THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP PHÒNG CHỐNG BẠOLỰC GIA ĐÌNH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LÀO CAI Đinh Thị Hưng Chủ nhiệm đề tài Cơ quan thực hiện: Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Lào Cai Thời gia
Trang 1THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP PHÒNG CHỐNG BẠO
LỰC GIA ĐÌNH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH LÀO CAI
Đinh Thị Hưng
Chủ nhiệm đề tài Cơ quan thực hiện: Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Lào
Cai
Thời gian thực hiện: Từ 2009 - 2010 Nghiệm thu ngày/tháng/năm: 08/5/2015 Kết quả xếp loại: Đạt
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Lào Cai, là tỉnh miền núi, vùng cao biên giới, nhiều dân tộc sinh sống, nhiều phong tục tập quán và rào cản bất bình đẳng giới đang tồn tại do đó tình trạng BLGĐ là không tránh khỏi Thời gian qua, tỉnh đã có những nỗ lực trong công tác phòng, chống BLGĐ song cơ quan chức năng vẫn liên tục xử lý, giải quyết nhiều
vụ việc dân sự, hình sự, hôn nhân gia đình nguyên nhân bắt nguồn từ BLGĐ Thống kê từ Tòa án nhân dân 9 huyện/thành phố, năm 2011 Tòa án thụ lý giải quyết 823 vụ ly hôn (tăng 13 vụ so với năm 2010), trong đó 72% do phụ nữ đứng
Trang 2nguyên đơn và nguyên nhân chủ yếu do BLGĐ.Tuy đã có những nỗ lực nhưng BLGĐ vẫn là vấn đề phức tạp, cần có sự quan tâm đồng bộ, xem xét thoả đáng và can thiệp nhiều hơn Từ những vấn đề nêu trên, xét cả về góc độ lý luận và thực tiễn, nghiên cứu về BLGĐ trên địa bàn tỉnh Lào Cai là việc làm cần thiết, để từ đó đưa ra những giải pháp ngăn chặn, phòng chống phù hợp với đặc thù địa phương
Do đó, Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Lào Cai được sự quan tâm hỗ trợ từ Hội đồng Khoa học tỉnh tổ chức thực hiện nghiên cứu đề tài “Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp phòng, chống bạo lực gia đình trên địa bàn tỉnh Lào Cai”
II MỤC TIÊU, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP
1 Mục tiêu
- Đánh giá thực trạng BLGĐ tại tỉnh Lào Cai, tìm ra những nhân tố liên quan chủ yếu ảnh hưởng đến tình trạng BLGĐ; nhận diện, phân tích bản chất BLGĐ
- Đề xuất giải pháp phòng chống BLGĐ phù hợp với đặc thù tỉnh
- Xây dựng mô hình thực nghiệm thực hiện giải pháp phòng chống BLGĐ
1 Nội dung
- Lý luận chung về BLGĐ; quy định của pháp luật quốc tế, pháp luật Việt Nam về BLGĐ
- Những nghiên cứu điều tra số liệu một cách khách quan về tình trạng BLGĐ giữa nam giới (người chồng) và phụ nữ (người vợ) trong gia đình trên cả hai phương diện hoặc là nạn nhân hoặc là thủ phạm gây ra BLGĐ
- Nhận diện và phân tích bản chất của vấn đề BLGĐ Những nhân tố ảnh hưởng đến tình trạng BLGĐ
- Những giải pháp phòng chống/giải quyết tình trạng BLGĐ có tính khả thi, phù hợp đặc thù của tỉnh;
Trang 3- Thí điểm xây dựng mô hình thực nghiệm giải pháp phòng, chống BLGĐ tại cộng đồng
3 Phương pháp nghiên cứu
- Khảo sát phỏng vấn 1070 bảng hỏi: Trong đó phỏng vấn 1000 trường hợp ngẫu nhiên tại 9/9 huyện, thành phố (mỗi huyện, thành phố phỏng vấn tại 1 xã vùng cao, 1
xã vùng thấp) và 6 cơ quan, trường học, doanh nghiệp; đối tượng là nam, nữ, nông dân, công nhân, giáo viên, người kinh doanh, dịch vụ, công chức hiện đang có vợ hoặc chồng; Phỏng vấn sâu 70 người đã từng bị BLGĐ, người đã từng gây ra BLGĐ
và cán bộ địa phương
- Tổ chức 3 hội thảo thu thập thông tin, thảo luận về vấn đề BLGĐ và 8 hội thảo theo chuyên đề
- Nghiên cứu thông tin, số liệu, báo cáo từ các cơ quan liên quan
- Phương pháp chuyên gia (thông qua thuê khoán chuyên môn, mời tham luận
hội thảo chuyên đề)
- Thử nghiệm xây dựng mô hình thực nghiệm
III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1 Lý luận chung và quy định của pháp luật về vấn đề bạo lực gia đình.
Các nghiên cứu quốc tế đã cho thấy rằng BLGĐ là một hiện tượng có tính chất toàn cầu đang tác động đến khoảng 20 - 50% toàn bộ số phụ nữ trên thế giới "Phần lớn bạo lực chống lại phụ nữ xẩy ra trong gia đình và người gây ra bạo lực gần như luôn luôn là đàn ông" (WHO)
Ở Việt Nam, BLGĐ tồn tại từ lâu trong lịch sử và vẫn đang xảy ra trong các gia đình Nạn nhân của BLGĐ phần nhiều là phụ nữ Theo báo cáo của Bộ Công
Trang 4an, riêng năm 2011 trong số 1100 vụ giết người trên phạm vi toàn quốc, thì có tới 16% số vụ do người thân trong gia đình giết hại lẫn nhau
Cho đến nay, BLGĐ được thừa nhận như một trở ngại quan trọng đối với quyền con người và sự tiến bộ của phụ nữ
2 Thực trạng và nguyên nhân BLGĐ trên địa bàn tỉnh Lào Cai
2.1 Thực trạng bạo lực gia đình trên địa bàn tỉnh lào Cai
a Thực trạng nhận biết về BLGĐ
Tất cả mọi người đều biết về BLGĐ song ở mức độ khác nhau Việc nhận biết các hành vi BLGĐ còn chưa đầy đủ Nếu xem xét đến cả 4 hình thức BLGĐ trong đời sống vợ chồng thì dạng bạo lực về thể xác và bạo lực tình dục được nhận biết rõ ràng hơn (tương đương 96.5% và 92% nhận biết đúng, đủ); dạng bạo lực về tinh thần và bạo lực về kinh tế ít được nhận biết hơn so với bạo lực thể xác, bạo lực tinh thần (tương đương 84,5% và 58% nhận biết đúng, đủ)
Hội thảo triển khai đề tài Tập huấn phòng chống BLGĐ
Trang 5Hội thảo thu thập thông tin Ra mắt CLB phòng chống BLGĐ
Chiến dịch truyền thông phòng chống BLGĐ
b Thực trạng bạo lực gia đình
Trang 6BLGĐ xảy ra ở tất cả các mô hình gia đình, tuy mức độ và cách biểu hiện khác nhau
Cả phụ nữ (người vợ) và nam giới (người chồng) đều là nạn nhân và đều là thủ phạm gây ra BLGĐ; song nạn nhân của BLGĐ nhiều hơn và chủ yếu là phụ nữ
BLGĐ xảy ra hoặc là bị dấu diếm hoặc là được bình thường hóa; không hoặc ít được báo cáo, nhờ can thiệp
Sự can thiệp với BLGĐ đã có song chưa nhiều, chưa đủ mạnh
Định kiến giới liên quan đến BLGĐ
2.2 Nguyên nhân và hậu quả của bạo lực gia đình
- Nguyên nhân chủ quan: Do nhận thức về BLGĐ và bình đẳng giới chưa
đầy đủ; Do quan niệm phong kiến, còn tư tưởng gia trưởng; Do sự nhìn nhận, đấu tranh với BLGĐ còn hạn chế, thiếu thẳng thắn, thiếu tự tin, còn cam chịu; Do chưa biết, chưa quan tâm đến cách ứng xử giữa các thành viên gia đình
- Nguyên nhân khách quan: Chênh lệch giữa vợ và chồng về nghề nghiệp,
trình độ học vấn, hiểu biết, thu nhập kinh tế là một trong những yếu tố khách quan gây nên BLGĐ; Sử dụng chất kích thích rượu, ma túy, cờ bạc, số đề, mại dâm, TNXH là nguyên nhân tác động gây ra BLGĐ; Công tác tuyên truyền, giáo dục
đã có nhưng chưa phát huy được nhiều tác dụng, hiệu quả; Dư luận cộng đồng lên
án BLGĐ chưa đủ mạnh, việc xử lý người gây ra BLGĐ chưa nghiêm; Cơ chế chính sách và sự chỉ đạo theo về phòng chống BLGĐ chưa đầy đủ hoặc có quy định song tính khả thi không cao, chưa chặt chẽ, khó thực hiện Thiếu cơ chế/nguồn lực cho công tác phòng chống BLGĐ
- Hậu quả của BLGĐ: BLGĐ gây hậu quả không chỉ riêng với nạn nhân của
bạo lực, mà hậu quả còn xảy ra đối với chính cả người gây ra bạo lực, các thành viên trong gia đình và toàn bộ gia đình có bạo lực, với địa phương, cộng đồng và
Trang 7cả xã hội Phụ nữ chính là nạn nhân và là người chịu nặng nề hơn cả về hậu quả của BLGĐ Người thứ hai, bị hậu quả nặng nề là con cái của các gia đình có bạo lực Người gây ra BLGĐ (thủ phạm) cũng bị ảnh hưởng, ức chế tâm lý, sức khỏe, bị xa lánh, chê trách, lên án, mặc cảm… BLGĐ trực tiếp ảnh hưởng đến kinh tế, tình cảm gia đình BLGĐ ảnh hưởng đến an ninh, trật tự an toàn xã hội, làm lãng phí thời gian của nhiều người vào hoà giải, can thiệp, chăm sóc, hỗ trợ y tế….Ảnh hưởng đến thành tích chung của địa phương
2 Một số giải pháp phòng chống bạo lực gia đình
- Coi trọng đúng mức tới vấn đề phòng, chống BLGĐ; tăng cường cam kết về ngăn chặn, phòng, chống BLGĐ và tổ chức, thực hiện cam kết
- Thông tin, tuyên truyền nâng cao nhận thức về phòng, chống BLGĐ
- Tăng cường hiệu lực pháp luật phòng, chống BLGĐ
- Xã hội hóa công tác phòng, chống BLGĐ; tăng cường huy động sự tham gia của cộng đồng; Lồng gắn phòng, chống BLGĐ trong hoạt động của địa phương, các cơ quan, tổ chức, đoàn thể
- Xây dựng các mô hình điểm về phòng, chống BLGĐ ở cộng đồng và nhân rộng mô hình
- Gắn phòng, chống BLGĐ với các biện pháp phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, thực hiện bình đẳng giới, phòng chống TNXH
- Nâng cao năng lực bộ máy và cán bộ làm công tác phòng, chống BLGĐ; thành lập Ban chỉ đạo công tác phòng, chống BLGĐ ở các cấp
4 Kết quả xây dựng mô hình thực nghiệm phòng chống bạo lực gia đình tại cộng đồng.
Trang 8Xây dựng mô hình phòng, chống BLGĐ tại xã Bản Vược, huyện Bát Xát để thực hiện thử nghiệm các giải pháp (trong đó tập trung nhiều/chủ yếu vào 2 giải pháp là Tuyên truyền, vận động cộng đồng và Lồng ghép phòng, chống BLGĐ trong các hoạt động của địa phương) Thông qua các hoạt động cụ thể triển khai tại địa phương đã tạo được một số thay đổi tương đối rõ nét, nhất là đối với nhận thức, ý thức trong cán bộ và người dân đối với công tác phòng chống BLGĐ
- Về nhận thức đối với BLGĐ có sự thay đổi, hiểu biết được nâng cao Khảo sát phiếu đánh giá đánh giá đầu vào (trước khi xây dựng mô hình) và đầu ra (sau 1 năm thực hiện khảo sát) cho thấy mức độ nhận biết đúng và đủ các hành vi BLGĐ tăng từ 81% lên 97% trong số người được khảo sát Tạo ra được dư luận và sự quan tâm chung của chính quyền, các tổ chức, đoàn thể địa phương và người dân đối với công tác phòng, chống BLGĐ
- Về hành vi thực hiện phòng, chống BLGĐ có những chuyển biến theo hướng tích cực Chuyển biến ngay từ chính quyền, các tổ chức, đoàn thể, cán bộ địa phương tới các thôn, bản, hộ gia đình, người dân Trong hộ gia đình, vợ chồng có sự chia sẻ, điều chỉnh hành vi, cách ứng xử, cùng tham gia hoạt động cộng đồng, tham gia các hoạt động tổ chức tại địa phương về phòng chống BLGĐ, đóng góp ý kiến tại các cuộc họp, sinh hoạt chung về chủ đề phòng chống BLGĐ Mức độ BLGĐ xảy ra trên địa bàn thử nghiệm có dấu hiệu giảm thiểu
- Về cơ chế thực hiện phòng, chống BLGĐ xác định chủ yếu là lồng ghép trong các hoạt động của địa phương và phát huy sự tham gia của người dân cộng đồng Tuy nhiên, để giảm thiểu BLGĐ đòi hỏi cả một quá trình chuyển đổi từ nhận thức tới thay đổi thái độ, thay đổi hành vi và tạo dần thành thói quen Sự thay đổi này phải từng bước và duy trì liên tục, lâu dài
Trang 9IV KẾT LUẬN
Trang 10Đề tài đã được hội đồng KH&CN tỉnh nghiệm thu Kết quả nghiên cứu đã xây dựng mô hình thực nghiệm các giải pháp phòng, chống BLGĐ có cơ sở so sánh, đối chứng giữa lý luận và thực tiễn, khả năng ứng dụng vào thực tế và rút kinh nghệm Quá trình triển khai xây dựng mô hình có sự chuyển giao phương pháp, kỹ năng tổ chức hoạt động cho cơ sở để khi kết thúc nghiên cứu, cán bộ cơ
sở có thể độc lập duy trì, tiếp tục triển khai Mô hình thí điểm đã được Hội phụ nữ nhân rộng ra thêm được một số câu lạc bộ phòng, chống BLGĐ tại các xã, huyện khác trong tỉnh gồm cả nam, nữ, các cặp vợ chồng tham gia