Quan hệ thương mại, đầu tư Việt NamMyanmar: Thực trạng và giải pháp (Luận văn thạc sĩ)Quan hệ thương mại, đầu tư Việt NamMyanmar: Thực trạng và giải pháp (Luận văn thạc sĩ)Quan hệ thương mại, đầu tư Việt NamMyanmar: Thực trạng và giải pháp (Luận văn thạc sĩ)Quan hệ thương mại, đầu tư Việt NamMyanmar: Thực trạng và giải pháp (Luận văn thạc sĩ)Quan hệ thương mại, đầu tư Việt NamMyanmar: Thực trạng và giải pháp (Luận văn thạc sĩ)Quan hệ thương mại, đầu tư Việt NamMyanmar: Thực trạng và giải pháp (Luận văn thạc sĩ)Quan hệ thương mại, đầu tư Việt NamMyanmar: Thực trạng và giải pháp (Luận văn thạc sĩ)Quan hệ thương mại, đầu tư Việt NamMyanmar: Thực trạng và giải pháp (Luận văn thạc sĩ)Quan hệ thương mại, đầu tư Việt NamMyanmar: Thực trạng và giải pháp (Luận văn thạc sĩ)Quan hệ thương mại, đầu tư Việt NamMyanmar: Thực trạng và giải pháp (Luận văn thạc sĩ)Quan hệ thương mại, đầu tư Việt NamMyanmar: Thực trạng và giải pháp (Luận văn thạc sĩ)
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ
QUAN HỆ THƯƠNG MẠI, ĐẦU TƯ VIỆT NAM – MYANMAR: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Ngành: Kinh doanh Chuyên ngành: Kinh doanh thương mại
Mã số: 8340121
Họ và tên học viên: Nguyễn Minh Khánh Người hướng dẫn: GS TS Nguyễn Thị Mơ
Hà Nội, năm 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để có thể hoàn thành đề tài luận văn thạc sĩ một cách hoàn chỉnh, bên cạnh sự
nỗ lực cố gắng của bản thân còn có sự hướng dẫn nhiệt tình của quý Thầy Cô, cũng như sự động viên ủng hộ của gia đình và bạn bè trong suốt thời gian học tập nghiên cứu và thực hiện luận văn thạc sĩ
Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến Cô giáo – người hướng dẫn GS TS Nguyễn Thị Mơ người đã hết lòng giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành luận văn này Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến toàn thể quý thầy
cô trong khoa Sau đại học – Trường Đại học Ngoại Thương Hà Nội đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập nghiên cứu và cho đến khi thực hiện đề tài luận văn Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến anh Võ Xuân Vinh – Viện phó Viện nghiên cứu Đông Nam Á và bạn Nguyễn Phương Trang nhân viên Trung tâm Phát triển thương mại điện tử - Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số-Bộ Công Thương
đã hỗ trợ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt thời gian nghiên cứu và thực hiện luận văn
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn đến gia đình, các anh chị và các bạn đồng nghiệp đã hỗ trợ cho tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ một cách hoàn chỉnh
Hà Nôi, tháng 3 năm 2018
Học viên thực hiện
Nguyễn Minh Khánh
Trang 4LỜI CAM KẾT
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các số liệu sử dụng phân tích trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, đã công bố theo đúng quy định Các kết quả nghiên cứu trong luận văn do tôi tự tìm hiểu, phân tích một cách trung thực, khách quan và phù hợp với thực tiễn của Việt Nam Các kết quả này chưa từng được công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào khác Những số liệu trong bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, các đánh giá, nhận xét được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau, có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo Ngoài
ra, trong luận văn còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của các
cơ quan, tổ chức, các tác giả khác đều có trích dẫn và chú thích nguồn gốc
Học viên thực hiện
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM KẾT ii
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ v
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN ix
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUAN HỆ THƯƠNG MẠI, ĐẦU TƯ VIỆT NAM – MYANMAR .7
1.1 Những vấn đề cơ bản về thương mại quốc tế và đầu tư quốc tế .7
1.1.1 Những vấn đề cơ bản về thương mại quốc tế .7
1.1.2 Những vấn đề cơ bản về đầu tư nước ngoài 10
1.2 Giới thiệu về đất nước Myanamar 15
1.2.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của Myanmar 15
1.2.2 Điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của Myanmar 17
1.3 Quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Myanmar 20
1.3.1 Quá trình hình thành và phát triển quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Myanmar 20
1.3.2 Các giai đoạn phát triển kinh tế giữa Việt Nam và Myanmar 22
1.3.3 Các chính sách thương mại của Myanmar hiện nay 25
1.3.4 Sự phát triển về đầu tư nước ngoài giữa Việt Nam và Myanmar trong giai đoạn 2012 đến nay .31
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI, ĐẦU TƯ 32
GIỮA VIỆT NAM VÀ MYANMAR 32
2.1 Thực trạng quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Myanmar giai đoạn 2012-2017 32
2.1.1 Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai nước Việt Nam và Myanmar 32
2.1.2 Về cơ cấu mặt hàng xuất nhập khẩu 35
2.1.3 Nhận xét về thực trạng quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Myanmar 40
Trang 62.2 Thực trạng quan hệ đầu tư giữa Việt Nam và Myanmar 47
2.2.1 Thực trạng chính sách đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam và chính sách thu hút đầu tư nước ngoài của Myanmar 47
2.2.2 Kết quả của những hoạt động đầu tư .54
2.2.3 Nhận xét về quan hệ đầu tư giữa Việt Nam và Myanmar trong thời gian qua 57
CHƯƠNG III PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN QUAN HỆ THƯƠNG MẠI, ĐẦU TƯ GIỮA VIỆT NAM VÀ MYANMAR 63
3.1 Dự báo về xu hướng phát triển quan hệ thương mại, đầu tư giữa Việt Nam và Myanmar trong thời gian tới 63
3.1.1 Những cơ hội trong việc phát triển quan hệ thương mại, đầu tư giữa Việt Nam và Myanmar 63
3.1.2 Những thách thức trong việc phát triển quan hệ thương mại, đầu tư giữa Việt Nam và Myanmar 64
3.2 Phương hướng phát triển quan hệ thương mại, đầu tư giữa Việt Nam và Myanmar trong thời gian tới 66
3.2.1 Việt Nam và Myanmar cam kết làm sâu sắc hơn quan hệ thương mại-đầu tư song phương trên cơ sở cùng có lợi và tạo điều kiện tốt nhất cho quan hệ thương mại, đầu tư phát triển mạnh mẽ .66
3.2.2 Phát triển quan hệ thương mại, đầu tư giữa Việt Nam và Myanmar không chỉ là chiến lược phát triển kinh tế của hai nước mà còn để tăng cường sự đoàn kết và ổn định kinh tế khu vực 67
3.3 Các giải pháp cụ thể nhằm phát triển quan hệ thương mại, đầu tư giữa Việt Nam và Myanmar 68
3.3.1 Nhóm giải pháp từ phía Chính phủ hai nước Việt Nam và Myanmar 68 3.3.2 Nhóm giải pháp từ phía các doanh nghiệp hai nước Việt Nam và Myanmar 74
KẾT LUẬN 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
CÁC PHỤ LỤC 90
Trang 7DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Tên bảng biểu
Biểu đồ 2.1 Diễn biến kim ngạch hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và cán cân
thương mại Việt Nam- Myanmar giai đoạn năm 2012-2017
Biểu đồ 2.2 Cơ cấu các mặt hàng nhập khẩu chính của Việt Nam từ Myanmar
Trang 9CO Certificate of Origin Giấy chứng nhận xuất xứ
DICA Directorate of Investment and
Company Administration
Cục Quản lý Đầu tư và Doanh nghiệp Myanmar
EU European Union Liên minh Châu Âu
FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội
ISO International Organization for
MIC Myanmar Investment
Commission Ủy ban Đầu tư Myanmar
MMK Kyat Chạt - Đơn vị tiền tệ Myanmar
MOU Memorandum Of Understanding Biên bản ghi nhớ
NLD National League for Democracy Đảng Liên đoàn quốc gia vì
USD United State Dollar Đô la Mỹ
UTL Union Taxation Law Luật thuế Liên bang
Trang 10VCCI Vietnam Chamber of Commerce
and Industry
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
WB World Bank Ngân hàng Thế giới
WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại Thế giới
Trang 11TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN
Với đề tài “Quan hệ thương mại, đầu tư Việt Nam-Myanmar: Thực trạng và giải pháp” tác giả đã tiến hành nghiên cứu các tài liệu bằng cả Tiếng Việt và Tiếng Anh từ các nguồn như sách, báo, tạp chí, các báo, internet trong thời gian từ tháng
10 năm 2017 đến tháng 3 năm 2018 Bằng các phương pháp nghiên cứu khoa học, các thông tin, số liệu tác giả tìm hiểu được, tác giả đã trình bày kết quả nghiên cứu
đề tài “Quan hệ thương mại, đầu tư Việt Nam-Myanmar: Thực trạng và giải pháp” với độ dài khoảng 90 trang gồm 3 chương với như sau:
Chương I: Qua việc tìm hiểu vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và con người Myanmar, tác giả nhận thấy Myanmar có nhiều tiềm năng để phát triển kinh tế toàn diện Thêm vào đó là mối quan hệ về mặt chính trị ngoại giao lâu đời, tốt đẹp giữa Việt Nam và Myanmar cũng là nền tảng vững chắc để hai nước phát triển quan hệ kinh tế lâu dài Quan hệ kinh tế giữa hai nước được hình thành từ sớm, nhưng do Myanmar thực hiện chính sách đóng cửa nền kinh tế từ năm 2011 trở về trước nên quan hệ kinh tế giữa hai nước chưa phát triển Sau đó Myanmar mở cửa nền kinh tế trở lại từ năm 2011, Chính phủ Myanmar liên tục thực hiện các cải cách nhằm phát triển kinh tế, quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Myanmar đã có nhiều bước phát triển đáng kể Cụ thể tác giả đã chọn hoạt động xuất nhập khẩu và đầu tư trực tiếp nước ngoài giữa hai nước để phân tích quá trình phát triển thương mại, đầu tư giữa hai nước Việt Nam – Myanmar
Chương II: Tác giả đã dựa vào các số liệu được thống kê từ các nguồn tin cậy, tác giả đã tiến hành phân tích thực trạng đầu tư, thương mại giữa Việt Nam và Myanmar cụ thể là hoạt động xuất nhập khẩu và đầu tư ra nước ngoài của hai nước Kết quả cho thấy, kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai nước không ngừng tăng lên trong giai đoạn từ năm 2012 tới nay Tuy vây, tỷ trọng thương mại và đầu tư của Việt Nam và Myanmar vẫn ở mức khá thấp, do còn tồn tại nhiều hạn chế trong chính sách của Chính phủ cũng như từ phía các doanh nghiệp hai nước Để quan hệ kinh tế hai nước phát triển, phải giải quyết được những tồn tại trên vì vậy tác giả
Trang 12dành chương III để đưa ra một số đề xuất của cá nhân dành cho Chính phủ và các doanh nghiệp hai nước
Chương III: Trong chương III, tác giả đã nhận định xu hướng phát triển quan
hệ thương mại, đầu tư giữa hai nước Việt Nam – Myanmar sẽ ngày càng phát triển trong tương lai, đồng thời chỉ ra những cơ hội và thách thức với cả hai nước trong thời gian tới Cuối cùng tác giả xin đưa ra một số giải pháp cụ thể nhằm phát triển quan hệ thương mại, đầu tư giữa Việt Nam và Myanmar trong tương lai
ngh a thực tiễn
Các doanh nghiệp Việt Nam có thể sử dụng luận văn làm một tài liệu tham khảo trước khi quyết định tiến hành hoạt động thương mại, đầu tư với Myanmar Các doanh nghiệp sẽ tự phân tích những ưu nhược điểm của mình và những cơ hội cũng như những thách thức phải đối mặt khi hợp tác thương mại, đầu tư với Myanmar, từ đó đưa ra quyết định đầu tư hay hợp tác thương mại một cách hiệu quả nhất
Hướng nghiên c u tiế theo
Tiếp th o luận văn này, các nhà nghiên cứu có thể mở rộng ra các nghiên cứu khác của hoạt động thương mại và đầu tư như: phát triển thương mại dịch vụ với Myanmar và đầu tư chứng khoán tại thị trường Myanmar
Trang 13LỜI MỞ ĐẦU
I TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Thương mại quốc tế và đầu tư quốc tế là một trong những đặc trưng cơ bản của nền kinh tế và có ý nghĩa rất quan trọng với Việt Nam hiện nay Kể từ khi đổi mới vào năm 1986 đến nay, Việt Nam cũng đã có rất nhiều nỗ lực trong việc mở rộng giao thương, buôn bán với các nước trên thế giới Vì vậy mà kinh tế Việt Nam cũng đạt được nhiều thành tựu
Trong những năm gần đây, để thúc đẩy phát triển kinh tế hơn nữa, Chính phủ Việt Nam đã khuyến khích các doanh nghiệp trong nước gia tăng việc tìm kiếm các thị trường mới, mở rộng kinh doanh đầu tư sang các nước, nhằm tạo thêm nguồn thu trong nước và để các doanh nghiệp trong nước khẳng định sự lớn mạnh của mình Một trong những thị trường Việt Nam hướng tới đó là Myanmar Trước tháng
5 năm 2011, Myanmar là một nền kinh tế đóng, tuy nhiên từ khai Myanmar quyết định mở cửa nền kinh tế, thực hiện cải cách đất nước vào tháng 5 năm 2011, Myanmar đã rất nỗ lực đổi mới các chính sách về chính trị, ngoại giao, kinh tế và đồng thời đẩy mạnh quan hệ kinh tế với bạn bè thế giới Trong đó Myanmar cũng rất coi trọng việc mối quan hệ với Việt Nam Qua nghiên cứu, tác giả nhận thấy rằng Myanmar sở hữu nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, dân số đông khoảng 55,1 triệu người năm 2017 (CIA, The World Factbook, 2017), số người trong độ tuổi lao động chiếm 42,8%, thêm vào đó Myanmar còn được các chuyên gia kinh tế trên thế giới đánh giá là “mỏ vàng cuối cùng của Châu Á” là những điều kiện thuận lợi để Myanmar phát triển mạnh mẽ kinh tế trong tương lai Tác giả nhận thấy việc phát triển quan hệ thương mại, đầu tư giữa Việt Nam với Myanmar là làm rất cần thiết trong thời gian tới Chính vì vậy tác giả quyết định lựa chọn vấn đề
“Quan hệ thương mại, đầu tư Việt Nam – Myanmar: Thực trạng và giải pháp” làm
đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ của mình Thông qua việc nghiên cứu quan hệ thương mại, đầu tư giữa Việt Nam và Myanmar, tác giả phân tích những thuận lợi
và khó khăn trong quan hệ kinh tế hai nước Sau đó xin đề xuất một số giải pháp nhằm giúp các doanh nghiệp Việt Nam khai thác hiệu quả, tận dụng những thuận
Trang 14lợi và khắc phục những khó khăn còn tồn tại khi tiến hành hoạt động thương mại và đầu tư với Myanmar
II TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
2.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Qua tìm hiểu, tác giả nhận thấy có rất nhiều nghiên cứu về nền kinh tế Myanmar của các tổ chức, học giả quốc tế nhưng không có nhiều tài liệu nghiên cứu về tình hình thương mại và đầu tư giữa Việt Nam và Myanamar của các nhà nghiên cứu nước ngoài hoặc các tổ chức quốc tế Trên các báo cáo của các cơ quan, ban ngành quản lý hoạt động kinh tế cho thấy việc phân tích về thương mại và đầu
tư giữa Việt Nam và Myanamar mới chỉ dừng lại ở việc đưa ra các số liệu thống kê, chưa có nhiều phân tích sâu sắc về quan hệ kinh tế giữa hai nước
Kể từ khi Myanmar tiến hành mở cửa nền kinh tế vào năm 2011, các chuyên gia kinh tế thế giới đã nhanh chóng tiến hành những nghiên cứu về kinh tế của Myanmar trước hết để giúp Myanmar tìm ra được định hướng phát triển, sau đó để các nước khác trên thế giới có cơ hội hợp tác thương mại và đầu tư với Myanmar
Trong một báo cáo mang tên “Myanmar in Transition - Opportunities and
Chall ng ” được thực hiện vào tháng 8 năm 2012 của ADB đã chỉ ra những điểm mạnh, những hạn chế, đồng thời không thể không nhắc đến các cơ hội và thách thức
mà Myanmar sẽ gặp phải khi bắt đầu những thay đổi về chính trị và mở cửa nền kinh tế Điểm mạnh của Myanamar là Myanmar tiến hành cải các rất mạnh mẽ và dứt khoát; dân số Myanmar rất trẻ, chi phí lao động thấp; các nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng phong phú và chưa được khai thác nhiều; tài nguyên đất nông nghiệp của Myanmar rất màu mỡ, cho năng suất cao; tiềm năng về du lịch lớn Nhưng Myanmar có những hạn chế không hề nhỏ đó là quản lý kinh tế vĩ mô yếu kém và thiếu kinh nghiệm với các cơ chế thị trường; hạn chế huy động nguồn tài chính; ngành tài chính kém phát triển; cơ sở hạ tầng không đầy đủ, đặc biệt trong lĩnh vực giao thông, điện, và viễn thông; giáo dục và y tế còn thấp Để phát triển kinh tế Myanamar sẽ phải nỗ lực rất lớn Tuy nhiên Báo cáo này cũng đưa ra những gợi ý cho sự chuyển đổi kinh tế của Myanamar Myanmar cần chú ý vào việc quản
lý nền kinh tế vĩ mô một cách ổn định; tích cực huy động nguồn lực trong nước
Trang 15bằng cách phát triển hệ thống tài chính quốc gia; phát triển cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực trong nước; cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh; cải cách khu vực nhà nước; xây dựng các kế hoạch và năng lực thống kê
Mặc dù vậy, các công trình nghiên cứu về quan hệ thương mại – đầu tư giữa Việt Nam và Myanmar hầu như chưa được các tác giả nước ngoài quan tâm phân tích
2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, trong những năm vừa qua, đã có nhiều nghiên cứu về thị trường Myanmar về cơ hội hợp tác đầu tư với Myanmar
Một trong những công trình nghiên cứu được đánh giá xuất sắc đó là công trình nghiên cứu “Biến đổi chính trị và kinh tế của Myanmar và tác động đến khu vực và Việt Nam” được thực hiện bởi Viện nghiên cứu Đông Nam Á, do TS Võ Xuân Vinh chủ nhiệm đề tài được thực hiện vào năm 2014 Công trình này phân tích về những biến đổi về chính trị, kinh tế của Myanamar và những tác động đến khu vực nói chung và Việt Nam nói riêng Công trình này chỉ ra rằng, kể từ khi tiến hành mở cửa năm 2011, thương mại hai chiều Việt Nam-Myanmar đã gia tăng đáng
kể, từ 152,3 triệu USD năm 2010 lên 227,3 triệu USD năm 2012; 480,65 triệu USD vào năm 2014 Cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu hàng hóa sang Myanmar là rất lớn Ngoài ra, sự giàu có về nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn lao động giá rẻ và cơ chế chính sách đầu tư dần thông thoáng hơn là cơ hội lớn để các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư vào Myanmar Tuy nhiên, cho đến nay đã nhiều năm trôi qua, thương mại và đầu tư giữa Việt Nam và Myanmar đã có những thay đổi đang kể, do đó nhiều số liệu trong công trình này đã không còn cập nhật
Ngoài ra, hàng năm, Ban Quan hệ Quốc tế của VCCI cũng tiến hành làm các Báo cáo mang tên: Hồ sơ thị trường Myanmar Tuy nhiên trong Hồ sơ thị trường Myanmar hàng năm cũng chỉ dừng lại ở việc liệt kê một vài số liệu về tình hình thương mại và đầu tư của hai đất nước, mà chưa chỉ ra những mặt hạn chế trong thương mại và đầu tư hai quốc gia
Trang 16Có thể khẳng định, cho đến nay chưa có luận văn thạc sĩ nào nghiên cứu cụ thể về quan hệ thương mại, đầu tư giữa Việt nam và Myanmar và chỉ ra những bất cập cũng như những giải pháp để loại bỏ bất cập đó
III MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu quan hệ thương mại và đầu tư giữa Việt Nam và Myanmar trong thời gian qua để thấy tiềm năng về thương mại và đầu tư giữa hai nước và chỉ ra những hạn chế, đề tài đề xuất các giải pháp nhằm phát triển quan hệ thương mại, đầu tư giữa Việt Nam và Myanmar trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích nói trên, đề tài có nhiệm vụ cụ thể sau đây:
Phân tích đặc điểm về thương mại, đầu tư của Việt Nam và Myanmar nhằm so sánh và tìm ra cơ hội phát triển quan hệ thương mại, đầu tư giữa hai nước
Phân tích thực trạng quan hệ thương mại, đầu tư giữa Việt nam và Myanmar trong thời gian qua nhằm chỉ ra những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế đó
Phân tích cơ hội và thách thức trong việc phát triển quan hệ thương mại, đầu tư giữa Việt Nam và Myanmar
Đề xuất giải pháp phát triển quan hệ thương mại, đầu tư giữa Việt Nam và Myanmar trong thời gian tới
IV ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề liên quan đến quan hệ thương mại, đầu tư giữa Việt nam và Myanmar trong thời gian vừa qua Ngoài ra đối tượng nghiên cứu của đề tài còn bao gồm cả việc phân tích chính sách kinh tế, quan hệ chính trị và các quan điểm của Chính phủ hai nước về phát triển thương mại, đầu tư của Myanmar cũng như của Việt Nam
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về nội dung: Là việc nghiên cứu quan hệ thương mại, đầu tư giữa Việt Nam và Myanmar
Trang 17 Về quan hệ thương mại: Luận văn chú trọng nghiên cứu về quan hệ xuất nhập khẩu hàng hóa hữu hình giữa Việt Nam và Myanmar, không phân tích quan hệ thương mại trong lĩnh vực dịch vụ và sở hữu trí tuệ
Về quan hệ đầu tư: Luận văn tập trung nghiên cứu về đầu tư trực tiếp
ra nước ngoài (FDI), không nghiên cứu quan hệ đầu tư gián tiếp giữa hai nước
Phạm vi thời gian: Luận văn nghiên cứu quan hệ thương mại và đầu
tư giữa Việt Nam và Myanmar từ năm 2012 đến năm nay vì giai đoạn trước đó, giữa Việt Nam và Myanmar có quan hệ kinh tế nhưng còn ở mức rất hạn chế, hơn nữa năm 2011 Myanmar mới tuyên bố mở cửa nền kinh tế, thì khi đó Việt Nam và Myanmar mới có nhiều cơ hội hợp tác kinh tế, có nhiều thành tựu về kinh tế hơn Khi đề xuất giải pháp, tác giả cũng đề xuất giải pháp để phát triển quan hệ thương mại và đầu tư giữa Việt Nam và Myanmar đến năm 2028
V PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện luận văn, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp hệ thống hóa, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, phương pháp suy luận logic, phương pháp dự đoán
Trước hết, trong chương I của luận văn, dựa vào phương pháp thống kê, tác giả đã liệt kê tất cả những tài liệu mình thu thập được trong quá trình tìm hiểu về quan hệ thương mại, đầu tư giữa Việt Nam và Myanmar Sau đó sử dụng phương pháp tổng hợp, và phương pháp hệ thống hóa nhằm phân chia các tài liệu tìm được thành các nhóm nội dung cần nghiên cứu Tiếp đó, trong chương II của luận văn tác giả sử dụng phương pháp phân tích và so sánh từ các số liệu tìm được để làm rõ hơn thực trạng thương mại, đầu tư đang diễn ra giữa hai nước Việt Nam và Myanmar Cuối cùng tại chương III bằng các phương pháp nghiên cứu cũng như phân tích, suy luận logic và phương pháp dự đoán, tác giả đưa ra những giải pháp nhằm phát triển quan hệ thương mại, đầu tư giữa hai nước trong thời gian tới
VI BỐ CỤC LUẬN VĂN
Ngoài danh lời mở dầu và phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của đề tài nghiên cứu được chia thành 3 (ba) chương, đó là:
Trang 18Chương I: Cơ sở lý luận về quan hệ thương mại, đầu tư giữa Việt Nam và Myanmar
Chương II: Thực trạng quan hệ thương mại, đầu tư giữa Việt Nam và Myanmar
Chương III: Phương hướng và giải pháp phát triển quan hệ thương mại, đầu tư giữa Việt Nam và Myanmar
Trang 19CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUAN HỆ THƯƠNG MẠI, ĐẦU TƯ VIỆT NAM – MYANMAR.
1.1 Những vấn đề cơ bản về thương mại quốc tế và đầu tư nước ngoài
1.1.1 Những vấn đề cơ bản về thương mại quốc tế
a) Khái niệm thương mại quốc tế
Thương mại quốc tế đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử loài người nhưng tầm quan trọng của nó trong nền kinh tế, xã hội và chính trị mới được chú ý đến một cách chi tiết trong vài thế kỷ gần đây Ngày nay thương mại quốc tế phát triển mạnh cùng với sự phát triển của công nghiệp hoá, giao thông vận tải, toàn cầu hóa, công
ty đa quốc gia và xu hướng thuê nhân lực bên ngoài Việc tăng cường thương mại quốc tế thường được x m như ý nghĩa cơ bản của "toàn cầu hoá"
Thương mại quốc tế trước hết là một hoạt động thương mại, theo Luật Thương
mại Việt Nam 2005 có nêu cách hiểu về hoạt động thương mại như sau: Hoạt động
thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác (Điều 3 khoản 1, luật Thương mại Việt Nam 2005)
Như vậy, khái niệm “thương mại” cần được hiểu là toàn bộ các hoạt động kinh doanh trên thị trường Nếu hoạt động trao đổi hàng hóa (kinh doanh hàng hóa) vượt
ra khỏi biên giới quốc gia mình thì người ta gọi đó là thương mại quốc tế (ngoại thương)
Còn theoo Tài liệu hướng dẫn học tập Thương mại quốc tế do Tiến sĩ Đoàn
Thị Mỹ Hạnh giảng viên trường ĐH Mở Thành phố Hồ Chí Minh chủ biên, xuất bản năm 2009, có đưa ra khái niệm thương mại quốc tế có thể được hiểu một cách đơn giản là hành vi mua bán liên quốc gia, có thể là mua bán qua biên giới hoặc mua bán tại chỗ với người nước ngoài (Đoàn Thị Mỹ Hạnh, 2009)
Dù các định nghĩa và khái niệm về thương mại quốc tế về mặt ngôn từ có sự khác nhau nhưng đều thể hiện bản chất của thương mại quốc tế, đó là sự trao đổi hàng hoá, dịch vụ giữa các doanh nghiệp của các quốc gia thông qua hành vi mua, bán, tuân theo nguyên tắc trao đổi ngang giá nhằm đ m lại lợi ích cho các bên Trao đổi hàng hoá là một hình thức của các mối quan hệ kinh tế xã hội và phản ánh sự
Trang 20phụ thuộc lẫn nhau giữa những người sản xuất kinh doanh hàng hoá riêng biệt của các quốc gia Thương mại quốc tế là một lĩnh vực quan trọng nhằm tạo điều kiện cho các nước tham gia vào phân công lao động quốc tế, phát triển kinh tế và làm giàu cho đất nước
b) Các đặc điểm của thương mại quốc tế
Xuất phát từ định nghĩa, thương mại quốc tế có những đặc điểm sau:
- Bên mua và bên bán có trụ sở kinh doanh ở các quốc gia khác nhau, mang quốc tịch khác nhau (hoặc có trụ sở kinh doanh ở các nước khác nhau) vì ngoại thương thực hiện chức năng lưu thông hàng hóa vượt ra khỏi biên giới một quốc gia
- Đối tượng của hoạt động thương mại quốc tế là tài sản; do được đ m ra mua bán, tài sản này biến thành hàng hóa Hàng hóa này có thể là hàng đặc định (sp cific goods) và cũng có thể là hàng đồng loại (generic goods) Hàng hóa – đối tượng của hoạt động thương mại quốc tế được di chuyển ra khỏi biên giới quốc gia
- Đồng tiền thanh toán sử dụng trong các hoạt động thương mại quốc tế là ngoại tệ đối với một trong hai hoặc tất cả bên tham gia
- Thương mại theo giá cả và thanh toán mang tính quốc tế Hàng hóa muốn bán được trên thị trường quốc tế phải phù hợp với giá cả của hàng đồng loại của những nhà cung cấp chính và phương thức thanh toán cũng phải phù hợp với yêu cầu của khách hàng nước ngoài và tập quán quốc tế
c) Các hình thức của thương mại quốc tế
- Thương mại hàng hóa: Chính là sự mua bán trao đổi sản phẩm dưới dạng vật chất hữu hình như thương mại hàng nông sản, thương mại hàng máy móc, thiết
bị, nguyên vật liệu, dầu mỏ v.v…
- Thương mại dịch vụ: Mua bán những sản phẩm vô hình, phi vật chất được thể hiện thông qua các hoạt động của con người, thương mại dịch vụ đóng vai trò ngày càng tăng trong quan hệ thương mại quốc tế
- Thương mại liên quan đến đầu tư: Sự trao đổi hàng hóa, dịch vụ gắn liền với hoạt động đầu tư quốc tế Hình thức này ngày càng phổ biến với sự tăng trưởng
Trang 21mạnh mẽ của dòng vốn đầu tư quốc tế và đặc biệt là sự phát triển của các công ty xuyên quốc gia hiện nay
- Thương mại liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ: Hoạt động thương mại này có đối tượng là các sản phẩm trí tuệ: Ví dụ như quyền tác giả, tác phẩm, sáng chế, bí quyết, công nghệ,
d) Vai trò của thương mại quốc tế trong nền kinh tế của mỗi đất nước
Đối với doanh nghiệp
Thương mại quốc tế là một bộ phận của nền kinh tế liên quan đến quá trình trao đổi hàng hoá và dịch vụ với các nước khác, cho nên trước hết nó thực hiện mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp Thông qua thương mại quốc tế, các doanh nghiệp có thể tăng hiệu quả sản xuất, kinh doanh, mở rộng quy mô và đa dạng hoá các hoạt động kinh doanh nhằm tạo cho doanh nghiệp đạt được sự tăng trưởng bền vững
- Kinh doanh thương mại quốc tế nâng cao vị thế của doanh nghiệp, tạo thế và lực cho doanh nghiệp không những ở thị trường quốc tế, mà cả thị trường trong nước thông qua việc mua bán hàng hoá ở thị trường trong và ngoài nước, cũng như việc mở rộng các quan hệ bạn hàng Ngoài ra, kinh doanh thương mại quốc tế có vai trò điều tiết, hướng dẫn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Tăng doanh số bán hàng: nhờ phạm vi thị trường trên toàn thế giới nên
số lượng người tiêu dùng nhiều hơn và sức mua đối với công ty cao hơn
- Thu được nguồn tài nguyên của nước ngoài làm giảm chi phí sản xuất: Các nhà sản xuất và phân phối tìm thấy các sản phẩm, dịch vụ cũng như bộ phận cấu thành các sản phẩm hoàn tất được sản xuất ở nước ngoài có thể làm giảm chi phí cho họ Điều này khiến cho tỷ suất lợi nhuận có thể tăng lên hoặc việc tiết kiệm chi phí có thể chuyển sang người tiêu thụ, như thế sẽ cho phép nhiều người tiêu thụ sản phẩm hơn Các chiến lược như thế có thể cho phép công ty cải tiến chất lượng sản phẩm của họ hoặc ít nhất cũng làm cho họ khác với đối thủ cạnh tranh, như thế mới gia tăng được thị phần và lợi nhuận của công ty
Trang 22- Tránh được sự biến động của doanh số bán và lợi nhuận: điều chỉnh thời gian của chu kỳ kinh doanh Các công ty thường muốn tránh sự biến động bất thường của doanh số bán và lợi nhuận bằng cách bán hàng ra thị trường nước ngoài
Đối với nền kinh tế quốc dân
Kinh doanh thương mại quốc tế phục vụ đắc lực cho công cuộc đổi mới kinh tế thông qua việc sử dụng tốt hơn nguồn vốn lao động và tài nguyên của đất nước, tăng giá trị ngày công lao động, tăng thu nhập quốc dân, tăng hiệu quả sản xuất, tạo vốn và kỹ thuật bên ngoài cho nền sản xuất trong nước kích thích sự phát triển của lực lượng sản xuất, làm nảy sinh các nhu cầu tiềm tàng của người tiêu dùng
- Hoạt động thương mại quốc tế giúp nâng cao vị thế kinh tế của quốc gia trên thế giới
- Thương mại quốc tế là 1 trong 3 trụ cột của chính sách kinh tế đối ngoại (cùng với các quan hệ đầu tư quốc tế và tài chính quốc tế) góp phần thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa và duy trì sự phát triển bền vững của nền kinh tế
- Xuất khẩu sản phẩm có lợi thế so sánh và nhập khẩu sản phẩm không có lợi thế so sánh: buôn bán đ m lại nguồn lợi cho phép các nước xuất khẩu hàng hoá
mà quá trình sản xuất sử dụng nhiều nguồn lực có sẵn dồi dào ở trong nước và nhập khẩu những hàng hoá mà quá trình sản xuất đòi hỏi nhiều nguồn lực ở trong nước khan hiếm
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả chỉ nghiên cứu về quan hệ thương mại hàng hóa quốc tế giữa hai nước Việt Nam và Myanmar trong giai đoạn
từ năm 2012 đến nay, mà không nghiên cứu các lĩnh vực quan hệ thương mại khác
Cụ thể chính là hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa giữa hai quốc gia sẽ được trình bày cụ thể trong Chương II của luận văn
1.1.2 Những vấn đề cơ bản về đầu tư nước ngoài
a) Khái niệm và bản chất của đầu tư nước ngoài
Đầu tư nước ngoài hay đầu tư quốc tế đều là tên gọi của cùng một loại hoạt động của con người Sở dĩ có hai các gọi trên là do góc độ xem xét, nhìn nhận vấn
đề khác nhau.Đứng trên góc độ của một quốc gia để xem xét hoạt động đầu tư từ
Trang 23quốc gia này sang quốc gia khác hoặc ngược lại ta có thuật ngữ “đầu tư nước ngoài” Nhưng nếu xét trên phương diện tổng thể nền kinh tế thế giới thì hoạt động
đó được gọi là “đầu tư quốc tế”
Theo Luật Đầu tư 2014 của Việt Nam thì đã đưa ra định nghĩa về đầu tư kinh
doanh đó là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của
tổ chức kinh tế; đầu tư th o hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư
Theo Giáo trình Đầu tư quốc tế, do PGS TS Vũ Chí Lộc Trường Đại học
Ngoại Thương chủ biên, tái bản năm 2012 có đưa ra khái niệm về đầu tư quốc tế như sau: Đầu tư quốc tế là việc các nhà đầu tư của một nước (pháp nhân hoặc cá nhân) đưa vốn hoặc bất kỳ hình thức giá trị nào khác sang một nước khác để thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc các hoạt động khác nhằm thu lợi nhuận hoặc đạt các hiệu quả xã hội (Vũ Chí Lộc, 2012)
Vậy có thể hiểu đầu tư nước ngoài đó là một quá trình trong đó có sự di chuyển vốn từ quốc gia này sang quốc gia khác để thực hiện các dự án đầu tư nhằm đưa lại lợi ích cho các bên tham gia
- Đầu tư nước ngoài là một tất yếu khách quan do sự khác nhau về nhu cầu và khả năng tích lũy vốn của các quốc gia, do việc tìm nơi kinh doanh có lợi của các doanh nghiệp, do việc gặp gỡ lợi ích giữa các bên, do việc tránh các hàng rào thuế quan và phi thuế quan cũng như do các nguyên nhân chính trị và kinh tế xã hội khác
- Đầu tư nước ngoài đưa đến những tác động tích cực khác nhau đối với bên đi đầu tư và bên nhận đầu tư, đồng thời có thể đưa lại cả tác động tiêu cực Điều
đó phụ thuộc nhiều vào những yếu tố khách quan và chủ quan khác nhau, trước hết
là phụ thuộc vào chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài và trình độ tổ chức, quản
lý của cán bộ
- Đầu tư nước ngoài ở các nhóm nước có sự khác nhau về quy mô, về
cơ cấu, về chính sách cũng như đưa đến những tác động khác nhau
b) Đặc điểm
Trang 24Trước hết đầu tư nước ngoài mang đặc điểm của hoạt động đầu tư, theo tài
liệu Đầu tư quốc tế do PGS TS Vũ Chí Lộc Trường Đại học Ngoại Thương chủ
biên, xuất bản năm 2012 bao gồm:
- Có vốn đầu tư: tiền, đất đai, nhà xưởng, máy móc, thiết bị, bằng phát mình, sáng chế, vốn thường được lượng hóa bằng một đơn vị tiền tệ để dễ tính toán, so sánh
- Tính sinh lời: Lợi nhuận hoặc lợi ích kinh tế, xã hội
- Tính mạo hiểm: Hoạt động đầu tư thường diễn ra trong một thời gian dài vì vậy nó có tính mạo hiểm Quá trình tiến hành hoạt động đầu tư chịu tác động của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan khiến cho kết quả đầu tư khác với dự tính ban đầu và rất có thể lợi nhuận hoặc lợi ích kinh tế xã hội thu được sẽ thấp, thậm chí lỗ Đòi hỏi nhà đầu tư phải là người dám chấp nhận rủi ro, chấp nhận thất bại (Vũ Chí Lộc, 2012)
Mặt khác, do là đầu tư nước ngoài nên phải mang nét đặt trưng của các hoạt động quốc tế đó là có sự di chuyển vốn từ nước này sang nước khác So với nhà đầu
tư trong nước, các nhà đầu tư khi đầu tư ra khỏi biên giới quốc gia mình sẽ có một
số bất lợi do khoảng cách về địa lý và sự khác biệt về văn hóa,
c) Các hình thức đầu tư nước ngoài
Đầu tư tư nhân quốc tế
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài: Đầu tư trực tiếp nước ngoài xuất hiện khi một nhà đầu tư ở một nước mua tài sản có ở một nước khác với ý định quản lý nó Quyền kiểm soát (control-tham gia vào việc đưa ra các quyết định quan trọng liên quan đến chiến lược và các chính sách phát triển của công ty) là tiêu chí cơ bản giúp phân biệt giữa Đầu tư trực tiếp nước ngoài và đầu tư chứng khoán
- Đầu tư chứng khoán nước ngoài: Là hình thức đầu tư quốc tế trong đó chủ đầu tư của một nước mua chứng khoán của các công ty, các tổ chức phát hành ở một nước khác với một mức khống chế nhất định để thu lợi nhuận nhưng không nắm quyền kiểm soát trực tiếp đối với tổ chức phát hành chứng khoán
- Tín dụng quốc tế: Tín dụng quốc tế là hình thức đầu tư quốc tế trong
đó chủ đầu tư ở một nước cho đối tượng tiếp nhận đầu tư ở một nước khác vay vốn
Trang 25trong một khoảng thời gian nhất định Chủ đầu tư có thể là các ngân hàng, các tổ chức tín dụng (tín dụng quốc tế của các ngân hàng) hoặc nhà cung cấp (tín dụng thương mại) hoặc các đối tượng khác
Đầu tư phi tư nhân quốc tế: Đầu tư phi tư nhân quốc tế là hình thức đầu tư trong đó chủ đầu tư là các chính phủ, các tổ chức tài chính quốc tế, các tổ chức phi chính phủ Dòng vốn đầu tư này thường tồn tại dưới hình thức các dòng vốn hỗ trợ
- Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA): Vốn ODA là các khoản viện trợ không hoàn lại, viện trợ có hoàn lại hoặc tín dụng ưu đãi của các Chính phủ, các tổ chức liên chính phủ, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức thuộc hệ thống Liên hợp quốc (UN), các tổ chức tài chính quốc tế dành cho các nước đang và chậm phát triển
- Hỗ trợ chính thức (OA): OA có những đặc điểm gần giống như ODA Điểm khác nhau là đối tượng tiếp nhận đầu tư, đối với ODA chỉ có các nước đang
và kém phát triển được nhận hình thức đầu tư này, còn OA có thể đầu tư cho cả một
số nước có thu nhập cao ví dụ như Isra l, N w Cal donia,
d) Tác động của đầu tư quốc tế đối với nước nhận đầu tư
Nước nhận đầu tư là nước phát triển:
- Góp phần tăng cường cơ sở vật chất, kỹ thuật, năng lực công nghệ hiện đại của nền kinh tế Với việc phát triển của công nghệ kỹ thuật thì yêu cầu về vốn ngày càng cần thiết ngay cả đối với những nước phát triển rất lớn như Mỹ hay
EU thì vẫn phải hợp tác với nhau trong nhiều lĩnh vực để thu hút đầu tư nước ngoài
- Góp phần giải quyết được những khó khăn về kinh tế xã hội như việc làm, tăng thu ngân sách
- Tạo ra được môi trường cạnh tranh từ đó thúc đẩy sự đổi mới công nghệ, phát triển kinh tế
- Có thị trường để tiêu thụ sản phẩm
o Nước nhận đầu tư là nước đang phát triển
o Giải quyết vấn đề thiếu vốn để phát triển nền kinh tế Với các nước đang phát triển thì có một thuyết là thuyết “Vòng luẩn quẩn”: Năng suất rất thấp thì
Trang 26sẽ dẫn đến thu nhập thấp, từ đó dẫn tới tích lũy thấp và tất nhiên là tiết kiệm và đầu
tư thấp (vốn đầu tư thấp) từ đó lại dẫn tới năng suất thấp
o Phát triển sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế th o hướng công nghiệp hóa Trước chiến tranh thế giới thứ II, chủ yếu đầu tư đổ vào các ngành khai thác tài nguyên Nhưng sau chiến tranh đầu tư vào các ngành công nghiệp chế tạo
o Phát triển và mở rộng các hình thức kinh tế đối ngoại khác, đặc biệt
là thương mại quốc tế
o Giúp các nước hiện đại hóa cơ sở hạ tầng
o Tuy nhiên bên cạnh đó, nước nhận đầu tư cũng bị ảnh hưởng bởi các tác động tiêu cực như:
- Các nước đang phát triển rất dễ rơi vào tình trạng nợ nần chồng chất Điểm này được thể hiện rất rõ ở hình thức đầu tư gián tiếp (ODA)
- Nước nhận đầu tư dễ rơi vào tình trạng phụ thuộc Sự phụ thuộc được thể hiện trên nhiều cấp độ như phụ thuộc về vốn (khi dòng vốn đầu tư nước ngoài bị rút nhanh thì sẽ gây ra tác động nghiêm trọng tới nền kinh tế) từ phụ thuộc về vốn
dễ dẫn tới phụ thuộc kinh tế (thị trường tiêu thụ sản phẩm) và có thể dẫn tới phụ thuộc về chính trị
- Nước nhận đầu tư phải chia xẻ lợi ích quyền lợi
- Nền kinh tế có thể rơi vào tình trạng phát triển lệch lạc, mất cân đối
Sự mất cân đối thể hiện về mất cân đối cơ cấu ngành cũng như mất cân đối về cơ cấu lãnh thổ
- Nước nhận đầu tư có thể trở thành bãi rác thải công nghệ Việc tiếp nhận những dây chuyền công nghệ của nhà đầu tư nước ngoài là một vấn đề do vậy
Trang 27phải so sánh các mặt lợi, hại khi tiếp nhận dự án đầu tư, thu hút đầu tư vào các khu vực công nghệ cao, hoặc thu hút vào lĩnh vực sử dụng nhiều lao động là hai mục tiêu khác nhau Dự án sử dụng nhiều lao động thì khả năng công nghệ áp dụng vào
đó là công nghệ lạc hậu, nhưng dự án đầu tư vào khu vực công nghệ cao thì sẽ được
sử dụng công nghệ cao do vậy Chính phủ phải cân nhắc kỹ càng trước khi chấp thuận cho các dự án đầu tư vào đất nước
- Tác động khác như đình công, sa thải nhân công, chảy máu chất xám, lối sống xã hội v.v…
Trong phạm vi nghiên cứu đề tài của tác giả, tác giả chỉ nghiên cứu về quan hệ đầu tư trực tiếp nước ngoài, mà không nghiên cứu các mối quan hệ đầu tư gián tiếp hay các mối quan hệ đầu tư khác giữa hai nước Việt Nam và Myanmar
1.2 Giới thiệu về đất nước Myanamar
1.2.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của Myanmar
Myanmar có tên nước chính thức: Liên bang Myanmar, tên tiếng Anh là The Union of Myanmar Từ tháng 1 năm 2006, Myanmar chọn Thủ đô là Nay Pyi Taw, thời gian trước đó Thủ đô của Myanmar là Yangon (VCCI, 2016)
Về vị trí địa lý, Myanmar nằm trong khu vực Đông Nam Á, là một đất nước rộng lớn với tổng diện tích là 676.578km2, lớn thứ 40 trên thế giới Phía Bắc và Đông Bắc của Myanmar giáp Trung Quốc; phía Đông giáp Lào; phía Đông Nam giáp Thái Lan; phía Nam trông ra vịnh Belgan và biển Andaman thuộc Ấn Độ Dương; phía Tây giáp Ấn Độ và Bangladesh Có thể nhận thấy Myanmar vừa nằm trong khu vực Đông Nam Á và đồng thời tiếp giáp với khu vực Tây Nam Á, có đường biên giới chung với hai đất nước có dân số đông nhất thế giới là Trung Quốc
và Ấn Độ, phía Đông Nam thì giáp Thái Lan – một đất nước có nền kinh tế năng động, là một vị trí rất đắc địa và là vị trí mà các nhà đầu tư sẽ nghĩ đến đầu tiên khi lựa chọn đặt nhà máy sản xuất (VCCI, 2013)
Không chỉ có vị trí địa lý thuận lợi, đất nước Myanmar còn được thiên nhiên ban tặng nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng phong phú Với bờ biển dài 2.276km chạy dọc theo Vịnh Bengal và Biển Andaman, nằm trong khu vực không thường xuyên phải hứng chịu các cơn bão biển là điều kiện lý tưởng để Myanmar
Trang 28tận dụng và phát triển kinh tế biển mạnh mẽ Myanmar có khí hậu nhiệt đới gió mùa nên có hệ sinh thái động thực vật đa dạng Động vật ở Myanmar đa dạng về chủng loại, phong phú về giống loài từ trên cạn đến dưới nước, từ trên trời đến các loại sống trong rừng, ở môi trường nào cũng rất nhiều loài động vật sinh sống Rừng rậm ở Myanmar là nơi sinh sống của rất nhiều loài động vật quý hiếm như tê giác, trâu rừng, lợn lòi, hươu, linh dương, voi và các loại động vật có vú nhỏ như vượn, khỉ, cáo bay và heo vòi Số lượng các loài chim ở Myanmar cũng vô cùng đa dạng, lên tới hơn 800 loài như vẹt, gà lôi, quạ, diệc và gõ kiến; cùng hàng trăm nghìn loài
cá nước ngọt, rất phong phú và là nguồn thực phẩm quan trọng trong đời sống của người dân Myanmar (Goldenlotus Travel, 2017)
Thảm thực vật ở Myanmar cũng được đánh giá cao Rừng nhiệt đới của Myanmar có diện tích lớn, bao phủ 49% diện tích đất nước, trong rừng chứa nhiều loại cây có giá trị kinh tế và đáp ứng nhiều mục đích sự dụng như gỗ Tếch, lim, sồi, thông, … Vùng ven biển của Myanmar gồm rất nhiều loại cây ăn trái nhiệt đới có giá trị xuất khẩu, thêm vào đó diện tích đất nông nghiệp ở Myanmar cũng rất trù phú, giàu dinh dưỡng cũng là điều kiện tốt để Myanmar phát triển nông nghiệp (VCCI, 2013)
Nhắc đến điều kiện tự nhiên ở Myanmar, ngoài đất đai, động thực vật, không thể không nhắc đến nguồn tài nguyên khoáng sản Theo Hồ sơ thị trường Myanmar của VCCI năm 2013, Myanmar cũng sở hữu các nguồn tài nguyên có giá trị kinh tế lớn với trữ lượng đều xếp thứ hạng cao trên thế giới Trữ lượng dầu mỏ của Myanmar khoảng 3,2 tỷ thùng và trữ lượng khí đốt ước tính 89,7 nghìn tỷ m3 xếp thứ 10 thế giới, thêm nữa Myanmar còn có trữ lượng ngọc, đá quý, đồng, niken, vonfram, granit, vàng, bạc thuộc hàng lớn nhất trên thế giới Các nguồn tài nguyên mà Myanmar đang sở hữu là nguồn tài nguyên mà bất kỳ đất nước nào cũng mong muốn (VCCI, 2013)
Đất nước Myanmar được đánh giá là đang sở hữu những điều kiện thuận lợi
để phát triển kinh tế hơn Trung Quốc và Việt Nam trước đây khá nhiều theo tác giả Nhàn Đàm của website Báo mới, 2015 nhận xét Myanmar nằm ở vị trí địa lý lợi thế, được thiên nhiên ban tặng nguồn tài nguyên khoáng sản giàu có giúp Myanmar
Trang 29có thể phát triển kinh tế một cách toàn diện, từ nông nghiệp, công nghiệp đến du lịch và dịch vụ trong tương lai
1.2.2 Điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của Myanmar
Về kinh tế, trước năm 2011 Myanmar là nằm trong nhóm những nước nghèo nhất thế giới với hàng thập kỷ ở trong tình trạng trì trệ, quản lý kém và bị cô lập Sau đó, tháng 5 năm 2011 Chính phủ Myanmar đã quyết định mở cửa nền kinh tế
để phát triển đất nước, Mynamar cũng đang dần hòa nhập vào kinh tế toàn cầu Chính phủ Myanmar đã đề ra 4 chính sách kinh tế lớn bao gồm: Duy trì phát triển nông nghiệp hướng tới công nghiệp hóa và phát triển toàn diện; phát triển cân bằng
và cân đối giữa các bang/ khu vực; tăng trưởng công bằng trong toàn bộ dân cư; và nâng cao chất lượng thống kê để phát triển kinh tế và xây dựng quốc gia dân chủ toàn diện nhằm phát triển kinh tế toàn diện Trong ngắn hạn, Chính phủ Myanmar tập trung vào 10 lĩnh vực: tài chính và thu nhập, dỡ bỏ các hạn chế về đầu tư nước ngoài và thương mại, phát triển khu vực tư nhân, giáo dục và y tế, an ninh lương thực và phát triển nông nghiệp, minh bạch hóa chính phủ, hệ thống int rn t, điện thoại di động và phát triển cơ sở hạ tầng cơ bản Còn về dài hạn, Myanmar sẽ tập trung vào các lĩnh vực: cải cách đất đai, cải thiện tiếp cận tín dụng và cơ hội việc làm (Bộ Ngoại Giao Việt Nam, 2017) Kể từ khi ban hành các chính sách trên đến nay, nền kinh tế Myanmar đã đạt liên tục đạt mức tăng trưởng cao, trở thành đất nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế ấn tượng không chỉ trong khu vực Đông Nam Á
mà còn trong toàn Châu Á
Th o Trad Solution, năm 2016 Myanmar đã có hoạt động xuất nhập khẩu với
167 nước trên thế giới, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Myanmar đạt 27,369 tỷ USD trong đó trị giá xuất khẩu 11,673 tỷ USD, trị giá nhập khẩu 15,696 tỷ USD Các mặt hàng xuất khẩu đạt giá trị cao của Myanmar chủ yếu là tài nguyên và sản phẩm nông nghiệp như: dầu mỏ, các loại hạt, đường mía thô, khoáng sản, gạo; đồng thời Myanmar cũng nhập khẩu một lượng lớn giá trị các mặt hàng: dầu mỏ thành phẩm và các sản phẩm từ dầu mỏ, đường tinh, xe tải, dầu thực vật, x máy Các đối tác thương mại lớn của Myanmar là Trung Quốc, Thái Lan, Ấn Độ, Singapore, Nhật Bản, trong đó kim ngạch xuất nhập khẩu của Myanmar với Trung Quốc là lớn nhất
Trang 30chiếm tới 37,16% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Myanmar, tiếp th o sau đó là Thái Lan 15,44%, Singapore 11,5% (xem Phụ lục 2) (Trade Solution, 2016)
Theo các số liệu thống kê của WB, tăng trưởng kinh tế của Myanmar liên tiếp
ở mức cao so với khu vực và thế giới Cụ thể năm 2012 tăng trưởng kinh tế Myanmar đạt 7,3%; năm 2013 là 8,5%; năm 2014 là 8%; năm 2015 là 7,3%; năm
2016 là 6,5%; năm 2017 dự báo là 6,9% và năm 2018 mức tăng trưởng kinh tế có thể đạt 7,2% Không chỉ có tăng trưởng kinh tế mà thu nhập bình quân đầu người của Myanmar cũng tăng lên đáng kể Cụ thể năm 2012 thu nhập bình quân đầu người của Myanmar là 1101,2USD/người, nhưng đến năm 2016 mức thu nhập bình quân đầu người của Myanmar đã tăng lên 1420,5USD/người, tăng 28,99% sau 5 năm (IMF, 2017) Những số liệu này cho thấy, kinh tế Myanmar đang phát triển mạnh mẽ từng ngày và việc đẩy mạnh quan hệ thương mại, đầu tư giữa Việt Nam
và Myanmar sẽ gặp nhiều thuận lợi trong thời gian tới
Về chính trị, từ khi giành độc lập (năm 1948) đến năm 1962 Myanmar là Nhà nước liên bang theo chế độ Dân chủ Đại nghị Từ năm 1962 đến năm 2009, tình hình chính trị bất ổn do sự cạnh tranh của các đảng phái chính trị Sự độc tài của chính quyền đã khiến Mỹ và EU cấm vận quốc gia này từ năm 1988 Myanmar từ một quốc gia giàu có bậc nhất khu vực Đông Nam Á dần chìm vào nền kinh tế nghèo nàn, tụt hậu so với các nước trong khu vực do không có điều kiện giao lưu, buôn bán với các nước phát triển, nền kinh tế chủ yếu tự cung tự cấp Đến năm
2009, Mỹ và EU dần dần gỡ bỏ lệnh cấm vận đối với nước này, tình hình chính trị giữa các đảng phái cũng bớt căng thẳng hơn, Myanmar bắt đầu mở cửa để phát triển kinh tế quốc gia và thoát khỏi giai đoạn cô lập trong gần nửa thế kỷ Năm 2010, sau cuộc bầu cử dân chủ đầu tiên sau 20 năm bị cấm vận Cuộc bầu cử này chứng tỏ quyết tâm cải cách thực chất của chính quyền Myanmar, qua đó xóa bỏ mọi nghi ngại của phương Tây để tiến tới nới lỏng hoặc dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận kinh tế
áp đặt lâu nay, giúp Myanmar đẩy nhanh mở cửa kinh tế, thu hút đầu tư, phát triển đất nước (Nguyễn Thị Thanh Thủy,2013) Tiếp đó vào năm 2015, bà Aung San Suu Kyi lãnh đạo Đảng Liên đoàn quốc gia vì dân chủ Myanmar (NLD) đã có được chiến thắng lịch sử trong cuộc bầu cử của Myanmar Bà đã có nhiều chính sách,
Trang 31giúp phát triển nền dân chủ và khôi phục lại kinh tế Myanmar một cách mạnh mẽ
Và năm 2016, thì Mỹ đã dỡ bỏ lệnh cấm vận với Myanmar, và điều này đã có tác động tích cực đến nền kinh tế Myanmar, nền kinh tế Myanmar gần như được cởi trói hoàn toàn Theo dự báo của ADB kinh tế Myanmar sẽ đạt nhịp độ tăng trưởng bình quân hàng năm khoảng 9,5% vào năm 2030, thu nhập bình quân đầu người của Myanmar cũng sẽ tăng từ mức 1400 USD hiện nay lên gần 5.000 USD trong năm
2030 Chính trị của Myanmar dần đi vào ổn định cũng là khiến các đối tác trên thế giới yên tâm hơn khi tham gia hoạt động thương mại, đầu tư vào Myanmar (ADB, 2018)
Về văn hóa, Myanmar có dân số vào khoảng 55,123,814 người (CIA, The World Factbook, 2017) với 135 dân tộc và bộ tộc, đông nhất là người Burman
(68%), Shan(9%), Rakhine (4%), Trung Quốc (3%), Ấn Độ (2%), Mon(2%) và các dân tộc khác chiếm 5% (VCCI, 2016) Dân số của Myanmar chỉ xấp xỉ 57% dân số Việt Nam (dân số Việt Nam khoảng hơn 96 triệu người theo CIA, The World Factbook, 2017) nhưng Myanmar có 135 dân tộc sinh sống, gấp 2,5 lần Việt Nam, nhiều dân tộc cùng sinh sống đã tạo nên một đất nước Myanmar với văn hóa đa dạng nhưng cũng thể hiện sự phức tạp Mỗi dân tộc sinh sống trên đất nước Myanmar mang một đặc trưng riêng biểu hiện qua ngôn ngữ, ẩm thực, âm nhạc, ca múa và sân khấu, nghệ thuật Nếu du lịch đến Myanmar, chúng ta sẽ có thể được trông thấy sự phong phú trong văn hóa của đất nước này Người Myanmar phần lớn theo Phật Giáo nên tính cách đa số hiền hòa, thật thà Hơn nữa người dân Myanmar
th o Đạo Phật thường có những khóa tu tại chùa kéo dài ít nhất 3 tháng nhiều nhất
là 3 năm, sau các khóa tu này con người giác ngộ hơn, sống lương thiện hơn Sự đa dạng, đặc sắc về văn hóa của Myanmar cũng được coi là ưu điểm để Myanmar phát triển ngành du lịch góp phần vào phát triển kinh tế đất nước
Về xã hội, cũng chính từ lý do Myanmar có 135 dân tộc cùng sinh sống nên tình trạng xung đột sắc tộc thường xuyên xảy ra Một trong những cuộc xung đột gây ảnh hưởng sự ổn định xã hội Myanmar đó là cuộc xung đột tôn giáo – sắc tộc giữa những người theo Phật giáo chiếm đa số với cộng đồng người Rohingya thiểu
số th o Đạo Hồi ở Myanmar Hậu quả của các cuộc xung đột sắc tộc ở Myanmar là
Trang 32làm cho cuộc sống của những người dân khu vực đấy bị ảnh hưởng rất nhiều, nhiều người dân bị thương vong, trong đó một số khác thì phải thường xuyên phải chạy lánh nạn sang các nước khác như Banglad sh Hiện tại thì Chính phủ Myanmar cũng bắt đầu có những biện pháp về an ninh xã hội, nhằm hạn chế những xung đột sắc tộc nội bộ để ổn định và phát triển kinh tế
Có thể nhận thấy Myanmar sở hữu đầy đủ các yếu tố cần thiết để phát triển kinh tế toàn diện: vị trí địa lý thuận lợi, tài nguyên thiên nhiên đa dạng, có trữ lượng cao, dân số đông Việt Nam
1.3 Quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Myanmar
1.3.1 Quá trình hình thành và phát triển quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Myanmar
Myanmar và Việt Nam đã thiết lập quan hệ nhiều thập kỷ qua Năm 1947, Việt Nam đã đặt cơ quan thường trú tại Yangon Trong những năm cuối thập kỷ 90 của thế kỷ XX, quan hệ hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và Myanmar không đáng kể
do khó khăn của cả hai bên Sau khi Thủ tướng Việt Nam Phan Văn Khải thăm chính thức Myanmar (tháng 5/2000), quan hệ thương mại giữa hai nước mới thực
sự được triển khai (Nguyễn Vĩnh, 2012)
Các nhà lãnh đạo hai nước đã tổ chức nhiều cuộc họp, nhiều cuộc viếng thăm
và ký kết nhiều Biên bản ghi nhớ, hiệp định mục đích là để tìm hướng phát triển kinh tế cho cả hai đất nước Ngày 06 tháng 05 năm 2002 tại Myanmar, hai nước đã
ký Biên bản ghi nhớ thành lập Uỷ ban hỗn hợp Thương mại Việt Nam – Myanmar
Từ đó đến nay, Ủy ban hỗn hợp Thương Mại Việt Nam – Myanmar đã tổ chức 9 kỳ họp, mỗi kỳ họp đều đưa ra các nội dung nhằm tháo gỡ khó khăn và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho doanh nghiệp hai nước Tiếp đó vào tháng 11 năm 2007, thủ Thủ tướng Myanmar khi đó là Thein Sein đã có chuyến thăm chính thức Việt Nam, khi tiếp đón các nhà lãnh đạo Myanmar, các nhà lãnh đạo Việt Nam đã rất nhiệt tình chia sẻ các kinh nghiệm về cải cách đất nước và phát triển kinh tế, hy vọng Myanmar sớm ổn định để tạo điều kiện thuận lợi cho quan hệ hợp tác hai nước tiếp tục phát triển Đến tháng 10 năm 2009, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã có chuyến thăm chính thức Myanmar lần đầu tiên Các nhà lãnh đạo hai nước đã thống nhất
Trang 33nhiều biện pháp thắt chặt quan hệ và đẩy mạnh hợp tác giữa hai nước trên nhiều lĩnh vực là tiềm năng, thế mạnh của mỗi bên Trong chuyến thăm lần này, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Thủ tướng Myanmar Th in S in đã chứng kiến lễ ký kết nhiều văn kiện hợp tác giữa Chính phủ hai nước trên các lĩnh vực đầu tư, nông nghiệp, thủy sản, ngân hàng và các văn bản hợp tác cụ thể giữa doanh nghiệp hai nước về phát triển bưu chính, viễn thông, hàng không và ngân hàng (Nhàn Đàm, Báo mới, 2009) là nền tảng để hai nước tăng cường quan hệ hợp tác kinh tế trong tương lai
Đến tháng 4 năm 2010, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã có chuyến thăm và làm việc tại Liên bang Myanmar lần thứ hai, chuyến thăm của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng diễn ra trong bối cảnh quan hệ truyền thống giữa hai nước đang phát triển tích cực Trong chuyến thăm này, hai nước đã ký Tuyên bố chung về hợp tác trong
12 lĩnh vực ưu tiên gồm: Nông nghiệp, cây công nghiệp, thủy sản, ngân hàng-tài chính, hàng không, viễn thông, dầu khí, khoáng sản, sản xuất thiết bị điện, sản xuất lắp ráp ôtô, xây dựng, hợp tác thương mại và đầu tư Các mong muốn của hai nước
đã được cụ thể hóa trong Tuyên bố chung lần này và góp phần định hướng thương mại, đầu tư lâu dài cho các doanh nghiệp hai nước (ITPC, 2016)
Gần đây nhất, nhân chuyến thăm cấp Nhà nước Cộng hòa Liên bang Myanmar của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từ ngày 24-26/8 năm 2017, hai bên đã ký Tuyên bố chung về quan hệ Đối tác Hợp tác Toàn diện giữa Việt Nam và Myanmar
Từ việc hợp tác trên 12 lĩnh vực kinh tế, đến nay hai bên đã nâng quan hệ hợp tác lên một tầm cao mới là hợp tác toàn diện tất cả các lĩnh vực, từ văn hóa, kinh tế, chính trị đến an ninh, quốc phòng, giáo dục Đặc biệt để tăng cường kết nối hai nền kinh tế, hai bên cam kết dành ưu tiên cho các lĩnh vực hợp tác về hạ tầng giao thông, du lịch, mở rộng hợp tác trên các lĩnh vực: nông-lâm nghiệp, viễn thông và ngân hàng Hai nước Việt Nam-Myanmar nhất trí sẽ tiến hành các biện pháp cải thiện môi trường đầu tư để khuyến khích các doanh nghiệp của hai nước đầu tư vào thị trường của nhau Hai bên nhất trí tăng cường các hoạt động xúc tiến đầu tư, thương mại và thuận lợi hóa thương mại, đưa kim ngạch thương mại hai chiều đạt 1
tỷ USD vào thời gian sớm nhất (Ái Vân, Vietnamnet, 2017)
Trang 34Hai nước Việt Nam và Myanmar đã có quan hệ kinh tế lâu dài, hợp tác và đang ngày càng được mở rộng trên tất cả các lĩnh vực Các nhà lãnh đạo hai nước cũng đang rất tích cực hợp tác và cụ thể hóa bằng những Biên bản ghi nhớ, những Hiệp định, các Tuyên bố chung về kinh tế Việt Nam và Myanmar đều hy vọng sẽ trở thành đối tác kinh tế lớn của nhau trong tương lai
1.3.2 Các giai đoạn phát triển kinh tế giữa Việt Nam và Myanmar
a) Giai đoạn trước 1990
Do những nguyên nhân lịch sử và chính trị của cả hai nước, việc buôn bán giữa Việt Nam và Myanmar giai đoạn trước năm 1990 phát triển chậm chạp và chủ yếu là quan hệ buôn bán một chiều: Myanmar xuất khẩu hàng hóa sang Việt Nam (chủ yếu là mặt hàng gạo) Tuy nhiên lượng hàng hóa cũng không đáng kể (Nguyễn Thị Thanh Thủy, 2013) Về đầu tư thì cả Việt Nam và Myanmar đều chưa có bất kỳ
dự án đầu tư nước ngoài nào tại hai quốc gia trong giai đoạn này
1997 Việt Nam và Myanmar đã ký 8 hiệp định hợp tác kinh tế về thương mại, du lịch, hàng không, nông nghiệp, và thành lập ủy ban liên chính phủ về hợp tác kinh
tế và khoa học - kỹ thuật Cho đến năm 1999 tuy đã có nhiều hiệp định được ký kết, nhiều cuộc tiếp xúc của lãnh đạo hai nước được tổ chức để bàn về quan hệ thương mại song phương giữa hai nước, song kết quả đạt được còn rất khiêm tốn Mặc dù còn nhiều hạn chế, Việt Nam và Myanmar cùng chủ trương khuyến khích hơn nữa
Trang 35quan hệ thương mại giữa hai nước Th o đó, cuối năm 2000, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Dy Niên đã sang thăm chính thức Myanmar và nhất trí triển khai một số biện pháp để tăng cường thương mại như: lập Tiểu ban Thương mại hai nước, xúc tiến khả năng buôn bán hàng đổi hàng, trao đổi do các phòng Thương Mại Công Nghiệp của hai nước để tìm hiểu (Nguyễn Thị Thanh Thủy, 2013)
Về đầu tư, giai đoạn này đặc điểm của đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam là nhỏ lẻ và manh mún Việc đầu tư vốn ra nước ngoài của Việt Nam trong giai đoạn này chủ yếu xuất phát từ nhu cầu nội tại của doanh nghiệp Nguyên nhân là do đầu những năm 1990, lượng vốn FDI vào Việt Nam liên tục gia tăng, nhất là trong lĩnh vực dệt – may, nên lượng quota xuất khẩu hàng năm không đáp ứng đủ năng lực sản xuất Bên cạnh đó, chính sách “đóng cửa rừng”, cấm khai thác đánh bắt gần bờ
để bảo vệ tài nguyên, môi trường cũng tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh của một số doanh nghiệp trong ngành công nghiệp chế biến và sản xuất hàng tiêu dùng Vì vậy, nhằm bù đắp các “thiếu hụt” trên nên một số doanh nghiệp Việt Nam
đã chuyển địa bàn hoạt động và cơ hội kiếm tìm lợi nhuận sang một số nước láng giềng như Lào và Campuchia Vào khoảng thời gian này, nền kinh tế của Myanmar vẫn thực hiện chính sách đóng cửa nền kinh tế và thêm lệnh cấm vận của Mỹ nên hầu như giữa Việt Nam và Myanmar không có bất kỳ hoạt động đầu tư nước ngoài nào
c) Giai đoạn 2001 đến 2011
Trong giai đoạn này trao đổi thương mại giữa Việt Nam và Myanmar vẫn ở mức rất thấp Theo số liệu thống kê của Tổng cục thống kê Việt Nam, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai nước trong năm 2001 chỉ dừng lại ở con số 9,5 triệu USD; trong đó xuất khẩu từ Việt Nam sang Myanmar đạt 5,4 triệu USD, Việt Nam nhập khẩu từ Myanmar trị giá 4 triệu USD Có thể thấy rằng trong những năm đầu của thế kỉ 21, quan hệ thương mại giữa hai nước chưa được chú trọng và chưa đạt hiệu quả cao Tiếp sau đó, vào tháng 5/2002 Chủ Tịch Trần Đức Lương sang thăm chính thức Myanmar và tới tháng 3/2003 Chủ Tịch Than Swe của Myanamr sang thăm chính thức Việt Nam và cũng trong năm 2003 Việt Nam - Myanmar ký kết hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư và hiệp định tránh đánh thuế hai lần, tạo
Trang 36khung pháp lý hoàn chỉnh, thì quan hệ thương mại hai nước bắt đầu phát triển Năm
2003, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hai nước đã tăng lên 30.8 triệu USD, các năm sau đó tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai nước cũng vẫn gia tăng nhưng ở chỉ
ở mức tăng trưởng nhỏ Đến năm 2011, tổng kim ngạch thương mại hàng hóa giữa hai nước mới chỉ đạt mức 167 triệu USD (xem Phụ lục 7) và Việt Nam chưa trở thành đối tác thương mại lớn của Myanmar (Tổng cục Hải quan, 2018)
Về đầu tư, nếu như trước chuyến công du của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tới Myanmar hồi tháng 4/2010, tổng giá trị đầu tư của Việt Nam vào Myanmar chưa đạt tới 30 triệu USD thì đến thời điểm cuối năm 2010, tổng vốn đăng kí đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam vào thị trường này đã đạt 173 triệu USD với 20 dự án đầu tư (Thúy Nhung, Vneconomy, 2010) Các loại hình hợp tác đầu tư giữa hai nước cũng có sự mở rộng sang nhiều lĩnh vực như kỹ thuật nông nghiệp, phát triển trồng trọt đánh bắt xa bờ, nuôi trồng thủy hải sản, sản xuất thức ăn gia súc gia cầm; sản xuất thuốc thú y, công nghiệp sơ chế, bảo quản sau thu hoạch, chế biến nông sản, sản phẩm gỗ và lâm sản, nhà máy sản xuất nước đá, công nghiệp dệt may, công nghiệp đóng tàu, công nghiệp cơ khí, xuất khẩu chuyên gia về nông nghiệp, y tế, giáo dục
Có thể nói rằng giai đoạn 2001-2011 là giai đoạn có sự thay đổi về quan hệ thương mại, đầu tư cả về chất lượng và số lượng giữa hai nước Việt Nam và Myanmar Cả thương mại và đầu tư đều bắt đầu tăng trưởng, tuy nhiên , là tiền đề
để có những bước nhảy vọt trong giai đoạn tiếp theo
d) Giai đoạn 2012 đến nay
Đây là giai đoạn mà quan hệ giữa Việt Nam và Myanmar đạt đến một tầm cao mới, hai bên đã ký tuyên bố chung về Quan hệ Đối tác hợp tác toàn diện trên tất cả các mặt: kinh tế, chính trị,văn hóa, giáo dục, an ninh, quốc phòng Trong chuyến thăm chính thức Myanmar năm 2017, tại Phủ Tổng thống Myanmar, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng của Việt Nam và Tổng thống Htin Kyaw của Myanmar đã chứng kiến lễ ký kết 4 văn bản hợp tác giữa Việt Nam và Myanmar và nhấn mạnh mặc dù cả hai bên hài lòng về sự phát triển nhanh chóng, tích cực của mối quan hệ hữu nghị truyền thống, hợp tác nhiều mặt giữa hai nước thời gian qua; nhưng đều
Trang 37nhận thấy tiềm năng hợp tác giữa hai nước còn rất lớn, cần được phát huy mạnh mẽ hơn Và kim ngạch thương mại hai chiều đạt hơn 548 triệu USD trong năm 2016 và đạt hơn 800 triệu USD năm 2017, vượt xa mục tiêu 500 triệu USD mà lãnh đạo cấp cao hai nước đã đề ra Việt Nam vươn lên trở thành đối tác thương mại lớn thứ 9 của Myanmar, và trở thành một trong các đối tác thương mại quan trọng của Myanmar (Tổng cục Hải quan, 2018)
1.3.3 Các chính sách thương mại của Myanmar hiện nay
a) Các chính sách thương mại của Myanmar
Theo số liệu của WB, kinh tế Myanmar đã liên tiếp đạt mức tăng trưởng cao
kể từ khi tiến hành cải cách kinh tế đến nay Cụ thể, mức tăng trưởng kinh tế năm
2011, năm mới bắt đầu cải cách là 5,9%, nhưng các năm sau đó 2012, 2013, 2014 mức tăng trưởng đã tăng lần lượt là 7,3%; 8,5%; 8% Năm 2017 vừa qua, tăng trưởng kinh tế của Myanmar cũng đạt mức 6,9% một mức khá cao trong khu vực Đông Nam Á Cũng th o dự báo của WB, kinh tế Myanmar cũng có thể đạt mức tăng trưởng 7,2% năm 2018 và 7,3% năm 2019 (WB, 2018) Để liên tục đạt được mức tăng trưởng cao như vậy, chính phủ Myanmar cũng tích cực thực hiện nhiều chính sách nhằm thúc đẩy kinh tế, trong đó các chính sách về thương mại đặc biệt là chính sách xuất nhập khẩu cũng được đẩy mạnh hơn, đó là:
1 Chính sách thuế xuất nhập khẩu: Myanmar là thành viên chính thức của WTO Tuy nhiên, tiêu chuẩn thuế quan quốc tế chỉ bao gồm 18% hàng hoá và dịch
vụ Mặc dù có cam kết ràng buộc các hiệp định về thuế quan quốc tế còn hạn chế, Myanmar thường áp dụng mức thuế tương đương hoặc thấp hơn so với các nước khác trong khu vực Hàng nông sản có mức thuế bình quân là 8,7% trong khi hàng hoá phi nông nghiệp có mức thuế trung bình là 5,1% Thuế quan thường dao động
từ 0 đến 40 % Các mặt hàng cao cấp có mức thuế cao nhất Là thành viên của Khu vực Thương mại Tự do ASEAN (AFTA), Myanmar đã cam kết Chương trình Ưu đãi Thuế quan Ưu đãi Hiệu quả Chung (CEPT) nhằm giảm thuế nhập khẩu trong nội bộ ASEAN đến 93% tổng số dòng thuế vào năm 2015 và 100% đường vào năm
2018 (ITPC, 2016)
Trang 38Ngày 2/4/2015, Myanmar đã ban hành Luật thuế Liên bang 2015 (UTL 2015), với hiệu lực hồi tố từ ngày 1/4/2015 Những thay đổi đáng chú ý về thuế thu nhập
cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế trên thặng dư vốn, thuế thương mại và thuế thu nhập từ bất động sản Myanmar chưa có hệ thống thuế giá trị gia tăng Tuy nhiên, hàng hóa và dịch vụ tại Myanmar thông thường sẽ chịu mức thuế thương mại 5%, nhưng thuế suất thuế thương mại có thể từ 0% đến 200% Theo Luật thuế Liên bang 2014, có 26 loại dịch vụ được miễn trừ thuế thương mại, nhưng bắt đầu từ 1/4/2015, 4 ngành dịch vụ bị loại khỏi danh sách miễn thuế này, bao gồm: - Dịch vụ giết mổ động vật - Dịch vụ vận tải xếp dỡ - Dịch vụ công nghệ thông tin - Dịch vụ
tư vấn và quản lý kỹ thuật, tức là 4 dịch sụ này sẽ phải bắt đầu nộp thuế thương mại Bên cạnh đó, lệ phí cấp giấy phép trả cho tổ chức chính phủ được thêm vào trong danh sách miễn thuế thương mại của Luật thuế Liên bang 2015, nâng tổng số ngành nghề được miễn thuế lên 23 Luật thuế Liên bang 2015 có một số điều chỉnh về thuế suất thuế thương mại đối với một số sản phẩm nhập khẩu và sản xuất trong nước Thuế suất thuế thương mại đối với thuốc lá điếu và các loại thuốc lá khác, bia và đồ uống có cồn (không bao gồm rượu vang) được điều chỉnh tăng, trong khi thuế suất đối với ngọc bích, đá quý và đồ trang sức làm bằng ngọc bích và đá quý được điều
chỉnh giảm (ITPC, 2016)
2 Giấy phép hàng nhập khẩu: Từ tháng 5/2013, Chính phủ Myanmar đã xóa
giấy phép cho 593 hàng nhập khẩu bao gồm: thực phẩm chế biến, hàng may mặc, sản phẩm giấy, sơn, mỹ phẩm, phụ tùng ô tô, lốp xe, vật liệu xây dựng, thiết bị điện, phụ kiện máy tính và các sản phẩm y tế… Chính phủ cũng xóa bỏ các yêu cầu về giấy phép xuất khẩu đối với 166 mặt hàng khác bao gồm các sản phẩm nông sản, lâm nghiệp và các sản phẩm từ động vật Danh sách các mặt hàng phải xin giấy phép nhập khẩu đang giảm đi một số lượng lớn, chứng tở sự mở cửa tích cực của Chính phủ Myanmar trong vấn đề thương mại Bộ Thương mại Myanmar là nơi cấp giấy phép nhập khẩu cho các mặt hàng nhập khẩu trong cả nước Tuy nhiên, Chính phủ Myanma vẫn còn duy trì một danh mục hàng hóa cấm nhập khẩu, nhưng tùy từng thời điểm, đối tác mà các sản phẩm này vẫn có thể được thông quan (ITPC, 2016)
Trang 39Về yêu cầu đối với bộ hồ sơ nhập khẩu hàng hóa, Cục Hải quan Myanmar yêu cầu nhà nhập khẩu cần cung cấp các loại giấy tờ sau: Giấy phép nhập khẩu, hoá đơn hàng hóa, vận đơn hàng hóa (đường biển hoặc đường không), danh sách đóng gói hàng hóa, giấy chứng nhận và giấy phép khác của các cơ quan chính phủ có liên quan (đối với các sản phẩm hàng hóa có yêu cầu) (ITPC, 2016) Các loại giấy tờ này cũng tương đối giống các giấy tờ cần xuất trình hải quan ở Việt Nam, tuy nhiên các mặt hàng ở Myanmar hầu hết phải xin giấy phép nhập khẩu nên sẽ khiến quy trình hải quan gia tăng thời gian và chi phí, không có lợi cho các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu sang Myanmar
3 Myanmar có những yêu cầu về nhãn, mác sản phẩm hàng hóa khi nhập khẩu vào Myanmar Là một quốc gia Phật giáo, trên nhãn mác sản phẩm, nhãn hiệu… không được có hình ảnh, biểu tượng có hình Phật hay cờ quốc gia do đa phần người dân Myanmar theo Phật giáo vì vậy các nhà sản xuất cũng phải rất chú
ý đến quy định này Tất cả các sản phẩm có dấu hiệu tôn giáo (ở đây là Phật giáo)
sẽ bị lên án mạnh mẽ và bị tẩy chay, khởi kiện với chính quyền và có thể bị phạt rất nặng Ngoài ra, Myanmar áp dụng các nguyên tắc Codex và các nguyên tắc chung của ASEAN và các yêu cầu đối với việc dán nhãn thực phẩm đóng gói sẵn Tất cả các loại thực phẩm phải được dán nhãn và sản phẩm nhập khẩu phải có nhãn phải được gắn tên và địa chỉ của nhà nhập khẩu và/hoặc nhà phân phối địa phương và nước xuất xứ Đối với các sản phẩm dễ hư hỏng phải ghi rõ ngày hết hạn, hướng dẫn và cảnh báo bảo quản, thành phần và tinh chất chính của sản phẩm (theo trọng lượng hoặc thể tích) Các nhãn cũng phải bao gồm thông tin về các thành phần nguy hiểm Ngoài ra phải có thông tin bắt buộc về tên, địa chỉ ở Myanmar của nhà sản xuất, nhà nhập khẩu hoặc nhà phân phối, số đăng ký vệ sinh, cảnh báo rủi ro và điều trị cấp cứu khi sử dụng Sản phẩm dễ hư hỏng phải có thông tin rõ ràng và đầy đủ bằng tiếng Myanmar Theo tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm, chính phủ Myanmar khuyến cáo các công ty phải sử dụng vật liệu vô hại để làm bao bì, không được chứa của các chất có thể ảnh hưởng đến an toàn thực phẩm Tương tự như vậy, các bao bì phải được sản xuất để đảm bảo chất lượng và thành phần vệ sinh của sản phẩm trong suốt vòng đời của sản phẩm Vật liệu và phụ gia thực phẩm dùng
Trang 40trong sản xuất thực phẩm và đồ uống phải đáp ứng các yêu cầu về chất lượng y tế được quy định trong các tiêu chuẩn vệ Việc sử dụng các chất phụ gia thực phẩm không có trong danh mục phụ gia được phép bị cấm tuyệt đối Tuy nhiên trên thực
tế, các yêu cầu này thường bị bỏ qua một cách vô tình hoặc hữu ý do chi phí trong sản xuất (ITPC, 2016)
4 Quy định về tiêu chuẩn thương mại Theo luật có nhiều quy định kỹ thuật trong nhiều lĩnh vực Myanmar trở thành thành viên của Tổ chức Tiêu chuẩn hoá Quốc tế (ISO) vào năm 1957, rút lui năm 1965, và gia nhập lại vào ngày 1/7/2005 Myanmar cũng tham gia vào Ủy ban Tư vấn về Tiêu chuẩn và Chất lượng ASEAN
và là tham gia ký kết các Hiệp định khác nhau của ASEAN về các tiêu chuẩn và sự hài hòa hóa quy định Trách nhiệm soạn thảo và thực thi các quy định kỹ thuật khác nhau do nhiều cơ quan nhà nước trong nhiều lĩnh vực khác nhau đảm trách, tuy nhiên việc triển khai rất chẩm trễ và bất cập do không đủ kinh phí lẫn chuyên môn Myanmar, cũng như các nước thành viên của WTO được yêu cầu phải thông báo cho WTO tất cả các quy định kỹ thuật đề xuất có thể ảnh hưởng đến thương mại với
các nước thành viên khác (ITPC, 2016)
Đối với hàng nhập khẩu (và một ít sản phẩm sản xuất trong nước có chất lượng quốc tế), Chính phủ Myanmar thường công nhận các tiêu chuẩn xét nghiệm
và chứng nhận từ các tổ chức ở Hoa Kỳ, Châu Âu và Nhật Bản Do tình trạng hàng giả hoặc kém chất lượng, chính phủ không công nhận giấy chứng nhận sản phẩm từ các nước láng giềng, đặc biệt là Trung Quốc, Thái Lan và Ấn Độ Theo Luật Tiêu chuẩn Myanmar, Phòng Công nhận đang soạn thảo các quy định liên quan đến quá trình công nhận với sự trợ giúp của các nhà tư vấn quốc tế Các doanh nghiệp Việt Nam có thể tìm hiểu thêm chi tiết về chức năng và nhiểm vụ của Cơ quan Công nhận Quốc gia Myanmar thông qua trang web Tiêu chuẩn của Myanmar Các luật
và quy định liên quan đến các tiêu chuẩn thương mại được công bố với tần suất cáo trên tờ báo của Chính phủ - Tờ New Light, trên Công báo Myanmar cũng như trong
tờ Tin tức thương mại của Bộ Thương mại Tuy nhiên, Chính phủ ban hành hầu hết các tiêu chuẩn mới trong nội bộ và không xuất bản chúng thường xuyên thông qua bất kỳ phương tiện truyền thông đại chúng nào Để tìm hiểu cặn kẽ, các nhà sản