Xuất khẩu dịch vụ du lịch của một số quốc gia trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam (Luận văn thạc sĩ)Xuất khẩu dịch vụ du lịch của một số quốc gia trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam (Luận văn thạc sĩ)Xuất khẩu dịch vụ du lịch của một số quốc gia trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam (Luận văn thạc sĩ)Xuất khẩu dịch vụ du lịch của một số quốc gia trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam (Luận văn thạc sĩ)Xuất khẩu dịch vụ du lịch của một số quốc gia trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam (Luận văn thạc sĩ)Xuất khẩu dịch vụ du lịch của một số quốc gia trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam (Luận văn thạc sĩ)Xuất khẩu dịch vụ du lịch của một số quốc gia trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam (Luận văn thạc sĩ)Xuất khẩu dịch vụ du lịch của một số quốc gia trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam (Luận văn thạc sĩ)Xuất khẩu dịch vụ du lịch của một số quốc gia trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam (Luận văn thạc sĩ)
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ
Xuất khẩu dịch vụ du lịch của một số quốc gia trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Ngành: Kinh doanh Chuyên ngành: Kinh doanh thương mại
Mã số: 8340201
Họ và tên học viên: HOÀNG THANH HẰNG Người hướng dẫn: TS VŨ THÀNH TOÀN
Hà Nội - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi dưới sự
hướng dẫn của TS Vũ Thành Toàn Các số liệu được sử dụng trong luận văn phục
vụ cho phân tích, nhận xét, đánh giá do tôi tự tìm hiểu, thu thập từ các nguồn khác
nhau có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo Các nội dung nghiên cứu trong đề tài
này là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào khác
Hà Nội, ngày 12 tháng 02 năm 2018
Học viên
Hoàng Thanh Hằng
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BẢNG, HÌNH vi
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN vii
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ XUẤT KHẨU DỊCH VỤ DU LỊCH 5
1.1 Cơ sở lý luận chung về dịch vụ và dịch vụ du lịch 5
1.1.1 Khái niệm dịch vụ 5
1.1.2 Đặc điểm của dịch vụ 6
1.1.3 Các loại hình dịch vụ 8
1.1.4 Khái niệm dịch vụ du lịch 9
1.2 Cơ sở lý luận chung về xuất khẩu dịch vụ du lịch 16
1.2.1 Xuất khẩu dịch vụ 16
1.2.2 Xuất khẩu dịch vụ du lịch 19
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU DỊCH VỤ DU LỊCH CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM 30
2.1 Thực trạng xuất khẩu dịch vụ du lịch của Mỹ 30
2.1.1 Thực trạng xuất khẩu dịch vụ du lịch 33
2.1.2 Thị trường xuất khẩu dịch vụ du lịch của Mỹ 35
2.1.3 Chính sách phát triển 36
2.1.4 Kinh nghiệm rút ra từ phát triển xuất khẩu dịch vụ du lịch của Mỹ 37
2.2 Thực trạng xuất khẩu dịch vụ du lịch của Singapore 39
2.2.1 Thực trạng xuất khẩu dịch vụ du lịch 39
2.2.2 Chính sách phát triển 41
2.2.3 Kinh nghiệm rút ra từ phát triển xuất khẩu dịch vụ du lịch của Singapore 48
2.3 Thực trạng xuất khẩu dịch vụ du lịch của Thái Lan 49
2.3.1 Thực trạng xuất khẩu dịch vụ du lịch 49
Trang 52.3.2 Chính sách phát triển 51
2.3.3 Kinh nghiệm rút ra từ phát triển xuất khẩu dịch vụ du lịch của Thái Lan 53
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN XUẤT KHẨU DỊCH VỤ DU LỊCH VIỆT NAM RA THẾ GIỚI 59
3.1 Thực trạng xuất khẩu dịch vụ du lịch của Việt Nam 59
3.1.1 Sự cần thiết phát triển du lịch ở nước ta 59
3.1.2 Tiềm năng phát triển du lịch ở nước ta 61
3.1.3 Tình hình chung về xuất khẩu dịch vụ du lịch của Việt Nam 63
3.1.4 Đánh giá tổng quát về hoạt động xuất khẩu dịch vụ du lịch thời gian qua 70 3.2 Mục tiêu, định hướng phát triển du lịch ở nước ta 79
3.2.1 Mục tiêu 79
3.2.2 Định hướng phát triển du lịch 80
3.3 Một số giải pháp phát triển xuất khẩu dịch vụ du lịch Việt Nam 82
3.3.1 Giải pháp vĩ mô 82
3.3.2 Giải pháp vi mô 85
KẾT LUẬN 92
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Danh mục từ viết tắt tiếng Anh
Chữ viết tắt Tiếng Anh Tiếng Việt
BEA Bureau of Economic Analysis Ủy ban phân tích kinh tế Mỹ CTP Corporation for Travel Promotion Công ty xúc tiến du lịch
FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GATS General Agreement on Trade in
Services
Hiệp định chung về thương mại dịch vụ
GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội
IUOTO International Union of Offical
Travel Organization
Liên hiệp Quốc tế các tổ chức chính thức về du lịch
OECD Organization for Economic
Cooperation and Development
Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế
PATA Pacific Asian Travel Assocition Hiệp hội lữ hành các nước
Châu Á - Thái Bình Dương STB Singapore Tourism Board Tổng cục Du lịch Singapore TAT Thailand Authority of Tourism Tổng cục du lịch Thái Lan
TPP Trans-Pacific Partnership Diễn đàn hợp tác xuyên Thái
Bình Dương
UNESCO United Nations Educational
Scientific and Cultural Organization
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc
UNWTO United Nations World Tourism
organization Tổ chức Du lịch Thế giới WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại Thế giới
Trang 7Danh mục từ viết tắt tiếng Việt
Chữ viết tắt Tiếng Việt
CHXHCN Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa
CNTT Công nghệ thông tin
XKDV Xuất khẩu dịch vụ
Trang 8DANH MỤC BẢNG, HÌNH
Bảng 2.1: Kim ngạch xuất nhập khẩu dịch vụ du lịch của Mỹ giai đoạn 2005 - 2015 34
Bảng 2.2: Lượng khách du lịch quốc tế vào Singapore từ 2005 - 2015 40
Bảng 2.3: Lượng khách du lịch quốc tế vào Thái Lan từ 2005 - 2015 50
Bảng 3.1: Lượng khách quốc tế đến Việt Nam giai đoạn 2005 - 2015 63
Bảng 3.2: Doanh thu xã hội từ du lịch giai đoạn 2005 - 2015 70
Hình 2.1: Thị phần XKDV của một số quốc gia trên thế giới năm 2010 31
Hình 2.2: Kim ngạch xuất nhập khẩu dịch vụ của Mỹ giai đoạn 2005 - 2015 32
Hình 2.3: Tốc độ tăng trưởng kim ngạch XKDV của Mỹ giai đoạn 2005 - 2015 33
Hình 2.4: Kim ngạch xuất nhập khẩu dịch vụ du lịch của Mỹ giai đoạn 2005 - 2015 34
Hình 2.5: Thị trường XKDV du lịch của Mỹ năm 2015 35
Hình 2.6: Lượng khách du lịch quốc tế vào Singapore từ 2005 - 2015 41
Hình 2.7: Lượng khách du lịch quốc tế vào Thái Lan từ 2005 - 2015 50
Hình 3.1: Lượng khách quốc tế đến Việt Nam giai đoạn 2005 - 2015 64
Hình 3.2: Thị trường XKDV du lịch của Việt Nam năm 2015 65
Trang 9TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN
Đảng và nhà nước đã xác định “du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng mang nội dung văn hoá sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hoá cao; phát triển du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng của nhân dân và khách du lịch quốc tế, góp phần nâng cao dân trí, tạo việc làm và phát triển kinh tế xã hội của đất nước” (Trích pháp lệnh du lịch 2/1999) và coi “phát triển du lịch là một hướng chiến lược quan trọng trong đường lối phát triển kinh tế
xã hội nhằm góp phần thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” (Trích chỉ thị 46/CTTW ban bí thư trung ương đảng khoá VII, 10/1994) và “phát triển du lịch thực sự trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn” (Trích văn kiện đại hội đảng khoá IX) Hơn nữa, du lịch Việt Nam có rất nhiều điều kiện thuận lợi, với nhiều danh lam thắng cảnh được thế giới biết đến nhưng ngành xuất khẩu dịch vụ (XKDV) du lịch còn khá non trẻ, mới có được những bước đi đầu, do đó còn nhiều hạn chế, tồn tại cản trở sự phát triển hơn nữa của ngành Để có thể tồn tại, phát triển được trong môi trường cạnh tranh khốc liệt như hiện nay, ngành dịch vụ du lịch Việt Nam cần phải có những thay đổi sâu sắc từ việc học tập kinh nghiệm phát triển của những nước đi trước
Luận văn gồm 03 chương đã đi sâu nghiên cứu các vấn đề cơ bản liên quan đến XKDV du lịch của một số nước phát triển, với những kết quả đã đạt được như sau: Thứ nhất, cung cấp các khái niệm cơ bản về dịch vụ, xuất khẩu dịch vụ và xuất khẩu dịch vụ du lịch
Thứ hai, khái quát thực trạng XKDV du lịch của một số quốc gia trên thế giới qua những kết quả các nước đó đã đạt được và những chính sách phát triển XKDV
du lịch; từ đó đưa ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Thứ ba, khái quát thực trạng XKDV du lịch của Việt Nam và đưa ra được những tiềm năng và hạn chế của hoạt động XKDV du lịch trong thời gian qua; từ đó luận văn đề xuất nhóm các giải pháp phát triển cho XKDV du lịch Việt Nam giai đoạn 2015 - 2025
Trang 10Với những kết quả nghiên cứu trên cùng với sự tổng hợp từ một số nguồn tài liệu tham khảo đã nghiên cứu trước, hi vọng luận văn giúp người đọc có cái nhìn chi tiết và thấu đáo hơn về ngành XKDV du lịch trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng
Trang 11LỜI NÓI ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, dịch vụ đang ngày càng giữ một vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến mọi hoạt động của xã hội đặc biệt là kinh tế Sự lớn mạnh không ngừng về quy mô, tốc độ của dịch vụ đã kéo theo nhu cầu và khả năng cho XKDV XKDV hiện nay đã trở thành một hoạt động kinh tế quan trọng của nhiều quốc gia, góp phần vào tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm cho phần lớn lao động của các quốc gia này
Ngày nay đời sống của con người ngày càng cao, họ không những có nhu cầu đầy đủ về vật chất mà còn có nhu cầu được thoả mãn về tinh thần như vui chơi, giải trí và du lịch Do đó, du lịch là một trong những ngành có triển vọng Hiện nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều coi trọng phát triển du lịch Ở Việt Nam, du lịch được coi là xu hướng tất yếu, là đầu tàu trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và mang về một nguồn thu không nhỏ cho nền kinh tế Việt Nam
Ngành du lịch Việt Nam ra đời muộn hơn so với các nước khác trên thế giới nhưng vai trò của nó thì không thể phủ nhận Du lịch là một ngành “công nghiệp không có ống khói”, mang lại thu nhập GDP lớn cho nền kinh tế, giải quyết công ăn việc làm cho hàng vạn lao động, góp phần truyền bá hình ảnh Việt Nam ra toàn thế giới Nhận thức được điều này, Đảng và nhà nước đã đưa ra mục tiêu xây dựng ngành du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn Việc nghiên cứu về du lịch trở nên cấp thiết, nó giúp chúng ta có một cái nhìn đầy đủ, chính xác về du lịch Điều này có ý nghĩa cả về phương diện lí luận và thực tiễn Nó giúp du lịch Việt Nam đạt được những thành tựu mới, khắc phục được những hạn chế, nhanh chóng đưa du lịch phát triển đúng với tiềm năng của đất nước, nhanh chóng hội nhập với du lịch khu vực
và thế giới
Như vậy, dịch vụ du lịch có vai trò rất quan trọng trong một nền kinh tế, và XKDV du lịch là một hướng đi quan trọng giúp Việt Nam cải thiện và từng bước đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng xuất khẩu, cân bằng cán cân thương mại, nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia trong khu vực và trên thế giới Để phát triển khu
Trang 12vực dịch vụ này, chúng ta phải có những nghiên cứu, học hỏi từ nước khác nơi có ngành dịch vụ du lịch phát triển Vì vậy, với tư cách là học viên cao học chuyên ngành kinh tế cùng mong muốn đóng góp kiến thức cho nền kinh tế Việt Nam nói chung và cho ngành dịch vụ du lịch nói riêng, người viết đã chọn đề tài luận văn là:
“Xuất khẩu dịch vụ du lịch của một số quốc gia trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”
2 Tình hình nghiên cứu
Ngày nay, du lịch đã trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến trên thế giới và có xu hướng phát triển nhanh Trong đó, Mỹ, Singapore và Thái Lan là nột trong những nước có hoạt động kinh doanh du lịch phát triển nhất trên thế giới, đặc biệt là du lịch quốc tế Vì vậy có không ít sách, báo và tài liệu tham khảo viết về vấn đề này
- Du lịch và kinh doanh - NXB Văn hóa Thông tin, 1995 (Trần Nhạn), tác giả
đã trình bày một cách đầy đủ về hiện tượng, bản chất, khái niệm du lịch Nguồn lực phát triển du lịch, các thể loại, kinh doanh du lịch Chân dung các chủ doanh nghiệp
du lịch, quản lý Nhà nước Vị trí của văn hóa du lịch với hoạt động du lịch
- Thị trường du lịch - Đại học Quốc Gia Hà Nội, 2009 (Nguyễn Văn Hưu) đã
đưa ra lý luận tổng quan về thị trường du lịch bao gồm: khái niệm, bản chất, đặc điểm, chức năng và phân loại thị trường du lịch: thị trường du lịch thế giới, thị trường du lịch Asean và thị trường du lịch Việt Nam
Ngoài ra còn một số luận án nghiên cứu, phân tích về du lịch quốc tế nhưng ở những khía cạnh khác nhau:
- Luận án “Các giải pháp tài chính nhằm phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2010” của Chu Văn Yêm - Học viện Tài Chính (2004) đã góp phần khẳng định vị trí kinh tế - xã hội của ngành du lịch, các hoạt động du lịch và nhấn mạnh vai trò của tài chính đối với phát triển du lịch nói chung Luận án đã phân tích khách quan về
du lịch Việt Nam và tập trung vào việc đề xuất các giải pháp về tài chính nhằm mở rộng và nâng cao hiệu quả của hoạt động du lịch Việt Nam đến năm 2010
Trang 13- Luận án “Một số vấn đề về tổ chức và quản lý các hoạt động kinh doanh du lịch quốc tế ở Việt Nam” của Trịnh Xuân Dũng - Đại học Kinh tế Quốc Dân (1989) trình bày một cách có hệ thống các nội dung, đặc điểm, vị trí, vai trò của du lịch quốc tế, các yếu tố khách quan thúc đẩy sự phát triển du lịch trên thế giới và khu vực Luận án còn đưa ra những cơ sở khoa học về tổ chức và quản lý hoạt động kinh doanh du lịch quốc tế Tuy nhiên, công trình này chưa tập trung phân tích kinh nghiệm của một số nước trên thế giới để từ đó rút ra bài học cho Việt Nam
- Luận án “Hoàn thiện quản lý Nhà nước đối với cơ sở hạ tầng đô thị du lịch ở Việt Nam” của Hồ Đức Phước - Đại học Kinh tế Quốc Dân (2009) đã đánh giá được thực trạng quản lý Nhà nước trong lĩnh vực cở sở hạ tầng và sự phát triển cơ
sở hạ tầng tại các đô thị du lịch Việt Nam từ đó đề xuất các giải pháp
- Luận án “Hoàn thiện hoạch định chiến lược xúc tiến điểm đến của ngành du lịch Việt Nam” của Nguyễn Văn Đảng - Đại học Thương Mại (2007) hệ thống hóa một số vấn đề lí luận mới về điểm đến du lịch, mô hình điểm đến du lịch Phân tích
và khảo sát thực trạng công tác hoạch định chiến lược và đánh giá hoạch định chiến lược Xây dựng mô hình tổng quát hoạch định chiến lược xúc tiến hỗn hợp điểm đến du lịch
Tuy nhiên theo như nghiên cứu, tác giả chưa thấy có tài liệu nào tập trung nghiên cứu và phân tích sâu kinh nghiệm phát triển xuất khẩu dịch vụ du lịch của
Mỹ, Singapore và Thái Lan để từ đó rút ra bài học cho Việt Nam
3 Mục đích nghiên cứu của luận văn
Luận văn dựa trên trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới trong việc phát triển XKDV du lịch, và căn cứ vào thực trạng của Việt Nam, từ đó, đánh giá triển vọng kinh doanh và đưa ra những đề xuất, kiến nghị để phát triển đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển XKDV du lịch của Việt Nam
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: hoạt động xuất khẩu dịch vụ du lịch của một số quốc gia trên thế giới (Mỹ, Singapore, Thái Lan) và Việt Nam
Trang 14- Về mặt nội dung nghiên cứu: luận văn tập trung nghiên cứu hoạt động XKDV du lịch của Mỹ, Singapore và Thái Lan trong một số nội dung chủ yếu như: thực trạng XKDV du lịch, các chính sách phát triển từ đó đưa ra các kinh nghiệm phát triển cho Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp chính bao gồm phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích và dự báo, phương pháp so sánh và đối chiếu để luận giải đối tượng nghiên cứu
4 Câu hỏi nghiên cứu
Luận văn đưa ra 4 câu hỏi chính:
- Khái niệm xuất khẩu dịch vụ du lịch là gì?
- Tình hình xuất khẩu dịch vụ du lịch trên thế giới như thế nào?
- Tình hình xuất khẩu dịch vụ du lịch tại Việt Nam như thế nào?
- Các đề xuất cho xuất khẩu dịch vụ du lịch tại Việt Nam là gì?
6 Bố cục của luận văn
Ngoài lời mở đầu và kết luận nội dung chính của khóa luận bao gồm 3 chương sau đây:
- Chương 1: Cơ sở lý luận chung về xuất khẩu dịch vụ du lịch
- Chương 2: Thực trạng xuất khẩu dịch vụ du lịch của một số quốc gia trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
- Chương 3: Giải pháp phát triển xuất khẩu dịch vụ du lịch Việt Nam ra thế giới
Trang 15CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ XUẤT KHẨU DỊCH VỤ DU LỊCH
1.1 Cơ sở lý luận chung về dịch vụ và dịch vụ du lịch
1.1.1 Khái niệm dịch vụ
Dịch vụ là một khái niệm khá quen thuộc đối với người dân của bất kỳ một quốc gia nào Thuật ngữ kinh tế này được sử dụng thường xuyên trong đời sống con người do vai trò ngày càng tăng của dịch vụ đối với nền kinh tế quốc dân Tuy nhiên cho đến nay, khái niệm về dịch vụ vẫn chưa được thống nhất do có rất nhiều các quan điểm khác nhau Có lẽ khái niệm đơn giản và dễ hiểu nhất là từ Từ điển bách khoa Việt Nam: “Dịch vụ là những hoạt động phục vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt”
Theo Giáo sư Philip Kotler, dịch vụ là “bất kỳ hoạt động hay lợi ích nào mà chủ thể này cung cấp cho chủ thể kia, trong đó đối tượng cung cấp nhất thiết phải mang tính vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu một vật nào cả, còn việc sản xuất dịch vụ có thể hoặc không có thể gắn liền với sản phẩm vật chất.” (Nguyễn Trung Văn, 2008, tr.488)
Theo định nghĩa của Hiệp hội Marketing Mỹ (AMA), dịch vụ là “những hoạt động mang tính vô hình nhằm thỏa mãn nhu cầu, mong muốn của khách hàng, theo
đó dịch vụ không nhất thiết phải sử dụng sản phẩm hữu hình, nhưng trong mọi trường hợp đều không diễn ra quyền sở hữu một vật nào cả.” (Nguyễn Trung Văn,
- Dịch vụ không nhất thiết phải sử dụng sản phẩm hữu hình/ vật chất
Còn theo OECD (2000), định nghĩa về dịch vụ tập trung hơn vào giá trị gia tăng mà dịch vụ mang lại, theo đó, dịch vụ là “một tập hợp nhiều hoạt động kinh tế
Trang 16không trực tiếp liên quan đến hoạt động sản xuất hàng hóa, khai mỏ hay nông nghiệp Dịch vụ bao gồm việc cung cấp cho con người những giá trị tăng thêm bằng sức lao động, lời khuyên, kỹ năng quản lý, giải trí, đào tạo, trung gian môi giới ” Như vậy, dịch vụ được coi là một trong ba ngành cơ bản của nền kinh tế quốc dân, bên cạnh nông nghiệp (bao gồm nông - lâm - ngư nghiệp) và công nghiệp, và có thể tạo ra cho con người giá trị dưới rất nhiều hình thức khác nhau
Tóm lại, dịch vụ được hiểu là hoạt động tạo ra những sản phẩm không tồn tại dưới hình thái vật chất, nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người trong sản xuất
về lợi ích của dịch vụ khi sử dụng nó, như khi giới thiệu dịch vụ du lịch đường thủy, nhà cung cấp đã quảng cáo về hình ảnh chiếc tàu hiện đại, tiện nghi, sang trọng và
an toàn nhằm gửi đến khách hàng một tín hiệu đảm bảo cho chất lượng của dịch vụ
- Tính không thể phân chia:
Dịch vụ có tính không thể phân chia, hay nói cách khác, việc sản xuất và tiêu dùng dịch vụ diễn ra đồng thời Theo đó, thường thì người sản xuất và cung ứng dịch vụ sẽ là một, và người sản xuất và tiêu dùng thường gặp nhau tại một điểm Trong đa số trường hợp, việc sản xuất dịch vụ chỉ được hoàn thành nếu có sự hoàn thành tiêu dùng của khách hàng Nếu chưa có khách hàng thì cũng không có hệ thống tạo ra dịch vụ Với đặc điểm này, việc xuất khẩu và tiêu dùng dịch vụ ở thị trường nước ngoài gặp một số khó khăn chủ yếu là do vị trí địa lý cách biệt Tuy
Trang 17nhiên, hiện nay, với tiến bộ công nghệ, những rào cản đó đã giảm bớt đi rất nhiều Phổ biến nhất là việc sử dụng máy rút tiền tự động ATM với nhiều tiện ích như nhanh, linh hoạt, đã giúp cho việc giao dịch của khách hàng diễn ra thuận tiện mà không cần phải có sự hiện diện của nhân viên ngân hàng
- Tính không đồng nhất:
Đặc điểm này thể hiện ở chất lượng không đồng đều của dịch vụ, dịch vụ của nhà cung cấp này thường không giống của nhà cung cấp kia và cũng khó có thể giống dịch vụ được cung cấp bởi chính nhà cung cấp đó ở một thời gian khác, một địa điểm khác,… Như vậy, nguyên nhân ở đây là do các nhà cung cấp có trình độ chuyên môn, công nghệ, điều kiện môi trường, thời gian, địa điểm cung cấp…không giống nhau, cũng như là do mỗi người tiêu dùng có những đánh giá, cảm nhận khác nhau dựa trên kinh nghiệm và cảm xúc của họ Không giống như hàng hóa, dịch vụ khó có thể được tiêu chuẩn hóa, mà phụ thuộc nhiều vào kế hoạch, chiến lược phát triển và triển khai dịch vụ cũng như là thời gian, địa điểm tiến hành cung cấp dịch vụ Ví dụ như, chất lượng giáo dục trong cùng một ngành của các trường đại học khác nhau là khác nhau Mỗi trường đều có cơ sở vật chất khác nhau, trình độ của giáo viên, sinh viên là khác nhau… Và ngay cả khi giáo viên của một trường sang giảng dạy ở một trường khác, do sinh viên có trình độ khác hay do chính tâm trạng của người giáo viên đó mà chất lượng bài giảng là không giống nhau giữa hai lần giảng dạy
- Tính không thể cất trữ:
Do việc cung ứng diễn ra đồng thời với tiêu dùng dịch vụ, sản phẩm dịch vụ là không thể lưu trữ, bảo quản Do vậy, nhà sản xuất gặp phải một số những khó khăn trong việc cân đối nguồn cung cho phù hợp nhu cầu của khách hàng trong từng thời
kỳ Đây cũng chính là lý do các nhà cung cấp dịch vụ chuyển từ cất trữ sản phẩm dịch vụ (không thể) sang cất trữ năng lực cung cấp dịch vụ, điều này là hoàn toàn có thể, bởi họ đã dự trữ một vật hữu hình thay vì một vật vô hình Ví dụ như, công ty dịch vụ du lịch sẽ cất trữ một số xe để phòng cho thời điểm đông khách (những xe này không cần thiết hay không nên sử dụng do nhu cầu là không đầy đủ, giống nhau
Trang 18ở các thời kỳ, việc dùng thêm xe vào thời điểm ít khách có thể làm tăng chi phí không cần thiết trong khi doanh số không tăng là bao nhiêu.)
Như vậy dịch vụ có những đặc điểm rất khác biệt so với hàng hóa thông thường, khái niệm về dịch vụ có thể được hiểu sâu hơn thông qua việc xem xét một
số ngành dịch vụ cơ bản trong nền kinh tế quốc dân
1.1.3 Các loại hình dịch vụ
Hiện nay có rất nhiều cách phân loại dịch vụ, mỗi cách đều có những ưu điểm riêng Trên thế giới có một số cách phân loại dịch vụ phổ biến như sau: (Hoàng Văn Châu, 2011)
Theo tính chất của dịch vụ khi cung cấp:
- Dịch vụ gắn với sản xuất, mang tính trung gian như dịch vụ vận tải hàng hóa, thông tin liên lạc, dịch vụ phân phối, dịch vụ tài chính, dịch vụ kinh doanh
- Dịch vụ gắn với tiêu dùng, đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng cuối cùng như dịch vụ du lịch, y tế, giải trí, thể dục thể thao…
Theo phương thức thống kê:
- Ủy ban Thống kê của Liên hiệp quốc phân loạidịch vụ theo 2 cách: (1) theo ngành tiêu chuẩn quốc tế (International Standard Industrial Classification - ISIC) - dịch vụ được phân loại cùng với các ngành khác trong nền kinh tế, và (2) theo các sản phẩm chủ yếu (Central Products Classification - CPC) - dịch vụ được coi là một loại sản phẩm và được xếp cùng với các sản phẩm hữu hình khác
- Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) phân loại dịch vụ theo Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ (GATS) Có thể nói đây là một cách phân loại khá
Trang 19đầy đủ, cụ thể và đơn giản các loại hình dịch vụ trên thế giới, theo đó, dịch vụ được chia thành 12 ngành, đó là:
- Các dịch vụ kinh doanh
- Dịch vụ bưu chính viễn thông
- Dịch vụ xây dựng và các dịch vụ kỹ thuật liên quan
- Các dịch vụ khác chưa được thống kê
Mỗi ngành trên lại được chia thành nhiều phân ngành, và tất cả có 155 phân ngành
Ở Việt Nam, dịch vụ được phân loại dựa trên quy định trong Quyết định số 10/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính Phủ ngày 23/01/2007cùng với các ngành khác trong nền kinh tếtheo năm cấp khác nhau, cấp lớn nhất được ký hiệu bằng chữ
cái, các cấp còn lại được ký hiệu bằng số
1.1.4 Khái niệm dịch vụ du lịch
1.1.4.1 Khái niệm du lịch
Ngày nay, du lịch đã trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến không chỉ ở các nước phát triển mà còn ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam Tuy nhiên, cho đến nay, không chỉ ở nước ta, nhận thức về nội dung du lịch vẫn chưa thống nhất
Trang 20Do hoàn cảnh khác nhau, dưới mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau, mỗi người
có một cách hiểu về du lịch khác nhau Do vậy có bao nhiêu tác giả nghiên cứu về
du lịch thì có bấy nhiêu định nghĩa
Dưới con mắt của Guer Freuler thì “du lịch với ý nghĩa hiện đại của từ này là một hiện tượng của thời đại chúng ta, dựa trên sự tăng trưởng về nhu cầu khôi phục sức khoẻ và sự thay đổi của môi trường xung quanh, dựa vào sự phát sinh, phát triển tình cảm đối với vẻ đẹp thiên nhiên”
Kaspar cho rằng du lịch không chỉ là hiện tượng di chuyển của cư dân mà phải
là tất cả những gì có liên quan đến sự di chuyển đó Chúng ta cũng thấy ý tưởng này trong quan điểm của Hienziker và Kraff “du lịch là tổng hợp các mối quan hệ và hiện tượng bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú tạm thời của các cá nhân tại những nơi không phải là nơi ở và nơi làm việc thường xuyên của họ” (Về sau định nghĩa này được hiệp hội các chuyên gia khoa học về du lịch thừa nhận)
Theo các nhà kinh tế, du lịch không chỉ là một hiện tượng xã hội đơn thuần mà
nó phải gắn chặt với hoạt động kinh tế Nhà kinh tế học Picara- Edmod đưa ra định nghĩa: “du lịch là việc tổng hoà việc tổ chức và chức năng của nó không chỉ về phương diện khách vãng lai mà chính về phương diện giá trị do khách chỉ ra và của những khách vãng lai mang đến với một túi tiền đầy, tiêu dùng trực tiếp hoặc gián tiếp cho các chi phí của họ nhằm thoả mãn nhu cầu hiểu biết và giải trí.”
Khác với quan điểm trên, các học giả biên soạn bách khoa toàn thư Việt Nam
đã tách hai nội dung cơ bản của du lịch thành hai phần riêng biệt Theo các chuyên gia này, nghĩa thứ nhất của từ này là “một dạng nghỉ dưỡng sức tham quan tích cực của con người ngoài nơi cư trú với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh…” Theo định nghĩa thứ hai, du lịch được coi là “một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thông lịch sử và văn hoá dân tộc, từ đó góp phần làm tăng thêm tình yêu đất nước, đối với người nước ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình, về mặt kinh tế, du lịch
là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn; có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ tại chỗ
Trang 21Để tránh sự hiểu lầm và không đầy đủ về du lịch, chúng ta tách du lịch thành hai phần để định nghĩa nó Du lịch có thể được hiểu là:
- Sự di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú nhằm mục đích phục hồi sức khoẻ, nâng cao tại chỗ nhận thức về thế giới xung quanh, có hoặc không kèm theo việc tiêu thụ một số giá trị tự nhiên, kinh tế, văn hoá và dịch vụ của các cơ sở chuyên cung ứng
- Một lĩnh vực kinh doanh các dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu nảy sinh trong quá trình di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú với mục đích phục hồi sức khoẻ, nâng cao nhận thức tại chỗ về thế giới xung quanh
1.1.4.2 Khái niệm và đặc điểm của dịch vụ du lịch
Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay, đặc biệt là từ 1950 - khi nền kinh
tế thế giới được khôi phục và phát triển, thu nhập bình quân đầu người trên thế giới tăng không ngừng, đã làm cho nhu cầu giao lưu tham quan học tập, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí cũng không ngừng tăng lên Nhất là trong thời đại ngày nay, khi nhịp sống đại công nghiệp đưa con người vào những vòng xoáy hối hả của những toan tính bận rộn, thì nhu cầu được nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn kết hợp với giao lưu quốc
tế của cộng đồng càng trở nên bức thiết Và nhờ đó, một số nước đã coi du lịch là một ngành kinh tế chủ lực tạo nguồn thu nhập đáng kể cho ngân sách, như Thái Lan, Trung Quốc, Tây Ban Nha Từ đó nhiều nước đề ra những quốc sách hữu hiệu cho đầu tư và phát triển dịch vụ du lịch
Khi điều kiện kinh tế chưa phát triển, người ta coi du lịch như một hiện tượng
xã hội mang tính nhân văn nhằm làm phong phú thêm nhận thức con người và dịch
vụ du lịch là thoả mãn nhu cầu cho tầng lớp trên của xã hội kiếm được tiền ở một nơi và đi tiêu tiền ở một nơi khác Điều kiện kinh tế phát triển hơn, người ta nhận thức được du lịch không còn là một hiện tượng xã hội đơn thuần mà còn là một hoạt động kinh tế, trong đó những hoạt động dịch vụ phối hợp với nhau nhằm thoả mãn nhu cầu của con người
Trang 22Khi kinh doanh du lịch phát triển, trở thành một hệ thống mang tính tổng hợp trên phạm vi vùng miền không chỉ của một quốc gia thì người ta coi du lịch là một ngành công nghiệp với toàn bộ các hoạt động mà mục tiêu là kết hợp giá trị của các tài nguyên du lịch thiên nhiên và nhân văn với các dịch vụ, hàng hoá để tạo ra sản phẩm du lịch, đáp ứng nhu cầu của du khách
Pháp lệnh Du lịch (2/1999) do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam quy định: Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định
Có thể hiểu, du lịch là một phạm trù kép; một mặt có ý nghĩa thông thường là
sự di chuyển của con người với mục đích nghỉ ngơi giải trí, nhưng mặt khác nó bao hàm hệ quả kinh tế tự thân khi những dịch vụ hỗ trợ và cung ứng nhằm thoả mãn nhu cầu vật chất và tinh thần cho du khách, trong sự di chuyển đó
Với quan niệm trên, sản phẩm du lịch cũng mang những nét đặc trưng cơ bản không như các sản phẩm vật chất thuần tuý khác Theo Từ điển du lịch (Tiếng Đức, Nxb Kinh tế Berlinh, 1984) định nghĩa: "Sản phẩm du lịch là sự kết hợp những dịch
vụ và phương tiện vật chất trên cơ sở khai thác các tiềm năng du lịch nhằm cung cấp cho du khách một khoảng thời gian thú vị, một kinh nghiệm du lịch trọn vẹn và
sự hài lòng" Theo nghĩa hẹp, thì sản phẩm du lịch là những gì du khách bỏ tiền ra mua lẻ hoặc trọn gói trong chuyến đi của mình Còn theo nghĩa rộng, đó là tổng hợp những sản phẩm vô hình và hữu hình do con người và thiên nhiên tạo ra, có khả năng thoả mãn nhu cầu vật chất và tinh thần cho du khách về nghỉ ngơi, giải trí và những hoạt động có ích khác
Theo Từ điển du lịch, lữ hành, lưu trú và ăn uống, (Tiếng Anh, Nxb Butterworth Heinemann 1993) thì: Dịch vụ du lịch là kết quả của các hoạt động kinh tế được thể hiện trong sản phẩm vô hình (phân biệt với hàng hoá vật chất) như lưu trú, vận chuyển, dịch vụ tài chính, thông tin liên lạc, y tế và các dịch vụ cá nhân khác
Theo điều 4, chương I Luật Du lịch Việt Nam “Dịch vụ du lịch là việc cung cấp các dịch vụ về lữ hành, vận chuyển, lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí, thông tin,
Trang 23hướng dẫn và các dịch vụ khác nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch” Tác giả luận văn tán thành với khái niệm này về dịch vụ du lịch
Dịch vụ du lịch có những đặc điểm chung của dịch vụ: là kết quả mang lại nhờ các hoạt động tương tác giữa những tổ chức cung ứng và khách hàng và thông qua việc đáp ứng nhu cầu khách hàng đó mang lại lợi ích cho tổ chức cung ứng dịch vụ
đó Ngoài ra, dịch vụ du lịch còn có các đặc điểm mang tính đặc thù:
Thứ nhất: Tính phi vật thể - đây là đặc điểm quan trọng nhất của dịch vụ du lịch Người sử dụng dịch vụ không thể tiêu dùng trực tiếp dịch vụ đó trước khi mua
nó, nói cách khác quá trình sản xuất ra dịch vụ cũng gắn liền với quá trình tiêu thụ
nó Dịch vụ đồng hành với sản phẩm vật chất nhưng nó lại tồn tại dưới dạng phi vật chất nên người sử dụng chỉ có thể đánh giá được chất lượng của dịch vụ khi trực tiếp sử dụng nó Đặc điểm quan trọng này buộc các nhà cung cấp phải có trách nhiệm trong việc tạo dựng thương hiệu thông qua cung cấp thông tin đầy đủ và chính xác, chân thực và khách quan về những tiện ích và ưu việt của dịch vụ đối với
du khách để họ thực sự yên tâm và hài lòng về quyết định mua sản phẩm dịch vụ
Về phía du khách: phải thận trọng và cần có sự nhìn nhận, lựa chọn nhà cung cấp căn cứ trên uy tín thương hiệu, quảng cáo sản phẩm và tham khảo thêm những người đã sử dụng dịch vụ trước khi quyết định mua dịch vụ cho mình
Thứ hai: Tính đồng thời trong sản xuất và tiêu dùng sản phẩm dịch vụ Khác với các hàng hoá thông thường có quá trình sản xuất và tiêu dùng diễn ra ở từng thời gian và địa điểm khác nhau, dịch vụ du lịch được sản xuất và tiêu dùng thường diễn ra cùng lúc Chính đặc điểm này quy định tính thời vụ trong loại hình kinh doanh du lịch và nó làm cho công tác dự báo của ngành du lịch thực sự trở thành một khoa học giúp các nhà hoạch định chiến lược nắm được cung - cầu trên thị trường mà có hướng đầu tư phù hợp Trên thực tế có nhiều bất cập xảy đến trong quá trình quản lý và kinh doanh du lịch, nguyên nhân sâu xa chính vì chưa nắm thấu đáo tính chất đặc thù này
Thứ ba: Khách hàng là một bộ phận của cả quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Tính đặc thù này được quy định bởi sản xuất và tiêu thụ sản phẩm dịch vụ
Trang 24diễn ra trong một thời gian và không gian nhất định nên không tạo ra khoảng cách giữa người tiêu dùng và người sản xuất dịch vụ Nói cách khác, người tiêu dùng không chỉ hưởng thụ một cách thụ động sản phẩm dịch vụ được cung ứng, mà họ còn trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất thông qua việc phản hồi của họ với nhà cung cấp về chất lượng và mức độ hoàn thiện của sản phẩm Thậm chí bằng kinh nghiệm và trình độ cảm nhận của mình, du khách còn là người trực tiếp sáng tạo ra các sản phẩm dịch vụ giúp cho nhà cung cấp tạo ra những sản phẩm nhằm thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của người tiêu dùng
Thứ tư: Quyền sở hữu không được chuyển giao khi mua và bán Đây là một đặc thù riêng có của loại hình sản phẩm dịch vụ khi đem trao đổi trên thị trường Vì
là sản phẩm không thể di chuyển trong không gian, là sản phẩm phi vật thể và có tính đồng nhất trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, nên khách hàng chỉ đang mua quyền sử dụng sản phẩm chứ không hề mua được quyền sở hữu sản phẩm dịch vụ
đó Khi quyền sử dụng của du khách không còn thì cũng là lúc nhà cung cấp toàn quyền sở hữu đối với sản phẩm dịch vụ đó
Sản phẩm du lịch gồm: Dịch vụ du lịch và giá trị tài nguyên thiên nhiên
Dịch vụ du lịch gồm:
- Dịch vụ vận chuyển, nhằm đưa du khách từ nơi cư trú đến các điểm du lịch,
từ các điểm du lịch này đến điểm du lịch khác hoặc trong phạm vi một điểm du lịch nào đó, bằng phương tiện nhất định
- Dịch vụ lưu trú, ăn uống bao gồm các dịch vụ phục vụ du khách nghỉ ngơi, thư giãn và lấy lại sức khoẻ trong hành trình du lịch của mình thông qua hệ thống các khách sạn, nhà nghỉ, nhà hàng nơi khách dừng chân
- Dịch vụ vui chơi giải trí: là loại hình giúp du khách đạt được sự thoả mãn cao trong mỗi chuyến đi Bởi vậy, nên thời gian của du khách phần lớn được các nhà tổ chức chuyên nghiệp hướng đến là đưa khách tham quan các khu du lịch, các khu di tích, xem văn nghệ thậm chí đến các sòng bạc, các bar café, sàn nhảy Kinh tế càng phát triển thì nhu cầu được thoả mãn về tinh thần càng lấn át nhu cầu mang tính vật chất thuần tuý, do đó, nhu cầu đi du lịch ngày càng có xu
Trang 25hướng tăng cao trong cộng đồng dân cư Nắm được điều này, các nhà kinh doanh du lịch càng nghiên cứu đầu tư vào dịch vụ giải trí sẽ càng thu được lợi nhuận cao Thái Lan, Trung Quốc, Tây Ban Nha là những quốc gia có kinh nghiệm và nhạy bén trong việc tập trung đầu tư cho dịch vụ này nên chỉ trong vòng vài thập niên đã nhanh chóng thu hút được tỉ lệ lớn khách du lịch đến từ các nước và nhờ đó đã đóng góp được một phần đáng kể ngoại tệ cho phát triển kinh tế đất nước
Ví dụ: Thái Lan năm 2004 đón 11,6 triệu khách du lịch quốc tế, thu ngoại tệ đạt 9,6 tỷ USD Khách du lịch nội địa đạt 74,8 triệu lượt khách, tạo thu nội tệ xấp xỉ
8 tỷ USD Du lịch đóng góp cho GDP năm 2005 gần 15% Ngoài ra, hoạt động du lịch đã tạo ra trên 1,3 triệu việc làm gián tiếp và trực tiếp cho xã hội
Hoặc Trung Quốc: hiện nay là quốc gia có thu nhập từ du lịch quốc tế lớn nhất thế giới Năm 2004, Trung Quốc đón 41,8 triệu lượt khách du lịch quốc tế (nếu tính
cả khách tham quan du lịch trong ngày là 109 triệu lượt), thu nhập ngoại tệ từ du lịch đạt 25,7 tỷ USD Khách du lịch nội địa đạt 1,1 tỷ lượt khách, tạo thu nội địa tương đương 65,7 tỷ USD Du lịch tạo ra 38,93 triệu việc làm gián tiếp và trực tiếp cho xã hội
Cả hai cường quốc trên đều có ưu việt nổi trội trong hoạt động du lịch và có nhiều kinh nghiệm phát triển kinh doanh du lịch Hai nước này đều luôn coi du lịch
là quốc sách và có nhiều biện pháp nhằm tạo ra chiến lược sản phẩm du lịch tốt, trong đó coi trọng việc đầu tư đồng bộ các loại hình dịch vụ giải trí cho du khách
- Dịch vụ mua sắm: thực tế đây cũng là hình thức giải trí không thể thiếu trong một chuyến đi du lịch của du khách, được thực hiện thông qua các siêu thị, cửa hàng, làng nghề truyền thống, hàng mỹ nghệ, tạp hoá, vải lụa
- Dịch vụ trung gian và bổ sung khác: y tế, công nghệ thông tin, Internet, sửa chữa tuy phụ trợ nhưng loại hình dịch vụ này cũng góp phần làm thoả mãn chuyến đi của du khách và tham gia vào việc tạo nên một sản phẩm du lịch hoàn chỉnh nơi khách dừng chân
Ngoài ra, sản phẩm du lịch còn bao gồm cả giá trị tài nguyên thiên nhiên - một
bộ phận cấu thành quan trọng, nó đòi hỏi các nhà chuyên môn trong quản lý và điều
Trang 26hành phải biết phối hợp và điều tiết quá trình cung ứng sản phẩm du lịch một cách khoa học thực sự, mới đem lại hiệu quả kinh tế cao đồng thời thoả mãn được nhu cầu của du khách
Trong nền kinh tế hiện đại, tỉ trọng các ngành dịch vụ có xu hướng ngày càng tăng, ở các nước tiên tiến có khi lên đến 75%, ở Việt Nam chiếm khoảng 40% Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ X đã chỉ rõ “Cơ cấu ngành trong GDP năm 2010: Khu vực nông nghiệp khoảng 15-16%, công nghiệp -xây dựng 43-44%, dịch vụ 40-41%”
1.2 Cơ sở lý luận chung về xuất khẩu dịch vụ du lịch
1.2.1 Xuất khẩu dịch vụ
1.2.1.1 Khái niệm
Xuất khẩu dịch vụ là một hoạt động quan trọng trong thương mại dịch vụ và như vậy, hoạt động này có thể được hiểu là việc người cung ứng dịch vụ gồm thể nhân và pháp nhân cung cấp dịch vụ theo bốn phương thức quy định trong Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS/WTO), đó là: Cung cấp qua biên giới; Tiêu dùng ngoài lãnh thổ; Hiện diện thương mại; và Hiện diện của thể nhân
Ngoài ra, Hệ thống tài khoản quốc gia (SNA) của Liên Hiệp Quốc và Bảng cán cân thanh toán của Quỹ tiền tệ quốc tế IMF cũng đã khá thống nhất về khái niệm XKDV, theo đó, XKDV là “việc người cư trú cung cấp cho người phi cư trú
vì mục đích thương mại”.Khái niệm cư trú, phi cư trú chủ yếu dựa trên lợi ích kinh
tế của chủ thể Một người được coi là người cư trú của một quốc gia nếu người đó
có lợi ích kinh tế khi giao dịch với quy mô lớn trong khoảng thời gian từ một năm trở lên ở quốc gia đó Còn người phi cư trú là những người không phải người cư trú của quốc gia đó (Lê Anh Thư, 2009)
Bài luận văn này chủ yếu dựa trên quan điểm của Liên hiệp quốc và IMF về XKDV, theo đó, IMF không đồng ý với hình thức XKDV theo phương thức 3, hiện diện thương mại Song do nền kinh tế thế giới đang phát triển ngày càng sâu rộng, người viết nhận thấy việc nghiên cứu phương thức thứ 3 này là cần thiết và quyết định bao gồm cả phương thức này trong bài nghiên cứu của mình
Trang 271.2.1.2 Đặc điểm của xuất khẩu dịch vụ
Từ những khái niệm về thương mại dịch vụ và XKDV, ta có thể thấy một số điểm khác biệt của XKDV so với xuất khẩu hàng hóa như:
- XKDV đôi khi không phải là ý muốn chủ quan của người xuất khẩu Tức là, người xuất khẩu có thể không có ý định xuất khẩu sản phẩm dịch vụ của mình nhưng thực tế dịch vụ đó đã được xuất khẩu, ví dụ như khi một người nước ngoài đến Việt Nam, ở trọ tại một khách sạn thì khách sạn đó đương nhiên trở thành nhà XKDV mà thực tế có thể đãkhông chủ định từ trước Trong trường hợp này, người tiêu dùng dịch vụ mới chính là người chủ động yêu cầu cung cấp dịch vụ
- XKDV không đòi hỏi một nguồn vốn đầu tư quá nhiều, các công ty vừa và nhỏ hay cá nhân cũng đều có thể XKDV Điển hình là XKDV tại chỗ, với nguồn vốn đã được đầu tư vào cơ sở vật chất ngay trong nước, có thể đồng thời cung cấp dịch vụ cho cả người tiêu dùng trong và ngoài nước
- Hoạt động XKDV có đạt được thành công hay không phụ thuộc rất nhiều vào uy tín của công ty trên thị trường Xuất khẩu hàng hóa cũng phụ thuộc vào uy tín nhưng chất lượng hàng hóa cũng là một yếu tố khá quan trọng trong việc có xuất khẩu được hay không Đối với dịch vụ, do đặc tính của nó là vô hình, khó lượng hóa, tiêu chuẩn hóa thì vấn đề chất lượng dịch vụ chỉ được cảm nhận khi tiêu dùng dịch vụ đó Chất lượng của dịch vụ là tốt hay xấu sẽ được lan truyền trong xã hội và tạo nên tiếng tăm của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ đó Như vậy, uy tín là một yếu
tố quyết định đối với kết quả của hoạt động XKDV
- XKDV còn gặp phải nhiều khó khăn từ những rào cản kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội… So với xuất khẩu hàng hóa, XKDVtrên thế giới cũng như ở Việt Nam còn khá non trẻ, chưa đạt được những thỏa thuận, tiến bộ trong việc xóa bỏ những rào cản này Điều này có ảnh hưởng rất lớn đến việc phát triển XKDV đặc biệt từ các nước đang phát triển sang các nước phát triển, nơi mà các dịch vụ và văn hóa đều rất hiện đại, tiên tiến, người ta sẽ thường không chú ý đến các nhà XKDV từ các nước đang phát triển
Trang 281.2.1.3 Vai trò của xuất khẩu dịch vụ
Giúp phát triển kinh tế
Tỷ trọng của dịch vụ trong nền kinh tế hiện nay là khá cao, khoảng 60-70% ở các nước phát triển và 30-50% tại các nước đang phát triển, XKDV trên thế giới cũng giúp nhiều nước trên thế giới giảm thâm hụt hay thậm chí góp phần quan trọng làm thặng dư thêm trong cán cân XNK quốc gia Vì vậy, sự phát triển của dịch vụ nói chung và XKDV nói riêng có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển chung của nền kinh tế
Hơn nữa, việc thúc đẩy XKDV phát triển sẽ tạo một động lực rất lớn cho sự phát triển kinh tế của một quốc gia Một nước đang phát triển muốn theo kịp các cường quốc về kinh tế trên thế giới cần phải rút ngắn chênh lệch về kinh tế trong các lĩnh vực giữa hai nước, khi ngành dịch vụ tại các quốc gia phát triển đang được chú trọng hơn bao giờ hết mà trong các nước đang phát triển còn rất yếu kém, thiếu
sự quan tâm phát triển thì ngành dịch vụ trong những nước này sẽ càng bị tụt hậu so với thế giới
Góp phần hỗ trợ các ngành kinh tế phát triển
Khi dịch vụ phát triển cả về số lượng và chất lượng, XKDV theo đó cũng phát triển Khi XKDV đã phát triển đủ mạnh, nó sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành kinh tế khác phát triển, do các ngành dịch vụ mà điển hình là các ngành như vận tải,
du lịch, tài chính - ngân hàng…có những liên hệ rất mật thiết đến các ngành kinh tế khác ở nhiều mặt Hơn nữa, giống như xuất khẩu hàng hóa, XKDV góp phần tạo nguồn vốn ngoại tệ chủ yếu cho hoạt động nhập khẩu(nguyên liệu đầu vào, máy móc kỹ thuật…), tiếp tục chu kỳ sản xuất của nhiều ngành kinh tế
Tạo công ăn việc làm
Với tỷ trọng ngày càng lớn của dịch vụ và XKDV trong GDP, số lượng việc làm được tạo ra bởi khu vực dịch vụ là nhiểu nhất ở hầu hết các nước Ở các nước đang phát triển, tỷ trọng này còn ít nhưng không thể phủ nhận là nếu tập trung phát
Trang 29triển mạnh các ngành dịch vụ để xuất khẩu, chắc chắn sẽ giải quyết được việc làm cho rất nhiều người dân
Ngoài ra, XKDV phát triển sẽ giúp thúc đẩy phân công lao động, tăng tỷ trọng của dịch vụ trong cơ cấu kinh tế Việc thay đổi trong phân công lao động khi thương mại dịch vụ phát triển sẽ góp phần tạo ra nhiều công ăn việc làm hơn cho cả lĩnh vực sản xuất và dịch vụ
Thu hút vốn đầu tư nước ngoài
Việc thúc đẩy XKDV phát triển vừa làm tăng nguồn thu về ngoại tệ vừagiúp thu hút đầu tư nước ngoài Khi doanh thu từ hoạt động XKDV tăng, nguồn vốn FDI
sẽ nhanh chóng được đổ vào để tham gia cung cấp dịch vụ, tận dụng cơ hội
Thêm vào đó, dịch vụ đang hiện diện ngày càng nhiều trong các hoạt động kinh tế quốc tế, cũng như hoạt động của các công ty đa quốc gia Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào các ngành dịch vụ có sự tăng trưởng nhanh chóng, đặc biệt là dịch vụ tài chính và dịch vụ kinh doanh, do sự kích thích bởi áp lực cạnh tranh của thị trường trong nước khiến các công ty đa quốc gia phải tìm kiếm các thị trường
mới để phát huy lợi thế cạnh tranh của họ
1.2.2 Xuất khẩu dịch vụ du lịch
1.2.2.1 Khái niệm
Du lịch là một khái niệm, một hoạt động khá phổ biến trong xã hội hiện nay,
do đặc điểm cơ bản của hầu hết con người là thích tìm tòi khám phá những điều mới
mẻ Theo Tổ chức Du lịch thế giới, du lịch là: “hành động của con người di chuyển đến hoặc ở địa điểm ngoài nơi thường trú trong thời gian không hơn một năm liên tục nhằm mục đích vui chơi, giải trí, kinh doanh và các mục đích khác không liên quan đến việc thực hiện các hoạt động được trả công tại nơi đi đến” Như vậy, bản chất của du lịch là sự di chuyển khỏi nơi thường trú đến nơi khác không phải nơi làm việc mà không nhằm mục đích sinh lợi (UNWTO, 2005)
Dịch vụ du lịch là một bộ phận của sản phẩm du lịch (“sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thoả mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du
Trang 30lịch” - Luật du lịch Việt Nam 2005) giữ một vai trò quan trọng trong kinh doanh du lịch, cũng như trong tổng thể các ngành dịch vụ của một nước Luật du lịch Việt Nam (2005) đã có những quy định khá chi tiết về dịch vụ du lịch và các vấn đề liên quan, theo đó, dịch vụ du lịch được đinh nghĩa là “việc cung cấp các dịch vụ về lữ hành, vận chuyển, lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí, thông tin, hướng dẫn và những dịch vụ khác nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch.”
Phân loại dịch vụ du lịch: theo bảng phân loại các ngành dịch vụ của WTO, dịch vụ du lịch gồm có:
ra nước ngoài Hơn nữa, các thể nhân, pháp nhân ra nước ngoài chủ yếu là để quảng
bá, thu hút khách du lịch sử dụng dịch vụ du lịch của họ, và doanh thu chính của hoạt động XKDV chủ yếu có được khi khách du lịch đến nước của thể nhân, pháp nhân đó và tiêu dùng dịch vụ tại đó
Cũng giống như XKDV nói chung, XKDV du lịch có hiệu quả kinh tế cao hơn
so với xuất khẩu hàng hóa do dịch vụ có tính vô hình, nên tiết kiệm được các chi phí đóng gói, vận chuyển,…Hơn nữa dịch vụ du lịch cũng ít đòi hỏi về công nghệ phức tạp như các ngành dịch vụ khác, mà chủ yếu khai thác các tài nguyên thiên nhiên, văn hóa của đất nước Chính vì vậy, XKDV du lịch nên được đầu tư phát triển ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển với khả năng kinh tế còn hạn chế, giá trị văn hóa và thắng cảnh mới lạ độc đáo chưa được thế giới biết đến
Trang 31Hoạt động mua sắm trong khi đi du lịch là một việc làm tự nhiên gắn bó hữu
cơ với việc đi du lịch Ban đầu, du khách mua các sản phẩm hàng hoá tại điểm du lịch để làm quà tặng, quà biếu cho người thân, cho bạn bè hay để kỷ niệm về chuyến đi du lịch Những sản phẩm này phải đảm bảo sự khác lạ, mang tính đặc trưng của điểm du lịch mà nơi khác không có (Một số du khách từ các nước phát triển ưa chuộng một vài sản phẩm thủ công truyền thống của Việt Nam như: lụa tơ tằm, thổ cẩm, gốm sứ, đồ giả cổ, tranh tượng nghệ thuật…) Tuy nhiên, ngày nay mua sắm trong khi du lịch đã trở nên đa dạng hơn trước Các sản phẩm hàng hoá được du khách mua cũng phong phú hơn Nó không chỉ được dùng làm quà kỷ niệm, quà tặng, quà biếu mà nó còn là đồ dùng, những vật dụng có giá trị sử dụng cho sinh hoạt, cho đời sống hàng ngày
Trước đây, việc mua sắm hàng hoá tại nơi du lịch thường là những hàng hoá gọn nhẹ, nhỏ, thuận tiện cho vận chuyển Nhưng giờ đây, giới hạn về sản phẩm trong mua sắm không còn nữa, du khách có thể mua bất cứ sản phẩm nào mà họ cho
là phù hợp, cần thiết với họ và đáp ứng những mong muốn khác nhau, điều này phụ thuộc nhiều vào đặc điểm nhu cầu của từng thị trường khách du lịch
Khách du lịch quốc tế đến Việt Nam ngoài nhu cầu tham quan giải trí họ còn
có nhu cầu mua sắm, hàng hoá họ thường quan tâm mua sắm là: Những loại hàng dùng để làm kỷ niệm chuyến đi, vì vậy nó phải mang tính đặc thù của Việt Nam; hàng lưu niệm, hàng thủ công mỹ nghệ, hàng gốm sứ, tranh nghệ thuật; Những loại hàng tiêu dùng như: Quần áo, dày giép, túi xách có những nét đặc sắc của Việt Nam
mà họ ưa thích như áo dài Việt Nam…Ngoài ra còn nhiều loại hàng thực phẩm khô, thực phẩm đã qua chế biến, hoa quả…Tất cả các loại hàng hoá đó bán cho khách du lịch quốc tế ở các chợ, các cửa hàng, các trung tâm mua sắm ở Việt Nam trực tiếp hoặc gián tiếp thu ngoại tệ, được gọi là xuất khẩu hàng hoá tại chỗ
Như vậy có thể khái quát về xuất khẩu hàng hoá tại chỗ là: Việc bán hàng cho khách Du lịch được thực hiện trên đất Việt Nam và thu ngoại tệ về cho đất nước Hàng hóa khách du lịch thường mua là hàng mang tính đặc sản, hàng thủ công mỹ nghệ và một số mặt hàng miễn thuế được bán tại cửa khẩu Xét dưới góc độ tiêu thụ hàng hoá, mỗi khách du lịch quốc tế đến Việt Nam đã góp phần vào việc tăng
Trang 32lượng người tiêu dùng hàng hoá Việt Nam Thông qua các công ty du lịch, hàng năm đã làm tăng thêm cho đất nước ta hàng triệu khách hàng Các hãng du lịch dẫn khách thăm quan, đến các chợ các trung tâm mua sắm, các làng nghề
Bằng các hoạt động thăm quan các xưởng sản xuất thủ công, được trực tiếp nhìn thấy những bàn tay tài ba của người thợ thủ công làm ra những sản phẩm tuyệt tác, nếu khách du lịch ưng ý có khi họ trả giá cao gấp 10 lần giá trị sản phẩm, người sản xuất đã có thể bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng không phải thông qua khâu trung gian Hoạt động mua sắm trong du lịch có tác động tích cực đến thu nhập xã hội, qua tiêu dùng, du lịch tác động lên lĩnh vực lưu thông do vậy ảnh hưởng lớn đến những lĩnh vực khác nhau của quá trình sản xuất xã hội, kích thích
sự phát triển sản xuất hàng hoá đặc biệt là hàng thủ công truyền thống Du lịch luôn đòi hỏi hàng hoá phải có chất lượng cao, phong phú về chủng loại, mỹ thuật hình thức Do vậy du lịch mua sắm góp phần định hướng cho sự phát triển của ngành sản xuất về mặt chất lượng, số lượng, chủng loại sản phẩm và chuyên môn hoá trong sản xuất
Các thương gia, các nhà đầu tư trong và ngoài nước thông qua việc tham quan
du lịch với việc tìm hiểu thị trường, khi về nước họ sẽ là người tiếp thị cho 12 hàng hoá Việt Nam trên đất nước của họ, thương gia nước ngoài có thể trực tiếp nhìn thấy và sử dụng sản phẩm của công ty, nếu ưng ý, họ sẽ đặt những lô hàng lớn Ở Việt Nam nhiều năm qua, gốm sứ Hải Dương có những đơn hàng đều đặn từ Nhật Bản, có được những đơn hàng này là nhờ vào những sản phẩm xuất khẩu tại chỗ, thông qua những showroom ở các chuỗi nhà hàng, khách sạn của Saigontourist, nơi
mà khách du lịch Nhật đã thăm quan và mua sắm trong các chuyến đi du lịch tại Việt Nam Không những gốm sứ Hải Dương, nhiều doanh nghiệp thủ công mỹ nghệ khác cũng tìm được những đơn hàng lớn thông qua những sản phẩm mỹ nghệ nhỏ trưng bày ở showroom trong nước
Du lịch mua sắm góp phần điều chỉnh thị trường, giúp các nhà sản xuất định hướng sản phẩm, thu hút khách, điều chỉnh chính thị trường khách của mình, hướng khách hàng đến với sản phẩm sản xuất ra Thông qua mua sắm, tiêu dùng sử dụng dịch vụ hàng hoá giữa khách du lịch và người dân địa phương đã hình thành nên
Trang 33mối quan hệ văn hoá giữa du khách và người dân bản xứ Những sản phẩm hàng hoá được bán cho du khách cũng là một phương tiện truyền bá các giá trị văn hoá dân tộc Du khách tìm mua những sản phẩm hàng hoá tại điểm du lịch để thấy được nét văn hoá đặc sắc của địa phương, của dân tộc
Khách du lịch nước ngoài đến Việt Nam, khi có nhu cầu mua sắm họ thường tìm đến những khu vực kinh doanh có tập trung nhiều chủng loại hàng hoá để lựa chọn, đó có thể là các chợ lớn, các hội chợ, các trung tâm mua săm lớn, các showroom giới thiệu hàng xuất khẩu, các cơ sở làng nghề, các quầy hàng ở khách sạn
1.2.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc phát triển xuất khẩu dịch vụ du lịch thông qua khách du lịch quốc tế
Chính sách của nhà nước
Chính sách của nhà nước mà cụ thể là các chính sách thuế giá trị gia tăng đối với các sản phẩm hàng hoá mà khách du lịch quốc tế mua, nếu được hoàn thuế giá trị gia tăng, thì việc này đã gián tiếp làm cho giá hàng hoá rẻ đi, kích thích sự mua sắm của khách du lịch, góp phần làm tăng lượng hàng cũng như kim ngạch xuất khẩu tại chỗ
Chính sách hải quan; Bao gồm những mặt hàng nào được mang ra khỏi nước
sở tại, những mặt hàng nào không được mang ra, đặc biệt là những hàng thủ công
mỹ nghệ giả cổ, nếu chính sách rõ ràng, thủ tục thông thoáng, khách mua hàng khi làm thủ tục xuất cảnh không gặp những trở ngại không đáng có, sẽ kích thích khách mua nhiều hơn Ngược lại nếu chính sách không rõ ràng, thủ tục xuất cảnh, phức tạp, nhiêu khê sẽ làm giảm nhu cầu mua sắm hàng hoá của khách du lịch quốc tế Chính sách khuyến khích các làng nghề phát triển sản phẩm phục vụ du khách quốc tế, gồm các chính sách thuế đối với các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm, chính sách khuyến khích nghiên cứu sáng tạo mẫu mã cho sản phẩm phục vụ du khách quốc tế
Hàng hoá và dịch vụ bán hàng
Hoạt động mua sắm trong khi đi du lịch là một việc làm tự nhiên gắn bó hữu
cơ với việc đi du lịch Ban đầu, du khách mua các sản phẩm hàng hoá tại điểm du
Trang 34lịch để làm quà tặng, quà biếu cho người thân, cho bạn bè hay để kỷ niệm về chuyến đi du lịch, những sản phẩm này phải đảm bảo sự khác lạ, giàu tính truyền thống, độc đáo mang tính đặc trưng của điểm du lịch mà nơi khác không có Tuy nhiên, ngày nay mua sắm trong khi du lịch đã trở nên đa dạng hơn trước, các sản phẩm hàng hoá được du khách mua cũng phong phú hơn, nó không chỉ được dùng làm quà kỷ niệm, quà tặng, quà biếu mà nó còn là đồ dùng, những vật dụng có giá trị sử dụng cho sinh hoạt, cho đời sống hàng ngày, nhưng vẫn phải đảm bảo được những nét đặc trưng cho văn hoá từng vùng, mẫu mã, kiểu dáng có những nét mới
lạ, độc đáo, chất lượng tốt, giá cả hợp lý Nếu là hàng hoá cùng loại thì giá cả phải
rẻ hơn
Chất lượng dịch vụ bán hàng cũng ảnh hưởng rất lớn đến việc mua sắm hàng hoá của khách du lịch quốc tế, dịch vụ bán hàng tốt thì bán được nhiều hàng và ngược lại Dịch vụ bán hàng bao gồm yếu tố văn minh lịch sự, tạo mọi điều kiện cho khách hiểu biết về sản phẩm, cách thức sử dụng thưởng thức sản phẩm, đóng gói và vận chuyển ra tận sân bay
Các điểm vui chơi - khu mua sắm
Khi đi du lịch, ngoài nhu cầu tham quan các danh lam - thắng cảnh của đất nước sở tại, một nhu cầu thiết thực khác của du khách là được vui chơi, thư giãn
Do đó, nơi nào có nhiều điểm vui chơi giải trí phù hợp với sở thích của khách du lịch thì họ sẽ chi tiêu nhiều hơn và ngược lại thì họ sẽ ít chi tiêu hơn
Hơn nữa khách du lịch, ngoài việc tham quan, thư giãn còn có nhu cầu mua sắm hàng hoá, nhưng đa số du khách thường không thông thạo các điểm bán hàng
và không có nhiều thời gian để tìm kiếm, vì vậy họ chỉ muốn tập trung vào những khu mua sắm tập trung, có đủ các loại hàng cho họ lựa chọn, vì vậy nơi nào, nước nào hay một khu du lịch nào có những trung tâm mua sắm hấp dẫn, với những sản phẩm đặc thù của địa phương của đất nước, hoặc giá 14 các sản phẩm rẻ hơn đất nước của khách du lịch, thì sẽ kích thích nhu cầu mua sắm của khách du lịch, tăng mức chi tiêu của du khách lên Tiêu chí để trở thành điểm mua sắm thú vị ; Đó là những điểm bán hàng đáp ứng được các tiêu chí như: mặt hàng đa dạng, phong phú; giá cả hợp lý; dịch vụ hậu mãi tốt; có dịch vụ bao quát (phương thức thanh toán đa
Trang 35dạng, vận chuyển tận nơi, đóng gói bao bì chuyên nghiệp ); thái độ phục vụ của nhân viên bán hàng; vị trí gần các điểm tham quan; có dịch vụ hỗ trợ (bãi xe, chỗ ngồi nghỉ khi mua sắm ) Trên thế giới ngày nay, du khách có thể dễ dàng tìm thấy các khu mua sắm sầm uất tại Hồng Kông, các khu vui chơi giải trí kín đặc khách du lịch tại Thái Lan, các con phố chuyên bán các mặt hàng truyền thống tại Thâm Quyến, hay thiên đường hàng nhái tại Quảng Châu
Sản phẩm du lịch và khách du lịch
Sản phẩm du lịch có thể kể ra là: du lịch thăm quan; Du lịch chữa bệnh, nghỉ dưỡng; Du lịch hội thảo; Du lịch mua sắm… Mỗi sản phẩm du lịch có mức độ chi tiêu khác nhau đối với mỗi khách du lịch như: du lịch tham quan thì mức chi tiêu ít hơn, du lịch mua sắm, du lịch chữa bệnh, du lịch chơi golf, thì du khách sẽ chi tiêu nhiều hơn Mỗi thị trường có sở thích khác nhau về sản phẩm du lịch, khách du lịch đến từ các quốc gia châu Âu thích được về với thiên nhiên, ở trong nhà lá, đi rừng
và leo núi, khách đến từ các nước châu Á lại thích được nghỉ ngơi tiện nghi, sử dụng các dịch vụ chăm sóc đặc biệt với giá cả rẻ hơn nhiều so với quốc gia của họ
VD như khách Nhật Bản thì thích spa, khách Hàn Quốc thì thích đánh Golf
Giá tour
Khách du lịch, đặc biệt là du khách nước ngoài, trước mỗi chuyến đi đều tính toán dự trù các khoản chi của mình Du khách có thể mua sắm nhiều hay ít, tùy thuộc vào các khoản chi liên quan như đi lại, ăn ở Nếu các khoản chi liên quan này, chiếm một tỷ lệ cao trong chuyến đi sẽ làm giảm sức mua các mặt hàng khác (đồ lưu niệm, quà tặng; vui chơi) của du khách trong quá trình du lịch
Theo khảo sát của Tổng cục thống kê, chi phí Giá tour của một lượt khách đến Việt Nam chiếm 2/3 tổng chi phí họ bỏ ra trong suốt chuyến đi Khiến cho số tiền
du khách bỏ ra để mua sắm hàng hóa và vui chơi chỉ đạt trung bình 282 USD/người
Ít hơn rất nhiều so với số tiền du khách bỏ ra khi du lịch tại Thái Lan (khoảng 500 - 700USD/khách)
Trang 361.2.2.3 Vai trò của xuất khẩu dịch vụ du lịch
Có những quốc gia tùy thuộc vào đặc điểm địa chính trị của nước mình, đã thực sự coi du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn và công cụ cứu cánh, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và kích thích các ngành kinh tế khác phát triển Chính vì ý nghĩa
to lớn như vậy, các quốc gia này, ở phạm vi và mức độ khác nhau, đã tập trung đầu
tư mọi nguồn lực cũng như ban hành các thể chế, chính sách liên quan nhằm nỗ lực tạo điều kiện thuận lợi nhất cho ngành du lịch phát triển Mặc dù vậy, xuất phát từ
sự đặc thù của ngành du lịch mang đậm nét tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao, nên bên cạnh những yếu tố thuận lợi, cũng gặp không ít những khó khăn, trở ngại trong quá trình phát triển Một trong những hạn chế có tác động rõ rệt và mang tính quyết định đó là sự thừa nhận về vị trí, vai trò của du lịch và khả năng nhận hỗ trợ từ các ngành kinh tế khác, các chủ thể kinh tế, xã hội và đặc biệt từ các cấp quản
lý, lãnh đạo trung ương cũng như địa phương chưa thực sự mãnh mẽ và rõ rệt Khi nhìn dưới góc độ kinh tế - xã hội, du lịch luôn là một ngành có tính trường tồn và bền vững cao so với các ngành kinh tế khác Nguyên do vì, các nguồn tài nguyên du lịch dưới dạng vật thể và phi vật thể theo quy luật chung luôn được coi là hữu hạn, thì bên cạnh đó còn một số hợp phần khác cũng cần phải được tính đến Chúng được khéo léo ẩn và tích tụ trong các “chuỗi dịch vụ” để hình thành nên các sản phẩm du lịch và thậm chí tồn tại trong cả những đối tượng sử dụng dịch vụ - đó
là những “người khách du lịch” Những yếu tố này là tác nhân không thể thiếu được để tạo ra cầu cho hoạt động du lịch, hay có thể xem là “nguồn tài nguyên du lịch” vô cùng to lớn và bất tận Bởi lẽ, trong thế giới ngày càng phát triển với tiến
bộ khoa học kỹ thuật vượt bậc, giao thông thuận tiện, phương tiện truyền thông tiện ích, và mặc dù có thể bị tác động bởi các yếu tố khách quan và chủ quan như thiên tai, chính biến, chiến tranh, khủng bố, nhưng nhu cầu đi lại, giao lưu văn hóa, đầu
tư, thương mại, giữa các quốc gia, vùng miền không những không dừng lại mà vẫn tiếp tục gia tăng mạnh mẽ Điều này kéo theo các nhu cầu dịch vụ, sản phẩm du lịch cũng gia tăng Trong khi, các nguồn tài nguyên khác như tự nhiên, nhân tạo, tái tạo phục vụ cho các ngành kinh tế khác ngày càng suy giảm và có thể đứng trước
Trang 37nguy cơ cạn kiệt bởi nhu cầu khai thác, sản xuất, chế biến và tiêu thụ của con người
và toàn xã hội ngày càng phát triển
Theo công bố mới đây tại Hội nghị Bộ trưởng Du lịch G20 vừa diễn ra ngày
16 tháng 5 năm 2016 tại Mexico, ngành du lịch chiếm 9% thu nhập GDP thế giới
Du lịch là một trong những ngành kinh tế có tốc độ phát triển nhanh nhất Năm
2015, mặc dù trong bối cảnh nền kinh tế thế giới tăng trưởng không lấy gì làm tốt đẹp và ổn định, ngành du lịch toàn thế giới vẫn tăng 4,6%, đón được 982 triệu lượt khách và thu nhập du lịch tăng 3,8% Dự báo du lịch thế giới sẽ tiếp tục tăng trưởng một cách bền vững trong những năm tới, đạt 1 tỷ lượt khách trong năm 2017 và 1,8
tỷ lượt năm 2030
Bên cạnh những chỉ số đóng góp ấn tượng trên, du lịch cũng được đánh giá là ngành quan trọng tạo nhiều việc làm cho xã hội, chiếm 8% lao động toàn cầu Cứ mỗi một việc làm trong ngành du lịch ước tính tạo ra 2 việc làm cho các ngành khác Ngành du lịch cũng sử dụng lao động nhiều vượt trội so với ngành công nghiệp khác, gấp 6 lần ngành sản xuất ô tô, gấp 4 lần ngành khai khoáng, và gấp 3 lần ngành tài chính Du lịch cũng đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy mậu dịch quốc tế Năm 2016, xuất khẩu thông qua du lịch quốc tế bao gồm cả vận chuyển hành khách đạt 1,2 nghìn tỷ USD, chiếm 30% xuất khẩu toàn thế giới
Với những phân tích trên, có thể thấy vai trò và ý nghĩa quan trọng của ngành
du lịch không thể phủ nhận được Tuy nhiên, thực tế vẫn tồn tại những khiếm khuyết khi đánh giá về giá trị đóng góp thực sự của ngành du lịch trong cơ cấu nền kinh tế quốc dân Vì vậy, việc xác định rõ sự đóng góp và tác động tích cực của nó vào bức tranh chung của nền kinh tế của mỗi quốc gia cũng như toàn cầu là vô cùng cần thiết, qua đó thấy được ý nghĩa cốt lõi của vấn đề cần xem xét, để có cái nhìn tích cực hơn về du lịch và vạch ra phương hướng đầu tư, phát triển một cách hiệu quả hơn Với cách tiếp cận theo hướng trên, dưới đây là phương thức và tiêu chí đánh giá đóng góp của ngành du lịch vào GDP quốc gia để tham khảo khi đánh giá hiệu quả của ngành du lịch
Tổng giá trị đóng góp du lịch vào GDP của quốc gia gồm:
Đóng góp trực tiếp (1) + Đóng góp gián tiếp (2) + Đóng góp phát sinh (3)
Trang 38(1) Đóng góp trực tiếp: Tổng chi tiêu (trên phạm vi quốc gia) của khách du lịch quốc tế, khách du lịch nội địa (cả mục đích kinh doanh và nghỉ dưỡng), chi tiêu của Chính phủ đầu tư cho các điểm tham quan như công trình văn hóa (bảo tàng) hoặc các khu vui chơi giải trí (công viên quốc gia); thu nhập của các doanh nghiệp
lữ hành, khách sạn, cơ sở lưu trú, vận chuyển (đường bộ, đường không, đường thủy, ), cầu cảng, sân bay, dịch vụ vui chơi giải trí, các điểm tham quan du lịch, các cửa hàng bán lẻ, các khu dịch vụ văn hóa, thể thao, giải trí Trừ phần chi phí mà các
cơ sở cung cấp dịch vụ này mua các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ để phục vụ cho khách du lịch
- Chi phí do các đơn vị, cơ sở cung cấp dịch vụ mua sắm trong nước đối với hàng hóa, dịch vụ để phục vụ khách du lịch Ví dụ: chi phí mua sắm thực phẩm, dịch vụ giặt là trong khách sạn, chi phí mua xăng dầu, dịch vụ cho hàng không, dịch
vụ tin học, kết nối mạng trong các hãng lữ hành
(3) Đóng góp phát sinh: Đây là khoản chi tiêu cá nhân của tổng đội ngũ, lực lượng lao động tham gia cả trực tiếp và gián tiếp vào ngành du lịch trên toàn quốc, gồm
cả các cấp quản lý nhà nước và cơ sở cung cấp dịch vụ, hãng lữ hành, khách sạn
Ví dụ: Chi tiêu cho ăn uống, tham gia hoạt động vui chơi, giải trí, mua sắm quần áo, vật dụng cá nhân, nhà ở
Với cách tính trên, theo dự báo của Hội đồng Du lịch và Lữ hành Thế giới, năm 2018, giá trị đóng góp trực tiếp vào GDP của ngành du lịch Việt Nam sẽ tăng 6,6% so với năm 2017 và sẽ tăng bình quân 6,1% hàng năm tính đến năm 2022; tổng giá trị đóng góp của toàn ngành (trực tiếp, gián tiếp và phát sinh) vào GDP tăng 5,3% năm 2017 và sẽ tăng bình quân 6,0% tới năm 2022 Về tạo việc làm, năm
Trang 392017, tổng lao động trong ngành du lịch Việt Nam tăng 1,4% tương đương
4.355.000 gồm cả lao động trực tiếp và gián tiếp và sẽ tăng trung bình 1,1% hàng
năm và sẽ đạt 4.874.000 vào năm 2022 Về xuất khẩu du lịch tại chỗ trong năm
2017, tăng 5% và bình quân tăng 6% hàng năm, tới năm 2022 đạt 4,3% tổng kim
ngạch xuất khẩu quốc gia Về đầu tư du lịch trong năm 2017 sẽ tăng 0,5%, trong
vòng 10 năm tới con số này sẽ đạt 7,7% trong tổng đầu tư toàn quốc
Với những chỉ số dự báo ấn tượng và khả quan trên, có thể thấy ngành du lịch
Việt Nam đang đứng trước một tương lai đầy hứa hẹn Đó là dấu hiệu đáng mừng,
tuy nhiên cũng còn phải đương đầu với không ít thách thức và khó khăn phía trước,
nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa và khu vực hóa ngày càng diễn ra mạnh mẽ
Mức độ cạnh tranh ngày càng khốc liệt, phức tạp hơn và không chỉ giới hạn ở phạm
vi cấp quốc gia mà còn lan tỏa trên toàn khu vực Để có thể phát triển du lịch thực
sự là ngành kinh tế mũi nhọn, có sức hấp dẫn và cạnh tranh cao, bên cạnh nỗ lực
của riêng bản thân ngành du lịch, rất cần có sự quan tâm đầu tư, hỗ trợ nhiều hơn
nữa từ tất cả các cấp, các ngành Trong đó cần phải có đột phá ngay từ khâu nhận
thức về du lịch, mọi quyết định phát triển du lịch cần phải nâng lên thành quyết tâm
và ý chí chính trị cấp quốc gia Du lịch Việt Nam đã bước ra khỏi giai đoạn phát
triển ban đầu và đang tiến vào giai đoạn chuyển tiếp trước khi bứt phá Toàn ngành
du lịch, trực tiếp đối với các cấp quản lý nhà nước về du lịch, từ trung ương tới địa
phương, cần phải chủ động nghiên cứu, bám sát diễn biến của thị trường, nhạy bén
hơn nữa với những biến động của tình hình kinh tế, chính trị, xã hội ở trong nước và
quốc tế Nghiên cứu đề xuất áp dụng các công nghệ hiện đại vào công tác quảng bá,
xúc tiến du lịch, đặc biệt về tài khoản vệ tinh du lịch, qua đó sẽ giúp công tác dự
báo xu hướng thị trường và đánh giá chính xác hơn về hiệu quả và vai trò đóng góp
của ngành du lịch trong nền kinh tế quốc dân Đồng thời, đề xuất các chính sách,
văn bản quy phạm pháp luật, các kế hoạch, quy hoạch du lịch phù hợp và khả thi,
mang lại lợi ích thiết thực cho doanh nghiệp Với những định hướng cơ bản trên,
nếu vận dụng và thực thi tốt, chắc chắn sẽ tạo cơ sở vững chắc để thúc đẩy ngành du
lịch phát triển theo hướng chất lượng, bền vững, đạt mục tiêu đề ra
Trang 40CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU DỊCH VỤ DU LỊCH CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
2.1 Thực trạng xuất khẩu dịch vụ du lịch của Mỹ
Nói đến Mỹ, mọi người đều nghĩ ngay đến một nền kinh tế phát triển vào bậc nhất trên thế giới Trong hai thế kỷ qua, nền kinh tế Mỹ đã thay đổi không ngừng nhưng vẫn duy trì một số đặc điểm như: là một thị trường cạnh tranh mạnh mẽ, luôn
có những phát minh, sáng tạo, thị trường ngày càng tự do hơn…
Nền kinh tế Mỹ được hỗ trợ đắc lực từ nguồn tài nguyên thiên nhiên khổng lồ với bờ biển trải dài, đất đai phì nhiêu, khoáng sản phong phú… Nguồn tài nguyên
đó đã giúp Mỹ phát triển nông nghiệp rất tốt, làm tiền đề cho các ngành kinh tế khác phát triển, ngay cả hiện nay, khi nông nghiệp chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong GDP song sản lượng lương thực, thực phẩm Mỹ tạo ra hàng năm có thể so sánh với bất
cứ một quốc gia nào Ngoài ra, với nguồn tài nguyên quý báu đó, Mỹ đã rất biết cách giữ gìn và cải tạođể ngày nay phát triển ngành dịch vụ du lịch thành một trong những ngành chiếm tỷ trọng cao nhất trong GDP Mỹ và trong thu nhập từ dịch vụ
du lịch trên toàn thế giới hàng năm
Ở Mỹ đã diễn ra hai cuộc chuyển đổi kinh tế, cuộc chuyển đổi thế kỷ 19, từ kinh tế nông nghiệp sang công nghiệp và một cuộc chuyển đổi ở thế kỷ 20 từ nền kinh tế công nghiệp sang dịch vụ và CNTT Sự chuyển đổi này đang diễn ra một cách nhanh chóng trong thập niên đầu của thế kỷ 21 Hiện nay, vai trò của khu vực dịch vụ trong nền kinh tế Mỹ là không thể phủ nhận, khu vực này chiếm khoảng 2/3
tỷ trọng nền kinh tế Mỹ, hàng năm đóng góp khoảng 70% GDP và ngày càng chiếm
tỷ lệ cao hơn (Đại sứ quán Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, 2011)
Trong nhiều năm qua, nước Mỹ luôn là nước có quy mô XKDV lớn nhất trên thế giới TheoWTO (2011), vào năm 2010, XKDV của Mỹ đứng vị trí số một trên thế giới, chiếm 14% trong tổng kim ngạch XKDV của toàn thế giới, gấp hơn 2 lần
so với nước đứng vị trí thứ hai là Đức (có giá trị XKDV là 232 tỷ USD) Ngoài ra, còn một số nước khác như: Anh, Trung Quốc, Pháp, Nhật Bản…cũng có đóng góp