- Khái niệm về tỷ giá hối đoái rất phức tạp, có thể tiếp cận từ những góc độ khác nhau. Cho đến nay, tỷ giá luôn luôn là vấn đề gây tranh luận cả trên phương diện lý thuyết lẫn thực tế. - Xét trong phạm vi thị trường của một nước: Tỷ giá là giá cả của một đơn vị tiền tệ một nước được biểu hiện bằng số lượng đơn vị tiền tệ của nước khác, hay là bằng số lượng ngoại tệ nhận được khi đổi 1 đơn vị nội tệ hoặc bằng số lượng nội tệ nhận được khi đổi 1 đơn vị ngoại tệ. Các nước có giá trị đồng nội tệ thấp hơn giá ngoại tệ, thường sử dụng cách hai. Chẳng hạn, ở Việt Nam người ta thường nói đến số lượng đồng Việt Nam nhận đựợc khi đổi 1 USD, EURO… Trong thực tế cách sử dụng tỷ giá hối đoái như vậy thuận lợi hơn. - Tỷ giá hối đoái còn được định nghĩa ở khía cạnh khác, đó là so sánh giữa hai tiền tệ của hai nước khác nhau. Một đồng tiền hay một lượng đồng tiền nào đó dổi được bao nhiêu một đồng tiền khác được gọi là tỷ lệ giá cả trao đổi giữa các đòng tiền với nhau hay gọi tắt là tỷ giá hối đoái hoặc ngắn gọn hơn là tỷ giá. Như vậy trên bình diện quốc tế, có thể hiểu một cách tổng quát : tỷ giá hối đoái là tỷ lệ giữ các giá trị đồng tiền so với nhau. Nói khác đi, tỷ giá là giá cả của đơn vị tiền tệ một nứơc được biểu hiện bằng đơn vị tiền tệ của nước khác, biểu hiện tương quan giá cả trong nước với giá cả quốc tế.
Trang 1TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH PHỦ ĐẾN TỶ GIÁ TRONG HỆ THỐNG TIỀN TỆ
- Xét trong phạm vi thị trường của một nước: Tỷ giá là giá cả của một đơn vị tiền tệmột nước được biểu hiện bằng số lượng đơn vị tiền tệ của nước khác, hay là bằng số lượngngoại tệ nhận được khi đổi 1 đơn vị nội tệ hoặc bằng số lượng nội tệ nhận được khi đổi 1đơn vị ngoại tệ Các nước có giá trị đồng nội tệ thấp hơn giá ngoại tệ, thường sử dụng cáchhai Chẳng hạn, ở Việt Nam người ta thường nói đến số lượng đồng Việt Nam nhận đựợckhi đổi 1 USD, EURO… Trong thực tế cách sử dụng tỷ giá hối đoái như vậy thuận lợihơn
- Tỷ giá hối đoái còn được định nghĩa ở khía cạnh khác, đó là so sánh giữa hai tiền tệcủa hai nước khác nhau Một đồng tiền hay một lượng đồng tiền nào đó dổi được baonhiêu một đồng tiền khác được gọi là tỷ lệ giá cả trao đổi giữa các đòng tiền với nhau haygọi tắt là tỷ giá hối đoái hoặc ngắn gọn hơn là tỷ giá Như vậy trên bình diện quốc tế, cóthể hiểu một cách tổng quát : tỷ giá hối đoái là tỷ lệ giữ các giá trị đồng tiền so với nhau.Nói khác đi, tỷ giá là giá cả của đơn vị tiền tệ một nứơc được biểu hiện bằng đơn vị tiền tệcủa nước khác, biểu hiện tương quan giá cả trong nước với giá cả quốc tế
1.2) Vai trò của tỷ giá trong nền kinh tế mở :
* Tỷ giá hối đoái và ngoại thương:
- Tỷ giá giữa đồng nội tệ và ngoại tệ là quan trọng đối với một quốc gia vì trước tiên
nó tác động trực tiếp đến giá cả hàng hóa xuất nhập khẩu của chính quốc gia đó
- VD: Năm 1994 với mức tỷ giá hối đoái là 1USD = 10500 VNĐ, một xe ô tô con vớigiá là 30000 USD có thể được nhập khẩu và tính tương đương thành tiền Việt Nam là 315triệu đồng Đến năm 1998 với mức tỷ giá 1 USD = 13500 VNĐ thì cũng chiếc xe ấy chỉ
có thể nhập khẩu và bán với giá tối thiểu là 405 triệu đồng
Ngược lại 1 tấn gạo với chi phí sản xuất là 3,5 triệu đồng có thể xuất khẩu với tỷ giá
1 USD = 10500 VNĐ mà có lãi với giá khỏang 340USD , nhưng với tỷ giá 1USD = 13500VNĐ và nếu các yếu tố khác không đổi thì đã có thể xuất khẩu mà có lãi với giá khoảng
260 USD Từ đó, nếu các yếu tố khác không đổi thì khi tỷ giá tăng từ 1USD = 10500VNĐ đến 1USD = 13500 VNĐ (USD tăng giá hay VNĐ giảm giá) đã làm cho hàng nhập
Trang 2khẩu trở nên đắt hơn còn hàng xuất khẩu trở nên rẻ hơn, từ đó có thể giảm nhập khẩu vàtăng xuất khẩu Kết quả sẽ ngược lại nếu USD sụt giá và VNĐ tăng giá.
Kết luận có thể được rút ra là nếu đồng nội tệ tăng giá sẽ làm giảm xuất khẩu vàtăng nhập khẩu làm cán cân thương mại có thể xấu đi Ngược lại nếu đồng nội tệ giảm giá
sẽ làm tăng xuất khẩu và giảm nhập khẩu, từ đó cán cân thương mại sẽ được cải thiện
*Tỷ giá hối đoái và sản lượng, công ăn việc làm, lạm phát:
- Tỷ giá hối đoái không chỉ quan trọng là vì tác động đến ngoại thương mà thông qua
đó , tỷ giá sẽ có tác động đến các khía cạnh khác của nền kinh tế như mặt bằng giá cả trongnước, lạm phát, khả năng sản xuất, công ăn việc làm hay thất nghiệp…
- VD: Với mức tỷ giá hối đoái 1USD = 10500 VNĐ của năm 1994 thấp hơn mức1USD = 13500 VNĐ của năm 1998, tức tiền Việt Nam sụt giá và nếu giả định mặt bằnggiá thế giới là không đổi, thì không chỉ có xe con khi nhập khẩu tính bằng tiền Việt Namtăng giá mà còn làm tất cả các sản phẩm nhập khẩu đều rơi vào tình trạng tương tự vàtrong đó có cả nguyên vật liệu, máy móc cho sản xuất Nếu các yếu tố khác trong nền kinh
tế là không đổi thì điều này tất yếu sẽ làm mức giá cả trong nền kinh tế tăng lên Nếu tỷ giáhối đoái tiếp tục có sự gia tăng liên tục qua các năm có nghĩa là lạm phát đã tăng Nhưngbên cạnh đó đối với các lĩnh vực sản xuất chủ yếu dựa trên nguồn lực trong nước , thì sựtăng giá của hàng nhập khẩu sẽ giúp tăng khả năng cạnh tranh cho các lĩnh vực này, giúpphát triển sản xuất và từ đó có thể tạo thêm công ăn việc làm, giảm thất nghiệp, sản lượngquốc gia có thể tăng lên Ngược lại các yếu tố khác không đổi thì lạm phát sẽ giảm , khảnăng cạnh tranh của các lĩnh vực trong nước sẽ có xu hướng giảm, sản lượng quốc gia cóthể giảm, thất nghiệp của nền kinh tế có thể tăng lên… nếu VNĐ tăng giá hay USD tănggiá
Tóm lại : trên góc độ lý thuyết chung , tỷ giá hối đoái là một loại biến số, mộtloại giá cả có vai trò quan trọng bậc nhất trong nền kinh tế mở vì sự thay dổi của tỷ giá hốiđoái sẽ có tác động đến cả 2 nhóm mục tiêu của nền kinh tế là mục tiêu cân bằng ngoại(cân bằng ngoại thương) và mục tiêu cân bằng nội ( sản lượng công ăn việc làm và lạmphát) Nhưng trước hết, tỷ giá rõ ràng là một phạm trù thuộc lĩnh vực tiền tệ và nhiều khiđược nhìn nhận một cách tương đối là khía cạnh đối ngoại của tiền tệ, mà tỷ giá lại là mộtbiến số có khả năng tác động đến cả 2 nhóm mục tiêu cân bằng nội và cân bằng ngoại nêntrên một góc độ nào đó , tỷ giá còn được xem là một công cụ có sức mạnh rất lớn củachính sách tiền tệ quốc gia và chính sách tỷ giá cùng là một bộ phận rất quan trọng trongchính sách tiền tệ quốc gia
2 Quá trình phát triển của hệ thống tiền tệ quôc tế:
2.1 Chế độ song bản vị:
2.1.1 Khái niệm : là chế độ tiền tệ trong đó cũng một lúc có hai thứ kim loại (vàng,bạc) đóng vai trò làm vật ngang giá chung và là cơ sở của toàn bộ chế độ lưu thông tiền tệ
Trang 3của một nước, bắt đầu xuất hiện ở Châu Âu vào khoảng thế kỷ 16 và kết thúc vào khoảngcuối thế kỷ 19
2.1.2 Đặc điểm, hình thức :
- Vàng và bạc được lựa chọn làm phương tiện trao đổi và lưu thông trong nền kinh
tế do chúng có những đặc tính hơn hẳn các kim loại khác và đáp ứng được những tiêuchuẩn mà 1 đồng tiền hàng hóa cần như tính bền, khan hiếm, dễ chuyên chở, dễ phân chia,đồng chất, chất lượng được duy trì lâu bền và chất lượng có thể được các chuyên gia kiểmtra 1 cách chính xác
+ Chế độ song bản vị bao gồm hai hình thức:
- Chế độ bản vị song song: tiền đúc bằng vàng và tiền đúc bằng bạc được lưuthông tự do theo giá thị trường
- Chế độ bản vị kép: tiền đúc bằng vàng và tiền đúc bằng bạc được lưu thôngtheo tỷ giá bắt buộc do Nhà nước quy định (tỷ giá pháp định)
- Tỷ giá giữa các đơn vị tiền tệ được xác định theo giá trị của vàng và bạc
2.1.3 Ưu – nhược điểm của chế độ song bản vị:
+ Ưu điểm:
- Thúc đẩy thương mại quốc tế diễn ra nhanh chóng
- Trong lưu thông hàng hoá, việc sử dụng chế độ song bản vị có nhiều tiến bộhơn so với thời kỳ nền kinh tế đổi chác hiện vật
+ Nhược điểm:
- Nhà nước khó kiểm soát lượng vàng, bạc của quốc gia
- Hai thước đo giá trị, hai hệ thống giá cả còn gây trở ngại trong việc tính toán vàlưu thông hàng hoá
*Quy luật Gresham:
Mặc dù tiền xu được đúc mang nhãn hiệu của từng quốc gia làm bằng chứngbảo đảm nội dung và chất lượng của kim loại nhưng trên thực tế các quốc gia ngày cànggiảm tỷ trọng của vàng hay bạc trong các đồng tiền, do đó đã bào mòn giá trị thực tế củatiền xu Những đồng tiền bị bào mòn giá trị được định giá quá cao so với khối lượng kimloại thực tế mà nó chứa đựng, ngược lại những đồng tiền đầy đủ giá trị lại bị định giá quáthấp trong vai trò là phương tiện trao đổi Do đó những ai nắm giữ cả 2 loại đồng tiền này
sẽ ưu tiên dùng đồng tiền giảm giá trị để thanh toán trước, còn đồng tiền đầy đủ giá trịdùng làm phương tiện cất giữ hoặc nấu chảy để bán hay gửi vào xưởng đúc để đúc cácđồng xu có giá trị thấp hơn Kết quả là đồng tiền đầy đủ giá trị bị loại dần ra khỏi lưuthông
Quá trình đồng tiền được định giá cao loại đồng tiền bị định giá thấp ra khỏilưu thông được gọi là quy luật Gresham: “Tiền xấu đẩy tiền tốt ra khỏi lưu thông” (Badmoney drives out good money)
Trang 4Tại Mỹ, luật đúc tiền 1792 đã thông qua đồng đôla là đơn vị tiền tệ của Mỹ với tỷ giá cốđịnh với vàng và bạc: 1 USD = 24,75 grains vàng = 371,25 grains bạc Như vậy với cùng 1khối lượng như nhau thì vàng luôn có giá trị gấp 15 lần bạc Tuy nhiên càng về sau thế kỷ
18 thì giá bạc càng giảm đồng thời 1 số nước hình thành chế độ đồng bản vị với tỷ lệ
“bạc : vàng =15,5 : 1” đã kích thích luồng bạc chạy vào và luồng vàng chạy ra khỏi nước
Mỹ Với tư cách là phương tiện lưu thông thì vàng đã bị định giá quá thấp và bạc bị địnhgiá quá cao do đó vàng đã từ từ biến khỏi lưu thông nước Mỹ
Năm 1834, Quốc hội Mỹ đã nâng tỷ lệ trao đổi giữa bạc và vàng lên 16:1, quyluật Gresham hoạt động theo chiều ngược lại và thực tế nước Mỹ chỉ còn lại chế độ đơnbản vị vàng
Từ năm 1834 – 1861: tiền giấy và tiền gửi ngân hàng dần tăng lên và ngày càng
chiếm ưu thế so với tiền xu, tuy nhiên chính phủ Mỹ quy định tiền giấy và tiền gửi ngânhàng được tự do chuyển đổi ra vàng hay bạc Nhưng đến năm 1861, nội chiến Mỹ xảy ra,sau đó chế độ chuyển đổi ra vàng được duy trì trở lại nhưng không được chuyển đổi rabạc, dẫn đến sự sụp đổ của hệ thống song bản vị ở Mỹ
Đồng thời ở các nước, từ cuối những năm 1860, do bạc được khai thác và sảnxuất nhiều, bạc dần bị mất giá và không còn được sử dụng để định nghĩa cho đơn vị tiềncủa nhiều quốc gia, hệ thống song bản vị vàng bạc lần lượt sụp đổ
2.2 Bản vị vàng cổ điển:
2.2.1 Sự thiết lập của bản vị vàng quốc tế (1870-1901 ):
Mặc dù nước Anh hoạt động dưới chế độ bản vị vàng trong hầu hết thế kỷ 19,nhưng nhìn chung chế độ này vẫn chưa được áp dụng một cách phổ biến cho tới nhữngnăm 1870 Nước Đức ra đời sau chiến tranh Chiến tranh Pháp-Phổ, nó phát hành đồngMark theo chế độ bản vị vàng nghiêm ngặt và sử dụng vàng khai thác được ở Nam Phi để
mở rộng cung ứng tiền Các quốc gia khác nhanh chóng học tập mô hình này bởi vàng lúcnày đã trở nên phương tiện cất trữ giá trị ổn định, phổ biến và dễ vận chuyển Khi bùng nổchiến tranh Thế giới thứ nhất 1914 hệ thống bản vị vàng bị bỏ rơi; và trong hơn 30 năm từ
1870 đến1914 hệ thống bản vị vàng quốc tế đã thống trị ở hầu khắp các nước, nó đã liênkết chặt chẽ các quốc gia với nhau cũng như các nước thống trị và các nước thuộc địatrong suốt thời gian này
Thời điểm áp dụng bản vị vàng ở một số nước:
1871: Đức
1873: Liên minh tiền tệ Latinh (Bỉ, Ý, Thụy Sĩ, Pháp)
1873: Hoa Kỳ (không tuyên bố nhưng thực hiện)
1875: các nước bán đảo Scandinavia bằng liên minh tiền tệ: Đan Mạch, Na
Uy và Thụy Điển
1876: trong nội bộ nước Pháp
1876: Tây Ban Nha
1879: Áo
Trang 5 1893: Nga
1897: Nhật Bản
1898: Ấn Độ
1900: Hoa Kỳ chính thức áp dụng theo luật
Trong thập niên 1870, kinh tế học về giảm phát và suy thoái tạo ra nhu cầu bạc lớn
để sử dụng làm tiền Nhưng những nỗ lực đó nói chung đều thất bại và xu hướng chungvẫn là vàng Đến năm 1879, Liên minh tiền tệ Latinh gồm Pháp, Ý, Bỉ, Thụy Sĩ và sau đóthêm Hy Lạp chỉ chấp nhận đồng tiền vàng là tiền tệ mặc dù, trên lý thuyết, bạc là phươngtiện lưu thông
do đó, sở đúc tiền Mỹ sẵn sang và không hạn chế mua vàng vào và bán vàng ra ở mức giá
này Bản vị vàng trở thành tỷ lệ trao đổi giữa chúng, tức tỷ giá hối đoái Ví dụ, 1 ounce
vàng nguyên chất ở Anh có giá là ₤4,24 và ở Mỹ là $20,67, từ đó suy ra tỷ giá hối đoái sẽ
là $4,87/₤ ($20,67/₤4,24) Tỷ giá $4,87/₤ được duy trì từ năm 1880 đến 1914
Thứ hai, dưới chế độ bản vị vàng, xuất khẩu và nhập khẩu vàng giữa các quốcgia được tự do hoạt động Do vàng được chu chuyển tự do giữa các quốc gia, cho nên tỷgiá trao đổi thực tế trên thị trường tự do không biến động đáng kể so với bản vị vàng.Chúng ta giải thích điều này thong qua ví dụ giữa đôla và bảng Anh như sau: giả sử tỷ giáthị trường tự do là $5/₤ có độ lệch đáng kể so với bản vị vàng là $4,87/₤ Điều này cónghĩa là, chúng ta có thể mua 1 ounce vàng ở Mỹ với giá là $20,67 và bán nó lại ở Anh vớigiá là ₤4,24; sau đó bán số bảng Anh thu được tại tỷ giá thị trường để nhận 4,24 x 5 =
$21,20 và thu lãi là $0,53 Do thu được lãi nên đã kích thích hành vi kinh doanh chênhlệch giá theo cơ chế:
- Tại Mỹ, dung $20,67 để chuyển đổi ra 1 ounce vàng
- Chuyển 1 ounce vàng sang Anh để đổi lấy ₤4,24
- Bán ₤4,24 theo tỷ giá thị trường $5/₤ để nhận $21,20
- Lãi thu được: $21,20 - $20,67 = $0,53 Với cơ chế này, trên thị trường luôn tồn tại dư cung bảng Anh và dư cầu đôla,điều này khiến cho tỷ giá giảm xuống sát với bản vị của chúng Trong thực tế, do tồn tại
Trang 6chi phí vận chuyển vàng và các chi phí giao dịch nên giữa tỷ giá thị trường và bản vị vàngcủa các đồng tiền có thể tồn tại 1 độ lệch nhất định gọi là các “điểm vàng”.
Thứ ba, dưới chế độ bản vị vàng, NHTW luôn phải duy trì một lượng vàng dựtrữ trong mối quan hệ trực tiếp với số tiền phát hành Số vàng dự trữ này cho phépNHTW xử lý uyển chuyển việc chuyển đổi tiền ra vàng mà không gặp bất cứ một trở ngạinào, hay nói cách khác, tiền do NHTW phát hành được “bảo đảm bằng vàng 100%” vàtiền được chuyển đổi tự do không hạn chế ra vàng Quy tắc bảo đảm bằng vàng buộcNHTW khi mở rộng cung tiền cho nền kinh tế phải tuân thủ kỷ luật “chỉ phát hành tiềnkhi có luồng vàng từ công chúng chảy vào NHTW”, kết quả là, khả năng thay đổi cungứng tiền chính là sự thay đổi lượng vàng có sẵn được xác định bằng khối lượng vàngđược sản xuất ra (đây là lượng vàng do ngành khai khoáng nội địa cung ứng, một phầnđược bán trực tiếp cho công chúng sử dụng, phần còn lại bán cho chính phủ) Ngoài ra,khi cán cân thanh toán quốc tế thặng dư, sẽ có một luồng vàng ròng chảy vào trong nước,
do đó làm cung ứng tiền trong nước có thể tăng Cần nhận thấy rằng, vai trò của NHTWtrong chế độ bản vị vàng là mua vàng từ người cư trú và thong qua đó phát hành tiền ra
lưu thong Như vậy, cô hình chung chế độ bản vị vàng đã hạn chế sự năng động của NHTW trong chế độ điều tiết lượng tiền trong lưu thông Những người ủng hộ chế độ
bản vị vàng cho rằng hệ thống này đề kháng được sự bành trướng tín dụng và nợ nần.Không như chế độ tiền luật định (không có vàng bảo đảm), đồng tiền được bảo đảm bằngvàng sẽ không cho phép chính phủ tùy tiện in tiền giấy Cản trở này ngăn hiện tượng lạmphát do đánh tụt giá tiền tệ Nó được tin rằng giúp loại bỏ được sự bất ổn hệ thống tiền tệ,đảm bảo sự tín nhiệm của tổ chức phát hành tiền tệ và khuyến khích hoạt động cho vay
Ở những nước không áp dụng bản vị vàng một cách triệt để như tuyên bố bảo đảm hàmlượng vàng nhưng phát hành tiền giấy nhiều hơn, trải qua các cuộc khủng hoảng tín dụng
và trì trệ kinh tế Ví dụ là sự hoang mang ở Hoa Kỳ năm 1819 sau khi Ngân hàng quốcgia thứ hai ra đời năm 1816
Một câu hỏi đặt ra là: những quốc gia áp dụng bản vị vàng có tuân thủ triệt
để ba quy tắc lưu thông tiền tệ đã nêu trên? Dựa trên nguyên tắc ấn định cố định bản vị
vàng của tiền tệ, trước hết, thật ngạc nhiên khi thấy rằng không có một sự phá giá hay nâng giá nào (không thay đổi bản vị vàng) giữa các đồng tiền của các nước Anh,
Mỹ, Đức, Pháp trong suốt thời kỳ 1880-1914 Kỳ tích đặc biệt này là bằng chứng ghi
nhận chế độ bản vị vàng như là trường hợp mẫu mực và sát thực nhất của chế độ tỷ giá cốđịnh Trong thời gian này, những ghi chép thống kê về phát hành tiền của các nước nàycho thấy, nguyên tắc thứ nhất của chế độ bản vị vàng thực sự được tuân thủ nghiêm ngặt
Quy tắc thứ hai liên quan đến các luồng chu chuyển vàng tự do giữa các quốc gia cũng được tuân thủ Các hàng rào thương mại vàng được rỡ bỏ hoàn toàn, kiểm soát
ngoại hối và chu chuyển vốn rất ít khi áp dụng Một thực tế là, với một hệ thống tài chínhquốc tế như vậy đã kích thích tăng trưởng thị trường vốn quốc tế với trung tâm làLondon, các luồng vốn di chuyển dễ dàng giữa các quốc gia để tìm kiếm cơ hội sinh lời
cao nhất Những cam kết của chính phủ, đặc biệt là chính phủ Anh, về việc duy trì
Trang 7lâu dài sự chuyển đổi của các đồng tiền ra vàng theo bản vị cố định đã tạo ra lòng tin về hệ thống này
Ngược với những bằng chứng về hai quy tắc đầu, thì quy tắc thứ ba là mối quan hệ giữa dự trữ vàng và khối lượng tiền phát hành không được tuân thủ một cách nghiêm ngặt Mặc dù các điều luật đã thông qua phải có một tỷ lệ vàng tương ứng
đảm bảo cho tiền phát hành – ví dụ như Đạo luật ngân hàng năm 1844 của Mỹ - nhưngquy tắc này đôi khi bị bỏ qua
2.2.3 Hoạt động kinh tế vĩ mô dưới chế độ bản vị vàng:
Ta giả sử rằng nước Mỹ nhập khẩu từ nước Anh nhiều hơn là xuất khẩu sangAnh Nước Mỹ phải thanh toán phần thâm hụt cán cân thương mại của mình cho Anhbằng vàng, Điều này hàm ý, thâm hụt cán cân thương mại của Mỹ làm cho cung tiền và
dự trữ vàng của Mỹ bị giảm, trong khi đó lại tăng lên ở Anh Trong mọi trường hợp, khingười Mỹ mua hàng hóa, dịch vụ của Anh thanh toán bằng USD, thì mọi USD đều quaytrở về Mỹ để chuyển đổi ra vàng; số vàng này được chuyển về Anh và chuyển đổi ra bảngAnh để thanh toán cho người xuất khẩu Anh Tương tự, khi người Anh mua hàng hóa,dịch vụ của Mỹ thanh toán bằng GBP, thì mọi GBP đều quay trở về Anh và chuyển đổi ravàng; số vàng này được chuyển về Mỹ và chuyển đổi ra USD để thanh toán cho ngườixuất khẩu Mỹ Trường hợp, Mỹ mua hàng hóa và dịch vụ từ Anh nhiều hơn Anh mua từ
Mỹ sẽ tạo ra một luồng vàng ròng chảy từ Mỹ đến Anh Kết quả là, cung tiền ở Anh tănglên, trong khi đó, cung tiền ở Mỹ giảm xuống
Cung tiền tăng ở Anh và cung tiền ở Mỹ giảm tạo ra các hiệu ứng:
- Tại Anh : Tổng cầu và thu nhập tăng Tổng cầu và thu nhập tăng tạo
ra áp lực tăng giá và giảm lãi suất Giá tăng làm cho hàng hóa dịch vụ củaAnh trở nên đắt hơn so với người Mỹ Điều này khiến cho nhập khẩu của
Mỹ từ Anh giảm xuống Lãi suất ở Anh giảm đã không hấp dẫn được cácluồng vốn từ Mỹ chảy vào Anh Hơn nữa, khi tổng cầu và thu nhập củaAnh tăng sẽ kích thích nhập khẩu từ Mỹ Tất cả các nhân tố này có tácdụng làm giảm các luồng thanh toán của Mỹ cho Anh; và làm tăng cácluồng thanh toán của Anh cho Mỹ Kết quả là, thâm hụt cán cân thanhtoán của Mỹ và thặng dư cán cân thanh toán của Anh đều giảm xuống
- Tại Mỹ: Tổng cầu và thu nhập giảm Tổng cầu và thu nhập giảm tạo
áp lực giảm giá và tăng lãi suất Giá giảm làm cho hang hóa và dịch vụcủa Mỹ trở nên rẻ hơn so với người Anh Điều này kích thích được cácluồng vốn từ Anh chảy vào Mỹ Lãi suất ở Mỹ tăng đã hấp dẫn được cácluồng vốn từ Anh chảy vào Mỹ Hơn nữa, tổng cầu và thu nhập giảm sẽhạn chế nhập khẩu của Mỹ từ Anh Tất cả các nhân tố này làm giảm cácluồng thanh toán của Mỹ cho Anh Kết quả là thâm hụt cán cân thanhtoán của Mỹ và thặng dư cán cân thanh toán của Anh đều giảm xuống
Trang 8Cơ chế hoạt động trên xảy ra liên tục thường xuyên, chừng nào thâm hụt cáncân của Mỹ và thặng dư cán cân của Anh chưa triệt tiêu Tại thời điểm, khi luồngvàng từ Anh chảy vào Mỹ và luồng vàng từ Mỹ chảy vào Anh bằng nhau thì cán cânthanh toán của hai nước đều đạt trạng thái cân bằng.
Từ đó ta có thể nhận thấy và rút ra những hạn chế của chế độ bản vị vàng:
- Cơ chế điều chỉnh cán cân thanh toán quốc tế thông qua sự thay đổimức giá cả, lãi suất, thu nhập và thất nghiệp Nghĩa là nền kinh tế thườngxuyên phải trải qua sự bất ổn định
- Quốc gia có thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế phải trải qua thời kỳkinh tế đình đốn, tỷ lệ thất nghiệp cao, trong khi đó, quốc gia có thặng dưcán cân thanh toán lại phải trải qua thời kỳ lạm phát
- Những phát hiện mới về các mỏ vàng có thể xuất hiện bất cứ lúc nào
và là nguyên nhân làm tăng cung ứng tiền và tăng tỷ lệ lạm phát một cáchđột biến
- Ở những quốc gia khan hiếm vàng thì cung ứng tiền của chính phủ sẽ bị hạn chế và trở thành những nguyên nhân kìm hãm tăng trưởng kinh tế.
2.2.4 TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH PHỦ CÁC NƯỚC TRONG HỆ THỐNG BẢN VỊ VÀNG GIỮA HAI ĐẠI CHIẾN THẾ GIỚI VÀ SỰ SỤP ĐỔ CHẾ ĐỘ BẢN VỊ VÀNG
Năm 1914, đại chiến thế giới lần thứ nhất nổ ra đã buộc các nước chấm dứt chuyển đổicác đồng tiền của mình ra vàng Hệ thống tỷ giá cố định đã hoạt động suốt 35 năm phảinhường chỗ cho hệ thống tỷ giá thả nổi, Nước Mỹ vẫn duy trì chuyển đổi đôla ra vàng,nhưng bởi vì các đồng tiền khác đã không còn được tự do chuyển đổi ra đôla, do đó đôlathực chất cũng được thả nổi với các đồng tiền còn lại
Trong thời gian xảy ra đại chiến thế giới lần thứ nhất, do các chính phủ thay đổi chínhsách tiền tệ nhằm tài trợ cho chiến tranh đã làm cho lạm phát bùng nổ Do Mỹ tham giacuộc chiến muộn hơn (năm 1917) và trung tâm tàn phá của cuộc chiến là châu Âu, nênlạm phát ở châu Âu cao hơn ở Mỹ Kết quả là sức cạnh tranh thương mại quốc tế của Mỹtăng lên nhanh chóng Hơn nữa, do đôla được chuyển đổi ra vàng, trong khi các đồng tiềnkhác thì không, đã làm tăng sự hấp dẫn đầu tư vào các tài sản ghi bằng đôla Đôla ngàycàng trở thành đồng tiền có vị thế trong các giao dịch quốc tế Tất cả những nhân tố nàyđều làm tăng cầu về đôla; và kết quả làm tăng luồng vàng chảy vào Mỹ làm cho dự trữbằng Vàng của Mỹ tăng lên nhanh chóng
Sau cuộc chiến, các nước châu Âu tiếp tục thả nổi đồng tiền và hầu hết các đồng tiền đã
bị phá giá đáng kể so với đôla Thả nổi đồng tiền chỉ được xem như biện pháp tình thếtạm thời Vấn đề chính trong thời gian này là: nên ấn định bản vị vàng của đồng tiền quốc
Trang 9gia ở mức nào Nhiều cuộc tranh luận nổ ra xung quanh vấn đề có nên chọn mức bản vịvàng trước khi chiến tranh xảy ra hay không Nhiều nhà kinh tế, đứng đầu là GustavCassell, đã áp dụng học thuyết ngang giá sức mua (PPP) để chứng minh cho sự cần thiếtphải ấn định giá vàng cao hơn so với thời kỳ trước chiến tranh Họ lý luận rằng, để duy trìtương quan giữa giá vàng và giá hang hóa giống như trước chiến tranh thì phải tiến hànhmột cuộc giảm phát nặng nề Thay vì phải chịu đựng giảm phát, các quốc gia có thể lựachọn phương án ấn định lại mức bản vị vàng cho đồng tiền nước mình Như vậy thay vìphải chịu thiểu phát thì chỉ cần ấn định bản vị vàng ở mức cao hơn phù hợp với tỷ lệ lạmphát của hàng hóa.
Ngược với các nước có tỷ lệ lạm phát cao tiến hành ấn định lại giá vàng ở mức cao hơn
so với trước chiến tranh phù hợp với tỷ lệ lạm phát hang hóa, thì nước Anh lại chọnphương án thiểu phát trong những năm đầu 1920; và vào 1925, nước Anh đã ấn định bản
vị vàng ở mức giống như trước khi chiến tranh xảy ra (1913) Điều này có nghĩa là, hầuhết các đồng tiền đều phá giá với đôla, trong khi đó tỷ giá USD/GBP được duy trì khôngthay đổi so với trước chiến tranh là $4,8065/₤
Việc ấn định lại bản vị vàng của các đồng tiền vào giữa những năm 1920 đã làm hồi sinhlại chế độ bản vị vàng Tuy nhiên, chế độ bản vị vàng sau chiến tranh gặp nhiều khó khănnên biến dạng không giống như bản vị vàng nguyên thủy 1880-1914
Thứ nhất, vào năm 1925, giá hàng hóa ở Anh không giảm xuống mức trước chiến
tranh, do đó, việc ấn định bản vị vàng của bảng Anh bằng mức trước chiến tranh đã khiếncho bảng Anh được định giá quá cao Ngược lại, những nước khác, ví dụ như Pháp, đã tiếnhành phá giá mạnh đồng tiền của mình Kết quả là các đồng tiền của các nước này bị địnhgiá quá thấp Đây là nguyên nhân khiến cho chế độ bản vị vàng sau chiến tranh hoạt độngkhông ổn định như chế độ nguyên thủy John Maynard Keynes là một trong những nhàkinh tế học lập luận chống lại áp đặt giá vàng trước thế chiến cho thời gian sau này, ông tinrằng tỷ giá quy đổi ra vàng lúc đó là quá cao và nền kinh tế có thể đổ vỡ Ông gọi bản vị
vàng là “that barbarous relic” (một tập tục cổ hủ - ND) Sự giảm phát này diễn ra ở mọi
nơi trên Đế quốc Anh mà đồng bảng được sử dụng là phương tiện tính toán cơ bản Bản vịvàng ở Anh bị từ bỏ lần nữa năm 1931, ở Thụy Điển năm 1929, ở Hoa Kỳ năm 1933 vàcác quốc gia khác cũng lần lượt buộc phải từ bỏ nó trong thời gian Đại khủng hoảng
Thứ hai, chế độ bản vị vàng từ năm 1925 – 1931 có đặc điểm là chế độ bản vị hối đoái
vàng Rất nhiều NHTW đã thay đổi cơ cấu dự trữ quốc tế của mình, chuyển từ vàng sangnắm giữ các ngoại tệ được chuyển đổi ra vàng như bảng Anh và ngày càng nhiều bằngđôla Sự dịch chuyển này một phần là do thương mại và đầu tư quốc tế của Mỹ tiếp tụctăng trưởng và đôla ngày càng được sử dụng nhiều trong các giao dịch quốc tế
Trang 10Sự quay trở lại của hệ thống bản vị vàng trong những năm 1920 đã không kéo dài đượclâu Cuộc đại suy thoái kinh tế vào những năm 1929 đã làm sụp đổ hệ thống ngân hàngtrên thế giới và làm tan biến mọi lòng tin các quốc gia tiếp tục duy trì việc chuyển đổi cácđồng tiền ra vàng Kết quả là các nước phải từ bỏ chế độ tỷ giá cố định và việc chuyển đổiđồng tiền nước mình ra vàng Hệ thồng tiền tệ thế giới bước vào giai đoạn các khối tiền tệkhông liên kế với nhau, như: khối bảng Anh, khối đôla Mỹ và các đồng tiền tiếp tục gắnvới vàng.
Thỏa ước Bretton Woods ra đời có 3 nội dung chủ yếu:
1/.Các nước thành viên cùng ký tên trong thỏa thuận đồng ý và sẽ cố gắng giữ tỷ giá traođổi (exchange rate ) giữa đồng tiền nước mình và đồng tiền nước khác ổn định Cũng như
sẽ có những can thiệp cần thiết để giữ cho tỷ giá này dao động ±0.1% so với tỷ giá cố định(fixed exchange rate) nói trên
2/.Tỷ giá trao đổi giữa đồng tiền các nước dự tính thông qua bản vị vàng thế giới với giávàng được chuẩn hóa và cố định (international goal standard).Vàng bán đi, mua lại hoặcvay mượn lẫn nhau giữa các NHTW các nước, để có thể bán ra hoặc mau vào thị trườngnội địa kịp thời nhằm giữ giá đồng tiền không đổi
3/.Các nước thành viên đồng ý góp vốn để thành lập Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) nhằm mụcđích cho các nước thành viên vay vốn vào những lúc cần thiết để can thiệp, giữ đồng tiềnnước mình không biến động quá so với tiêu chuẩn nói trên
Thỏa ước về IMF là phần cốt lõi của hệ thống Bretton Woods Thỏa ước này đã dược cácnước phê chuẩn,và IMF bắt đầu hoạt động năm 19945 Sau đó đã thành lập Ngân hàng Táithiết phát triển quốc tế (IPRD) mà chúng ta quen gọi là ngân hàng thế giới (WB)
Thực chất Bretton Woods là thỏa thuận thường về việc giữa giá đồng tiền các nước theogiá vàng và chống lạm phát giá cả Sự lây lan của siêu lạm phát và khủng hoảng (1922-1923; 1929-1933) làm sụp đổ mọi thứ và các nước châu Âu đã vô cùng kinh sợ viễn cảnhnày.Bên cạnh đó ,ý đồ của Keyness là giữ giá vàng ổn định để “ thương mại và thanh toánquốc tế “ có cơ sở thực hiện thuận lợi Đồng tiền của Mỹ ,đồng tiền của Hoa Kỳ - đồngUSD dựa trên thế mạnh của nền kinh tế công nghiệp tàn phá vì chiến tranh và dự trữ vànglớn nhất thế giới (2/3 tổng dự trữ của tất cả thế giới vào năm 1949 với 25 tỷ USD ) đãđược cố định ở mức 35 USD =1OUNCE.Vàng làm chủ cho việc xác định tỷ giá đồng tiềncủa các nước thành viên còn lại với vàng, USD và những đơn vị tiền tệ khác Như vậy, hệthống Bretoon Woods có thể dược xem là “hệ hống bảo vệ hối đoái vàng dựa trên đôlaMỹ”; các quốc gia theo hệ thống này sẽ có nguồn dự trữ của họ dưới dạng tiền tệ của mộtnước duy nhất ,nước đó mới, nước đó mới thực sự theo hệ thống bản vị vàng
Có thể mô tả thống hệ hối đoái Bretton Woods như sau:
Trang 11Những can thiệp của Chính phủ để giữ tỷ giá hối đoái cố định:
-Mua và bán đôla bởi ngân hàng trung ương các nước dựa trên các loại tiền tệ của họ bất
cứ khi nào mà điều kiện cung cầu trên thị trường làm cho các tỷ giá chênh lệch (deviate)với các giá trị ngang bằng đã được thỏa thuận Nước Mỹ tự bản thân nó chỉ can thiệp mộtcách hạn hữu trên thị trường ngoại hối IMF ở vị trí sẵn sàng cung cấp trao đổi ngoại hốicần thiết cho các quốc gia thành viên để bảo vệ tiền tệ của họ trước áp lực gây ra bởi cácyếu tố tạm thời Mọi đôla tích lũy bởi cơ quan tiền tệ trong quá trình có sự can thiệp này cóthể được trao đổi với vàng tại Ngân khố Mỹ ở mức giá cố định là 35USD/ounce
-Việc duy trì tính ổn định giá theo hệ thống Bretton Woods là trách nhiệm chính của Hoa
Kỳ Nếu cục dự trữ liên bang hoa Kỳ không có một chính sách tiện tệ để giữ vàng ở mức35USD/ounce thì Chính phủ Mỹ bằng cách sử dụng mọi phương tiện để giữ giá vàng ởmức 35USD/ounce, ngoại trừ một tính toán-hạn chế phát hành đồng đôla Mỹ phát hànhcác tín phiếu ngân khố không có khả năng lưu thông để thay thế cho việc mua lại vàngcầm giữ ở nước ngoài, cấm công dân Mỹ cầm giữ vàng ở nước ngoài cũng như trong nước,bải bỏ chi trả vàng cho đôla, triệt tiêu mua bán vàng tư nhân, giới hạn lưu chuyển vốn ranước ngoài và áp lực các chính phủ khác không đổi đôla lấy vàng
-Mặc dù tỷ giá hối đoái của mỗi nước được cố định, nó vẫn có thể bị thay đổi-phá giá hoặcnâng giá so với đôla-nếu IMF đồng ý cho rằng cán cân thanh toán của nước đó ở trong tìnhtrạng “mất cân đối trầm trọng” Nếu không phá giá đồng tiền, một nước như vậy sẽ phảichịu tỷ lệ thất nghiệp cao hơn và sự thâm hụt tài khoản vãng lai lớn hơn cho đến khi giá cảtrong nước hạ xuống đủ để khôi phục lại cân đối bên trong và cân đối bên ngoài Tuy
Trang 12nhiên, không có tính linh hoạt này đối với đồng đôla Mỹ các thay đổi trong những tỷ giá
cố định này chỉ được phép trong trường hợp có sự “mất cân đối trầm trọng”
Giữa thập niên 60 đã có 3 biến cố lớn làm cho hệ thống Bretton Woods đi vào suy tàn:
-Để nhanh chóng ổn định và cải thiện cán cân thương mại, hầu hết các nước châu Âu đều
có ý đồ phá giá đồng tiền so với Mỹ để kích thích xuất khẩu Sau những giai đoạn ngắncan thiệp để ổn định tỷ giá, họ lại tiếp tục thả nổi
-USD đã biến thành dự trữ quốc tế quen thuộc, và vì nó hoàn toàn tốt khi dùng để muahàng hóa, kỹ thuật và công nghệ của Mỹ, cho nên không cần thiết để dùng USD đổi ravàng Quan hệ thương mại với Mỹ càng tăng, các nước khác có khuynh hướng bànhtrướng dự trữ USD của họ Sức hút USD ra nước ngoài càng lớn hơn trong khoảng nhữngnăm 1961-1966 khi Kenedy và sau đó là Johnson giảm thuế, hạ lãi suất để kích thích kinh
tế Sự bành trướng tiền tệ diễn ra cùng với việc USD bị hút ra nước ngoài để tìm nguồnđầu tư khác có lãi suất cao hơn tại Mỹ
-Sự leo thang chiến tranh ở Việt Nam đã làm cho cán cân chuyển nhượng tư bản của Mỹ từmức thâm hụt 5,4 tỷ USD năm 1960 tăng lên 12,4 tỷ USD năm 1970 và đến năm 1975, nólên đến 30 tỷ USD Thâm hụt và nợ nần đã làm Mỹ phải phát hành tiền kho bạc (tráiphiếu) không có khả năng lưu thông để vay nợ từ trong nước qua đến cả châu Âu (để thaythế cho việc mua lại vàng cầm giữ ở nước ngoài) và tỷ giá 35USD/ounce vàng đã chấmdứt vào năm 1971
Nhiều nhà kinh tế cho rằng toàn bộ chính sách kinh tế vĩ mô của Mỹ trong những năm1965-1968 là sai lầm chính làm cho hệ thống tỷ giá hối đoái cố định tan rã
2.4Hệ thống tiền tệ quốc tế hiện hành:
Ngày 15/8/1971 , tổng thống Richard M Nixon đã tuyên bố chấm dứt việc chuyển đổiđôla ra vàng, Mỹ sẽ không tự bán vàng cho các NHTW các nước để lấy đôla nữa Hànhđộng này cắt đứt mọi liên hệ còn lại giữa đô la và vàng Kế tiếp Nixon tuyên bố đánh thuế10% vào tòan bộ hàng nhập khẩu vào Mỹ, và sẽ giữ chính sách này cho đến khi các bạnhàng của Mỹ đồng ý nâng giá đồng tiền của họ so với đô la Cũng trong thời gian này một
số biện pháp ổn định tình hình trong nước cũng được công bố, trong đó có cả biện phápngừng thay đổi tiền lương và giá cả để giảm lạm phát ở Mỹ
2.4.1Thỏa ước Smithsonian 12/1971:
Nhằm nỗ lực cứu vớt hệ thống Bretton Woods , 10 nước, dưới danh nghĩa nhóm G10
đã họp tại viện Smithsonian ở thủ đô Washington vào tháng 12/1971 Họ đạt được thỏaước Smithsonian mà theo đó có 3 thỏa thuận chính: 1) nâng giá vàng lên 38 USD/ ounce,2) mỗi nước trong nhóm đều sẽ định lại giá trị đồng tiền của họ ở mức tăng 10% so với
Trang 13đồng đô la, 3)biên độ tỷ giá được phép điều chỉnh tăng từ 1% lên 2,25% Tính trung bìnhđồng đô la đã giảm khỏang 8% so với các ngoại tệ khác, và 10% thuế nhập khẩu đánhthêm của Mỹ cũng bị xóa bỏ Giá vàng chính thức được nâng lên mức 38USD/ounce,nhưng việc này không có ý nghĩa kinh tế vì Mỹ không đồng ý việc bán vàng cho NHTWcác nước Thỏa thuận Smithsonian cho thấy rõ vấn đề cuối cùng còn lại là vấn đề bản vịvàng bị bỏ rơi.
Mặc dù lúc đó, sự sắp xếp lại tỷ giá cuả Smithsonian được tổng thống Nixon hoannghênh là “ một hiệp định tiền tệ có ý nghĩa nhất trong lịch sử thế giới” , chưa đầy 15tháng sau nó đã rơi vào tình trạng hỗn loạn Năm 1972 tình hình tài khõan vãng lai của Mỹxấu đi nhanh chóng, cộng với sự gia tăng tiền tệ còn nhanh hơn trước khi có cuộc bầu cửtổng thống vào năm đó, đã làm cho thị trường tin rằng sự giảm giá đồng đôla ởSmithsonian không còn thích hợp nữa Trong suốt năm 1972, tiếp tục có sự di chuyển vốnmang tính đầu cơ từ đồng đô la chuyển sang các ngọai tệ khác nhất là đồng Yên Nhật Đức
đã kiểm soát nghiêm ngặt việc đưa vốn vào nước này nhằm ngăn chặn sự di chuyển dự trữđang làm tăng quá mức lượng tiền cung tiền của họ
Đầu tháng 2/1973 một cuộc công kích ồ ạt mang tính đầu cơ nhằm vào đồng đôlalại bắt đầu và thị trường ngoại hối phải đóng cửa trong khi Mỹ và các bạn hàng chính của
họ đàm phán về các biện pháp hỗ trợ cho đồng đô la lại tiếp tục ngay khi các chính phủcho phép thị trường ngoại hối được mở lại Sau khi các NHTW châu Âu mua 3,6 tỷ đô lavào ngày ngày 1 tháng 3 để ngăn chặn đồng tiền của họ lên giá, thị trường ngoại hối lạiđóng cửa một lần nữa
Khi thị trường ngoại hối mở cửa lại vào ngày 19 – 3 , đồng tiền của Nhật và phầnlớn các đồng các nước châu Âu được thả nổi so với đồng đô la Giá vàng lại tăng từ 38 lên
42 USD/ounce Việc thả nổi tỷ giá trao đổi đồng đô la của các nước công nghiệp khi đóđược xem như một phản ứng tạm thời đối với việc di chuyển vốn mang tính đầu cơ vàkhông quản lý được Nhưng, những thỏa thuận tạm thời được chấp nhận vào tháng 3/1973
đã trở thành lâu dài và đánh dấu sự kết thúc tỷ giá trao đổi cố định của hệ thống BrettonWoods và bắt đầu của một thời kì mới sôi nổi trong quan hệ tiền tệ quốc tế Từ đó, tỷ giáhối đoái giữa những đồng tiền mạnh như Đô la, Mác, Bảng và Yên đều dao động so vớingoại tệ khác
2.4.2Thời kì từ năm 1973 :
Vào cuối năm 1973 , như là kết quả của cuộc xung đột Arab – Israeli dẫn đến các nướcxuất khẩu dầu (Oil Petroleum Exporting Countries – OPEC) tăng giá dầu lên gấp 4 lần đãảnh hưởng đáng kể đến nền kinh tế thế giới và thực sự đặt dấu chấm hết cho mọi hi vọngkhôi phục chế độ tỷ giá cố định Giá dầu tăng đồng nghĩa với việc xấu đi nghiêm trọng vềđiều kiên thương mại của các nước nhập khẩu dầu (điều kiện thương mại là tỷ số giá cảxuất khẩu trung bình/ giá cả nhập khẩu trung bình – terms of trade) với các nước OPEC vàkèm theo điều kiên thương mại xấu đi là thâm hụt trầm trọng cán cân vãng lai của cácnước này
Bảng : Giá dầu thô thực tế của các nước OPEC