11

2 Lịch sử vấn đề

Trên cơ sở các mục tiêu nghiên cứu đã nêu, tôi triển khai nghiên cứu này nhằm thu thập hai loại tài liệu nghiên cứu Loại thứ nhất là kết quả nghiên cứu (sách, báo, luận án…) đã được các nhà khoa học công bố về người Tày, văn hóa Tày và đời sống tín ngưỡng cũng như đời sống tâm linh của người Tày ở Việt Nam Loại thứ hai quan trọng hơn đó là các tài liệu dân tộc học do tôi thu thập

được trong quá trình điền dã ở trên địa bàn nghiên cứu

Trong phạm vi nghiên cứu này, tôi sử dụng khái niệm nghi lễ giải hạn với

ý nghĩa là chỉ hình thức nghi lễ giải hạn của Then và Mo, diễn xướng giải hạn qua các lời dân ca của dân tộc Tày

Với tầm quan trọng của nó trong đời sống văn hóa của dân tộc Việt Nam nói chung, của mỗi tộc người cụ thể nói riêng, tài liệu nghiên cứu về tín ngưỡng

và nghi lễ phản ánh hai xu hướng chính về các vấn đề này Thứ nhất, đó là những công trình nghiên cứu mang tính lý luận và trình bày những đặc điểm chung của các tín ngưỡng, các nghi lễ của các tộc người ở Việt Nam Một trong số các công

trình nghiên cứu tiêu biểu theo hướng này là Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng của Việt nam (2001) của tác giả Ngô Đức Thịnh đã có những phác họa về tín

ngưỡng của các tộc người ở Việt Nam Trong đó, tác giả trình bày về những tín ngưỡng: Tín ngưỡng thờ tổ tiên; Tín ngưỡng thờ thành hoàng; Đạo mẫu; Tín ngưỡng Đức Thánh Trần; Tín ngưỡng nghề nghiệp Tác giả cũng đưa ra mối quan

hệ giữa tín ngưỡng và âm nhạc cổ truyền, cũng như đưa ra những chức năng của tín ngưỡng trong đời sống sinh hoạt cộng đồng Có thể nói đây là một công trình khái quát về tín ngưỡng của tộc người ở Việt Nam

Công trình Góp phần tìm hiểu tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam (2007) của

tác giả Nguyễn Đức Lữ tìm hiểu về tín ngưỡng dân gian trong đời sống tinh thần như lễ hội, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, thờ Thành hoàng, thờ mẫu, phồn thực và

mê tín dị đoan Tác giả cũng phân tích thực trạng của những tín ngưỡng dân gian cũng như những biểu hiện của chúng trong giai đoạn hiện nay

Trang 12

Xu hướng nghiên cứu thứ hai là những khảo cứu về tín ngưỡng và nghi lễ của các tộc người Trong số đó, có thể kể ra công trình nghiên cứu của tác giả Lý

Hành Sơn trong cuốn Các nghi lễ chủ yếu trong đời người của nhóm Dao tiền ở

Ba Bể, Bắc Kạn (2001) đã phân tích sắc thái địa phương, tính thống nhất và đa

dạng trong văn hóa Dao, tạo cơ sở khoa học để phát huy những mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực của các nghi lễ trong việc xây dựng nếp sống mới ở vùng người Dao tiền

Đời sống tín ngưỡng và nghi lễ của người Tày cũng thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu

liên quan đến chủ đề này bao gồm nghiên cứu của tác giả La Công ý trong Đến với người Tày và văn hóa Tày (2010), phân tích nhiều khía cạnh của đời sống

người Tày với một sự khái quát cao Với tư liệu thu được từ các chuyến điền dã trong gần 30 năm, kết hợp với các tài liệu khác, tác giả La Công ý đã có một công trình viết về người Tày và văn hóa Tày khá đặc sắc Ngoài những phần về dân cư, ngôn ngữ lịch sử, phong tục tập quán… tác giả xem xét đời sống tín ngưỡng và các nghi lễ của người Tày và khẳng định: Đề cập tới những giai tầng

xã hội người Tày không thể không nhắc tới những người làm nghề cúng bái bao gồm 4 nhóm khác nhau là: Tào, mo, then, pựt Có thể nói đây là tầng lớp xã hội đặc biệt cho dù xem xét về mặt nhân khẩu họ chỉ chiếm một tỉ lệ rất nhỏ nhưng lại có ảnh hưởng hết sức to lớn đối với người dân ở địa phương

Công trình nghiên cứu Tín ngưỡng dân gian Tày, Nùng (2009) của tác giả

Nguyễn Thị Yên, trên cơ sở tập trung khảo tả ở 4 tỉnh (Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên), đã có những phân tích chi tiết về đời sống tín ngưỡng dân gian của người Tày, Nùng, thực trạng và biến đổi trong đời sống tín ngưỡng dân gian cũng như các chức năng đời sống tín ngưỡng dân gian trong văn hóa Tày, Nùng Trong công trình nghiên cứu này, tác giả cũng mô tả và phân tích về một

số nghi lễ tiêu biểu: Lễ cấp sắc của Pụt Nùng; Lễ cấp sắc của then Tày; Lễ đầy tháng của Pụt Tày; Lễ mừng thọ của Then Tày… Có thể nói đây là một tác phẩm

Trang 13

phân tích khá sâu đời sống tín ngưỡng và lễ hội của các tộc người Tày, Nùng Riêng về nghi lễ Then, tác giả phân tích ở các khía cạnh: nguyên nhân, thời điểm cũng như các hình thức diễn xướng trong nghi lễ và chức năng chữa bệnh của những người hành nghề Then

Từ hệ thống các nguồn tư liệu dân tộc học, xã hội học, lịch sử văn hóa Tày, đặc biệt là tình hình nghiên cứu tin ngưỡng giải hạn những năm gần đây, tôi thấy cho đến này cho dù còn ít những công trình nghiên cứu về tin ngưỡng giải hạn dân tộc Tày, và chưa có một công trình nghiên cứu về tin ngưỡng giải hạn dân tộc Tày một cách tỉ mỉ, nhưng diện mạo văn hóa, văn học dân gian Tày

đã được hiện diện khá đầy đủ, là cơ sở quan trọng để tôi có thể đi sâu vào tìm hiểu tin ngưỡng giải hạn dân tộc Tày, cho đến nay vẫn là một vấn đề bỏ ngỏ, nghiên cứu đề tài này là một việc làm hữu ích để hiểu hơn về những giá trị văn hóa tinh thần mang đậm bản sắc của một dân tộc Đồng thời giúp cho cá nhân tôi

có cái nhìn sâu sắc hơn về giá trị văn hóa của dân tộc Tày và có những bài giảng hay trong phần Văn học địa phương của môn học

Trong quá trình nghiên cứu tôi cố gắng khai thác những biểu hiện cụ thể của tín ngưỡng giải hạn của dân tộc Tày cả về nội dung và nghệ thuật của văn bản tín ngưỡng giải hạn, đặc điểm diễn xướng tín ngưỡng giải hạn và phương thức bảo tồn tín ngưỡng giải hạn

Bản thân tôi mặc dù là người con dân tộc Kinh, nhưng cũng rất may mắn được công tác và sống gần gũi với bà con 12 năm nên phần nào cũng hiểu được phong tục tập quán và đã nhiều lần chứng kiến lễ giải hạn của dân tộc Tày, nên phần nào hiểu được đời sống văn hóa tín ngưỡng, phong tục tập quán của dân tộc Tày Từ đó tôi mong muốn tìm hiểu về mối liên hệ của tín ngưỡng giải hạn dân tộc Tày ở huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn từ một hoạt động sinh hoạt tín ngưỡng văn hóa đến việc khám phá những giá trị nội dung, nghệ thuật của văn bản tin ngưỡng giải hạn dân tộc Tày ở Pắc Nặm dưới góc độ một tác phẩm Văn học dân gian, một chủ đề Văn học địa phương nằm trong quá trình giảng dạy

Trang 14

môn Ngữ văn ở trường THPT Hơn nữa giúp học sinh có cái nhìn sâu sắc hơn về bản sắc, văn hóa của dân tộc mình, giúp các em thêm yêu quê hương mình, đất nước mình và mỗi học sinh luôn phát huy, giữ gìn và bảo tồn giá trị văn hóa của các dân tộc trên đất nước Việt Nam

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là nghi lễ giải hạn qua những bài dân

ca: Lẩu Then và Mo Tày ở huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung vào nghiên cứu văn học từ góc độ văn hóa trong tín ngưỡng giải hạn dân tộc Tày, qua đó để hiểu thế giới quan, quan niệm của người Tày về một cuộc sống ấm no, hạnh phúc, gặp nhiều may mắn trong một năm và mùa màng được bội thu… Đặc biệt luận văn đi sâu vào tìm hiểu nôi dung của văn bản dân ca nghi lễ giải hạn dân tộc Tày về giá trị nghệ thuật và đặc điểm diễn xướng của nghi lễ giải hạn, các yếu tố tín ngưỡng, tôn giáo ảnh hưởng đến tín ngưỡng giải hạn dân tộc Tày huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn

4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn tìm hiểu nghiên cứu tín ngưỡng giải hạn dân tộc Tày nhằm: Thấy được những giá trị nhiều mặt của một loại hình nghệ thuật dân tộc trên địa bàn cụ thể Qua đó chỉ ra được các đặc điểm cũng như nét đặc thù cảu tín ngưỡng giải hạn dân tộc Tày huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn

Chỉ ra giá trị của tín ngưỡng giải hạn dân tộc Tày và phương thức bảo tồn những giá trị này trong xã hội ngày nay

Từ một nghiên cứu cụ thể dân ca nghi lễ giải hạn, tôi hi vọng sẽ có những bài giảng hay trong phần Văn học địa phương và giúp các em học sinh có cái nhìn sâu sắc hơn về bản sắc, văn hóa của dân tộc mình, giúp các em thêm yêu quê hương mình, đất nước mình, đồng thời tôi hi vọng góp thêm tiếng nói trong việc nghiên cứu văn học dân gian của dân tộc Tày ở tỉnh Băc Kạn

Trang 15

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luân văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau:

Tập hợp tư liệu văn bản của dân ca nghi lễ giải hạn dân tộc Tày Khảo sát tín ngưỡng giải hạn dân tộc Tày (số lượng, nội dung, các chặng tín ngưỡng giải hạn dân tộc Tày, các hình thức diễn xướng…), tại huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn

Nghiên cứu giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật biểu hiện trong các văn bản dân ca nghi lễ được diễn xướng trong nghi lễ giải hạn của dân tộc Tày Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp thống kê, phân loại

Phương pháp phân tích tổng hợp

Phương pháp đối chiếu, so sánh

Phương pháp nghiên cứu liên ngành

Phương pháp điền dã

6 Bố cục đề tài

Ngoài phần mở đầu, luận văn gồm các nội dung chính theo bố cục sau:

Chương 1: Tổng quan về tín ngưỡng giải hạn qua dân ca nghi lễ dân tộc

7 Dự kiến kết quả nghiên cứu

Dựa vào nguồn tài liệu đã khảo sát từ những bài Then và Mo Tày về tín ngưỡng giải hạn dân tộc Tày huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn, luận văn đã góp phần giới thiệu đời sống văn hóa cũng như văn học dân gian dân tộc Tày ở huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn, luận văn sẽ đi sâu tìm hiểu tập tục tín ngưỡng giải hạn

từ các giá trị văn hóa của tín ngưỡng luận văn chỉ ra và khắc sâu được các giá trị,

Trang 16

nội dung và nghệ thuật trong các bản dân ca nghi lễ giải hạn của người Tày Từ

đó nhằm cung cấp một bức tranh toàn cảnh về tín ngưỡng giải hạn dân tộc Tày huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn

Luận văn góp phần cho người đọc hiểu thêm bản sắc của các dân tộc thiểu

số ở Việt Nam Qua đó giúp cho người đọc quan tâm và hiểu sâu sắc hơn nội dung mang tính nhân văn của những bản dân ca nghi lễ truyền thống của dân tộc Tày ở Pác Nặm Đặc biệt qua luận văn giúp cho những thầy giáo, cô giáo dạy môn Ngữ văn như tôi có nhiều nguồn tư liệu, kiến thức để dạy học có hiểu quả cho các thế hệ học sinh thấy được nét đẹp bản sắc dân tộc mình Từ đó các em

có trách nhiệm giữ gìn, bảo tồn các giá trị văn hóa, văn học bản địa, và thêm yêu quê hương, đất nước

Trang 17

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÍN NGƯỠNG GIẢI HẠN QUA DÂN CA NGHI LỄ

DÂN TỘC TÀY HUYỆN PÁC NẶM, TỈNH BẮC KẠN

Dân ca Tày (Tày - Nùng) nói chung và dân ca Tày Bắc Kạn nói riêng được

nhiều nhà nghiên cứu trong các lĩnh vực: văn học dân gian, âm nhạc học, dân tộc học… giới thiệu nhưng số lượng không nhiều Khi đề cập tới nghệ thuật, văn

học, (thơ nôm, truyện cổ tích…), đa số đều quy gộp hai tộc người Tày - Nùng thành một Cần nói rõ tính lịch sử quá trình sống đan cài người Tày - Nùng tạo nên mối liên hệ chặt chẽ, hình thành tự nhiên giao thoa văn hóa Tày - Nùng nhiều

vùng khác nhau, điển hình là Lạng Sơn, tại Bắc Kạn, Cao Bằng, Tuyên Quang…

hiện tượng hợp hôn, hỗn dung Tày - Nùng chưa đậm, do đó dân ca Tày vẫn nguyên sơ và thuần Tày

Trong lĩnh vực dân tộc học, một số tài liệu chỉ rõ người Tày là tộc người bản địa xuất hiện ở Việt Nam cách đây hàng ngàn năm, lịch sử vẫn gọi người Tày là Âu Việt hay Tây Âu [6, tr.47]

Với âm nhạc học, số lượng nghiên cứu chưa nhiều, điển hình có các tác giả: Đàm Thế Vấn, Hoàng Tuấn, Nông Thị Nhình là những người đã nhiều năm ghi chép, điền dã, ghi âm làn điệu thành bản phổ

Địa danh Bắc Kạn ghép với Thái Nguyên thành Bắc Thái trong vùng Đông Bắc gọi là Việt Bắc dẫn đến lối tư duy đa hợp (tổng thể là chính, chi tiết là phụ)

từ nhiều lĩnh vực khác nhau

Dân ca Tày là bộ phận của nền âm nhạc dân tộc Việt Nam, có thể chia thành các hướng nghiên cứu sau:

1.1 Một số nghiên cứu về tín ngưỡng và nghi lễ ở Việt Nam

Trong những năm 1950 đến 1980, ở miền Bắc Việt Nam (và trong cả nước

từ sau 1975), các hình thức tín ngưỡng và nghi lễ truyền thống bị ngăn cấm, vì

bị coi là mê tín, không khoa học và lãng phí Trong những quãng thời gian này,

mê tín dị đoan được định nghĩa là bất cứ một thực hành nào liên quan trực tiếp

Trang 18

tới bùa chú và có liên quan đến thế giới thần linh hay các thế lực siêu nhiên Một trong những chính sách có tác động lớn nhất ở tất cả các mặt của đời sống kinh

tế - xã hội miền Bắc là chương trình xây dựng “cuộc sống mới và con người mới” diễn ra trong những năm 1960 - 1980 của thế kỷ XX Đảng và Nhà nước lúc đó muốn xây dựng con người mới bằng chủ trương xóa bỏ mê tín dị đoan mà một trong những biểu hiện cụ thể của nó chính là không gian thiêng như đình, chùa, đền, miếu và những thực hành tín ngưỡng và nghi lễ truyền thống gắn với các không gian thiêng này Hậu quả của chủ trương này là có một số lượng đáng kể các không gian thiêng bị phá hủy Ở những nơi không bị phá hủy thì các hoạt động gắn với các không gian thiêng cũng bị ngừng hoặc nằm trong sự kiểm soát của chính quyền nhà nước ở địa phương

Từ năm 1986, công cuộc đổi mới đã tạo ra những biến đổi mạnh mẽ về kinh

tế, xã hội, khi nền kinh tế đất nước được chuyển đổi từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường nhiều thành phần theo định hướng xã hôi chủ nghĩa Cũng trong quá trình này, Đảng và Nhà nước thể hiện rõ việc coi trọng và cởi trói cho các hoạt động tín ngưỡng, nghi lễ và lễ hội Theo tác giả Trần Minh Thư (2005), hàng loạt văn bản của Nhà nước ban hành thấy rõ một sự điều chỉnh theo thời gian được thể hiện ở nhiều cấp độ, từ Hiến pháp năm đến các Chỉ thị của Thủ tướng chính phủ liên quan đến tôn giáo, tín ngưỡng, nghi lễ và lễ hội nhìn chung là theo hướng từ cấm đoán đến công nhận

Với tầm quan trọng của nó trong đời sống văn hóa của dân tộc Việt Nam nói chung, của mỗi tộc người cụ thể nói riêng, tài liệu nghiên cứu về tín ngưỡng

và nghi lễ phản ánh hai xu hướng chính về các vấn đề này Thứ nhất đó là công trình nghiên cứu mang tính lý luận và trình bày những đặc điểm chung của các tín ngưỡng, các nghi lễ của các tộc người ở Việt Nam Một trong số các công

trình nghiên cứu tiêu biểu theo hướng này là Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng của Việt Nam (2001) của tác giả Ngô Đức Thịnh đã có những phác họa về tín

ngưỡng của các tộc người ở Việt Nam Trong đó, tác giả đã trình bày về những

Trang 19

tín ngưỡng: tín ngưỡng thờ tổ tiên; tín ngưỡng thờ thành hoàng; Đạo mẫu; tín ngưỡng Đức Thánh Trần tác giả cũng đưa ra mối quan hệ giữa tín ngưỡng và

âm nhạc cổ truyền, cũng như đưa ra những chức năng của tín ngưỡng trong đời sống sinh hoạt cộng đồng Có thể nói đây là một công trình khái quát về tín ngưỡng của các tộc người ở Viết Nam

Công trình Góp phần tìm hiểu tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam (2007) của

tác giả Nguyễn Đức Lữ tìm hiểu về tín ngưỡng dân gian trong đời sống tinh thần như lễ hội, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, thờ Thành hoàng, thờ Mẫu, phồn thực và

mê tín dị đoan Tác giả cũng phân tích thực trạng của những tín ngưỡng dân gian cũng như những biểu hiện của chúng trong giai đoạn hiện nay

Xu hướng nghiên cứu thứ hai là những khảo cứu về tín ngưỡng và nghi lễ của các tộc người Trong số đó, có thể kể ra công trình nghiên cứu của tác giả Lý

Hành Sơn trong cuốn Các nghi lễ chủ yếu trong đời người của nhóm Dao tiền ở

Ba Bể, Bắc Kạn (2001) đã phân tích sắc thái địa phương, tính thống nhất và đa

dạng trong văn hóa Dao, tạo cơ sở khoa học để phát huy những mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực của các nghi lễ trong việc xây dựng nếp sống mới ở vùng người Dao tiền

Đoàn Tuấn Anh trong công trình Nghi lễ nông nghiệp của người Ba Na ở tỉnh Gia Lai (2012) đã nghiên cứu sâu và có hệ thống về nghi lễ nông nghiệp của

người Ba Na ở tỉnh Gia Lai, trong đó tác giả đã trình bày các yếu tố mới tác động dẫn đến việc biến đổi của nghi lễ nông nghiệp đồng thời khẳng định lại những giá trị bền vững và đề xuất một số giải pháp để bảo tồn

Tác giả Nguyễn Thị Song Hà trong Nghi lễ chu kỳ đời người của người Mường ở Hòa Bình (2011) trình bày bức tranh có hệ thống và toàn diện về nghi

lễ chu kỳ đời người của người Mường ở Hòa Bình, từ đó làm rõ những đặc điểm

và sắc thái của nó trong xã hội truyền thống, đồng thời bước đầu so sánh, làm rõ những điểm tương đồng và khác biệt trong nghi lễ chu kỳ đời người của người Mường ở Hòa Bình với người Mường ở các tỉnh khác Làm rõ sự biến đổi của

Trang 20

chu kỳ đời người từ truyền thống tới hiện đại, đồng thời chỉ ra những nguyên nhân của sự biến đổi Trên cơ sở kết quả nghiên cứu tác giả đã đề xuất một số kiến nghị góp phần bảo tồn và phát huy những giá trị trong nghi lễ chu kỳ đời người của người Mường ở Hòa Bình trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập hiện nay

1.2 Các công trình nghiên cứu về văn học dân gian Tày

Đời sống tín ngưỡng và nghi lễ của người Tày cũng thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học Một số công trinh nghiên cứu tiêu biểu

liên quan đến chủ đề này bao gồm nghiên cứu của tác giả La Công Ý trong Đến với người Tày và văn hóa Tày (2010) phân tích nhiều khía cạnh của đời sống

người Tày với một sự khái quát cao Với tư liệu thu được từ các chuyến điền dã trong gần 30 năm, kết hợp với các tài liệu khác, tác giả La Công Ý đã có một công trình viết về người Tày và văn hóa người Tày khá đặc sắc Ngoài những phần về dân cư, ngôn ngữ lịch sử, phong tục tập quán tác giả xem đời sống tín ngưỡng và các nghi lễ của người Tày và khẳng định: Đề cập tới những giai tầng

xã hội người Tày không thể không nhắc đến những người làm nghề cúng bái bao gồm 4 nhóm khác nhau là Tào, Mo, Then, Pựt Có thể nói đây là tầng lớp xã hội đặc biệt cho dù xét về mặt nhân khẩu họ chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ nhưng lại có ảnh hưởng hết sức to lớn đối với người dân ở địa phương Cụ thể, trong chương

VI của cuốn sách này, ở mục “Tín ngưỡng dân gian” [29, tr.371- tr.385], tác giả

đã nêu khái quát về đời sống tín ngưỡng của người Tày ở Việt Nam, qua đó khẳng định thuyết đa thần, thuyết linh hồn bất tử, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, đồng thời bàn về các ông Then, bà Then và vai trò chữa bệnh của họ thông qua

ma thuật, bùa ngải

Từ thập kỷ 70 trong thế kỷ XX, có một vài công trình viết về dân ca và

văn hóa Tày Nùng Trước hết phải nhắc tới Vi Hồng, tác giả cuốn sách Sli

Đây là biên khảo công phu, là kết quả nhiều năm nghiên cứu các biểu tượng

Trang 21

trong văn hóa dân gian Tày Nùng Cách bố cục công trình gồm 5 phần chính gọi là lớp đề tài:

Lớp 1: đề tài vũ trụ, lý giải thời xa xưa các quan niệm về trời đất, trăng sao

cùng hiện tượng thiên nhiên qua các truyện cổ tích, thần thoại của người Tày

Lớp 2: thiên nhiên và miền núi, với sắc thái tươi tắn, tràn đầy sức sống, các

loài vật, cỏ cây hoa lá làm biểu tượng trong văn hóa Tày

Lớp 3: đề tài hiện thực, ý nghĩa bao gồm những người sáng tạo ra tinh thần,

vật chất, chủ yếu bày tỏ tình cảm trai gái trao duyên

Lớp 4: thân phận thấp hèn, mô tả sự phân chia giai cấp trong xã hội phong

kiến Tày ngày trước

Lớp 5: xuất xứ một vài điều, tác giả cố gắng làm sáng tỏ nguồn cội sâu xa

trong nội dung sli - lượn, chứng minh người Tày là chủ nhân địa bàn cổ xưa khu vực Việt Bắc

Vi Hồng giới thiệu trong cuốn sách dày 315 trang nhiều đặc trưng về giai tầng xã hội Tày Nùng, đề cao giá trị thẩm mĩ sli lượn Đây là công trình nghiên cứu chuyên sâu về văn học dân gian, được giới văn học rất quan tâm, tìm hiểu

Để viết cuốn sách, trước đó (1976) Vi Hồng đã viết bài Vài suy nghĩ về hát quan lang, lượn, phong Slư trên tạp chí văn học, điều này chứng minh tác giả trải qua

thời gian dài chuẩn bị đề tài

Công trình nghiên cứu Tín ngưỡng dân gian Tày, Nùng (2009) của tác giả

Nguyễn Thị Yến, trên cơ sở tập trung khảo tả 4 tỉnh (Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên), đã có những phân tích khá chi tiết về đời sống tín ngưỡng dân gian của người Tày, Nùng, thực trạng và biến đổi trong đời sống tín ngưỡng dân gian cũng như các chức năng của đời sống tín ngưỡng dân gian trong văn hóa Tày, Nùng Trong công trình nghiên cứu này, tác giả cũng mô tả và phân tích về một số nghi lễ tiêu biểu: Quyển đẳm trong đám tang thầy cúng người Tày, Hát thợ trong đám tang của người Tày, lễ cấp sắc của Pụt Nùng, Lễ cấp sắc của Then Tày, Lễ đầy tháng của Pụt Tày, Lễ mừng thọ của Then Tày, Lễ chữa bệnh

Trang 22

của Then Tày Có thể nói đây là một tác phẩm khá sâu đời sống tín ngưỡng và lễ hội của các dân tộc Tày, Nùng Riêng về nghi lễ Then, tác giả xem xét như một trong những nghi lễ tiêu biểu trong đời sống tín ngưỡng của người Tày và tác giả phân tích ở các khía cạnh: nguyên nhân, thời điểm cũng như các hình thức diễn xướng trong nghi lễ và chức năng chữa bệnh của những người hành nghề Then

Trong công trình nghiên cứu khác có tựa đề Đời sống tín ngưỡng của người Tày ven biên giới Hạ Lang, Cao Bằng tác giả Nguyễn Thị Yên dành một chương

(chương2) trình bày chi tiết hơn về các hình thức văn hóa tín ngưỡng của người Tày ở khu vực biên giới Hạ Lang, Cao Bằng Theo tác giả thì có 4 hình thức văn hóa tín ngưỡng tiêu biểu, đó là Then và hình thức văn hóa tín ngưỡng Then; Tào

và sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng Tào; siên và sinh hoạt sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng tín ngưỡng siên; thầy phường Về vấn đề Then, tác giả đã giới thiệu chung về Then, dụng cụ hành nghề, lý do hành nghề, các nghi lễ phục vụ cho cộng đồng làng bản; các nghi lễ theo yêu cầu của các gia chủ; các nghi lễ đối với bản thân Then Trong các nghi lễ được thực hiện theo yêu cầu của các gia chủ, tác giả khẳng định thực hành các nghi lễ giải hạn, cầu an là một trong những công việc quan trọng nhất của những người hành nghề Then

Tác giả Hà Đình Thành trong cuốn Văn hóa dân gian Tày, Nùng ở Việt Nam

(2010) đã nghiên cứu văn hóa dân gian Tày, Nùng trong bối cảnh văn hóa dân gian Việt Nam để tìm ra những nét văn hóa tiêu biểu, đặc sắc của hai dân tộc này Tập trung phân tích tổ chức xã hội của người Tày và khẳng định tổ chức xã hội truyền thống của người Tày ở cấp địa phương chính là thôn bản Thôn bản với người Tày là một cộng đồng “cộng mệnh”, tức là sự gắn bó cộng đồng trên

cơ sở cùng tồn thờ những biểu hiện tâm linh và sự che chở của thần bản mệnh cho thôn bản Thôn bản cũng là nơi “cộng cảm” văn hóa, là nơi nương tựa, đùm bọc, giúp đỡ, là nơi thực hành các nghi lễ cúng tế thu hút sự tham gia của người dân trong bản Tác giả cũng khẳng định người thực hành những nghi lễ mang

Trang 23

tính tín ngưỡng chính Mo, Then, những người có vai trò quan trọng trong đời sống cộng đồng tộc người và họ thường có uy tín cao trong cộng đồng

Liên quan đến tín ngưỡng của người Tày còn có cuốn Táng mừa pja lệ đằm

của tác giả Hoàng Hạc (sưu tầm và biên soạn năm 2004) Trong công trình này, tác giả Hoàng Hạc đã giới thiệu hình thức hát bụi trong cúng vía và cúng mụ của dân tộc Tày Ngoài ra ta còn có thể kể đến một số công trình đề cập đến một nghi

lễ cụ thể như: Việc tang lễ cổ truyền của người Tày của Hoàng Tuấn Nam (1990); Then cấp sắc của người Tày ở huyện Quảng Uyên tỉnh Cao Bằng của Nguyễn Thị Yên (2005); Tục cưới xin của dân tộc Tày của Triều Ân, Hoàng Quyết

(2010)

Năm 1984, Lã Văn Lô và Hà Văn Thư viết cuốn Văn hóa Tày Nùng dày 160

trang gồm 3 phần, 2 phần đầu do Lã Văn Lô viết, phần 3 do Hà Văn Thư viết

Phần 1: Giới thiệu xã hội và con người, tác giả trình bày theo phương pháp

lịch sử, dẫn giải khái lược người Tày Nùng từ thời Âu Lạc tới 1945 với những tương đồng trong văn hóa

Phần 2: Truyền thống văn hóa, gồm 2 chương

Chương 1: Thế giới quan, nhân sinh quan, tín ngưỡng tôn giáo, phong tục tập quán với 5 đề mục Tác giả trình bày quan niệm cổ xưa về trời đất và con

người qua truyện thần thoại, cổ tích của người Tày - Nùng Từ đó quy nạp hệ ý thức bằng các hình thức tín ngưỡng nguyên thủy pha trộn với tôn giáo du nhập

từ nhiều nơi: Đạo giáo, Khổng giáo, Phật giáo phù hợp với tầng lớp nông dân Tày Trong các mục tiếp theo tác giả liệt kê và khảo tả một số loại hình văn hóa dân gian: ngày hội ngày tết truyền thống, tục lệ cưới xin, sinh đẻ, ma chay, cúng giỗ, ăn sinh nhật, làm nhà, ăn mừng nhà mới

Chương 2: Văn học nghệ thuật truyền thống gồm 6 đề mục Tiếng nói, chữ

viết là điều kiện tiên quyết hình thành nên các đề mục sau như: thành ngữ, tục ngữ, ca dao, cổ tích thần thoại, thơ ca cổ truyền, giới thiệu một số nhà nho Tày

Trang 24

trước cách mạng tháng 8, cuối chương 2 là mục: nghệ thuật trang trí, nhạc múa,

mục này tác giả còn viết khiên cưỡng, sơ lược

Phần 3: Khái quát về văn hóa Tày Nùng sau cách mạng tháng tám gồm 7

nội dung chính:

- Tư tưởng khoa học chủ nghĩa Mác-Lênin tạo ra cách làm chủ tập thể

- Lớp người Tày - Nùng mới ra đời nêu cao chủ nghĩa anh hung cách mạng

- Cách tổ chức đời sống và quan hệ giữa người với người

- Cấu trúc gia đình mới với các thành phần tộc người cùng chung sống dưới mái nhà chung

- Khoa học kỹ thuật, văn hóa nghệ thuật trở thành nhân tố không thể thiếu trong thôn, bản

- Truyền thống văn hóa tốt đẹp của ông cha được khai thác, phổ biến

- Phong trào văn hóa văn nghệ quần chúng ngày càng tiến bộ về nội dung

và hình thức

Cuốn văn hóa Tày - Nùng đề cập tương đối toàn diện về lịch sử, xã hội, phong tục, tập quán… của người Tày- Nùng, đặc biệt rất có ích như một tài liệu tham khảo

Ngoài ra một số bài viết mô tả với cảm nhận khác nhau như:

Vi Quốc Bảo (1971) viết dân ca đám cưới Tày - Nùng: Văn hóa các dân tộc trên tạp chí Văn hóa nghệ thuật (số 3) Hoặc Lợi Chung (1993) đề cập tới âm nhạc với không gian ban ngày ở bản Tày, Nùng trên tạp chí nghiên cứu văn hóa

nghệ thuật (số 1)

1.3 Các công trình nghiên cứu âm nhạc dân gian

- Điển hình là cuốn Dân ca Tày của nhà nghiên cứu âm nhạc Hoàng Tuấn,

dày 166 trang do nhà xuất bản âm nhạc in, phát hành năm 2000 Là người làm công tác giảng dạy lý luận tại trường Văn hóa Nghệ thuật Việt Bắc, Nhạc viện

Hà Nội, bản thân là người Tày nên nhạc sĩ Hoàng Tuấn dành nhiều thời gian, công sức tiến hành khảo sát, xây dựng mô hình âm nhạc dân gian Tày Cuốn sách chia làm 5 chương:

Trang 25

Chương 1: Đại cương về người Tày

cư trú dân cư Tày vùng Đông Bắc Việt Nam Trong sách ví dụ về làn điệu, lối hát trình bày dễ hiểu, cho thấy người viết có trình độ hiểu biết sâu sắc dân ca Tày

- Tác giả Nông Thị Nhình với hai cuốn sách:

+ Âm nhạc dân gian các dân tộc Tày- Nùng -Dao Lạng Sơn dày 235 trang

do nhà xuất bản Văn hóa dân tộc in năm 2000

+ Nét chung và nét riêng của âm nhạc trong diễn xướng then Tày - Nùng dày 279 trang do Viện âm nhạc in năm 2004

- Dân ca đám cưới Tày- Nùng do Nông Minh Châu viết năm 1973 dày

130 trang, tác giả tập trung phần Thơ lẩu (hát đám cưới) với nhiều nội dung phong phú

- Cuốn Lượn Cọi Tày Nùng của Cung Khắc Lợi, Lê Bích Ngân, Nxb Văn

hóa dân tộc, Hà Nội, 1987 Cuốn sách giới thiệu một số đoạn lượn cọi được sưu tầm và dịch ra tiếng Việt của hai tác giả với khoảng 1000 câu

- Cuốn Lượn Cọi do Lục Văn Pảo sưu tầm - phiên âm - dịch và giới thiệu dưới dạng song ngữ (Tày - Quốc ngữ), Nxb Văn hóa dân tộc xuất bản năm 1994 Cuốn sách dày 647 trang với tổng số 21 bài dưới dạng song ngữ miêu tả về trình

tự các cung lượn của người Tày

Trang 26

1.4 Những công trình khác

Điển hình là cuốn sách Văn hóa tín ngưỡng Tày Nùng, do Viện nghiên cứu

Văn hóa dân gian ấn hành năm 1997 dày 276 trang Đây là công trình nghiên cứu công phu nhất về văn hóa tín ngưỡng Tày Nùng ở Việt Nam do PGS Vũ Ngọc Khánh chủ biên cùng tập thể các nhà nghiên cứu tại Trung tâm Khoa học Xã hội

và Nhân văn quốc gia

Năm 2004, cuốn sách Bản sắc và Truyền thống văn hóa các dân tộc tỉnh Bắc Kạn dày 438 trang do Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc xuất bản, đây là loại

sách tổng hợp các tham chiếu về văn hóa học, dân tộc học, tín ngưỡng tôn giáo,

xã hội học cùng nhiều ngành khác Nội dung trình bày tạo nên lượng thông tin khoa học lớn, tập trung giới thiệu tổng quát tỉnh Bắc Kạn, được chuẩn bị công phu nên cuốn sách đã tạo ra diện mạo rõ ràng nhìn từ nhiều góc độ khoa học xã hội và nhân văn

Như vậy, tín ngưỡng giải hạn qua dân ca nghi lễ của người Tày đã được các nhà nghiên cứu tìm hiểu dưới các góc độ và mức độ khác nhau ở nhiều công trình nghiên cứu Trong đó, hướng tiếp cận nổi bật là nhiều tác giả nhấn mạnh đến vị trí vai trò của ông/ bà Then, coi Then và những làn điệu dân ca trong Mo như một hình thức diễn xướng dân gian, có chức năng chữa bệnh hoặc mang lại sự

an bình, niềm tin và sự lạc quan trong đời sống lao động thường nhật

Mặt khác, những công trình nghiên cứu kể trên chủ yếu tập trung vào lĩnh vực ngữ văn, văn hóa dân gian, âm nhạc dân gian Tày nói chung Chưa thấy đề cập chi tiết, tỉ mỉ hệ thống làn điệu, lối diễn xướng, đặc biệt đưa ra những biện pháp bảo tồn giá trị nghệ thuật dân ca Tày ở huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn Hơn nữa giúp học sinh có cái nhìn sâu sắc hơn về bản sắc, văn hóa của dân tộc mình

và các em thêm yêu quê hương mình, đất nước mình và mỗi học sinh luôn phát huy, giữ gìn và bảo tồn giá trị văn hóa của các dân tộc trên đất nước Việt Nam

Tiểu kết chương 1

Trang 27

Văn hóa Tày và nhất là đời sống tín ngưỡng và nghi lễ của người Tày đã được các nhà khoa học nghiên cứu ở nhiều khía cạnh khác nhau Trong đó, các làn điệu dân ca, đặc biệt là nghi lễ Then và Mo của người Tày thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của một số nhà khoa học, trong đó có một số là người Tày nghiên cứu về người Tày Các tác giả đều nhấn mạnh vị trí và ý nghĩa của các nghi lễ qua các làn điệu dân ca trong đời sống văn hóa Tày và có hướng tiếp cận thiên về hình thức diễn xướng

Trong nghiên cứu này, chúng tôi một mặt ủng hộ tính hữu ích của việc xem xét các nghi lễ dân ca của người Tày, đặc biệt là làn điệu Then và Mo (cũng như

cả một số nghi lễ khác của các tộc người khác, ví dụ như nghi lễ lên đồng ), nhưng mặt khác cũng muốn nhấn mạnh thêm khía cạnh an ninh con người, nhất

là an ninh về sức khỏe và kinh tế trong những quan niệm và thực hành nghi lễ giải hạn qua dân ca của người Tày Chúng tôi nhấn mạnh rằng nghi lễ giải hạn không phải là nghi lễ trong chu kỳ đời người của người Tày, nhưng lại đang là nghi lễ rất phổ biến và có tầm quan trọng đặc biệt trong cuộc sống của cộng đồng người Tày ở địa bàn huyện Pác Nặm Nghi lễ giải hạn của người Tày không chỉ

là sự thể hiện những giá trị văn hóa tộc người của người Tày mà còn là một cách ứng phó của con người trước những rủi ro, bất an về sức khỏe và kinh tế

Trang 28

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM NỘI DUNG TÍN NGƯỠNG GIẢI HẠN QUA DÂN CA NGHI LỄ DÂN TỘC TÀY HUYỆN PÁC NẶM, TỈNH BẮC KẠN

2.1 Những quan niệm của người Tày Pác Nặm liên quan tới tín ngưỡng giải hạn qua dân ca nghi lễ Then của dân tộc Tày

2.1.1 Quan niệm về vũ trụ

Người Tày Pác Nặm quan niệm vũ trụ có 5 tầng Thiên đường thượng giới

là tầng cao nhất, gọi là mướng phạ Đây là tầng của Ngọc Hoàng Thượng Đế và

mường thiên đường - nơi hồn ma của loại người khi chết sẽ đến Thứ hai, tầng

không gian vũ trụ bao la, gọi là mường bôn, là mường của mây gió trời xanh,

hồn ma chết vô gia cư Thứ ba, tầng thế gian - mặt đất, tầng dành cho con người

và muôn loài sinh sống Thứ tư, tầng dưới nước, xứ ấy là miền do Long Vương, thủy thần quản lý Các thần nơi thủy cung thường lên mặt đất để rình bắt hồn vía của những người con trai, con gái đẹp đi làm bạn tình Tầng cuối, nằm sâu dưới đất là tầng âm phủ Khi sống, nếu ai đó làm điều xấu, điều ác, hại nhân thì khi chết sẽ bị đày xuống âm phủ, không có điều kiện để đậu thai, tái sinh được nữa

2.1.2 Quan niệm về ma (phi), vía (khoăn), số phận (thổ), tướng mạo (mình) Quan niệm về ma

Ma là hiện tượng siêu nhân, vô hình do ý thức con người tạo ra Người Tày Pác Nặm quan niệm có 8 tập hợp ma, thứ tự từ cao xuống thấp

Thứ nhất: hệ ma trên trời (Ngọc Hoàng Thượng Đế) Hệ này là ma có quyền uy, phép thuật cao nhất, ở trên thiên đường, nhìn thấy khắp nơi và biết mọi việc ở thế gian vũ trụ Ngọc Hoàng Thượng Đế là vua của thế hệ ma trên trời Ngọc Hoàng có lãnh thổ là vũ trụ bao la, đất đai, sông núi Ngọc Hoàng Thượng Đế không những là vua của thế hệ ma trên trời mà là vua của tất cả các loại ma quỷ Đội quân của Ngọc Hoàng có nhiều, nhưng được chia thành mấy nhóm sau: Nhóm cận thần bên cạnh Ngọc Hoàng gồm có: Nam Tào, Bắc Đẩu, như quan Khâm Sai của các vương triều người trần, chuyên đi làm việc dưới sự

Trang 29

chỉ bảo của Ngọc Hoàng; Nhóm thần có thần mặt trời, thần sấm sét, thần mưa, thần gió, thần quản trị cung đình…; Nhóm quỷ là tập hợp quân, vừa làm điều thiện, vừa làm điều ác; Nhóm phục vụ hầu hạ gồm: phụ hoàng, các công chúa,

nữ chúa

Loại ma thư hai là các thánh thần ngự trị ở các núi cao, hang động lớn, bao gồm thần thổ địa, thần lửa, thần cây to, chuyên cai quản cả một vùng rộng lớn hệ thống núi nhất định Ở Pác Nặm có thần canh giữ và người dân quan niệm là rất thiêng, cứ vào ngày rằm thường có lễ vật, đặc biệt là những ngày mùng 1, mùng

2, mùng 3 và ngày 15 tháng 1, ngày âm lịch đầu năm Điển hình như bó nặm tại

trung tâm xã Bộc Bố huyện Pác Nặm

Loại ma thứ ba là các thần đồi núi thấp ở gần làng, gần bản, nơi có cộng đồng dân cư sinh sống Nhóm này có rất nhiều loại, đứng đầu là thần của tên núi

đó

Loại ma thứ tư là ma tổ của dòng họ, của từng người gia đình Người Tày nhà nào cũng có bản thờ tổ tiên, có nhà thờ đến 5 đời, nhưng chủ yếu là thờ đến đời thứ thứ ba Ma tổ có 3 nhóm Nhóm thứ nhất là đi lên thiên đàng thượng giới,

ở lãnh địa nào là do Ngọc Hoàng Thượng Đế phân chia theo từng tộc, từng họ riêng Người Tày khi làm giỗ người chết thì chỉ cần làm một lần để đưa hồn ma lên thiên đang với tổ tiên Lên thiên đàng không phải để đậu thai sinh lại, mà là lên trên ấy với ông bà, tổ tiên Nhóm thứ hai là đi theo thể xác ở nghĩa địa, nhập hội với tổ tiên đi trước ở nghĩa địa đó, thành một nhóm ma của một dòng họ Người Tày ở Pác Nặm không có nghĩa địa chung Mỗi dòng họ có một nghĩa địa riêng, rải rác trên những mảnh đất tốt ở các chân đồi núi thấp Nhóm thứ ba là đi theo con cháu về nhà của mình ở, hoặc nhà con cháu trong nội tộc làm ma tổ và được thờ bởi ống nhang bằng cây nứa ở vách cửa sổ, gian đứng số một trong nhà sàn Ma tổ này trực tiếp ở với người sống, bảo vệ, phù hộ cho con cháu Ngày lễ tết hay những ngày trong nhà có việc lớn đều được con cháu thắp hương

Loại ma thứ năm là loại ma ở những gia đình làm nghề thầy thuốc, thầy cúng, chuyền nghề trị ốm đau, cứu người Người Tày đặt tên cho loại ma này là

Trang 30

“then thư”, dịch ra chung là tổ thư, thư pháp Ở đây những người hành nghề

cúng bái, loại ma “then thư” này vừa là ma tổ chung, vừa là tổ thư, pháp thư, thờ

ở vị trí thứ hai, sau hoặc ngoài ống nhang thờ ma tổ

Loại ma thứ sáu là Mật “phi phai ra”, là loại ma của những người chết vô

gia cư, không có dòng tộc, con cháu tôn thờ và các loài động vật bốn chân mà con người nuôi Mật này chỉ ở vị trí chôn cất

Loại ma thứ bảy là ma cà rồng, ma ôn, ma điên, ma dại Loại ma này là vía của một số người biến thành Đây là loại ma ác, người nào bị ma cà rồng nhập vào là ốm đau triền miên, gia đình đó bị khuynh gia, bại sản

Loại ma thứ tám là Long Vương, thủy tề, chuyên ở dưới nước Long Vương có đội quân ở gần người nhất là thuồng luồng Khi thấy con gái đẹp, phụ

nữ đến tuổi sinh sản ốm đau, chữa thuốc mà lâu chưa khỏi, khát nước, da vàng

là do Long Vương bắt vía

Ngoài tám loại ma này ra, người Tày ở Pác Nặm quan niệm còn có nhiều

ma thần khác như Bà Mụ, Ông Bụt, Ông Tiên, Cô Tiên Đây là những loại ma thần thân thiện, giúp đỡ con người

Quan niệm về vía (khoăn)

Cũng giống như nhiều tộc người khác, người Tày ở Pác Nặm cũng quan niệm con người có hai phần: phần thể xác và phần hồn Phần thể xác là hình dáng, thể tạng, trang phục, hành động, lời nói của con người mà người khác cảm nhận được Người Tày Pác Nặm quan niệm phần hồn là phần không nhìn thấy, không cảm nhận được, hiểu biết qua tưởng tượng của mọi người, gọi là vía Khi người còn sống thì nó là vía, khi chết đi là ma Vía của người có loại vía chính

và bóng vía (khoăn ngấu) Vía chính thì đàn ông có 7 vía, đàn bà có 9 vía Đàn

bà hơn đàn ông 2 vía vì đàn bà phải sinh con, chia vía gốc cho con Bóng vía thì đàn ông có 70 bóng vía, đàn bà có 90 bóng vía

Mỗi người có ba bóng vía Nhóm thứ nhất là vía hộ thân (khoăn ngấu), có

ba vía luôn đi theo người, bảo về người Nhóm thứ hai là vía chuyên đi làm mọi

Trang 31

việc (khoăn ham), chuyên đi lao động sản xuất, kiếm các thứ về nuôi khoăn khấu Nhóm thứ ba là nhóm đi ngoại giao (khoăn tam bách), luôn đi thăm dò tin tức,

có gì thì báo cho cơ thể biết bằng cách báo mộng qua những giấc mơ Mỗi nhóm

vía có ba con (tham tua khoăn) và có 30 bóng vía (tham thíp khoăn ngấu) Trong

số vía này, nếu không có con nào bị ma bắt, ma hại thì người sẽ khỏe mạnh bình thường Nếu có vía bị bắt đi thì người sẽ ốm yếu

Vía người cũng có nhiều loại, nhiều kiểu: Có vía già, vía khỏe (khoăn kheng); có vía non (khoăn ón); có vía dữ (khoăn rại) Đại bộ phận con người đều

có vía già, vía khỏe Có một nhóm người có vía non, những người này thường hay bị ma làm, ma nhập Người nào có vía dữ thì thường đem lại cho ta điều rủi

ro

Quan niệm về số phận (thổ)

Mỗi con người đều có một số phận riêng Khi số phận trục trặc thì con người long đong, lận đận Số phận đã hết thì cơ thể của con người bị chết Vì vậy, ốm đau, tai nạn, rủi ro hay khi gặp may, giàu có đều là do số phận của người

đó

Quan niệm về tướng mạo (mình)

Tướng mạo là hình dáng, phong thái của mỗi người Từ phong thái của mỗi người, người ta có thể nhận diện gần đúng về bản thân, số phận của người

đó

Cách tìm ra ma (mjõ)

Như đã nói, người Tày ở Pác Nặm quan niệm có 8 loại ma Để tránh việc

bị ma làm hại, người Tày nơi đây có những cách tìm ra ma để phòng trừ những chuyện không mong muốn trong cuộc sống Ở cộng đồng người Tày Pác Nặm,

có một số người có khả năng đặc biệt tìm ra ma, đó là thầy bói, thầy cúng, thầy xem sách chữ Nho và Then…

Qua vũ trụ cũng như quan niệm của người Tày ở Pác Nặm về phi, khoăn, thổ, mình, chúng ta thấy rõ nét sự ảnh hưởng của Tam giáo (Nho giáo, Phật

Trang 32

giáo, Đạo giáo), đặc biệt là ảnh hưởng của Đạo giáo trong tâm thức của người Tày nơi đây Sự ảnh hưởng này biểu hiện ở sự tiếp thu các quan niệm về thế giới và hệ thống thần linh của Đọa giáo Trong tâm thức dân gian, các vị thần linh (Ngọc Hoàng, Thái Thượng Lão Quân, Phật Bà Quan Âm…) không hình thành một hệ thống chặt chẽ mà mang tính pha tạp, hỗn độn Ảnh hưởng của Phật giáo được thể hiện rõ nét qua biểu tượng Phật Bà Quan Âm, một vị thần cứu vớt, che chở cho con người và quan niệm Diêm Vương Phật Bà Quan Âm

và Diêm Vương là sự hòa trộn giữa Phật giáo và Đạo giáo, đã được dân gian hóa

2.2 Nguyên nhân thực hành nghi lễ Then giải hạn

Ở đâu có người Tày cư trú, sinh sống, an cư lạc nghiệp bằng nghề nông là

ở đó có Then Then là sản phẩm văn hóa tinh thần của họ Vùng đất vùng cao Pác Nặm tuy còn nhiều kho khăn về đời sống kinh tế, còn là một huyện nghèo của cả nước Thế nhưng nơi đây, dù trải qua nhiều bước thăng trầm, Then vẫn tồn tại trong đời sống văn hóa tinh thần của người Tày như một minh chứng cho sức sống trường tồn của tinh thần dân tộc Tại sao họ lại mê Then đến như vậy?

Họ mê Then vì nhiều lẽ, nhưng trước hết: “khi xã hội phát triển cũng tức là khoa học chưa phát triển thì nhận thức con người - người dân miền núi nhất là ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa có nhiều hạn chế Một là, họ cần tìm chỗ bấu víu, để nương tựa, tìm lại sự cân bằng về mặt tinh thần” Đó cũng chính là giải pháp để con người định lại cái tâm của chính mình Hai là, sức cuốn hút đầy chất thiêng của Then Ba là, Then cũng như Tào, Pụt, Mo rất phù hợp với phong tục tập quán tín ngưỡng của đồng bào, với cuộc sống vốn bình dị, không ồn ào của cư dân miền núi Bốn là, Then là một trong những thể loại dân ca dân gian, như một hình thức văn nghệ trong các gia đình, thôn bản… Tiếng đàn, lời Then, lúc nhặt như đưa người nghe vào một thế giới thần tiên hư hư thực thực, cùng những ước

mơ dung dị, khát vọng sống đời thường của con người… Vì thế mới có Then giải

Trang 33

hạn với ước muốn tránh khỏi tai họa, rủi ro trong năm của con người bình dị ở Pác Nặm

Để lý giải vấn đề này, chúng tôi muốn bắt đầu bằng một số trường hợp cụ thể mà chúng tôi đã khảo sát, điền dã ở tại địa phương thuộc các xã năm trên địa bàn huyện Pác Nặm

Để phân tích các trường hợp trên, chúng tôi nhận thấy người Tày ở Pác Nặm tiến hành nghi lễ giải hạn bởi 3 lý do Thứ nhất, họ hay những thành viên trong gia đình của họ gặp phải những rủi lớn, hay những ốm đau bất thường mà

họ cho rằng không thể lý giải chúng được bằng những tri thức khoa học, nên họ mời thầy Then đến giải hạn mong xua đi những ốm đau, bệnh tật trong năm Cụ thể qua điền dã chúng tôi đã tìm đến gia đình nhà ông Nông Thanh Mạ, tại thôn

Nà Coóc, xã Bộc Bố, huyện Pác Nặm; gia đình ông Nông Thanh Tuấn, tại xã Nhạn Môn, huyện Pác Nặm, gia đình ông Hà Văn Lập, tại xã Bằng Thành, huyện Pác Nặm

Nguyên nhân thứ hai mà người Tày Pác Nặm tìm đến nghi lễ Then giải hạn là những bất an về đời sống vật chất, đời sống kinh tế của gia đình, hay gặp những giấc mơ xấu, ác… Cụ thể qua điền dã chúng tôi đã tìm hiểu đến gia đình nhà ông Chu Văn Chính, tại xã Nhạn Môn, huyện Pác Nặm

Thứ ba, ước mong bố mẹ sống lâu, sống khỏe cùng con cháu Người Tày Pắc Nặm cũng thường giải hạn sao xấu đầu năm, cũng là một nguyên nhân các gia đình người Tày ở đây đã tiến hành nghi lễ Then giải hạn Cụ thể qua điền dã chúng tôi đã tìm hiểu đến gia đình nhà ông Nông Thanh Yến, tại thôn Nà Coóc,

xã Bộc Bố, huyện Pác Nặm; gia đình ông Lường Văn Quân, tại xã Công Bằng, huyện Pác Nặm

Theo quan niệm của các thầy Then ở Pác Nặm, có hai nguyên nhân mà người dân cần thực hành nghi lễ Then giải hạn Thứ nhất, thực hành nghi lễ này khi gặp năm xung tháng hạn Năm xung tháng hạn được tính theo chu kỳ 10 năm:

ví dụ người sinh năm 1954 thì các năm hạn sẽ là năm 1964, 1974, 1984, 1994…

Trang 34

Đối với đàn bà thì 39 tuổi là có hạn, đàn ông là 37 tuổi, tương tự thì đàn bà có hạn vào những năm 39, 49, 59, 69… tuổi, còn đàn ông có hạn vào những năm

37, 47, 57, 67… tuổi Hạn của con người được quan niệm là gặp các sao xấu chiếu, đặc biệt là các sao La Hầu, Kế Đô, Thủy Diệu, Mộc Đực, Văn Hán, Thái Bạch (tương tự như quan niệm của người việt) Để nhận biết được gia chủ gặp hạn gì, các thầy Then dùng sách chữ Nho

Thứ hai, theo quan niệm của các thầy Then, thực hành nghi lễ Then giải hạn khi gặp những điều kỳ lạ như: rắn, ba ba, chim… vào nhà, hay vô tình làm kinh động đến tổ tiên, như: chặt cây đổ vào mồ mả, đóng đinh trước bàn thờ,… hay bị ma bắt vía đi với từng biểu hiện cụ thể, như: người bị rơi xuống nước,

về nhà bị ốm yếu và hay khát nước là do ma của Long Vương đã bắt vía, bị tai nạn ở đường mà về nhà người ngẩn ngơ thì phải làm giải hạn đón vía ở nơi

bị tai nạn

Trong vòng một đời người, người Tày ở Pác Nặm quan niệm có 3 đợt giải hạn Đợt 1 là sơ giải (30-50 tuổi), chủ yếu là giải hoa, con gà, con lợn Đường đi của các thầy Then khi thắp cúng ở giải hạn đợt 1 này là trên đường của ma quỷ lên trời, đến ngã ba tang cáp (một đường lên thiên đàng, một đường xuống âm phủ, một đường xuống Long Vương và một đường đi về thế gian nơi loại người sinh sống) Khi đọc lời khắp cúng, các thầy Then giải đưa con ma về đúng chỗ của nó rồi thu quân về Những người dưới 30 ít làm nghi lễ Than giải hạn vì quan niệm lúc này vía còn non, trừ khi gặp những rủi ro lớn thì mới thực hành nghi lễ này, không thì sẽ làm nghi lễ Then giải hạn cho cả gia đình

Đợt 2 là trung giải (50-70 tuổi) Vị trí giải hạn là theo con đường lên thiên đàng, đoàn quân của nhà thầy đưa lễ lạt trả lễ tới mè kị mè hạn (nhóm ma này chuyên sinh ra kị hạn cho con người) và yêu cầu nhóm ma này không được quay lại quấy rầy hồn vía của gia chủ

Đợt 3 là đại giải hạn (những người trên 70 tuổi) Vị trí giải hạn cũng là xứ

mè kị mè hạn, nhưng các thầy Then đưa vía của người này đi du lịch ở thượng

Trang 35

giới để vía gia chủ thấy được nơi mình sẽ đến khi về với tổ tiên, từ đó yên tâm

về tinh thần, chăm sóc sức khỏe cho tốt

Dù là nguyên nhân này hay nguyên nhân khác, người Tày ở Pác Nặm tìm đến con đường tâm linh này đều có một mục tiêu chung nhất là đảm bảo an ninh con người về mặt sức khỏe và kinh tế Người hành lễ trong nghi lễ Then giải hạn của người Tày ở Pác Nặm là các thầy Then, do gia đình, gia chủ mời đến

2.3 Thực hành trong nghi lễ giải hạn qua dân ca (Then) của người Tày ở

Pác Nặm

2.3.1 Người thực hành nghi lễ Then giải hạn

Trong giai đoạn hiện nay, quá trình đô thị hóa đang diễn ra nhanh chóng

từ Bắc vào Nam, huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn cũng không ra ngoài quy luật

đó Đây là một trong những tác nhân làm mất đi môi trường, không gian văn hóa đặc hữu của nhiều thể hát của người Tày, trong đó nhiều lối hát nghi lễ đặc sắc cũng chịu ảnh hưởng, điển hình là hát Then, giải hạn Then Sự phân hóa hát Then

ở Pác Nặm- Bắc Kạn thành 2 dạng biệt lập: Then cổ và Then mới, đồng bào Tày vẫn gọi là Then cổ và Then văn nghệ Xuất phát từ yêu cầu xây dựng đời sống văn hóa, một bộ phận hát Then từ hình thức nghi lễ, tín ngưỡng giải hạn đã nhanh chóng hòa nhập vào đời sống xã hội hiện đại Trong khi đó, hát Pụt và Tào, Mo vẫn giữ nguyên lối hát nghi lễ như trước, ít biến đổi Điều này lý giải tại sao khi tiến hành khảo sát gặp không ít những khó khăn Để khảo sát được nghi lễ giải hạn qua dân ca (Then) của người Tày ở Pác Nặm, chúng tôi đã tìm đến gia ông Dương Văn Mu, đã nhiều đời làm thầy Then tại thôn Bản Bòn, xã Cao Tân, huyện Pác Nặm

Qua những thầy Then trên địa bàn huyện, chúng tôi nhận thấy rằng hành nghề Then không phải là sự lựa chọn do sở thích các nhân mà là do căn số mà buộc phải thành thầy Then Muốn hành nghề, Then phải nhận thấy và có thời gian học nghề nhất định Nếu như ở các địa phương khác, xét về giới thì Then tuyệt đại đa số là nữ (bà Then), trong khi khảo sát của tôi ở Pác Nặm tất cả thầy Then đều là đàn ông

Trang 36

Một đặc điểm khác là các thầy Then ở Pác Nặm chỉ xem bói và hành lễ theo yêu cầu của gia chủ, chứ không xem tướng mạo cho cộng đồng cư dân nơi đây Then có thể thực hiện được nhiều nghi lễ khác nhau, trong đó mỗi loại nghi

lễ đáp ứng những nhu cầu khác nhau của đời sống trần tục như bói toán, giải hạn, cầu yên… Ngoài những ngày đi hành lễ cho các gia đình, họ cũng đi cầy bừa, cấy hái như bao người nông dân khác

Hệ thống thần linh của Then Hệ thống thần linh của Then bao gồm Ngọc

Hoàng và các thiên tướng; tổ nghề Then và dòng dõi Then; các thần linh tại địa phương (thành hoàng, thổ thần, tổ tiên)

Một số quy định về đón Then (tỏn Then), đưa Then (thống Then)

Người đón Then, đưa Then có thể là nam hay nữ, nhưng phải là người khỏe mạnh, nhanh nhẹn, tháo vát Trước ngày đón Then, đưa Then không được làm điều xấu, không ăn tạp, không ăn thịt chó Phụ nữ đang hành kinh, hay đàn ông có vợ đẻ chưa đầy tháng thì cũng không được đón Then và đưa Then

Trên đường đi đón và đưa Then, người đó phải đội mũ nón từ nhà đến nhà Then Nón, ô hay mũ vành rộng là đồ bảo vệ đồ nghề của Then vì ở trên không trung có một bầy ma quái, quỷ dữ, ôn binh… luôn luôn rình mò để cướp lấy đồ nghề của Then Trong trường hợp Then ở xa nhà, đi đón và đưa cả ngày, nếu dọc đường muốn đi vệ sinh thì phải treo đồ nghề của Then lên cành cây cao và lấy nón, ô, hay mũ che kín phía trên Chỗ đi vệ sinh phải khuất nơi để đồ nghề Đi đưa Then, người nào mang thứ gì thì phải đến tận nhà Then, không được tùy ý trao đổi với nhau

Khi đến nhà Then, người đón vào nhà, ngồi trên cây phân giữa dọc theo sàn nhà ở phía ngoài, bên trên khuôn bếp Đến nơi, không nhất thiết phải chờ chủ nhà làm thủ tục tiếp khách mà chỉ cần gặp Then hay người nhà Then và nói đến

đón Then và lấy đồ cúng về trước Khi đó, Then thắp hương lên bàn thờ (tang tịnh) rồi lấy đồ cúng, tính tẩu đặt ở cái chiếu dưới bàn thờ Người đón đến đứng

ở phái dưới chiếu chính giữa táng tịnh vái lậy 3 lần rồi đến nhận hòm và tính tẩu, khoác quai hòm lên vai và rời khỏi nhà

Trang 37

Khi ăn bữa cơm sau cúng và làm thủ tục thanh toán xong, Then hạ trùng

ba dây đàn tính, lấy mảnh vải đỏ gói bầu đàn lại, xoay một nửa vòng mâm thờ, xếp các dụng cụ bầy trên mâm vào hòm rồi khóa lại, chuyển dưới chiếu ngồi, giao cho người đưa đồ đem về nhà trước Đưa Then phải là hai người, một người

mang đồ cúng (hòm, tính tẩu) và một người gánh vật trả lễ (bao gồm: một đùi

trước của lợn, một con gà luộc chín, túi đựng gạo cắm hương, một con gà còn sống, một cụm lúa) Đến nhà Then, con gà sống để ở dưới sàn, còn lại đồ cúng

và đồ lễ đều đem đến đặt ở cái chiếu dưới táng tịnh, giao cho người nhà của Then Trên đường đưa Then, hai người này phải đi thẳng đến nhà Then, không được rẽ vào bất cứ đâu

Dụng cụ hành nghề Then

Đàn tính (tiếng Tày là tính tẩu) Đây là dụng cụ hành nghề quan trọng nhất

và đặc trưng nhất của Then Tính tẩu gồm 3 dây, cần đàn bằng gỗ, hộp đàn bằng

vỏ quả bầu khô Đàn tính được làm theo những quy định riêng, nếu như mặt hộp đàn (tẩu) có đường kính 2 nắm tay thì thân đàn gàn phải có chiều dài 9 nắm tay

Chùm nhạc xóc (hay còn gọi là cỗ nhạc- cỗ ngựa) Chùm nhạc xóc làm bằng

đồng hay bằng sắt, tượng trưng cho âm binh của Then, dùng trong những lúc Then

đi đường, sử dụng bằng cách móc vào ngón chân cái để đệm theo nhịp đàn tính Với đàn tính và chùm nhạc xóc, Then khắp theo 3 điệu: mo, khắp và ru

Ấn Ấn được làm bằng đồng, sử dụng với ý nghĩa thừa lệch Ngọc Hoàng

Thượng Đế để đi hành đạo Vì vậy, ấn được đặt vào bát hương chính của then

Thẻn Thẻn là bộ gieo quẻ âm dương, được làm bằng nửa miếng gỗ hoặc

tre dung để hỏi ý kiến thần linh

Bằng sắc Bằng sắc là chứng chỉ hành nghề của Then, được cấp trong

những dịp cấp sắc hay tăng cấp Sắc được viết bằng chữ Hán trên giấy vàng và được cất rất kỹ vì là vật thiêng của Ngọc Hoàng Thượng Đế Cùng với ấn, bằng sắc là thứ giấy thông hành để Then hành nghề

Trang 38

Ngoài những dụng cụ trên Then còn có quạt, chuông, kính gương, 6 cái bát, 4 cái đĩa… Tất cả những dụng cụ này (trừ đàn tính) đều được cất trong một cái hòm, gọi là hòm then

Những điều kiêng kỵ trong khi hành nghề Then

Như đã nói ở trên, những người hành nghề Then có những quy định bắt buộc phải thực hiện Khi hành nghề Then, có 4 con vật mà những thầy Then không bao giờ được phép ăn, đó là chó, ngựa, rắn, én Vì theo quan niệm của đời xưa để lại, chó là con vật đã ngậm và mang sách Nho về cho các thầy cúng từ bên Trung Quốc sang, ngựa là con vật do Ngọc Hoàng Thượng Đế sai xuống trần gian để cứu nhân độ thế; rắn tượng trưng cho bạch xà, bạch tượng, quân của Long Vương; én là con vật mang thư, chạy thư cho ma thầy khi hành lễ Ngoài

ra, Then cũng không được ăn tiết canh, không được ăn những con vật mang thai như trâu, bò… vì quan niệm cái bao tử trong bụng mẹ là mầm sống, đã có sự sống, nếu giết mổ mầm sống đang phôi thai, chưa được nhìn thấy ánh mặt trời, chưa được hít thở khí trời là mang tội diệt chủng Trong một năm, có những ngày

thầy Then không được hành nghề, vì quan niệm đây là những ngày “thát chủ”

Đó là những ngày “xuân chi long, thu chi khuyển, đông chi ngưu, hạ chi dương”, nghĩa là ngày thìn vào mùa xuân, ngày tuất vào mùa thu, ngày sửu vào mùa đông, ngày mùi vào mùa hè

2.3.2 Đồ lễ/ đồ cúng trong nghi lễ Then giải hạn

Nhà xung (rướn xung)

Nhà xung (rướn xung) được quan niệm là nhà dành cho ma tà, quỷ quái

Nhà xung là một cái nhà 3 tầng, được kết cấu đơn giản, có 4 cột cao khoảng 1m bằng cuống lá chuối, các que cây nứa (hoặc cây vầu) liên kết với các cuống lá chuối này tạo thành 3 tầng, mặt các tầng thì dùng lá chuối phủ Tầng 1 của nhà xung gồm có: một nắm cơm, một con gà luộc chín Tầng 2 là áo của cả gia đình tiến hành nghi lễ Then giải hạn, được sắp xếp gọn vào trong theo thứ tự từ dưới lên trên Tầng 3 của nhà xung là cành cây, tượng trưng cho hoa lá, có sự sống

Trang 39

Vách và mái vòm của nhà xung được che bằng lá chuối Khi tiến hành nghi lễ Then giải hạn, nhà xung được đặt ở phía trước các mâm cỗ dành cho phần cúng giải, để các loại ma cần cúng đến nhận nhà (để đuổi các loại ma đi khỏi nhà người thì phải có nhà cho ma ở) và hương cỗ bàn bày đủ các thứ cần cho một đám cúng theo yêu cầu của từng loại ma

Cầu cọc (cấu lắc)

Cầu cọc (cấu lắc) là dụng cụ làm bằng gỗ, có đánh dấu gốc, ngọn vì khi

hành lễ thì phải đặt đúng chiều, gốc cây quay về phía chủ, còn ngọn cây quay ra phía bên ngoài, để giải ma đi không quay lại nữa

Ống gạo giải và đồng tiền giải (khẩu, tiến giải)

Trước ngày hành lễ, chủ nhà phải đi 3 nhà cùng làng, khác họ, xin mỗi nhà

3 nắm gạo (tẻ hoặc nếp) để đủ 9 nắm gạo giải (9 nắm gạo thể hiện cho 9 vía, lấy vía đàn bà làm chuẩn) Số gạo này cho vào một cái túi riêng, không ai được dùng đến trước lúc vào cùng giải, người hành lễ lấy ra 39 đồng tiền kim loại có sơn một mặt trắng, một mặt đen Nếu giải hạn cho nam thì dùng 37 đồng tiền xu, nếu giải hạn cho nữ thì dung 39 đồng xu Khi tiến hành giải hạn, lấy mặt trắng (mặt dương) làm chuẩn, mặt đen (mặt âm) không lấy Lúc đổ tiền lẫn gạo giải, số mặt trắng phải hiện quá bán (nam 19 đồng, nữ 20 đồng) Lễ vật giải hạn còn còn có một con gà trống sống nhốt trong lồng và một cụm lúa nếp phủ trên lồng gà Đây

là những trường hợp đặc biệt, các lễ vật cho cúng giải hạn ngoài những vật chung trên còn có những lễ vật khác, tùy thuộc vào thầy Then và phong tục địa phương nơi đó

Nếu giải hạn cho người dưới 30 tuổi, lễ vật còn có thêm hình nhân (nếu là nam thì 7 hình nhân, nữ là 9 hình nhân) Đến khi đổ giải, người hành lễ đốt hình nhân để tiến hành chuộc vía Nếu giải cho người cao tuổi (trên 60 tuổi), lễ vật cúng giải có thêm mô hình vũ trụ bao la, trời đất trăng sao Mô hình được bày trong một cái mẹt hình tròn thể hiện không gian vũ trụ Trong mẹt trải một lớp bột gạo trắng mỏng tượng trưng cho không gian mây trắng đang bay trong gió

Trang 40

bão Trong mẹt còn có mặt trăng được nặn từ bột gạo nếp, mặt trời thì màu đỏ, mặt trăng thì mầu vàng

Tất cả các lễ vật trên được bày hết ở gian giữa, bên trên cửa ra vào, ngang với cây phân đôi theo sàn cùng thẳng đứng với đòn nóc (gian chính của nhà sàn) Trước khi hành lễ, người nhà và người hành lễ phải kiểm tra kỹ, không được thiếu sót lễ vật nào Khi các lễ vật đã được chuẩn bị đầy đủ thì người hành lễ mới quay lên mâm hương thờ tổ thư để đọc lời cúng, bắt đầu nghi lễ Then giải hạn

Để thực hiện được một nghi lễ Then giải hạn, chủ nhà phải nhờ đến anh em họ hàng, hàng xóm đến giúp sức, ít nhất phải có khoảng 10 người thì mới kịp hành

lễ vì những lễ vật này cần phải hoàn thành trước khi người hành lễ đến nhà

2.3.3 Tiến hành một nghi lễ Then giải hạn của người Tày ở Pác Nặm

Thời gian tiến hành lễ giải hạn thường bắt đầu vào buổi sáng, trình tự lần lượt

là lễ xôi hương, an đẳm, chừa giải, tổng khân và cuối cùng là chừa tỏn khoẳn

Xôi hương (xin phép đốt hương ở nhà cúng)

Khi gia đình và thầy Then tiến hành bày xong mâm thờ ma tổ thư của Then, bày xong rã áo đón vía, mọi mặt chuẩn bị cho nghi lễ đã xong hết thì thầy Then bắt đầu hành lễ cúng Bước đầu tiên hành lễ là xin phép đốt hương ở nhà cúng (lễ xôi hương)

Gia chủ đốt một nắm que hương, cắm vào các ống nhang thờ ma tổ, mỗi ống nhang hai que hương Sau đó, cắm hương vào bát gạo mâm thờ tổ thư Then

ba que nhang thẳng theo hàng ngang, cho hương thật đều nhau, không que hương nào cao hơn hay thấp hơn Tiếp đến, cắm một que hương vào bát gạo ở rã áo đón vía sát quả trứng, trong vòng bạc và một que hương cắm vào khay nước chè Rót nước chè, nước sạch và rượu vào các bát lá thanh thảo, chén uống nước, chén uống rượu trong mâm và báo cho thầy Then biết mọi thứ đã đầy đủ

Thầy Then mở hòm lấy áo khăn, mũ hành lễ, quạt giấy, thẻn, sách ra đặt cạnh mâm, lấy tính tẩu ra để lên đàn tính cho căng cả 3 dây thanh, trung, trầm Gia chủ bắt đầu khấn báo ma tổ (phi đắm) theo nội dung: kính báo tổ tiên từ cụ

kị, ông bà, cha mẹ…

Ngày đăng: 09/10/2018, 09:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phan Quốc Anh (2006), Nghi lễ vòng đời của người Chăm Ahier ở Ninh Thuận, H. Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghi lễ vòng đời của người Chăm Ahier ở Ninh Thuận
Tác giả: Phan Quốc Anh
Năm: 2006
2. Triệu Ân (1994), Ca dao Tày, Nùng, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca dao Tày, Nùng
Tác giả: Triệu Ân
Nhà XB: NXB Văn hóa dân tộc
Năm: 1994
3. Triệu Ân (1997), Tục cưới xin người Tày, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục cưới xin người Tày
Tác giả: Triệu Ân
Nhà XB: NXB Văn hóa dân tộc
Năm: 1997
4. Triệu Ân (2000), Then Tày những khúc hát, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Then Tày những khúc hát
Tác giả: Triệu Ân
Nhà XB: NXB Văn hóa dân tộc
Năm: 2000
5. Triệu Ân, Hoàng Quyết (1996), Từ điển, thành ngữ, tục ngữ dân tộc Tày, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển, thành ngữ, tục ngữ dân tộc Tày
Tác giả: Triệu Ân, Hoàng Quyết
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1996
6. Nguyễn Chí Bền (1999), Văn hóa Việt Nam: những suy nghĩ, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Việt Nam: những suy nghĩ
Tác giả: Nguyễn Chí Bền
Nhà XB: NXB Văn hóa dân tộc
Năm: 1999
7. Diệp Trung Bình (2005), Phong tục và nghi lễ vòng đời người của người Sán Dìu ở Việt Nam, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong tục và nghi lễ vòng đời người của người Sán Dìu ở Việt Nam
Tác giả: Diệp Trung Bình
Nhà XB: NXB Văn hóa dân tộc
Năm: 2005
8. Đỗ Thúy Bình (1994), Hôn nhân và gia đình các dân tộc Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hôn nhân và gia đình các dân tộc Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam
Tác giả: Đỗ Thúy Bình
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1994
9. Hoàng Hữu Bình (1998), Các tộc người ở trung du miền núi phía Bắc Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tộc người ở trung du miền núi phía Bắc Việt Nam
Tác giả: Hoàng Hữu Bình
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1998
10. Nguyễn Thị Thanh Bình (2013), "Tổng quan nghiên cứu về những biến đổi của dân tộc Tày từ năm 1980 đến nay", Tạp chí Dân tộc học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan nghiên cứu về những biến đổi của dân tộc Tày từ năm 1980 đến nay
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Bình
Năm: 2013
11. Nguyễn Từ Chi (1996), Góp phần nghiên cứu văn hóa tộc người, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần nghiên cứu văn hóa tộc người
Tác giả: Nguyễn Từ Chi
Nhà XB: NXB Văn hóa dân tộc
Năm: 1996
12. Hoàng Quyết, Tuấn Dũng (1995), Phong tục, tập quán của người Tày ở Việt Bắc, H. Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong tục, tập quán của người Tày ở Việt Bắc
Tác giả: Hoàng Quyết, Tuấn Dũng
Năm: 1995
13. Nguyễn Khoa Điềm (2001), Bảo tồn phát huy văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn phát huy văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số
Tác giả: Nguyễn Khoa Điềm
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
14. Nguyễn Huy Hồng (2012), Nghệ thuật múa rối Tày, Nùng, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật múa rối Tày, Nùng
Tác giả: Nguyễn Huy Hồng
Nhà XB: NXB Văn hóa dân tộc
Năm: 2012
15. Dương Hải Hưng (2003), Sự cố kết cộng đồng của người Tày vùng núi phía Bắc Việt Nam, Luận án tiến sỹ Tâm lý học, Đại học sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự cố kết cộng đồng của người Tày vùng núi phía Bắc Việt Nam
Tác giả: Dương Hải Hưng
Năm: 2003
16. Đinh Gia Khánh (1995), Văn hóa Việt Nam trong bối cảnh Đông Nam Á, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa Việt Nam trong bối cảnh Đông Nam Á
Tác giả: Đinh Gia Khánh
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1995
17. Vũ Ngọc Khánh (sưu tầm và biên soạn) (2004), Truyền thống văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam, NXB Thanh Niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thống văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam
Tác giả: Vũ Ngọc Khánh (sưu tầm và biên soạn)
Nhà XB: NXB Thanh Niên
Năm: 2004
18. Triệu Thị Mai (2001), Lễ cầu tự của người Tày Cao Bằng, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ cầu tự của người Tày Cao Bằng
Tác giả: Triệu Thị Mai
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 2001
19. Hoàng Nam (2002), Đặc trưng văn hóa cổ truyền các dân tộc Việt Nam, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trưng văn hóa cổ truyền các dân tộc Việt Nam
Tác giả: Hoàng Nam
Nhà XB: NXB Văn hóa dân tộc
Năm: 2002
20. Hoàng Nam (2005), Văn hóa các dân tộc vùng Đông Bắc Việt Nam, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa các dân tộc vùng Đông Bắc Việt Nam
Tác giả: Hoàng Nam
Nhà XB: NXB Văn hóa dân tộc
Năm: 2005

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm