Hoàn thiện chuỗi cung ứng ngành hàng điện tử tiêu dùng cho các doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường nội địa (Luận văn thạc sĩ)Hoàn thiện chuỗi cung ứng ngành hàng điện tử tiêu dùng cho các doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường nội địa (Luận văn thạc sĩ)Hoàn thiện chuỗi cung ứng ngành hàng điện tử tiêu dùng cho các doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường nội địa (Luận văn thạc sĩ)Hoàn thiện chuỗi cung ứng ngành hàng điện tử tiêu dùng cho các doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường nội địa (Luận văn thạc sĩ)Hoàn thiện chuỗi cung ứng ngành hàng điện tử tiêu dùng cho các doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường nội địa (Luận văn thạc sĩ)Hoàn thiện chuỗi cung ứng ngành hàng điện tử tiêu dùng cho các doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường nội địa (Luận văn thạc sĩ)Hoàn thiện chuỗi cung ứng ngành hàng điện tử tiêu dùng cho các doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường nội địa (Luận văn thạc sĩ)Hoàn thiện chuỗi cung ứng ngành hàng điện tử tiêu dùng cho các doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường nội địa (Luận văn thạc sĩ)Hoàn thiện chuỗi cung ứng ngành hàng điện tử tiêu dùng cho các doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường nội địa (Luận văn thạc sĩ)Hoàn thiện chuỗi cung ứng ngành hàng điện tử tiêu dùng cho các doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường nội địa (Luận văn thạc sĩ)
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HOÀN THIỆN CHUỖI CUNG ỨNG NGÀNH HÀNG ĐIỆN
TỬ TIÊU DÙNG CHO CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
TRÊN THỊ TRƯỜNG NỘI ĐỊA
Chuyên ngành: Kinh tế Quốc tế
ĐINH MAI HƯƠNG
Hà Nội - 2018
Chuyên ngành: Kinh tế Quốc tế
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HOÀN THIỆN CHUỖI CUNG ỨNG NGÀNH HÀNG ĐIỆN
TỬ TIÊU DÙNG CHO CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
TRÊN THỊ TRƯỜNG NỘI ĐỊA
Ngành: Kinh tế Chuyên ngành: Kinh tế Quốc tế
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện chuỗi cung ứng ngành hàng điện tử tiêu dùng cho các doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường nội địa” là
công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Nguồn dữ liệu sử dụng để phân tích trong luận văn có nguồn gốc và được trích dẫn đầy đủ, rõ ràng Các kết quả nghiên cứu trong luận văn này do tôi tự tìm hiểu, phân tích một cách khách quan, trung thực và phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn của Việt Nam hiện nay Các kết quả này chưa từng được công bố ở bất cứ công trình nghiên cứu nào
Hà Nội, tháng 3 năm 2018 Học viên thực hiện
Đinh Mai Hương
Trang 4Để hoàn thành Luận văn này, tôi xin gửi lời cám ơn chân thành tới các Thầy
Cô giáo trường Đại học Ngoại Thương đã nhiệt tình giảng dạy, giúp đỡ tôi trong suốt 2 năm học vừa qua Thầy Cô đã giúp tôi tích lũy được nhiều kiến thức bổ ích
để áp dụng vào công việc thực tế hiện tại
Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn tới sự tận tâm của PGS.TS Trần Sĩ Lâm Thầy đã nhiệt tình giúp đỡ, theo sát và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện Luận văn này để đạt được kết quả tốt nhất
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn những người thân, bạn bè đã luôn bên tôi, động viên tôi hoàn thành tốt khóa học và Luận văn thạc sĩ này
Trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 3 năm 2018 Học viên thực hiện
Đinh Mai Hương
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG VÀ HÌNH viii
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN ix
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CHUỖI CUNG ỨNG 7
1.1 Tổng quan về chuỗi cung ứng và quản lý chuỗi cung ứng 7
1.1.1 Khái niệm 7
1.1.2 Tổng quan lịch sử phát triển của chuỗi cung ứng 10
1.1.3 Vai trò của chuỗi cung ứng đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp 13
1.1.4 Phân loại chuỗi cung ứng 14
1.2 Cấu trúc và hoạt động chuỗi cung ứng 16
1.2.1 Cấu trúc chuỗi cung ứng 16
1.2.2 Hoạt động quản lý chuỗi cung ứng 19
1.2.3 Nguyên tắc quản lý chuỗi cung ứng 22
1.2.4 Tiêu chí đánh giá chuỗi cung ứng 24
1.2.5 Nhân tố tác động đến chuỗi cung ứng 26
1.3 Tổng quan về chuỗi cung ứng ngành hàng điện tử tiêu dùng 33
1.3.1 Giới thiệu chung ngành điện tử tiêu dùng 33
1.3.2 Cấu trúc và đặc trưng của chuỗi cung ứng ngành điện tử tiêu dùng 35 CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHUỖI CUNG ỨNG NGÀNH HÀNG ĐIỆN TỬ TIÊU DÙNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRÊN THỊ TRƯỜNG NỘI ĐỊA 38
2.1 Tổng quan về ngành điện tử tiêu dùng trên thị trường Việt Nam 38
2.1.1 Thị trường tiêu thụ mặt hàng công nghệ điện tử 38
2.1.2 Thị trường bán lẻ điện thoại di động 39
2.1.3 Cơ cấu bán lẻ hàng công nghệ điện tử - điện tử tiêu dùng 41
Trang 62.2 Thực trạng chuỗi cung ứng ngành hàng điện tử tiêu dùng của các doanh
nghiệp Việt Nam trên thị trường nội địa 45
2.2.1 Tổng quan về chuỗi cung ứng ngành hàng điện tử tiêu dùng 45
2.2.2 Cấu trúc chuỗi cung ứng 46
2.2.3 Hoạt động quản lý chuỗi cung ứng 49
2.3 Kết quả hoạt động chuỗi cung ứng ngành hàng điện tử tiêu dùng của các doanh nghiệp Việt Nam 53
2.3.1 Tổng chi phí quản lý chuỗi cung ứng 53
2.3.2 Chu kì Cash-to-cash trong chuỗi cung ứng 55
2.3.3 Tính linh hoạt trong chuỗi cung ứng sản phẩm 57
2.3.4 Hiệu suất cung ứng hàng hoá và hiệu suất hoàn thành đơn hàng tuyệt đối 59
2.3.5 Hoạt động e-Business trong chuỗi cung ứng 60
2.3.6 Hoạt động vì môi trường của chuỗi cung ứng 61
2.4 Điểm mạnh và điểm yếu của chuỗi cung ứng các doanh nghiệp Việt Nam ngành hàng điện tử tiêu dùng 62
2.4.1 Điểm mạnh 62
2.4.2 Điểm yếu 64
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHUỖI CUNG ỨNG NGÀNH HÀNG ĐIỆN TỬ TIÊU DÙNG CHO CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM TRÊN THỊ TRƯỜNG NỘI ĐỊA TRONG THỜI GIAN TỚI 68
3.1 Xu hướng phát triển ngành hàng điện tử tiêu dùng 68
3.1.1 Xu hướng phát triển hàng điện tử tiêu dùng trên thế giới 68
3.1.2 Định hướng phát triển chuỗi cung ứng hàng điện tử tiêu dùng trên thế giới 69
3.1.3 Xu hướng phát triển ngành hàng điện tử tiêu dùng tại thị trường Việt Nam 73
3.1.4 Định hướng kinh doanh ngành hàng điện tử tiêu dùng của các doanh nghiệp Việt Nam 74
Trang 73.2 Định hướng phát triển chuỗi cung ứng ngành hàng điện tử tiêu dùng và
một số vấn đề đặt ra 76
3.2.1 Định hướng phát triển chuỗi cung ứng bán lẻ ngành hàng điện tử tiêu dùng 76
3.2.2 Cơ hội và thách thức đối với chuỗi cung ứng ngành hàng điện tử tiêu dùng 78
3.3 Giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện chuỗi cung ứng ngành hàng điện tử tiêu dùng cho các doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường nội địa 84
3.3.1 Các giải pháp cho doanh nghiệp 84
3.3.2 Các kiến nghị với Cơ quan Nhà nước 87
KẾT LUẬN 91
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
Trang 8DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Nghĩa tiếng Anh Nghĩa tiếng Việt
Growth rate Tốc độ tăng trưởng hàng năm kép
DWT Deadweight tonnage Đơn vị đo năng lực vận tải an toàn của
tàu tính bằng tấn FDC FPT Distribution Center Trung tâm phân phối của FPT
IT Information Technology Công nghệ thông tin
Just in Time (JIT) là một khái niệm trong sản xuất hiện đại: “Đúng sản phẩm – với đúng số lượng – tại đúng nơi – vào đúng thời điểm cần thiết”
Trang 9PSD Petrosetco Distribution Công ty CP Dịch vụ phân phối Tổng
hợp Dầu khí
Trang 10DANH MỤC BẢNG VÀ HÌNH
1 Danh mục Bảng
Bảng 2-1: Các hãng điện thoại được các phân phối tại thị trường Việt Nam 42
Bảng 3-1: Ma trận SWOT giải pháp hoàn thiện chuỗi cung ứng ngành hàng điện tử tiêu dùng 83
2 Danh mục Hình Hình 1-1: Sự phát triển của chuỗi cung ứng 12
Hình 2-1: Thị trường bán lẻ thiết bị điện tử tại Việt Nam giai đoạn 2011-2015 38
Hình 2-2: Tỷ trọng thiết bị điện tử giai đoạn 2014 – 2015 39
Hình 2-3: Nhu cầu sử dụng điện thoại thông minh giai đoạn 2011 – 2015 40
Hình 2-4: Quy mô chuỗi bán lẻ điện thoại giai đoạn 2012 – 2015 41
Hình 2-5: Thị phần bán lẻ điện thoại trên thị trường Việt Nam 42
Hình 2-6: Tổng quan HT bán lẻ hàng hoá công nghệ điện tử giai đoạn 2012 -2015
43
Hình 2-7: Doanh thu của các công ty phân phối giai đoạn 2010 - 2015 44
Hình 2-8: Mô hình chuỗi cung ứng hàng điện tử tiêu dùng tại thị trường Việt Nam 47
Hình 2-9: Cơ cấu tổ chức phân phối của FPT Distribution 55
Hình 2-10: Quy trình nhập hàng của FPT Distribution 57
Hình 3-1: Bước nhảy thế giới thực – số hóa – thế giới thực của CM công nghiệp 4.0 70
Trang 11TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN
Sau quá trình tìm hiểu và nghiên cứu về đề tài “Hoàn thiện chuỗi cung ứng ngành hàng điện tử tiêu dùng cho các doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường nội địa”, tác giả đã thu được một số kết quả như sau
Tác giả đã đưa ra cơ sở lý luận và hệ thống lý thuyết cơ bản về chuỗi cung ứng, tiêu chí đánh giá hoạt động quản lý chuỗi cung ứng và những nhân tố tác động đến chuỗi cung ứng trong Chương 1 Bên cạnh đó, tác giả đã nêu bật một số đặc trưng của ngành điện tử tiêu dùng và chuỗi cung ứng ngành hàng điện tử tiêu dùng
để từ đó có cái nhìn tổng quan hơn về chuỗi cung ứng nói chung và chuỗi cung ứng ngành hàng điện tử tiêu dùng nói riêng
Trong Chương 2, tác giả tập trung vào nghiên cứu chuỗi cung ứng ngành hàng điện tử tiêu dùng của các doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường nội địa Tại Việt Nam, “Chuỗi cung ứng” là một khái niệm khá mới mẻ và dường như chưa nhận được sự quan tâm đúng mực từ phía doanh nghiệp cũng như nhà nước Tầm quan trọng của chuỗi cung ứng trong việc phát triển doanh nghiệp nói riêng cũng như phát triển nền kinh tế nói chung chưa được đánh giá cao Chính vì vậy, có thể nói rằng, chuỗi cung ứng ngành hàng điện tử tiêu dùng tại Việt Nam vẫn đang trong giai đoạn phát triển, còn gặp nhiều khó khăn không chỉ từ bên trong doanh nghiệp
mà còn từ các yếu tố bên ngoài như thể chế, pháp luật, từ phát triển thị trường nội địa, thị trường dịch vụ logistics trong nước còn chưa phát triển mạnh mẽ
Cuối cùng, trong Chương 3, tác giả đi sâu vào bối cảnh thị trường thế giới cũng như định hướng kinh doanh của các doanh nghiệp trong nước, phân tích cơ hội
và thách thức để từ đó đưa ra một số giải pháp cho doanh nghiệp Việt Nam cũng như kiến nghị đến các cơ quan chức năng nhằm hoàn thiện và nâng cao năng lực hoạt động chuỗi cung ứng ngành hàng điện tử tiêu dùng của các doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường nội địa
Trang 12LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngành Điện tử tiêu dùng (Consumer Electronics) là một trong những ngành hàng năng động nhất hiện nay với đặc trưng bởi mức độ giới thiệu sản phẩm mới cao, chu kỳ sản phẩm tương đối ngắn, sự thay đổi về nhà cung cấp, mức độ cạnh tranh cao và yêu cầu về tốc độ cung ứng sản phẩm đối với thị trường Các sản phẩm này mới chỉ phát triển nhanh khoảng một thập kỷ trước nhưng đã trải qua biết bao thay đổi nhanh chóng, sản sinh một chuỗi vô tận các sáng kiến và sản phẩm mới Ngày nay, có rất nhiều thương hiệu ra đời và dòng sản phẩm đa dạng như máy tính bảng, điện thoại thông minh, TV 3-D, máy quay phim kết hợp trình chiếu hình ảnh
và các thiết bị GPS trên thị trường để phù hợp với mọi nhu cầu và túi tiền của khách hàng Đồng thời, ngành công nghiệp điện tử tiêu dùng đang chứng kiến những đổi thay chưa từng thấy từ sự phát triển truyền thông mạng xã hội và nội dung số Người sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội hay chủ sở hữu nội dung số đang có xu hướng gia tăng nhu cầu và yêu cầu cao hơn đối với các thiết bị, xác định các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh và tăng trưởng trong phân khúc điện
tử tiêu dùng
Thị trường tiêu dùng điện tử tiêu dùng ở Việt Nam được đẩy mạnh bởi cắt giảm thuế và tự do hóa ngành bán lẻ vào năm 2015, các yếu tố sẽ giảm và vì vậy chi tiêu dự kiến sẽ giảm xuống mức CAGR 6.5% trong giai đoạn 2016-2020 Câu chuyện tăng trưởng vẫn tích cực, dựa trên thu nhập hộ gia đình gia tăng trong một thị trường tuy nhiên tỷ lệ thâm nhập thiết bị vẫn còn thấp và ngành hàng điện tử tiêu dùng còn đang gặp nhiều khó khăn và bộc lộ những yếu kém nhất định như phát triển chưa bền vững Bên cạnh đó, Việt Nam chưa phải là nước phát triển trong lĩnh vực sản xuất thiết bị hay linh kiện điện tử, hàng hoá điện tử tiêu dùng chủ yếu vẫn được nhập từ nước ngoài và các doanh nghiệp đóng vai trò là nhà phân phối trên thị trường Việt Nam
Thật vậy, sự phát triển chưa bền vững của ngành này có thể được nhận thấy thông qua phương thức quy hoạch, tầm nhìn chiến lược của các doanh nghiệp còn
Trang 13nhiều thiếu sót làm giảm tính cạnh tranh trên thị trường Để khắc phục và vượt qua những khó khăn đó, các doanh nghiệp trong ngành cần có cái nhìn đầy đủ và đúng đắn về chuỗi cung ứng Điều này có nghĩa là tất cả các doanh nghiệp trong ngành cần phải hiểu tầm quan trọng và cơ chế hoạt động của chuỗi cung ứng Trên thế giới, chuỗi cung ứng là một khái niệm không mới, tuy nhiên, đối với các doanh nghiệp Việt Nam, khải niệm này còn khá mới mẻ Thực tiễn cho thấy, nhiều doanh nghiệp vẫn loanh quanh tìm lối đi để nâng cao hiệu suất hoạt động doanh nghiệp nhưng lại chưa hiểu rõ và đề cao tầm quan trọng đặc biệt của chuỗi cung ứng trong môi trường cạnh tranh toàn cầu ngày nay Do đó, việc thiết lập chuỗi cung ứng thích hợp là một vấn đề có ý nghĩa sống còn cho mỗi doanh nghiệp nói riêng cũng như toàn ngành nói chung Tuy nhiên, phải nhìn nhận từ các chuỗi cung ứng thực tế và tăng cường hợp tác để mang lại tính bền vững trong hành trình tồn tại và phát triển doanh nghiệp
Xuất phát từ lý luận và thực tiễn trên, tác giả quyết định chọn đề tài “Hoàn thiện chuỗi cung ứng ngành hàng điện tử tiêu dùng cho các doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường nội địa” làm Luận văn tốt nghiệp với mong muốn đóng góp
thêm về phương diện lý luận cũng như đưa ra những đề xuất hoàn thiện chuỗi cung ứng ngành hàng điện tử tiêu dùng giúp các doanh nghiệp Việt Nam tồn tại và phát triển bền vững trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt trên phạm vi toàn cầu hiện nay
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là chuỗi cung ứng ngành hàng điện tử tiêu dùng tại thị trường Việt Nam Bên cạnh đó, phân tích những nhân tố tác động từ bên trong và bên ngoài doanh nghiệp dẫn đến những khó khăn mà doanh nghiệp phân phối hàng điện tử tiêu dùng đang gặp phải
b Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của Luận văn được xác định trên ba khía cạnh:
− Về mặt nội dung: Luận văn sẽ tập trung phân tích hoạt động chuỗi cung ứng
của doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường nội địa, đặc biệt là những doanh nghiệp
Trang 14có sức ảnh hưởng lớn như FPT, Thế giới di dộng, Digiworld, … Luận văn chọn hướng tiếp cận theo góc độ vĩ mô, nghiên cứu cấu trúc, hoạt động và những nhân tố tác động đến chuỗi cung ứng doanh nghiệp Việt Nam để từ đó đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện chuỗi cung ứng này
− Về mặt thời gian: Luận văn có phạm vi nghiên cứu trong khoảng thời gian
chính là từ năm 2012 đến năm 2016 – đây là khoảng thời gian sau khi Việt Nam gia nhập WTO và bắt đầu có nhiều hơn các hoạt động nhập khẩu hàng hóa và phân phối tại thị trường Việt Nam
− Về mặt không gian: Luận văn nghiên cứu tình hình chung về chuỗi cung ứng
của doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường nội địa
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
a Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu được thực hiện với mục đích nhằm thông qua việc đánh giá các vai trò, điểm mạnh, điểm yếu của chuỗi cung ứng ngành hàng điện tử tiêu dùng cũng như cơ hội và thách thức từ bối cảnh thị trường hiện tại để từ đó đề xuất một
số kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện chuỗi cung ứng và nâng cao năng lực hoạt động của các doanh nghiệp Việt Nam
b Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích nghiên cứu trên, tác giả đưa ra một số nhiệm vụ
cụ thể như sau:
− Thứ nhất, luận giải cơ sở lý thuyết về khái niệm, cấu trúc, hoạt động của chuỗi cung ứng, hệ thống tiêu chí đánh giá và nhân tố ảnh hưởng tới chuỗi cung ứng
− Thứ hai, đánh giá thực trạng hoạt động chuỗi cung ứng ngành hàng điện tử tiêu dùng của doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường nội địa, từ đó đưa ra những điểm mạnh, điểm yếu và kết quả hoạt động chuỗi cung ứng này
− Thứ ba, xác định xu hướng phát triển của thị trường hàng điện tử tiêu dùng trong thời gian tới để từ đó đề xuất giải pháp đối với doanh nghiệp và kiến nghị với các cơ quan chức năng nhằm hoàn thiện chuỗi cung ứng ngành hàng này
Trang 154 Tình hình nghiên cứu
Chuỗi cung ứng là một khái niệm khá mới mẻ đối với Việt Nam, đặc biệt là chuỗi cung ứng ngành hàng điện tử tiêu dùng Vì vậy, hiện tại chưa có bài nghiên cứu cụ thể nào về tình hình hoạt động của chuỗi cung ứng ngành hàng điện tử tiêu dùng tại Việt Nam
Bên cạnh đó, khi tác giả khai thác nguồn dữ liệu nước ngoài cũng gặp phải khó khăn trong việc tìm kiếm, do những nghiên cứu về đề tài này không nhiều Hoặc, đối tượng nghiên cứu là chuỗi cung ứng toàn diện của ngành hàng điện tử, từ khâu mua vật liệu đến sản xuất và phân phối ra thị trường thay vì chuỗi cung ứng đầu ra mà tác giả đang hướng đến
Tuy nhiên, bằng sự cố gắng, tác giả đã tìm được một số bài viết và tài liệu dù không đề cập trực tiếp đến đề tài này nhưng cũng cung cấp một số thông tin liên quan, giúp tác giả tổng hợp và phân tích Trong bài “Báo cáo triển vọng 2017” của Phòng Phân tích Nghiên cứu thuộc Công ty Chứng khoán Vietcombank VCBS, tác giả đã nhìn thấy bức tranh tăng trưởng nhiều mảng của ngành Phân phối bán lẻ sản phẩm CNTT và Điện tử tiêu dùng năm 2016 và vai trò của các doanh nghiệp phân phối trong chuỗi giá trị truyền thống, và các doanh nghiệp bán lẻ và phân phối trong nước vẫn tiếp tục có những lợi thế, đóng vai trò thiết yếu trong chuỗi cung ứng, khó
có thể thay đổi trong thời gian tới
Nhóm chuyên viên thuộc Phòng phân tích của Công ty Chứng khoán Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng (“VPBS”) đã chỉ ra Doanh thu tiêu dùng ngành bán lẻ theo từng phân khúc (2015 – 2020) trong “Báo cáo triển vọng thị trường Quý III/2017” Bài viết đã phân tích và chỉ ra rằng sự mở rộng nhanhichóng của các chuỗiibán lẻ đã gia tăngiáp lực trongingành, dẫn đếninhiều cửa hànginhỏ lẻ đã phải đóng cửa
Trong báo cáo về “Ngành phân phối – bán lẻ Công nghệ” đăng ngày 12/9/2016, chuyên viên phân tích Lâm Trần Tấn Sĩ thuộc Công ty CP Chứng khoán
MB (MBS), tác giả đã xem xét chuỗi giá trị ngành phân phối và bán lẻ hàng công nghệ điện tử Bên cạnh đó, tác giả phân tích hiệu quả hoạt động phân phối bán lẻ của các doanh nghiệp lớn như FPT, Thế giới di động, Digiworld
Trang 16Ngoài ra, trong “Vietnam Consumer Electronic Report Q2 2014” của Business Monitor International, bài viết đã phân tích khá kỹ về và toàn diện về ngành hàng điện tử tiêu dùng tại Việt Nam năm 2014 và dự báo tình hình thị trường đến năm
2018 Bài viết cũng nêu bật quan điểm thị trường điện tử tiêu dùng tại Việt Nam có triển vọng tươi sáng khi thu nhập bình quân đầu người có xu hướng tăng, trong khi giá thiết bị điện tử trung bình giảm với các mặt hàng chính làm thúc đẩy tăng trưởng mạnh mẽ trong chi tiêu Một xu hướng cho phép cạnh tranh về giá cả trên thị trường hàng điện tử - đặc biệt với thiết bị điện thoại là Việt Nam đang được hướng đến trở thành nơi đặt nhà máy sản xuất Các nhà cung cấp đang tìm cách tận dụng lợi thế về chi phí lao động thấp, gần với các thị trường lớn, ưu đãi về thuế của chính phủ và mạng lưới liên kết giao thông
Tóm lại, thị trường hàng điện tử tiêu dùng tại Việt Nam là một thị trường có tiềm năng phát triển nhanh chóng trong thời gian sắp tới, đặc biệt là các thiết bị công nghệ cao như điện thoại di động, máy tính bảng, …Tuy nhiên, để phát triển một chuỗi cung ứng đầu ra hiệu quả, các doanh nghiệp trong nước cần phải chú trọng đầu tư nhiều hơn cả về vật chất lẫn nguồn nhân lực Bên cạnh đó, chính phủ cũng cần nhìn vào thực trạng của thị trường để nghiên cứu và đưa ra những chính sách phù hợp nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước phát huy năng lực hoạt động
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được xây dựng dựa trên nền tảng một số phương pháp nghiên cứu khoa học như phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết, thu thập, tổng hợp và phân tích theo phương pháp tiếp cận định tính
6 Những đóng góp mới của Luận văn
− Phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động chuỗi cung ứng ngành hàng điện tử tiêu dùng của doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường nội địa dựa trên
thực trạng hiện nay
− Đánh giá hiệu quả hoạt động của chuỗi cung ứng ngành hàng điện tử tiêu dùng thông qua hoạt động của một số doanh nghiệp lớn có sức ảnh hưởng trên thị
Trang 17trường như FPT, Thế giới di dộng, …để từ đó có cái nhìn tổng quan về tình hình chung của các doanh nghiệp
− Trên cơ sở lý luận và các phân tích nêu ra, tác giả để xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện chuỗi cung ứng ngành hàng điện tử tiêu dùng từ bên trong doanh nghiệp cũng như kiến nghị những cải cách về thể chế pháp luật nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp Việt Nam phát triển chuỗi cung ứng, nâng cao hiệu quả hoạt động, đóng góp vào sự phát triển kinh tế đất nước
7 Cấu trúc của Luận văn
Ngoài phần Lời mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn được chia thành 3 chương:
• Chương 1: Tổng quan chuỗi cung ứng
• Chương 2: Thực trạng chuỗi cung ứng ngành hàng điện tử tiêu dùng của các doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường nội địa
• Chương 3: Giải pháp và kiến nghị hoàn thiện chuỗi cung ứng ngành hàng điện tử tiêu dùng cho các doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường nội địa trong thời gian tới
Trang 18CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CHUỖI CUNG ỨNG
1.1 Tổng quan về chuỗi cung ứng và quản lý chuỗi cung ứng
1.1.1 Khái niệm
1.1.1.1 Chuỗi cung ứng
Chuỗi cung ứng liên quan bao gồm nhiều thành phần cấu tạo nên một chuỗi các hoạt động dịch chuyển hàng hoá hoặc dịch vụ từ điểm bắt đầu cho đến khi tiêu thụ Hiện nay có rất nhiều khái niệm được đưa ra để định nghĩa về chuỗi cung ứng Một trong những định nghĩa tiêu biểu được đề cập dưới đây như sau
Quan điểm về “Chuỗi cung ứng” của Ganesham trong cuốn “An introduction
to supply chain management” vào năm 2002 như sau: Chuỗi cung ứng là một mạng lưới các lựa chọn sản xuất và phân phối nhằm thực hiện các chức năng thu mua nguyên liệu, chuyển đổi nguyên liệu thành bán thành phẩm và thành phẩm, và phân phối chúng cho khách hàng1 (Ram Ganeshan, 2002) Ta thấy khái niệm này cũng cho rằng chuỗi là gồm các hoạt động từ khâu nguyên liệu đầu vào cho tới khi đến tay người tiêu dùng nhưng ở đây chú trọng hơn đến các quyết định được lựa chọn trong tiến trình chuỗi
Trong cuốn “Supply Chain Management: Strategy, Planning, and Operation”, tái bản lần thứ 6 vào năm 2015 của Chopra Sunil và Peter Meindl, chuỗi cung ứng được định nghĩa là: Một chuỗi cung ứng bao gồm tất cả các giai đoạn liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp, trong việc đáp ứng yêu cầu của khách hàng một cách đầy đủ Chuỗi cung ứng không chỉ bao gồm cả nhà sản xuất và nhà cung cấp, mà còn đơn vị vận chuyển, nhà kho, nhà bán lẻ và khách hàng2 (Chopra & Meindl, 2015) Định nghĩa về chuỗi cung ứng của Chopra có phần mở rộng hơn so với Ganeshan, chuỗi cung ứng không chỉ liên quan đến hoạt động sản xuất trực tiếp mà nó còn đề cập đến cả người tiêu dùng và các đơn vị vận chuyển, nhà kho…
1 A supply chain is a network of facilities and distribution options that performs the functons of procurement of materials, transformation of these materials into intermediate and finished products, and the distribution of these finished products to customers
2 A supply chain consits of all stages involved directly or indirectly, in fullfilling a customer request The supply chain not only includesthe manufacturer and suppliers, but also transporters, warehouses, retailers, and customers themselves
Trang 19Như vậy, chuỗi cung ứng được hiểu là một mạng lưới gồm cácitổ chức cóiliên quan, thôngiqua các mối liênikết phía trênivà phía dưới, trong quá trình và hoạt động khác nhau, sẽ sản sinh ra giá trịidưới hình thứcisản phẩm hàng hoá và dịch
vụitrong tay ngườiitiêu dùng cuốiicùng
Việc sắp xếpinăng lực củaicác thành viênitrong chuỗi cungiứng ở phía trên hayiphía dưới nhằm mụciđích tạo ra giá trịilớn hơn cho ngườiisử dụng, với chi phíithấp hơn cho toànibộ chuỗi cung ứng
1.1.1.2 Quản lý chuỗi cung ứng
Vào năm khoảng những năm 1980, cụm từ “Quản lý chuỗi cung ứng” (Supply Chain Management – SCM) được phát triển nhằm diễn tả vai trò và sự cần thiết của hoạt động liên kết các quá trình kinh doanh chính, từ người sử dụng cuối cùng đến các nhà cung cấp đầu tiên Các doanh nghiệp gắn kết với nhau trong một chuỗi cung ứng thông qua việc trao đổi các thông tin về các biến động của thị trường cũng như năng lực sản xuất Hiện nay có rất nhiều khái niệm được đưa ra để định nghĩa về quản lý chuỗi cung ứng Một trong những định nghĩa tiêu biểu được đề cập dưới đây như sau
Theo Hiệp hội quản lý chuỗi cung ứng APICS –Association of Operations Manament, “Quản lý chuỗi cung ứng” được định nghĩa là quá trình thiết kế, lập kế hoạch, thực hiện, kiểm soát và theo dõi hoạt động chuỗi cung ứng với mục tiêu tạo
ra giá trị ròng, tạo dựng môi trường cạnh tranh, thúc đẩy logistics toàn cầu, đồng bộ hoá cung cầu và đo lường hiệu suất hoạt động trên phạm vi toàn cầu3
Viện quản lý cung ứng - The Institute for Supply Management (ISM) mô tả quản lý chuỗi cung ứng như sau: Thiết kế và quản lý các quy trình liền mạch, mang lại giá trị gia tăng qua ranh giới tổ chức để đáp ứng nhu cầu thực sự của khách hàng cuối cùng.4
3 The design, planing, execution, control, and monitoring of supply chain activitis with the objective of creating net value, building a competitive infrastucture, leveraging worldwide logistics, synchronizing supply with demand, and measuring performance globally
4 The design and management of seamless, value-added processes across organizational boundaries
to meet the real needs of the end customer
Trang 20Một định nghĩa khác về quản lý chuỗi cung ứng đến từ Hội quản lý chuỗi cung ứng - The Singapore-based Logistics & Supply Chain Management Society như sau: Tập hợp các kỹ thuật phối hợp để lên kế hoạch và thực hiện tất cả các bước trong mạng lưới toàn cầu được sử dụng để mua nguyên liệu từ các nhà cung cấp, biến chúng thành hàng thành phẩm, và cung cấp hàng hoá và dịch vụ cho khách hàng.5
Tuy nhiên, một khái niệm mà tác giả cho là khá đầy đủ được Hiệp hội các nhà chuyên nghiệp về quản lý chuỗi cung ứng (Council of Supply Chain Management Professionals - CSCMP), được đưa ra là: Quản lý chuỗi cung ứng là quá trình lập kế hoạch và quản lý tất cả các hoạt động liên quan đến tìm nguồn cung ứng và mua sắm, chuyển đổi và tất cả các hoạt động quản lý logistics Điều quan trọng là nó bao gồm sự phối hợp và hợp tác với các kênh đối tác, đó có thể là những nhà cung cấp, các bên trung gian, bên cung cấp dịch vụ thứ ba và khách hàng.6
Đây là một quan điểm tích hợp, thể hiện sự tiến hóa của chuỗi cung ứng trong nhiều năm qua Hoàn cảnh ra đời của khái niệm này là vào đầu những năm 1960, khi các nhà quản lý vận tải nghiên cứu và nhận thấy rằng các quyết định về vận tải
có ảnh hướng đến những hoạt động khác của doanh nghiệp, đặc biệt là quản lý tồn kho và sản xuất Và khái niệm quản lý logistics đã thể hiện được việc phân tích đánh đổi giữa tồn kho và vận tải Đỉnh điểm là vào những năm 1990, sự quan tâm đặc biệt đối với quy trình tích hợp được gói gọn trong cái tên “quản lý chuỗi cung ứng” Trong khi logistics vẫn được coi là như là một phòng ban riêng rẽ, tập trung chủ yếu vào phân phối thành phẩm đến khách hàng, thì quản lý chuỗi cung ứng đòi hỏi logistics phải phối hợp với cả nguồn cung đầu vào (inbound supply – cung cấp nguyên vật liệu đầu vào) để giảm thiểu sự tắc nghẽn và tối đa hóa lợi ích Do đó, quản lý chuỗi cung ứng ảnh hưởng tất cả các bộ phận khác trong doanh nghiệp
5 The coordinated set of techniques to plan and execute all steps in the global network used to acquire raw materials from vendors, transform them into finished goods, and deliver both goods and services to customers
6 The planning and management of all activities involved in sourcing and procurement, conversion and all logistics management activities Importantly, it also includes coordination and collaboration with channel partners, which can be suppliers, intermediaries, third-party service providers and customers
Trang 21Tính nhất quán giữa các định nghĩa này là việc phối hợp hoặc tích hợp các hoạt động liên quan đến hàng hoá và dịch vụ giữa các bên tham gia chuỗi cung ứng
để nâng cao hiệu quả hoạt động, chất lượng và dịch vụ khách hàng Do đó, để quản
lý chuỗi cung ứng một cách hiệu quả, các bộ phận phải cùng nhau phối hợp bằng cách chia sẻ thông tin như dự báo nhu cầu, kế hoạch sản xuất, thay đổi công suất, chiến lược tiếp thị mới, phát triển sản phẩm và dịch vụ mới, và bất cứ điều gì khác ảnh hưởng đến kế hoạch thu mua, sản xuất và phân phối của công ty
Về lý thuyết, các chuỗi cung ứng hoạt động như một đơn vị cạnh tranh đơn lẻ, hoàn thành những gì mà nhiều công ty lớn đã cố gắng nhưng không thành công Sự khác biệt là các công ty độc lập trong một chuỗi cung ứng tương đối tự do để tham gia hoặc tách rời khỏi mối quan hệ chuỗi cung ứng, nếu các mối quan hệ này không còn mang lại lợi ích cho họ; việc xây dựng liên minh thị trường tự do cho phép các chuỗi cung ứng vận hành hiệu quả hơn các nhóm tích hợp theo chiều dọc
1.1.2 Tổng quan lịch sử phát triển của chuỗi cung ứng
Sự xuất hiện của quản lý chuỗi cung ứng ban đầu chỉ là việc liên kết sự vận chuyển và logistics với sự thu mua hàng hóa, tất cả được gọi chung là quá trình thu mua hàng hóa Quá trình hợp nhất ban đầu này sớm mở rộng ra lĩnh vực phân phối
và logistics cho khách hàng tiêu dùng cuối cùng Các công ty sản xuất bắt đầu tích hợp chức năng quản lý nguyên liệu vào những quy trình này Từ đó, chuỗi cung ứng ngày càng chiếm vai trò quan trọng trong các doanh nghiệp Quản lý chuỗi cung ứng gắn liến với hầu như tất cả các hoạt động của doanh nghiệp: từ việc hoạch định
và quản lý quá trình tìm nguồn hàng, thu mua, sản xuất thành phẩm từ nguyên liệu thô, quản lý hậu cần… đến việc phối hợp với các đối tác, nhà cung cấp, các kênh trung gian, nhà cung cấp dịch vụ và khách hàng
Trong những năm 1950 và 1960, khái niệm chuỗi cung ứng chưa được biết đến, và trong giai đoạn này, các sản phẩm mới phát triển một cách chậm chạp và chỉ tính theo công nghệ và năng lực của riêng công ty Hàng tồn kho giúp giảm bớt nút thắt cổ chai trong vận hành để duy trì dây chuyền cân bằng thấp, dẫn đến đầu tư khổng lồ vào lượng tồn kho hàng đang trong quá trình sản xuất (work in process-
Trang 22WIP) (Tan, 2001) Hơn nữa, các vấn đề quan tâm đến việc mua sắm đã bị các nhà quản lý bỏ quên vào thời điểm đó, vì việc mua hàng chỉ được coi là một dịch vụ cho sản xuất (Famer, 1997) Tăng sản lượng là mục tiêu chính của giai đoạn này; các doanh nghiệp ít chú trọng đến mối quan hệ đối tác và hợp tác với nhà cung cấp Trong những năm 1980 và đầu những năm 1990, các công ty đã phải đối mặt với nhu cầu ngày càng tăng về "dịch vụ logistics tốt hơn, nhanh hơn, rẻ hơn" Kết quả là, nhiều nhà sản xuất đã chuyển sang thuê ngoài hoạt động logistics và chỉ tập trung và chuyên môn và năng lực cốt lõi (Daugherty, 2011) Theo Daugherty (2011), các chuyên gia đã đưa ra một phương pháp kinh tế khả thi để đạt được năng suất và hiệu quả Vì vậy, nhiều nhà sản xuất đã chú trọng hơn về cách tiếp cận theo định hướng mối quan hệ với nhà cung cấp và khách hàng của họ Họ hiểu được lợi ích từ mối quan hệ hợp tác với công ty khác ở các cấp độ chuỗi khác nhau (Stank et
al, 1999) Stank và cộng sự (1999) đã trình bày trong bài báo về một số lợi thế và lợi ích mà mối quan hệ hợp tác này mang lại đã đạt được: thông qua sự chia sẻ kinh nghiệm và nguồn lực, hoạch định và hỗ trợ tốt hơn, trao đổi thông tin và giải quyết vấn đề chung Một lý do khác ảnh hưởng đến quan hệ đối tác giữa người mua - nhà cung cấp là sự cạnh tranh toàn cầu đang gia tăng (Tan, 2001)
Xu hướng của sự tiến hóa trong chuỗi cung ứng là sự chuyển hướng tới các mối quan hệ nhà cung cấp xuyên biên giới quốc gia và đi vào các lục địa khác (Movahedi và cộng sự, 2009) Chuỗi cung ứng toàn cầu là khái niệm mới nhất được giới thiệu trong tài liệu của chuỗi cung ứng Các công ty đã phát triển lớn hơn nhiều
so với trước đây, họ đạt được tính kinh tế theo quy mô và với việc thành lập các chính sách tự do hóa thương mại, họ đang quốc tế hoá các hoạt động kinh doanh để tìm nguồn đầu vào thấp nhất và thị trường đang phát triển để bán sản phẩm của mình Khái niệm chuỗi cung ứng không đủ hiệu quả để cạnh tranh trong môi trường mới, vì vậy các khái niệm và chiến lược quản lý mới (như Chuỗi cung ứng toàn cầu) đang nổi lên Một chuỗi cung ứng tích hợp mang lại lợi thế cạnh tranh đáng kể cho các cá nhân tham gia vào chuỗi Trong nền kinh tế phát triển, đang có sự chuyển đổi từ cạnh tranh công ty sang cạnh tranh chuỗi (Koh và cộng sự, năm 2007, Lummus và cộng sự, 1998, Morgan và Monczka, 1996, Anderson and Katz, 1998)
Trang 23Một số tác giả phân chia sự phát triển của quản lý chuỗi cung ứng thành nhiều giai đoạn (Movahedi et al, 2009, Ballou, 2007) Movahedi và cộng sự, (2009) chia lịch sử phát triển của chuỗi cung ứng thành ba giai đoạn:
- Thời kỳ sáng tạo – Creation era, bắt đầu (những năm 1980) khi người mua - nhà cung cấp hiểu được lợi ích mà mối quan hệ hợp tác mang lại Trong thời kỳ này, lần đầu tiên chúng ta bắt gặp thuật ngữ chuỗi cung ứng
- Thời kỳ hội nhập – Integration era, bắt đầu (những năm 1990), các hệ thống CNTT (ERP, EDI, …) được giới thiệu Các hệ thống này không chỉ tập trung vào việc quản lý các nguồn lực của từng công ty mà còn là nguồn lực của chuỗi cung ứng tích hợp
- Thời kỳ toàn cầu hoá – Globalisation era bắt đầu với việc thiết lập các chính sách tự do hóa thương mại và thành lập các tổ chức như Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và các tổ chức quốc tế khác để giải quyết các chính sách thương mại toàn cầu / khu vực
Hình 1-1: Sự phát triển của chuỗi cung ứng
(Nguồn: Ballou, 2007)
Trang 24Như trong Hình 1-1, trong giai đoạn đầu, các hoạt động (từ mua nguyên liệu đến thành phẩm thành thềm của người bán lẻ) bị phân mảnh, không có bất kỳ sự liên kết nào Do đó, chi phí của thành phẩm (chi phí vận chuyển, chi phí hàng tồn kho, …) là rất cao Trong giai đoạn thứ hai, có thể nhận thấy có một số liên kết nhỏ giữa các hoạt động nhưng vẫn chưa được tích hợp đầy đủ Chuỗi cung ứng 2000+ là giai đoạn cuối cùng mà tất cả các hoạt động được tích hợp đầy đủ dẫn đến giảm chi phí, rút ngắn quy trình phát triển sản phẩm mới, luồng thông tin tốt hơn, cải thiện dòng tiền, đáp ứng yêu cầu của khách hàng nhanh hơn và giành được sự hài lòng của khách hàng Từ đó cho thấy rằng sự hài lòng của khách hàng chính là một trong những yếu tố thúc đẩy chính quá trình phát triển của chuỗi cung ứng
1.1.3 Vai trò của chuỗi cung ứng đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Quản lý chuỗi cung ứng là một phần không tách rời của hầu hết các doanh nghiệp và rất cần thiết cho sự thành công của công ty và sự hài lòng của khách hàng
1.1.3.1 Tăng hiệu quả dịch vụ khách hàng
Khách hàng luôn mong đợi nhận được sản phẩm với số lượng chính xác, luôn
có sẵn ở đúng địa điểm, được giao đúng thời gian và được hưởng các dịch vụ hỗ trợ sau bán hàng
1.1.3.2 Giảm thiểu chi phí vận hành
- Giảm chi phí mua hàng: Các nhà bán lẻ phụ thuộc vào chuỗi cung ứng để nhanh chóng chuyển đi các sản phẩm đắt tiền để tránh tồn trữ hàng tồn kho trong các cửa hàng lâu hơn mức cần thiết
- Giảm chi phí sản xuất: Các nhà sản xuất phụ thuộc vào chuỗi cung ứng để vận chuyển nguyên liệu cho các nhà máy lắp ráp để tránh tình trạng thiếu hụt nguyên liệu dẫn đến ngừng sản xuất
- Giảm tổng chi phí chuỗi cung ứng: Các nhà sản xuất và nhà bán lẻ phụ thuộc vào các nhà quản lý chuỗi cung ứng để thiết kế các mạng lưới đáp ứng nhu cầu
Trang 25khách hàng với tổng chi phí tối thiểu Chuỗi cung ứng hiệu quả cho phép một công
ty có thể cạnh tranh tốt hơn trên thị trường
1.1.3.3 Tăng hiệu suất hoạt động của doanh nghiệp
Có thể dễ dàng nhìn thấy tại sao quản lý chuỗi cung ứng đang ngày càng trở nên phổ biến trên thế giới đặc biệt là các nước phát triển Một chuỗi cung ứng tốt mang lại một sự thống nhất nhất định trong công ty Bên cạnh đó, chuỗi cung ứng còn giúp vận dụng tối đa khả năng của máy móc, con người làm tăng hiệu quả hoạt động Một sự chậm chễ về nguồn nguyên liệu có thể dẫn đến việc cơ sở sản xuất phải dừng lại và kéo theo luôn là không có hàng hóa để bị phận vận chuyển đưa đến tay người tiêu dùng Chính vì vậy việc quản lý tốt chuỗi cung ứng sẽ giúp doanh nghiệp luôn hoạt động trơn chu, tăng cả về hiệu suất lẫn hiệu quả hoạt động
1.1.3.4 Tăng vị thế tài chính của doanh nghiệp
- Tăng đòn bẩy lợi nhuận: Các công ty đánh giá cao các nhà quản lý chuỗi cung ứng bởi vì họ giúp kiểm soát và giảm chi phí chuỗi cung ứng Điều này có thể dẫn đến sự gia tăng đáng kể lợi nhuận của công ty
- Giảm tài sản cố định: Các công ty đánh giá cao các nhà quản lý chuỗi cung ứng bởi vì họ giảm việc sử dụng các tài sản cố định lớn như nhà máy, kho hàng và phương tiện vận tải trong chuỗi cung ứng Nếu các chuyên gia trong chuỗi cung ứng
có thể thiết kế lại mạng lưới để phục vụ đúng khách hàng Mỹ từ sáu kho chứ không phải mười kho, công ty sẽ tránh được việc phải xây dựng thêm bốn tòa nhà với chi phí đắt đỏ
- Tăng dòng tiền: Các công ty đánh giá cao các nhà quản lý chuỗi cung ứng bởi vì họ đẩy nhanh luồng sản phẩm cho khách hàng Ví dụ: Nếu một công ty có thể thực hiện và phân phối sản phẩm cho khách hàng trong 10 ngày thay vì 70 ngày, thì công ty có thể lập hoá đơn cho khách hàng sớm hơn 60 ngày (Council of Supply Chain Management Professionals, 2001)
1.1.4 Phân loại chuỗi cung ứng
1.1.4.1 Theo đặc tính của sản phẩm
Theo Taylor (2004) có thể chia chuỗi cung ứng thành hai loại:
Trang 26− Chuỗi có sản phẩm mang tính cải tiến (Innovative Supply Chain): Đây là
chuỗi cung ứng dành cho các sản phẩm có sự thay đổi liên tục trên thị trường (ví dụ như các loại chip, phầnimềm tin học, đồ gỗ, ) Đặc điểm nổi bật của loại chuỗi này
là luồng thông tiniđược chia sẻitốt, thời gian đápiứng rấtinhanh, tốc độ quaichuỗi lớn, vòng đời sản phẩm ngắn, và mức độ tồn kho ít.
− Chuỗi có sản phẩm mang tính chức năng (Functional Supply Chain): Các
sản phẩm trong chuỗi này có đặc tính ít thay đổi, nhu cầu thị trường ít biến động (như lương thực, thựciphẩm, sản phẩm nông nghiệp ) Để tăng tính hiệu suất hoạt độngicủa chuỗi, nênitìm cách giảmichi phí trong sảnixuất, vận chuyểnivà giao dịch Quảnilý chuỗi cung ứng chú trọng tớiiviệc giảm tồnikho, và tăng chiaisẻ thông tin giữaicác thành viênivới nhau (Taylor, 2004)
1.1.4.2 Theo cách thức đưa sản phẩm ra thị trường
− Chuỗi đẩy (Push Supply Chain): Sản phẩmiđược sản xuấtidạng tồn kho, sảnixuất song song vớiiviệc tìm kiếm thịitrường tiêu thụ Cácinhà quản lýicố gắng đẩy sảniphẩm ra khỏi khoicủa mình đến công đoạn tiếp theoitrong kênh phân phối Đến lượt các công đoạn này lại cố gắng đẩy nó về phía gần khách hàngihơn Quyền lựcinằm trong tayinhà cung cấp, họicó nhiều vịithế trong đàmiphán về giáicả, đặc biệt đốiivới các sảniphẩm mới Khách hàngikhông có nhiềuicơ hội chọn lựa
− Chuỗi kéo (Pull Supplyi Chain): Sản phẩmixuất phát từinhu cầu củaikhách hàng trênithị trường, họitìm kiếm cácinhà sản xuấticó thể đáp ứnginhu cầu củaihọ Các nhà sản xuất lại đi tìm kiếm những nhà thầu phụ, hoặc nhà cung cấp khác có đủ năng lực để giúp họ hoàn thànhithương vụ vàiquá trình cứ thếilặp lại, chuỗi cungiứng đượcihình thành Khách hàngicó cơ hội chọnilựa những nhàicung cấp mà
họicảm nhận giáitrị sản phẩmilà tốt nhất
1.1.4.3 Theo hoạt động của chuỗi cung ứng
- Chuỗi cung ứng tinh gọn: Loại chuỗi cung ứng này tập trung vào các sản
phẩm tiêu chuẩn và các thị trường hiện tại và khả năng cung ứng thị trường để họ sẽ tiến hành các hoạt động dẫn đến tinh gọn toàn bộ hoạt động trong chuỗi cung ứng Các quy trình quan trọng nhất trong loại chuỗi cung ứng này là quản lý lượng sản
Trang 27xuất, quá trình logistics và quản lý mối quan hệ nhà cung cấp cũng như quá trình mua sắm Trong loại chuỗi cung ứng này, các điểm tách (decoupling point) và các hoạt động hoãn lại (postponement) sẽ được đặt ở đoạn càng cuối của chuỗi cung ứng càng nhiều càng tốt Trong ngành công nghiệp ô tô, các công ty như VW, Renault, Tata Motors và Hyundai đã có chuỗi cung ứng như vậy
- Chuỗi cung ứng định hướng khách hàng: Loại chuỗi cung ứng này tập trung
vào các sản phẩm tương đối sáng tạo và theo Tan và cộng sự, (1999) nó có thể tùy chỉnh và xuất hiện tại một số thị trường mới Trong phạm năng lực, họ sẽ tập trung nguồn lực vào các hoạt động bán hàng và tiếp thị Các quy trình quan trọng nhất đối với loại chuỗi cung ứng này là quản lý mối quan hệ và dịch vụ khách hàng, phát triển sản phẩm và thương mại hóa sản phẩm Điểm tách (decoupling point) và các hoạt động hoãn lại (postponement) sẽ được đặt ở giữa chuỗi cung ứng Trong ngành công nghiệp ô tô, các công ty như Daimler, BMW và Audi đã có chuỗi cung ứng như vậy
- Chuỗi cung ứng cải tiến: Loại chuỗi cung ứng này xét đến các loại sản phẩm
sáng tạo nhất tại các thị trường mới nhất Về mặt năng lực, họ sẽ đầu tư hầu hết các nguồn lực và khả năng của mình vào hoạt động nghiên cứu và phát triển hoạt động Các quá trình quan trọng nhất cho loại chuỗi cung ứng này là phát triển và thương mại hóa sản phẩm, và quản lý dịch vụ và mối quan hệ với khách hàng Điểm tách (decoupling point) và các hoạt động hoãn lại (postponement) càng được đặt sát ở giai đoạn đầu của chuỗi cung ứng càng nhiều càng tốt Trong ngành công nghiệp ô
tô, các công ty như xe thương mại của Daimler, phân chia Hybrid của Toyota, BMW, và Porsche đã có chuỗi cung ứng như vậy
1.2 Cấu trúc và hoạt động chuỗi cung ứng
1.2.1 Cấu trúc chuỗi cung ứng
Một chuỗi cung ứng đơn giản nhất bao gồm các nhà cung cấp, công ty (doanh nghiệp) và khách hàng cuối (Anh, 2010) Bên cạnh đó, chuỗi cung ứng mở rộng chia ra làm ba loại đối tượng như sau:
Trang 28- Loại thứ nhất: Nhà cung cấp của nhà cung cấp hay là nhà cung cấp cuối cùng
sẽ ở vị trí bắt đầu của chuỗi cung ứng mở rộng
- Loại thứ hai: Khách hàng của khách hàng hay là khách hàng cuối cùng sẽ ở
vị trí kết thúc của chuỗi cung ứng mở rộng
- Loại thứ ba: Tổng thể các cônguty cung cấp dịchuvụ cho những cônguty khác trong chuỗiucung ứng Đâyulà các cônguty cung cấp các dịch vụ như logistics, tài chính, marketing và CNTT
Chuỗi cung ứng có thể là sự kết hợp của một vài công ty có chức năng hoạt động khác nhau Trong đó có nhà sản xuất, nhàiphân phối, nhàibán lẻ vàukhách hàng (cá nhân hoặc doanh nghiệp), nhà cung cấp dịch vụ Những công tyuthứ cấp này sẽ lại có nhiều cônguty khác nhau để cung cấp những dịch vụ cần thiết
1.2.1.1 Nhà sản xuất
Nhà sản xuất là đơn vị tổ chức sản xuất sản phẩm.uNhà sản xuất gồm những công ty sản xuấtunguyên vật liệuuvà công ty sảnuxuất thành phẩm.uCác nhà sản xuấtunguyên vật liệuunhư khai thácukhoáng sản, khoanutìm dầu khí,ucưa gỗ hoặc
có thể là tổ chức trồngutrọt, chăn nuôiuhay đánh bắt thuỷuhải sản Tiếp đến là nhà sản xuấtuthành phẩm, họ có vai trò kết hợp và chế biến nguyên vật liệu cũng như các bộ phận lắp ráp để hoàn thiện sản phẩm
1.2.1.2 Nhà phân phối
Nhà phân phối là những doanh nghiệp mua hàng và để tồn kho số lượng lớn
từunhà sản xuất và có vai trò phân phối sản phẩmuđến với khách hàng Nhà phân phối bánisản phẩm cho nhữnginhà kinh doanhikhác với số lượng lớnihơn so với kháchihàng mua lẻ Để đề phòng những biến động có thể xảy ra đối với nhu cầu sản phẩm, nhàiphân phối thường tồn trữ một lượng hàng hóa để thực hiện bán và phục
vụ nhu cầu khách hàng
Nhà phân phối điển hìnhilà tổ chức sở hữu nhiềuisản phẩm tồn khoimua từ nhà sảnixuất và bánilại cho người tiêuidùng Ngoài các chương trình khuyến mãi sản phẩm và bán hàng, nhà phân phối còn phải thực hiện các hoạt động khác như
Trang 29quản lý tồn kho, vận hànhicửa hàng, vận chuyểnisản phẩm cũnginhư chăm sóc kháchihàng
1.2.1.3 Nhà bán lẻ
Nhà bán lẻ thường tồn trữ hàng hóa và bán lại cho khách hàngivới số lượng nhỏ hơn nhà phân phối Nhà bán lẻ cũng cần nắm bắt ý kiến và nhu cầu của khách hàng một cách chi tiết trong khi bán hàng Do nỗ lựcichính là thu hút ikhách hàng đốiivới những sảniphẩm mình bán, nhà bán lẻ thường quảng cáo và sử dụng một số
kỹ thuật kết hợp về giá cả, sự lựa chọn và sự tiện dụng của sản phẩm
1.2.1.4 Khách hàng
Khách hàng hayingười tiêu dùng có thể là cá nhân, hoặc tổ chức mua và
sửidụng sản phẩm.iKhách hàng là tổichức có thể muaimột sản phẩm đểikết hợp với sản phẩm khác rồi bán chúng cho khách hàng khác là người sử dụng sản phẩm sau/ mua sản phẩm về tiêu dùng
1.2.1.5 Nhà cung cấp dịch vụ
Đây là những đơn vị cung cấp dịchivụ cho nhà sảnixuất, nhà phâniphối, nhà bán lẻivà khách hàng.iNhà cung cấp dịchivụ có những chuyênimôn và kỹ năngiđặc biệt ở mộtihoạt động riêngibiệt trong chuỗiicung ứng Chính vìisự chuyên môn hóa,
họ có thểithựcihiện nhữngidịchivụ này hiệuiquả hơn và vớiimức giá tốt hơn nhiều
so với việc để nhà sản xuất,inhà phân phối,inhà bán lẻ hayingười tiêu dùng tự làm điều này
Trong bất kỳ chuỗi cung ứng nào, nhà cung cấp dịch vụ phổ biến nhất là cung cấp dịch vụ vận tải và dịch vụ nhà kho Đây là các công ty xe tải và công ty kho hàng và thường được biết đến là nhà cung cấp dịch vụ logistics – hậu cần
Nhà cung cấp dịch ivụ tài chính cungicấp các dịch vụ về tài chính như cho vay, phân tích tín dụng và thu cácikhoản nợ đáo hạn.iĐó chính là ngânihàng, công
ty địnhigiá tín dụng vàicông ty thu nợ
Một số nhà cung cấp khác thực hiện nghiênicứu thị trường, quảngicáo, thiết kế sảniphẩm, dịch vụ kỹithuật, dịch vụ phápilý và tư vấniquản lý
Trang 301.2.2 Hoạt động quản lý chuỗi cung ứng
1.2.2.1 Quản lý nguồn cung
Chiến lược mua bán truyền thống nhấn mạnh tầm quan trọng của việc sử dụng nhiều nhà cung cấp, đấu thầu cạnh tranh và hợp đồng ngắn hạn Điều này thường tạo ra mối quan hệ đối nghịch hệ giữa người mua và nhà cung cấp – họ chủ yếu tập trung vào giá mua của sản phẩm thay vì khả năng và những đóng góp của nhà cung cấp đối với sự phát triển của doanh nghiệp trong dài hạn Quản lý nguồn cung hiệu quả nhìn chung có thể tạo ra nền tảng, từ đó phát triển các mối quan hệ cung cấp lâu dài hơn để đạt được những lợi ích cạnh tranh cho doanh nghiệp Mua hàng và các khái niệm chiến lược về quản lý nguồn cung là một trong những nền tảng của quản
lý chuỗi cung ứng vì chất lượng vật liệu đầu vào, thời gian giao hàng và giá mua bị ảnh hưởng bởi mối quan hệ giữa người mua - nhà cung cấp và khả năng của nhà cung cấp
Một trong những vấn đề quan trọng nhất trong quản lý nguồn cung là quản lý nhà cung cấp Điều này đơn giản có nghĩa là khuyến khích hoặc giúp đỡ các nhà cung cấp của công ty để họ triển khai công việc theo mong muốn, và có rất nhiều cách để giải quyết vấn đề này Nó liên quan đến việc đánh giá năng lực hiện tại của nhà cung cấp và sau đó quyết định xem liệu chúng có cần cải thiện hay không Do
đó, một trong những hoạt động chính trong quản lý nhà cung cấp là đánh giá nhà cung cấp, hoặc xác định năng lực hiện tại của nhà cung cấp Điều này xảy ra trong trường hợp khi các nhà cung cấp tiềm năng đang được đánh giá để hợp tác lâu dài trong tương lai, và khi các nhà cung cấp hiện tại được đánh giá định kỳ Chứng này giúp bên mua xác định được ứng các yêu cầu về chất lượng và dịch vụ nhất định mà nhà cung cấp phải đáp ứng, từ đó giảm thiểu các bước kiểm tra trùng lặp (Wisner,
et al., 2012)
1.2.2.2 Quản lý vận hành
Khi vật liệu, các thành phần và các sản phẩm đầu vào khác được chuyển đến cũng là lúc bộ phận vận hành trở nên quan trọng với vô số các hoạt động vận hành nội bộ Việc lắp ráp và hoàn thiện sản phẩm phải được tuân thủ nghiêm ngặt, đảm
Trang 31bảo đúng số lượng, chất lượng, chi phí và dịch vụ chăm sóc khách hàng phải được đặt lên hàng đầu Sau quản lý nguồn cung thì quản lý vận hành là thành tố thứ hai được coi là nền tảng của quản lý chuỗi cung ứng
Trong suốt năm tài chính, doanh nghiệp có thể lên được dự báo tương đối chính xác tình hình hoạt động trong năm tới dựa trên số liệu nhu cầu của khách hàng từ những năm trước đó, và sử dụng phương pháp tiên đoán để lên kế hoạch sản xuất hàng tuần, hàng tháng Nếu doanh số không đạt được như dự báo, số thành phẩm còn lại sẽ được cho vào tồn kho Để tối thiểu hoá chi phí, doanh nghiệp thường dựa trên chiến lược quản lý nhu cầu, nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu về năng lực sẵn có bằng cách cải thiện kế hoạch sản xuất, giảm nhu cầu, sử dụng hệ thống đặt hàng sau hoặc nâng cao năng lực hoạt động
Kiểm soát hoặc quản lý hàng tồn kho là một trong những khía cạnh quan trọng nhất của hoạt động này và đây chắc chắn là giai đoạn tăng giá trị cho công ty Các công ty thường có một số loại hệ thống phần mềm lập kế hoạch yêu cầu nguyên vật liệu (Material requirements planning - MRP) để quản lý lượng hàng tồn kho Hệ thống này có thể được liên kết trong toàn bộ tổ chức và các đối tác của chuỗi cung ứng sử dụng các hệ thống lập kế hoạch nguồn cho doanh nghiệp (Enterprise resource planning – ERP), cung cấp dữ liệu bán hàng, thông tin tồn kho và sản xuất theo thời gian thực cho tất cả các đơn vị trong doanh nghiệp Phương thức đặt hàng
và tầm soát tồn kho này có thể được mở rộng thêm, hỗ trợ chuỗi cung ứng, giảm thiểu tình trạng thiếu hàng hoặc dư thừa tồn kho quá nhiều (Wisner, et al., 2012)
1.2.2.3 Quản lý Logistics
Để đưa ra quyết định về logistics, nhà hoạch định cần có sự cân bằng giữa chi phí và thời gian cung cấp hoặc dịch vụ khách hàng Ví dụ, phương thức vận tải (xe tải) thường đắt hơn so với vận tải đường sắt nhưng có tính linh hoạt và tốc độ nhanh hơn, đặc biệt là các tuyến ngắn Phương thức hàng không là đắt nhất nhưng nhanh hơn bất kỳ phương thức vận tải nào khác Đường thuỷ luôn là phương thức chậm nhất nhưng cũng tiết kiệm chi phí nhất Cuối cùng, vận chuyển đường ống được sử dụng để vận chuyển dầu, nước, khí tự nhiên và bùn than Nhiều dịch vụ vận tải cung
Trang 32cấp các phương thức kết hợp khác nhau, cũng như các dịch vụ kho bãi và thanh toán hải quan Trong một chuỗi cung ứng tích hợp điển hình với tiêu chuẩn JIT, các dịch
vụ logistics bên thứ ba, hoặc 3PLs, là yếu tố quyết định đến sự thành công chung của chuỗi cung ứng Trong nhiều trường hợp, các dịch vụ logistics được coi là chiếc chìa khoá vàng tạo nên giá trị quan trọng cho chuỗi cung ứng
Mục tiêu hướng đến của bộ phận quản lý logistics là nâng cao chất lượng dịch
vụ khách hàng ngày càng tốt hơn Để thực hiện được điều đó, các công ty phải xác định chính xác yêu cầu của khách hàng và có sự kết hợp đúng đắn giữa dịch vụ vận chuyển, kho bãi, đóng gói và các dịch vụ thông tin để đáp ứng được các yêu cầu đó
Từ góc độ quản lý chuỗi cung ứng, các hoạt động đối với khách hàng càng có ý nghĩa quan trọng, vì việc cung cấp hàng hoá đến tay người tiêu dùng thứ hai, thứ ba
và cuối cùng đều phụ thuộc vào hiệu quả logistics ở từng giai đoạn trong chuỗi cung ứng
Thiết lập và tạo dựng một mạng lưới phân phối là phương pháp đảm bảo phân phối thành công sản phẩm Một lần nữa, đây là sự cân bằng điển hình giữa chi phí thiết lập mạng lưới phân phối và dịch vụ khách hàng
Khi các công ty hoạt động trên phạm vi toàn cầu, chuỗi cung ứng cũng trở nên phức tạp hơn, nhà quản lý phải đưa ra các quyết định mang tính toàn cầu, một khía cạnh cần thiết trong quản lý chuỗi cung ứng Một số lợi thế bao gồm thị trường lớn hơn cho các sản phẩm; tính kinh tế theo quy mô trong việc mua và sản xuất; chi phí lao động thấp; tập hợp các nhà cung cấp chất lượng cao có tiềm năng Một số rủi ro bao gồm biến động tỷ giá hối đoái ảnh hưởng đến sản xuất, lưu kho và mua bán và giá cả hoặc hoạt động tiếp xúc; can thiệp của chính phủ hoặc bất ổn định trong chính trị gây ra gián đoạn cung cấp, liên quan đến an ninh và thay đổi cơ chế trong trợ cấp, thuế quan và thuế; và cuối cùng là xác định không chính xác nhu cầu của khách hàng nước ngoài và đánh giá của khách hàng đối với sản phẩm (Wisner, et al., 2012)
Trang 331.2.2.4 Quản lý tích hợp
Sự kết hợp khi giữa các quy trình trong chuỗi cung ứng để đưa ra quyết định
về nhập hàng, lượng hàng tồn kho, sản xuất, chất lượng và logistics ảnh hưởng đến lợi nhuận tổng thể của chuỗi cung ứng được gọi là quy trình tích hợp Nếu một hoạt động chính thất bại hoặc được thực hiện kém, thì dòng chảy hàng hoá di chuyển dọc theo chuỗi cung ứng sẽ bị gián đoạn, gây nguy hiểm cho hiệu quả của toàn bộ chuỗi cung ứng Quy trình tích hợp chuỗi cung ứng thành công khi tất cả các bộ phận tham gia nhận ra rằng việc quản lý chuỗi cung ứng chỉ thực sự hiệu quả khi nó là một phần của quá trình lập kế hoạch chiến lược của công ty, với mục tiêu và chính sách cùng xác định dựa trên nhu cầu của khách hàng cuối và mức độ đáp ứng của chuỗi cung ứng
Cuối cùng, doanh nghiệp cùng hành động để đạt tối đa hóa lợi nhuận chuỗi cung ứng bằng cách xác định số lượng mua tối ưu, số lượng sản phẩm, mức độ dịch
vụ, thời gian sản xuất, số lượng sản xuất, sử dụng công nghệ và hỗ trợ sản phẩm ở từng cấp trong chuỗi cung ứng Quá trình tích hợp này cũng đòi hỏi mức độ tích hợp nội bộ cao của các từng bộ phận tham gia, như vậy chuỗi cung ứng mới có thể hoạt động như một thực thể
Một vấn đề tích hợp khác là sử dụng hệ thống đo lường hiệu quả chuỗi cung ứng Các phép đo hiệu suất được sử dụng trong chuỗi cung ứng để giúp các công ty theo dõi việc quản lý và các hoạt động liên quan đến chuỗi cung ứng Các phép đo hiệu suất giúp công ty đưa ra quyết định giá trị của các chiến thuật này và cần phát triển hiệu quả các giai đoạn nhập hàng, hoạt động sản xuất, logistics và tích hợp (Wisner, et al., 2012)
1.2.3 Nguyên tắc quản lý chuỗi cung ứng
Để cân bằng nhu cầu của khách hàng với tăng trưởng sinh lợi, nhiều doanh nghiệp đã đẩy mạnh quá trình quản lý chuỗi cung ứng Những nỗ lực này được thể hiện qua bảy nguyên tắc quản lý chuỗi cung ứng mà Anderson đã đề cập đến dưới đây
Trang 341.2.3.1 Nguyên tắc 1- Phân khúc khách hàng dựa trên nhu cầu
Việc phân chia khách hàng theo từng nhu cầu là vô cùng cần thiết do không phải tất cả khách hàng đều có khả năng, nhu cầu tài chính và sẵn sàng chi trả một mức chi phí như nhau Việc phân khúc khách hàng theo nhu cầu buộc doanh nghiệp phải nghiên cứu kỹ nhu cầu khách hàng, cũng như phân tích khả năng sinh lời đối với từng phân khúc, sau đó tính toán chi phí, lợi ích và triển khai các dịch vụ chuyên biệt kèm theo từng phân khúc và áp dụng phương thức quản lý chuỗi cung ứng phù hợp nhằm phục vụ cho từng phân khúc hiệu quả
1.2.3.2 Nguyên tắc 2 - Cá biệt hóa mạng lưới logistics
Trong nguyên tắc này,iviệc tùy chỉnhimột cách hiệuiquả mạng lướiilogistics sẽ giúp đápiứng các yêuicầu về dịch vụ cũnginhư mục tiêu lợiinhuận Doanh nghiệpicần hoàn thiện quyitrình xử lý hoàn chỉnhiđơn hàng từ lúcitiếp nhận yêu cầuikhách hàng tớiikhi thu tiền
1.2.3.3 Nguyên tắc 3 - Lắng nghe những dấu hiệu của thị trường nhằm lên kế hoạch phù hợp
Để việc quản lý đạtiđược hiệu quảiđòi hỏi các bênitham gia phảiiquan sát, cập nhật các thôngitin, phân tích, đưaira dự báo về nhuicầu của thịitrường, khách hàng
để đưa ra các điều chỉnh phù hợp nhằm giảm thiểu rủi ro tiềm tàng, giảmilượng tồn kho, hạnichế tình trạngithiếu hàng vàicung cấp hàngihóa đáp ứnginhu cầu kháchihàng một cáchikịp thời Việc chia sẻithông tin giữa nhàisản xuất, phân phốiivà cung cấp làirất quan trọng trongiviệc đưa ra các quyết định điều chỉnh
1.2.3.4 Nguyên tắc 4 - Khác biệt hóa sản phẩm đến gần hơn với khách hàng
Nhà sản xuấticần cải thiệnikhả năng phản ứng nhanh với các dấu hiệu của thị trường bằng cách không ngừng cảiitiến, đổi mới sản phẩm Tuy nhiên, việc cải tiến cũng cần chú trọng tớiinhu cầu củaikhách hàng Nếu DN càng chậm trễ trong việc phân bổ, tùy chỉnh và khác biệt hoá sản phẩm thì chuỗiicung ứng của doanhinghiệp
đó sẽ càng bị trữ lại hàng tồn kho Bên cạnh đó, DN cần chú ý tới thờiigian kích hoạt sảnixuất sản phẩm đápiứng nhu cầu phátisinh của kháchihàng cũng nhưinhững thay đổiitương ứng cầnithiết trong nguyêniliệu và quá trình sản xuất
Trang 351.2.3.5 Nguyên tắc 5 - Tìm kiếm và quản lý nguồn cung hiệu quả để giảm chi phí nguyên liệu và dịch vụ
Việc tìm kiếm nhà cungicấp và quản lý nguồnicung một cách hiệu quả giúp doanh nghiệp giảm thiểu được chi phí nguyên vậtiliệu, thành phẩmicũng như dịch
vụitừ đó tăng lợiithế cạnh tranh củaiDN, giảm giá bán đầu ra của thànhiphẩm, tăng lợiinhuận Vì vậy, cáciDN cần cân nhắc phương thức tiếp cận của mìnhivới nhà cung cấp
1.2.3.6 Nguyên tắc 6 - Phát triển việc ứng dụng công nghệ trong toàn bộ chuỗi cung ứng
Việc ứng dụngicông nghệ trongiquản lý chuỗi cung ứngilà rất cần thiết giúpinhà quản lýicó được cái nhìnitoàn cảnh về chuỗi cungiứng, dòng lưuichuyển hàng hóa, thông tin về sản phẩm, từ đó đưaira các điềuichỉnh, quyếtiđịnh phù hợp
1.2.3.7 Nguyên tắc 7 - Xây dựng và áp dụng các hệ thống thước đo hiệu quả trên nhiều kênh
Việc xây dựngimột hệ thốngiđánh giá hiệu quảilà cần thiết trongiviệc xem xét, cải thiệnihiệu quả của hoạtiđộng quản trị chuỗiicung ứng
Việc vận dụngimột cách hiệu quải7 nguyên tắcinày sẽ giúp doanhinghiệp quản
lý chuỗiicung ứng mộticách hiệu quả, tăngisự hài lòng kháchihàng cũng nhưikhả năng cạnh tranhicủa doanh nghiệp (Anderson, et al., 1997)
1.2.4 Tiêu chí đánh giá chuỗi cung ứng
Hiện nay, có rất nhiều bộ tiêu chí đánh giá hoạt động chuỗi cung ứng được đưa ra dựa trên nhiều khía cạnh và quan điểm khác nhau của mỗi tác giả Tuy nhiên,
bộ tiêu chí đánh giá theo hướng tiếp cận từ các hoạt động của chuỗi cung ứng được coi là tiêu biểu và đơn giản nhất để đánh giá mức độ hiệu quả hoạt động của một chuỗi cung ứng
1.2.4.1 Tổng chi phí quản lý chuỗi cung ứng
Đây là chi phí cho việc xử lý đơn đặt hàng, mua vật liệu, mua nguyên liệu, tuân thủ các quy định về môi trường, quản lý hàng tồn kho, lợi nhuận, quản lý tài
Trang 36chính chuỗi cung ứng, lập kế hoạch và hệ thống thông tin Các công ty cung cấp hàng đầu thường bỏ ra từ 4 -5 % doanh thu cho chi phí quản lý chuỗi cung ứng, trong khi đó mức trung bình của các công ty quy mô vừa rơi vào khoảng 5 - 6%
1.2.4.2 Chu kì Cash-to-cash trong chuỗi cung ứng
Đây là số ngày trung bình tính từ ngày trả tiền mua nguyên liệu đến ngày bán được sản phẩm, đối với các đối tác trong chuỗi cung ứng (tính theo số ngày tồn kho cộng với số ngày bán ra trừ đi thời gian thanh toán trung bình cho nguyên vật liệu) Phương pháp này cho thấy tác động của lượng hàng tồn kho thấp hơn về tốc độ dịch chuyển tiền mặt qua các công ty và chuỗi cung ứng Các công ty hàng đầu trong chuỗi cung ứng có thời gian chu kỳ thanh toán bằng tiền mặt khoảng 30 ngày, ít hơn rất nhiều so với bình quân các công ty có quy mô nhỏ hơn Việc “chậm thanh toán” không được coi là chiến lược khả thi đối với các đối tác thương mại
1.2.4.3 Tính linh hoạt trong chuỗi cung ứng sản phẩm
Thời gian trung bình cần thiết cho từng bộ phận trong chuỗi cung ứng để cung cấp phần sản phẩm không nằm trong kế hoạch Một lợi thế cạnh tranh lớn của chuỗi cung ứng là khả năng phản ứng nhanh trước những cú sốc cầu bất ngờ trong khi vẫn duy trì hoạt động để hoàn thành các mục tiêu tài chính Một thực trạng chung trong chuỗi cung ứng là luôn phải duy trì lượng nguyên vật liệu tồn kho để có thể nhanh chóng đáp ứng nhu cầu gia tăng bất ngờ Đối với những chuỗi cung ứng hoạt động
có hiệu quả tốt, sự linh hoạt trong sản xuất thường từ một đến hai tuần
1.2.4.4 Hiệu suất cung cấp hàng hoá
Hiệu suất cung cấp hàng hoá được thể hiện ở lượng đơn hàng trung bình được hoàn thành đúng hoặc trước thời gian khách hàng yêu cầu Đối với những chuỗi cung ứng hàng đầu, mức độ đáp ứng cung cấp hàng hoá đúng hoặc trước hạn sẽ đạt
từ 94% đến 100% tổng đơn hàng Còn đối với các doanh nghiệp thông thường, mức
độ đáp ứng trung bình là khoảng 70% đến 80% tổng đơn hàng Thao tác cập nhật thời gian cung cấp hàng hoá cho khách hàng là một dịch vụ điện tử phổ biến và cần thiết đối trong chu trình hoạt động của chuỗi cung ứng
Trang 371.2.4.5 Hiệu suất hoàn thành đơn hàng tuyệt đối
Hiệu suất hoàn thành đơn hàng tuyệt đối được thể hiện ở lượng đơn hàng được hoàn thành đúng hạn và không có bất cứ sai sót nào Đây là một tiêu chuẩn đánh giá hiệu suất cung cấp hàng hoá cũng như thể hiện lợi thế cạnh tranh nổi bật của các chuỗi cung ứng hàng đầu và các doanh nghiệp con của họ
1.2.4.6 Hoạt động e-Business trong chuỗi cung ứng
Hoạt động e-Business được thể hiện ở lượng đơn hàng điện tử được khởi tạo
và tiếp nhận Vào năm 1998, chỉ có khoảng 2 phần trăm tổng số đơn hàng trên thế giới đượ tạo qua internet Nhưng đến năm 2007, đại lý cung cấp của Staples đã công
bố họ nhận được rất nhiều đơn hàng điện tử, chiếm đến khoảng 90% tổng đơn hàng Bên cạnh đó, việc xử lý các đơn hàng điện tử có thể tiết kiểm đến 90% chi phí quản
lý đơn hàng truyền thống thông thường Ngày nay, các công ty về chuỗi cung ứng đang đầu tư rất nhiều vào hệ thống nhận đơn hàng điện tử, chiến lược marketing và các hình thức tiếp cận khách hàng khác qua Internet
1.2.4.7 Hoạt động vì môi trường của chuỗi cung ứng
Tỷ lệ số bộ phận trong chuỗi cung ứng đạt chứng nhận ISO 14000; các hoạt động nhằm duy trì sự ổn định và bền vững của môi trường; tỷ lệ trung bình các mục tiêu vì môi trường đã đạt được; số chính sách nhằm giảm khí thải và hiệu ứng nhà kính được thông qua Mặc dù các chỉ số hoạt động này có thể thay đổi tuỳ theo chuỗi cung ứng và ngành công nghiệp, nhưng đây là khởi đầu tốt cho định hướng phát triển vì môi trường cuả chuỗi cung ứng (Wisner, et al., 2012)
1.2.5 Nhân tố tác động đến chuỗi cung ứng
1.2.5.1 Nhân tố bên trong doanh nghiệp
a Mức độ phát triển công nghệ
Chen (2008) đề xuất rằng môi trường công nghệ là một khía cạnh quan trọng của môi trường kinh doanh bên trong doanh nghiệp Nó giúp các công ty xác định nhu cầu về công nghệ, và cập nhật thêm các công nghệ liên quan Phát triển công nghệ (như một yếu tố chính trong môi trường kinh doanh) đã thu hút nhiều sự chú ý
Trang 38đặc biệt trong bối cảnh chuỗi cung ứng (Blankley, 2008, Dawson, 2002, Forrest và Martin, 1990, Kim và cộng sự, 2005, Shayan và Ghotb, 2000) Chuỗi cung ứng ngày càng phụ thuộc nhiều vào công nghệ và nó đóng vai trò quan trọng trong quản
lý chuỗi cung ứng (Schoenthaler, 2003) để giúp chuỗi cung ứng đạt được lợi thế cạnh tranh toàn cầu (Motwani và cộng sự, 2000) và tăng năng suất, lợi nhuận (Dawson, 2002) Công nghệ chỉ đóng vai trò như một công cụ để xây dựng và tăng cường mối quan hệ giữa người mua và người bán (Rudberg và Olhager, 2003) Sự phát triển của nó thúc đẩy các đối tác trong chuỗi cung ứng để cùng tham gia đạt được lợi thế cạnh tranh (Forrest và Martin, 1990) Mức độ sử dụng công nghệ kinh doanh tỉ lệ thuận với mối quan hệ dựa trên lợi ích của người mua và nhà cung cấp (Kim và cộng sự, 2005)
b Mức độ phụ thuộc
Sự phụ thuộc được định nghĩa là khả năng thay thế của doanh nghiệp trên thị trường tương ứng (Corsten và Felde, 2005) Nhận thức về sự phụ thuộc là một thước đo quan trọng của mối quan hệ giữa người mua - nhà cung cấp (Caniels và Gelderman, 2007, Carr et al., 2008, Geyskens và cộng sự, 1996) Handfield và Bechtel (2002) cho rằng sự phụ thuộc tồn tại khi một bên không kiểm soát hoàn toàn các điều kiện để đạt được mục tiêu hoặc thành tích, và cần có sự hỗ trợ từ các bên khác Sự tồn tại phụ thuộc đến tính mối quan hệ tương tác nhạy cảm giữa người mua và nhà cung cấp (Svensson, 2004) Những nhược điểm này gây ra nhiều rủi ro cho chuỗi cung ứng (Svensson, 2002) Ngoài ra, tính không đối xứng của sự phụ thuộc có thể giảm đi mức độ tin cậy giữa người mua và nhà cung cấp (Handfield, 2002) Các nghiên cứu gần đây đã kết hợp sự phụ thuộc từ quan điểm của người mua và nhà cung cấp (Canielles, 2007, Svensson, 2004, Vijayasarathy, 2010, Wathne, 2004) Sự phụ thuộc trong các nghiên cứu về chuỗi cung ứng, kết hợp cả hai khía cạnh của sự phụ thuộc có thể giúp giải thích các ảnh hưởng phân đôi của nó đối với hội nhập Trong khi các tổ chức tương hỗ lẫn nhau có nhiều khả năng để nắm bắt hội nhập chặt chẽ hơn, các tổ chức phụ thuộc tương đối nhiều vào đối tác của họ sẽ ít có khả năng làm tăng tính nhạy cảm cuả chuỗi cung ứng (Vijayasarathy, 2010)
Trang 39c Mối quan hệ xã hội
Doanh nghiệp cần phải tính đến môi trường xã hội trong hoạt động doanh nghiệp, khi mà thái độ của các công ty khác nhau đối với các mối quan hệ có thể không giống nhau (Ozer, 2005) Crotts and Turner (1999) đã xác định quan hệ xã hội là mức độ quan hệ cá nhân lẫn nhau và được chia sẻ bởi người mua và người bán Quan hệ xã hội là một yếu tố quan trọng giải thích sự cam kết của các nhà cung cấp nhỏ đối với người bán buôn (Crotts et al., 1998) Trong sự tương tác lâu dài giữa người bán và người mua, các khoản giao dịch đầu tư cụ thể dần dần được gắn vào các quan hệ xã hội (Liu et.al., 2009) Quan hệ xã hội giúp liên kết và kéo người mua và người bán lại gần nhau (Han, 1991) Các qui tắc và sự tin tưởng chi phối mối quan hệ giữa người mua và nhà cung cấp bằng cách thiết lập môi trường xã hội đồng nhất từ đó thúc đẩy và nuôi dưỡng sự trao đổi kinh tế (Liu et al,2009) Các hành vi xã hội xây dựng sức mạnh của mối quan hệ (Burt, 2006) Trong một mối quan hệ thành công, khoảng cách xã hội được giảm xuống và một "mối quan hệ mật thiết" được hình thành (Håkansson,1982)
d Quy mô nhà cung cấp
Đặc điểm riêng của doanh nghiệp đã được nghiên cứu trong việc quản lý các mối quan hệ kinh doanh (Ford, 2003) Quy mô của nhà cung cấp đã được cho là quan hệ ngược chiều đến môi trường hợp tác trong chuỗi cung ứng (Vachon và Klassen, 2006) Quy mô của nền tảng cung cấp và sự tập trung của các nhà cung cấp cũng là những biến số quan trọng trong quản lý chuỗi cung ứng (Cousins, 1999) Quy mô doanh nghiệp có tác động tích cực lên xu hướng thay đổi của người mua Trong mô hình quản trị thị trường, sự chuyển đổi sang hệ thống thị trường đã chắc chắn tạo ra thị trường chủ yếu là của người mua Nó mang lại cho người mua sức mạnh lớn hơn để giải quyết mối quan hệ không tốt đối với nhà cung cấp khác
e Kinh nghiệm mua hàng
Kinh nghiệm của doanh nghiệp đã được nghiên cứu trong quản lý quan hệ kinh doanh (Ford, 2003) Thuật ngữ "bộ nhớ tổ chức" dùng để chỉ thông tin được lưu trữ từ lịch sử của một tổ chức có thể ảnh hưởng đến các quyết định trong tương
Trang 40lai (Walsh và Ungson, 1991) Các bên thích làm việc với đối tác mà họ đã từng hợp tác, vì họ cảm thấy đã quen và thoải mái với các mối quan hệ được thiết lập từ trước Các yếu tố lịch sử của công ty ảnh hưởng đến sự phụ thuộc (Cousins, 2002)
Từ quan điểm mua hàng, kinh nghiệm học được trong một mối quan hệ hợp tác có thể thay đổi kỳ vọng của người mua đối với các mối quan hệ với nhà cung cấp khác, cũng như thay đổi cách người mua làm việc với cơ sở cung cấp (Chao, et al., 2013)
f Năng lực nhân sự
Việc tiếp cận với đúng kỹ năng cần thiết đòi hỏi một chiến lược nhân sự vững chắc bao gồm việc phát triển những nhân viên tài năng từ mảng chuỗi cung ứng, từ những phòng ban và thậm chí là từ các công ty khác, hay từ việc tuyển chọn những sinh viên ưu tú từ các trường đại học Ngoài ra cần có chương trình đánh giá chi tiết kiến thức và kỹ năng nguồn nhân lực thường xuyên để có những chương trình đào tạo và huấn luyện phù hợp Những nỗ lực này sẽ giúp đạt tới mục tiêu chung: đảm bảo rằng các thành viên tham gia đạt yêu cầu có thể hỗ trợ các đòi hỏi trong chuỗi cung ứng
1.2.5.2 Nhân tố tác động từ môi trường bên ngoài
a Bối cảnh chính trị
Cousins (2002) chỉ ra một công ty luôn tồn tại trong cả hai môi trường là bên trong và bên ngoài Môi trường bên ngoài bao gồm nhiều vấn đề, trong đó có các quy định luật pháp của chính phủ Để cải thiện khả năng đánh giá cơ hội và thách thức cho doanh nghiệp, nhà quản lý cần có sự hiểu biết sâu rộng về môi trường chính trị Điều này có thể giúp hình thành môi trường vận hành lý tưởng cho hiện tại và tương lai (Keim & Hillman, 2008)
Đã có nhiều nghiên cứu trước đây về mức độ ảnh hưởng của chính sách hiện tại đến các mối quan hệ kinh doanh (Keim & Hillman, 2008) Môi trường chính trị
ở một quốc gia có thể giống hoặc không giống với môi trường chính trị khác,thậm chí là ở cùng một quốc gia (Ling & Lim, 2007), vì vậy công ty cần một sự hiểu biết
rõ ràng về các quy tắc trong việc phát triển chiến lược toàn cầu Về vấn đề này, các quy định có thể thúc đẩy doanh nghiệp xây dựng và cải thiện mối quan hệ kinh