Hiện nay trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải tự tổ chức huy động vốn, lựa chọn phương án kinh doanh phù hợp trên cơ sở nắm bắt nhu cầu thị trường, chủ động xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch kinh doanh để đảm bảo được doanh thu mang lại phải bù đắp được toàn bộ chi phí bỏ ra và có lãi. Muốn đạt được mục tiêu đó thì doanh nghiệp cần phải có một lượng vốn tiền tệ nhất định. Vốn là tiền đề cần thiết cho cho việc hình thành và phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh ( SXKD) của doanh nghiệp.Tuy nhiên, việc tăng trưởng và phát triển không hoàn toàn phụ thuộc vào lượng vốn huy động được mà cơ bản phụ thuộc vào hiệu quả quản lý sử dụng vốn như thế nào để có hiệu quả cao nhất. Do vậy, một vấn đề cấp bách đặt ra đối với doanh nghiệp là phải làm thế nào để với một lượng vốn nhất định đưa vào kinh doanh sẽ mang lại hiệu quả cao nhất trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt như hiện nay. Nhận thức được tầm quan trọng của việc nâng cao hiệu quả của việc sử dụng vốn kinh doanh(VKD) , qua thời gian thực tập tại Công ty TNHH In Thương mại và Xây dựng Nhật Quang, được sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo Bùi Văn Vần và tập thể cán bộ công nhân viên của Công ty, vận dụng những lý luận đã được học vào thực tiễn em mạnh dạn đi sâu nghiên cứu vấn đề trên qua luận văn tốt nghiệp với đề tài:” Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh ở Công ty TNHH In Thương mại và Xây dựng Nhật Quang”.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải tự tổ chứchuy động vốn, lựa chọn phương án kinh doanh phù hợp trên cơ sở nắm bắtnhu cầu thị trường, chủ động xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện kếhoạch kinh doanh để đảm bảo được doanh thu mang lại phải bù đắp được toàn
bộ chi phí bỏ ra và có lãi Muốn đạt được mục tiêu đó thì doanh nghiệp cầnphải có một lượng vốn tiền tệ nhất định Vốn là tiền đề cần thiết cho cho việchình thành và phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh ( SXKD) của doanhnghiệp.Tuy nhiên, việc tăng trưởng và phát triển không hoàn toàn phụ thuộcvào lượng vốn huy động được mà cơ bản phụ thuộc vào hiệu quả quản lý sửdụng vốn như thế nào để có hiệu quả cao nhất Do vậy, một vấn đề cấp báchđặt ra đối với doanh nghiệp là phải làm thế nào để với một lượng vốn nhấtđịnh đưa vào kinh doanh sẽ mang lại hiệu quả cao nhất trong điều kiện cạnhtranh ngày càng gay gắt như hiện nay
Nhận thức được tầm quan trọng của việc nâng cao hiệu quả của việc sửdụng vốn kinh doanh(VKD) , qua thời gian thực tập tại Công ty TNHH InThương mại và Xây dựng Nhật Quang, được sự hướng dẫn tận tình của thầygiáo Bùi Văn Vần và tập thể cán bộ công nhân viên của Công ty, vận dụngnhững lý luận đã được học vào thực tiễn em mạnh dạn đi sâu nghiên cứu vấn
đề trên qua luận văn tốt nghiệp với đề tài:” Một số biện pháp nhằm nâng caohiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh ở Công ty TNHH In Thương mại
và Xây dựng Nhật Quang”
Kết cấu đề tài được chia thành 3 chương:
Chương 1 : Vốn kinh doanh và sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng
VKD của các doanh nghiệp trong điều kiện kinh tế thị trường.
Trang 2Chương 2: Tình hình tổ chức và hiệu quả sử dụng VKD ở Công ty TNHH
In Thương mại và Xây dựng Nhật Quang.
Chương 3: Một số ý kiến đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng VKD
của Công ty TNHH In Thương mại và Xây dụng Nhật Quang.
Mặc dù đã hết sức cố gắng, song do trình độ nhận thức và lý luận còn hạnchế, hơn nữa thời gian tìm hiểu thực tế còn có hạn, luận văn không tránh khỏinhững thiếu sót Rất mong được sự thông cảm và sự góp ý của Công ty, củathầy cô cùng toàn thể bạn đọc để đề tài của em được hoàn thiện hơn
Em xin trân thành cảm ơn!
Hà nội, ngày tháng năm 2005.
Trang 3
CHƯƠNG 1: VỐN KINH DOANH VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH CỦA DOANH
NGHIỆP TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG.
1.1 VỐN KINH DOANH VÀ NGUỒN HÌNH THÀNH VỐN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP:
1.1.1.Khái niệm vốn kinh doanh (VKD) của doanh nghiệp:
Trước hết ta cần hiểu doanh nghiệp là gì?
Theo điều 3 Luật Doanh nghiệp năm 1999 thì : " Doanh nghiệp là một
tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục địch thực hiện các hoạt động kinh doanh " Doanh nghiệp là một chủ thể kinh doanh chủ yếu
hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD) một cách độc lập trong nền KTTT màmục đích chủ yếu là tìm kiếm và tối đa hoá lợi nhuận
Song, muốn tiến hành hoạt động SXKD thì yếu tố quan trọng nhất mà cácdoanh nghiệp phải nghĩ đến trước tiên đó chính là VKD
Vốn là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản hữu hình và tài sản vô hìnhtrong doanh nghiệp được đầu tư vào kinh doanh nhằm mục đích sinh lời vàđược bổ sung thêm trong quá trình sản xuất kinh doanh( SXKD) Đó là lượngtiền cần thiết ban đầu nhằm đảm bảo cho các yếu tố’’ đầu vào” của quá trìnhSXKD như mua sắm tài sản cố định, nguyên vật liệu, trả công cho người laođộng,
VKD được coi là quỹ tiền tệ đặc biệt không thể thiếu của doanh nghiệp vàVKD mang những đặc trưng chủ yếu sau:
* Vốn được biểu hiện bằng một lượng giá trị thực tế của các tài sản hữuhình và vô hình dùng để sản xuất ra sản phẩm Vốn chính là biểu hiện về mặtgiá trị của các loại tài sản như: máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, nhâncông, trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Song, chỉnhững tài sản có giá trị và giá trị sử dụng phục vụ cho quá trình sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp mới được coi là vốn
Trang 4* Vốn phải vận động sinh lời, đạt được mục tiêu kinh doanh của donahnghiệp Ban đầu vốn được biểu hiện bằng một lượng tiền nhất định, trong quátrình vận động vốn tồn tại dưới nhiều hình thức vật chất khác nhau.
Song, điểm xuất phát và điểm kết thúc của quá trình tuần hoàn vốn đềuđược biểu hiện giá trị bằng tiền
TLLĐ
T – H .SX H’ - T’ ( T’ > T ) ĐTLĐ
Vòng tuần hoàn của vốn bắt đầu từ hình thái vốn tiền tệ ( T ), doanhnghiệp dùng vốn này để đầu tư mua sắm vật tư hàng hoá (H) dưới dạng tưliệu lao động ( TLLĐ ) và đối tượng lao động ( ĐTLĐ) để phục vụ cho quátrình sản xuất Qua quá trình sản xuất vốn được chuyển thành hàng hoá(H’).Và cuối cùng sau khi tiêu thụ hàng hoá, lao vụ dịch vụ thì vốn từ hìnhthái hiện vật chuyển sang hình thái tiền tệ ( T’), trong đó T’ > T Khi đó kếtthúc quá trình chu chuyển của vốn
* Vốn phải được tập trung tích tụ thành một lượng nhất định mới có thểphát huy được tác dụng, mới có thể giúp doanh nghiệp mở rộng hoạt động sảnxuất kinh doanh Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải biết tận dụng và khaithác mọi nguồn vốn có thể huy động để đầu tư vào hoạt động kinh doanh củamình
* Vốn có giá trị về mặt thời gian Nhất là trong nền kinh tế thị trường nhưhiện nay thì điều này thể hiện rất rõ, vốn của doanh nghiệp luôn chịu ảnhhưởng của các nhân tố như lạm phát, sự biến động của giá cả, tiến bộ khoahọc kỹ thuật, nên giá trị của vốn tại các thời điểm khác nhau là khác nhau
* Vốn phải gắn với chủ sở hữu: Mỗi loại vốn bao giờ cũng gắn với một chủ
sở hữu nhất định Người sử dụng vốn chưa chắc đã là người sở hữu vốn, do
có sự tách biệt giữa quyền sở hữu vốn và quyền sử dụng vốn Điều này đòihỏi mỗi người sử dụng vốn phải có trách nhiệm với đồng vốn mình nắm giữ
và sử dụng
* Vốn không chỉ biểu hiện bằng tiền của các loại tài sản hữu hình có hình
Trang 5có hình thái vật chất như lợi thế thương mại, bằng phát minh sáng chế, các bíquyết công nghệ, nhãn hiệu được bảo hộ,
Để hiểu rõ hơn về bản chất và đặc điểm của VKD cũng như giúp choviệc quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả cần phải phân loại vốn kinh doanh
1.1.2 Phân loại VKD:
Thứ nhất: Căn cứ vào đặc điểm luân chuyển vốn, VKD được chiathành hai loại: Vốn cố định (VCĐ) và vốn lưu động ( VLĐ)
* VCĐ của doanh nghiệp là một bộ phận của vốn đầu tư ứng trước về tài sản
cố định của doanh nghiệp
VCĐ là số vốn đầu tư ứng trước, do vậy số vốn nầy cần phải được thuhồi một cách đầy đủ nhằm đảm bảo quá trình tái sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp
Quy mô VCĐ của doanh nghiệp là lớn hay nhỏ sẽ quyết định trực tiếpđến quy mô tài sản cố định (TSCĐ) của doanh nghiệp cũng như trình độ trangthiết bị, cơ sở vật chất kỹ thuật và năng lực sản xuất của doanh nghiệp
Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của TSCĐ trong quá trình tham gia hoạtđộng kinh doanh sẽ quyết định trực tiếp đặc điểm chu chuyển của VCĐ
- Đặc điểm chu chuyển của VCĐ:
VCĐ tham gia vào nhiều chu kỳ SXKD Có đặc điểm này là do TSCĐđược sử dụng lâu dài trong nhiều chu kỳ sản xuất nhất định
VCĐ được luân chuyển giá trị dần dần từng phần trong các chu kỳSXKD và ở mỗi chu kỳ SXKD chỉ có một bộ phận VCĐ được chu chuyển vàcấu thành chi phí SXKD tương ứng với phần giá trị hao mòn của TSCĐ Bộphận này ngày một tăng lên về thời gian sử dụng TSCĐ, đồng thời giá trị cònlại của TSCĐ ngày một giảm đi
VCĐ chỉ hoàn thành một vòng tuần hoàn khi TSCĐ đã hết thời gian sửdụng
Từ các đặc điểm luân chuyển trên của VCĐ đòi hỏi việc quản lý VCĐphải luôn gắn liền với việc quản lý hình thái hiện vật của nó là TSCĐ, đồng
Trang 6thời cần có những biện pháp để tổ chức và sử dụng VCĐ sao cho vừa bảotoàn vừa phát triển được VCĐ
* VLĐ là một bộ phận của VKD trong doanh nghiệp, là biểu hiện bằng tiềncủa toàn bộ giá trị tài sản lưu động đảm bảo cho quá trình sản xuất và tái sảnxuất của doanh nghiệp được thực hiện VLĐ tham gia sản xuất kinh doanhdưới nhiều hình thức khác nhau
- Đặc điểm chu chuyển của VLĐ:
Luôn luôn thay đổi hình thái biểu hiện
Chu chuyển toàn bộ giá trị trong một lần
Hoàn thành một vòng tuần hoàn sau mỗi chu kỳ sản xuất và tiêu thụ sảnphẩm
Thứ hai: Căn cứ vào quan hệ sở hữu vốn, VKD được chia thành hailoại là vốn chủ sở hữu (VCSH) và nợ phải trả (NPT)
* Vốn chủ sở hữu là loại vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp bao gồmvốn chủ sở hữu để hình thành mọi loại tài sản trong doanh nghiệp, vốn điều
lệ, vốn tự bổ sung từ lợi nhuận sau thuế và từ các quỹ của doanh nghiệp Đối với các doanh nghiệp Nhà nước không chỉ được Nhà nước đầu tưvốn ban đầu khi thành lập doanh nghiệp mà còn có thể được cấp bổ sungtrong quá trình kinh doanh
* Nợ phải trả (NPT): Là loại vốn thuộc quyền sở hữu của người khác, doanhnghiệp được quyền quản lý và sử dụng trong một thời gian nhất định NPTbao gồm nợ vay và các khoản phải trả
- Nợ vay được hình thành từ các khoản vay ngân hàng và các tổ chức tíndụng khác, sử dụng khoản nợ này doanh nghiệp phải hoàn trả cả gốc và lãiđúng hạn
- Các khoản phải trả bao gồm phải trả cho người bán, phải trả cho cán bộcông nhân viên, thuế và các khoản phải nộp Nhà nước
Cách phân loại này cho ta thấy kết cấu vốn SXKD được hình thànhbằng vốn bản thân doanh nghiệp và từ các nguồn vốn huy động từ bên ngoài
Từ đó giúp cho doanh nghiệp tìm biện pháp tổ chức, quản lý, sử dụng vốnhợp lý, có hiệu quả, biết được khả năng của doanh nghiệp trong việc huy
Trang 7động vốn là cao hay thấp Hơn nữa doanh nghiệp có thể tính toán tìm ra kếtcấu vốn hợp lý với chi phí sử dụng vốn là thấp nhất
Thứ ba: Căn cứ vào phạm vi huy động vốn, VKD bao gồm vốn bêntrong doanh nghiệp và vốn bên ngoài doanh nhiệp
* Vốn bên trong doanh nghiệp là nguồn vốn có thể huy động được từ hoạtđộng bên trong của doanh nghiệp Vốn này có thể có được từ các nguồn nhưtiền khấu hao TSCĐ, lợi nhuận để lại của doanh nghiệp, các quỹ dự phòng,các khoản thu do nhượng bán, thanh lý TSCĐ, Đây là loại vốn quan trọngđảm bảo khả năng tự chủ về tài chính của doanh nghiệp
* Vốn bên ngoài là nguồn vốn do doanh nghiệp huy động ngoài phạm vidoanh nghiệp nhằm đáp ứng các nhu cầu hoạt động SXKD của mình như vốnvay ngân hàng và các tổ chức tín dụng, phát hành trái phiếu, vốn liên doanhliên kết và các khoản nợ khác,
Thứ tư: Căn cứ vào thời gian huy động và sử dụng vốn, VKD đượcchia thành vốn thường xuyên và vốn tạm thời
* Vốn thường xuyên bao gồm vốn chủ sở hữu và vốn vay dài hạn Đây lànguồn vốn có tính chất ổn định mà doanh nghiệp có thể sử dụng Thôngthường nguồn vốn này được đầu tư cho TSCĐ và một bộ phận nhỏ cho TSLĐthường xuyên cần thiết cho hoạt động SXKD của doanh nghiệp
* Vốn tạm thời là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn mà doanh nghiệp có thể
sử dụng để đáp ứng nhu cầu về vốn có tính chất tạm thời, bất thường phátsinh trong hoạt động SXKD Nguồn vốn này gồm các khoản vay ngắn hạnngân hàng, các tổ chức tín dụng và các khoản nợ ngắn hạn khác
Trên đây là một số cách phân loại VKD chủ yếu của doanh nghiệp.Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, để tạo lập và sử dụng VKD một cách
có hiệu quả nhất ta cần hiểu nguồn hình thành VKD của doanh nghiệp
1.1.3 Nguồn hình thành VKD:
VKD của doanh nghiệp thường được hình thành từ các nguồn khác
nhau tuỳ thuộc vào loại hình, điều kiện và mục đích kinh doanh của từng
Trang 8doanh nghiệp Thông thường VKD của doanh nghiệp được huy động từ cácnguồn sau:
* Nguồn vốn điều lệ: Nguồn vốn này đượcc hình thành từ khi thành lậpdoanh nghiệp do chủ sở hữu bỏ ra và không nhỏ hơn vốn pháp định Nguồnvốn này có thể thay đổi trong thời gian hoạt động của doanh nghiệp và nóbiểu hiện rõ nét nhất tính tự chủ của doanh nghiệp trong hoạt động SXKD
* Vốn tự bổ sung của doanh nghiệp: Trong quá trình hoạt động SXKD,doanh nghiệp luôn phải tích luỹ một lượng vốn để tái sản xuất giản đơn hay
mở rộng Do vậy mà nguồn vốn do doanh nghiệp tự bổ sung trong quá trìnhhoạt động SXKD đóng một vai trò hết sức quan trọng Nguồn vốn này phụthuộc vào kết quả hoạt động SXKD của doanh nghiệp thông qua việc phân bổvào các quỹ của doanh nghiệp Nguồn vốn tự bổ sung trong quá trình sảnxuất kinh doanh chủ yếu dựa vào hai nguồn là lợi nhuận và quỹ khấu hao củadoanh nghiệp Nguồn vốn tự bổ sung là cơ sở đánh giá khả năng tự chủ vềmặt tài chính của doanh nghiệp trong hoạt động SXKD
* Nguồn vốn chiếm dụng: Trong quá trình SXKD tất yếu nảy sinh các quan
hệ thanh toán giữa doanh nghiệp với Nhà nước, giữa các doanh nghiệp vớinhau và giữa doanh nghiệp với cán bộ công nhân viên của doanh nghiệp Cácquan hệ thanh toán đó thường xuyên phát sinh do đó cũng làm phát sinh vốn
đi chiếm dụng Nếu vốn đi chiếm dụng lớn hơn vốn bị chiếm dụng thì doanhnghiệp có được một lượng vốn nhất định đáp ứng nhu cầu sản xuất kinhdoanh mặc dù không thể cứ trông chờ vào nguồn vốn này nhưng không thểkhông tính đến nó trong thực tế.Song cần phải xen xét đến tính hợp lý củanguồn vốn này: Nếu các khoản phải thanh toán đang còn trong thời hạn hợpđồng thì việc tiếp tục sử dụng nguồn vốn này được xem là hợp lý, còn nếu đãquá hạn phải thanh toán thì đó là không hợp lý
* Nguồn vốn tín dụng: Nguồn vốn tín dụng là nguồn vốn mà thông thườngcác doanh nghiệp sử dụng thường xuyên và nhiều nhất Đây là nguồn vốn
Trang 9vay đáp ứng đầy đủ nhu cầu của hoạt động SXKD nhất là đáp ứng những nhucầu với những dự án vốn lớn, thời gian dài Song doanh nghiệp cần phải sửdụng nguồn vốn này đúng mục đích và có hiệu quả vì nguồn vốn này luônđảm bảo phải trả cả gốc và lãi đủ,đúng hạn Việc sử dụng nguồn vốn nàytrong giới hạn cho phép của hệ số nợ sẽ góp phần giảm bớt rủi ro của doanhnghiệp, góp phần thúc đẩy hoạt động SXKD của doanh nghiệp có hiệu quảhơn Việc sử dụng nợ vay có ưu điểm lớn là nó tạo cho doanh nghiệp có một
cơ cấu tổ chức linh hoạt hơn, nếu hoạt động SXKD của doanh nghiệp có hiệuquả thì nó sẽ làm khuyếch đại doanh lợi vốn chủ sở hữu và khi doanh lợi vốnchủ sở hữu lớn hơn chi phí sử dụng vốn thì việc huy động vốn từ bên ngoài sẽ
dễ dàng hơn và ngược lại
1.2 SỰ CẦN THIẾT NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VKD CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG:
Lợi nhuận là kết quả cuối cùng của hoạt động SXKD, là chỉ tiêu chấtlượng để đánh giá hiệu quả kinh tế của các hoạt động SXKD của doanhnghiệp Để đạt lợi nhuận tối đa thì việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn SXKD
là rất cần thiết và có ý nghĩa rất quan trọng
1.2.1.Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng VKD trong các doanh nghiệp:
Vốn là tiền đề vật chất để tiến hành hoạt động SXKD đối với bất kỳ
DN nào, là yếu tố xuyên suốt trong quá trình SXKD Trong nền KTTT tồn tạinhiều thành phần kinh tế và sự cạnh tranh gay gắt như hiện nay thì vấn đề tổchức huy động và sử dụng vốn có hiệu quả là một vấn đề hết sức quan trọng.Đây là yếu tố có tính chất quyết định sự tồn tại và phát triển của Doanhnghiệp (DN) đồng thời giúp DN khẳng định và giữ vững vị trí của mình trongcạnh tranh, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn SXKD luôn là vấn đề mà mỗi DNcần đặt lên hàng đầu nó xuất phát từ các lý do sau:
- Xuất phát từ mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận : Trong nền kinh tế thị
trường (KTTT) mục tiêu hoạt động của các DN kinh doanh là lợi nhuận, các
DN có quyền độc lập, tự chủ và chịu trách nhiệm KD có lãi, muốn thực hiện
Trang 10được điều đó đòi hỏi các nhà nhà quản trị tài chính DN phải quản lý tốt vốn ởcác khâu của quá trình sản xuất, thực hiện nghiên cứu thị trường, tổ chức tốtviệc SX và tiêu thụ SP, sau nỗi chu kỳ SX đồng vốn phải được bảo toàn vàphát triển đồng thời phải có lãi để tái đầu tư mở rộng SX
Muốn tối đa hoá lợi nhuận thì đòi hòi DN phải sử dụng có hiệu quảnguồn vốn SXKD
- Xuất phát từ vai trò quan trọng của vốn SXKD đối với các DN :
Để tiến hành SXKD phải kết hợp các yếu tố: đối tượng lao động, tư liệulao động,sức lao động muốn vậy buộc phải có một lượng vốn tiền tệ nhất định
để tăng thêm tài sản của DN Ngày nay khoa học kỹ thuật phát triển mạnh
mẽ , trình độ trang thiết bị, máy móc ngày càng cao làm cho năng suất laođộng cao hơn đòi hỏi DN phải có lượng vốn để đáp ứng nhu cầu ngày càngtăng này, nó không chỉ có ý nghĩa giúp DN chủ động hơn trong SXKD màcòn giúp DN chớp được thời cơ, tạo lợi thể trong KD, muốn vậy DN cần phải
có biện pháp thích hợp để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn SXKD
- Sự cạnh tranh giữa các DN trên thị trường ngày càng gay gắt và quyếtliệt, các đối thủ cạnh trạnh dành giật nhau từng phần một, trong điều kiện đóđòi hỏi các DN phải phát huy thế mạnh của mình và khắc phục những yếukém những yếu kém, một trong những con đường cơ bản nhất để thắng lợitrong cạnh tranh, đứng vững trong thị trường là việc sử dụng vốn có hiệu quả,
DN nào sử dụng vốn tốt hơn sẽ có hiệu quả kinh doanh cao, lợi nhuận cao và
có điều kiện trong phát triển kinh doanh
- Do một số doanh nghiệp hiện nay của ta chưa thật sự làm ăn có hiệuquả đặc biệt là các DNNN nhiều DN còn trong tình trạng lúng túng, trì truệthậm chí làm ăn thua lỗ Trong điều kiện như vậy để nhanh chóng thích ứngvới cơ chế mới, theo kịp tiến bộ của khoa học kỹ thuật và xu hướng hội nhậpkinh tế khu vực và thế giới thì việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
là vấn đề cần thiết cấp bách
- Xu hướng chung của Quốc tế là chuyển đổi cơ cấu KT cho phù hợpvới sự phát triển của khoa học kỹ thuật, công nghệ đồng thời đẩy mạnh liênminh liên kết để tạo thế lực cạnh tranh dành giật thị trường, mở đường cho
Trang 11SXKD phát triển, hội nhập là con đường tất yếu hiện nay thế giới đã và đangbước sang một giai đoạn phát triển cao hơn đó là nên KT tri thức trong khi đónước ta đang đứng trước ngưỡng cửa của nó, do đó yêu cầu về vốn và sửdụng vốn có hiệu quả cao càng cần thiết và quyết định đến sự tồn tại pháttriển của doanh nghiệp
Như vậy, Vốn có vai trò rất quan trọng cho sự tồn tại và phát triển củatất cả các doanh nghiệp Để đảm bảo vốn đầy đủ, kịp thời cho hoạt độngSXKD thì doanh nghiệp cần phải xác định đầy đủ, chính xác nhu cầu vốn sảnxuất để có kế hoạch huy động vốn hợp lý, góp phần tạo ra cơ cấu nguồn vốntối ưu giúp cho quá trình SXKD của doanh nghiệp được thuận lợi Vốn đượcđầu tư vào mua sắm các tư liệu lao động, xây dựng cơ sở vật chất lỹ thuật,mua sắm máy móc thiết bị và một phần hình thành nên VLĐ Nâng cao hiệuquả sử dụng vốn sẽ duy trì được lượng vốn đã bỏ ra và không ngừng bù đắpthêm vốn cho quá trình tái sản xuất mở rộng thông qua hiệu quả của việc sửdụng vốn mang lại
Sử dụng hiệu quả VKD giúp doanh nghiệp có điều kiện đổi mới côngnghệ tiết kiệm chi phí, hạ giá thành, nâng cao chất lượng sản phẩm, làm tănglợi nhuận của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp vững vàng về mặt tài chính.Nguồn vốn đầy đủ và sử dụng hợp lý sẽ là động lực thúc đẩy các doanhnghiệp phát triển mạnh mẽ, đứng vững và giành thắng lợi trước các đối thủcạnh tranh Còn nếu sử dụng không có hiệu quả thì không những làm doanhnghiệp ngày càng mất vốn mà còn có thể dẫn tới phá sản doanh nghiệp
Từ những ý nghĩa trên mà công tác quản lý và sử dụng vốn là mộttrong những nội dung quan trọng trong công tác quản lý doanh nghiệp Đểđánh giá đúng đắn tình hình quản lý và sử dụng VKD của doanh nghiệp ta cần
đi sâu nghiên cứu các chỉ tiêu đánh giá tình hình tổ chức và hiệu quả sử dụngVKD trong các doanh nghiệp
1.2.2 Các chỉ tiêu chủ yếu đánh giá tình hình tổ chức và hiệu quả sử dụng VKD trong các doanh nghiệp:
Để đánh giá hiệu quả sử dụng VKD trong các doanh nghiệp người tathường sử dụng các chỉ tiêu sau:
Trang 12Các chỉ tiêu tổng hợp:
- Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng VCĐ : Là quan hệ tỷ lệ giữa doanh thu
thuần (DTT) Doanh nghiệp đạt được trong kỳ với số VCĐ bình quân trong kỳ
Doanh thu thuần
VCĐ đầu kỳ ( cuối kỳ) = NG TSCĐ Đkỳ ( cuối kỳ) - KH Lkế Đkỳ (cuối kỳ)
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng VCĐ B/q có thể tạo ra bao nhiêu đồngDTT trong kỳ
- Chỉ tiêu hàm lượng VCĐ: Là đại lượng nghịch đảo của chỉ tiêu hiệu
- Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận VCĐ : Là quan hệ tỷ lệ giữa lợi nhuận trước
thuế hoặc sau thuế với VCĐ B/q trong kỳ
Trang 13- Hệ số hao mòn TSCĐ : Là quan hệ tỷ lệ giữa số tiền khấu hao luỹ kế
(KHLK) TSCĐ ở thời điểm đánh giá với nguyên giá TSCĐ ( NGTSCĐ) ởthời điểm đó
Số tiền KH Lkế ở thời điểm đánh giá
Hệ số hao mòn TSCĐ =
NG TSCĐ ở thời điểm đánh giá
Phản ánh mức độ hao mòn của TSCĐ đồng thời cũng cho thấy năng lựcsản xuất còn lại của TSCĐ
- Hiệu suất sử dụng TSCĐ : Là quan hệ tỷ lệ giữa DTT và NG TSCĐ
B/q sử dụng trong kỳ
DTT Hiệu suất sử dụng TSCĐ = -
NG TSCĐ B/q trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng TSCĐ trong kỳ tạo ra được bao nhiêuđồng DTT
- Hệ số trang bị TSCĐ cho 1 công nhân trực tiếp sản xuất : Phản ánh
giá trị TSCĐ sản xuất B/q trang bị cho 1 công nhân trực tiếp SX
- Kết cấu TSCĐ của DN : Phản ảnh quan hệ tỷ lệ giữa giá trị từng
nhóm, loại TSCĐ trong tổng số TSCĐ của DN tại thời điểm đánh giá Chỉtiêu này giúp DN đánh giá mức độ hợp lý trong cơ cấu TSCĐ được trang bị ở
DN
Trang 141.2.2.1 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động.
- Tốc độ luân chuyển VLĐ: Được biểu hiện ra ở 2 chỉ tiêu là số vòng
quay VLĐ ( L ) và kỳ luân chuyển VLĐ ( K )
+ Số vòng quay VLĐ:
M
L = VLĐ B/q
-Trong đó: M là tổng mức luân chuyển VLĐ đạt được trong kỳ Tổng
mức luân chuyển phản ánh tổng giá trị vốn tham gia luân chuyển thực hiệntrong kỳ của DN, nó được xác định bằng tổng doanh thu trừ các khoản giảm trừdoanh thu, trường hợp DN áp dụng thuế giá trị gia tăng (GTGT) theo phươngpháp khấu trừ thì M được xác định bằng doanh thu tính theo giá bán chưa cóthuế GTGT ( đầu ra ) của DN
VLĐ Đkỳ + VLĐ CkỳVLĐ B/q = -
2
Vq1 + Vq2 + Vq3 + Vq4 Vđq1/2 + Vcq1 + Vcq2 + Vcq3+Vcq4/2
= - hoặc =
Trong đó: Vq1, Vq2, Vq3, Vq4: là VLĐ bình quân các quý 1, 2, 3, 4
Vđq1 : Số dư vốn lưu động đầu quý 1
Vcq1, Vcq2, Vcq3, Vcq4: Số dư VLĐ cuối quý 1, 2, 3, 4.+ Kỳ luân chuyển VLĐ: Phản ánh trung bình một vòng quay VLĐ hếtbao nhiêu ngày
360 ( ngày)
K =
L
Do tăng tốc độ luân chuyển VLĐ trong SX, lưu thông hàng hoá nên
DN có thể giảm bớt số VLĐ cần thiết và có thể tiết kiệm được số VLĐ
mức VLĐ có tiết kiệm được xác định theo công thức:
M1 M1 M1
Vtktgđ = - ( K1 - K0) = - -
360 L1 L0
Trang 15- Hàm lượng VLĐ ( Mức dùng VLĐ ): Là quan hệ tỷ lệ giữa VLĐ B/q
trong kỳ với DTT đạt được trong kỳ
VLĐ B/qHàm lượng VLĐ = -
Tỷ suất lợi nhuận VLĐ càng cao chứng tỏ việc sử dụng VLĐ càng có hiệu quả
Ngoài ra tuỳ mục đích nghiên cứu chỉ tiêu mức độ luân chuyển VLĐngười ta có thể tính riêng cho từng loại VLĐ:
các khoản đã thu Số dư B/q các khoản phải thu
1.2.2.2 Một số chỉ tiêu đánh giá tình hình sử dụng VKD của DN.
DTT Vòng quay toàn bộ vốn = -
VKD B/qChỉ tiêu này phản ánh vốn của DN trong kỳ quay được bao nhiêu vòng từ
đó có thể đánh giá khả năng sử dụng tài sản của DN
-Tỷ suất lợi nhuận/VKD: là mối quan hệ tỷ lệ giữa LNTT hoặc LNSTtrên VKD
Tỷ suất lợi nhuận LNTT hoặc LNST
Trang 16VKD B/qPhản ánh một đồng VKD B/q trong kỳ tạo ra mấy đồng lợi nhuận
Tỷ suất lợi nhuận/VKD = Tỷ suất lợi nhuận/ DT x vòng quay tổng vốn
Tỷ suất lợi nhuận LNST
+ Đảm bảo vốn được sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả
Việc sử dụng vốn tiết kiệm và có hiệu quả là đòi hỏi tất yếu khách quangắn liền với sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp trong nền kinh tếthị trường
Sau khi đã huy động đầy đủ và kịp thời số vốn cần thiết thì vấn đề quantrọng đặt ra đối với mỗi doanh nghiệp là làm sao để sử dụng vốn cho thật hiệuquả Điều đó đòi hỏi doanh nghiệp phải sử dụng vốn tiết kiệm và có hiệu quả.Doanh nghiệp cần phải có kế hoạch chi tiêu, cần cân nhắc kỹ lưỡng trongtừng trường hợp đầu tư để có thể giảm chi phí tới mức thấp nhất mà vẫn đạtđược hiệu quả như mong muốn Nhưng tiết kiệm không có nghĩa là cắt xén,nhập nguyên vật liệu rẻ không đảm bảo yêu cầu chất lượng, vì như thếkhông những không tiết kiệm được chi phí mà có thể còn tốn kém hơn choviệc sửa chữa, phải loại bỏ sản phẩm hỏng, phế phẩm, có khi hàng bán bị trảlại do không đạt tiêu chuẩn Khi đó chính là sử dụng vốn không hợp lý làmảnh hưởng không tốt đến kết quả SXKD của doanh nghiệp
Cần quản lý chặt chẽ các khoản chi tiêu phát sinh trong quá trìnhSXKD và phân biệt rõ chi phí kinh doanh và các khoản chi phí khác hoặc chiphí do các nguồn kinh phí khác tài trợ
Thường xuyên thiết lập sự cân đối giữa nhu cầu chi tiêu với khả năngnguồn thu vốn bằng tiền nhằm duy trì khả năng thanh toán của doanh nghiệp
Trang 17+ Đảm bảo sự phân phối vốn hợp lý trong từng khâu của quá trìnhSXKD.
Khi lập kế hoạch sử dụng vốn thì việc phân bổ vốn cho từng khâu đãđược dự tính trước Sự phân bổ vốn hợp lý thể hiện ở sự hợp lý về số lượngsản phẩm sản xuất với lượng vật tư dự trữ, về thời gian vốn nằm ở các khâutrong sản xuất và lưu thông, về lượng vật tư tiêu dùng với lượng vật tư theo
kế hoạch dự tính, Tránh tình trạng ứ đọng vốn, lãng phí vốn hay thiếu vốnlàm gián đoạn quá trình SXKD, có như vậy thì mới đạt hiệu quả sử dụng vốn
là cao nhất
+ Tổ chức sử dụng tốt số VKD của doanh nghiệp để bảo toàn và gia tăngVKD:
Doanh nghiệp phải thường xuyên tìm mọi biện pháp huy động triệt để
số vốn hiện có vào hoạt động SXKD, tránh tình trạng ứ đọng vốn.Trong quátrình sử dụng vốn phải được bảo toàn và tăng thêm Vì vậy, phải quản lý chặtchẽ và thu hồi nhanh chóng các khoản tiền bán hàng cũng như các khoản thukhác, tránh để xảy ra tình trạng chiếm dụng vốn kéo dài gây căng thẳng về tàichính
Cần tổ chức sử dụng vốn một cách có nghệ thuật: Huy động kịp thờicác nguồn vốn để chớp được các thời cơ trong kinh doanh, sử dụng tối đa sốvốn hiện có vào hoạt động kinh doanh, đầu tư vốn có trọng điểm, sẽ vừađảm bảo sử dụng vốn tiết kiệm, vừa đảm bảo sự an toàn của tiền vốn, vừanâng cao hiệu quả sử dụng vốn
1.3.2 Một số biện pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng VKD trong doanh nghiệp:
Một là: Lựa chọn các hình thức, phương pháp huy động vốn phù hợp,
chủ động khai thác triệt để các nguồn vốn bên trong để đáp ứng kịp thời nhucầu vốn cho SXKD và giảm thiểu chi phí sử dụng vốn Đồng thời tận dụnglinh hoạt các nguồn vốn bên ngoài cho các dự án đầu tư lớn Điều này đòi hỏingười quản lý phải xác định được mức độ sử dụng nợ vay hợp lý và có hiệuquả nhất Vì nếu trong điều kiện doanh lợi tổng vốn không thay đổi mà doanhnghiệp có hệ số nợ càng cao thì doanh lợi vốn chủ sở hữu càng lớn có nghĩa là
Trang 18ngược lại vay nợ cũng có thể gây ra ảnh hưởng rất xấu đến kết quả kinhdoanh của doanh nghiệp Vì vậy người quản lý cần sáng suốt trong việc quyếtđịng sử dụng nợ vay.
Hai là: Phải tìm hiểu và cân nhắc lựa chọn dự án đầu tư có hiệu quả, từ
đó lập kế hoạch cụ thể cho dự án Doanh nghiệp cần phải nắm chắc hiệu quảđầu tư, nguồn tài trợ, quy trình công nghệ, tình hình cung cấp nguyên vật liệu
và thị trường tiêu thụ của sản phẩm trước khi bắt đầu một quá trình đầu tư đểđảm bảo cho sự phù hợp về máy móc thiết bị, sự hợp lý về kết cấu TSCĐ vàchi phí sử dụng vốn thấp nhất Đồng thời sản phẩm sản xuất ra phải có khảnăng cạnh tranh và được thị trường chấp nhận
Ba là: Xác định sát đúng nhu cầu vốn tối thiểu cần thiết cho mỗi dự
án Trên cơ sở đó lập kế hoạch huy động các nguồn tài trợ, tránh tình trạngthiếu vốn gây gián đoạn quá trình SXKD dẫn đến thiệt hại ngừng sản xuất.Song cũng không nên để xảy ra tình trạng ứ đọng vốn, không phát huy hiệuquả của đồng vốn, phát sinh nhiều chi phí không cần thiết làm tăng giá thànhsản phẩm gây khó khăn trong việc cạnh tranh với sản phẩm cùng loại Bởivậy, việc xác định nhu cầu vốn là không thể thiếu đối với mỗi doanh nghiệp
Bốn là: Tổ chức tốt quá trình sản xuất và đẩy mạnh công tác tiêu thụ.
Không ngừng nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, tiết kiệmnguyên nhiên vật liệu, khai thác tối đa công suất máy móc hiện có.Bên cạnh
đó phải tổ chức tốt công tác bán hàng, công tác thanh toán và thu hồi nợ nhằmgiảm tối đa thành phẩm tồn đọng trong kho
Năm là: Thực hiện tốt công tác thanh toán công nợ, chủ động có kế
hoạch thu hồi tiền bán hàng Thực tế hầu hết các doanh nghiệp đều có chínhsách bán chịu vì khi bán chịu cho khách hàng thì doanh nghiệp cũng có rấtnhiều điểm lợi như: đẩy mạnh tiêu thụ, tăng thêm lợi nhuận bổ sung do bánđược nhiều hàng hay nhận được một khoản lãi do cho vay tiền hàng, mở rộngquy mô, Song bên cạnh những mặt lợi đó thì chính sách bán chịu cũng manglại nhiều mặt bất lợi cho doanh nghiệp như: phát sinh chi phí theo dõi thu hồicông nợ, rủi ro do lạm phát, tỷ giá và nguy cơ người mua mất khả năng thanhtoán Chính vì vậy doanh nghiệp cần xây dựng chính sách bán chịu hợp lý,tuy từng đối tượng để có chính sách bán chịu phù hợp, tránh tình trạng bán
Trang 19chịu tràn lan Muốn vậy doanh nghiệp cần tìm hiểu rõ từng đối tượng kháchhàng về năng lực tài chính, tư cách tín dụng, tài sản thế chấp, điều kiện củanền kinh tế, năng lực trả nợ,
Bên cạnh đó, doanh nghiệp cần chủ động phòng ngừa rủi ro trong kinhdoanh bằng cách mua vảo hiểm, trích lập các quỹ dự phòng để có nguồn bùđắp khi không may có rủi ro xảy ra
Sáu là: Doanh nghiệp cần thường xuyên kiểm soát chặt chẽ các mặt
hoạt động SXKD mình, từ đó phát huy mạnh mẽ vai trò quản trị tài chínhdoanh nghiệp trong quản lý và sử dụng VKD Thông qua việc tính toán vàphân tích các chỉ tiêu tài chính như hệ số về khả năng thanh toán, khả năngsinh lời, kết cấu tài chính của doanh nghiệp, tình hình thu chi vốn tiền tệ và sựvận động của các nguồn tài chính, người quản lý doanh nghiệp có thể kiểmsoát được thực trạng các mặt SXKD của doanh nghiệp từ đó phát hiện kịpthời những tồn tại, vướng mắc để có biện pháp điều chỉnh nhằm nâng caohiệu quả sử dụng vốn
Trên đây là những biện pháp chung chủ yếu để nâng cao hiệu quả sửdụng vốn của doanh nghiệp Tuỳ vào từng doanh nghiệp, lĩnh vực hoạt động,điều kiện thị trường để mỗi doanh nghiệp lựa chọn cho mình những biện pháp
cụ thể có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng VKD của doanhnghiệp
CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH TỔ CHỨC VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH Ở CÔNG TY TNHH IN THƯƠNG MẠI VÀ XÂY
Trang 20Trụ sở chính của Công ty đặt tại 967 Đê La Thành- Hà Nội.
Điện thoại: 04.7753213- 04 7753214
Fax : 04.7753213
Tuy mới thực sự được hình thành được 4 năm nhưng Công ty NhậtQuang đã đóng vai trò là đơn vị cung cấp uy tín các sản phẩm in ấn, in baothiết bị nội thất văn phòng, trường học, bệnh viện, nội thất công nhiệp … ,cung cấp dịch vụ vận chuyển khách du lịch, đóng góp một phần quan trọngtrong sự phát triển của khách hàng và xã hội
Trong những năm qua, Công ty không ngừng hoàn thiện mình để cóchỗ đứng trong nền kinh tế thị trường Công ty liên tục đổi mới và củng cố tổchức theo hướng gọn nhẹ và hiệu quả Với lĩnh vực sản xuất chính của Công
ty là thiết kế quảng cáo, thiết kế in bao bì, in ấn các loại sách báo, tạp chí,truyện, tờ quảng cáo và các ấn phẩm văn hoá khác, Công ty đã luôn cải thiệnmẫu mã sản phẩm, rút ngắn thời gian sản xuất, cố gắng chiếm lĩnh thị trườngnội địa đặc biệt là thị trường phía Bắc Những kết quả mà Công ty đã đạtđược trong thời gian qua là rất đáng khích lệ, cùng với các công ty và nhà inkhác Công ty Nhật Quang đã đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của thịtrường bao bì và các loại sách báo, tạp chí, tranh ảnh, với chất lượng sảnphẩm ngày càng cao, đời sống cán bộ công nhân viên không ngừng được cảithiện, Công ty thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với Nhà nước
2.1.2.Phương hướng, nhiệm vụ kinh doanh:
Để thực hiện tốt các yêu cầu mà khách hàng uỷ thác và đảm bảo cácyêu cầu về Mỹ thuật, kỹ thuật, chất lượng và tiến độ một cách tốt nhất thìCông ty đã đề ra phương hướng và nhiệm vụ kinh doanh như sau:
- Không ngừng đổi mới máy móc thiết bị và nâng cao tay nghề cán bộ côngnhân viên
- Củng cố và mở rộng thị trường tiêu thụ, đặc biệt là thị trường phía Bắc
Để thực hiện được các mục tiêu trên thì Công ty đã đặt ra các nhiệm vụ cụ thểsau:
- Tư vấn, thiết kế tạo mẫu
Trang 21- In ấn và gia công các ấn phẩm như: sách báo, tạp chí, tờ quảng cáo, nhãnmác, bao bì trên mọi chất liệu.
- Kinh doanh các loại vật tư, thiết bị văn phòng,
Với phương hướng và nhiệm vụ như vậy, Công ty đã chủ động nắm bắtnhu cầu thị trường, đa dạng hoá các sản phẩm ngành in Vì vậy khách hàngcủa Công ty rất phong phú bao gồm: Các nhà xuất bản, ban biên tập các báo,các hãng sản xuất kinh doanh thực phẩm, hàng tiêu dùng, các tổ chức xã hội
và các cá nhân khác
2.1.3 Quy mô sản xuất kinh doanh:
So với các công ty trong cùng ngành thì Công ty Nhật Quang có quy
mô vào loại nhỏ Tính đến ngày 31/12/2004 thì tổng số vốn kinh doanh củaCông ty là 5.640.026 nđ trong đó vốn lưu động là 2.964.433 nđ, chiếm52,56% Sở dĩ vốn lưu động của công ty chiếm tỷ trọng lớn như vậy là do đặcthù của ngành chi phối, sản phẩm in có hàm lượng vốn lưu động khá cao thêmvào đó là kinh doanh và lắp đặt nội thất, kinh doanh dịch vụ vận chuyểnkhách du lịch thì vốn lưu động được dùng để quay vòng là chủ yếu Đó là vốnlưu động cho dự trữ nguyên vật liệu, hàng hoá và các khoản phải thu chiếmmột phần rất lớn
Trong tổng nguồn vốn kinh doanh của Công ty thì vốn chủ sở hữu là:4.541.654 nđ chiếm 80,53%, nợ phải trả là:1.098.372 nđ, chiếm 19,47% vàchủ yếu là nợ ngắn hạn Như vậy nguồn vốn chủ sở hữu của Công ty đã đápứng được phần lớn nhu cầu về vốn cố định của Công ty
Nhắc đến quy mô sản xuất kinh doanh của Công ty không thể chỉ nóiđến vốn mà còn một yếu tố không thể không nhắc tới đó là lực lượng laođộng của Công ty.Tính đến 31/12/2004 thì tổng số lao động của Công ty là
115 người, trong đó nhân viên quản lý là 58 người, phần lớn đều có trình độ
từ đại học trở lên, lao động trực tiếp sản xuất là 57 người với trình độ taynghề khá cao
Lực lượng lao động của Công ty vừa đông đảo về mặt số lượng, vừađảm bảo về mặt chất lượng, tay nghề Đây là một yếu tố hết sức thuận lợi củaCông ty mà không phải công ty nào cũng có được Hơn thế nữa, các máy
Trang 22móc, trang thiết bị dùng trong sản xuất và quản lý điều hành sản xuất củaCông ty đều được trang bị khá đồng bộ và hiện đại
Tất cả các yếu tố trên là điều kiện tiền đề hết sức thuận lợi của Công ty.Tạo ra năng lực sản xuất, khả năng cạnh tranh cho Công ty Song trong môitrường kinh tế cạnh tranh và hội nhập như hiện nay thì một trong yếu tố quyếtđịnh đến sự thành bại của một doanh nghiệp lại là công nghệ sản xuất
2.1.4 Quy trình công nghệ sản xuất kinh doanh
Do nhận thức được tầm quan trọng của công nghệ trong sản xuất sảnphẩm, ngay từ giai đoạn đầu của quá trình đầu tư Công ty đã lựa chọn côngnghệ in Offset Đây là công nghệ in tiên tiến, hiện đại trong ngành in Để tạo
ra một sản phẩm in hoàn chỉnh phải trải qua các công đoạn sản xuất chínhsau:
Quy trình in ấn một sản phẩm bao gồm rất nhiều công việc, thao tác phứctạp, một cách tổng quát có thể chia quy trình đó thành 3 giai đoạn sau:
Giai đoạn trước In:
Gồm công việc thiết kế, chế bản, bình bản Bắt đầu từ khi khách hàngđưa biểu mẫu đến cho tới khi các biểu mẫu ấyđược thể hiện trên tấm kẽm đểđưa vào máy in Đầu tiên biểu mẫu của khách hàng được thiết kế, đưa vàophân màu điện tử, sắp xếp, lập ma két, sau đó chuyển sang bộ phận bình bản,phân loại và sắp xếp các hình ảnh cùng một màu với nhau rồi chuyển hìnhảnh sang một tấm phim Sau khi chụp phim sẽ đến công đoạn chuyển các hìnhảnh trên phim sang một tấm kẽm theo từng đơn màu bằng việc phơi bản Mỗi
Gia công Kiểm tra, đóng gói, nhập kho
Trang 23tấm kẽm bao gồm các hình ảnh có cùng một màu và được chuyển vào máy in
để in ra các trang in Đến đây kết thúc khâu trước khi in
Giai đoạn In:
Tấm kẽm được chuyển đến các phân xưởng in để bắt đầu công việc inOffset Tấm kẽm được đưa vào các máy in, tuỳ theo từng loại máy mà in ranửa thành phẩm là các trang in gồm nhiều loại 16 trang, 8 trang, 4 trang với 1màu, 2 màu và 4 màu Công việc in kết thúc và nửa thành phẩm được chuyểnsang cho bộ phận khác tiếp tục công việc hoàn thiện một sản phẩm in
Giai đoạn sau In:
Các trang in khổ lớn được chuyển sang bộ phận gấp thành các trangnhỏ bằng máy hoặc thủ công Sau đó đến công việc cắt, khâu, đóng ghim,phay gáy và xén tuỳ theo yêu cầu của từng khách hàng Đến đây hoàn thànhquy trình sản xuất ra một sản phẩm in Công việc còn lại là kiểm tra chấtlượng sản phẩm, đóng gói và nhập kho Như vậy quy trình công nghệ in làtheo phương pháp chế biến liên tục đòi hỏi sự nhịp nhàng ăn khớp giữa cáckhâu, vì vậy công ty đã rất chú ý đến công tác giám sát từ đó phát hiện kịpthời , xử lý, khắc phục sự cố đảm bảo cho sản xuất được thông suốt và liêntục
2.1.5 Đặc điểm sản xuất kinh doanh của công ty:
Vì sản phẩm chủ yếu của công ty là sản phẩm in và sản xuất theo đơnđặt hàng Trên cơ sở yêu cầu của khách hàng về chất lượng, mẫu mã, giấy incũng như số lượng in cho một loại sản phẩm nào đó, công ty sẽ lập dự toán vàđưa ra các mức giá cả phù hợp với từng yêu cầu của khách hàng Nếu kháchhàng chấp nhận mức giá cả và điều kiện đã đưa ra thì sẽ ký hợp đồng vớicông ty Sau khi ký hợp đồng, công ty sẽ lập kế hoạch huy động vốn, muasắm nguyên vật liệu và tiến hành sản xuất Sản phẩm in chủ yếu là trang incông nghiệp được quy đổi theo trang in tiêu chuẩn khổ 13 19 cm
Trang 24Do quá trình sản xuất là một chu trình khép kín, sản phẩm của khâutrước là đối tượng của khâu sau nên sản phẩm chỉ hoàn thiện khi đã qua khâucuối cùng Các sản phẩm sản xuất ra đòi hỏi phải có sự chính xác cao cả về kỹthuật và mỹ thuật đáp ứng yêu cầu mà khách hàng đã dặt ra Vì sản phẩm củacông ty là các loại sách báo, tạp chí, lịch, nên vào các thời điểm khác nhautrong năm số lượng các đơn đặt hàng cũng có sự khác nhau Thường vào thờiđiểm cuối năm nhu cầu in các loại sách báo tết, các loại lịch, thường tăngđột biến so với nhu cầu bình thường
Nguyên vật liệu sử dụng chủ yếu là các loại giấy và mực in Tuỳ theoyêu cầu của khách hàng về giá cả và loại giấy mà công ty sẽ sử dụng giấy nộiđịa hay nhập ngoại Giấy nội địa mà công ty thường sử dụng là giấy Bãi bằng,giấy Tân mai, giấy Việt trì Riêng với giấy nhập ngoại, một phần được sửdụng để sản xuất theo đơn đặt hàng, phần còn lại bán ra thị trường qua phòngkinh doanh nhằm tăng thêm lợi nhuận cho công ty Ngoài ra để hoàn chỉnhcông việc in ấn còn cần đến các vật liệu khác như cao su, keo dán, các loạihoá chất phụ trợ khác
Việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của công ty phụ thuộc và số đơn đặthàng đã ký kết với khách hàng Đây là một đặc điểm rất riêng biệt trong hoạtđộng kinh doanh của công ty Từ đặc điểm đó thì đưa lại cho công ty nhữngthuận lợi như sản phẩm sản xuất ra bao nhiêu đảm bảo tiêu thụ hết, không cósản phẩm tồn kho và không phải đầu tư cho công tác bán hàng, không gây tốnkém nhiều chi phí lưu kho Song cũng có mặt bất lợi là công ty sẽ bị độngtrong việc huy động và sử dụng vốn vì khó có thể dự đoán được số đơn đặthàng công ty sẽ ký được trừ những khách hàng truyền thống Do đó, để tăngđược khối lượng sản phẩm tiêu thụ, doanh thu và lợi nhuận thì việc chủ độngtìm kiếm và tăng số lượng đơn đặt hàng là vô cùng quan trọng và rất cần cónhững biện pháp, chính sách thoả đáng
Trang 252.1.6.Cơ cấu tổ chức quản lý SXKD và tổ chức bộ máy tài chính kế toán:
*Tổ chức nhân sự và tổ chức sản xuất kinh doanh:
Cử nhân Tài chính kế toán : 04
Trình độ cao đẳng, trung cấp và công nhân kỹ thuật : 57
Trong quá trình hoạt động, đội ngũ nhân viên liên tục được đào tạonhằm nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng và bản lĩnh nghề nghiệp cùngcác kiến thức bổ trợ về Pháp luật, Kinh tế, Kỹ thuật, thị trường… để có khảnăng đa dạng hoá, chuyên sâu hơn trong lĩnh vực hoạt động cung cấp chokhách hàng
Trang 26Tổ chức sản xuất kinh doanh:
và trực tiếp chỉ đạo cho các bộ phận phân xưởng được uỷ quyền
Phòng Thiết kế
Giám đốc
PGĐ
Nội thất
PGĐ In
PGĐ
Du lịchHội đồng thành viên
Trang 27+ Các phòng ban:
- Văn phòng công ty
- Phòng kế hoạch tổng hợp: Có nhiệm vụ xây dựng các kế hoạch ngắn
và dài hạn( phương án sản xuất và tiêu thụ) Tiếp cận thị trường, nắm bắt cácthông tin thị trường để kịp thời đưa vào sản xuất Xây dựng kế hoạch sản xuất
và tiêu thụ tháng, quý, năm, nắm chắc thống kê từng loại sản phẩm Ngoài raphòng kế hoạch còn điều độ sản xuất, phối hợp với các phòng ban phân tíchtình hình sản xuất của công ty
- Phòng thiết kế: Đây là phòng ban không thể thiếu trong Công ty vìlĩnh vực kinh doanh chính của công ty là lĩnh vực in và sản phẩm cần độchính xác tuyệt đối cả về kích thước, màu sắc, thẩm mỹ, Và để làm hài lòngkhách hàng thì yêu cầu nhân viên thiết kế phải có năng lực thực sự, có trình
độ cao vì nếu thiết kế sai chỉ một chi tiết nhỏ thì khi in ra sản phẩm mà kháchhàng không hài lòng thì có thể phải huỷ toàn bộ sản phẩm do sản phẩm inkhác rất nhiều so với các loại sản phẩm khác Đối với các loại sản phẩm khácnếu sai có thể sửa lại, nhưng còn đối với sản phẩm in thì sai chỉ có thể huy bỏ
Vì vậy thiết kế là khâu vô cùng quan trọng, không thể thiếu để sản xuất rathành phẩm
- Phòng kế toán: Là nơi trực tiếp quản lý công ty về mặt tài chính Thựchiện thu thập và xử lý thông tin, số liệu kế toán theo đối tượng và nội dungcông việc, theo chuẩn mực và chế độ kế toán, thực hiện hạch toán kinh doanh,giao dịch, thanh quyết toán với khách hàng, Nhà nước, tính toán và trả lươngcho cán bộ công nhân viên,
Phòng kế toán của Công ty gồm 5 người: 1 kế toán trưởng
1 kế toán tổng hợp
3 kế toán viên
Trang 28Kế toán trưởng là người đứng đầu bộ máy kế toán, chịu trách nhiệmchung về công tác kế toán của công ty và chịu trách nhiệm chung về việccung cấp các thông tin kế toán cho các đối tượng sử dụng thông tin.
2.1.7 Kết quả kinh doanh trong một số năm gần đây:
Những năm qua, nền kinh tế nước ta có nhiều chuyển biến mạnh mẽ từsau quá trình công nghiệp hoá- hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế Cùngvới quá trình hội nhập là một số chính sách ưu đãI thu hút đầu tư mở rộng thìhàng loạt các doanh nghiệp ra đời gồm cả doanh nghiệp quốc doanh, doanhnghiệp ngoài quốc doanh và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Sứccạnh tranh của các ngành kinh tế nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung
đã tăng lên rõ rệt Trước sức ép cạnh tranh như vậy Công ty In Thương Mại
và Xây Dựng Nhật Quang đã có những định hướng phát triển cải tiến, trang bịmáy móc thiết bị và mở rộng sản xuất kinh doanh Biểu hiện cụ thể qua cácchỉ tiêu của biểu 01: Kết quả kinh doanh của công ty trong 2 năm gần đây(Trang bên):
Nhìn chung, những kết quả đã đạt được trong 3 năm qua đã phần nàophản ánh được chiều hướng phát triển đi lên của Công ty In Thương Mại vàXây Dựng Nhật Quang Kết quả đó đã tạo đà cho công ty ổn định và pháttriển trong sản xuất kinh doanh Từ đây cũng đặt ra vấn đề là: làm thế nào đểduy trì sự tăng trưởng ấy, phát huy và nâng cao hơn nữa hiệu quả đồng vốnkinh doanh Để trả lời câu hỏi ấy, trước hết cần thấy được những khó khăn vàthuận lợi cơ bản của Công ty trong giai đoạn hiện nay đồng thời cần có sựphân tích, đánh giá một cách cụ thể về tình hình tổ chức và hiệu quả VKD củaCông ty trong thời gian qua mà gần đây nhất là năm 2004 Từ đó có thể rút ranhững kinh nghiệm trong tổ chức, sử dụng vốn, phát huy được mặt tích cực,
Trang 29có biện pháp xử lý đối với những nhân tố có thể làm giảm hiệu quả sử dụngVKD trong thời gian tới.
2.2 TÌNH HÌNH TỔ CHỨC VỐN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VKD Ở CÔNG
TY IN THƯƠNG MẠI VÀ XÂY DỰNG NHẬT QUANG NĂM 2004:
2.2.1 Thuận lợi và khó khăn cơ bản:
* Thuận lợi:
- Về cơ sở vật chất kỹ thuật: Như đã đề cập ở trên, công nghệ và lựclượng lao động là những thế mạnh của Công ty Trong các phương pháp incông nghiệp từ trước tới nay như in Typo, in ống đồng, in ofset thì in ofset làphương pháp in rất hiệu quả và được coi là phương pháp in chính trong giaiđoạn hiện nay Do những ưu điểm về năng xuất, chất lượng và hiệu quả kinh
tế nên phương pháp in ofset vẫn là phương pháp được thế giới đánh giá làphương pháp in chính của ít nhất 2 thập kỷ đầu thế kỷ XXI Nhưng nhìnchung về giải pháp công nghệ ngàng in ở nước ta còn thua kém so với cácnước trong khu vực như Trung Quốc … và các nước trên thế giới Do đóCông ty đã không ngừng học hỏi và đầu tư máy móc thiết bị để đa dạng hoámặt hàng in Bên cạnh đó công tác thiết kế, chế bản trong lĩnh vực in hiệnđang ngày càng đòi hỏi cao nắm bắt được thế mạnh đó công ty đã đầu tư hệthống máy thiết kế hiện đại đáp ứng đầy đủ các yêu cầu cao của khách hàngnhư thiết kế bao bì, thiết kế quảng cáo
- Đội ngũ công nhân kỹ thuật trình độ cao: Lực lượng lao động của công
ty rất đông đảo, được đào tạo qua trường lớp chuyên ngành và sau một thờigian làm việc tại Công ty đã được công ty tổ chức cho đi học nâng cao taynghề nên rất giàu kinh nghiệm, giỏi về nghiệp vụ và hoàn toàn có thể đápứng được yêu cầu cao trong công việc, trong ứng dụng công nghệ mới
- Đặc điểm riêng biệt của ngành in: Lĩnh vực in ấn mang nhiều đặc điểmriêng biệt Vì sau khi ký hợp đồng với khách hàng mới tổ chức quá trình thiết
Trang 30kế, chế bản, ra film rồi đưa vào sản xuất nên không có sản phẩm hàng tồnkho Nếu có thì chỉ là những sản phẩm chưa gia công sau in và các sản phẩmchưa chuyển cho khách hàng Thông thường khi ký kết hợp đồng, khách hàngphải ứng trước một khoản tiền nhất định cho công ty Công ty sẽ có ngay mộtlượng vốn tiền tệ để mua sắm nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất củamình, giảm bớt sự căng thẳng về nhu cầu sử dụng vốn, tiết kiệm chi phí sovới việc phải đi vay vốn.
- Lợi thế thương mại: Công ty hiện có những lợi thế thương mại sau:+ Địa điểm hoạt động: tại thủ đô Hà Nội , rất thuận lợi cho công tác giaodịch và nắm bắt kịp thời các thông tin và đây cũng là thị trường lớn với cácnhu cầu phong phú và đa dạng
+ Nguồn khách hàng: Do hoạt động ở nhiều mảng lĩnh vực nên công tykhông chỉ đơn thuần khai thác các khách hàng trong lĩnh vực ngành in màcông ty còn khai thác khách hàng trong quá trình cung cấp các dịch vụ khácnhư thiết kế lắp đặt nội thất, hoạt động vận chuyển khách du lịch do đó mốiquan hệ của Công ty với các khách hàng ngày càng mở rộng
* Khó khăn:
- Sức ép về cạnh tranh: Ngày 3/2/2000, Chính phủ bãi bỏ chính giấyphép thành lập cơ sở in bao bì làm cho cuộc cạnh tranh trong nghành in ngàycàng gay gắt hơn Hàng loạt các cơ sở in bao bì, in quảng cáo, in lưới đã rađời, số lượng doanh nghiệp một, nhiều thành viên tăng lên nhanh chóng Nếucông ty không chủ động tìm ra phương hướng đi phù hợp và nhu cầu của thịtrường thì việc chia sẻ thị phần với các doanh nghiệp là không thể tránh khỏi
- Về nguyên vật liệu: hiện tại thị trường nguyên vật liệu giấy chưa đadạng để đáp ứng các nhu cầu của thị trường ngành in nên công ty đã phải sửdụng một lượng lớn là giấy và mực ngoại nhập nên chịu nhiều rủi ro từ biếnđộng giá cũng như ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái trên thị trường
Trang 31- Nguồn vốn đầu tư: Do công ty đầu tư mở rộng hoạt động ở nhiều lĩnhvực nội thất, vận chuyển khách du lịch nên nguồn vốn kinh doanh chưa tậpchung chủ yếu vào đầu tư công nghệ cho lĩnh vực in Nhiều mặt hàng công tysong phải đi gia công ở ngoài do đó chi phí giá thành lên cao, lợi nhuận giảm.
2.2.2 Tình hình tổ chức vốn SXKD của Công ty In Thương Mại và Xây Dựng Nhật Quang năm 2004:
Tương ứng với một quy mô kinh doanh là một lượng vốn nhất định.Mỗi lượng vốn lại có những nguồn hình thành khác nhau tuỳ thuộc vào loạihình doanh nghiệp Tình hình tổ chức vốn kinh doanh của Công ty In ThươngMại và Xây Dựng Nhật Quang trong năm 2004 được biểu hiện qua cơ cấuvốn và nguồn hình thành, đồng thời so sánh với năm 2003 qua biểu 02: Tìnhhình tổ chức VKD của Công ty năm 2004 (Trang bên):
Năm 2004 tổng số vốn kinh doanh của Công ty tăng lên đáng kể: TổngVKD tăng 441.241nđ so với năm 2003 Trong đó:
- Năm 2004, VLĐ là 2.964.433nđ chiếm 52,56% tổng VKD và tăng sovới năm 2003 là: 67.081nđ tương ứng tỷ lệ tăng 2,32% và tỷ trọng giảm là3,17% Như vậy, xét về số tuyệt đối thì VLĐ tăng hơn so với năm 2003, songxét về số tương đối thì VLĐ giảm 3,17% Nguyên nhân là do tốc độ tăng củaVLĐ (2,32%) nhỏ hơn tốc độ tăng của VCĐ (16,26%)
- VCĐ là 2.675.593nđ chiếm 47,44% trong tổng VKD và tăng so vớinăm 2003 là 374.160nđ tỷ lệ tăng 12,26%, tỷ trọng tăng 3,17%, do trong nămcông ty có đầu tư thêm máy móc thiết bị phục vụ cho ngành in và phục vụ chocông tác quản lý
- Như vậy quy mô của Công ty tăng là do cả VCĐ và VLĐ đều tăng, vìnăm 2004 Công ty có đầu tư thêm một số máy móc thiết bị và tăng thêmTSLĐ để mở rộng thêm lĩnh vực kinh doanh Hơn thế nữa năm 2004 Công ty
Trang 32trữ hàng tồn kho mà chủ yếu là nguyên vật liệu cho lĩnh vực in và vật liệu,hàng hoá cho lĩnh vực nội thất Hàng tồn kho năm 2004 là: 964.532nđ chiếm
tỷ lệ 32,54% trong VLĐ, tăng thêm 182.103nđ tương ứng tỷ lệ tăng 23,27%
so với năm 2003 Mặt khác, do các khoản phải thu đã tăng lên cũng làm chovốn lưu động tăng lên đáng kể Trong lĩnh vực in Công ty In Thương Mại vàXây Dựng Nhật Quang sản xuất theo đơn đặt hàng nên nguyên vật liệu chỉđược mua về cho từng đơn đặt hàng Hơn nữa trong sản xuất công ty áp dụngkhoán theo định mức cho từng khâu, trường hợp sử dụng nguyên vật liệu lãngphí, hỏng hoặc vượt định mức công nhân sẽ phải bồi thường Do đó, nguyênvật liệu dự trữ tăng là biểu hiện tốt mà không sợ bị tồn đọng vốn ở khâu này.Thực tế trong thời gian qua, thông thường khi ký kết hợp đồng khách hàng sẽứng trước một khoản tiền và sẽ thanh toán toàn bộ sau một thời gian nhất địnhsau khi nhận đủ số hàng Do vậy số lượng vốn của Công ty trong thanh toán
có thể bị chiếm dụng lớn nhưng hầu như đều được thu hồi đúng hạn và không
có khoản phải thu nào chuyển thành nợ khó đòi Còn trong lĩnh vực sản xuất
và lắp đặt nội thất sau khi ký kết hợp đồng khách hàng đặt tiền trước nhưngquá trình lắp đặt nội thất diễn ra trong thời gian dài và sau đó mới đi vàonghiệm thu nên quá trình thu hồi vốn sẽ lâu Còn trong lĩnh vực vận chuyểnkhách du lịch thì vòng quay lưu động vốn lại rất nhanh khách hàng thườngthanh toán ngay sau khi kết thúc hay hoàn thành hợp đồng và không cónguyên vật liệu tồn kho Như vậy, cùng với quy mô sản xuất tăng và doanhthu tiêu thụ là tăng thêm nguyên vật liệu dự trữ cho sản xuất, các công trìnhlắp đặt dở dang tăng và được bù trừ cho nhau trong lưu thông tài chính nênđược coi là hợp lý
- VCĐ trong năm 2004 chủ yếu tăng ở thời điểm cuối năm do Công tyđầu tư thêm một số thiết bị gia công trong lĩnh vực in và một số thiết bị thiếtyếu cho việc lắp đặt nội thất Cùng với sự biến động về cơ cấu vốn như vậy,nguồn hình thành vốn của Công ty năm 2004 cũng có sự biến động như sau:
Trang 33Nợ phải trả của công ty năm 2004 tăng 72.587nđ tương ứng tăng7,08%, tỷ trọng giảm 0,26% Nợ phải trả của công ty tăng là do nợ ngắn hạncủa công ty tăng: cuối năm 2004 nợ ngắn hạn của công ty là 898.372nđ, tăng72.587nđ tỷ trọng tăng 1,29% còn nợ dài hạn thì không có biến động Tínhđến thời điểm cuối năm 2004 thì nợ ngắn hạn tăng là do khách hàng đã ứngtrước tiền hàng và do công ty nợ tiền khi mua nguyên vật liệu và nợ thuế Nguồn vốn chủ sở hữu năm 2004 là: 4.541.654 nđ chiếm 80,53% trongtổng nguồn vốn tăng hơn so với năm 2003 là 368.654nđ với khoản lãi chưachia tăng 368.654nđ được sử dụng để tái đầu tư mở rộng sản xuất kinhdoanh.
- Nhìn chung tình hình sản xuất kinh doanh của công ty phát triển cả vềlĩnh vực sản xuất và lĩnh vực kinh doanh còn lĩnh vực du lịch tuy mới đượcđầu tư đưa vào hoạt động song đã đạt được kết qủa khá khả quan, mặc dùnguồn vốn để đầu tư vào mở rộng chưa nhiều song với phương hướng nhưhiện nay kết hợp với một số thông tin khai thác thị trường sẽ đem lại cho công
ty những bước tiến mới và ngày càng phát triển và có vị thế trên thị trường Qua biểu 02 ta thấy được cơ cấu vốn và nguồn vốn của công ty Để xemxét khái quát sự huy động vốn và sử dụng vốn của công ty năm 2004 ta đixem xét biểu 03 và biểu 04: Diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn của công tynăm 2004 (Trang bên):
Qua số liệu tính toán ở hai biểu ta thấy:
* Về tổ chức vốn: Trong năm 2004, Công ty chủ yếu tìm nguồn tài trợ thôngqua việc trích khấu hao, giảm trả trước cho người bán, tăng khoản trích lậpcác quỹ, giảm hàng tồn kho Trong năm công ty đã trích lập các quỹ với sốtiền là: 368.654nđ, chiếm 36% trong tổng số nguồn vốn huy động được Đây
là nguồn vốn lớn nhất mà công ty đã huy động được Trong năm công ty đãgiảm hàng hoá tồn kho với số tiền là 173.251nđ, chiếm 16,92% tổng sốnguồn vốn huy động được, qua thực tế cuối năm công ty đã bán được một số
Trang 34trong năm công ty đã chú trọng công tác trích lập quỹ, tăng nguồn vốn khấuhao và tăng nguồn vốn của mình thông qua việc chiếm dụng vốn của ngườibán mặc dù vốn công ty chiếm dụng được nhỏ hơn rất nhiều so với vốn công
ty bị chiếm dụng Trong năm 2004 công ty cũng đã xắp xếp lại VLĐ trongcác khâu bằng việc giảm bớt tiền mặt tại quỹ, giảm bớt khoản phải thu củakhách hàng, tăng chiếm dụng vốn của người bán, tăng khoản trả trước củangười mua, tăng thuế phải nộp chưa đến hạn, tăng phải trả phải nộp khác.Điều đó cho thấy Công ty có xu hướng tăng hệ số nợ do đó rủi ro về tài chínhcủa công ty có xu hướng tăng Song, việc tăng hệ số nợ vẫn được đánh giá làtốt nếu hiệu quả sử dụng VKD của công ty là cao và vì hiện tại hệ số nợ củacông ty còn rất thấp Và Công ty đã huy động được một lượng vốn tương đốilớn thông qua việc trích lập các quỹ
Sự biến động của nguồn vốn của công ty như trên là hợp lý hay chưa tacần xem xét việc công ty đã sử dụng nguồn vốn đã huy động được như thếnào, có hợp lý hay chưa
* Về sử dụng vốn:
Qua biểu 04 : Trong tổng 1.023.854nđ mà công ty đã huy dộng được thì
có 482.660nđ, chiếm 47,14% dùng để mua sắm thêm TSCĐ, tăng thêm quy
mô SXKD của công ty Đây là khoản lớn nhất được sử dụng trong tổng nguồnvốn mà công ty đã huy động được 1 phần vốn huy động được công ty đãdùng để mua sắm thêm nguyên vật liệu phục vụ cho sản xuất: 141.252nđ, ứngvới 13,8%, 1 phần trả nợ ngân hàng: 100.000nđ chiếm 9,77% và một phầntăng chi phí SXKD dở dang: 214.102nđ, chiếm 20,91% Từ đó cho thấy công
ty đã dùng phần lớn vốn huy động được vào việc đầu tư mua sắm thêm TSCĐphục vụ cho SXKD, dự trữ sản xuất và trả nợ ngân hàng
Để có kết luận chính xác hơn về tình hình tài chính của công ty ta cần xemxét tình hình nợ phải trả của công ty qua Biểu 05: Tình hình nợ phải trả củacông ty năm 2004 ( trang bên):
Trang 35Trong các khoản nợ của công ty thì khoản phải trả cho người bánchiếm tỷ trọng lớn nhất Năm 2004 phải trả cho người bán là: 383.107nđtương ứng bằng 34,88% tổng nợ phải trả của công ty và tăng so với năm 2003
là 48.548nđ tương ứng với tỷ lệ tăng 14,51%, tỷ trọng tăng 2,27% Sở dĩkhoản phải trả người bán tăng là do công ty phải trả 1 khoản nợ vay ngắn hạn
là 100.000nđ và nợ ngắn hạn còn được dùng để tài trợ cho nhu cầu sử dụngVLĐ đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh và thầu thêm các đơn đặt hàng mớitrong khi đó các đơn đặt hàng cũ lại chưa thanh toán được Nhìn chung trongnăm 2004 nợ ngắn hạn của Công ty In Thương Mại và Xây Dựng Nhật Quang
có biến động song biến động không lớn và biến động nợ ngắn hạn tăng nhưngbiến động về phải thu các khoản vốn lưu động tăng cao hơn nên tình hình tàichính của công ty tương đối ổn định và khả năng thanh toán các khoản nợngắn hạn nhanh
Thuế và các khoản phải nộp NSNN của công ty năm 2004 cũng tăng.Cuối năm 2004 là 90,854nđ, tăng 47.812nđ ứng với tỷ lệ tăng 111,08%, tỷtrọng tăng 4,07% Do trong năm công ty đã ký thêm nhiều hợp đồng làm tăngkhoản phải nộp ngân sách và Công ty đã tận dụng nguồn vốn này để bổ sungcho nhu cầu VLĐ tăng thêm Đây là khoản mà công ty có thể chiếm dụng màkhông phải trả lãi do chưa đến hạn phải nộp Song công ty cần phải hiếu rõtính chất tạm thời của nguồn vốn này để từ đó có kế hoạch sử dụng và trả nợphù hợp
Đối với khoản người mua trả trước: Năm 2004 tăng so với năm 2003 là57.722nđ với tỷ lệ tăng 68,2% và tỷ trọng 4,71% Khoản này tăng cho thấy uytín của công ty ngày càng được nâng cao vì vậy sau khi ký hợp đồng kháchhàng đã đồng ý ứng trước một phần tiền hàng cho công ty làm tăng VLĐ tạmthời cho công ty Đây là khoản mà công ty chiếm dụng tạm thời và khôngphải trả lãi nên công ty cần thực hiện đúng hợp đồng đã ký: sản phẩm sảnxuất phải đúng chất lượng, mẫu mã và thời gian giao hàng phải đúng hợp
Trang 36đồng Nếu không sẽ làm giảm uy tín của công ty và công ty có thể bị mất bạnhàng.
Phải trả phải nộp khác cuối năm 2004 là 82.047nđ chiếm 7,47% tổng
nợ, tăng 18.505nđ so với năm 2003 ứng với tỷ lệ tăng là 29,12%, tỷ trọngtăng 1,27%
Đối với khoản phải trả công nhân viên: Tính đến thời điểm cuối năm 2003
và 2004 thì công ty không còn khoản nợ nào đối với người lao động trongcông ty Điều này cho thấy công ty đã quan tâm rất nhiều đến đời sống cán bộcông nhân viên trong công ty, song một mặt cho thấy công ty cũng chưa tậndụng tối đa nguồn VLĐ tạm thời này mà không phải trả chi phí
Từ những phân tích trên đã đánh giá khái quát về tình hình tổ chứcVKD của công ty In Thương Mại và Xây Dựng Nhật Quang ta sẽ xem xéttình hình quản lý và sử dụng VKD của công ty trong năm 2004
2.2.3.Tình hình sử dụng và hiệu quả sử dụng VKD của công ty In Thương Mại và Xây Dựng Nhật Quang.
2.2.3.1 Tình hình sử dụng và hiệu quả sử dụng VCĐ của công ty năm 2004:
Do đặc thù sản xuất kinh doanh của công ty In Thương Mại và XâyDựng Nhật Quang nên VCĐ của công ty chiếm tỷ trọng thấp trong tổng sốVKD Năm 2004 VCĐ của công ty là: 2.675.593nđ chiếm 47,44% trong đóchủ yếu đầu tư cho TSCĐ Hơn nữa đây cũng là cơ sở tạo ra năng lực sảnxuất cho công ty Vì vậy cần xem xét tình hình quản lý và hiệu quả sử dụngTSCĐ Sự biến động của TSCĐ năm 2004 được phản ánh qua bảng số liệuBiểu 06: Tình hình tăng giảm TSCĐ năm 2004 (trang bên)
Tính đến cuối năm 2004, tổng TSCĐ của công ty đều là TSCĐ hữuhình đang sử dụng, chủ yếu là máy móc thiết bị dùng cho sản xuất, phươngtiện vận chuyển và thiết bị văn phòng Trong đó:
Trang 37Máy móc thiết bị dùng cho sản xuất 1.993.196nđ chiếm 65,86% trongtổng TSCĐ Do lĩnh vực chính của công ty là in nên máy móc thiết bị phục
vụ cho sản xuất chiếm tỷ trọng lớn là tương đối phù hợp Công ty mới thànhlập và đi vào hoạt động được ba năm mà ngay từ đầu công ty đã mua sắm đầy
đủ máy móc trang thiết bị hiện đại vì vậy trong 3 năm nay thì tỷ lệ tăng giảm
về TSCĐ của công ty là không đáng kể
Phương tiện vận tải dùng cho hoạt động kinh doanh vận chuyển vàquản lý 682.132nđ chiếm 22,54% trong tổng TSCĐ Phương tiện vận tải củacông ty chủ yếu phục vụ cho hai lĩnh vực nội thất và du lịch mà hai lĩnh vựcnày của công ty còn chưa phát triển nên phương tiện vận tải của công ty chưaphát huy được hết công suất, vì vậy năm 2004 công ty không đầu tư thêmphương tiện vận tải mà chỉ tăng công suất hoạt động để tránh tình trạng lãngphí làm giảm hiệu quả sử dụng vốn
Thiết bị quản lý văn phòng và thiết bị phục vụ cho công tác thiết kếquảng cáo là 350.810nđ chiếm 11,6% trong tổng TSCĐ Loại tài sản này chủyếu phục vụ cho công tác tư vấn thiết kế và du lịch nên thường có giá trịthấp
Công ty hiện nay không có tài sản cố định chưa cần dùng và không cầndùng Nhìn chung về số tương đối tăng với tỷ lệ cao song xét về số tuyệt đốithì số tăng là không đáng kể so với các công ty trong cùng lĩnh vực In vì quy
mô của công ty còn quá nhỏ so với các công ty khác trong cùng ngành Vìvậy hiện tại kết cấu TSCĐ như vậy là tương đối hợp lý do đặc điểm kinhdoanh cuả công ty là vừa kết hợp sản xuất, vừa kinh doanh thương mại vàdịch vụ TSCĐ dùng cho sản xuất có giá trị lớn vì tính đặc thù của sản xuất,yếu tố tham gia trực tiếp tạo ra sản phẩm, biểu hiện năng lực của công ty vàTSCĐ dùng cho kinh doanh thương mại và dịch vụ có giá trị thấp hơn do tínhđặc thù của kinh doanh Song, để có thể phát triển và có chỗ đứng trên thịtrường thì công ty không thể cứ duy trì quy mô như cũ mà công ty cần phấn
Trang 38đấu huy động vốn để đầu tư thêm nhiều máy móc thiết bị hiện đại, mở rộngquy mô SXKD Từ đó tăng khối lượng sản phẩm sản xuất, cải tiến mẫu mã,chất lượng, hạ giá thành và mở rộng thị trường, tăng doanh thu và lợi nhuận.Qua biểu 06 ta thấy cuối năm TSCĐ của công ty tăng lên do công ty đãtập trung đầu tư thêm một số máy móc gia công, máy móc thiết kế phục vụcho việc sản xuất in để hoàn thiện và nâng cao chất lượng quá trình in.Nhưng để đánh giá được sự biến động của TSCĐ là hợp lý hay chưa cầnphân tích tình trạng kỹ thuật của TSCĐ của công ty qua biểu số 07: Tìnhtrạng kỹ thuật của TSCĐ năm 2004 (trang bên)
Cùng với việc phân tích sự biến động của TSCĐ như trên và qua số liệubiểu 07 về tình trạng kỹ thuật của TSCĐ đã cho thấy cái nhìn toàn diện hơn
về tình hình sử dụng TSCĐ của công ty Tại thời điểm năm 2004 giá trị cònlại tính chung cho toàn bộ TSCĐ của công ty cũng như từng loại TSCĐ làtương đối cao Cũng như phân tích ở trên qua biểu số 06 thì TSCĐ dùng chosản xuất có giá trị cao hơn so với các loại tài sản khác chứng tỏ công ty saukhi thành lập đã đầu tư một số máy móc thiết bị hiện đại dùng cho công nghệsản xuất in, sau một thời gian hoạt động sản xuất đi vào ổn định công ty đãtập trung đầu tư mở rộng lĩnh vực ngành nghề kinh doanh Sự biến động củaTSCĐ năm 2004 không lớn song những cũng phần nào khẳng định được sự
cố gắng của công ty, sự biến động tăng của TSCĐ không làm cho vốn lưuđộng dùng cho kinh doanh của công ty giảm, không làm ảnh hưởng đến lượngtiền lưu thông trong kinh doanh điều đó chứng minh được sự hợp lý của sựbiến động TSCĐ Vậy vấn đề đặt ra bây giờ là yêu cầu cho những năm tớiphải khai thác tối đa năng lực của TSCĐ nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả sửdụng VCĐ của công ty Vì thực tế hiện tại năm 2004 công ty mới chỉ pháthuy được 70% công suất máy móc thiết bị Như vậy còn lại 30% công suất làchưa được khai thác sử dụng triệt để Từ đó cho thấy công ty chưa thật sự cốgắng cho việc mở rộng thị trường tiêu thụ, tăng uy tín đối với khách hàng Vì
Trang 39vậy công ty cần nỗ lực hơn nữa trong chiến lược quảng cáo, chiến lược ưu đãiđối với khách hàng nhằm mở rộng thị trường.
Với tình hình đầu tư về TSCĐ của công ty như vậy, hiệu quả sử dụng VCĐtrong năm 2004 được đánh giá qua 1 số chỉ tiêu trên cơ sở so sánh năm 2004với 2003 qua biểu 08: Hiệu quả sử dụng VCĐ 2 năm 2003-2004( Trang bên):
Qua biểu 08 ta thấy:
Hiệu quả sử dụng VCĐ trước hết được biểu hiện qua doanh thu tiêu thụnăm 2004 đạt 11.352.466nđ, tăng 1.919.809nđ tương ứng với tỷ lệ tăng20,35% là sức tăng trưởng khá cao của công ty, lợi nhuận năm sau đạt caohơn năm trước 64.688nđ tương đương với 21,28% Trong năm 2004 số lượng
và giá trị các hợp đồng in các sản phẩm cùng loại tăng cao hơn năm trướctrong đó tập chung chủ yếu là các sản phẩm về nhãn mác, bao bì, tờ quảngcáo còn các sản phẩm về ấn phẩm, sách báo giảm Bên cạnh đó các hợp đồngthầu về lắp đặt nội thất tăng và có giá trị lớn, các hợp đồng về phục vụ khách
du lịch và vận chuyển khách du lịch cũng tăng do công ty đã có chú trọng đếncông tác quảng cáo, tiếp thị về dịch vụ du lịch của mình ra thị trường Nhưvậy doanh thu tăng và lợi nhuận tăng lên là do tăng số lượng sản phẩm tiêuthụ Mặc dù du lịch là lĩnh vực mới hoạt động của công ty song cũng hứa hẹnnhiều kết quả khả quan vì thực tế nhu cầu du lịch ngày càng tăng, nhưng để
có thể phát triển lĩnh vực này này thì công ty cần đầu tư nghiên cứu nhu cầuthị trường và từ đó nghiên cứu, tìm ra những vùng, miền, những dịch vụ đápứng nhu cầu ngày càng tăng của khách hàng để từ đó tăng doanh thu và lợinhuận
Hiệu suất sử dụng VCĐ năm 2004 là 4,56 tăng so với năm 2003 là 0,3
có nghiã là 1 đồng VCĐ sử dụng năm 2004 đã mang lại 4,56 đồng doanh thuthuần nhưng với 1 đồng vốn VCĐ trong năm 2003 chỉ mang lại 4,26 đồng