TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Làng nghề đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của nềnkinh tế quốc dân, cũng như giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc,đồng thời là nơi
Trang 1MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Làng nghề đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của nềnkinh tế quốc dân, cũng như giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc,đồng thời là nơi để giải quyết nguồn lực lao động ở nông thôn để giảm bớtsức ép đối với thành thị, và nếu sản phẩm của làng nghề xuất khẩu được thì
đó lại là nguồn thu ngoại tệ của đất nước Chính vì vậy, phát triển các làngnghề theo hướng bền vững là một điều không thể phủ nhận Nhận thức đượcvai trò của các làng nghề và đánh giá thực trạng phát triển của các làng nghề
hiện nay, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang triển khai dự án “Mỗi
làng một nghề” từ nay đến năm 2015 nhằm mục tiêu giải quyết việc làm cho
lao động nông thôn, phát huy tiềm năng phát triển của các ngành nghề nôngthôn,
Làng nước mắm Nam Ô thuộc phường Hòa Hiệp Nam, quận LiênChiểu, thành phố Đà Nẵng từ lâu đời đã nổi tiếng với nghề làm pháo và nướcmắm Vào đầu thập niên 90, thực hiện chủ trương của Chính phủ cấm đốtpháo, người dân làng nghề đã bỏ nghề làm pháo, tập trung vào sản xuất nướcmắm Hiện nay, có trên trăm hộ đang chế biến nước mắm hằng năm sản xuấttrên 150.000 lít nước mắm, giải quyết việc làm cho hàng trăm lao động
Trong quá trình phát triển làng nghề nước mắm Nam Ô đã trải quanhiều giai đoạn thăng trầm Cứ mỗi giai đoạn gặp khó khăn, các cấp, cácngành có rất nhiều chương trình khôi phục để duy trì làng nghề phát triển Dùvậy việc chế biến nước mắm ở đây đến nay nhìn lại vẫn chưa được như mongmuốn, hoạt động sản xuất của làng nghề vẫn còn cầm chừng, sản xuất chủ yếucung cấp cho khách hàng quen với số lượng nhỏ
Quy hoạch phát triển kinh tế xã hội quận Liên Chiểu đến năm 2010 của
Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng phê duyệt đã đề ra phương hướng phát
Trang 2triển của các ngành và lĩnh vực, trong đó nhấn mạnh cần đẩy mạnh phát triểnlĩnh vực chế biến thủy sản, phục hồi làng nghề nước mắm Nam Ô truyềnthống Với điều kiện tự nhiên có sẵn, với chủ trương khôi phục và phát triểncác làng nghề của nhà nước, với tay nghề truyền thống của dân làng Nam Ô,việc xây dựng dự án phục hồi làng nghề nước mắm Nam Ô là thực sự cầnthiết, góp phần giải quyết việc làm góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơcấu lao động Tuy nhiên, việc làm nghề nước mắm ở làng nghề hiện nay chưathực sự đảm bảo thu nhập cho người làm nghề Sản phẩm nước mắm Nam Ôđang khó khăn trong việc tìm thị trường đầu ra Bên cạnh đó, vốn đầu tư vàkhoa học công nghệ sản xuất cùng với việc giải quyết ô nhiễm môi trườnglàng nghề đang là vấn đề đối với người dân làng nghề và các cấp chính quyền.
Do vậy, việc phát triển làng nghề một cách bền vững là cấp thiết để duy trì
làng nghề đã có từ lâu đời Đó chính là lý do tác giả chọn đề tài: “Phát triển bền vững làng nghề nước mắm Nam Ô” làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ.
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Hệ thống hóa các vấn đề lí luận liên quan đến việc phát triển bền vữnglàng nghề
- Phân tích thực trạng phát triển bền vững làng nghề nước mắm Nam Ôthời gian qua
- Đề xuất giải pháp nhằm phát triển bền vững làng nghề nước mắmNam Ô thời gian tới
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
a Đối tượng nghiên cứu: là những vấn đề lí luận và thực tiễn liên quan đếnphát triển bền vững làng nghề
b Phạm vi nghiên cứu:
- Nội dung: đề tài chỉ tập trung nghiên cứu một số nội dung về pháttriển bền vững làng nghề
Trang 3- Không gian: đề tài chỉ tập trung nghiên cứu nội dung trên ở Nam Ô.
- Thời gian: các giải pháp được đề xuất trong luận văn chỉ có ý nghĩa từnay đến năm 2015
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương phápsau:
- Phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử
- Phương pháp phân tích thực chứng, phân tích chuẩn tắc
- Phương pháp điều tra phân tích, so sánh, chuyên gia, chuyên khảo,phương pháp khác
5 BỐ CỤC CỦA ĐỀ TÀI
- Ngoài phần mục lục, bảng biểu, hình vẽ, danh mục tài liệu tham khảo,
đề tài được chia làm 3 phần như sau:
Chương 1: Một số vấn đề lí luận về phát triển bền vững làng nghềChương 2: Thực trạng phát triển bền vững làng nghề nước mắm Nam Ôthời gian qua
Chương 3: Giải pháp phát triển bền vững làng nghề nước mắm Nam Ôthời gian tới
Trang 4CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN
Làng, theo định nghĩa của Từ điển tiếng Việt, là một khối người quâyquần ở một nơi nhất định trong nông thôn Làng là một tế bào xã hội củangười Việt, là một tập hợp dân cư chủ yếu theo quan hệ láng giềng Đó là mộtkhông gian lãnh thổ nhất định, ở đó tập hợp những người dân quần tụ lại cùngsinh sống và sản xuất
Trong quá trình đô thị hoá, khái niệm làng được hiểu một cách tươngđối Một số địa phương hiện nay không còn được gọi là làng mà thay vào đó
là những tên gọi khác như phố, khối phố Tuy nhiên, dù tên gọi có thay đổinhưng bản chất của cộng đồng dân cư đó vẫn gắn với nông thôn thì vẫn được
xem là làng
Các làng ở nước ta được chia làm 4 loại chính:
- Làng thuần nông hay còn gọi là làng nông nghiệp, là những làng làmnghề nông một cách thuần tuý
- Làng buôn bán, là làng làm nghề nông có thêm nghề buôn bán củamột số thương nhân chuyên nghiệp hoặc bán chuyên nghiệp
- Làng nghề, là làng làm nghề nông nghiệp nhưng có thêm một số nghề
Trang 5Theo Tiến sĩ Dương Bá Phượng, các ngành nghề thủ công ở Việt Nam
có thể được chia thành 5 nhóm chính, đó là:
- Nhóm thứ nhất: bao gồm các ngành nghề sản xuất các mặt hàng thủcông mỹ nghệ: gốm, sứ, sơn mài, thêu ren, khảm, chạm khắc gỗ, đá
- Nhóm thứ hai là các ngành nghề sản xuất công cụ như: rèn sắt, làmcày bừa, nông cụ, đóng thuyền
- Nhóm thứ ba là các ngành nghề sản xuất các mặt hàng phục vụ tiêudùng thông thường như: làm lược, dệt chiếu, làm nón, đan mành, rổ, rá, sọt,
Sự xuất hiện của các nghề thủ công ở các làng quê lúc đầu chỉ là ngànhnghề phụ, chủ yếu được nông dân tiến hành trong lúc nông nhàn Về sau, doquá trình phân công lao động, các ngành nghề thủ công tách dần khỏi nôngnghiệp nhưng lại phục vụ trực tiếp cho nông nghiệp, khi đó người thợ thủcông có thể không còn sản xuất nông nghiệp nhưng họ vẫn gắn chặt với làngquê mình Khi nghề thủ công phát triển, số người chuyên làm nghề thủ công
và sống được bằng nghề này tăng lên, điều này diễn ra ngay trong các làng
Trang 6quê và đó là cơ sở cho sự tồn tại của các làng nghề ở nông thôn.
Cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm nhất quán nào xác định mộtlàng nghề Tuy nhiên có sự thống nhất chung cho rằng làng nghề là một thựcthể được cấu tạo bởi hai yếu tố “làng” và “nghề”
Từ những lý luận đó các nhà nghiên cứu về làng nghề đã đưa ra nhiềukhái niệm khác nhau về làng nghề nhưng đều tập trung vào 3 quan niệm sau:
- Quan niệm thứ nhất: Làng nghề là nơi hầu hết mọi người trong làngđều hoạt động nghề cho nghề đó và lấy đó làm nguồn sống chủ yếu Với quanniệm như vậy thì số làng nghề đó ở Việt Nam hiện nay chỉ còn rất ít, như lànggốm Bát Tràng, Thậm chí hiện nay trong những làng nghề kiểu này vẫn cònmột bộ phận dân cư, một số hộ không làm nghề này mà làm những nghề khácxen kẽ vào như buôn bán, cung cấp dịch vụ cho làng nghề, làm nông nghiệp
- Quan niệm thứ hai: Làng nghề là những làng cổ truyền làm nghề thủcông lâu đời, ở đây không nhất thiết tất cả dân trong làng đều hoạt động nghề
đó Người thợ thủ công, nhiều khi cũng làm nghề nông hoặc những nghề khácnhưng do yêu cầu chuyên môn hoá cao đã tạo ra những người thợ, những hộgia đình chuyên sản xuất một số mặt hàng thủ công có tính truyền thống
- Quan niệm thứ ba: Làng nghề là trung tâm sản xuất thủ công, nơi quy
tụ các nghệ nhân và nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề, giữa các hộ sản xuất
có sự liên kết hỗ trợ trong sản xuất, bán sản phẩm theo kiểu phường hội Quanniệm này vẫn chưa phản ánh đầy đủ tính chất, đặc điểm của làng nghề, nóchưa thể hiện được sự khác biệt giữa làng nghề ở nông thôn với những trungtâm sản xuất thủ CN ở thành thị, thị trấn vì bên cạnh mối quan hệ về cạnhtranh, giữa các hộ sản xuất trong cùng làng nghề thường có mối quan hệ hàngxóm, láng giềng
Xuất phát từ những quan niệm trên về cách hiểu về hai thực thể “làng”;
“nghề”, ta có thể hiểu làng nghề là một cộng đồng dân cư sống tập trung trên
Trang 7cùng một địa bàn nông thôn Trong làng đó, có một bộ phận dân cư tách ra cùng nhau sinh sống bằng việc sản xuất một hoặc một số loại hàng hóa, dịch vụ; trong đó có ít nhất một loại hàng hoá, dịch vụ đặc trưng thu hút đông đảo lao động hoặc hộ gia đình trong làng tham gia, đem lại nguồn thu nhập chính
và chiếm tỷ trọng lớn so với thu nhập dân cư tạo ra trên địa bàn làng hoặc cộng đồng dân cư đó.
Như vậy, theo tác giả làng nghề cũng là một làng ở nông thôn nhưngngoài sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi ra còn có hoạt động sảnxuất tiểu thủ công nghiệp (TTCN), sản phẩm làm ra không chỉ đáp ứng chonhu cầu của bản thân, của gia đình họ mà còn để trao đổi, mua bán Có nghĩa
là sản phẩm của làng nghề còn có tính hàng hoá
b Phát triển bền vững
Trong quá trình phát triển sản xuất, loài người đã nhận thấy khôngchỉ có mối liên hệ chặt chẽ giữa phát triển kinh tế và công bằng xã hội Vìmục tiêu kinh tế con người phải đối mặt với những hậu quả do chínhmình gây nên: Sự nóng lên của trái đất, suy thoái đa dạng sinh học, thiên tai
dữ dội với những hiện tượng thời tiết thất thường, gia tăng các căn bệnhung thư, bệnh nhiệt đới Năm 1972, tại Stockholm Liên hợp quốc đã tổchức hội thảo về môi trường con người Đặt vấn đề về “Sự phát triển khônggây hủy diệt” Đến thập niên 80, thế giới đã nhận thức: Sự can thiệp và khaithác thiên nhiên chỉ có trong một giới hạn nhất định, thiên nhiên khôngphải là vô hạn Vì tương lai của thế giới, phát triển phải gắn với môitrường, các quan hệ xã hội giữa con người với con người Nhiều Hội nghịquốc tế được tổ chức để bàn luận về tương lai chung của nhân loại, trong đócác hội nghị đã đạt được bước tiến rất quan trọng về nhận thức là phải làm gì
để nền kinh tế thế giới phát triển vươn tới sự hoàn thiện hơn? Đó chính là sựphát triển bền vững
Trang 8Thuật ngữ “Phát triển bền vững” lần đầu tiên xuất hiện vào năm 1980,
do Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên quốc tế (IUCN) công bố Năm
1984, Bà Gro Harlem Brundtland khi đó làm thủ tướng Na Uy đã được Đạihội đồng Liên hợp quốc ủy nhiệm làm Chủ tịch ủy ban môi trường và pháttriển thế giới (WCED) nay còn gọi là ủy ban Brundtland Năm 1987, trongbản báo cáo “Tương lai của chúng ta” do ủy ban Brundtland đã công bốPTBV (Sustainable Development): “PTBV là sự phát triển nhằm đáp ứngnhững nhu cầu hiện tại mà không tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu củacác thế hệ tương lai” và được thế giới công nhận là khái niệm chính thức
Sau đó, còn có các định nghĩa khác: PTBV là sự phát triển khônglàm tổn hại đến môi trường, không gây ra những thảm họa về sinh thái, thế
hệ hôm nay phải khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách hợp lý nhằmthỏa mãn những nhu cầu của mình sao cho không ảnh hưởng đến việcthỏa mãn nhu cầu của thế hệ mai sau
Năm 1992, nội hàm khái niệm PTBV được tái khẳng định tại Hộinghị thượng đỉnh trái đất họp tại Rio de Janeiro (Braxin) họp bàn về pháttriển bền vững toàn cầu, thông qua chương trình nghị sự 21 Hội nghị đãđưa ra 2500 khuyến nghị hành động của cộng đồng quốc tế về phát triểnbền vững Ví dụ các đề xuất giảm các mô hình sản xuất tiêu dùng gâylãng phí; xóa đói giảm nghèo; bảo vệ nguồn nước, không khí; thúc đẩynông nghiệp phát triển Tiếp tục được bổ sung, hoàn chỉnh năm 2002, tại Hộinghị Thượng đỉnh về phát triển bền vững toàn cầu họp tại Johannesburg(Cộng hòa Nam Phi) đánh giá 10 năm việc thực hiện chương trình nghị sự
21
Các hội nghị đều khẳng định: “PTBV là quá trình phát triển có sựkết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hoà giữa 3 mặt của sự phát triển Đó là: pháttriển kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường” và một trong những
Trang 9nội dung cơ bản nhất là con người, trung tâm của sự phát triển.
PTBV về kinh tế: được hiểu là sự tiến bộ mọi mặt của nền kinh tế thểhiện ở quá trình tăng trưởng kinh tế cao, ổn định và sự thay đổi về chất củanền kinh tế, gắn với quá trình tăng năng suất lao động Mục tiêu của PTBVkinh tế là đạt được sự tăng trưởng ổn định, với cơ cấu hợp lý, đáp ứng đượcyêu cầu nâng cao đời sống của người dân, tránh được sự suy thoái trongtương lai, tránh gây nợ nần cho thế hệ mai sau
PTBV về xã hội: Là quá trình phát triển đạt được kết quả ngày càngcao trong việc thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội Đảm bảo chế độ dinhdưỡng và chăm sóc sức khoẻ cho người dân, mọi người đều có cơ hội tronggiáo dục, có việc làm, giảm tình trạng đói nghèo, nâng cao trình độ văn minh
về đời sống vật chất và tinh thần cho mọi thành viên của xã hội
PTBV về môi trường: Là khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm và hiệuquả tài nguyên thiên nhiên, phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý và kiểm soát cóhiệu quả ô nhiễm môi trường
Như vậy, điều kiện để PTBV là: Tăng trưởng kinh tế trong thời giandài; Tăng trưởng kinh tế đi đôi giải quyết các vấn đề xã hội, bảo vệ cảithiện môi trường và tăng trưởng kinh tế vì con người
Trang 10xã hội và môi trường sinh thái của làng nghề hay không?
(2) Sự mất cân bằng về Kinh tế - Xã hội - Môi trường trong PTBVđược giải thích như thế nào? Thực tế hiện nay các làng nghề càng phát triểnthì mức độ ô nhiễm càng nặng? Sự phát triển làng nghề một mặt giảm bớt tỷ
lệ trẻ em bỏ học mặt khác lại là hạn chế về xã hội khi mọi lứa tuổi đều cóthể kiếm tiền bằng nghề truyền thống, bằng con đường tự học?
(3) Đ ể đảm bảo PTBV nói chung và làng nghề nói riêng, Chính phủ
và làng nghề cần phải làm gì?
Tiêu chí đánh giá phát triển bền vững là sự tăng trưởng kinh tế ổnđịnh, tiến bộ công bằng xã hội, khai thác tối đa các nguồn lực, sử dụng hợp
lý tiết kiệm tài nguyên, bảo vệ nâng cao chất lượng môi trường sống
Khái niệm về phát triển bền vững làng nghề không thể tách rời kháiniệm về phát triển bền vững Theo đó ta có thể hiểu:
Phát triển bền vững làng nghề chính là quá trình phát triển sản xuất, kinh doanh của các làng nghề Nhằm thoả mãn nhu cầu đa dạng và ngày càng phát triển của thế hệ hiện tại Mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai.
Thực chất sự phát triển bền vững làng nghề về kinh tế là sự tăngtrưởng kinh tế, tăng năng suất lao động trong thời gian dài Về xã hội lànâng cao chất lượng cuộc sống, mức sống, trình độ dân trí và các giá trịđạo đức của làng nghề Về môi trường là hạn chế ô nhiễm, bảo vệ môitrường Như vậy, phát triển bền vững làng nghề là một nội dung trongchiến lược phát triển bền vững mà Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra Hoạtđộng làng nghề chính là một thực thể gắn liền với phát triển bền vững
Làng nghề là một hoạt động kinh tế tổng hợp có định hướng về tàinguyên rõ rệt và có nội dung văn hoá sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng
và xã hội hoá cao Chính vì vậy, sự phát triển làng nghề bền vững đòi hỏi
Trang 11có sự nỗ lực chung và đồng bộ của toàn xã hội.
1.1.2 Đặc điểm chung của làng nghề và yêu cầu của quá trình phát triển bền vững làng nghề
a Đặc điểm chung của làng nghề
- Gắn liền với làng quê và sản xuất nông nghiệp
Xuất phát từ nhu cầu tiêu dùng của xã hội, các nghề thủ công truyềnthống dần xuất hiện với tư cách là nghề phụ, việc phụ trong các gia đình nôngdân và nhanh chóng phát triển ở nhiều làng quê Thời gian dành cho hoạtđộng sản xuất nông nghiệp là không nhiều, năng suất lao động thấp đã khôngđảm bảo thu nhập đủ sống cho người nông dân Vì vậy, nhu cầu tạo việc làm
để có thêm thu nhập ngoài sản xuất nông nghiệp trở thành cấp thiết Đồngthời do tính thời vụ của sản xuất nông nghiệp, đã tạo ra một sự dư thừa laođộng trong một thời gian nhất định; nhu cầu về sản phẩm TTCN để phục vụcho sản xuất nông nghiệp và đời sống dân cư; nguồn nguyên liệu phục vụ chocác nghề thủ công tương đối dồi dào Tất cả những điều đó đã thúc đẩy cáclàng nghề hình thành và phát triển
- Có truyền thống lâu đời
Đặc trưng của làng nghề Việt Nam là có truyền thống lâu đời, làngnghề được hình thành từ thời Đông Sơn xa xưa, lúc bấy giờ, số lượng ngànhnghề cũng như lao động còn rất ít Sản phẩm của làng nghề chỉ phục vụ chomục đích hiện tại, đầu tiên là nghề luyện kim, tác động vào nông nghiệp bằngcác công cụ sản xuất có hiệu quả hơn các công cụ cũ (bằng đá, tre, gỗ thô sơ),tiếp theo là để phục vụ cho chiến tranh nên những vũ khí bằng đồng và sắtkhông thể thiếu
- Có bản sắc văn hóa riêng của Việt Nam
Một đặc thù khác của hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống là tính khácbiệt, tính riêng, mang phong cách của mỗi nghệ nhân và nét văn hoá đặc trưng
Trang 12địa phương, tồn tại trong sự giao lưu với cộng đồng Hàng chạm trổ trên từngchất liệu khác nhau (gỗ, đá, đồng, sừng, xương ), hàng sơn (sơn quang, sơnthen, sơn mài), hàng thêu, dệt (tơ lụa, chiếu, thảm ) hàng mây tre đan, kimhoàn, đồ chơi ở mỗi làng nghề đều có màu sắc riêng, từng nghệ nhân cũng
có những nét riêng Những nét riêng đó được thử thách qua thời gian, quagiao lưu, được chọn lọc, thừa nhận để tồn tại và phát triển, cùng với sự bổsung lẫn nhau, trở thành những kiểu mẫu hoàn thiện, đặc sắc cho những sảnphẩm cùng loại được sản xuất, chế tác tiếp sau thể hiện bản sắc độc đáo ViệtNam
- Lao động chủ yếu bằng thủ công
Lao động trong các LN chủ yếu là những người nông dân, địa điểmsản xuất của NTCTT là tại gia đình họ Họ tự quản lý, phân công laođộng, thời gian cho phù hợp với cả việc sản xuất nông nghiệp những lúcmùa vụ và với nghề thủ công những lúc nông nhàn Về mối quan hệ giữangười nông dân và người thợ thủ công thì Lênin đã nói rất rõ “so vớinhững người tiểu sản xuất hàng hoá, thì người làm nghề thủ công gắn bóvới ruộng đất mạnh hơn” [1, tr.414]
- Làng nghề gắn với tên tuổi và tồn tại lâu dài
Mỗi làng nghề, thường gắn liền với địa danh của làng đó để đặt tên cholàng nghề của mình như: làng tranh Đông Hồ, làng gốm Bát Tràng, làng điêukhắc đá Ngũ Hành Sơn, làng mộc Kim Bồng, làng đúc đồng Phước Kiều, làngđan mây Chương Mỹ, làng dệt lụa Tân Châu Đây chính là đặc điểm tiêubiểu để phân biệt được sản phẩm riêng có của mỗi làng nghề Sản phẩm củalàng nghề không chỉ đòi hỏi lao động khéo léo của người thợ mà còn đòi hỏi
sự tích luỹ kinh nghiệm qua nhiều thế hệ và những kinh nghiệm này trải quathời gian đã trở thành bí quyết nghề nghiệp
b Yêu cầu của quá trình phát triển bền vững làng nghề
Trang 13Sự cần thiết phải PTBV LN không chỉ là quan điểm chỉ đạo củaĐảng Cộng sản Việt Nam mà còn xuất phát từ ba yêu cầu sau:
- Vai trò của làng nghề truyền thống trong nền kinh tế
+ Thứ nhất: Tận dụng nhân lực, tăng thu nhập, gia tăng giá trị sản xuấtViệc làm là vấn đề cấp thiết hiện nay Làng nghề phát triển đóng vaitrò quan trọng thu hút việc làm, tận dụng lao động tránh tình trạng phát triểnchợ lao động tự phát lúc trái vụ, di dân tự do Hiện nay, các làng nghề ở ViệtNam thu hút khoảng 13 triệu người [2]
Hộ sản xuất thủ công năng động đã trở thành biểu tượng sự giàu có ởnông thôn hiện nay Ở các LN không có hộ đói, hộ nghèo chiếm tỉ lệ rất nhỏ, tỉ
lệ hộ giàu khoảng 30-40% NTCTT có vai trò quan trọng trong việc xoá đóigiảm nghèo Ở các vùng phát triển làng nghề tỷ lệ hộ nghèo khoảng 3,7%thấp hơn nhiều so với tỷ lệ chung cả nước là 10,4% - tính theo chuẩnnghèo 2005 của Molisa [3]
Ở các LN có sự gia tăng giá trị sản phẩm, tạo ra một khối lượng sảnphẩm đóng góp không nhỏ vào nền kinh tế chung và trên từng địaphương Giá trị sản xuất công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp làng nghề liêntục từ năm 2001- 2005 tăng trưởng bình quân 21-25%/năm [4]
+ Thứ hai: Gia tăng giá trị hàng xuất khẩu
Đối với thị trường thế giới thì sản phẩm của NTCTT được xếp vàonhóm hàng có khả năng cạnh tranh cao Bởi vì: tính độc đáo, mang đậm bảnsắc dân tộc, là sự kết hợp hoàn mỹ giữa kỹ thuật và thẩm mỹ, không thể sảnxuất hàng loạt bằng máy móc được
Hiện nay hàng thủ công mỹ nghệ được xếp vào 6 mặt hàng có tiềmnăng xuất khẩu lớn tại Việt Nam (báo cáo dự án hỗ trợ xúc tiến thương mại
và phát triển xuất khẩu VIE 61/94), có thị trường ở gần 100 nước, vùng lãnhthổ Hơn 40% sản phẩm làng nghề dành cho xuất khẩu, kim ngạch xuất khẩu
Trang 14khu vực làng nghề năm sau vượt năm trước từ 20-50% [4].
+ Thứ ba: Phát triển làng nghề truyền thống góp phần thúc đẩy quátrình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
- Mối quan hệ LN và quá trình CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn Do
sự phát triển của lực lượng sản xuất đã dẫn tới sự phân công lao động lần thứhai NTCTT tách ra khỏi nông nghiệp NTCTT phát triển dẫn tới sự xuất hiệncông trường thủ công C.Mác đã chỉ rõ “Thoạt đầu công trường thủ côngđóng xe ngựa xuất hiện như là một sự kết hợp nhiều nghề thủ công độclập… nhưng công trường thủ công cũng có thể phát sinh một cách hoàn toànngược lại Nhiều người thợ thủ công cùng làm một việc như nhau hay mộtloạt công việc giống nhau được một nhà tư bản tập hợp lại cùng một lúctrong cùng một xưởng” [5, tr.428] Như vậy, LN chính là khởi đầu côngnghiệp nông thôn, là một bộ phận của ngành công nghiệp và là một đối tượngcủa quá trình CNH, HĐH nói chung và CNH, HĐH nông nghiệp nông thônnói riêng
- Góp phần hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý, phân công lao động theohướng CNH, HĐH
Sự phục hồi phát triển LN và xuất hiện LN mới sẽ chi phối các bộphận khác trong nền kinh tế quốc dân Đầu tiên là trong ngành nông nghiệp,tiếp theo phát triển các dịch vụ Vì thế, tất yếu cơ cấu GDP ở nông thôn có
sự biến đổi tích cực: tỷ trọng công nghiệp - dịch vụ tăng, tỷ trọng nôngnghiệp giảm Thay đổi cơ cấu lao động, cơ cấu giá trị sản xuất, thu nhập
+ Thứ tư: Phát triển làng nghề truyền thống là phát huy lợi thế so sánhNghị quyết Đại hội Đảng IX đã đặt ra vấn đề phát huy nội lực đấtnước trong quá trình xây dựng đất nước Làng nghề chính là nguồn lực còn
bỏ ngỏ trong nước Do có tính độc đáo, nên sản phẩm của NTCTT đượcxếp vào nhóm hàng có năng lực cạnh tranh, là lợi thế của một nước nông
Trang 15nghiệp Có giá trị thực thu lớn vì nguồn nguyên liệu nhập khẩu dưới 10%;trong khi đó, các mặt hàng điện tử, dệt may, giày da nguyên liệu nhập khẩutrên 80% nên giá trị thực thu thấp [6] Mặt khác vốn đầu tư cho hàng điện
tử, dệt may lớn hơn rất nhiều lần so với đầu tư vào các ngành nghề truyềnthống Theo báo cáo của bộ thương mại cứ xuất khẩu 1 triệu $ hàng thủcông mỹ nghệ thì tạo việc làm cho 3000-4000 lao động Ngành hàng thêuren có tỷ trọng xuất khẩu cao nhất ở các làng nghề 52,3%, tiếp theo là đancói, điêu khắc tranh dân gian [7] Đó là những ngành kinh tế có hiệu quảcao do vốn đầu tư rất ít, không gây ô nhiễm, thu hút chủ yếu lao động nữ ởnông thôn, tranh thủ được mọi thời gian đáp ứng yêu cầu ly nông bất lyhương Như vậy, phát triển LN chính là phát huy lợi thế so sánh, nội lực đấtnước trong quá trình CNH, HĐH Thực hiện phương châm “ly nông bất lyhương”
- Góp phần giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc
Đường nét trên sản phẩm của NTCTT thể hiện các hoa văn tinh xảosống động Là những tác phẩm nghệ thuật kết hợp văn hóa dân gian vớiphong cách hiện đại Vì vậy sản phẩm NTCTT chính là sự phản ánh văn hoávùng, văn hoá dân tộc Ở một số LN ngày hội làng chính là ngày giỗ tổnghề, trong đó lòng tôn kính nghề nghiệp đã trở thành sinh hoạt văn hoácộng đồng Ngoài ra có nhiều nghi lễ, phong tục xuất hiện từ văn hóanghề mà ra Cùng với những thiết chế nghi lễ đó thì các quần thể côngtrình kiến trúc để suy tôn, tưởng niệm các vị tổ nghề đã ra đời như đình,chùa, miếu, đền Nếu LN đó phát triển, kinh tế tăng trưởng thì diện mạocủa các công trình trên càng được tu bổ giữ gìn
Như vậy có thể nói LN và NTCTT là một bộ phận quan trọng trongkho tàng văn hoá dân tộc, là nơi lưu giữ truyền thống một cách cụ thểbền vững nhất Bản sắc dân tộc được thể hiện qua các sản phẩm thủ công,
Trang 16nó thể hiện giá trị thẩm mỹ trước, sau đó mới đến giá trị kinh tế, kỹ thuật.Chính vì thế các du khách nước ngoài đều chọn tour du lịch LN trong lịchtrình tìm hiểu văn hóa Việt Nam.
Trong quá trình hội nhập hiện nay, người ta coi sản phẩm của NTCTT
là di sản văn hóa vật thể của các dân tộc trên thế giới Vì vậy phát triển LNchính là giữ gìn văn hóa vật thể ngược lại giữ gìn bảo vệ văn hóa vật thể(Nghề thủ công truyền thống) là cơ sở để LN được phát triển Đây chính làhai mặt của vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc một trong những địnhhướng xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở nước ta
- Bảo vệ môi trường làng nghề
LN có vai trò quan trọng về kinh tế, xã hội và giữ gìn bản sắc vănhóa dân tộc Trong quá trình đô thị hóa nông thôn, LN ngày càng khẳngđịnh vị thế của nó Tuy nhiên, sự phát triển LN trong giai đoạn hiện nay
đã bộc lộ bất cập về sự xuống cấp môi trường Thực trạng ô nhiễm trongcác LN ở nhiều nơi đã đến mức báo động LN càng phát triển thì nguy cơ ônhiễm và suy thoái môi trường càng cao
Bên cạnh những đóng góp quan trọng vào nền kinh tế, bảo tồn vănhóa dân tộc là sự xuống cấp nghiêm trọng về môi trường trong các LN Thựctiễn đã đặt ra yêu cầu cấp bách và cần thiết phải phát triển bền vững làngnghề và làng nghề truyền thống
1.1.3 Ý nghĩa của phát triển bền vững làng nghề
Hiện nay các nước có trình độ phát triển đi trước chúng ta đã áp dụng
mô hình “mỗi làng một sản phẩm” của Nhật Bản, Thái Lan; “Mỗi phố mộtsản phẩm” của Thượng Hải, Trung Quốc; “Trở về làng quê” của Đông Java,Indonesia; từ rất sớm và kinh nghiệm của họ cho thấy phát triển làng nghề
là giải pháp hết sức hiệu quả để chuyển dịch cơ cấu kinh tế, góp phần thúcđẩy sự phát triển nền CN - TTCN của mỗi quốc gia Như vậy, PTBV làng
Trang 17nghề sẽ đem lại:
Một là, PTBV làng nghề sẽ tạo ra sự liên kết kinh tế giữa các cơ sở
trong cùng làng nghề với nhau như các cơ sở có thể mua bán, trao đổi sảnphẩm ngay trong làng nghề, các hoạt động dịch vụ khác cũng diễn ra ngaytrong nội bộ làng nghề sẽ có tác động làm giảm chi phí sản xuất, nâng caohiệu quả SXKD của mỗi cơ sở, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động củalàng nghề
Hai là, PTBV làng nghề sẽ thu hút được một số lượng lớn lao động
vào tham gia làm việc Tạo ra lượng lớn việc làm để giải quyết thời gian nhànrỗi cho lao động trong nông nghiệp, tăng thêm lực lượng lao động trong lĩnhvực dịch vụ phục vụ cho sự phát triển của làng nghề, góp phần tích cực vàoviệc tăng thu nhập và có nguồn thu nhập ổn định cho lực lượng lao động ởnông thôn, kéo theo sự phát triển và hình thành của nhiều nghề khác Ngoài
ra, có những làng nghề gần như giải quyết lượng lao động theo hướng hoàntoàn tham gia SXKD trong lĩnh vực TTCN mà không làm nông nghiệp nữa
Từ đó ngăn chặn được làn sóng di dân từ nông thôn ra thành thị để tìm kiếmviệc làm Mặt khác, đối với một bộ phận dân cư không có đất canh tác khôngphải đi làm thuê nay đây mai đó mà có thể ổn định làm việc tại một cơ sở sảnxuất nào đó, từ đó kéo theo xoá được đói, giảm được nghèo ở khu vực nôngthôn Vai trò tạo việc làm của làng nghề còn thể hiện rất rõ ở sự phát triển lantoả của làng nghề sang các vùng, đã giải quyết việc làm cho nhiều lao động,góp phần thúc đẩy cho sự phát triển kinh tế - xã hội ở vùng đó
Ba là, do tập trung được các cơ sở sản xuất nên có điều kiện thuận lợi
trong việc kiểm soát, bảo vệ và xử lý ô nhiễm môi trường, do vậy làng nghề làđịa điểm tốt để thực hiện quy hoạch phát triển nghề theo khu vực phục vụmục tiêu PTBV
Bốn là, PTBV các làng nghề có tác động lớn đến quá trình xây dựng và
Trang 18hoàn thiện CSHT kỹ thuật và xã hội tại địa bàn có làng nghề và tác động lantoả đến các vùng lân cận Đặc biệt là ở nước ta, khi CSHT kỹ thuật còn ở mứcthấp, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, cần phải đầu tưxây dựng CSHT kỹ thuật ngày càng hoàn chỉnh để phục vụ cho sự nghiệpphát triển kinh tế - xã hội của đất nước nói chung và các làng nghề nói riêng.Ngoài ra, do làng nghề thường nằm ở khu vực ngoại thành, điều kiện vui chơi,giải trí không được đầu tư đúng mực, nhờ có sự phát triển đó sẽ có nền tảng
để người dân có điều kiện hơn trong hoạt động giao lưu văn hoá, sinh hoạt tậpthể ngoài thời gian lao động
Năm là, PTBV làng nghề sẽ kéo theo được sự phát triển của ngành du
lịch, vì khi điều kiện kinh tế được cải thiện thì nhu cầu được vui chơi, giải trí
và trở về với truyền thống của dân tộc tăng lên, và nhờ có sự hoạt động củacác làng nghề mà du khách được thoả mãn những ước nguyện của mình
Sáu là, PTBV làng nghề còn có ý nghĩa quảng bá hình ảnh dân tộc
Việt Nam một cách sinh động thông qua các sản phẩm đặc sắc của mỗi làngnghề: Mỗi sản phẩm là một tác phẩm nghệ thuật chứa đựng những nét đặc sắccủa văn hoá dân tộc, là sự kết tinh, bảo tồn các giá trị văn hoá lâu đời của dântộc và là sự bảo lưu những tinh hoa nghệ thuật, kỹ thuật truyền từ đời nàysang đời khác Nó tạo nên những thế hệ nghệ nhân tài ba với những sản phẩmđộc đáo mang bản sắc riêng Làng nghề Việt Nam là một trong những nơi giữgìn bản sắc văn hóa truyền thống lâu đời của dân tộc một cách bền vững.Nhiều sản phẩm của làng nghề mang tính nghệ thuật cao, tính nhân văn sâusắc
Quá trình hình thành và phát triển các làng nghề ở nước ta trong thờigian qua đã góp phần đáng kể vào những thành tựu kinh tế - xã hội của đấtnước cũng như của từng địa phương Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào đặc điểm kinh
tế đặc thù của từng địa phương mà làng nghề xác định được vị trí nhất định
Trang 19của mình.
1.2 NỘI DUNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG LÀNG NGHỀ
Trên cơ sở nghiên cứu đặc điểm chung và điều kiện phát triển của làngnghề, theo tôi để PTBV làng nghề nếu đảm bảo được các nội dung:
1.2.1 Phát triển bền vững làng nghề về kinh tế
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước luôn dành sự quan tâm đặcbiệt cho phát triển nông nghiệp, nông thôn và đã có những chủ trương, chínhsách đúng đắn để đẩy nhanh sự phát triển của khu vực này Phát triển LN,ngành nghề nông thôn được coi là động lực trực tiếp giải quyết việc làm tạicác địa phương, đóng vai trò quyết định trong xóa đói giảm nghèo Các cơ sởsản xuất thủ công có quy mô nhỏ, thậm chí chỉ là sản xuất của các hộ gia đìnhnhưng đã thu hút một số lượng khá lớn lao động nông thôn vào hoạt động sảnxuất phi nông nghiệp
Như vậy, có thể hiểu sự phát triển bền vững làng nghề về kinh tế: Đó
là đảm bảo sự tăng trưởng, phát triển ổn định lâu dài về mặt kinh tế của làngnghề, góp phần tích cực vào phát triển kinh tế của quốc gia, cộng đồng vàbiểu hiện:
- Thứ nhất: Yếu tố đầu tiên của phát triển bền vững LN là tăng năng
suất lao động Năng suất lao động trong làng nghề được đo bằng số lượng sảnphẩm làm ra trên một đơn vị thời gian hoặc rút ngắn thời gian làm ra sảnphẩm Năng suất lao động phụ thuộc vào các nhân tố sau:
+ Thực hiện tốt công tác dạy nghề, truyền nghề trong làng nghề Thế hệlao động trẻ theo nghề có khả năng duy trì, bảo tồn các kỹ xảo truyền thốngcủa cha ông Ngày càng tích lũy được nhiều kinh nghiệm, trong lao động.Đảm bảo sự thành thục, khéo léo
+ Có khả năng ứng dụng công nghệ tiên tiến vào quá trình sản xuất Có
Trang 20sự đầu tư nghiên cứu hiện đại hóa từng công đoạn nhưng vẫn đảm bảo sự tinhxảo, độc đáo của nghề truyền thống Gia tăng hàm lượng chất xám trong sảnphẩm Nghiên cứu, sử dụng công nghệ hiện đại thay thế công nghệ cũ để tiếtkiệm tiêu hao năng lượng, giảm bớt chi phí mức độ nặng nhọc cho người laođộng, giảm thiểu ô nhiễm Nâng cao hiệu suất sử dụng tư liệu sản xuất Giảmbớt sự phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên trong quá trình sản xuất.
+ Các chủ thể sản xuất kinh doanh trong làng nghề được trang bị cáckiến thức về tiếp thị, marketing Biết tổ chức quản lý quá trình sản xuất
- Thứ hai: Một LN PTBV về kinh tế phải thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu
kinh tế, cơ cấu lao động nông thôn theo hướng phù hợp PTBV LN Chiếnlược PTBV LN phải đặt trong tổng thể quy hoạch PTBV của địa phương, gắnliền PTBV nông nghiệp nông thôn Điều đó thể hiện:
+ Trong quá trình vận động và phát triển, làng nghề PTBV có vai tròtích cực trong việc tăng tỷ trọng của công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp vàdịch vụ, thu hẹp tỷ trọng của nông nghiệp Chuyển lao động từ sản xuất nôngnghiệp có thu nhập thấp sang ngành nghề phi nông nghiệp có thu nhập caohơn Thực tế lịch sử đã chỉ ra rằng sự ra đời và phát triển các LN ngay từ đầu
đã làm thay đổi cơ cấu kinh tế nông thôn Sự tác động này đã tạo ra một nềnkinh tế đa dạng ở nông thôn với sự thay đổi về cơ cấu, phong phú, đa dạng vềloại hình sản phẩm
+ Dưới góc độ phân công lao động thì LN PTBV về kinh tế còn có tácđộng tích cực tới sản xuất nông nghiệp, hình thành những khu vực nôngnghiệp chuyên môn hóa, tạo ra năng suất lao động cao hơn và sản phẩm đadạng hơn Vì vậy, người nông dân sẽ nhận thức được mình cần đầu tư vàolĩnh vực nào có lợi nhất
+ Quá trình CNH, HĐH và hội nhập quốc tế đã tạo điều kiện cho các
LN có cơ hội tiếp cận với nền kỹ thuật tiên tiến, hiện đại…làm cho năng lực
Trang 21thị trường được nâng lên, người lao động nhanh chóng chuyển sang đầu tưcho các ngành nghề phi nông nghiệp, đặc biệt là những ngành mà sản phẩm
có khả năng tiêu thụ mạnh ở thị trường trong nước và thế giới Khi đó khuvực sản xuất nông nghiệp bị thu hẹp và khu vực công nghiệp và tiểu thủ côngnghiệp gia tăng
- Thứ ba: Gia tăng giá trị sản lượng, làm tăng giá trị sản phẩm hàng
hóa Với đặc điểm quy mô nhỏ và phân tán rộng rãi ở khắp các vùng nôngthôn thì một làng nghề PTBV phải có sự đầu tư tăng năng suất lao động, sảnxuất ra một khối lượng hàng hóa khá lớn, đóng góp đáng kể cho nền kinh tếquốc dân nói chung và cho từng địa phương nói riêng
- Thứ tư: PTBV LN về kinh tế còn có ý nghĩa trong việc đa dạng hóa
kinh tế nông thôn, nâng cao chất lượng cuộc sống Điều này được thể hiện:
+ Đa dạng hóa kinh tế nông thôn là một biện pháp thúc đẩy nền kinh tếhàng hóa ở nông thôn phát triển, tạo ra một sự chuyển biến mới về chất, gópphần phát triển kinh tế - xã hội nông thôn Thực tế đã chỉ ra sự phát triển LN,thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển, kích thích sự ra đời và phát triển cácngành nghề liên quan mật thiết với nó như dịch vụ, thương mại, vận tải, thôngtin liên lạc
+ Địa phương nào có nhiều ngành nghề phát triển thường hình thànhmột trung tâm giao lưu buôn bán, dịch vụ và trao đổi hàng hóa, dần dần hìnhthành một cụm dân cư với lối sống đô thị ngày một rõ nét hơn Các vùng nàytừng bước được đô thị hóa để trở thành các thị trấn, thị tứ Xu hướng đô thịhóa ở nông thôn là một xu thế tất yếu, nó thể hiện trình độ phát triển của kinhtế-xã hội nông thôn, thể hiện mức độ nhu cầu về vật chất, tinh thần được thỏamãn Vì thế dễ dàng nhận thấy rằng ở một làng nghề phát triển thì lập tức ở đóhình thành một phố chợ sầm uất của các trung tâm buôn bán và dịch vụ
Tóm lại: PTBVLN về kinh tế là tăng năng suất lao động, gia tăng giá trị
Trang 22sản lượng, thu hút lao động vào ngành nghề phi nông nghiệp, nâng cao thunhập, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu, thay đổi mô hình sản xuất tiêu dùng theohướng PTBV.
1.2.2 Phát triển bền vững làng nghề về xã hội
Đảm bảo sự bền vững làng nghề về xã hội đó chính là sự đóng góp cụthể của làng nghề cho phát triển xã hội, đảm bảo sự công bằng trong pháttriển Điều đó thể hiện:
- Thứ nhất: Một LN PTBV sẽ kéo theo sự hình thành và phát triển của
nhiều ngành nghề khác, nhiều hoạt động dịch vụ liên quan xuất hiện, tạo thêmnhiều việc làm mới, thu hút nhiều lao động vào các ngành phi nông nghiệp.Tăng thu nhập cho lao động nông thôn Giải quyết việc làm không chỉ tronglàng nghề mà còn thu hút lao động các vùng lân cận Như vậy, phát triển làngnghề phải giải quyết được vấn đề bức xúc nhất hiện nay: việc làm, ổn định vàtăng thu nhập
Tác động xã hội của LN trong giải quyết việc làm còn phải được thểhiện rõ sự phát triển lan tỏa sang các làng nghề khác, các vùng khác, gópphần giải quyết việc làm cho nhiều lao động tạo ra động lực thúc đẩy sự pháttriển kinh tế - xã hội ở địa phương
Có khả năng mở rộng thị trường xuất khẩu Trên phương diện xã hội nó
là nhân tố để kích thích sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập cho hàng triệulao động thủ công chuyên nghiệp và nông nhàn LN phát triển thì phải có thunhập ổn định và mức sống cao hơn so với các vùng thuần nông
- Thứ hai: PTBV LN dưới góc độ xã hội nó còn phải đảm bảo sự phát
triển toàn diện, biết tận dụng thời gian và lực lượng lao động Diện tích sửdụng đất cho làm nghề phải thấp hơn so với sản xuất nông nghiệp
Phải có khả năng tận dụng và thu hút nhiều loại lao động, từ lao độngthời vụ nông nhàn đến lao động trên độ tuổi hay dưới độ tuổi
Trang 23Việc PTBV LN phải thu hút được lao động địa phương, tạo việc làmcho họ tránh được hiện tượng di cư từ vùng này sang vùng khác Đặc biệt là ởvùng đồng bằng Bắc bộ nơi mà mật độ dân số đông đúc, đất đai chật hẹpkhông đủ để canh tác nông nghiệp và phát triển các ngành nghề khác, cuộcsống của người dân ở nông thôn còn nhiều khó khăn, kinh tế yếu kém.
- Thứ ba: PTBV LN phải thực hiện được quá trình đô thị hoá nông
thôn Do các LN phát triển tạo ra nguồn tích lũy lớn và ổn định cho ngân sáchđịa phương, từ đó đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật nông thôn Đườnglàng ngõ xóm tại các làng nghề được bê tông hóa, hệ thống điện nước đượccải tạo nâng cấp Các trường học được xây dựng khang trang Sức mua củangười lao động trong làng nghề tăng lên, thúc đẩy nhanh sự phát triển thịtrường hàng hóa tiêu dùng, dịch vụ Thu hẹp khoảng cách thành thị nôngthôn
- Thứ tư: Nâng cao học vấn của người dân, thể hiện trình độ dân trí văn
minh cao hơn Xoá đói giảm nghèo ở vùng đó Thu hẹp khoảng cách giàunghèo Ổn định xã hội, chất lượng cuộc sống của dân cư ở đó tốt hơn Cuộcsống người dân LN được nâng cao về vật chất tinh thần Giải quyết tốt cácvấn đề xã hội như: văn hóa, giáo dục, chăm sóc sức khỏe của người dân trong
LN, giảm các tệ nạn xã hội…
- Thứ năm: PTBV LN phải gắn liền với việc bảo tồn giá trị văn hoá dân
tộc vì nó là sự kết tinh của lao động vật chất và lao động tinh thần, được tạonên bởi bàn tay tài hoa và óc sáng tạo của người thợ thủ công Giữ gìn và pháthuy được tính đa dạng và bản sắc văn hóa dân tộc còn được thông qua cáchoạt động lễ hội hay hương ước của LN
Do đó, một LN PTBV về xã hội phải đảm nhận được vai trò quan trọngtrong việc giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc các giá trị văn hoá truyền thốngtrong quá trình CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 24Tóm lại: PTBVLN về xã hội là tạo việc làm, thu nhập ổn định chongười lao động, xóa đói giảm nghèo, tăng quỹ phúc lợi, nâng cao trình độ dântrí, xây dựng nông thôn mới, bảo tồn văn hóa vùng miền ở làng nghề, vùngnghề.
1.2.3 Phát triển bền vững làng nghề về môi trường
Đảm bảo sự bền vững về tài nguyên và môi trường LN thể hiện ởviệc sử dụng có hiệu quả, hợp lý các tiềm năng và tài nguyên thiên nhiênmôi trường LN và các vùng xung quanh Việc khai thác, sử dụng tài nguyêncủa LN không chỉ thoả mãn nhu cầu của hiện tại mà còn đảm bảo cho nhucầu của nhiều thế hệ Bên cạnh đó trong quá trình phát triển, các tác động củalàng nghề đến môi trường phải được hạn chế đi đôi với những đóng góp chocác nỗ lực cải tạo tài nguyên, bảo vệ môi trường Điều đó được thể hiện:
- Thứ nhất: PTBV LN nhằm bảo vệ môi trường sống không bị ô
nhiễm, hạn chế các bệnh nghề nghiệp
- Thứ hai: PTBV LN phải gắn liền tái tạo tài nguyên, có ý thức nâng
cao chất lượng môi trường sinh thái làng nghề
- Thứ ba: Khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm, có kế hoạch, quy
hoạch vùng nguyên liệu cho làng nghề Hoặc LN phải nghiên cứu, hướngtới sử dụng nguyên liệu nhân tạo, đa dạng hóa, thay thế nguồn nguyên liệu
Do đặc điểm các ngành nghề nông thôn nước ta rất đa dạng và ônhiễm môi trường nghiêm trọng hầu hết ở các làng nghề tiểu thủ côngnghiệp, nên các LN muốn PTBV phải sớm có chính sách quy hoạch tổchức quản lý môi trường làng nghề Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định
số 132/2000/QĐ-TTg ngày 24/11/2000 về một số chính sách khuyến khíchphát triển ngành nghề nông thôn, trong đó có nêu: “Nhà nước có quy hoạch
và định hướng phát triển các cơ sở ngành nghề nông thôn theo cơ chế thịtrường, bảo đảm PTBV, gìn giữ tốt vệ sinh môi trường nông thôn, thực
Trang 25hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn; đồng thời cóquy hoạch các cơ sở ngành nghề truyền thống phải gắn với phát triển ngành
du lịch văn hoá”
Tóm lại: PTBV LN về môi trường là giảm thiểu tác hại ô nhiễm môitrường do quá trình sản xuất kinh doanh nghề truyền thống gây ra Có kếhoạch, quy hoạch khai thác, sử dụng tiết kiệm nguồn nguyên liệu Đa dạnghóa, nghiên cứu, sử dụng nguồn nguyên liệu thay thế Phòng ngừa, hạn chếcác bệnh nghề nghiệp
1.2.4 Mối quan hệ giữa các nội dung phát triển bền vững làng nghề
Phát triển kinh tế giữ vai trò nền tảng trong mối quan hệ giữa ba yếu
tố trên Bởi vì, kinh tế phát triển sẽ tạo tiền đề vật chất giải quyết các vấn đề
xã hội Tạo ra động lực kích thích tăng đầu tư Nhưng phát triển kinh tếkhông phải bằng mọi giá Mà phải tính đến hiệu quả xã hội Tăng trưởnggắn với công bằng xã hội, tạo điều kiện nâng cao chất lượng sống của
LN Phát triển sản xuất trong các LN là nguyên nhân gây nên các biến đổimôi trường trong vùng Vì vậy, phải giảm thiểu tác hại ô nhiễm môitrường; Sử dụng và bảo tồn có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên
Kinh tế - xã hội - môi trường có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Cácnội dung của PTBV vừa là nguyên nhân, vừa là kết quả của nhau Về mốiquan hệ này, có thể sơ đồ hóa như sau:
Môi trường Kinh tế Xã hội
Tóm lại, các khía cạnh kinh tế- xã hội- môi trường trong PTBVLNràng buộc, chế định lẫn nhau Các vấn đề về lợi ích cá nhân, lợi ích trướcmắt, những hạn chế về tiềm lực kinh tế, kỹ thuật sẽ là những rào cản, phá
Trang 26vỡ việc phát triển hài hòa kinh tế - xã hội - môi trường trong PTBVLN.
1.3 NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG LÀNG NGHỀ
Lịch sử hình thành, phát triển các LN do tính chất tự nhiên, tính chấtlịch sử quy định Nhưng trong quá trình phát triển, LN còn chịu tác độngcủa nhiều nhân tố Những nhân tố này có sự biến đổi trong từng thời kỳ vàtác động theo hướng khác nhau Chúng có thể là nhân tố thúc đẩy nhưngngược lại cũng có thể là những nhân tố kìm hãm sự phát triển Ở mỗi vùng,mỗi LN, mỗi địa phương do có những đặc điểm khác nhau về các điều kiện
tự nhiên, kinh tế, xã hội và văn hóa nên sự tác động của các nhân tố khônggiống nhau
Phát triển kinh tế biểu hiện rõ rệt nhất ở sự tăng trưởng kinh tế, sauđây là nhóm các nhân tố kinh tế tác động trực tiếp đến PTBV LN
1.3.1 Nhân tố thị trường
- Về các yếu tố đầu ra
Cũng như hàng hoá khác, sản phẩm của LN sẽ không tồn tại nếu không
có thị trường tiêu thụ sản phẩm Đây là yếu tố quan trọng nhất của các LNtrong giai đoạn hiện nay Thị trường đầu tiên của LN chính là chợ làng nhằmphục vụ địa phương và các vùng lân cận Thị trường tại chỗ nhỏ hẹp, sức tiêuthụ chậm Phương thức thanh toán trên thị trường chủ yếu là trao tay, thỏathuận miệng về các quan hệ tín dụng giữa người sản xuất, người tiêu dùng vàgiữa các chủ thể kinh tế
Đối với thị trường thế giới thì một số sản phẩm nổi tiếng của Việt Namnhư đồ gốm, lụa tơ tằm thì đã được bán ra nước ngoài cách đây vài trăm năm.Sản phẩm LN đã có mặt ở trên một trăm nước trên thế giới
- Thị trường công nghệ
Được hình thành tự phát trên cơ sở các thiết bị công nghệ truyền thống,
Trang 27một số người lao động, hộ thủ công đã tách ra chuyên sửa chữa, cải tiến một
số công đoạn cho hiệu quả hơn Hoặc một số hộ có số vốn dồi dào chuyểnsang buôn bán máy móc, thiết bị trong phạm vi làng.Vì vậy nhìn chung thịtrường công nghệ nhỏ hẹp, chắp vá chưa đáp ứng nhu cầu hiện đại hóa LN
Hiện nay có thể nói chưa có cơ quan nào vào cuộc để nghiên cứu, giúp
LN thực hiện chuyển giao công nghệ hiện đại
- Thị trường lao động
Được hình thành theo thời vụ Cơ cấu lao động trong LN được phânhóa như sau: Lực lượng cơ bản nhất ở tại địa phương bao gồm lao động địaphương chuyên nghiệp; lao động địa phương bán chuyên nghiệp là nhữngngười trong gia đình tham gia khi công việc cần kíp hoặc công việc của họ rỗirãi; lao động làm thuê ở địa phương khác đến có thể thuê theo thời vụ hoặchợp đồng cả năm Ngoài ra ở nhiều LN có một lực lượng đông đảo lao động ởđịa phương khác đến làm việc với tư cách đi học việc, như các ngành chạmkhắc, thêu ren… Thực tế hiện nay tại một số LN lao động chuyên nghiệp lànhững người từ trung tuổi trở nên hoặc là người đã lập gia đình, đối với laođộng trẻ lại quan niệm nghề truyền thống của cha ông chỉ là tạm thời
1.3.2 Nhân tố vốn
Muốn có phát triển kinh tế phải có tăng trưởng kinh tế Yếu tố đầu tiên
để tăng trưởng kinh tế là vốn Vốn là toàn bộ các nguồn tài sản dùng để sảnxuất kinh doanh Phải sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn, tăng hiệu suất sửdụng vốn, gia tăng chỉ số ICOR, tăng khối lượng vốn đầu tư, quản lý chặt chẽvốn, phân bổ hợp lý các nguồn vốn Vốn là yếu tố vật chất đầu tiên, quyếtđịnh quy mô sản xuất của các chủ thể sản xuất kinh doanh trong làng nghề.Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, cạnh tranh khốc liệt trên thị trườngđòi hỏi các cơ sở sản xuất kinh doanh trong làng nghề phải có lượng vốn lớnđầu tư công nghệ, đổi mới trang thiết bị ở một số công đoạn sản xuất phù hợp
Trang 28để thay thế lao động thủ công, tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượngđáp ứng nhu cầu mở rộng thị trường.
Vốn tồn tại dưới hai hình thức: vốn tài chính và vốn hiện vật Vốn tàichính trong làng nghề là tiền; còn vốn hiện vật tồn tại dưới hình thức vật chấtcủa quá trình sản xuất trong làng nghề như cơ sở vật chất của các hợp tác xãthủ công trước kia, máy móc, nguyên liệu và đặc biệt còn có nguồn vốn phivật chất là kinh nghiệm bí quyết nghề nghiệp Về quy mô vốn tại các hộ giađình làng nghề truyền thống không thể so sánh với các cơ sở sản xuất trongcác lĩnh vực khác, mặt khác khối lượng vốn còn phụ thuộc vào ngành nghềsản xuất Các làng nghề đòi hỏi vốn lớn như: các làng nghề sản xuất về đồ gỗ,gốm vì chi phí nguyên liệu và công đoạn sản xuất phức tạp hơn Ngược lạimột số làng nghề sản xuất không đòi hỏi vốn đầu tư nhiều như: mây tre đan,cói, thêu Thực tế điều tra của tác giả tại LN số vốn bình quân của hộ sảnxuất nước mắm chỉ khoảng từ 3-5 triệu đồng/hộ Cơ cấu nguồn vốn tại cáclàng nghề truyền thống bao gồm nguồn vốn trong nước và nguồn vốn bênngoài Về thu hút vốn đầu tư nước ngoài có thể nói ở LN là rất ít, còn nguồnvốn trong nước bao gồm:
+ Vốn tự có
Là nguồn vốn của các chủ thể sản xuất kinh doanh trong làng nghềđược tích lũy lại Nguồn vốn này quá nhỏ bé so với nhu cầu mở rộng quy môsản xuất hay đổi mới trang bị kỹ thuật Nguồn vốn này chiếm khoảng trên60% tổng số vốn đầu tư của các chủ thể sản xuất kinh doanh Có một thực tế
do truyền thống tập quán của nếp nghĩ sản xuất nhỏ, nhiều hộ thủ công saukhi tích lũy được lợi nhuận họ dè dặt trong việc tái sản xuất mở rộng nhưnglại rất mạnh tay dùng lợi nhuận đó để xây nhà, sắm sửa đồ đạc
+ Nguồn vốn tín dụng phi chính thức
Đây là nguồn vốn tự phát hình thành dưới tác động quy luật cung cầu
Trang 29Được hình thành phổ biến, phát triển mạnh Bao gồm các hoạt động vaymượn trong gia đình, dòng họ, bạn bè người thân Với các mức lãi suất do haibên thỏa thuận Hoặc vay bằng các hình thức chơi phường, chơi hụi, chơihọ… vay bằng tiền, bằng hiện vật.
+ Nguồn vốn tín dụng chính thức
Đầu tiên là vay từ các quỹ tín dụng địa phương Ngoài ra các chủ thểsản xuất kinh doanh còn có thể vay từ các ngân hàng thương mại như ngânhàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, ngân hàng công thương…do thủtục cho vay phức tạp, lượng vốn cho vay còn ít nên thực tế hiệu quả củanguồn vốn này còn thấp so với nhu cầu
Hiện nay có một số LN còn được nhận một khoản vốn vay ưu đãi đượctrích ra từ các chương trình quốc gia xóa đói giảm nghèo, nguồn vốn nướcngoài đầu tư vào Việt Nam
Phải có nguồn vốn ổn định, với cơ chế cho vay phù hợp LN mới có tácdụng hỗ trợ thực sự cho LN phát triển
1.3.3 Nhân tố khoa học công nghệ
Ngày nay khoa học công nghệ đang trở thành lực lượng sản xuất trựctiếp, được xác định là động lực của CNH, HĐH Khoa học công nghệ là yếu
tố quyết định về chất để tăng năng suất lao động, quyết định lợi thế cạnh tranh
và tốc độ phát triển kinh tế nói chung và công nghiệp nói riêng của các quốcgia Công nghệ tiên tiến phù hợp với tiềm năng nguồn lực, trình độ vận dụng,khả năng quản lý sẽ là động lực mạnh mẽ cho sự phát triển kinh tế nhanh bềnvững Nguồn lực khoa học công nghệ được biểu hiện trên nhiều mặt:
- Trình độ người lao động, đội ngũ các nhà nghiên cứu
- Cơ sở vật chất tiến bộ phục vụ nghiên cứu, triển khai sản xuất
- Khả năng tiếp thu, ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ
Có thể nói tất cả các làng nghề đều chưa đáp ứng được ba tiêu chí trên
Trang 30Đặc thù nghề thủ công truyền thống đòi hỏi công nghệ tuỳ thuộc từng côngđoạn làm sản phẩm mà áp dụng cho phù hợp để hạn chế ảnh hưởng môitrường, tăng năng suất, công nghệ hoá sản xuất, giảm bớt tính chất lao độngnặng nhọc nhưng phải đảm bảo tính độc đáo tinh xảo của sản phẩm truyềnthống.
Công nghệ trong làng nghề đặc biệt trong vấn đề tiêu hao năng lượng
sẽ tác động trực tiếp đến năng suất lao động, giá thành sản phẩm, năng lựccạnh tranh trên thị trường Áp dụng công nghệ tiên tiến sẽ giúp LN tăng năngsuất hạ giá thành, đáp ứng được những đơn đặt hàng lớn, đa dạng hoá sảnphẩm, doanh thu tăng và đó là động lực mạnh mẽ nhất để giữ và phát triểnnghề truyền thống Ví dụ tại LN Bát Tràng, các hộ sản xuất chuyển dùng lò
ga thay thế cho lò hộp Chi phí của đầu tư xây dựng một lò nung ga khoảngtrên 150 triệu, lớn hơn rất nhiều so với chi phí khi xây lò than khoảng 30triệu đồng Song chi phí sản phẩm cuối cùng vẫn rẻ hơn do các chi phí laođộng và các chi phí liên quan khác đều thấp hơn rất nhiều Giá thành các loạihàng cao cấp sẽ giảm hơn 20% so với lò nung than; hàng chợ (sản phẩm chậuhoa, đôn…) giảm tới 60% Sử dụng lò gas còn đóng vai trò cải thiện đáng kểtình trạng ô nhiễm môi trường tại địa phương
1.3.4 Nhân tố nguồn nguyên liệu
Cũng như bất kỳ quá trình sản xuất, khối lượng, chủng loại nguyên vậtliệu và khoảng cách giữa nguồn cung cấp nguyên liệu có ảnh hưởng trực tiếpđến chất lượng, giá thành, lợi nhuận của các doanh nghiệp Nguồn nguyênliệu chính tại địa phương trong nước, đây chính là lợi thế của LN Thị trườngnguyên liệu không chính thức, phương thức thanh toán do hai bên tự thỏathuận, phụ thuộc thời vụ do tư thương cung cấp nên giá cả lên xuống theomùa Sử dụng nguồn nguyên liệu đa dạng hoặc thay thế sẽ là xu hướng cầnđược quan tâm để làng nghề phát triển bền vững
Trang 31sự hình thành và PTBV vững làng nghề chỉ có được khi kết cấu hạ tầng đượctạo lập đồng bộ, tương đối đầy đủ ở các làng nghề Ngày nay khi giao lưukinh tế phát triển, thị trường tiêu thụ sản phẩm không chỉ ở địa phương màcòn vươn tới thị trường rộng lớn khác; nguồn nguyên liệu phải vận chuyển thì
hệ thống giao thông quyết định trực tiếp chi phí hạ giá thành
Hệ thống cung cấp điện nước tốt, giá rẻ không qua các đơn vị quản lýtrung gian, sẽ giúp làng nghề sản xuất liên tục, giảm chi phí, tăng năng suấtđảm bảo số chất lượng sản phẩm Tiếp theo, hệ thống dịch vụ thông tin tốt sẽgiúp các cơ sở sản xuất kinh doanh trong làng nghề nắm bắt kịp thời nhữngthông tin về nhu cầu, giá cả mẫu mã, chất lượng, thị hiếu để có sự điều chỉnhkịp thời nhanh nhạy đạp ứng yêu cầu thị trường
1.3.6 Nhân tố thể chế kinh tế, chính sách kinh tế và sự quản lý của nhà nước
Nhân tố thể chế kinh tế, chính sách kinh tế và sự quản lý của nhà nướcđóng vai trò quan trọng là “bà đỡ” cho sự phát triển các LN, có tác dụng thúcđẩy hoặc kìm hãm sản xuất LN Thậm chí có những chủ trương chính sách cóthể làm tiêu vong một LN Bình Đà là LN làm pháo nổi tiếng nhưng nhữnghậu quả do pháo gây ra thật kinh hoàng Năm 1995 chỉ thị 106/TTg của Chínhphủ về cấm sản xuất kinh doanh và tàng trữ pháo ra đời vì lợi ích của cộng
Trang 32đồng và xã hội Nghề sản xuất pháo cổ truyền hoàn toàn mất đi.
Trước thời kỳ đổi mới, cơ chế kinh tế chỉ tập trung phát triển kinh tếquốc doanh và tập thể LN với tư cách là một chủ thể kinh tế độc lập có đặctrưng mô hình sản xuất kinh doanh là các Hợp tác xã thủ công hoặc Tổ, Độinghề phụ
trong các Hợp tác xã nông nghiệp Mô hình kinh tế tập trung quan liêu baocấp đã hạn chế sự phát triển kinh tế hàng hóa trong các LN Nguyên tắc phânphối mang nặng tính bình quân đã không khuyến khích thợ thủ công
Từ Đại hội Đảng lần thứ VI (1986), đặc biệt sau Nghị quyết 10 BộChính trị (1988) với chính sách kinh tế nhiều thành phần hộ gia đình đượccông nhận là chủ thể kinh tế thì các LN phát triển mạnh mẽ
Sau những năm 90, mô hình kinh tế thị trường và chính sách mở cửađặc biệt quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo điều kiện mở rộng thị trườngcho LN nhưng cũng làm cho LN phải cạnh tranh với nhiều loại sản phẩmtrên thị trường
1.4 MỘT SỐ KINH NGHIỆM VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG LÀNG NGHỀ
1.4.1 Tình hình phát triển bền vững làng nghề ở một số địa phương
+ Tỉnh Hà Tây
Hà Tây là một tỉnh có số làng nghề đông nhất của Việt Nam Theo điềutra của Tổ chức hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA), trong 1.460 thôn, làng củatỉnh Hà Tây, hiện có gần 80% số làng có nghề (với 411 làng nghề), chiếm 1/5tổng số làng nghề hiện có tại Việt Nam Theo số liệu của Sở Công nghiệp HàTây, có khoảng 70 vạn lao động nông thôn của tỉnh đang "ly nông, bất lyhương" với thu nhập bình quân đầu người 7,5 triệu đồng/năm, trong khi thunhập tương ứng trong lĩnh vực thuần nông là 5,4 triệu đồng/người/năm
Có được sự thành công hiện nay trong PTBV các làng nghề ở Hà Tây là
Trang 33nhờ có các biện pháp:
- Các cơ sở sản xuất ở làng nghề có điều kiện tiếp cận với các nguồnvốn, vay để đầu tư phát triển sản xuất Tổng vốn đầu tư vào khu vực sản xuấtcủa các làng nghề TTCN cao, nhờ vào đó quy mô của các DN sản xuất lớn,đảm bảo ổn định sản xuất Với nguồn vốn đó nhiều doanh nghiệp đầu tư máymóc, thiết bị để hiện đại hoá sản xuất, tăng năng suất lao động, giảm chi phí
- Thị trường tiêu thụ sản phẩm tương đối lớn, sản phẩm sản xuất rakhông chỉ tiêu thụ ở địa phương và các tỉnh lân cận mà mở rộng ra thị trườngquốc tế, hướng vào xuất khẩu
- Bản thân các cơ quan chức năng có thẩm quyền quản lý hoạt độngSXKD của làng nghề luôn tìm cách để quảng bá cho sản phẩm của làng nghềđến các thị trường, đồng thời thường xuyên tổ chức hội du lịch làng nghề, vừaphát triển về du lịch, vừa quảng bá sản phẩm đến với khách du lịch
- Đầu tư đào tạo nguồn lao động có tay nghề Hoạt động sản xuất củalàng nghề đang hình thành xu hướng “vùng hoá” trong thu hút lao động, tiếntới hình thành các trung tâm sản xuất kinh doanh các sản phẩm thủ công
Mặc dù có được ưu thế là lực lượng lao động thủ công dồi dào, chi phínhân công thấp nhưng các DN của Hà Tây gặp phải hạn chế là ít có sự sángtạo đối với mẫu mã sản phẩm, do vậy trong sản xuất để xuất khẩu chủ yếu làtheo mẫu mã của nước ngoài hoặc nhái lại mẫu mã của sản phẩm nước ngoài.Ngoài ra, các DN Hà Tây xuất khẩu sản phẩm qua DN trung gian nên lợinhuận còn lại chỉ là “lấy công làm lãi”
Trên đây là một vài biện pháp Hà Tây đã thực hiện trong quá trình phấnđấu để PTBV làng nghề trên địa bàn Hà Tây
+ Tỉnh Phú Yên
Phú Yên đã tập trung nhiều nguồn lực để phát triển các ngành nghềtruyền thống và xây dựng các làng nghề Trong những năm gần đây làng nghề
Trang 34ở Phú Yên có những bước khởi sắc, các làng nghề được khôi phục và pháttriển Các làng nghề ở Phú Yên có được kết quả như ngày nay là nhờ vào bảnthân các làng nghề và chính quyền địa phương đã tiến hành các biện pháp:
- Nuôi dưỡng những hạt nhân làng nghề, có tâm huyết với nghề vàquyết tâm sống với nghề Với tình yêu nghề của các hạt nhân có rất nhiềulàng nghề ở Phú Yên sau một thời gian “ngủ quên” đã bừng tỉnh và đua nhautìm hướng đi mới cho riêng mình Trung tâm khuyến công Phú Yên đã cử một
số người có tâm huyết với nghề đi học nghề ở các địa phương khác và học hỏikinh nghiệm tổ chức sản xuất của cho làng nghề, những hạt nhân này khi trở
có nhiệm vụ khôi phục làng nghề, mở lớp vừa sản xuất vừa tiến hành đào tạolao động tại chỗ Hiện nay ở các làng nghề phát triển đã có được 3 đến 4 lớpthợ, mỗi lớp khoảng 100 người Nhờ vậy, khi làng nghề sản xuất không bịthiếu hụt về lao động có tay nghề
- Các làng nghề ngày nay không còn chỉ sản xuất những sản phẩmtruyền thống mà đã thiết kế, sản xuất ra các sản phẩm đa dạng về chủng loại,phong phú về mẫu mã trên cùng chất liệu truyền thống Do vậy vừa đảm bảođược nguyên liệu sản xuất mà lại mở rộng được nguồn hàng đầu ra, tránhđược sự nhàm chán Ví dụ như làng dệt chiếu trước kia nay không chỉ dệt cácloại chiếu truyền thống để bán trên thị trường địa phương nữa mà đã dệt cácloại chiếu có nhiều kích cỡ khác nhau, có thể xếp gọn lại rất thuận lợi choviệc mang đi du lịch, picnic Bìa chiếu có trang trí vải viền, có nhiều hoa văn,
sử dụng tiện lợi Ngoài ra, từ sợi cói dệt chiếu nay được sử dụng để đan lẵnghoa, túi xách, làn đựng rất phong phú và đẹp mắt, khách du lịch rất thích
- Đối với những làng nghề đã tồn tại từ lâu đời, các cơ quan quản lý ởđịa phương như Sở Công nghiệp, Trung tâm Khuyến công gửi hồ sơ cho cục
sở hữu trí tuệ yêu cầu được công nhận thương hiệu Đồng thời tiến hành quyhoạch và xây dựng khu trưng bày sản phẩm để quảng bá sản phẩm, xây dựng
Trang 35trang thông tin điện tử sở hữu trí tuệ địa phương, lập công bố bản đồ địa danh,đặc sản Phú Yên Ngoài ra, đối với những người làm nghề đạt chuẩn thì đượccấp chứng chỉ nghề, đây chính là điểm mới trong phát triển làng nghề, nhờ đólao động yên tâm sản xuất và sống với nghề của mình hơn.
- Để mở rộng thị trường đầu ra, một số làng nghề ở Phú Yên tiến hànhliên kết với các làng nghề ở địa phương khác để đào tạo lao động, liên kếtthành lập HTX hoặc các DN có uy tín để làm các dịch vụ phục vụ sản xuất,quảng bá, tiêu thụ sản phẩm của mình Phú Yên đang cùng các tỉnh KhánhHoà, Lâm Đồng hình thành tam giác du lịch, khách du lịch đến các làng nghề
sẽ tạo ra một thị trường tiêu thụ tại chỗ
- Chính quyền địa phương hết sức quan tâm đến sự phát triển của cácnghề TTCN, năm 2003 UBND tỉnh Phú Yên đã ban hành “Quy định về chínhsách khuyến khích đầu tư phát triển ngành nghề TTCN và làng nghề”; Mớiđây UBND tỉnh còn đề ra chương trình hoạt động về bảo tồn và phát triểnlàng nghề giai đoạn 2007 – 2010 nhằm giải quyết những khó khăn, vướngmắc trong phát triển làng nghề
Tuy nhiên, quá trình phát triển làng nghề ở Phú Yên cũng gặp phải một
số khó khăn xuất phát trong quá trình phát triển làng nghề: Xuất hiện sự cạnhtranh không lành mạnh giữa người dân, đơn vị sản xuất cùng mặt hàng tại địaphương với nhau Cạnh tranh nội bộ theo kiểu “mở đầu vô, bó đầu ra” Chỉ cónhững DN SXKD lớn mới chú ý làm thương hiệu, marketing, tìm kiếm thịtrường , còn nghề truyền thống chủ yếu được xây dựng tại các HTX vàngười dân Chưa có một tổ chức, một HTX nào kết hợp với nhau để sản xuấttheo quy mô lớn
+ Tỉnh Quảng Nam
Quảng Nam là một tỉnh lân cận với thành phố Đà Nẵng, mới được tách
ra khỏi tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng từ năm 1997 Nếu số làng nghề tồn tại
Trang 36hiện nay trên địa bàn thành phố Đà Nẵng chỉ có 4 làng nghề thì ở Quảng Namhiện nay có đến 61 làng nghề, làng nghề đang hoạt động, thu hút khoảng6.945 cơ sở, hộ gia đình tham gia sản xuất ngành nghề TTCN, giải quyết đượckhoảng 16.320 lao động, chiếm 29% lao động toàn ngành, hàng năm đónggóp từ 30 - 35% giá trị sản xuất CN Sản phẩm của các làng nghề đã thực sự
là một hàng hoá để thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng, xuất khẩu và pháthuy được các giá trị văn hoá truyền thống làng, xã của Quảng Nam
- Để khôi phục và phát triển lại các làng nghề đang dần bị mai một,chính quyền cấp xã, huyện kết hợp với đoàn viên thanh niên tổ chức các khoátập huấn, các nghệ nhân trình diễn nghề cho các thanh niên, đoàn viên Sau đó
tổ chức cuộc thi tay nghề giữa các chi đoàn với nhau, từ đó vừa giáo dục đượclớp trẻ về ý nghĩa của nghề, đồng thời đó cũng là hình thức đào tạo nghề, vàlàng nghề dần dần khôi phục điển hình là làng dệt chiếu ở Huyện DuyXuyên
- Để duy trì sự tồn tại của mình, một số cơ sở sản xuất ở các làng nghề,làng nghề đã chủ động đầu tư đổi mới thiết bị, công nghệ sản xuất, nâng caochất lượng sản phẩm, đa dạng hóa các mặt hàng truyền thống như: làng dệtchiếu, dệt vải, dệt lụa, đóng sửa tàu thuyền, mây tre đan
- Tỉnh không chỉ hỗ trợ khuyến khích phát triển các làng nghề mà cònđẩy mạnh triển khai công tác phát triển nghề, đưa nghề mới về các thôn, xãchưa có nghề, tiến hành đồng bộ một số biện pháp phát triển kết cấu hạ tầng
kỹ thuật nông thôn, phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản gắn với pháttriển các loại hình dịch vụ và ngành nghề CN - TTCN, nhờ đó bước đầu đãtạo được sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, tăng thu nhập, gópphần xoá đói giảm nghèo ở vùng nông thôn
1.4.2 Kinh nghiệm rút ra cho làng nghề nước mắm Nam Ô
Những kinh nghiệm về phát triển làng nghề ở các địa phương mà làng
Trang 37nghề nước mắm Nam Ô cần học tập như sau:
- Các làng nghề đạt chuẩn được địa phương cấp bằng công nhận LN
- Trong các làng nghề còn tồn tại những hạt nhân tâm huyết với nghề,
từ đó những ngành nghề kém phát triển được ưu tiên đưa những người tâmhuyết với nghề đi đào tạo ở các làng nghề khác phát triển hơn trên cả nước vàsau đó về địa phương tiến hành đào tạo và phát triển nghề
- Các làng nghề không dừng lại ở việc sản xuất dưới những cơ sở đơn
lẻ mà tiến hành “vùng hóa” trong thu hút lao động để phát triển thành cáctrung tâm sản xuất, các HTX Đồng thời liên kết với các địa phương khác đểvừa học hỏi, trao đổi kinh nghiệm, vừa tìm kiếm thị trường đầu ra cho sảnphẩm Mặt khác, sự liên kết đó sẽ tạo được thế mạnh cho nghề đó phát triển
- Các cơ sở sản xuất phát triển nhờ vay được vốn ưu đãi của các tổchức tín dụng nên có điều kiện đầu tư máy móc, thiết bị, nhà xưởng hoặc gianhàng trưng bày, từ đó mở rộng hướng để SXKD Tuy nhiên, không phải làngnghề nào cũng nhận được nguồn vốn vay ưu đãi này
- Các địa phương tiến hành đổi mới trang thiết bị, phát triển kết cấu hạtầng kỹ thuật nông thôn, đa dạng hoá sản phẩm
- Một số địa phương phát triển mạnh làng nghề được là nhờ có sự kếthợp chặt chẽ hoạt động của làng nghề với hoạt động du lịch
Trang 38CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG LÀNG NGHỀ NƯỚC MẮM NAM Ô THỜI GIAN QUA2.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – KINH TẾ XÃ HỘI TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG LÀNG NGHỀ
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
Làng nghề nước mắm Nam Ô thuộc phường Hoà Hiệp Nam của quậnLiên Chiểu Hầu hết các hộ làm mắm đều thuộc khối phố Nam Ô 2, số hộ cònlại thuộc khối phố Nam Ô 1 và Nam Ô 3 nằm giữa Đà Nẵng và đèo Hải Vân
Qua bản đồ, ta thấy làng nước mắm Nam Ô nằm ở vị trí dọc theo cácvịnh của bờ biển Đà Nẵng, cụ thể: vịnh Kim Liên, Vịnh Nam Chơn sẽ thuận
Trang 39lợi trong việc đánh bắt, khai thác cá cơm để làm nguyên liệu cho nước mắm.
Làng nghề nước mắm Nam Ô nằm ở phường Hòa Hiệp Nam là vị tríđịa lý có diện tích đất mặt nước ven biển sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho đánhbắt và nuôi trồng thủy hải sản để đáp ứng đầu vào cho làng nghề
Bảng 2.1: Diện tích đất của địa bàn nơi làng nghề hoạt động năm 2009
Diện tích (ha)
Phường
Năm 2009Đất tự nhiên Đất có mặt nước Hòa Hiệp Bắc
Hòa Hiệp Nam
Hòa Khánh Bắc
Hòa Khánh Nam
Hòa Minh
4.359788997977791
000015
Nguồn: Niên giám thống kế Quận Liên Chiểu năm 2009
Đồng thời, làng nghề nằm trên trục dọc là quốc lộ 1A sẽ tạo điều kiện
để quảng bá, phân phối sản phẩm của làng nghề dễ dàng và thuận lợi, giảmcác chi phí liên quan đến phân phối và bán hàng
2.1.2 Điều kiện xã hội
Làng nghề nước mắm Nam Ô hình thành từ đầu thế kỷ XX Từ lâunước mắm Nam Ô đã có tiếng tăm Qua bao nhiêu năm tháng, qua bao thế hệ,
uy tín của nước mắm Nam Ô vẫn còn lưu truyền trong dân gian; đây là mộtsản phẩm có truyền thống, hiện diện trong bữa ăn hàng ngày của gia đình dân
xứ Quảng, một sản phẩm do một làng nghề được truyền nối qua nhiều thế hệ,
có giá trị kinh tế, giúp cho nhiều gia đình có cuộc sống ổn định Trước đây,khi nghề làm pháo du nhập vào làng nghề Nam Ô, cả làng nghề chuyển quasản xuất làm nghề pháo với thu nhập cao hơn Sự hưng thịnh của nghề pháo
đã làm cho nghề nước nắm ngày càng mai một
Năm 1994, với chỉ thị 406/TTg của Thủ tướng Chính phủ cấm sản xuấtpháo, nghề nước mắm Nam Ô được người dân địa phương quan tâm đầu tư
Trang 40trở lại Sau nhiều năm sản xuất lại, làng nghề vẫn chưa khôi phục được quy
mô và uy tín đã có trước đây, chính quyền địa phương và mỗi người dân làngnghề đều rất mong muốn khôi phục và phát triển lại nghề truyền thống Hiệnnay, dân làng Nam Ô (khối phố Nam Ô 1 và Nam Ô 2) thuộc phường HòaHiệp Nam, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng có khoảng 104 hộ dân làmnước mắm thủ công rất lâu đời dưới dạng hộ gia đình (công suất mỗi hộkhoản 100lít/năm ) Các hộ này chủ yếu sản xuất ở quy mô nhỏ lẻ, phân bố rãirác trong khu dân cư, sản phẩm sản xuất không đồng đều
Dân số của phường Hòa Hiệp Nam chiếm số lượng nhỏ trong tổng dân số củaquận Liên Chiểu, trong đó cơ cấu về giới tính thì nam giới vẫn chiếm tỷ lệ caohơn và trẻ em sinh ra trong năm 2009 thì giới tính nam vẫn chiếm ưu thế hơn
Bảng 2.2: Dân số của quận Liên Chiểu và các phường năm 2009
ĐVT: người
Đơn vị
Chỉ tiêu Quận HKNP. HKBP. HHBP. HHNP. HMP.Dân số trung bình
Trong đó: Nữ
Trẻ em sinh trong năm
Trong đó: Nữ
36.822 64.430 1.596 742
23.726 11.950 301 142
39.915 20.712 384 177
13.675 6.282 147 68
15.312 7.669 233 110
36.822 17.817 1.596 742
Nguồn: Niên giám thống kế Quận Liên Chiểu năm 2009
Qua số liệu thống kê ta thấy dân số phường Hòa Hiệp Nam hiện nayvẫn chiếm tỷ trọng nhỏ so với các phương khác thuộc địa bàn quận LiênChiểu Tuy nhiên, số trẻ em sinh ra trong năm 2009 vẫn chiếm số lượng tươngđối lớn, nếu làng nghề cần thế hệ lao động kế thừa thì có thể đáp ứng đượcyêu cầu số lượng để phát triển làng nghề
2.1.3 Điều kiện kinh tế
Khi làng nghề mới được khôi phục lại, quy mô làng nghề còn nhỏ, thị