Quản trị rủi ro tín dụng cá nhân tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kỹ Thương Việt Nam Techcombank (Luận văn thạc sĩ)Quản trị rủi ro tín dụng cá nhân tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kỹ Thương Việt Nam Techcombank (Luận văn thạc sĩ)Quản trị rủi ro tín dụng cá nhân tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kỹ Thương Việt Nam Techcombank (Luận văn thạc sĩ)Quản trị rủi ro tín dụng cá nhân tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kỹ Thương Việt Nam Techcombank (Luận văn thạc sĩ)Quản trị rủi ro tín dụng cá nhân tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kỹ Thương Việt Nam Techcombank (Luận văn thạc sĩ)Quản trị rủi ro tín dụng cá nhân tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kỹ Thương Việt Nam Techcombank (Luận văn thạc sĩ)Quản trị rủi ro tín dụng cá nhân tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kỹ Thương Việt Nam Techcombank (Luận văn thạc sĩ)Quản trị rủi ro tín dụng cá nhân tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kỹ Thương Việt Nam Techcombank (Luận văn thạc sĩ)Quản trị rủi ro tín dụng cá nhân tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kỹ Thương Việt Nam Techcombank (Luận văn thạc sĩ)Quản trị rủi ro tín dụng cá nhân tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kỹ Thương Việt Nam Techcombank (Luận văn thạc sĩ)Quản trị rủi ro tín dụng cá nhân tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kỹ Thương Việt Nam Techcombank (Luận văn thạc sĩ)
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy
cô giáo trong Khoa Sau Đại học Trường Đại học Ngoại Thương, Ban lãnh đạo Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam, đặc biệt là sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của
TS Nguyễn Thị Tuyết Nhung Tác giả rất mong nhận được những góp ý của các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp để đề tài nghiên cứu được hoàn thiện, góp phần tăng cường quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam
Trang 2LỜI CAM ĐOAN Tên tôi là : Dương Thị Thanh Xuân
Chuyên ngành : Quản trị kinh doanh
Khoa : Sau đại học
Trường : Đại học Ngoại Thương
Tôi xin cam đoan với Nhà trường và Khoa sau Đại học là: Luận văn tốt nghiệp này là do tôi tự nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Thị Tuyết Nhung.Bài viết không có sự sao chép từ bất kỳ luận án tiến sĩ hoặc luận văn tốt nghiệp nào, các tài liệu đó chỉ mang tính chất tham khảo Nếu lời cam đoan trên đây
là sai, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm trước Nhà nước và Hội đồng khoa học các cấp
Hà nội, ngày… tháng… năm 2018
Học Viên
Dương Thị Thanh Xuân
Trang 3CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CÁ
1.1 TỔNG QUAN HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CÁ NHÂN CỦA NHTM 61.1.1 Khái niệm hoạt động tín dụng cá nhân của NHTM 61.1.2 Đặc điểm hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân 71.1.3 Vai trò của hoạt động tín dụng cá nhân 7
1.2.1.Quan niệm rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân 9
1.2.3 Các chỉ tiêu phản ánh rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân 121.2.4 Các nguyên nhân và hậu quả của rủi ro tín dụng cá nhân 161.3 QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CÁ NHÂN CỦA NHTM 191.3.1 Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng 191.3.2 Mục tiêu và nguyên tắc quản trị rủi ro tín dụng 191.3.3 Quy trình quản trị rủi ro tín dụng 211.3.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản trị rủi ro tín dụng cá nhân 35CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CÁ NHÂN TẠI
2.1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG TMCP KỸ THƯƠNG VIỆT NAM 382.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt
2.1.2 Một số kết quả hoạt động kinh doanh chủ yếu của NHTMCP Kỹ thương Việt
2.2 KHÁI QUÁT HOẠT ĐỘNG CHO VAY CÁ NHÂN VÀ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY CÁ NHÂN TẠI TECHCOMBANK GIAI ĐOẠN 2014-2017
472.2.1 Giới thiệu về quy định cho vay đối với khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP
2.2.2 Hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại Techcombank giai đoạn
2.3 THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG
Trang 42.3.1 Khái quát khối Quản trị rủi ro của Ngân hàng Techcombank 632.3.2 Chính sách quản trị rủi ro tín dụng KHCN tại Techcombank 642.3.3 Phân tích hoạt động quản trị rủi ro tín dụng cá nhân tại Techcombank 672.4 ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG KHCN TẠI
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG TMCP KỸ THƯƠNG VIỆT NAM 813.1 QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG CHIẾN LƯỢC VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP KỸ THƯƠNG VIỆT NAM 813.1.1 Định hướng hoạt động kinh doanh của Ngân hàng 813.1.2 Quan điểm quản trị rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân của Ngân hàng TMCP
3.2 GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG TMCP KỸ THƯƠNG
3.2.1 Chú trọng hơn nữa công tác nhận dạng rủi ro trong cho vay KHCN 853.2.2 Kiểm soát và tài trợ rủi ro theo quy định ngân hàng 873.2.3 Áp dụng mô hình đánh giá để lượng hóa rủi ro trong hoạt động tín dụng trong
3.2.4 Hiện đại hóa hệ thống thông tin trong hoạt động tín dụng 893.2.5 Không ngừng cải tiến, hoàn thiện hệ thống chính sách, quy trình quản trị rủi ro
3.2.6.Chú trọng và đầu tư hơn nữa vào chính sách cán bộ 903.2.7 Tiếp cận phương thức quản lý danh mục khoản vay hiện đại 933.2.8 Sử dụng các công cụ phái sinh trong quản trị rủi ro tín dụng 93
Trang 5DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt : Giải nghĩa
CGPD : Chuyên gia phê duyệt
CVTĐ : Chuyên viên thẩm định
CVKH : Chuyên viên khách hàng
CVQLCT : Chuyên viên quản lý chứng từ
CVQLTD : Chuyên viên quản lý tín dụng
KSCT : Kiểm soát chứng từ
KSTD : Kiểm soát tín dụng
LOS : Hệ thống luân chuyển và phê duyệt hồ sơ tín dụng
NHTMCP : Ngân hàng thương mại cổ phần
QTRR : Quản trị rủi ro
QTRRTD : Quản trị rủi ro tín dụng
T24 : Hệ thống quản lý khách hàng
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂUBẢNG:
Bảng 1.1: Tỷ trọng các tiêu chí đánh giá trong mô hình điểm số tín dụng
Bảng 1.3: Tỷ trọng các tiêu chí đánh giá trong mô hình điểm số tín dụng
Bảng 2.7: Phân loại dư nợ cho vay KHCN theo nhóm nợ 62
SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ:
Biểu đồ 2.1 :Vốn điều lệ của Techcombank ( Tỷ VND) 41Biểu đồ 2.2: Biểu đồ tăng trưởng dư nợ cho vay KHCN giai đoạn 2014-2017 57Biểu đồ 2.3: Biểu đồ cơ cấu dư nợ cho vay theo sản phẩm 2014-2017 61
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN
Cùng với xu thế hội nhập với kinh tế thế giới, có thể nói, kinh tế nước ta nói chung và ngành ngân hàng nói riêng hiện đang đứng trước những cơ hội và thách thức lớn Hệ thống ngân hàng không ngừng được củng cố và phát triển, góp phần tích cực
Trang 7Với các kiến thức đã thu được trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực tế công tác tại trung tâm thẩm định và phê duyệt tín dụng cá nhân thuộc khối quản trị rủi
ro của ngân hàng Techcombank, tôi nhận thấy việc nghiên cứu rủi ro và hạn chế rủi ro
trong tín dụng cá nhân là hết sức cần thiết Vì vậy tôi đã mạnh dạn chọn đề tài: " Quản
trị rủi ro tín dụng cá nhân tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kỹ Thương Việt Nam Techcombank"
Trong luận văn nghiên cứu của mình, tôi đưa ra cơ sở lý luận chung về quản trị rủi ro tín dụng cá nhân tại các Ngân hàng Thương mại Trên cơ sở đó, chỉ ra thực trạng quản trị rủi ro tín dụng cá nhân tại Techcombank , từ đó đề ra các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng cá nhân tại Techcombank Tôi mong rằng, nghiên cứu của mình chỉ ra được những bất cập tồn tại trong công tác quản trị rủi ro cá nhân tại Techcombank và đưa ra phương án khắc phục, đóng góp cho công tác quản trị rủi ro
cá nhân tại Techcombank phát triển tốt hơn
Trang 8MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng của nền kinh tế Việt Nam vào nền kinh tế thế giới đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động tài chính của nước ta, thị trường ngân hàng cũng đã có nhiều khởi sắc, đánh dấu bước phát triển mới cả về chất lẫn về lượng của hệ thống ngân hàng Việt Nam Tuy nhiên, với đặc thù của một lĩnh vực kinh doanh đầy nhạy cảm, chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố cả trực tiếp và gián tiếp, rủi ro ngân hàng lớn là yếu tố không thể tránh khỏi và có khả năng trở thành nguy cơ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển bền vững của các ngân hàng nói riêng, thị trường tài chính và nền kinh tế nói chung Hoạt động tín dụng cá nhân là một hoạt động quan trọng, cơ bản của ngân hàng, chiếm phần cơ bản trong các hoạt động kinh doanh của ngân hàng cả về doanh thu và lợi nhuận Đương nhiên, rủi ro trong lĩnh vực này cũng
tỷ lệ thuận với tầm quan trọng của nó và chiếm phần lớn trong tổng mức rủi ro của hoạt động ngân hàng Rủi ro tín dụng không chỉ khiến các ngân hàng phải gia tăng chi phí, chậm thu lãi, thậm chí là thất thoát vốn vay, làm xấu đi tình hình tài chính, làm tổn hại đến uy tín và vị thế, thậm chí ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của chính họ, mà
nó còn tác động ảnh hưởng lớn đến cả hệ thống ngân hàng và toàn bộ nền kinh tế Tuy nhiên, đây lại là rủi ro tất yếu trong hoạt động tín dụng cho vay, chúng ta không thể loại bỏ hoàn toàn mà chỉ có thể áp dụng các biện pháp để phòng ngừa hoặc giảm thiểu thiệt hại tối đa khi rủi ro tín dụng xảy ra Thực tiễn hoạt động tín dụng của hệ thống ngân hàng Việt Nam thời gian qua cũng cho thấy rủi ro tín dụng của toàn hệ thống chưa thực sự được kiểm soát một cách hiệu quả và đang có xu hướng ngày một gia tăng Chính vì vậy, rủi ro tín dụng càng cần thiết phải có được quan tâm quản lý, kiểm soát một cách bài bản và có hiệu quả, đảm bảo tín dụng hoạt động trong phạm vi rủi ro chấp nhận được, hỗ trợ việc phân bổ vốn hiệu quả hơn trong hoạt động tín dụng, giảm thiểu các thiệt hại phát sinh từ rủi ro tín dụng và tăng thêm lợi nhuận kinh doanh, góp phần nâng cao uy tín và tạo ra lợi thế cạnh tranh của ngân hàng và đặc biệt là đảm bảo mục tiêu tăng trưởng kinh tế bền vững, ổn định tính hình kinh tế - xã hội và đời sống nhân dân
Trang 9Là một ngân hàng thương mại tiêu biểu, một trong số những ngân hàng hàng đầu tại Việt Nam, ngân hàng Thương mại Cổ phần Kỹ thương Việt Nam rất chú trọng tới việc quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động tín dụng cá nhân Với doanh thu, lợi nhuận tăng trưởng mạnh trong những năm gần đây, việc quản lý rủi ro tín dụng sao cho hiệu quả nhất là vấn đề nóng của toàn ngân hàng và là mối quan tâm hàng đầu của các cấp lãnh đạo Techcombank cũng là một trong mười ngân hàng thương mại được ngân hàng nhà nước áp dụng thí điểm lộ trình tuân thủ Basel thiết lập giúp các ngân hàng quản lý rủi ro tín dụng, kiểm soát nợ xấu tốt hơn Việc quản trị rủi ro trong hoạt động cho vay tại ngân hàng đã có những bước tiến bộ, song vẫn còn tồn tại một số điểm hạn chế cần giải quyết khắc phục
Xuất phát từ thực tiễn nêu trên, cộng với các kiến thức thu được trong quá trình học tập, nghiên cứu trong quá trình làm việc tại Trung tâm Quản trị rủi ro tín dụng
cá nhân và tài trợ tiêu dùng – Khối Quản trị rủi ro – Ngân hàng Thương mại Cổ
phần Kỹ thương Việt Nam, tôi chọn đề tài nghiên cứu “Quản trị rủi ro tín dụng cá
nhân tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kỹ thương Việt Nam Techcombank”
làm luận văn thạc sỹ của mình
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Hoạt động rủi ro tín dụng là một trong những nội dung quan trọng trong bất kỳ một NHTM nào, do đó, đã có nhiều công trình nghiên cứu về quản trị rủi ro tín dụng Viết về rủi ro tín dụng có các công trình:
- Phạm Lan Anh, Thực trạng và một số giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại ngân hàng SHB, luận văn thạc sỹ kinh tế,Đại học Ngoại Thương năm 2014.
- Đỗ Thế Anh, Khả năng ứng dụng các phương pháp định lượng trong đo lường rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam, luận văn thạc
sỹ kinh tế, Đại học Ngoại Thương năm 2012
Viết về quản trị rủi ro tín dụng có các công trình:
- Trần Kim Oanh, Quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng Đầu tư và Phát triển,
luận văn thạc sỹ kinh tế, Đại học Ngoại Thương năm 2012
Trang 10- Nguyễn Hồng Luân, Nâng cao hiệu quản quản trị rủi tín dụng tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Nam Việt, luận văn thạc sỹ kinh tế, Học viện Tài chính , 2015.
Viết về quản trị rủi ro tín dụng cá nhân có các công trình:
- Vũ Thị Ngọc Lan, Giải pháp tăng cường quản lý rủi ro tín dụng với khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu- chi nhánh Hưng Yên, luận
văn thạc sỹ kinh tế, Học viện Tài chính, 2015
Mỗi nghiên cứu ở một khía cạnh khác nhau, đã phản ánh cơ bản được ngành, lĩnh vực và đơn vị cụ thể mà mình đã nghiên cứu Đã có nhiều công trình nghiên cứu về quản trị rủi ro tín dụng trong các ngân hàng thương mại, tuy nhiên, các đề tài nghiên cứu về quản trị rủi ro tín dụng mảng cá nhân khá hạn chế Mỗi ngân hàng có khẩu vị rủi ro tín dụng cá nhân riêng, có cơ cấu, thành phần, mục tiêu, định hướng chiến lược riêng Do vậy, việc nghiên cứu mảng rủi ro tín dụng cá nhân của các ngân hàng khác nhau là khác nhau Đặc biệt, giai đoạn 2014-2017 là giai đoạn đặc thù trong tăng trưởng kinh tế nói chung và ngành ngân hàng nói riêng Trải qua khủng hoảng kinh tế 2011-2014, giai đoạn sau đi vào thời kì hồi phục và có những bước phát triển vượt bậc Chính vì vậy, nhiều lý luận, hệ thống, công thức áp dụng trong những giai đoạn trước
là lỗi thời Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất nghiên cứu về quản trị rủi ro tín dụng cá nhân tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kỹ Thương Việt Nam Techcombank giai đoạn 2014-2017
Gắn với mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra là nghiên cứu về thực trạng quản trị rủi ro
cá nhân tại Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân hiện tại của đơn vị Nội dung luận văn có tham khảo các,quy định, quy trình, báo cáo của Ngân hàng TMCP
Kỹ thương Việt Nam nói riêng và các cơ sở pháp lý là các quy định của Luật các tổ chức tín dụng, các quy định của Ngân hàng Nhà Nước và một số qui định pháp luật khác về hoạt động tín dụng của NHTM Qua các nghiên cứu của các tác giả trên đã phần nào định hướng được công tác nghiên cứu và bản thân cũng đưa ra được các Phương hướng về giải quyết vấn đề được đề cập trong luận văn này
Trang 113. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của đề tài là phân tích thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Kỹ Thương Việt Nam để thấy được điểm mạnh, những tồn tại cần khắc phục, từ đó có cơ sở đề ra giải pháp hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng cá nhân trong ngân hàng này
Để thực hiện được mục tiêu đó, luận văn thực hiện ba nhiệm vụ chính:
- Hệ thống hóa các lý luận về rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng cá nhân của NHTM
- Phân tích, nghiên cứu thực trạng hoạt động quản trị rủi ro tín dụng các nhân tại Ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam, đánh giá những kết quả đạt được cũng như các tồn tại và nguyên nhân
- Đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện hoạt động quản trị rủi ro tín dụng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam
4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động quản trị rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân
của ngân hàng thương mại
- Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động quản trị rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân
tại NHTMCP Kỹ thương Việt Nam trong giai đoạn 2014- 2017
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng những phương pháp nghiên cứu chung của khoa học kinh tế như phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp thống kê mô tả, thống kê phân tích, suy luận logic, phân tích so sánh và tổng hợp
6. Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận
văn gồm 3 chương:
Trang 12Chương 1: Lý luận chung về quản trị rủi ro tín dụng cá nhân của ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam
Trang 13CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CÁ NHÂN CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 TỔNG QUAN HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CÁ NHÂN CỦA NHTM 1.1.1 Khái niệm hoạt động tín dụng cá nhân của NHTM
1.1.1.1.Khái niệm hoạt động tín dụng của NHTM
Hoạt động tín dụng là một giao dịch về tài sản, tiền hoặc hàng hóa giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay Trong đó, bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên đi vay cam kết hoàn trả vốn (gốc và lãi) cho bên cho vay vô điều kiện theo thời hạn
đã thỏa thuận (TS Hồ Diệu và các cộng sự, 2000)
Theo QĐ 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc ban hành quy chế cho vay của tổ chức tín dụng với khách hàng thì
“Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó, tổ chức tín dụng giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả gốc và lãi”.
Đặc điểm cả hoạt động tín dụng: bao gồm các khoản vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn Các khoản vay ngắn hạn có thời gian từ 12 tháng trở xuống Các khoản vay trung hạn có thời hạn vay từ trên 12 tháng đến 60 tháng Các khoản vay dài hạn có thời hạn trên 60 tháng
1.1.1.2.Khái niệm tín dụng cá nhân của NHTM
Tín dụng cho vay khách hàng cá nhân (viết gọn là tín dụng cá nhân) : khách hàng vay vốn là các cá nhân, hộ gia đình nhằm phục vụ việc sản xuất kinh doanh, tiêu dùng của cá nhân trong một khoảng thời gian nhất định dựa trên nguyên tắc hoàn trả đúng thời hạn (TS Hồ Diệu và các cộng sự,2000)
Hoạt động tín dụng đối với khách hàng cá nhân chủ yếu để giúp tài trợ cho việc mua ô tô, nhà ở, trang thiết bị gia đình, vật liệu xây dựng để sửa chữa, hiện đại hóa nhà,
Trang 14cửa hàng, trang trải các khoản viện phí, đầu tư sản xuất kinh doanh hộ gia đình và các chi phí cá nhân.
1.1.2 Đặc điểm hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân
- Tín dụng đối với khách hàng cá nhân bao gồm cả các khoản vay ngắn hạn,
trung hạn và dài hạn Vay ngắn hạn bao gồm các khoản vay thấu chi, vay hạn mức
tín dụng quay vòng Vay trung hạn bao gồm các khoản vay ô tô, vay đầu tư tài sản
cố định hộ kinh doanh, vay tiêu dùng Vay dài hạn chủ yếu rơi vào các khoản cho vay mua bất động sản, thời gian vay giao động khoảng 15,20 đến 35 năm tùy theo tuổi của chủ thể vay và dự án
- Cho vay KHCN mức lợi nhuận của người cho vay cần cao hơn để bù đắp những chi phí rủi ro đã được tính toán không chính xác lúc ban đầu
- Tín dụng cấp cho các cá nhân có đối tượng cho vay là các cá nhân, hộ gia đình có địa bàn sinh sống khá rộng, số lượng lớn khách hàng khiến cho ngân hàng khó có thể kiểm soát chặt chẽ từng khoản vay Chính điều này cũng gây khó khăn trong quá trình thu hồi nợ
- Đây là hình thức cho vay với mức lãi suất cao nhất trong các NHTM
- Nguồn trả nợ của khách hàng được trích từ nguồn thu nhập, mà không nhất thiết phải sử dụng những khoản vay Vì vậy, khi thẩm định cho vay khách hàng cá nhân, phải cân nhắc hoàn cảnh, lương bổng, nghề nghiệp của người vay phải được quan tâm hàng đầu
1.1.3 Vai trò của hoạt động tín dụng cá nhân
1.1.3.1.Đối với khách hàng
Tín dụng cấp cho các cá nhân sẽ tạo điều kiện cho các cá nhân có thể trang trải các khoản chi phí sinh hoạt, học tập; giúp họ có vốn sản xuất kinh doanh, nâng cao thu nhập, cải thiện cuộc sống, hoặc hỗ trợ cho các cá nhân có thể đầu tư mua nhà, mua xe khi chưa có khả năng huy động một số tiền lớn cùng lúc, hoặc hỗ trợ cho các cá nhân có lợi về dòng tiền khi mua nhà dự án dưới sự liên kết của ngân hàng với chủ đầu tư
Trang 15Nền kinh tế nước ta đang ngày càng phát triển, các chi phí sinh hoạt, học tập, mua nhà, mua xe ngày càng tăng cao, đặc biệt là trong giai đoạn gần đây Chính vì thế, nhu cầu của các cán bộ, công nhân, viên chức trong việc sử dụng các dịch vụ của ngân hàng ngày càng tăng cao Do đó, tín dụng cấp cho các cá nhân có vai trò ngày càng quan trọng.
Ở các khu vực nông thôn, miền núi, hải đảo, cuộc sống của người dân còn nhiều khó khăn Họ muốn thay đổi cách làm ăn, vươn lên thoát nghèo Muốn làm được điều đó, họ cũng cần có một nguồn vốn ổn định, uy tín Các chương trình hỗ trợ của nhà nước chỉ đáp ứng được một phần nào đó, nên tín dụng ngân hàng đóng vai trò then chốt trong vấn đề này
1.1.3.2.Đối với ngân hàng
Ngân hàng muốn tồn tại và phát triển tốt, phải luôn nỗ lực tìm kiếm và huy động được những nguồn vốn trong xã hội, rồi từ đó, đẩy mạnh cho vay và đầu tư kiếm lời Việc sử dụng vốn có hiệu quả hay không quyết định sự thành bại trong hoạt động của ngân hàng
Hiện nay, điều kiện kinh tế đang ngày càng phát triển, chất lượng cuộc sống của người dân cũng dần được nâng lên Tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều cá nhân, hộ gia đình đang gặp khó khăn trong quá trình vươn lên làm giầu, những sinh viên cũng không có nhiều cơ hội để có thể tiếp cận với những nguồn vốn để có thể kinh doanh hoặc trang trải các khoản chi phí học tập… Nếu biết khai thác thị trường tín dụng đối với khách hàng cá nhân, thì ngân hàng có thể thu được một nguồn lợi không nhỏ
1.1.3.3.Đối với nền kinh tế
Có thể nói rằng trong tình hình nền kinh tế nước ta hiện nay thì tín dụng ngân hàng là một nguồn vốn vô cùng quan trọng giúp thúc đẩy phát triển nền kinh tế Có rất nhiều yếu tố trong nền kinh tế chịu sự ảnh hưởng và tác động qua lại với tín dụng ngân hàng Trong các loại hình tín dụng ngân hàng thì tín dụng đối với khách hàng cá nhân có vai trò quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, giúp chu chuyển, lưu thông lượng vốn dư thừa trong xã hội vào sản xuất,
Trang 16nâng cao mức sống của người dân Các cá nhân có khả năng tiếp cận với các nguồn vốn lớn như tín dụng ngân hàng có nhiều điều kiện hơn để sản xuất kinh doanh, trang trải các khoản chi phí, nâng cao mức sống, góp phân thúc đẩy tiêu dùng, từ đó cũng góp phần phát triển kinh tế
Ngày nay, nền kinh tế nước ta đang phát triển nhưng tập trung chủ yếu ở các
đô thị lớn hay ở nội thành, còn ở những nơi như miền núi hay hải đảo xa xôi thì cuộc sống của người dân vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn Các dự án của Chính phủ
để phát triển kinh tế ở các khu vực này đang đóng góp một phần không nhỏ vào việc cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân nơi đây Tuy nhiên, vì nguồn vốn của Nhà nước cũng hạn hẹp mà các khu vực trọng điểm lại nhiều, chính vì thế, các
dư án này cũng chỉ đáp ứng được phần nào nhu cầu của người dân Họ cần có một nguồn vốn thường xuyên hơn, ổn định hơn Đó là lí do vì sao mà nguồn vốn của ngân hàng lại đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc cải thiện cuộc sống người dân, góp phần ổn định an ninh kinh tế, chính trị và trật tự an toàn xã hội…
Ở một phương diện khác, tín dụng cấp cho các cá nhân cũng tạo công ăn việc làm cho người lao động, giúp họ an cư lạc nghiệp, ổn định kinh tế Điều này góp một phần dáng kể vào các chính sách vĩ mô của Chính phủ trong công cuộc xóa đói giảm nghèo, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
1.2 RỦI RO TÍN DỤNG CÁ NHÂN CỦA NHTM
1.2.1 Quan niệm rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân
Rủi ro là những biến cố không mong đợi, khi xảy ra, dẫn đến tổn thất về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành được một nghiệp vụ tài chính nhất định
Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, cho vay là hoạt động kinh doanh đem lại lợi nhuận chủ yếu của ngân hàng nhưng cũng là nghiệp vụ tiềm ẩn rủi ro rất lớn Các thống kê và nghiên cứu cho thấy, rủi ro tín dụng chiếm đến 70% trong tổng rủi ro hoạt động ngân hàng Mặc dù hiện nay, đã có sự chuyển dịch trong cơ cấu lợi nhuận của ngân hàng, theo đó thu nhập từ hoạt động tín dụng có xu hướng giảm
Trang 17xuống và thu dịch vụ có xu hướng tăng lên nhưng thu nhập từ tín dụng vẫn chiếm từ 1/2 đến 2/3 thu nhập ngân hàng (Lê Văn Tề ,2013) Kinh doanh ngân hàng là kinh doanh rủi ro, theo đuổi lợi nhuận với rủi ro chấp nhận được là bản chất ngân hàng Rủi ro tín dụng nói chung và rủi ro trong hoạt động cho vay nói riêng là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây tổn thất và ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng kinh doanh ngân hàng Có nhiều định nghĩa khác nhau về rủi ro tín dụng:
Theo Timothy W.Koch: Một khi ngân hàng nắm giữ tài sản sinh lợi, rủi ro xảy ra khi khách hàng sai hẹn – có nghĩa là, khách hàng không thanh toán vốn gốc
và lãi theo thỏa thuận Rủi ro ro tín dụng là sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần
và thị giá của vốn xuất phát từ việc khách hàng không thanh toán hay thanh toán trễ hạn (Sách Bank Management)
Theo Thomas P.Fitch: Rủi ro tín dụng là loại rủi ro xảy ra khi người vay không thanh toán được nợ theo thỏa thuận hợp đồng, dẫn đến sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ Cùng với rủi ro lãi suất, rủi ro tín dụng là một trong những rủi ro chủ yếu trong hoạt động cho vay của ngân hàng (Sách Dictionary of Banking Terms)
Còn theo Henie Van Greuning - Sonja B rajovic Bratanovic: Rủi ro tín dụng được định nghĩa là nguy cơ mà người đi vay không thể chi trả tiền lãi hoặc hoàn trả vốn gốc so với thời hạn đã ấn định trong hợp đồng tín dụng Đây là thuộc tính vốn
có của hoạt động ngân hàng Rủi ro tín dụng tức là việc chi trả bị trì hoãn, hoặc tồi
tệ hơn là không chi trả được toàn bộ Điều này gây ra sự cố đối với dòng chu chuyển tiền tệ và ảnh hưởng tới khả năng thanh khoản của ngân hàng (Sách Managing Banking Risk)
Theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của Thống đốc ngân
hàng Nhà Nước Việt Nam thì “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết” (Điều 3, khoản 1)
Như vậy, rủi ro tín dụng phát sinh khi một hoặc các bên trong hợp đồng tín dụng không có khả năng thanh toán cho các bên còn lại Ngân hàng thương mại là một trung gian tài chính thực hiện nghiệp vụ vay tiền của người này để cho người
Trang 18khác vay Như vậy, rủi ro tín dụng đối với ngân hàng xuất phát từ cả hai phía là người cho vay (chủ nợ của ngân hàng) và người đi vay (con nợ của ngân hàng) Trường hợp thứ nhất là người gửi tiền (người cho ngân hàng vay) muốn rút tiền mà ngân hàng lại không thanh toán được, thực ra bản chất đấy là rủi ro thanh khoản nhưng nó lại liên quan mật thiết đến trường hợp thứ hai là ngân hàng không thu được đầy đủ các khoản cho vay bao gồm cả khoản gốc và lãi, hoặc việc thanh toán các khoản nợ (gồm gốc và lãi vay) không đúng hạn Điều này xảy ra khi khách hàng vay tiền của ngân hàng không có khả năng trả nợ hoặc cố ý không trả nợ
Ngoài ra, rủi ro tín dụng được biểu hiện là tỷ lệ nợ quá hạn cao Ở các nước
tỷ lệ này lên đến 5% tổng dư nợ thì được coi là báo động
Rủi ro tín dụng trong cho vay khách hàng cá nhân là một loại hình rủi ro tín dụng xẩy ra trong quá trình ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng cá nhân
Như vậy, từ khái niệm rủi ro tín dụng và tín dụng cá nhân, tác giả đưa ra khái niệm rủi ro tín dụng cá nhân: phát sinh khi một hoặc các bên trong hợp đồng tín dụng không có khả năng thanh toán cho các bên còn lại trong giao dịch cá nhân, hay nói cách khác, là khi khách hàng là cá nhân vay tiền của ngân hàng không có khả năng trả nợ hoặc cố ý không trả nợ
1.2.2 Phân loại rủi ro tín dụng cá nhân
Có nhiều cách phân loại rủi ro tín dụng, tùy theo mục đích, yêu cầu nghiên cứu.Việc phân loại rủi ro tín dụng nhằm hiểu rõ hơn về từng loại rủi ro và có biện pháp quản lý riêng cho từng loại Rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay khách hàng cá nhân, có thể được phân loại như sau:
1.2.2.1.Theo nguyên nhân của rủi ro
Rủi ro tín dụng bao gồm 2 loại là rủi ro do nguyên nhân khách quan và rủi ro
do nguyên nhân chủ quan, cụ thể như sau:
Thứ nhất, rủi ro tín dụng do nguyên nhân khách quan bao gồm:
Trang 19- Rủi ro do môi trường kinh tế có biến động bất lợi: điều này dẫn đến việc đầu tư vốn kinh doanh của khách hàng gặp khó khăn và khách hàng không thể trả
nợ cho ngân hàng
- Rủi ro do môi trường pháp lý chưa thuận lợi: Hệ thống văn bản pháp luật còn nhiều bất cập, quản lý của các cơ quan nhà nước tại địa phương còn nhiều yếu kém, hệ thống thông tin quản lý hạn chế
- Rủi ro từ chính sách: Những thay đổi trong chính sách của nhà nước hoặc thay đổi một số quy định của luật pháp cũng có thể gây nên rủi ro cho hoạt động tín dụng ngân hàng.Ví dụ khi ngân hàng đã kí quyết định cho một DN vay vốn sản xuất pháo vào thời điểm Nhà nước chưa cấm buôn bán sản xuất pháo đến khi Nhà nước
ra quyết định cấm sản xuất pháo (khi hợp đồng còn hạn) thì rõ ràng DN không thể hoạt động và tất nhiên không thể trả nợ cho ngân hàng
Thứ hai, rủi ro tín dụng do nguyên nhân chủ quan bao gồm:
- Rủi ro do nguyên nhân từ phía khách hàng: Sử dụng vốn sai mục đích đã cam kết, không thiện chí trong việc trả nợ, khả năng quản lý kinh doanh kém, tình hình tài chính không lành mạnh…
- Rủi ro do nguyên nhân từ phía ngân hàng: Công tác kiểm tra nội bộ yếu kém, cán bộ còn bất cập về trình độ chuyên môn hoặc đạo đức nghề nghiệp dẫn đến các sai phạm, thiếu kiểm tra và giám sát khách hàng sau khi cho vay; sự liên kết và hợp tác giữa các ngân hàng thương mại còn lỏng lẻo, CIC (trung tâm thông tin tín dụng) chưa phát huy được vai trò…
1.2.2.2.Theo tính chất của rủi ro
Theo cách phân chia này thì rủi ro tín dụng có thể phân làm hai loại:
Một là, rủi ro mất vốn: ngân hàng không thu được các khoản gốc và lãi của
khoản vay do người vay cố ý không trả nợ hoặc mất khả năng trả nợ
Hai là, rủi ro đọng vốn: do khách hàng sử dụng vốn không hiệu quả hoặc gặp
phải rủi ro nên không thể thanh toán khoản nợ đúng hạn
1.2.3 Các chỉ tiêu phản ánh rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân
Trang 201.2.3.1 Quy mô tín dụng
Quy mô tín dụng không phải là chỉ tiêu phản ánh trực tiếp rủi ro tín dụng, tuy nhiên, nếu quy mô tín dụng tăng trưởng quá nóng, không tương ứng với khả năng kiểm soát của ngân hàng thì lúc đó, quy mô tín dụng sẽ phản ánh rủi ro tín dụng Điều này thể hiện ở các khía cạnh:
- Nếu quy mô tín dụng quá lớn, vượt quá khả năng quản lý của ngân hàng thể hiện qua sự gia tăng của các chỉ tiêu: dư nợ trên tổng tài sản, dư nợ trên tổng số cán bộ tín dụng so với mức trung bình của các ngân hàng … thì mức độ rủi ro tăng lên
- Nếu ngân hàng mở rộng quy mô tín dụng theo hướng nới lỏng tín dụng cho từng khách hàng: cho vay vượt quá nhu cầu khách hàng, cho vay vượt quá mức tài sản đảm bảo cho phép thì sẽ dẫn tới rủi ro là khách hàng sử dụng vốn sai mục đích, không kiểm soát được mục đích sử dụng vốn vay… điều này sẽ gây rủi ro cho ngân hàng
1.2.3.2 Cơ cấu tín dụng
Cũng giống như quy mô tín dụng, yếu tố này không phản ánh trực tiếp mức độ rủi ro, mà chỉ phản ánh mức độ tập trung tín dụng trong một ngành, lĩnh vực, thời gian… Nếu cơ cấu tín dụng quá thiên lệch vào những lĩnh vực mạo hiểm sẽ phản ánh các rủi ro tín dụng tiềm năng Cơ cấu tín dụng có thể chia thành các nhóm như sau:
Cơ cấu tín dụng theo ngành: Nếu tập trung vào các ngành có rủi ro cao thì rủi
ro không trả được nợ ngân hàng cũng cao Khi cơ cấu tín dụng tập trung quá nhiều vào một ngành, lĩnh vực thì mức độ rủi ro sẽ cao khi ngành, lĩnh vực đó bị suy thoái hoặc bị ảnh hưởng bởi một ngành khác có liên quan
Cơ cấu tín dụng theo thời hạn cho vay: Yếu tố này dựa trên cơ cấu vốn của
ngân hàng Nếu ngân hàng có cơ cấu vốn ngắn hạn lớn, vốn dài hạn thấp mà trong khi đó, cơ cấu tín dụng trong dài hạn lại lớn, điều đó có nghĩa là ngân hàng đã sử dụng quá nhiều vốn ngắn hạn sang cho vay trung và dài hạn, khi đó ngân hàng có thể sẽ gặp phải rủi ro thanh khoản Khi ngân hàng tập trung quá nhiều vào tín dụng trung và dài hạn thì mức độ rủi ro cũng sẽ cao hơn
Cơ cấu tín dụng theo tài sản đảm bảo: Tỷ lệ các khoản cho vay có tài sản đảm
bảo thấp thì ngân hàng đối mặt với rủi ro tiềm ẩn khi khách hàng không trả được nợ
1.2.3.3 Nợ quá hạn
Nợ quá hạn là chỉ tiêu cơ bản phản ánh rủi ro tín dụng Nợ quá hạn là kết quả
Trang 21của quan hệ tín dụng không hoàn hảo, nó vi phạm đặc trưng cơ bản của tín dụng là tính thời hạn và tính hoàn trả đầy đủ Khi cấp một khoản tín dụng, yếu tố luôn cần được chú ý tới đó là: thời hạn hoàn trả và lượng giá trị được hoàn trả Nợ quá hạn sẽ phát sinh khi tới hạn hoàn trả theo cam kết, người vay không có khả năng hoàn trả đầy đủ hay một phần gốc và/hoặc lãi cho bên cho vay.
Nợ quá hạn có thể xác định được tại mọi thời điểm qua hệ thống sổ sách và hồ
sơ tín dụng tại ngân hàng
Nợ quá hạn được phản ánh qua 2 chỉ tiêu sau:
1.1.3.4 Nợ xấu
Nợ xấu là các khoản tiền cho khách hàng vay, mà không thể thu hồi được
do khách hàng làm ăn thua lỗ hoặc phá sản, nợ phải trả tăng, khách hàng mất khả năng thanh toán Thời gian tồn động nợ kéo dài trên một năm và rất khó giải quyết
- Theo quan điểm của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF)
Định nghĩa được IMF đưa ra như sau:
“Một khoản cho vay được coi là không sinh lời (nợ xấu) khi tiền thanh toán lãi và/hoặc tiền gốc đã quá hạn từ 90 ngày trở lên, hoặc các khoản thanh toán lãi đến 90 ngày hoặc hơn đã được tái cơ cấu hay gia hạn nợ, hoặc các khoản thanh toán dưới
90 ngày nhưng có các nguyên nhân nghi ngờ việc trả nợ sẽ được thực hiện đầy đủ”
Về cơ bản, nợ xấu theo quan điểm của IMF được định nghĩa dựa trên hai yếu tố: (i) quá hạn trên 90 ngày; hoặc (ii) khả năng trả nợ bị nghi ngờ Với quan điểm này, nợ xấu được tiếp cận dựa trên thời gian quá hạn trả nợ và khả năng trả nợ của khách hàng Khả năng trả nợ ở đây có thể là khách hàng hoàn toàn không trả được
nợ, hoặc việc trả nợ của khách hàng là không đầy đủ
- Theo quan điểm của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (SBV)
Theo Thông tư số 02/2013/TT-NHNN Quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi
ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thay thế Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN thì nợ xấu được định nghĩa như sau:
Trang 22Nợ xấu (NPL) là nợ thuộc nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (nợ nghi ngờ), nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn).
1.1.3.5 Dự phòng rủi ro tín dụng
Dự phòng rủi ro đánh giá khả năng bù đắp tổn thất trong hoạt động tín dụng của ngân hàng khi rủi ro xảy ra Khi ngân hàng phải sử dụng quỹ dự phòng, điều đó đồng nghĩa với việc ngân hàng đang gặp phải tình trạng rủi ro mất vốn, do đó, dự phòng rủi ro là chỉ tiêu phản ánh tình trạng rủi ro mất vốn Dự phòng rủi ro theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 được khái niệm như sau:
“Dự phòng rủi ro là số tiền được trích lập và hạch toán vào chi phí hoạt động để
dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài Dự phòng rủi ro gồm dự phòng cụ thể và dự phòng chung.
Dự phòng cụ thể là số tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra đối với từng khoản nợ cụ thể
Dự phòng chung là số tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra nhưng chưa xác định được khi trích lập dự phòng cụ thể”.
Tỷ lệ này phản ánh khả năng bù đắp rủi ro từ hoạt động tín dụng Một tỷ lệ thấp hơn cho thấy chất lượng tín dụng tốt hơn
có độ rủi ro cao; (ii) ngân hàng có đủ khả năng tài chính để phòng hộ rủi ro tín dụng
1.2.4 Các nguyên nhân và hậu quả của rủi ro tín dụng cá nhân
1.2.4.1 Nguyên nhân
Trang 23a) Nguyên nhân bất khả kháng
- Môi trường chính trị: Chiến tranh, xung đột đảng phái, cấm vận, bạo động, biểu tình, bãi công,… có thể dẫn đến những thiệt hại cho cá nhân, doanh nghiệp và
cả nền kinh tế nói chung (làm tê liệt sản xuất, lưu thông hàng hoá đình trệ,…)
- Môi trường cạnh tranh: Tính chất cạnh tranh giữa các tổ chức tín dụng khiến các ngân hàng bỏ qua một số khâu kiểm soát rủi ro, giảm bớt lượng hồ sơ đánh giá, tăng tốc độ phê duyệt khoản vay…làm tăng rủi ro hoạt động cho vay
- Môi trường tự nhiên: Các yếu tố rủi ro do thiên nhiên gây ra như lũ lụt, hoả hoạn, động đất, dịch bệnh,… có thể gây ra những thiệt hại không lường trước được cho cả người vay và ngân hàng Mặc dù những rủi ro này là khó dự đoán nhưng bù lại nó chiếm tỷ lệ không lớn Mặt khác, ngân hàng thường được chia sẻ thiệt hại với các Công ty Bảo hiểm hoặc được Nhà nước hỗ trợ
b) Nguyên nhân từ phía khách hàng
- Uy tín, đạo đức của khách hàng vay vốn:
+ Khách hàng có thể lừa đảo ngân hàng thông qua việc gian lận về số liệu, giấy tờ, quyền sở hữu tài sản, sử dụng vốn vay không đúng mục đích, không đúng đối tượng kinh doanh, phương án kinh doanh,…
+ Uy tín của khách hàng trên thương trường, uy tín đối với các tổ chức tín dụng… Một khách hàng đã phát sinh nợ quá hạn tại các TCTD khác hoặc đã từng bội tín trong hoạt động kinh doanh sẽ là những khách hàng tiềm ẩn khả năng phát sinh nợ quá hạn
- Năng lực và kinh nghiệm quản lý của khách hàng:
+ Khách hàng thiếu năng lực quản lý dẫn đến hoạt động kinh doanh thua lỗ, mất khả năng trả nợ ngân hàng
+ Nội bộ khách hàng mất đoàn kết, không thống nhất phương án trả nợ ngân hàng
c) Nguyên nhân từ phía ngân hàng cho vay
Trang 24- Chính sách tín dụng: Chính sách tín dụng phản ánh định hướng cơ bản cho
hoạt động tín dụng, nó có ý nghĩa quyết định đến sự thành công hay thất bại của ngân hàng Để đảm bảo và nâng cao chất lượng tín dụng, ngân hàng cần phải có chính sách tín dụng phù hợp với đường lối phát triển kinh tế, đồng thời kết hợp được lợi ích của người gửi tiền, của ngân hàng và người vay tiền
- Quy trình tín dụng: Quy trình tín dụng là trình tự tổ chức thực hiện các bước
kỹ thuật nghiệp vụ cơ bản, chỉ rõ cách làm, trình tự các bước từ khi bắt đầu đến khi kết thúc một giao dịch thuộc chức năng, nhiệm vụ của cán bộ tín dụng và lãnh đạo ngân hàng có liên quan Quy trình tín dụng là yếu tố quan trọng, nếu nó được tổ chức khoa học, hợp lý sẽ cho phép bảo đảm thực hiện các khoản vay có chất lượng
- Kiểm soát nội bộ: Đây là hoạt động mang tính thường xuyên và cần thiết đối
với mọi ngân hàng Công tác kiểm tra nội bộ hoạt động kinh doanh của ngân hàng càng thường xuyên, chặt chẽ sẽ càng làm cho hoạt động tín dụng đúng hướng, thực hiện đúng các nguyên tắc, yêu cầu thể lệ trong qui chế tín dụng cũng như qui trình tín dụng Kiểm soát nội bộ là biện pháp mang tính chất ngăn ngừa, hạn chế những sai sót của cán bộ tín dụng, giúp cho hoạt động tín dụng kịp thời sửa chữa, tạo điều kiện thuận lợi nâng cao chất lượng tín dụng
- Tổ chức nhân sự: Con người luôn là yếu tố quyết định đến sự thành bại trong
mọi hoạt động kinh doanh nói chung và nó cũng không loại trừ hoạt động ngân hàng nói riêng Muốn nâng cao được hiệu quả trong kinh doanh, chất lượng trong hoạt động tín dụng, ngân hàng cần phải có một đội ngũ cán bộ tín dụng giỏi, được đào tạo
có hệ thống, am hiểu và có kiến thức phong phú về thị trường, đặc biệt trong lĩnh vực tham gia đầu tư vốn, nắm vững những văn bản pháp luật có liên quan đến hoạt động tín dụng Trong bố trí sử dụng, cán bộ tín dụng cần phải được sàng lọc kỹ càng và phải có kế hoạch thường xuyên bồi dưỡng những kiến thức cần thiết để bắt kịp với nhịp độ phát triển và biến động của nền kinh tế thị trường Ngoài ra, họ còn phải có tiêu chuẩn về đạo đức và sự liêm khiết, bởi lẽ nếu người cán bộ tín dụng thiếu trách nhiệm hay cố tình vi phạm có thể sẽ gây tổn thất rất lớn cho ngân hàng
- Thông tin tín dụng: Hoạt động tín dụng muốn đạt được hiệu quả cao, an toàn
Trang 25cần phải có hệ thống thông tin hữu hiệu phục vụ cho công tác này Vai trò và yêu cầu thông tin phục vụ công tác tín dụng và kinh doanh ngân hàng là hết sức quan trọng Muốn nâng cao chất lượng tín dụng, ngân hàng cần xây dựng được hệ thống thông tin đầy đủ và linh hoạt, nhờ đó cung cấp các thông tin chính xác, kịp thời, tăng cường khả năng phòng ngừa rủi ro tín dụng.
1.2.4.2 Hậu quả của rủi ro tín dụng
a) Đối với nền kinh tế
Ngân hàng có mối quan hệ chặt chẽ với nền kinh tế, là kênh thu hút và bơm tiền cho nền kinh tế Vì vậy, rủi ro tín dụng gây nên sự phá sản một ngân hàng sẽ làm cho nền kinh tế bị rối loạn, hoạt động kinh tế bị mất ổn định và ngưng trệ, mất bình ổn về quan hệ cung cầu, lạm phát, thất nghiệp, tệ nạn xã hội gia tăng, tình hình
an ninh chính trị bất ổn…
b) Đối với ngân hàng
Đối với ngân hàng bị rủi ro: Do không thu hồi được nợ (gốc, lãi và các loại
phí) làm cho nguồn vốn ngân hàng bị thất thoát, trong khi ngân hàng vẫn phải chi trả tiền lãi cho nguồn vốn hoạt động, làm cho lợi nhuận bị giảm sút, thậm chí nếu trầm trọng hơn thì có thể bị phá sản
Đối với hệ thống ngân hàng: Hoạt động của một ngân hàng trong một quốc gia
có liên quan đến hệ thống ngân hàng và các tổ chức kinh tế, xã hội và cá nhân trong nền kinh tế Do vậy, nếu một ngân hàng có kết quả hoạt động xấu, thậm chí dẫn đến mất khả năng thanh toán và phá sản thì sẽ có những tác động dây chuyền ảnh hưởng xấu các ngân hàng và các bộ phận kinh tế khác Nếu không có sự can thiệp kịp thời của NHNN và Chính phủ thì tâm lý sợ mất tiền sẽ lây lan đến toàn bộ người gửi tiền
và họ sẽ đồng loạt rút tiền tại các NHTM làm cho các ngân hàng khác vô hình chung cũng rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán
1.3 QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CÁ NHÂN CỦA NHTM
1.3.1 Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng
Trang 26Quản trị rủi ro tín dụng là quá trình các ngân hàng tiến hành hoạch định, tổ chức, triển khai thực hiện và giám sát, kiểm tra toàn bộ hoạt động cấp tín dụng, nhằm tối đa hóa lợi nhuận của ngân hàng với mức rủi ro có thể chấp nhận.
Kiểm soát rủi ro ở mức có thể chấp nhận được là việc NHTM tăng cường các biện pháp phòng ngừa, hạn chế và giảm thấp nợ quá hạn, nợ xấu trong kinh doanh tín dụng, nhằm tăng doanh thu tín dụng, giảm thấp chi phí bù đắp rủi ro, nhằm đạt được hiệu quả trong kinh doanh tín dụng cả trong ngắn hạn và dài hạn
1.3.2 Mục tiêu và nguyên tắc quản trị rủi ro tín dụng
1.3.2.1 Mục tiêu
Mục tiêu quản trị rủi ro tín dụng là tối đa hóa thu nhập bằng cách duy trì rủi ro tín dụng ở mức chấp nhận được Ngân hàng cần quản trị rủi ro tín dụng của danh mục cho vay tổng thể cũng như các khoản cho vay riêng lẻ; xem xét các mối tương quan giữa rủi ro tín dụng với các loại rủi ro khác Quản trị rủi to tín dụng có hiệu quả là một bộ phận quan trọng trong cách tiếp cận rủi ro tổng thể và được coi là đóng vai trò cốt lõi cho sự thành công của ngân hàng trong dài hạn
1.3.2.2 Nguyên tắc
Năm 2000, Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng đã ban hành 17 nguyên tắc
về quản trị rủi ro tín dụng, đảm bảo tính hiệu quả và an toàn trong hoạt động cấp tín dụng Các nguyên tắc này tập trung vào các nội dung cơ bản sau đây:
- Xây dựng môi trường tín dụng thích hợp
Ủy ban Basel yêu cầu Hội đồng quản trị phải thực hiện phê duyệt và định kỳ (ít nhất 1 năm/lần) rà soát lại các chiến lược rủi ro tín dụng, các chính sách rủi ro tín dụng Chiến lược này cần bao hàm mức độ chấp nhận rủi ro, khả năng ứng phó dự kiến nếu có xảy ra các loại hình rủi ro tín dụng Trên cơ sở này, Ban Tổng giám đốc
có trách nhiệm trong khi thực hiện chiến lược quản trị rủi ro tín dụng và xây dựng các chính sách, thủ tục nhằm phát hiện, đo lường, theo dõi và kiểm soát rủi ro tín dụng trong mọi hoạt động, ở cấp độ từng khoản tín dụng và cả danh mục đầu tư Các ngân hàng cần xác định và quản trị rủi ro tín dụng trong mọi sản phẩm và hoạt
Trang 27động của mình.
- Thực hiện cấp tín dụng lành mạnh
Các ngân hàng cần xác định rõ ràng các tiêu chí cấp tín dụng lành mạnh (thị trường mục tiêu, đối tượng khách hàng, điều khoản, điều kiện cấp tín dụng ) Ngân hàng cần xây dựng các hạn mức tín dụng cho từng loại khách hàng và nhóm khách hàng vay vốn có liên quan để có thể bao quát được các loại hình rủi ro tín dụng khác nhau nhưng có thể so sánh và theo dõi được trên cơ sở xếp hạng tín dụng nội
bộ đối với khách hàng trong các lĩnh vực, ngành nghề khác nhau Ngân hàng cần có quy trình rõ ràng trong phê duyệt tín dụng với sự tham gia của các bộ phận tiếp thị,
bộ phận phân tích tín dụng và bộ phận phê duyệt tín dụng cũng như trách nhiệm rạch ròi của các bộ phận tham gia, đồng thời cần phát triển đội ngũ nhân viên quản trị rủi ro tín dụng có kinh nghiệm, có kiến thức, nhằm đưa ra các nhận định thận trọng trong việc đánh giá, phê duyệt và quản trị rủi ro tín dụng
- Duy trì một quy trình quản lý, đo lường và giám sát có hiệu quả
Ngân hàng cần có hệ thống quản trị các danh mục tín dụng hiệu quả, có hệ thống giám sát đối với các điều kiện liên quan đến từng khoản tín dụng,bao hàm việc xác định quy mô thích hợp các khoản dự phòng, xây dựng và sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro nội bộ trong quản trị rủi ro tín dụng Hệ thống xếp hạng cần phù hợp với tính chât, quy mô và tính phức tạp trong hoạt động ngân hàng
Ngân hàng cần có hệ thống thông tin và kỹ thuật phân tích giúp ban điều hành đánh giá rủi ro tín dụng cho các hoạt động trong và ngoài bảng cân đối kế toán; có
hệ thống giám sát cơ cấu và chất lượng tổng thể của danh mục tín dụng
- Đảm bảo kiểm soát đầy đủ đối với rủi ro tín dụng
Ngân hàng cần thiết lập hệ thống đánh giá độc lập và liên tục đối với các quy trình quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng và các kết quả đánh giá này cần thông báo cho Hội đồng quản trị và ban quản lý cấp cao
Quy trình cấp tín dụng cần phải được quản lý chặt chẽ, mức cho vay phải nằm trong các chuẩn mực an toàn và giới hạn cho phép Kiểm soát nội bộ cần báo cáo
Trang 28kịp thời đến các cấp quản lý về những trường hợp ngoại trừ trong các chính sách, quy trình và hạn mức.
Ngân hàng cần có hệ thống cảnh báo sớm đối với các khoản tín dụng có dấu hiệu xấu đi, quản lý các khoản tín dụng có vấn đề và các tình huống tương tự
1.3.3 Quy trình quản trị rủi ro tín dụng
Quy trình quản trị rủi ro tín dụng bao gồm 4 nội dung: Nhận biết rủi ro, đo lường rủi ro, quản trị rủi ro, kiểm soát và xử lý rủi ro Tuy có sự phân đoạn trong
qui trình quản trị rủi ro tín dụng, song các khâu được phân ra trong qui trình phải luôn có sự gắn bó với nhau, tạo thành một chu trình liên tục, có vậy mới đảm bảo kiểm soát rủi ro theo mục tiêu đã định RRTD một khi đã được xác định thì cần phải được phân tích, đo đường và đưa ra các biện pháp xử lý theo dõi Trong quá trình quản lý theo dõi, hệ thống quản lý rủi ro tín dụng phải có khả năng xác định và tìm
ra các nguy cơ rủi ro mới và công việc của quản trị rủi ro tín dụng được lặp lại
Sơ đồ: 1.1 Quy trình quản trị rủi ro tín dụng
1.3.3.1 Nhận biết rủi ro
Đây là việc làm của bản thân NHTM, ngân hàng phải nhìn nhận từ chính mình
để thấy nguy cơ rủi ro có thể xảy ra, kết hợp với việc nhìn nhận từ phía khách hàng vay vốn để nhận ra rủi ro từ các dấu hiệu báo trước
- Về phía ngân hàng: Rủi ro tín dụng được thể hiện qua quy mô tín dụng, cơ
cấu tín dụng, nợ quá hạn, nợ xấu, và dự phòng rủi ro, do đó, khi các yếu tố này có
xu hướng thiên lệch như: quy mô tín dụng tăng quá nhanh vượt quá khả năng quản
Trang 29lý của ngân hàng, hay là cơ cấu tín dụng tập trung quá mức vào một ngành, một lĩnh vực rủi ro, hoặc là các chỉ tiêu nợ quá hạn, nợ xấu có dấu hiệu vượt qua ngưỡng cho phép, dự phòng rủi ro được sử dụng hết, ngân hàng đứng trước nguy cơ rủi ro
- Về phía khách hàng: Khi các dấu hiệu rủi ro tín dụng xuất hiện từ phía
khách hàng, ngân hàng cần nhận biết được khả năng xảy ra rủi ro để có thể đưa ra các quyết định kịp thời
Để nhận biết rủi ro, một số công việc ngân hàng cần phải thực hiện như sau:
+ Phân tích danh mục tín dụng của ngân hàng : Phân tích chung danh mục của
ngân hàng để nhận biết các rủi ro về quy mô tín dụng, cơ cấu tín dụng, về ngành … Cần kết hợp với các dự báo kinh tế để đánh giá rủi ro chung cho toàn bộ danh mục tín dụng
+ Phân tích đánh giá khách hàng: Công việc này cần phải thực hiện từ khi bắt
đầu tiếp xúc với khách hàng nhằm phát hiện nguy cơ rủi ro đối với từng khách hàng, từng khoản nợ cụ thể
Để có thể phân tích và đánh giá khách hàng, cần phải thu thập các thông tin về khách hàng có ảnh hưởng trực tiếp tới quyết định cho vay Có thể dựa trên các thông tin định tính và định lượng
* Các thông tin định tính: Đây là các thông tin phản ánh tính chất, đặc điểm
của khách hàng, thể hiện qua một số yếu tố như : tư cách người vay, năng lực của người vay, xác định dòng tiền, các tài sản điều kiện đảm bảo cho khoản vay Thông qua các thông tin này, giúp cho ngân hàng xác định được tính đúng đắn và hợp lý của mục đích xin vay, xác định được thái độ, trách nhiệm, thiện chí và nỗ lực hoàn trả nợ vay khi tới hạn của khách hàng Ngân hàng cần phải xác định rõ được nguồn tiền khách hàng dùng để trả nợ, thanh toán khoản vay Xác định rõ vai trò của người đứng vay: người xin vay cần phải đầy đủ năng lực về hành vi và năng lực pháp lý
để ký kết hợp đồng tín dụng, Yếu tố tài sản đảm bảo cho khoản vay cũng cần phân tích và xác định để tăng thêm phần trách nhiệm trong việc trả nợ của khách hàng
Trang 30* Các thông tin định lượng: Hầu hết thông tin đánh giá hiệu quả hoạt động của
khách hàng (trong trường hợp vay sản xuất kinh doanh) đều có thể chiết xuất từ các báo cáo tài chính của khách hàng
1.3.3.2 Đo lường rủi ro tín dụng
Đo lường rủi ro là bước tiếp theo sau khi phát hiện có nguy cơ rủi ro Hiện nay, nhiều ngân hàng trên thế giới đã sử dụng nhiều phương pháp và mô hình đo lường rủi ro hiện đại và tiên tiến
a) Mô hình định tính về rủi ro tín dụng
Là mô hình truyền thống đánh giá khách hàng vay vốn dựa vào chủ quan từ phía ngân hàng Theo mô hình này, các ngân hàng chủ yếu sử dụng các thông tin khác nhau về người vay theo phương pháp 5C hoặc mô hình 6C để đưa ra nhận xét chủ quan của mình
+ Các điều kiện (Conditions): ngân hàng quy định các điều kiện tùy theo chính sách tín dụng từng thời kỳ
+ Kiểm soát (Control): đánh giá những ảnh hưởng do sự thay đổi của luật pháp, quy chế hoạt động, khả năng khách hàng đáp ứng các tiêu chuẩn của ngân hàng
Trang 31Việc sử dụng mô hình này tương đối đơn giản, song có hạn chế là phụ thuộc vào mức độ chính xác của nguồn thông tin thu thập, khả năng dự báo cũng như trình
độ phân tích, đánh giá của CBTD
b) Mô hình định lượng rủi ro tín dụng
- Mô hình xác suất vỡ nợ
Mô hình xác suất vỡ nợ còn gọi là phương pháp ước tính tổn thất tín dụng dựa trên hệ thống cơ sở dữ liệu đánh giá nội bộ (Internal Ratings Based- IRB) Đây là phương pháp được áp dụng theo Hiệp định mới về tiêu chuẩn vốn quốc tế của Basel
II Việc sử dụng IRB để ước lượng tổn thất tín dụng đã được ủy ban Basel khuyến khích các nước tham gia sử dụng Việc ước lượng tổn thất phụ thuộc vào ba yếu tố chính là: (i)xác suất không trả nợ của khách hàng (Probability of Default, PD); (ii)
tỷ trọng tổn thất ước tính (Loss Given of Default, LGD); (iii) tổng dư nợ của khách hàng tại thời điểm khách hàng không trả được nợ (Exposure at Default, EAD) Từ
đó, Ngân hàng sẽ ước tính được tổn thất (Expected Loss, EL) như sau:
EL = PD x EAD x LGD
Phương pháp IRB là một quy trình phức tạp, đòi hỏi ngân hàng phải có một hệ thống công nghệ quản lý mạnh và hệ thống dữ liệu lịch sử đầy đủ trong một giai đoạn cũng như phải đáp ứng một số yêu cầu nhất định về hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ, trình độ quản trị ngân hàng và các quy định về công khai thông tin
- Mô hình điểm số Z
Mô hình này do E.I.Altman xây dựng để cho điểm tín dụng đối với các công ty của Mỹ Đại lượng Z là thước đo tổng hợp để phân loại RRTD đối với người vay và phụ thuộc vào: (i) Chỉ số các yếu tố tài chính của người vay – X; (ii) tầm quan trọng của các chỉ số này trong việc xác suất vỡ nợ của người vay trong quá khứ, mô hình được mô tả như sau:
Z = 1,2 X 1 + 1,4 X 2 + 3,3 X 3 + 0,6 X 4 + 1,0 X 5
Trong đó: X1 = Tỷ số vốn lưu động ròng trên tổng tài sản
X2 = Tỷ số lợi nhuận giữ lại trên tổng tài sản
Trang 32X3 = Tỷ số lợi nhuận trước thuế, tiền lãi trên tổng tài sản X4 = Tỷ số giá trị cổ phiếu trên giá trị ghi sổ nợ dài hạn X5 = Tỷ số doanh thu trên tổng tài sản
Trị số Z càng cao thì người vay có xác suất vỡ nợ càng thấp và ngược lại (Trị
số Z có thể âm) Như vậy, khi trị số Z thấp hoặc là một số âm sẽ là căn cứ để xếp khách hàng vào nhóm có nguy cơ vỡ nợ cao
Z < 1,8 : Khách hàng có khả năng rủi ro cao
1,8 < Z < 3: Không xác định được
Z > 3: Khách hàng không có khả năng trả nợ
Bất kỳ công ty nào có điểm số Z < 1,81 phải được xếp vào nhóm có nguy cơ rủi ro tín dụng cao
Ưu điểm: Kỹ thuật đo lường rủi ro tín dụng tương đối đơn giản.
Nhược điểm: Mô hình này chỉ cho phép phân loại nhóm khách hàng vay có rủi
ro và không có rủi ro Tuy nhiên, trong thực tế, mức độ rủi ro tín dụng tiềm năng của mỗi khách hàng khác nhau từ mức thấp như chậm trả lãi, không trả lãi cho đến mức mất hoàn toàn cả vốn lẫn lãi của khoản vay
Không có lý do thuyết phục để chứng minh rằng các thông số phản ánh tầm quan trọng của các chỉ số trong công thức là bất biến Tương tự như vậy, bản thân các chỉ số cũng được chọn cũng không phải là bất biến, đặc biệt khi các điều kiện kinh doanh cũng như điều kiện thị trường tài chính đang thay đổi liên tục
Mô hình không tính đến một số nhân tố khó định lượng nhưng có thể đóng một vai trò quan trọng ảnh hưởng đến mức độ của các khoản vay (danh tiếng của khách hàng, mối quan hệ lâu dài giữa ngân hàng và khách hàng hay các yếu tố vĩ
mô như sự biến động của chu kỳ kinh tế)
- Mô hình điểm số tín dụng tiêu dùng
Ngoài mô hình điểm số Z, nhiều ngân hàng còn áp dụng mô hình cho điểm để xử
lý đơn xin vay của người tiêu dùng như: mua xe hơi, trang thiết bị gia đình, bất động
Trang 33sản, … Các yếu tố quan trọng trong mô hình cho điểm tín dụng bao gồm: hệ số tín dụng, tuổi đời, trạng thái tài sản, số người phụ thuộc, sở hữu nhà, thu nhập, điện thoại
cố định, tài khoản cá nhân, thời gian làm việc Một số mô hình có thể áp dụng là:
+ Mô hình điểm số tín dụng cá nhân của FICO
Điểm số tín dụng (Credit Score) cá nhân là một Phương tiện kiểm soát tín dụng được gán cho mỗi cá nhân tại một số nước phát triển giúp tổ chức tín dụng ước lượng được mức rủi ro khi cho vay Điểm tín dụng càng thấp thì mức rủi ro của bên cho vay càng cao Fair Isaac Corp đã xây dựng mô hình điểm số tín dụng FICO thấp nhất là 300 và cao nhất là 850 áp dụng cho cá nhân dựa vào tỷ trọng của 5 chỉ
số phân tích được trình bày trong bảng 1.1:
Trang 34Bảng 1.1: Tỷ trọng các tiêu chí đánh giá trong mô hình điểm số tín dụng FICO.
35% Lịch sử trả nợ (payment history): Thời gian quá hạn càng dài và số
tiền quá hạn càng cao thì điểm số tín dụng càng thấp
30% Dư nợ tại các tổ chức tín dụng (Amounts owed): Nợ quá nhiều so
với mức cho phép, đặc biệt là đối với thẻ tín dụng sẽ làm giảm điểm
số tín dụng
15% Độ dài của lịch sử tín dụng (Length of credit history): Thông tin
càng nhiều năm càng đánh tin cậy và điểm số tín dụng sẽ càng cao.10% Số lần nợ vay mới (New credit): Vay nợ thường xuyên được xem là
dấu hiệu có khó khăn về tài chính nên điểm số tín dụng càng thấp.10% Các loại tín dụng được sử dụng (Types of credit used): Các loại nợ
khác nhau sẽ được tính điểm số tín dụng khác nhau
(Nguồn: công trình nghiên cứu của Đinh Thị Huyền Thanh và Stafanie Klermeier,
2006, Credit Scoring for VietNam’s Retail Banking Market)
Mô hình điểm số tín dụng FICO được áp dụng rộng rãi tại Mỹ do các thông tin liên quan đến tình trạng tín dụng của mọi người có thể được ngân hàng tra soát dễ dàng qua các công ty thông tin tín dụng (Credit reporting companies) Công ty thông tin tín dụng thực hiện ghi nhận và cập nhật thông tin từ các tổ chức tín dụng, phân tích và cho điểm tín dụng từng người Theo mô hình điểm số tín dụng của FICO thì người có điểm số tín dụng ở mức 700 được xem là tốt, đối với cá nhân có điểm số tín dụng thấp hơn 620 sẽ có thể bị ngân hàng e ngại khi xét cho vay
+ Mô hình điểm số VantageScore
Trang 35Bảng 1.2: Hệ thống ký hiệu xếp hạng Vantage Score
(Nguồn: công trình nghiên cứu của Đinh Thị Huyền Thanh và Stafanie Klermeier,
2006, Credit Scoring for VietNam’s Retail Banking Market)
Tại Mỹ hiện đã xuất hiện mô hình điểm số tín dụng Vantage Score cạnh tranh với mô hình FICO, đó là mô hình do ba công ty cung cấp thông tin tín dụng là Equifax, Experian, TransUnion xây dựng Mô hình điểm số tín dụng Vantage Score rất đơn giản giúp mọi người dễ hiểu với năm mức xếp hạng giảm dần từ A đến F
như trình bày ở Bảng 1.2 tương ứng với số điểm được thiết lập từ 501 (Thấp nhất,
không đáng tin cậy nhất) đến 990 ( Cao nhất, đáng tin cậy nhất) Tỷ trọng các tiêu
chí đánh giá được trình bày như Bảng 1.3.
Trang 36Bảng 1.3: Tỷ trọng các tiêu chí đánh giá trong mô hình điểm số tín dụng
15% Tình trạng số dư có (Credit Balances): Tổng các khoản vay và mức
tín dụng sẵn có còn để đáp ứng, các khoản nợ quá hạn được chấm
điểm rất khắt khe
13% Độ sâu tín dụng (Depth of Credit): Lịch sử tín dụng càng dài càng
đáng tin cậy
10% Tình trạng tín dụng gần đây (Recent Credit): Mức độ thường xuyên
vay nợ và số lần yêu cầu vay
7% Tình trạng tín dụng sẵn có (Available Credit): Mức tín dụng có thể
nhận được ngay hay trong một thời gian ngắn có thể
(Nguồn: công trình nghiên cứu của Đinh Thị Huyền Thanh và Stafanie Klermeier,
2006, Credit Scoring for VietNam’s Retail Banking Market)
* Ưu điểm: Các mô hình này loại bỏ được sự phán xét chủ động trong quá
trình cho vay và giảm đáng kể thời gian ra quyết định tín dụng
* Nhược điểm: Mô hình không thể tự điều chỉnh một cách nhanh chóng để
thích ứng với những thay đổi trong nền kinh tế và cuộc sống gia đình
- Mô hình xếp hạng tín dụng
Hệ thống XHTD giúp NHTM quản trị rủi ro tín dụng bằng phương pháp tiên tiến, giúp đánh giá mức độ tín nhiệm khách hàng, thiết lập mức lãi suất cho vay phù hơp với dự báo khả năng thất bại của từng nhóm khách hàng NHTM có thể đánh
Trang 37giá hiệu quả danh mục cho vay thông qua giám sát sự thay đổi dư nợ và phân loại
nợ trong từng nhóm khách hàng đã được xếp hạng, qua đó điều chỉnh nguồn lực vào nhóm khách hàng an toàn
+ Mô hình xếp hạng tín dụng
Mô hình đơn giản đơn giản nhất được sử dụng trong XHTD là mô hình một biến số Chỉ tiêu đánh giá phải được thống nhất trong mô hình Các chỉ số tài chính được sử dụng trong mô hình bao gồm các chỉ tiêu thanh khoản, các chỉ tiêu hoạt động, chỉ tiêu đòn cân nợ, chỉ tiêu lợi tức, chỉ tiêu vay nợ và chi phí trả lãi Các chỉ tiêu phi tài chính thường được sử dụng bao gồm thời gian hoạt động của doanh nghiệp, số năm kinh nghiệm và trình độ của nhà quản trị cao cấp, triển vọng ngành Nhược điểm của mô hình một biến số là kết quả dự báo khó chính xác nếu thực hiện phân tích và cho điểm các chỉ tiêu đánh giá một cách riêng biệt, hơn nữa, mỗi người
có thể hiểu các chỉ tiêu đánh giá theo cách khác nhau Để khắc phục nhược điểm này, các nhà nghiên cứu đã xây dựng các mô hình kết hợp nhiều biến số thành một giá trị để đánh giá thất bại của doanh nghiệp như mô hình phân tích hồi quy, phân tích logic, phân tích xác suất có điều kiện, phân tích phân tích nhiều biến số
Các NHTM áp dụng các mô hình khác nhau tùy theo đối tượng xếp loại là cá nhân, doanh nghiệp hay tổ chức tín dụng Trong quá trình áp dụng vào thực tế, các NHTM sẽ có những điều chỉnh để phù hợp với tình hình thực tế
+ Quy trình xếp hạng tín dụng
Căn cứ vào chính sách tín dụng và các quy trình có liên quan của từng ngân hàng nhằm xác lập quy trình XHTD Một quy trình XHTD bao gồm các bước cơ bản sau:
(i) Thu thập thông tin có liên quan đến các chỉ tiêu sử dụng trong phân tích đánh giá;
(ii) Phân tích bằng mô hình để kết luận về mức xếp hạng Mức xếp hạng cuối cùng được quyết định theo ý kiến của Hội đồng xếp hạng Trong xếp hạng tín dụng thì kết quả xếp hạng tín dụng không được công bố rộng rãi;
(iii) Theo dõi tình trạng tín dụng của đối tượng xếp hạng để điều chỉnh mức xếp hạng các thông tin điều chỉnh được lưu giữ Tổng hợp kết quả xếp hạng so với thực tế rủi ro xảy ra, và dựa trên tần suất phải điều chỉnh mức xếp hạng đã thực hiên
Trang 38đối với khách hàng để xem xét điều chỉnh mô hình xếp hạng.
+ Phương pháp xếp hạng tín dụng theo mô hình điểm số
Mục đích của XHTD là để dự đoán những khách hàng có rủi ro cao Các phương pháp XHTD hiện đại bao gồm phương pháp nghiên cứu thống kê dựa trên
sự hồi quy và cây phân loại hoặc các phương pháp vận trù học dựa trên toán học để giải quyết các bài toán tài chính bằng quy hoạch tuyến tính, qua đó, nhà quản trị có quyết định hợp lý cho các hành động trong hiện tại và tương lai
XHTD theo mô hình điểm số là phương pháp khoa học kết hợp sử dụng dữ liệu để nghiên cứu thống kê và áp dụng mô hình thuật toán để phân tích, tính điểm cho các chỉ tiêu đánh giá trong mô hình một biến hoặc đa biến Các chỉ tiêu sử dung trong XHTD được xác lập theo nhóm bao gồm phân tích ngành, phân tích hoạt động kinh doanh, phân tích hoạt động tài chính Sau đó đưa vào mô hình để tính điểm theo trọng số và quy đổi điểm nhận được sang biểu xếp hạng tương ứng
a) Các công cụ quản trị rủi ro tín dụng
- Mức ủy quyền phán quyết là hạn mức tín dụng tối đa mà hội sở chính giao
cho chi nhánh được toàn quyền quyết định
- Giới hạn rủi ro là mức rủi ro tối đa mà ngân hàng có thể chịu đựng được để
đảm bảo đạt được mức lợi nhuận tương ứng
- Quản trị danh mục cho vay
Ngân hàng phải thường xuyên phân tích và theo dõi danh mục tín dụng, đặc biệt là các khoản nợ xấu, nợ có vấn đề để có những biện pháp xử lý kịp thời khi có rủi ro xảy ra Trên cơ sở danh mục cho vay, ngân hàng tiến hành phân loại nợ để phân loại các khoản nợ vào các nhóm nợ trong hạn, nợ cần đặc biệt lưu ý, nợ dưới
Trang 39chuẩn, nợ nghi ngờ và nợ có khả năng mất vốn Để hoạt động quản trị rủi ro tín dụng được hiệu quả, ngân hàng cần xây dựng một hệ thống thông tin tín dụng tập trung gồm các báo cáo định kỳ và đặc biệt.
- Rà soát chính sách quản trị rủi ro theo từng thời kỳ.
Chính sách quản trị rủi ro tín dụng với mục tiêu mở rộng tín dụng, đồng thời hạn chế rủi ro tín dụng nhằm nâng cao thu nhập cho ngân hàng Ngân hàng cần chú
ý tới việc xây dựng chính sách cụ thể, bao quát được toàn bộ quá trình kinh doanh cũng như hoạt động của mình, do môi trường kinh doanh biến đổi không ngừng, chính
vì vậy, ngân hàng cũng cần luôn luôn rà soát lại để các chính sách quản trị rủi ro phù hợp với từng giai đoạn và chiến lược kinh doanh của ngân hàng trong từng thời kỳ
- Phân tán rủi ro
Phân tán rủi ro trong hoạt động tín dụng là việc thực hiện cấp tín dụng cho nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, khu vực sản xuất kinh doanh, cá nhân nhằm tránh những tổn thất lớn xảy ra cho ngân hàng thương mại Các hình thức phân tán rủi ro chủ yếu bao gồm:
+ Không tập trung cấp tín dụng cho một ngành, một lĩnh vực hay một khu vực;+ Không nên dồn vốn đầu tư vào một hoặc một số khách hàng;
+ Đa dạng hóa các sản phẩm tín dụng;
+ Cho vay đồng tài trợ;
- Thực hiện bảo hiểm tín dụng: Bảo hiểm tín dụng là biện pháp chuyển một
phần hay toàn bộ các rủi ro tín dụng cho tổ chức bảo hiểm Có thể thực hiện nhiều loại bảo hiểm khác nhau như bảo hiểm hoạt động cho vay, bảo hiểm tài sản … Trong các nghiệp vụ trên, các NHTM Việt Nam đã triển khai tương đối rộng khắp bảo hiểm đối tượng cho vay, bảo hiểm tài sản, bảo hiểm phương tiện vận tải …
- Thực hiện bảo đảm tín dụng: Là việc một tổ chức tín dụng áp dựng các biện
pháp phòng ngừa rủi ro, tạo cơ sở kinh tế và pháp lý để thu hồi được các khoản nợ
đã cho khách hàng vay Bù đắp tín dụng có thể thực hiện theo chính sách sau: Cầm
cố, thế chấp, bảo lãnh của bên thứ ba
- Lập quỹ dự phòng rủi ro: Lập quỹ dự phòng rủi ro được coi như một trong
những biện pháp cơ bản để bù đắp những tổn thất có thể xảy ra đối với các tổ chức tín dụng Hiện nay, việc lập dự phòng rủi ro và sử dụng dự phòng rủi ro để xử lý rủi
ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng được thực hiện theo Thông tư
Trang 4002/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của 02/2013/TT-NHNN.
- Sử dụng các công cụ phái sinh để phòng ngừa và hạn chế rủi ro: Sử dụng
các công cụ phái sinh thông qua Hợp đồng trao đổi tín dụng, hợp đồng quyền chọn tín dụng
b) Tổ chức quản trị rủi ro
Mô hình tổ chức quản lý rủi ro đơn giản hay phức tạp tùy thuộc vào quy mô của từng ngân hàng Với những ngân hàng nhỏ, giám đốc điều hành có thể quán xuyến được toàn bộ hoạt động của ngân hàng thì không nhất thiết phải hình thành những phòng chức năng chuyên trách về quản trị rủi ro tín dụng, mà chỉ cần một vài nhân viên chịu trách nhiệm đo lường, đánh giá mức độ rủi ro và trực tiếp báo cáo cho giám đốc Tuy nhiên, tại những ngân hàng lớn với nhiều chi nhánh, trong cơ cấu tổ chức của ngân hàng, thường hình thành khối chuyên trách quản trị rủi ro với nhiều cấp độ quản lý Trong trường hợp này, có sự phân định rõ ràng ở từng cấp trong ngân hàng và quản trị rủi ro là quá trình thực hiện từ trên xuống và từ dưới lên Tại cấp cao nhất là việc xác định mục tiêu thu nhập với giới hạn rủi ro Trong quá trình quản lý thực hiện từ trên xuống, mục tiêu chung của ngân hàng sẽ được cụ thể hóa bằng những chỉ dẫn cho các
bộ phận chức năng, và cho những người quản lý có trách nhiệm Những chỉ dẫn này bao gồm mục tiêu thu nhập, giới hạn rủi ro và các văn bản hướng dẫn chinhs ách quản trị rủi ro Việc giám sát và lập báo cáo được định hướng từ dưới lên trên, bắt đầu từ giao dịch và kết thúc với những mức rủi ro đã được tổng hợp
Nói tóm lại, tổ chức quản trị rủi ro kinh doanh nói chung và quản trị rủi ro tín dụng có liên quan đến nhiều hệ thống cấp bậc trong ngân hàng từ trên xuống dưới nhằm tổng hợp rủi ro và khả năng sinh lời của ngân hàng để kiểm soát và giám sát chúng
1.3.3.4 Kiểm soát và xử lý rủi ro tín dụng
a) Kiểm soát rủi ro
Kiểm soát rủi ro tín dụng là một nội dung của quản trị rủi ro tín dụng được thực hiện song song với hoạt động quản trị rủi ro nhằm mục tiêu: (i) phòng, chống
và kiểm soát các rủi ro có thể phát sinh trong hoạt động ngân hàng, (ii) đảm bảo toàn bộ các hoạt động, các bộ phận và từng cá nhân trong ngân hàng đều tuân thủ các quy định của pháp luật, tuân thủ và thực hiện các chiến lược, chính sách, quy