Hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam và định hướng cho quá trình hội tụ kế toán quốc tế của Việt Nam (Luận văn thạc sĩ)Hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam và định hướng cho quá trình hội tụ kế toán quốc tế của Việt Nam (Luận văn thạc sĩ)Hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam và định hướng cho quá trình hội tụ kế toán quốc tế của Việt Nam (Luận văn thạc sĩ)Hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam và định hướng cho quá trình hội tụ kế toán quốc tế của Việt Nam (Luận văn thạc sĩ)Hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam và định hướng cho quá trình hội tụ kế toán quốc tế của Việt Nam (Luận văn thạc sĩ)Hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam và định hướng cho quá trình hội tụ kế toán quốc tế của Việt Nam (Luận văn thạc sĩ)Hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam và định hướng cho quá trình hội tụ kế toán quốc tế của Việt Nam (Luận văn thạc sĩ)
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HỆ THỐNG CHUẨN MỰC KẾ TOÁN VIỆT NAM
VÀ ĐỊNH HƯỚNG CHO QUÁ TRÌNH HỘI TỤ
KẾ TOÁN QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
DƯƠNG HUỆ KHANH
Hà Nội, 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HỆ THỐNG CHUẨN MỰC KẾ TOÁN VIỆT NAM
VÀ ĐỊNH HƯỚNG CHO QUÁ TRÌNH HỘI TỤ
KẾ TOÁN QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM
Ngành: Tài chính – Ngân hàng – Bảo hiểm Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 8340201
HỌC VIÊN: DƯƠNG HUỆ KHANH NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TS NGUYỄN THỊ THU HẰNG
Hà Nội, 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các
số liệu và tài liệu trong luận văn là trung thực Tất cả những tài liệu tham khảo và kế thừa đều được trích dẫn và tham chiếu đầy đủ
Học viên thực hiện
Dương Huệ Khanh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để có thể hoàn thành luận văn thạc sĩ một cách hoàn chỉnh, bên cạnh sự cố gắng nỗ lực của bản thân còn có sự hướng dẫn nhiệt tình của quý Thầy Cô, cũng như sự động viên ủng hộ của gia đình và bạn bè trong suốt thời gian học tập nghiên cứu và thực hiện luận văn thạc sĩ
Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến Cô TS Nguyễn Thị Thu Hằng người
đã hết lòng giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành luận văn này Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến toàn thể quý thầy cô trong khoa Sau đại học
và khoa Tài chính – Ngân hàng Trường Đại học Ngoại Thương đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập nghiên cứu và cho đến khi thực hiện luận văn
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn đến gia đình, các anh chị và các bạn đồng nghiệp đã hỗ trợ tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ một cách hoàn chỉnh
Hà Nội, tháng 03 năm 2018
Học viên thực hiện
Dương Huệ Khanh
Trang 5MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC SƠ ĐỒ
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHUẨN MỰC KẾ TOÁN VÀ HỘI TỤ KẾ TOÁN QUỐC TẾ 5
1.1 Tổng quan về chuẩn mực kế toán 5
1.1.1 Chuẩn mực kế toán là gì? 5
1.1.2 Sự cần thiết phải có chuẩn mực kế toán 6
1.1.2.1 Đối với Nhà nước 6
1.1.2.2 Đối với Doanh nghiệp 6
1.1.2.3 Đối với các nhà đầu tư, các trung gian tài chính 6
1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến quy trình lập quy và hình thành chuẩn mực kế toán quốc gia 7
1.2 Tổng quan về hội tụ kế toán quốc tế 11
1.2.1 Thế nào là hội tụ kế toán quốc tế? 11
1.2.2 Sự cần thiết phải hội tụ kế toán quốc tế 11
1.2.2.1 Vấn đề toàn cầu hoá kinh tế và nhu cầu thông tin kế toán 11
1.2.2.2 Vai trò của kế toán và nhu cầu chuẩn mực kế toán quốc tế 13
1.2.3 Xu hướng hội tụ kế toán quốc tế 16
1.2.3.1 Lược sử quá trình hội tụ kế toán quốc tế 16
1.2.3.2 Hội tụ kế toán quốc tế là xu hướng tất yếu 22
1.2.4 Chuẩn mực kế toán quốc tế là cơ sở khoa học và pháp lý của quá trình hội tụ kế toán quốc tế 23
1.2.4.1 Sự ra đời của chuẩn mực kế toán quốc tế 23
1.2.4.2 Quy trình xây dựng các chuẩn mực kế toán quốc tế 24
Trang 61.2.4.3 Kết cấu cơ bản của một chuẩn mực kế toán quốc tế 32
1.2.4.4 Phương thức hội tụ chuẩn mực kế toán quốc tế 32
1.2.5 Các chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) và chuẩn mực trình bày báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) 33
1.3 Một số kinh nghiệm quốc tế hội tụ kế toán quốc tế 33
1.3.1 Phương thức hội tụ toàn phần 33
1.3.2 Phương thức hội tụ theo hướng tiệm cận 35
1.3.3 Phương thức hội tụ từng phần 37
1.3.3.1 Quá trình và phương thức hội tụ của Pháp 38
1.3.3.2 Quá trình và phương thức hội tụ của Trung Quốc 42
1.3.3.3 Quá trình và phương thức hội tụ của Malaysia 49
1.4 Đánh giá các phương thức hội tụ kế toán quốc tế của các nước trên thế giới 54
1.4.1 Phương thức hội tụ toàn bộ 54
1.4.1.1 Ưu điểm 54
1.4.1.2 Nhược điểm 54
1.4.2 Phương thức hội tụ theo hướng tiệm cận 55
1.4.2.1 Ưu điểm 55
1.4.2.2 Nhược điểm 55
1.4.3 Phương thức hội tụ từng phần 55
1.4.3.1 Ưu điểm 55
1.4.3.2 Nhược điểm 55
CHƯƠNG 2: HỆ THỐNG CHUẨN MỰC KẾ TOÁN VIỆT NAM 57
2.1 Hoàn cảnh ra đời của hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam 57
2.2 Quá trình xây dựng và phát triển của hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam 59
2.2.1 Nguyên tắc xây dựng Hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam 59
2.2.2 Đặc điểm môi trường 59
2.2.3 Cơ chế 60
2.2.3.1 Quy định pháp lý 60
Trang 72.2.3.2 Tổ chức lập quy 61
2.2.3.3 Quy trình soạn thảo và ban hành 62
2.2.4 Quá trình hội tụ kế toán quốc tế tại Việt Nam 62
2.3 Các chuẩn mực kế toán Việt Nam đã ban hành 63
2.4 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quy trình lập quy và hình thành chuẩn mực kế toán Việt Nam 64
2.4.1 Nguồn lực tài chính 64
2.4.2 Hệ thống luật pháp 65
2.4.3 Thuế 65
2.4.4 Sự ràng buộc giữa kinh tế và chính trị 66
2.4.5 Lạm phát 66
2.4.6 Mức độ phát triển kinh tế 67
2.4.7 Trình độ giáo dục 68
2.4.8 Văn hóa 68
2.5 Những thành tựu và hạn chế trong quá trình xây dựng chuẩn mực kế toán Việt Nam 69
2.5.1 Thành tựu 69
2.5.2 Hạn chế 71
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG CHO QUÁ TRÌNH HỘI TỤ KẾ TOÁN QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM 75
3.1 Lợi ích và thách thức khi Việt Nam hội tụ kế toán quốc tế 75
3.1.1 Đối với doanh nghiệp 75
3.1.1.1 Lợi ích 75
3.1.1.2 Thách thức 75
3.1.2 Đối với nhà nước 76
3.2 Mục tiêu tổng quát 77
3.3 Một số định hướng 77
3.3.1 Các định hướng có tính chất ngắn hạn 78
3.3.2 Các định hướng có tính chất dài hạn 80
3.4 Điều kiện áp dụng phương thức hội tụ từng phần 80
Trang 83.4.1 Đối tượng áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế 80
3.4.2 Điều kiện về thể chế 81
3.4.3 Điều kiện về cơ sở hạ tầng 82
3.5 Một số kiến nghị liên quan 83
3.5.1 Đối với doanh nghiệp 83
3.5.2 Đối với nhà nước 83
3.5.3 Đối với nơi đào tạo 84
3.5.4 Đối với hội nghề nghiệp 85
KẾT LUẬN 86 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 9AFA ASEAN Federation of
Accountants Liên đoàn kế toán các nước ASEAN AICPA American Institute of Certified
Public Accountants
Viện kế toán viên công chứng Hoa
Kỳ AISG Accountants International Study
Group Nhóm nghiên cứu quốc tế về kế toán ANC Ủy ban chuẩn mực kế toán Pháp ASBE Accounting Standards for
CASC Chinese Accounting Standards
EC European Community Ủy ban Châu Âu
EFRAG European Financial Reporting
Advisory Group
Nhóm tư vấn báo cáo tài chính châu
Âu EITF Emerging Issues Task Force Ban xử lý các vấn đề phát sinh
EU European Union Liên minh châu Âu
FAF Financial Accounting
Foundation Tổ chức kế toán tài chính Hoa Kỳ FAP Federation of Accounting
Professions of Thailand Liên đoàn kế toán Thái Lan
FASB Financial Accounting Standards
Reporting Standards Council
Hội đồng chuẩn mực báo cáo tài chính Philippines
Trang 10GAAP General Accepted Accounting
Principles
Các nguyên tắc kế toán chấp nhận chung
GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc dân
IAI Viện kế toán viên Indonesia
IAS International Accounting
Standards Chuẩn mực Kế toán quốc tế
IASB International Accounting
Standard Board Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế IASC International Accounting
Standard Committee Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế ICAAT
IFAC International Federation of
Accountants Liên đoàn kế toán quốc tế
IFRS International Financial Reporting
Standards
Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc
tế IMF International Monetary Fund Quỹ tiền tệ Quốc tế
IOSCO International Organization of
M&A Merges and Acquisitions Mua bán và sáp nhập
MASB Malaysia Accounting Standards
PCG General Accounting Plan Tổng hoạch đồ kế toán Pháp
PFRS Philippines Financial Reporting
Standards
Chuẩn mực báo cáo tài chính Philippines
PSAK Chuẩn mực kế toán Indonesia
SAC Standards Advisory Council Ủy ban tư vấn chuẩn mực
SEC Securities and Exchange
SFAS Statement of Financial
Accounting Standards Báo cáo chuẩn mực kế toán tài chính SFRS Singapore Financial Reporting
Standards Chuẩn mực kế toán Singapore
Trang 11SME Small and Medium Enterprise Doanh nghiệp nhỏ và vừa
TAS Thai Accounting Standards Chuẩn mực kế toán Thái Lan TFRS Thai Financial Reporting
Standards
Chuẩn mực báo cáo tài chính Thái Lan
WEF World Economic Forum Diễn đàn kinh tế Thế giới
WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại Thế giới
Trang 12DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng
1.1 Việc sử dụng chuẩn mực IFRS trong 166 quốc gia/vùng lãnh
thổ chia theo khu vực trên Thế giới 22
Trang 13DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ số Tên sơ đồ Trang
1.1 Quy trình ban hành chuẩn mực kế toán quốc tế 26
Trang 14TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN
Qua những nghiên cứu về lịch sử hình thành cũng như quá trình phát triển của chuẩn mực kế toán Việt Nam, tác giả đã chỉ ra được những thành tựu đã đạt được cũng như những hạn chế còn tồn tại và cần khắc phục trong thời gian qua Việc hội
tụ kế toán quốc tế là cần thiết trong tiến trình phát triển Những ích lợi từ việc sử dụng ngôn ngữ kinh tế chung toàn cầu giúp giải quyết được bài toán thống nhất thông tin trình bày trên báo cáo tài chính, đáp ứng xu hướng toàn cầu hóa kinh tế và thị trường quốc tế
Mỗi quốc gia sẽ có những cách thức để hội tụ kế toán khác nhau và những bước đi khác nhau Bằng việc nghiên cứu những phương thức hội tụ của các quốc gia trên thế giới, tác giả đã đưa ra những ưu nhược điểm của từng phương thức hội
tụ Thêm vào đó, tác giả đi sâu vào nghiên cứu những bài học kinh nghiệm từ các quốc gia có ảnh hưởng tới hệ thống kế toán Việt Nam như Pháp và Trung Quốc, và những quốc gia có nét tương đồng với Việt Nam như Malaysia Từ đó, rút ra định hướng trong quá trình hội tụ kế toán quốc tế cho Việt Nam là theo phương thức hội
tụ từng phần
Việt Nam cần chủ động trong việc xây dựng hệ thống chuẩn mực báo cáo tài chính Việt Nam nhằm phục vụ cho quá trình hội nhập về kinh tế đồng thời giúp ổn định và phát triển bền vững kinh tế quốc gia Để đạt được kết quả đó, tác giả đã đưa
ra những định hướng trong tương lai ngắn hạn và dài hạn cùng với những kiến nghị liên quan đối với doanh nghiệp, nhà nước, nơi đào tạo và hội nghề nghiệp
Trang 15
LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, xu thế toàn cầu hoá diễn ra mạnh mẽ trên toàn thế giới khiến cho lực lượng sản xuất ngày càng phát triển Sự phụ thuộc chặt chẽ giữa các thị trường vốn quốc tế ngày càng mở rộng, hàng loạt các thương vụ sáp nhập, hợp nhất, liên doanh, liên kết gia tăng Vì thế, nhu cầu thực tiễn là phải có một hệ thống kế toán chất lượng cao toàn cầu, một chuẩn mực thống nhất để ghi nhận thông tin tài chính cũng như để đánh giá công bằng và chính xác tài chính giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước Nhu cầu này là điều kiện đảm bảo cho các doanh nghiệp trên toàn thế giới áp dụng các nguyên tắc trong công tác báo cáo tài chính Vì nguyên nhân này, Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (International Accounting Standard Board – IASB) đã xây dựng các chuẩn mực phức tạp hơn
Một hệ thống chuẩn mực kế toán thống nhất chất lượng cao toàn cầu không chỉ gia tăng chất lượng báo cáo tài chính mà còn giảm đi chi phí vốn mà doanh nghiệp phải gánh chịu để lập báo cáo tài chính theo các nguyên tắc kế toán chung được chấp nhận (GAAP) của quốc gia sở tại Động thái này tăng khả năng so sánh giữa các báo cáo tài chính của những công ty trên các thị trường vốn khác nhau, điều này khiến cho các nhà đầu tư quốc tế tăng thêm niềm tin và cơ sở để lựa chọn
và quyết định đầu tư Với ưu thế rõ nét đó, ngày nay vấn đề đặt ra đối với các quốc gia không chỉ dừng lại ở hoà hợp chuẩn mực kế toán quốc tế mà là hội tụ kế toán quốc tế Các quốc gia đều không ngừng nỗ lực để đạt đến hội tụ, đây là xu hướng tất yếu khách quan nhưng mỗi quốc gia đều phải tạo lập riêng cho mình các hướng đi khác nhau Việt Nam không thể đi lệch khỏi xu hướng tất yếu đó Để có thể hội nhập cũng như hội tụ tới chuẩn mực kế toán quốc tế, hệ thống kế toán Việt Nam cần
phải có những bước đi thích hợp hơn Do đó, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Hệ thống
chuẩn mực kế toán Việt Nam và định hướng cho quá trình hội tụ kế toán quốc
tế của Việt Nam”
2 Tình hình nghiên cứu
Luận văn “Quá trình hòa hợp – hội tụ kế toán quốc tế và Phương hướng,
giải pháp của Việt Nam” của tác giả Tăng Thị Thanh Hà (2009) với mục tiêu xây
Trang 16dựng phương hướng và giải pháp hòa hợp – hội tụ với kế toán quốc tế của Việt Nam
đã nêu ra được các đề xuất hoàn thiện hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam theo thông lệ quốc tế trên cơ sở chấp nhận hòa hợp với những đặc điểm của Việt Nam; đồng thời, tác giả đã có những kiến nghị để thúc đẩy quá trình hòa hợp hội tụ kế toán quốc của Việt Nam
Tác giả Trình Quốc Việt (2009) cũng đã nghiên cứu về hội tụ kế toán quốc tế
qua luận văn “Đề xuất chiến lược hội nhập kế toán quốc tế cho Việt Nam” Bằng
việc nghiên cứu các bước đi, chiến lược của các quốc gia, tác giả đã đưa ra được các
đề xuất như thiết lập một cơ chế mới cho hệ thống kế toán Việt Nam cũng như hoàn thiện hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam
Luận án “Định hướng xây dựng chuẩn mực báo cáo tài chính Việt Nam
đáp ứng xu thế hội tụ kế toán quốc tế” của tác giả Trần Quốc Thịnh (2014) đã
đưa ra được các đề xuất định hướng cho Việt Nam trong việc phát triển hệ thống chuẩn mực báo cáo tài chính, giúp cho Bộ Tài chính có những nhận định đúng đắn trong việc xây dựng chiến lược và lộ trình thích hợp cho kế toán Việt Nam
Ngoài ra, còn có rất nhiều những bài báo của các tác giả như Đặng Thái Hùng (2008), Đoàn Xuân Tiên (2008), Phạm Hoài Hương (2010), … đã nghiên cứu và đề xuất các chiến lược, lộ trình cũng như góp phần hoàn thiện hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam
Tuy nhiên, các nghiên cứu đã quá lâu, vì thế cần đánh giá lại cũng như cập nhật xu thế và các đặc điểm hội tụ đến thời điểm hiện tại để đưa ra những định hướng mới cho kế toán Việt Nam, phù hợp với quá trình phát triển và xu thế hội tụ
kế toán quốc tế
3 Mục đích và mục tiêu nghiên cứu
Mục đích của luận văn là đưa ra định hướng cho kế toán Việt Nam trong quá trình hội tụ kế toán quốc tế
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là để giải quyết các vấn đề:
- Hệ thống chuẩn mực kế toán của Việt Nam hiện nay đã đạt được những thành tựu gì và còn những hạn chế nào
Trang 17- Quá trình hội tụ kế toán quốc tế của các nước trên thế giới, và rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong các bước đi để hội tụ với kế toán quốc tế
- Tìm ra được định hướng cho Việt Nam trong quá trình hội tụ với kế toán quốc tế
4 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu một số định hướng cho kế toán Việt Nam trong quá trình hội tụ kế toán quốc tế dựa trên các dự án hội tụ kế toán quốc tế của một số quốc gia trên thế giới để rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
5 Phạm vi không gian và thời gian nghiên cứu
Về thời gian, luận văn sẽ nghiên cứu về hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam
kể từ khi chuẩn mực kế toán Việt Nam được ra đời cho đến nay và quá trình hội tụ
kế toán quốc tế từ khi thành lập Hội đồng Chuẩn mực kế toán quốc tế (IASC) cho đến nay
Về không gian, để đạt được mục tiêu nghiên cứu, luận văn tập trung nghiên cứu hai vấn đề chính sau đây:
+ Phân tích các dự án hội tụ kế toán quốc tế đã và đang diễn ra hiện nay ở một số quốc gia trên thế giới theo các phương thức hội tụ và các nước đại diện như: Pháp, Trung Quốc, Malaysia…
+ Phân tích quá trình xây dựng hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam trong thời gian qua để đưa ra định hướng cho kế toán Việt Nam trong quá trình hội
tụ kế toán quốc tế
6 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu sử dụng các phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng, phương pháp quy nạp, phương pháp thống kê và phân tích, phương pháp tổng hợp và các phương pháp khác
7 Những đóng góp của luận văn
Những đóng góp chính của luận văn bao gồm:
- Nghiên cứu xu thế hội tụ kế toán quốc tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay
và rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam;
Trang 18- Đưa ra một số định hướng cho kế toán Việt Nam trong quá trình hội tụ kế toán quốc tế
8 Bố cục của luận văn
Ngoài các phần tóm tắt kết quả nghiên cứu, mở đầu, kết luận, danh mục viết tắt, danh mục bảng biểu – sơ đồ, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn bao gồm 3 chương chính:
Chương 1: Tổng quan về chuẩn mực kế toán và hội tụ kế toán quốc tế
Chương 2: Hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam
Chương 3: Định hướng cho quá trình hội tụ kế toán quốc tế của Việt Nam
Trang 19CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHUẨN MỰC KẾ TOÁN VÀ HỘI TỤ KẾ
TOÁN QUỐC TẾ 1.1 Tổng quan về chuẩn mực kế toán
1.1.1 Chuẩn mực kế toán là gì?
Theo điều 149 (1, 2) – Luật Doanh nghiệp 1963 của Anh, ban lãnh đạo công ty phải trình bày các báo cáo tài chính với cổ đông của công ty, báo cáo tài chính phải phản ánh “cái nhìn trung thực và hợp lý” về vị trí tài chính và lợi nhuận hay lỗ của công ty “Cái nhìn trung thực và hợp lý” không được định nghĩa bởi bất kỳ luật nào
ở Anh hay quốc tế “Cái nhìn trung thực và hợp lý” là nội dung được bắt nguồn từ thế kỷ 19 và được lọc ra từ luật lệ xét xử Luật lệ xét xử này đã chỉ ra rằng nếu ban lãnh đạo công ty tuân theo chuẩn mực kế toán trong việc lập báo cáo tài chính, thì
đó là bằng chứng rõ ràng nhất cho việc báo cáo tài chính có cái nhìn trung thực và hợp lý Một ý kiến hợp pháp đã được trình bày với Ủy ban Chuẩn mực kế toán từ Mary Arden, Arden đã đưa ra ý kiến rằng “tác động ngay lập tức của việc ban hành chuẩn mực kế toán là tạo ra tính hợp lý cho quan tòa quyết định là việc tuân theo chuẩn mực là điều cần thiết để đáp ứng được yêu cầu trung thực và hợp lý” Như vậy, chuẩn mực kế toán được định nghĩa là những thực tiễn tốt nhất trong kế toán Nói cách khác, chuẩn mực kế toán được hiểu là cơ sở cho việc lập và giải thích các thông tin trình bày trên báo cáo tài chính (Oireachtas Library & Research Service, 2010)
Ở Việt Nam, Theo Điều 7 – Luật kế toán số 88/2015/QH13 do Quốc hội ban hành ngày 20/11/2015, chuẩn mực kế toán được định nghĩa là những quy định và phương pháp kế toán cơ bản để lập báo cáo tài chính Tổ chức có trách nhiệm nghiên cứu và ban hành chuẩn mực kế toán là Bộ Tài chính
Tóm lại, chuẩn mực kế toán là những quy định làm cơ sở cho việc lập báo cáo tài chính Hệ thống chuẩn mực kế toán tạo ra một hệ thống các quan điểm hành xử cho tất cả kế toán viên
Chuẩn mực kế toán bao gồm những nguyên tắc chung và những nguyên tắc cụ thể:
Trang 20- Nguyên tắc chung là những giả thiết, khái niệm và những hướng dẫn dùng
để lập báo cáo tài chính
- Nguyên tắc cụ thể là những quy định chi tiết dùng để ghi chép các nghiệp
1.1.2 Sự cần thiết phải có chuẩn mực kế toán
Để người sử dụng báo cáo tài chính hiểu được các thông tin phản ánh trên báo cáo tài chính, thực hiện tốt các chức năng của kế toán tài chính, bắt buộc người làm
kế toán phải biết chuẩn mực kế toán Vậy vì sao cần phải có chuẩn mực kế toán chung? Chúng ta có những lý do sau để đặt ra chuẩn mực kế toán chung:
1.1.2.1 Đối với Nhà nước
- Là cơ sở cho Nhà nước quản lý tình hình tài chính của Doanh nghiệp
- Là cơ sở cho Nhà nước xem xét và quyết định điều chỉnh Luật cho phù hợp với thời điểm, đáp ứng kịp thời nhu cầu về thông tin kế toán
- Là cơ sở để Nhà nước đánh giá sự phát triển kinh tế, tài chính của Doanh nghiệp và của cả nước
1.1.2.2 Đối với Doanh nghiệp
- Có tuân thủ các chuẩn mực kế toán thì người lập và người sử dụng báo cáo tài chính mới có thể hiểu được các thông tin phản ánh trên báo cáo
- Chuẩn mực kế toán là nền tảng để thực hiện chức năng của kế toán tài chính
là báo cáo tình hình tài chính
- Là phương tiện quan trọng dùng để báo cáo tình hình tài chính của một doanh nghiệp
- Là cơ sở cho ban lãnh đạo doanh nghiệp đưa ra các quyết định hoạt động kinh doanh và điều hành cho tương lai
1.1.2.3 Đối với các nhà đầu tư, các trung gian tài chính
Trang 21- Cung cấp những thông tin hữu ích cho việc so sánh giữa các doanh nghiệp
và ra quyết định đầu tư hay cho vay đúng đắn
- Cung cấp thông tin hữu ích để đánh giá luồng tiền trong tương lai
- Cung cấp thông tin về tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp, hay tình hình tài chính của doanh nghiệp
Vậy, chuẩn mực kế toán chung sẽ giúp cho các thông tin phản ánh trong báo cáo tài chính trở nên thiết thực, tin cậy và so sánh được Đó là lý do hệ thống chuẩn mực kế toán chung là hợp lý và thống nhất cho tất cả mọi người làm kế toán
1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến quy trình lập quy và hình thành chuẩn mực
kế toán quốc gia
Theo lý thuyết kế toán quốc tế của Frederick D.S.Choi và Gary K Meek (2011) hệ thống chuẩn mực kế toán và thực hành kế toán của mỗi quốc gia là kết quả có được từ sự ảnh hưởng qua lại của các nhân tố kinh tế, lịch sử, thể chế và văn hóa Sự khác nhau giữa các quốc gia là điều chắc chắn Có 8 nhân tố ảnh hưởng lớn đến việc lập quy và hình thành chuẩn mực kế toán (Choi & Meek, 2011), bao gồm: (1) Nguồn lực tài chính, (2) Hệ thống luật pháp, (3) Thuế, (4) Sự ràng buộc giữa kinh tế và chính trị, (5) Lạm phát, (6) Mức độ phát triển kinh tế, (7) Trình độ giáo dục và (8) Văn hóa
- Nguồn lực tài chính: Ở các nước với thị trường vốn mạnh như Mỹ hay Anh thì
lợi nhuận kế toán là thước đo năng lực điều hành công ty của nhà quản trị Khi đó,
kế toán được thiết kế để giúp các nhà đầu tư đánh giá các dòng tiền trong tương lai, các rủi ro và để xác định giá trị công ty Việc công bố thông tin rất rộng rãi để đáp ứng các nhu cầu của một số lượng lớn các nhà đầu tư nắm giữ cổ phiếu Ngược lại, các nước có nguồn tài chính dựa vào quan hệ tín dụng, ở đó ngân hàng là nguồn cung cấp tài chính chủ yếu, kế toán tập trung vào việc bảo vệ các nhà cung cấp tín dụng thông qua việc đo lường một cách thận trọng lợi nhuận để giảm thiểu việc chia
cổ tức và để lại vốn đủ để bảo vệ những người cho vay Vì các định chế tài chính có thể tiếp cận trực tiếp bất kỳ thông tin nào họ muốn, các báo cáo công bố một cách rộng rãi được xem là không cần thiết Nhật Bản và Thụy Sĩ là ví dụ về nhóm các nước này
Trang 22- Hệ thống luật pháp: Hệ thống luật pháp quyết định về mối quan hệ giữa các cá
nhân và các định chế Hệ thống luật pháp phương Tây bao gồm hai hướng: dân luật (code/civil law) và thông luật (common/case law) Trong các nước theo hệ thống dân luật, các quy định về kế toán được tích hợp vào hệ thống pháp luật quốc gia và thường có xu hướng quy định chi tiết cách thức và quy trình Các nước theo hệ thống này là các nước có ảnh hưởng bởi nguồn gốc từ Pháp, Đức Ngược lại, các nước theo hệ thống thông luật (ảnh hưởng bởi Anh) phát triển theo cơ sở từng trường hợp và không cố gắng bao quát tất cả trường hợp trong bộ luật Tại các nước này, các quy tắc kế toán được thiết lập bởi các tổ chức thuộc lĩnh vực tư nhân Việc này cho phép chúng có tính thích nghi cao hơn và dễ đổi mới hơn Kế toán tại các nước theo hệ thống dân luật thường có xu hướng tập trung vào hình thức pháp lý, trong khi kế toán theo thông luật thường có xu hướng tập trung vào bản chất
- Thuế: Tại nhiều quốc gia, các quy định về thuế quyết định các chuẩn mực kế
toán bởi vì các công ty phải ghi nhận doanh thu và chi phí trong hệ thống sổ sách của mình để thực hiện cho mục đích thuế Nói cách khác, các nguyên tắc kế toán và tài chính tương tự nhau Các ví dụ cho trường hợp này là Đức và Thụy Điển Tại các nước khác (chẳng hạn Mỹ), kế toán tài chính và kế toán thuế là riêng biệt: Lợi nhuận tính thuế là lợi nhuận kế toán tài chính được điều chỉnh theo sự khác biệt giữa thuế và kế toán
- Sự ràng buộc giữa kinh tế và chính trị: Các quan niệm và kỹ thuật kế toán
được chuyển giao thông qua sự xâm lược, thương mại và các sức mạnh tương tự
Hệ thống ghi sổ kép vốn có nguồn gốc từ Italy từ thế kỷ XV và được lan truyền sang các nước châu Âu cùng với các tư tưởng khác trong thời Phục hưng Chủ nghĩa thực dân Anh xuất khẩu các kế toán viên và các kỹ thuật kế toán trong hệ thống thuộc địa của mình Đức đóng chiếm Pháp trong thế chiến thứ 2 dẫn đến việc Pháp áp dụng hệ thống tài khoản thống nhất Mỹ áp dụng các quy tắc kế toán của mình tại Nhật sau thế chiến thứ 2
- Lạm phát: Lạm phát làm méo mó kế toán theo giá gốc vởi nó làm cho tài sản và
các chi phí liên quan bị đánh giá thấp, và lợi nhuận bị phóng đại lên Các nước có mức lạm phát cao thường yêu cầu các công ty thực hiện điều chỉnh sự thay đổi giá
Trang 23cả trong báo cáo Ví dụ, Mexico áp dụng kế toán điều chỉnh theo mức giá chung nếu lũy kế lạm phát trong 3 năm liên tiếp lớn hơn hoặc bằng 28% (tức mức lạm phát trung bình của một năm là 8%) Trong những năm 1970, để phản ứng với mức lạm phát cao bất thường, Mỹ và Anh đều thực nghiệm bằng phương pháp báo cáo ảnh hưởng của sự thay đổi giá cả
- Mức độ phát triển kinh tế: Nhân tố này ảnh hưởng đến các loại nghiệp vụ kinh
tế phát sinh trong một nền kinh tế và quyết định loại nào là thịnh hành nhất Loại giao dịch, trong chiều ngược lại, quyết định các vấn đề kế toán mà nó đối mặt Ví
dụ, hệ thống thưởng cho nhà quản lý dựa trên cổ phiếu không quá quan trọng trong các nước mà thị trường chứng khoán còn chưa thật sự phát triển Ngày nay, nhiều nền kinh tế công nghiệp đang chuyển mình sang kinh tế dịch vụ Các vấn đề liên quan trong sản xuất, như định giá tài sản cố định và ghi nhận chi phí khấu hao trở nên không quan trọng Các thách thức mới nổi lên đối với kế toán là đánh giá các tài sản vô hình và các nguồn lực con người
- Trình độ giáo dục: Các chuẩn mực kế toán và các hoạt động thực hành kế toán
phức tạp sẽ không có tác dụng nếu bị hiểu nhầm và sử dụng sai Ví dụ, các kỹ thuật báo cáo phức tạp về biến động của chi phí theo sự ứng xử của chi phí sẽ không có ý nghĩa trừ khi người thực hành hiểu kế toán chi phí Công bố các thông tin về rủi ro của các chứng khoán phái sinh sẽ không có giá trị thông tin trừ khi các thông tin được đọc hiểu một cách thông thạo Các kỹ thuật định giá phức tạp trong định giá chứng khoán phái sinh sẽ không đi vào thực tế nếu những người thực hành kế toán không hiểu và áp dụng chính xác các kỹ thuật đó
- Văn hóa: Văn hóa tượng trưng cho một hệ thống độc lập bao gồm các giá trị và
cách ứng xử chung trong một cộng đồng và có khuynh hướng được duy trì trong một thời gian dài Từ những năm 1980, các nghiên cứu đều khẳng định văn hóa là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển của kế toán Có thể nói sự khác biệt nền văn hóa giữa các quốc gia đã tạo nên nhiều hệ thống kế toán khác nhau, hình thành nên các cách ghi chép, tính toán và trình bày thông tin khác nhau trong
hệ thống kế toán của mỗi quốc gia
Trang 24Hofstede (1984) phân loại bốn lĩnh vực văn hóa và phân tích sự ảnh hưởng của chúng đến kế toán: (1) chủ nghĩa cá nhân, (2) sự né tránh tính không chắc chắn, (3) khoảng cách quyền lực, (4) chủ nghĩa trọng nam Dựa trên các phân tích của Hofstede, Gray (1988) đã đưa ra khuôn mẫu liên kết giữa văn hóa và kế toán Ông
đã đề xuất rằng bốn mảng giá trị văn hóa kế toán ảnh hưởng đến thực hành báo cáo tài chính của một quốc gia bao gồm:
+ Tính chuyên nghiệp với sự kiểm soát của pháp luật: Có sự đối lập giữa ưa chuộng áp dụng các phán xét nghề nghiệp mang tính cá nhân và các quy tắc tự đưa ra hội nghề nghiệp với việc tuân thủ các quy định của pháp luật
+ Tính thống nhất với linh hoạt: sự ưa chuộng tính thống nhất và nhất quát so với việc linh hoạt trong đối phó với các tình huống
+ Chủ nghĩa bảo thủ và chủ nghĩa lạc quan: sự ưa chuộng cho việc áp dụng cách thức đo lường một cách thận trọng để đối phó với những bất ổn của các
sự kiện trong tương lai thay vì cách tiếp cận lạc quan, sẵn sàng chấp nhận mạo hiểm
+ Bí mật và rõ ràng: sự ưu tiên cho việc đảm bảo tính bảo mật và hạn chế tiếp cận của các thông tin kinh doanh đối lập với việc sẵn sàng công bố các thông tin cho công chúng
Ngoài mô hình trên, Nobes (1995) đã đưa ra mô hình đơn giản hóa các nhân tố ảnh hưởng đến sự khác biệt trong báo cáo tài chính giữa các quốc gia Theo mô hình này có hai nhân tố là văn hóa và bản chất của hệ thống tài chính Nobes (1995) lập luận rằng nguyên nhân quan trọng cho sự khác biệt trong báo cáo tài chính giữa các quốc gia là sự khác biệt về mục đích báo cáo Hệ thống tài chính của một quốc gia được xem là nhân tố thích hợp nhất quyết định mục đích của báo cáo tài chính
Cụ thể, hệ thống tài chính của một quốc gia qua thị trường chứng khoán mạnh với một lượng lớn các cổ đông bên ngoài hay không sẽ quyết định bản chất của hệ thống báo cáo tài chính trong một quốc gia
Để khắc phục các vấn đề phát sinh do khác biệt kế toán giữa các quốc gia, các nước đã và đang nỗ lực trong việc hài hòa và hội tụ các chuẩn mực kế toán Ngày càng nhiều quốc gia lấy hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế làm hệ thống chuẩn
Trang 25mực kế toán quốc gia, hay xây dựng hệ thống chuẩn mực kế toán quốc gia tiệm cận nhiều hơn với chuẩn mực kế toán quốc tế
1.2 Tổng quan về hội tụ kế toán quốc tế
1.2.1 Thế nào là hội tụ kế toán quốc tế?
Năm 1998, IASC đã nhắc đến “hội tụ” (convergence) lần đầu tiên trong Báo cáo chiến lược và sau đó Hiến chương của IASB đã khẳng định trong Hiến chương
“hội tụ” là một mục tiêu của tổ chức này Hội tụ kế toán quốc tế được hiểu là một quá trình phát triển hướng đến một hệ thống chuẩn mực kế toán chung được sử dụng trên toàn cầu và có chất lượng cao Chất lượng cao ở đây được hiểu là hệ thống chuẩn mực kế toán khi được áp dụng sẽ phản ánh thông tin tài chính của doanh nghiệp một cách trung thực và hợp lý nhất Hội tụ là quá trình mà tiền thân là
“hòa hợp” rồi “quốc tế hóa” đến nay là “hội tụ” (Herz & Petrone, 2005) Mục đích của hội tụ kế toán quốc tế là để thiết lập hệ thống chuẩn mực kế toán chất lượng cao
để cải thiện so sánh phạm vi quốc tế về các thông tin tài chính, cũng như giảm chi phí cho người sử dụng, đầu tư, kiểm toán để nhằm mục đích xa hơn là phát triển thị trường vốn trên toàn cầu Ban đầu IASC đã xác định mục tiêu hòa hợp với GAAP của các quốc gia, tuy nhiên ngày nay IASB đã sử dụng khái niệm hội tụ nhằm gia tăng tính so sánh thông tin trên báo cáo tài chính và hướng đến một bộ tiêu chuẩn có chất lượng cao hơn Việc phát triển chuẩn mực của IASB là sự chuyển đổi từ hòa hợp sang hội tụ Hội tụ được xem như quá trình “tiêu chuẩn hóa” chuẩn mực Hai khái niệm hội tụ và hòa hợp không đối lập nhau mà phản ánh quá trình phát triển của chuẩn mực kế toán ở những mức độ khác nhau
Theo tác giả, “hội tụ” được hiểu là quá trình phát triển hướng đến một hệ thống chuẩn mực báo cáo tài chính chung, chất lượng cao được áp dụng trên toàn cầu Chất lượng cao ở đây là báo cáo tài chính được lập theo các chuẩn mực kế toán phản ánh được đầy đủ, trung thực và có tính hợp lý nhất về các thông tin tài chính của doanh nhiệp Và hệ thống chuẩn mực chung đó phải đáp ứng nhu cầu thông tin
ra quyết định trên thị trường vốn và các yêu cầu khác của nền kinh tế thị trường
1.2.2 Sự cần thiết phải hội tụ kế toán quốc tế
1.2.2.1 Vấn đề toàn cầu hoá kinh tế và nhu cầu thông tin kế toán
Trang 26Hiện nay trên thế giới, xu thế toàn cầu hoá gia tăng ngày càng mạnh mẽ, đặc biệt là quá trình toàn cầu hoá kinh tế Toàn cầu hóa được hiểu là sự gia tăng mạnh
mẽ các mối quan hệ gắn kết, tác động phụ thuộc lẫn nhau, là quá trình mở rộng quy
mô và cường độ hoạt động giữa các khu vực, các quốc gia, các dân tộc trên phạm vi toàn cầu trong sự vận động phát triển
Toàn cầu hoá là một xu hướng bao gồm nhiều phương diện: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, v.v… Trong đó, toàn cầu hoá kinh tế đang là xu thế nổi trội nhất, vừa là trung tâm vừa là cơ sở, cũng là động lực thúc đẩy các lĩnh vực khác của xu thế toàn cầu hoá nói chung
Toàn cầu hoá kinh tế đã thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của thị trường vốn quốc tế Theo thống kê của Unctad, trong vòng 3 năm trở lại đây (từ 2013 đến 2016), vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào tăng từ 1.443 tỷ USD lên đến 1.746 tỷ USD; FDI đầu ra tăng từ 1.253 tỷ USD đến 1.452 tỷ USD1 Số vụ mua bán hoạt động mua bán và sáp nhập (M&A) xuyên quốc gia đã tăng mạnh trong vòng 3 năm (từ 2013 đến 2016) từ 8.990 vụ lên đến 10.725 vụ tương đương với giá trị tăng
từ 262,5 tỷ USD đến 868,6 tỷ USD2 Toàn cầu hoá kinh tế là một sự hội nhập không thể tránh khỏi giữa các quốc gia, thị trường, là sự vươn mình của các công ty, các tập đoàn, tổ chức, cá nhân vượt ra khỏi rào cản “biên giới” để thiết lập các giao dịch sao cho chi phí là thấp nhất để đạt lợi nhuận tối ưu nhất Do đó, chất lượng thông tin tài chính trở thành mối quan tâm của các đối tượng liên quan Để đảm bảo lợi ích của các bên trong quá trình đầu tư, vấn đề không chỉ dừng ở việc chuẩn hoá chất lượng thông tin mà còn tính trung thực trong quá trình kiểm tra, giám sát thông tin
Vì vậy, việc xây dựng một hệ thống kế toán chuẩn chất lượng cao thống nhất được
áp dụng trên toàn cầu rất cần thiết trước tình trạng các báo cáo tài chính được lập trên nhiều cơ sở chuẩn mực khác nhau đưa đến các kết quả khác nhau và đôi khi còn trái ngược nhau về tình hình hoạt động của các doanh nghiệp Chuẩn mực kế toán quốc tế là điều kiện đảm bảo cho các doanh nghiệp, tổ chức trên toàn thế giới
áp dụng nguyên tắc GAAP trong công tác báo cáo tài chính
1 Nguồn: UNCTAD, FDI/MNE database ( www.unctad.org/fdistatistics )
2 Nguồn: UNCTAD cross-border M&A database ( www.unctad.org/fdistatistics )
Trang 27Báo cáo tài chính là những báo cáo tổng hợp nhất về tình hình tài sản, vốn chủ
sở hữu và nợ phải trả cũng như tình hình tài chính, kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp Hay nói cách khác, báo cáo tài chính là phương tiện trình bày khả năng sinh lời và thực trạng tài chính của doanh nghiệp cho những đối tượng quan tâm, bao gồm các nhà đầu tư hiện tại và tiềm năng, nhân viên, nhà cung cấp, người cho vay, các chủ nợ thương mại khác, khách hàng, chính phủ và công chúng Nhờ báo cáo tài chính của doanh nghiệp mà các đối tượng có thể đưa ra quyết định đầu
tư, quyết định cho vay, cung ứng vốn, v.v… Ví dụ như nhu cầu đối với các công ty cần tăng nguồn vốn ở bên ngoài, có thể đưa ra tính không đầy đủ của lợi nhuận kiếm được đối với các dự án tài chính và khả năng có được các khoản nợ nước ngoài Còn với người cung ứng vốn, trong nước hay ở nước ngoài dựa vào báo cáo tài chính quyết định các khoản đầu tư và nợ cũng như dự định đưa ra ưu tiên báo cáo có khả năng so sánh Vì vậy, vấn đề đặt ra là báo cáo tài chính cần phải cung cấp được những nhu cầu thông tin tài chính cơ bản và khả năng so sánh giữa các loại báo cáo tài chính hay cần phải có một tiêu chuẩn thống nhất thông tin tài chính Cựu chủ tịch của Hội đồng dự trữ liên bang Hoa Kỳ và cựu chủ tịch của Uỷ ban Cố vấn Khôi phục kinh tế đã từng nhận xét hội tụ toàn cầu chuẩn mực báo cáo tài chính như sau: “Nếu thị trường phải điều chỉnh trước và vốn phải được phân phối hữu hiệu, các nhà đầu tư khá minh bạch và phải tin rằng thông tin tài chính phản ánh chính xác kết quả hoạt động kinh tế Các nhà đầu tư có thể so sánh giữa các công ty
để ra các quyết định đầu tư có căn cứ Trong thế giới toàn cầu hoá nhanh chóng, chỉ cảm nhận rằng cùng giao dịch kinh tế phải được hạch toán cùng tính chất dù ở các vùng quốc gia lãnh thổ khác nhau.”
1.2.2.2 Vai trò của kế toán và nhu cầu chuẩn mực kế toán quốc tế
Kế toán là nghệ thuật thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin về toàn bộ tài sản
và sự vận động của tài sản (hay là toàn bộ thông tin về tài sản và các hoạt động kinh
tế tài chính) trong doanh nghiệp nhằm cung cấp những thông tin hữu ích cho việc ra quyết định về kinh tế - xã hội và đánh giá hiệu quả của các hoạt động trong doanh nghiệp Để cung cấp thông tin về kinh tế tài chính thực sự hữu dụng về một doanh nghiệp, cần có một số công cụ theo dõi những hoạt động kinh doanh hàng ngày của
Trang 28doanh nghiệp, trên cơ sở đó tổng hợp các kết quả thành các bản báo cáo kế toán Những phương pháp mà một doanh nghiệp sử dụng để ghi chép và tổng hợp thành các báo cáo kế toán định kỳ tạo thành hệ thống kế toán Chức năng của hệ thống kế toán bao gồm:
- Quan sát, thu nhận và ghi chép một cách có hệ thống hoạt động kinh doanh hàng ngày các nghiệp vụ kinh tế phát sinh và các sự kiện kinh tế khác;
- Phân loại các nghiệp vụ và sự kiện kinh tế thành các nhóm và các loại khác nhau, việc phân loại này có tác dụng giảm được khối lượng lớn các chi tiết thành dạng cô đọng và hữu dụng;
- Tổng hợp các thông tin đã phân loại thành các báo cáo kế toán đáp ứng yêu cầu của người ra các quyết định
Vì những chức năng trên mà kế toán luôn giữ một vị trí quan trọng trong các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế,… ở bất kỳ quốc gia nào:
• Đối với doanh nghiệp
- Giúp cho doanh nghiệp theo dõi thường xuyên tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của mình: quá trình sản xuất, theo dõi thị trường … Nhờ đó, người quản lý điều hành trôi chảy các hoạt động, quản lý hiệu quả, kiểm soát nội bộ tốt
- Cung cấp tài liệu cho doanh nghiệp làm cơ sở hoạch định chương trình hành động cho từng giai đoạn, từng thời kỳ Nhờ đó, người quản lý tính được hiệu quả công việc, vạch ra hướng hoạt động cho tương lai Triển khai và thực hiện các hệ thống quản lý thông tin để thúc đẩy việc thực thi các chiến lược, kế hoạch và ra quyết định của ban quản trị
- Giúp người quản lý điều hoà tình hình tài chính của doanh nghiệp
- Là cơ sở pháp lý để giải quyết tranh tụng khiếu tố, với tư cách là bằng chứng về hành vi thương mại
- Cơ sở đảm bảo vững chắc trong giao dịch buôn bán
- Là cơ sở cho người quản lý ra các quyết định phù hợp: Quản lý hạ giá thành, quản lý doanh nghiệp kịp thời
- Cung cấp một kết quả tài chính rõ ràng, không thể chối cãi được
- Duy trì và phát triển các mối liên kết trong doanh nghiệp
Trang 29- Quản lý các chi phí dựa trên việc lập kế hoạch và dự báo ngân sách chi tiết, hạn chế tối đa chi phí không cần thiết
- Quản lý rủi ro và thực hiện bảo hiểm cho doanh nghiệp
- Giám sát và quản lý hoạt động
- Thường xuyên cập nhật thông tin về tài chính và các thông tin liên quan tới cổ đông trong và ngoài công ty (Quyền và trách nhiệm mới, các văn bản về luật, chủ
nợ, nhà băng, nhà đầu tư…) theo một cách thức tạo dựng sự tin tưởng cao nhất từ phía đối tác dành cho doanh nghiệp
• Đối với Nhà nước
- Theo dõi được sự phát triển của các ngành sản xuất kinh doanh, tổng hợp được
sự phát triển của nền kinh tế quốc gia
- Cơ sở để giải quyết tranh chấp về quyền lợi giữa các doanh nghiệp
- Cung cấp thông tin để tìm ra cách tính thuế tốt nhất, hạn chế thất thu thuế, hạn chế sai lầm trong chính sách thuế, …
- Kế toán đưa ra các dữ kiện hữu ích cho các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội, … xác định được vai trò trách nhiệm, vị trí quản lý và đưa ra các dữ liệu có ích cho việc xác định khả năng tổ chức và lãnh đạo
- Đối với nền kinh tế quốc gia, kế toán hỗ trợ chính quyền trong việc soạn thảo và ban hành những luật lệ về thuế, thiết lập những chính sách kinh tế cho phù hợp với thực trạng thương mại và kinh tế nước nhà Qua kết quả tổng hợp các báo cáo tài chính của ngành, chính quyền có thể biết được tình hình thịnh suy của nền kinh tế nước nhà, biết được sự thành công hay thất bại của các ngành, các doanh nghiệp, đồng thời biết được nguồn lợi về thuế sẽ thu được ngân sách cho nhà nước
Như đã phân tích ở trên, quá trình toàn cầu hoá đã dẫn đến nhu cầu phải có các chuẩn mực kế toán chất lượng cao hay một tiêu chuẩn thống nhất thông tin tài chính:
- Thứ nhất, xuất phát từ yêu cầu của người sử dụng thông tin báo cáo tài chính;
- Thứ hai, yêu cầu từ phía các công ty đa quốc gia Các công ty này giữ vai trò quan trọng trong quá trình toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới Vì vậy, báo cáo tài
Trang 30chính cần được lập theo một tiêu chuẩn thống nhất nhằm giảm thiểu chi phí tạo lập báo cáo tài chính, gia tăng tính minh bạch cũng như khả năng so sánh của thông tin Nguyên nhân là các công ty con đang áp dụng nhiều GAAP của các quốc gia sở tại
mà nó đang hoạt động Việc áp dụng các chuẩn mực kế toán khác nhau sẽ tạo nên những khác biệt đáng kể về kết quả hoạt động kinh doanh;
- Thứ ba, đầu tư và thương mại quốc tế ngày càng gia tăng đòi hỏi cần phải gia tăng chất lượng báo cáo tài chính vì thực tế, một số GAAP của quốc gia hay khu vực đã dần trở nên lỗi thời Điều này đã biến hệ thống chuẩn mực kế toán quốc gia thành trở ngại cho tiến trình toàn cầu hoá thị trường vốn;
- Thứ tư, nhu cầu tiếp cận thi trường vốn nước ngoài của các công ty đang tăng lên Nhiều công ty có nhu cầu niêm yết trên các thị trường chứng khoán nước ngoài phải lập nhiều báo cáo tài chính theo GAAP từng khu vực Một chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế áp dụng toàn cầu sẽ là phương thức cân xứng giữa chi phí với lợi ích mang lại;
- Nguyên nhân cuối cùng xuất phát từ nhu cầu của các công ty kiểm toán cũng như nhiều công ty hiện nay là chuyển dịch các kiểm toán viên, kế toán viên ra nước ngoài dễ dàng hơn Đó là nhu cầu “xuất khẩu” các chuyên gia chất lượng cao – một nhu cầu thiết thực không thể phủ nhận
Từ những nguyên nhân trên, tư duy kế toán lâu nay đã có sự thay đổi và thúc đẩy quá trình đi tìm một tiếng nói chung cho nghề nghiệp Đó chính là việc tìm kiếm một hệ thống chuẩn mực kế toán toàn cầu chất lượng cao Khuynh hướng hiện này dường như chỉ ra rằng hội tụ kế toán quốc tế là xu thế của thời đại
1.2.3 Xu hướng hội tụ kế toán quốc tế
1.2.3.1 Lược sử quá trình hội tụ kế toán quốc tế
a) Giai đoạn 1973 – 2000
Năm 1973, IASC đã được thành lập thông qua một bản cam kết bởi các tổ chức nghề nghiệp kế toán chuyên nghiệp trên thế giới từ các nước Úc, Canada, Pháp, Đức, Nhật Bản, Mexico, Netherlands, Anh, Ireland và Hoa Kỳ Mục đích ra đời của IASC là xây dựng và ban hành các chuẩn mực kế toán vì lợi ích công chúng
Trang 31được chấp nhận và tuân thủ trên thế giới cũng như hướng đến việc cải thiện và hòa hợp về các quy định liên quan đến việc lập và trình bày báo cáo tài chính
Chuẩn mực đầu tiên về kế toán đã được IASC ban hành vào tháng 01/1975
Từ năm 1973 đến năm 1987, IASC đã ban hành được 26 chuẩn mực kế toán, bao gồm một chuẩn mực về việc ảnh hưởng của việc thay đổi giá Và các chuẩn mực kế toán lúc bấy giờ gần như không có ảnh hưởng đến chuẩn mực quốc gia cũng như thực tiễn áp dụng Hầu hết các quốc gia đều tuyên bố rằng không sửa đổi các chuẩn mực riêng của họ theo chuẩn mực kế toán do IASC ban hành Nguyên nhân lý giải cho việc này xuất phát từ:
- Thứ nhất, các nước Anglo-American đều cho rằng các chuẩn mực của họ
ưu việt hơn chuẩn mực kế toán quốc tế IAS
- Thứ hai, hầu hết các nước đại diện cho IASC tin rằng các chuẩn mực kế toán quốc tế IAS không phù hợp với mô hình kế toán dựa trên thuế mà họ đang sử dụng
Giai đoạn 1987 – 2000 là giai đoạn phát triển của IASC Năm 1987, trong lúc các nhà lãnh đạo của IASC đang dần trở nên mất kiên nhẫn do ảnh hưởng không đáng kể của các chuẩn mực kế toán quốc tế đối với các quốc gia trên thế giới, Tổ chức quốc tế các cơ quan quản lý thị trường chứng khoán (IOSCO) đã đề nghị IASC đổi mới các chuẩn mực của mình để có thể đạt được sự ủng hộ của tổ chức này trên các nội dung:
- Loại bỏ sự cho phép nhiều lựa chọn;
- Đảm bảo chuẩn mực đầy đủ các quy định chi tiết cũng như các yêu cầu
về thuyết minh trên báo cáo tài chính
Cùng với việc nâng cao chất lượng các chuẩn mực kế toán quốc tế theo yêu cầu của IOSCO cũng như nhu cầu phát triển thị trường vốn quốc tế, vai trò của IASC và các chuẩn mực của tổ chức này ngày càng tăng lên
Năm 1996, Ủy ban Chứng khoán và Sàn giao dịch Hoa Kỳ (SEC) đã quyết định tuyên bố công khai lần đầu tiên về các đặc trưng mà IASC phải có nếu các chuẩn mực của IASC được tất cả các nước trên thế giới chấp nhận để lập báo cáo tài
Trang 32chính Trong ấn bản phát hành vào ngày 11/04/1996, SEC cho rằng “ba yếu tố quan trọng” cần phải được thể hiện trong chuẩn mực:
- Các chuẩn mực phải bao gồm một bộ cốt lõi các tuyên bố kế toán mà tạo thành nền tảng kế toán toàn diện và được chấp nhận chung
- Các chuẩn mực phải có chất lượng cao – các chuẩn mực là phải có tính
so sánh và minh bạch và phải cung cấp đầy đủ các thông tin
- Các tiêu chuẩn phải được hiểu và áp dụng chính xác
Thuật ngữ “chất lượng cao” lần đầu tiên được sử dụng trong khi bàn đến các chuẩn mực và quá trình ban hành chuẩn mực, một thuật ngữ được nhắc đến rộng rãi
và thường xuyên kể từ đây Mục đích của SEC là để biết được đặc trưng nào đang được tìm kiếm khi tham gia vào việc đánh giá của IOSCO về các chuẩn mực cốt lõi của IASC
Năm 1995, Liên minh châu Âu (EU) đã xem việc hướng đến các chuẩn mực quốc tế như một định hướng chiến lược cho việc phát triển hòa hợp kế toán Đầu năm 1997, sàn giao dịch chứng khoán của Đức đã thiết lập một thị trường mới cho các doanh nghiệp trẻ công nghệ cao và đã yêu cầu các doanh nghiệp đó, sử dụng GAAP Hoa Kỳ hoặc IAS, không sử dụng GAAP Đức Đương nhiên, Ủy ban Châu
Âu đã tuân theo những sự phát triển này và đã sớm sử dụng các chuẩn mực kế toán IAS như một sự lựa chọn khác trong Hướng dẫn luật doanh nghiệp về kế toán, tập trung vào việc cải cách luật doanh nghiệp, không tập trung vào báo cáo các thông tin hữu ích cho các nhà đầu tư thị trường vốn Dần dần, vấn đề về việc thiết lập các luật kế toán trong các nước lục địa châu Âu đã bắt đầu tham gia không chỉ Bộ Tư pháp – đơn vị chịu trách nhiệm về luật doanh nghiệp mà còn Bộ Tài chính – đơn vị liên quan đến các thị trường Tổng quát hơn, mối quan tâm của EU đã bắt đầu cao hơn về việc tạo lập thị trường vốn để có thể cạnh tranh ngang bằng với các thị trường vốn khác trên thế giới
Để đáp ứng vai trò trên, IASC nhận thấy sự cần thiết phải thay đổi chiến lược phát triển các chuẩn mực quốc tế để được sự thừa nhận lớn hơn của thế giới Năm
1997, IASC thành lập Nhóm công tác chiến lược bao gồm có Chủ tịch hội đồng, Phó Chủ tịch hội đồng, và các thành viên khác của Hội đồng để soạn thảo chiến
Trang 33lược đổi mới của mình Bản công bố lấy ý kiến năm 1998 thừa nhận rằng trong quá khứ, IASC đã chủ yếu chỉ làm công việc hòa hợp, nghĩa là chọn lựa cách xử lý kế toán có sẵn tại một số quốc gia, tìm kiếm sự thừa nhận quốc tế đối với cách xử lý này với một vài sửa đổi Cách tiếp cận này không phù hợp với yêu cầu của thời kỳ mới và IASC cần thay đổi Tại cuộc họp ở Venice tháng 11/1999, khi đã đồng ý với
kế hoạch tái cơ cấu với số phiếu nhất trí của toàn bộ thành viên, Hội đồng đã quyết định thông qua việc tái cơ cấu theo cách tiến hành như yêu cầu của SEC Sau đó, Nhóm công tác chiến lược đã công bố báo cáo trong đó đề xuất cải cách cơ cấu tổ chức và hoạt động, theo đó hướng đến việc xây dựng một bộ chuẩn mực quốc tế chất lượng cao cho thị trường vốn và thúc đẩy việc hội tụ kế toán toàn cầu giữa các chuẩn mực quốc gia với chuẩn mực quốc tế Thực hiện báo cáo này, IASC đã tiến hành việc tái cơ cấu và năm 2001, IASB đã được thành lập
Trong gần 30 năm của giai đoạn này, IASC đã đạt được những thành tựu nhất định Tính đến cuối năm 2000, IASC đã có 156 thành viên là tổ chức nghề nghiệp đến từ 114 quốc gia Trong thời gian trên, IASC đã tổ chức 87 cuộc họp ở 37 quốc gia trên toàn thế giới và ban hành được khuôn mẫu lý thuyết kế toán, 41 chuẩn mực
kế toán quốc tế, trong đó có 31 chuẩn mực có hiệu lực đến cuối năm 2000 IASC cũng đã hoàn thành thỏa thuận với IOSCO với kết quả là năm 2000, Ủy ban Kỹ thuật của IOSCO khuyến cáo các cơ quan quản lý thị trường vốn các nước cho phép các công ty nước ngoài được lựa chọn chuẩn mực kế toán quốc tế thay cho chuẩn mực kế toán quốc gia
Như vậy, giai đoạn từ khi thành lập IASC đến năm 2000 là giai đoạn tạo tiền
đề cho việc hội tụ kế toán quốc tế đã được chuẩn bị thông qua việc hình thành và phát triển tổ chức lập quy quốc tế và các chuẩn mực quốc tế
b) Giai đoạn từ năm 2001 đến nay
Năm 2001, IASB mới được thành lập thay thế chức năng ban hành chuẩn mực của IASC Cũng trong năm này, Tổ chức Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế (IASC Foundation) đã hình thành với chức năng giám sát hoạt động, cơ cấu và chiến lược cũng như tài trợ cho IASB
Trang 34Mục tiêu hoạt động của IASB là hướng đến việc hình thành một bộ chuẩn mực báo cáo tài chính toàn cầu, chất lượng cao phục vụ cho các nhà đầu tư trên thị trường vốn cũng như các bên liên quan để đưa ra quyết định kinh tế; đồng thời thúc đẩy quá trình hội tụ chuẩn mực kế toán quốc gia với chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế Thuật ngữ “hội tụ” được chính thức dùng thay thế cho thuật ngữ “hòa hợp” trước đây
IASB một mặt giữ lại các chuẩn mực kế toán quốc tế hiện hành, một mặt ban hành các chuẩn mực mới là chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) Các chuẩn mực kế toán quốc tế hiện hành cũng được xem xét lại, chỉnh sửa và ban hành dưới tên chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế khi thích hợp Thuật ngữ chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế được sử dụng theo nghĩa rộng bao gồm tất cả các chuẩn mực
do IASB ban hành
Trong 5 năm đầu tiên từ khi được thành lập (2001 – 2006), một trong những
ưu tiên của IASB là bắt đầu quá trình hội tụ với Hội đồng Chuẩn mực kế toán tài chính Hoa Kỳ (FASB) để khi hai bộ chuẩn mực này gần như tương đồng, SEC có thể sẽ sẵn sàng giảm sự hòa giải cần thiết với những tổ chức ban hành tư nhân nước ngoài sử dụng IFRS SEC đã khuyến khích cả hai hội đồng giảm thiểu những khác biệt giữa hai bộ chuẩn mực kế toán Khi Robert Herz từ chức IASB vào tháng 06/2002 để trở thành chủ tịch hội đồng FASB, đây là cơ hội để củng cố lại mối quan hệ giữa hai hội đồng này Vào tháng 10/2002, theo như cuộc họp chính thức của hai hội đồng, IASB và FASB đã cùng ký bản thỏa thuận Norwalk, với nội dung hai bên hợp tác phát triển các chuẩn mực kế toán chất lượng cao cho việc lập và trình bày báo cáo tài chính trong nước cũng như xuyên quốc gia Hai bên đã hứa phát triển quá trình dựa trên các dự án ngắn hạn sẽ được hoàn thành trong thời gian tới cũng như phối hợp các chương trình hoạt động cho các dự án dài hạn Vào tháng 02/2006, hai bên đã ký một thỏa thuận khác để vạch ra tiến trình trong tương lai về việc hội tụ một số các chuẩn mực chính Bản thỏa thuận này đã được cập nhật vào năm 2008, xác định mục tiêu hoàn thành vào năm 2011 và vào năm 2009, hai bên
đã công bố rộng rãi sẽ tăng tốc để hoàn thành các dự án hội tụ
Trang 35Theo như kế hoạch, năm 2005, phần lớn các doanh nghiệp niêm yết trong 8.000 doanh nghiệp trong EU mở rộng đã chuyển đổi từ GAAP quốc gia sang IFRS trong các báo cáo tài chính hợp nhất Không còn bàn cãi gì, khả năng so sánh giữa các quốc gia trên thế giới đã bị phá vỡ đáng kể
Đầu năm 2009, Tổ chức Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế đã thực hiện hai thay đổi quan trọng trong Hiến pháp Nó đã sửa đổi hiến pháp tăng số lượng thành viên quản trị từ 14 lên 16 và xác định hạn ngạch địa lý cho các thành viên Vào tháng 07/2009, IASB đã ban hành một tiêu chuẩn khép kín gồm 230 trang cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Từ năm 2005 trở đi, EU và Úc đã yêu cầu áp dụng IFRS cho các doanh nghiệp niêm yết Quy định tương tự có hiệu lực tại các nước Nam Phi, New Zealand, Israel, Hồng Kông, Brazil, Chile, Canada và Hàn Quốc và ở rất nhiều nước đang phát triển
và các nền kinh tế mới nổi (nhưng có sự sửa đổi) Từ ngày 01/01/2008, Hoa Kỳ đã cho phép các công ty nước ngoài niêm yết tại nước này sử dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế mà không cần chỉnh hợp
Năm 2010, SEC đã ban hành một bản kế hoạch để đánh giá hiệu quả sử dụng IFRS trong hệ thống báo cáo tài chính của Hoa Kỳ SEC cũng lưu ý rằng năm 2015
sẽ là năm đầu tiên có khả năng thông qua IFRS Từ cuối tháng 3/2010, Nhật Bản đã cho phép các công ty trong nước lựa chọn sử dụng IFRS để lập báo cáo tài chính Năm 2011, các công ty của Canada và Ý bắt đầu sử dụng chuẩn mực quốc tế và Nhật Bản dự kiến sẽ bỏ toàn bộ các sự sai khác giữa GAAP Nhật bản và IFRS Năm
2012, Mexico đã đề ra kế hoạch sử dụng IFRS cho tất cả các doanh nghiệp niêm yết Như vậy, hội tụ của kế toán quốc tế là một quá trình trải qua nhiều giai đoạn, trong đó, từ mục tiêu ban đầu là đi tìm sự hòa hợp, đã chuyển sang hướng đến hội tụ Tương ứng với nó, chuẩn mực quốc tế được định hình lại, nhắm đến một mục tiêu tham vọng hơn “một hệ thống toàn cầu chất lượng cao” nhưng với một phạm vi hẹp hơn “thị trường vốn quốc tế” Mặc dù vậy, quá trình hội tụ cũng đầy thăng trầm với những giai đoạn tiến triển rất nhanh và có những giai đoạn chững lại Những hệ lụy gần đây do quyết định của Hoa Kỳ cho thấy ảnh hưởng của những quốc gia lớn đến quá trình hội tụ là một điều không thể bỏ qua
Trang 361.2.3.2 Hội tụ kế toán quốc tế là xu hướng tất yếu
Những chuẩn mực kế toán của các quốc gia có khác biệt và chịu ảnh hưởng bởi yếu tố chính trị, có thể dễ dàng nhận thấy khi các công ty thực hiện huy động vốn, các nhà đầu tư và người cho vay tìm kiếm cơ hội đầu tư ở quốc gia sở tại Các thị trường vốn trên thế giới bắt đầu toàn cầu hóa cách đây trên 30 năm Hiện nay, quá trình này đang phát triển một cách nhanh chóng nên thúc đẩy nhu cầu phải có
“một bộ chuẩn mực kế toán toàn cầu” được sử dụng vì mục đích lập báo cáo tài chính để phục vụ cho các quyết định đầu tư, tín dụng và các quyết định khác
Ở một số quốc gia, các công ty nước ngoài có thể đệ trình báo cáo tài chính của mình theo GAAP quốc gia sở tại mà không cần phải đối chiếu chỉnh hợp sang GAAP của quốc gia mà họ niêm yết trên thị trường
Ngoài các công ty niêm yết xuyên quốc gia, còn có các thị trường xuyên quốc gia Thông thường, được thực hiện bằng các thỏa thuận hợp đồng; chứng khoán được niêm yết trên một sở giao dịch có thể được mua tại sở giao dịch của các quốc gia khác và phương thức đầu tư này được thực hiện thông qua internet Vậy câu hỏi đặt ra là, làm thế nào để điều chỉnh một thị trường như thế? Đáp án hẳn phải nghiêng về các chuẩn mực báo cáo tài chính toàn cầu
Ngày nay, chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế được sử dụng trên 166 quốc gia/vùng lãnh thổ, trong đó 144 quốc gia/vùng lãnh thổ yêu cầu cho tất cả các công
ty niêm yết trong nước
Bảng 1.1: Việc sử dụng chuẩn mực IFRS trong 166 quốc gia/vùng lãnh thổ chia
theo khu vực trên Thế giới
Khu vực
Số các nước có thẩm quyền
Các nước trong khu vực
Các nước yêu cầu tiêu chuẩn IFRS cho toàn
bộ hoặc đa số các công ty niêm yết trong
Các nước cho phép hoặc yêu cầu tiêu chuẩn IFRS cho một vài (nhưng không tất cả và đa số) các công ty niêm yết
Các nước không yêu cầu hay cho phép tiêu chuẩn IFRS cho bất kỳ công ty nào niêm yết trong nước
Trang 37nước trong nước
http://www.ifrs.org/use-around-the-world/use-of-ifrs-standards-by-1.2.4 Chuẩn mực kế toán quốc tế là cơ sở khoa học và pháp lý của quá trình hội
tụ kế toán quốc tế
1.2.4.1 Sự ra đời của chuẩn mực kế toán quốc tế
Các chuẩn mực kế toán quốc tế ra đời với mục tiêu tạo “ngôn ngữ chung” cho việc thực hành kế toán, sử dụng thông tin kế toán trong các quốc gia khác nhau Việc thực hành kế toán và sử dụng thông tin kế toán ở các quốc gia khác nhau luôn mang tính đa dạng vốn có của kế toán và gắn với đặc thù của nền kinh tế xã hội của từng quốc gia Trong giai đoạn đầu của nền kinh tế thị trường, nền kinh tế của từng quốc gia phát triển tương đối độc lập với nhau, các liên kết kinh tế chưa hình thành hoặc không đáng kể thì hệ thống thông tin kế toán của mỗi đơn vị kế toán nói riêng
và mỗi quốc gia nói chung thể hiện đầy đủ nhất tính đa dạng đó Tuy nhiên, xu thế
Trang 38hội nhập về kinh tế và toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới đã tạo ra nhu cầu tất yếu của việc quốc tế hóa hoạt động kế toán và kiểm toán Sự di chuyển và quốc tế hóa các nguồn lực kinh tế của từng quốc gia, doanh nghiệp đã đòi hỏi kế toán và kiểm toán phải đi trước một bước, kế toán của các nước phải có chung một mục tiêu, đối tượng phục vụ và chung một “ngôn ngữ giao tiếp” Chuẩn mực kế toán quốc tế được hình thành chính để đáp ứng nhu cầu này
Chuẩn mực kế toán quốc tế là những quy định và hướng dẫn về các nguyên tắc, phương pháp kế toán có tính khuôn mẫu, nền tảng chung cho các quốc gia trong việc ghi chép và trình bày hệ thống cáo cáo tài chính Cho đến nay, hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế đã được thiết lập bao gồm: hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) cho khu vực tư nhân, hệ thống chuẩn mực kế toán công quốc tế (IPSAS), hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế về trình bày báo cáo tài chính (IFRS)…
Hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế được chấp nhận rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới và trở thành ngôn ngữ kế toán chung cho các nước có nền kinh tế thị trường phát triển và đang phát triển
1.2.4.2 Quy trình xây dựng các chuẩn mực kế toán quốc tế
a) Cơ quan ban hành các chuẩn mực kế toán quốc tế
Các chuẩn mực kế toán quốc tế được ban hành bởi Hội đồng Chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB), tiền thân là Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế (IASC)
Sự hình thành IASC xuất phát từ đề nghị của ba nước Anh và xứ Wales, Hoa
Kỳ và Canada về việc thành lập một Nhóm nghiên cứu quốc tế về kế toán bao gồm các thành viên là Viện kế toán viên công chứng Anh và xứ Wales (ICAEW), Viện
kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA) và Viện kế toán viên công chứng Canada (CICA) Năm 1967, nhóm nghiên cứu quốc tế về kế toán (AISG) được thành lập và bắt đầu ban hành một số tài liệu về các vấn đề kế toán quan trọng Các tài liệu này là cơ sở quan trọng để xây dựng nên các chuẩn mực kế toán quốc tế khi IASC chính thức thành lập vào tháng 06/1973 Các nước sáng lập ra tổ chức này bao gồm: Australia, Canada, Đức, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Anh, Ireland, Pháp, Mexico
và Hà Lan Các tổ chức nghề nghiệp kế toán của các nước này cũng đồng thời tham gia trong Ban điều hành IASC vào thời điểm thành lập Cho đến nay, đã có nhiều
Trang 39quốc gia tham gia với tư cách thành viên và trên 100 quốc gia trên thế giới áp dụng Chuẩn mực kế toán quốc tế Từ năm 1973 đến năm 2000, IASC đã cho ra đời nhiều chuẩn mực kế toán quốc tế và được áp dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia trên thế giới Năm 2001, IASB được ra đời để thay thế cho IASC Từ năm 2001 đến nay, IASB đã sửa đổi và bổ sung một số IAS và đưa ra kiến nghị thay thế một số IAS bằng IFRS, đồng thời ban hành một số IFRS cho một số vấn đề được đề cập đến trong IAS
b) Quy trình ban hành chuẩn mực
Quy trình ban hành chuẩn mực IFRSs bao gồm sáu bước, với Ban quản trị của
Tổ chức Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế có cơ hội để đảm bảo sự tuân thủ tại một số điểm thông qua:
(1) Mở một chương trình nghị sự
(2) Lên kế hoạch cho dự án
(3) Phát triển và phát hành tài liệu thảo luận
(4) Phát triển và phát hành dự thảo để trưng cầu ý kiến
(5) Phát triển và ban hành chuẩn mực
(6) Sau khi tiêu chuẩn được ban hành
Trang 40(Nguồn: IFRS Foundation, 2016)
Sơ đồ 1.1: Quy trình ban hành chuẩn mực kế toán quốc tế
- Mở một chương trình nghị sự:
Bằng việc phát triển chuẩn mực báo cáo tài chính chất lượng cao, IASB tìm cách giải quyết cho nhu cầu về chất lượng thông tin tốt hơn, có giá trị với những người sử dụng báo cáo tài chính
Khi quyết định chương trình nghị sự được đề xuất có giải quyết nhu cầu của người sử dụng hay không, IASB sẽ xem xét:
+ Sự liên quan đến người sử dụng về thông tin và độ đáng tin của thông tin có thể được cung cấp
+ Những hướng dẫn hiện đang có sẵn
+ Khả năng tăng tính hội tụ
+ Chất lượng của IFRS được cải thiện
+ Những hạn chế về nguồn lực
Để giúp IASB trong việc xem xét một chương trình nghị sự trong tương lai, các thành viên của IASB sẽ được trưng cầu ý kiến để nhận định, xem xét và đưa ra