1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh quảng ngãi

147 60 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 147
Dung lượng 1,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong các năm qua, Quảng Ngãi cũng đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách cụ thể hóa chính sách, cơ chế chung của quốc gia nhằm cải thiện môi trường kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi

Trang 1

PHẠM HOÀI VIỆT

NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH

CỦA TỈNH QUẢNG NGÃI

LU N VĂN THẠC S KINH TẾ PH T TRIỂN

Mã số: 60.31.01.05

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Lê Thế Giới

Đà Nẵng - Năm 2018

Trang 2

PHẠM HOÀI VIỆT

NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH

CỦA TỈNH QUẢNG NGÃI

LU N VĂN THẠC S KINH TẾ PH T TRIỂN

Mã số: 60.31.01.05

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Lê Thế Giới

Đà Nẵng - Năm 2018

Trang 3

Tôi xin cam đoan luận văn này hoàn toàn do tôi thực hiện

Các trích dẫn và số liệu sử dụng trong luận văn đều được dẫn nguồn và

có độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết của tôi Luận văn này không nhất thiết phản ánh quan điểm của Trường Đại học kinh tế, Đại học Đà Nẵng

Đà Nẵng, tháng 03 năm 2018

Tác giả luận văn

Phạm Hoài Việt

Trang 4

Tôi xin trân trọng cảm ơn quý Thầy cô giáo Trường Đại học Kinh tế Đà Nẵng đã tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này, đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Thầy Lê Thế Giới, người luôn kịp thời hướng dẫn và đưa

ra những lời khuyên bổ ích cho tôi trong suốt quá trình làm luận văn của mình

Bên cạnh đó, tôi cũng chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các Anh, Chị lãnh đạo Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Quảng Ngãi, nơi tôi đang công tác, đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành khóa học và lắng nghe, góp ý kiến đối với Đề tài mà tôi nghiên cứu

Tôi xin cảm ơn rất nhiều

Trang 5

1 Tính cần thiết của Đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Câu hỏi nghiên cứu 3

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Ý nghĩa khoa học Đề tài 5

7 Tổng quan tài liệu 5

8 Cấu trúc luận văn 12

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LU N VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH ĐỊA PHƯƠNG 14

1.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH 14

1.1.1 Cạnh tranh 14

1.1.2 Năng lực cạnh tranh 15

1.1.3 Các loại năng lực cạnh tranh 16

1.2 NĂNG LỰC CẠNH TRANH ĐỊA PHƯƠNG 18

1.2.1 Khái niệm năng lực cạnh tranh địa phương 18

1.2.2 Các yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh địa phương 19

1.3 KINH NGHIỆM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH THÔNG QUA PHÁT TRIỂN CỤM NGÀNH 255

1.3.1 Kinh nghiệm các nước 255

1.3.2 Kinh nghiệm các địa phương trong nước 27

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 30

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA TỈNH QUẢNG NGÃI 31

Trang 6

2.1.2 Cơ cấu kinh tế 33

2.1.3 Năng suất lao động trung bình và cơ cấu lao động 35

2.1.4 Tổng vốn đầu tư toàn xã hội 39

2.1.5 Thu hút đầu tư 42

2.1.6 Xuất nhập khẩu 44

2.2 CÁC YẾU TỐ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN 47

2.2.1 Vị trí địa lý, diện tích 47

2.2.2 Điều kiện tự nhiên 47

2.2.3 Tài nguyên thiên nhiên 49

2.3 NĂNG LỰC CẠNH TRANH Ở CẤP ĐỘ ĐỊA PHƯƠNG 50

2.3.1 Hạ tầng văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế 50

2.3.2 Cơ sở hạ tầng kỹ thuật 55

2.3.3 Thu chi ngân sách nhà nước 55

2.4 NĂNG LỰC CẠNH TRANH Ở CẤP ĐỘ DOANH NGHIỆP 61

2.4.1 Tổng quan về hệ thống DN 61

2.4.2 Đánh giá môi trường kinh doanh qua chỉ số PCI 62

2.4.3 Hoạt động và chiến lược kinh doanh của DN 75

2.4.4 Phân tích, đánh giá các cụm ngành 81

2.5 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA TỈNH QUẢNG NGÃI 84

2.5.1 Những điểm mạnh, thuận lợi 84

2.5.2 Những điểm yếu, hạn chế 87

2.5.3 Nguyên nhân của các yếu kém, hạn chế 89

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 92

Trang 7

3.1 QUAN ĐIỂM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH TỈNH

QUẢNG NGÃI 93

3.1.1 Bối cảnh kinh tế - xã hội quốc tế, trong nước và vùng 93

3.2.2 Quan điểm nâng cao NLCT của Quảng Ngãi 94

3.2.3 Định hướng và mục tiêu nâng cao NLCT của Quảng Ngãi 95

3.2 GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH TỈNH QUẢNG NGÃI 95

3.2.1 Hệ thống các quy định, văn bản pháp luật rõ ràng, công khai, minh bạch, bình đẳng; cải cách thủ tục hành chính 95

3.2.2 Cải thiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật 97

3.2.3 Đào tạo, xây dựng nguồn nhân lực; phối hợp, xây dựng các trung tâm, cơ sở đào tạo, nghiên cứu chuyên sâu lĩnh vực, ngành tỉnh có lợi thế 98

3.2.4 Tập trung tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp 99

3.2.5 Khuyến khích phát triển kinh tế dân doanh; nâng cao NLCT doanh nghiệp trên địa bàn 100

3.2.6 Lấy cụm ngành là trung tâm để phát triển công nghiệp 101

3.2.7 Xúc tiến thu hút đầu tư 101

3.2.8 Liên kết phát triển kinh tế với các địa phương lân cận 1022

3.3 KIẾN NGHỊ 103

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 105

KẾT LU N 107 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LU N VĂN (BẢN SAO)

Trang 8

DN

CLKN

Doanh nghiệp Cụm liên kết ngành FDI Foreign Direction Investment: Đầu tư trực tiếp nước ngoài

GRDP Gross Regional Domestic Product : Tổng giá trị sản phẩm địa

phương KCN Khu công nghiệp

Khu vực I Khu vực nông, lâm và ngư nghiệp

Khu vực II Khu vực công nghiệp và xây dựng

Khu vực III Khu vực thương mại và dịch vụ

VSIP Vietnam Singapore Industrial Park: Công ty đầu tư KCN

Việt Nam – Singapore

WTO World Trade Organization: Tổ chức thương mại thế giới

Trang 9

Số hiệu

2.1 Dự án FDI phân theo quốc gia đầu tư 42

2.2 Tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc đã qua

2.3 Mức thu nhập bình quân đầu người/tháng các tỉnh 55 2.4 Tổng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi 58

2.5 Điểm chỉ số cơ sở hạ tầng các tỉnh giai đoạn 2009 -

2.6 Tổng hợp số lượng DN Quảng Ngãi giai đoạn 2011 –

2.7 Tài sản và nguồn vốn của DN Quảng Ngãi 76

2.8 Kết quả phân tích chi tiết các thành phần công nghệ

2.9 Chỉ tiêu DN đã từng sử dụng dịch vụ liên quan công

Trang 10

Số hiệu

1.1 Các yếu tố quyết định NLCT địa phương 18

2.1 Tốc độ tăng trưởng GRDP Quảng Ngãi giai đoạn

2006-2010

Error! Bookmark not defined

2.2 Tốc độ tăng trưởng GRDP giai đoạn 2011-2015 32

2.3 Cơ cấu kinh tế Quảng Ngãi qua các năm 2005 -

2.4 Tốc độ tăng trưởng các khu vực kinh tế giai đoạn

2.5 Năng suất lao động phân theo ngành kinh tế giai

đoạn 2010-2016 (theo giá hiện hành) 36

2.6 NSLĐ ở các khu vực kinh tế giai đoạn 2010-2016

2.7

Dịch chuyển cơ cấu lao động và thay đổi năng suất

Quảng Ngãi giai đoạn 2009-2016 (giá so sánh

Trang 11

2.11 Tỷ trọng vốn đầu tƣ vào các ngành kinh tế giai

2.12 Tỷ trọng kim ngạch XK các lĩnh vực giai đoạn

2.13 Tỷ trọng các mặt hàng xuất khẩu qua các năm 45

2.14 Tỷ trọng các mặt hàng xuất khẩu giai đoạn 2009 -

2.21 Tỷ lệ DN dân doanh/10.000 dân Vùng DHMT 62

2.22 Xếp hạng chỉ số PCI năm 2016 - Vùng duyên hải

Trang 12

2.27 Một số chỉ tiêu thành phần của chỉ số Tính năng

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 Tính cần thiết của Đề tài

Quảng Ngãi nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, có nhiều tiềm năng, điều kiện phát triển kinh tế Để thúc đẩy phát triển kinh tế khu vực miền Trung nói chung và Quảng Ngãi nói riêng, Chính phủ đã quyết định thành lập Khu Kinh tế Dung Quất (2005), với mục tiêu biến nơi này trở thành động lực phát triển công nghiệp của cả khu vực

Để thực hiện điều này, Trung ương đã tập trung nguồn lực đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng KKT Dung Quất và đồng thời quyết định đặt Nhà máy lọc hóa dầu đầu tiên của các nước tại đây với tổng vốn đầu tư hơn 3 tỷ USD Nhà máy lọc hóa dầu được xem là trái tim của KKT Dung Quất Từ lợi thế đó, KKT Dung Quất bước đầu đã thu hút một lượng lớn các dự án công nghiệp nặng đầu tư vào đây, như Nhà máy đóng tàu Vinashin, Nhà máy thiết bị công nghiệp nặng Doosan Vina, Nhà máy thép Guang Lian… Năm 2009, nhà máy lọc hóa dầu Dung Quất chính thức cho ra dòng sản phẩm đầu tiên, đã góp phần gia tăng vượt bậc nguồn thu cho ngân sách địa phương, đến nay, sản lượng của nhà máy đáp ứng gần 40% nhu cầu xăng dầu của cả nước

Trong các năm qua, Quảng Ngãi cũng đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách cụ thể hóa chính sách, cơ chế chung của quốc gia nhằm cải thiện môi trường kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế phát triển, nâng cao NLCT của nền kinh tế và chủ động hội nhập quốc tế như: giảm tiền thuê đất, miễn giảm thuế, giảm giá nhiều dịch vụ, bổ sung ưu đãi đầu tư đối với các lĩnh vực ưu tiên, cải tiến thủ tục hành chính, sửa đổi một số chính sách để tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc triển khai dự án: thế chấp quyền sử dụng đất, giải phóng mặt bằng, bảo lãnh đầu tư… Chính quyền tỉnh cũng tập trung tháo gỡ khó khăn về cải tiến thủ tục hành chính trong cấp phép đầu tư, quản lý quá trình thực hiện dự án đầu tư… Bước đầu mang lại một số

Trang 14

kết quả đáng ghi nhận, môi trường đầu tư của tỉnh từng bước được cải thiện

và được đánh giá trong nhóm các tỉnh có chỉ số cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) ở nhóm “khá” Tuy nhiên, kết quả đánh giá cũng cho thấy môi trường đầu tư của tỉnh còn nhiều bất cập, chậm cải thiện; chưa khai thác hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của tỉnh; việc đầu tư từ ngân sách nhà nước còn dàn trải, thiếu trọng tâm Mặt khác, tỉnh còn lúng túng trong việc xác định các sản phẩm cạnh tranh chính của tỉnh, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp địa phương thấp; nhiều dự án thu hút đầu tư cầm chừng hoặc ngừng triển khai, một phần do khó khăn về thị trường, nhà đầu tư hạn chế năng lực nhưng một phần không nhỏ là do môi trường đầu tư và tác động lan tỏa từ chính sách phát triển kinh

tế của tỉnh không đạt được như kỳ vọng

Các nghiên cứu về NLCT của tỉnh Quảng Ngãi nói riêng và các tỉnh thành khác nói chung chỉ mới dừng lại ở đánh giá năng lực điều hành của chính quyền qua phân tích kết quả Chỉ số NLCT cấp tỉnh (PCI) hoặc đánh giá xoay quanh môi trường sản xuất, kinh doanh của địa phương Các nghiên cứu

ở nước ngoài cũng tập trung vào các nghiên cứu NLCT của quốc gia hay của vùng Ở phạm vi này, chính quyền quốc gia hay vùng có tính tự chủ cao về chính sách tài khóa, tiền tệ… trong khi đối với các địa phương nhỏ như Quảng Ngãi, sự điều hành chính quyền chịu nhiều ràng buộc từ chính sách chung của quốc gia

Do vậy, việc nghiên cứu, phân tích, đánh giá những yếu tố cơ bản tác động đến NLCT của Quảng Ngãi là cần thiết; từ đó có định hướng cụ thể, triển khai nhất quán, đồng bộ trong từng giai đoạn, qua đó, hình thành lợi thế

cạnh tranh đặc thù của tỉnh Đây là lý do học viên chọn đề tài “Nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh Quảng Ngãi” làm đề tài nghiên cứu cho luận

văn tốt nghiệp

Trang 15

2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát của Đề tài là trên cơ sở phân tích, đánh giá Năng lực cạnh tranh của tỉnh, đề xuất giải pháp và khuyến nghị nhằm nâng cao NLCT của Quảng Ngãi theo hướng phát triển bền vững

Mục tiêu cụ thể, đầu tiên là xác định Khung phân tích Năng lực cạnh tranh địa phương phù hợp; thứ hai là phân tích, đánh giá các yếu tố cấu thành

năng lực cạnh tranh của Quảng Ngãi, so sánh với một số các địa phương lân

cận trong Vùng hoặc có mức độ tương đồng về phát triển kinh tế - xã hội Thứ

ba, xác định thế mạnh, thuận lợi, cũng như chỉ ra điểm yếu, hạn chế còn tồn

tại và tìm ra nguyên nhân, từ đó, trên cơ sở định hướng của tỉnh, đề xuất một

số giải pháp và khuyến nghị nhằm nâng cao NLCT của Quảng Ngãi trong thời gian đến

3 Câu hỏi nghiên cứu

Mục đích của nghiên cứu của Đề tài này để trả lời các câu hỏi: (1) Những điểm mạnh, yếu của Năng lực cạnh tranh Quảng Ngãi là gì? (2) Quảng Ngãi cần làm gì đề nâng cao Năng lực cạnh tranh?

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung phân tích, đánh giá các yếu tố cấu thành NLCT của địa phương, mà ở đây cụ thể là tỉnh Quảng Ngãi, bao gồm: (1) Các yếu tố tự nhiên sẵn có (vị trí địa lý, tài nguyên tự nhiên, quy mô của địa phương); (2) NLCT ở cấp độ địa phương (hạ tầng văn hóa, giáo dục, y tế, xã hội; hạ tầng

kỹ thuật; cơ chế, chính sách đầu tư, tín dụng, cơ cấu kinh tế); và (3) NLCT ở cấp độ DN (môi trường kinh doanh, hoạt động và chiến lược của DN, trình độ phát triển cụm ngành)

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Về không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu các yếu tố tác động đến

Trang 16

NLCT Quảng Ngãi và so sánh với một số địa phương lân cận hoặc có tính tương đồng về quy mô, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội Tham khảo tình huống, giải pháp nhằm hoàn thiện các nhân tố tác động đến NLCT tại một số địa phương trong nước và ngoài nước

Về thời gian: Luận văn tập trung nghiên cứu các yếu tố tác động đến

NLCT Quảng Ngãi trong giai đoạn 2005 – 2015

5 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đề ra, luận văn sử dụng 03 phương pháp chủ yếu:

Phương pháp tổng hợp các lý thuyết: Lược khảo các tài liệu, công trình

nghiên cứu liên quan để xác định khung phân tích và các yếu tố cấu thành NLCT của địa phương Tổng hợp kinh nghiệm của các nước, các địa phương trong nước về nâng cao NLCT, làm bài học kinh nghiệm cho Quảng Ngãi

Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu nghiên cứu: Nguồn dữ liệu trong

Đề tài được tổng hợp, thu thập và kế thừa có chọn lọc từ các số liệu thứ cấp Căn cứ vào tài liệu điều tra thống kê tổng hợp đã được lưu hành có hiệu lực của các cơ quan quản lý nhà nước tỉnh Quảng Ngãi và một số các địa phương, của các bộ ngành TW để tổng hợp các số liệu theo từng mục đích sử dụng; các kết quả điều tra nghiên cứu hiện có về thực trạng NLCT tỉnh Quảng Ngãi, tài liệu về điều kiện tự nhiên, xã hội, các nghiên cứu khoa học của các chương trình, dự án… Trên cơ sở đó, hệ thống hóa, phân tích tổng hợp số liệu và chỉnh lý chính xác số liệu, tài liệu một cách khoa học, khách quan nhằm phản ánh thực trạng phát triển kinh tế - xã hội và NLCT của tỉnh

Phương pháp tổng hợp và phân tích thống kê: Trên cơ sở dữ liệu được

ổng hợp thu thập dữ liệu, mô tả dữ liệu bằng bảng biểu, đồ thị, hình vẽ minh họa, chỉ tiêu kinh tế - xã hội và phân tích, đánh giá các yếu tố cấu thành NLCT của Quảng Ngãi để đưa ra các đánh giá tổng quát, chung nhất So sánh mối liên hệ giữa các đại lượng để đưa ra những đánh giá sâu hơn và rút ra kết

Trang 17

luận

6 Ý nghĩa khoa học Đề tài

Tổng hợp khoa học các khái niệm, lý thuyết về năng lực cạnh tranh ở phạm vi lãnh thổ nói chung và ở phạm vi địa phương nói riêng Cung cấp cơ

sở lý luận để làm căn cứ phân tích, đánh giá các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh ở phạm vi địa phương thông qua 03 nhóm yếu tố tổng quan (các yếu tố sẵn có của địa phương; năng lực cạnh tranh ở cấp độ địa phương và năng lực cạnh tranh ở cấp độ doanh nghiệp)

Đề tài góp phần phân tích, đánh giá một cách tổng quan hơn thực trạng NLCT của tỉnh Quảng Ngãi Xác định điểm mạnh, thuận lợi cũng như chỉ những mặt yếu, hạn chế của NLCT Quảng Ngãi và nguyên nhân tồn tại những mặt yếu, hạn chế của NLCT tỉnh Đưa ra định hướng, mục tiêu và các nhóm giải pháp để nâng cao NLCT của Quảng Ngãi

7 Tổng quan tài liệu

“Năng lực cạnh tranh” là một thuật ngữ được các nhà nghiên cứu kinh tế thế giới, hoạch định chính sách trên thế giới sử dụng khá phổ biến và đưa ra nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau Khái niệm “Năng lực cạnh tranh” được sử dụng trong các nghiên cứu với nhiều phạm vi, cấp độ khác nhau như: quốc gia, địa phương, DN hay ngành, sản phẩm Trong Đề tài này, tài liệu nghiên cứu chủ yếu liên quan đến NLCT theo phạm vi quốc gia và địa phương Cụ thể:

7.1 Năng lực cạnh tranh ở phạm vi quốc gia

Theo nghiên cứu của Michael E Poter trong Lợi thế cạnh tranh quốc gia

[27], đã đưa ra Khung lý thuyết phân tích NLCT quốc gia Mô hình phân tích

bao gồm 04 nhóm yếu tố: (1) Các điều kiện về yếu tố sản xuất; (2) Các yếu tố điều kiện cầu và (3) Các ngành công nghiệp hỗ trợ và có liên quan và (4) Chiến lược công ty, cấu trúc và cạnh tranh nội địa Theo đó, đã đưa ra những

Trang 18

gợi ý đối với quốc gia về việc áp dụng lý thuyết, những hàm ý, chính sách của chính phủ để đạt được lợi thế cạnh tranh quốc gia Trong đó, yếu tố trung tâm của khung phân tích NLCT quốc gia là khái niệm năng suất – được định nghĩa

là khả năng tạo ra các hàng hoá và dịch vụ có giá trị thông qua việc sử dụng các nguồn lực con người, vốn và nguồn lực tự nhiên của một quốc gia – và năng suất là động lực cốt lõi dẫn dắt sự thịnh vượng bền vững Năng suất phụ thuộc cả vào giá trị của hàng hoá và dịch vụ được sản xuất ra cũng như hiệu quả của quá trình sản xuất NLCT cao, do đó, được phản ánh qua mức năng suất cao [49]

Báo cáo cạnh tranh toàn cầu là một bản tin hàng năm được xuất bản bởi

Diễn dàn Kinh tế thế giới (WEF), phát hành lần đầu vào năm 1979 Đến nay, Bản báo cáo đánh giá 138 nền kinh tế, trong đó, có Việt Nam Báo cáo đánh giá khả năng cung cấp mức độ thịnh vương cao hay thấp đối với dân chúng ở mỗi quốc gia, trong đó, có công bố “chỉ số cạnh tranh quốc gia” (GCI) nhằm

đo lường khuynh hướng của các thể chế, chính sách, những nhân tố tạo thành trạng thái hiện thời và những mức giới hạn về trạng thái thịnh vượng kinh tế GCI được trích dẫn rộng rãi cũng như làm tham chiếu trong nhiều tài liệu nghiên cứu hoặc cung cấp thông tin cơ bản để đánh giá NLCT của một quốc gia trong phạm vi toàn cầu Theo WEF, NLCT được xác định bởi tập hợp các thể chế, chính sách và các yếu tố tạo nên năng suất của một quốc gia Theo

đó, năng suất lại quyết định mức độ thịnh vượng mà nền kinh tế có thể đạt được

Chỉ số GCI được xây dựng trên cơ sở đo lường các yếu tố có tác động lớn đến năng suất và NLCT quốc gia, được chia thành 03 nhóm yếu tố: (1) Các yếu tố cơ bản; (2) Các yếu tố thúc đẩy hiệu quả nền kinh tế và (3) Các yếu tố thúc đẩy sự đổi mới của nền kinh tế, với 12 yếu tố trụ cột gồm: thể chế,

hạ tầng, mức độ ổn định kinh tế vĩ mô, y tế và giáo dục cơ bản, giáo dục và

Trang 19

đào tạo bậc cao, hiệu quả thị trường hàng hóa, hiệu quả thị trường lao động, trình độ thị trường tài chính, mức độ sẵn sàng về công nghệ, quy mô thị trường, trình độ kinh doanh và sáng tạo Ngoài ra, xếp hạng mỗi yếu tố còn được xác định thông qua hàng loạt những chỉ số thành phần rất chi tiết và cụ thể

Ngoài WEF, Viện nghiên cứu phát triển kinh doanh Thụy Sĩ cũng công

bố hàng năm về chỉ số cạnh tranh quốc gia, đánh giá mức tiến bộ và thụt lùi năng lực đổi mới của quốc gia Những báo cáo tương tự hàng năm còn có

“Chỉ số thuận lợi kinh doanh” và “Chỉ số tự do kinh tế”, cả hai chỉ số này đều xem xét những nhân tố ảnh hướng đến tăng trưởng kinh tế nhưng không bao quát như Báo cáo cạnh tranh toàn cầu của WEF

Các báo cáo xếp hạng này dựa trên phương pháp luận tương đối đồng nhất và cũng có kết quả khá tương đồng, tuy nhiên cũng có một số khác biệt

do có những khác biệt trong cách thức xác định trọng số cho từng chỉ số thành phần, phương pháp thu thập cơ sở dữ liệu… Các kết quả xếp hạng này có ý nghĩa quan trọng đối với các quốc gia vì nó được xem là những căn cứ để các nhà đầu tư quốc tế lựa chọn địa điểm đầu tư

Báo cáo NLCT quốc gia năm 2010 do Viện nghiên cứu kinh tế Trung

ương (CIEM) phối hợp với Học viện NLCT Châu Á của Singapore (ACI) xây dựng và có sự tham gia chuyên môn của Giáo sư Michael E Porter được xem

là báo cáo quốc gia đầu tiên của Việt Nam về NLCT Trong đó, đánh giá toàn diện về NLCT của Việt Nam, những nền tảng kinh tế quyết định sự thịnh vượng của quốc gia và người dân, phân tích những cơ hội và thách thức trong tương lai và đề xuất chiến lược phát triển phù hợp với Việt Nam

7.2 Năng lực cạnh tranh ở phạm vi địa phương

Ở Việt Nam, Báo cáo chỉ số NLCT cấp tỉnh (PCI) do Phòng Thương mại

và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) hợp tác nghiên cứu và được trợ giúp của

Trang 20

Cơ quan hợp tác Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (US-Aid) Bản báo cáo được xây dựng dựa trên cơ sở nghiên cứu, thu thập dữ liệu và xác định các chỉ số để đánh giá, xếp hạng môi trường đầu tư, kinh doanh của các địa phương Chỉ số này được tổng hợp, đánh giá từ năm 2005 với 9 chỉ số thành phần (qua các năm có thay đổi thêm, bớt 1, 2 chỉ số thành phần): (1) Chi phí gia nhập thị trường; (2) Tiếp cận đất đai; (3) Tính minh bạch; (4) Chi phí thời gian; (5) Chi phí không chính thức; (6) Tính năng động; (7) dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp; (8) Đào tạo lao động; (9) Thiết chế pháp lý (năm 2016 bổ sung chỉ số Cạnh tranh bình đẳng) Mỗi chỉ số thành phần lại bao gồm từ 3 đến 17 chỉ tiêu thành phần Bằng phương pháp điều tra xã hội học, kết hợp với các thuật toán kinh tế, VCCI tính điểm và trọng số của mỗi chỉ số thành phần để tính chỉ số PCI, làm căn cứ xếp hạng năng lực cạnh tranh cấp tỉnh hàng năm Có thể nói, đây là Chỉ số được tham khảo nhiều nhất khi đánh giá môi trường đầu tư các địa phương của Việt Nam

Tuy nhiên, việc dùng chỉ số PCI để đo mức độ thành công của các tỉnh trong cải thiện môi trường kinh doanh của địa phương cũng cần phải thận trọng Về mặt lý thuyết, môi trường kinh doanh sẽ thường thay đổi một cách

từ từ và không có biến động đột ngột Trong PCI, sự biến động về điểm số của nhiều tỉnh lại rất lớn Ví dụ, Quảng Ngãi năm 2009 đạt 62,5 điểm, xếp hạng 7 nhưng sang năm 2010 xuống hạng 27 với 58,33 điểm Đến năm 2011, Quảng Ngãi lại tăng lên 62,24 điểm, rồi năm 2012 giảm xuống 52,21 điểm, xếp hạng

55 Năm 2015, tỉnh này tăng lên 59,7 điểm, xếp hạng 15

Đồng thời cần nhìn nhận rằng tên gọi Chỉ số NLCT cấp tỉnh (PCI) chưa thực sự phản ánh đúng, đầy đủ, dễ gây hiểu nhầm, dẫn đến xem PCI là thể hiện tổng quan NLCT của địa phương Các chỉ số này phần lớn được đánh giá gắn với công tác chỉ đạo, điều hành của các cơ quan quản lý nhà nước địa phương, chưa phản ánh một số yếu tố về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội,

Trang 21

trình độ DN, mức độ liên kết cụm ngành tại mỗi địa phương tác động đến

NLCT của tỉnh, vì vậy nên chăng sử dụng tên gọi cho đúng với bản chất của chỉ số PCI là Chỉ số đánh giá chất lượng môi trường kinh doanh thông qua điều hành của chính quyền địa phương

Cùng với chỉ số PCI, Việt Nam còn thực hiện Báo cáo thường niên chỉ

số Hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam (PAPI), đánh

giá hiệu quả công tác quản trị, hành chính công và cung cấp dịch vụ công tại địa phương dựa trên kết quả đánh giá của người dân khi sử dụng dịch vụ

công Và một chỉ số khác, đó là Chỉ số cải cách hành chính (PAR Index) để

theo dõi, đánh giá hoạt động cải cách hành chính của các cơ quan, địa phương của Việt Nam PAR Index gồm đánh giá bên trong của cơ quan và đánh giá bên ngoài của người dân trong quá trình tương tác, tiếp xúc và thực hiện các thủ tục hành chính

Ở một số địa phương như Đà Nẵng, đã xây dựng Báo cáo khoa học Nâng cao NLCT của thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2010 - 2020, do TS Võ Thị

Thúy Anh và các cộng sự xây dựng trong năm 2011, là một trong những tài liệu phân tích chi tiết, đầy đủ các khía cạnh của NLCT ở cấp độ một địa phương, có thể sử dụng làm tham chiếu để phân tích, đánh giá và đưa ra giải pháp nâng cao NLCT của Quảng Ngãi Tuy nhiên, việc áp dụng các giải pháp trong nghiên cứu này cho một địa phương khác, như Quảng Ngãi sẽ khó được

áp dụng hoàn toàn, vì Đà Nẵng phát triển ở một mức độ cao hơn so với Quảng Ngãi từ cơ chế, chính sách, mô hình phát triển cũng như phương thức vận hành quản lý nhà nước, hạ tầng cho đến các yếu tố khác biệt nhiều về điều kiện tự nhiên, địa lý… Đồng thời, Đà Nẵng đã sớm hình thành những cụm ngành có mức độ cạnh tranh cao

Báo cáo “Điều tra, khảo sát, đánh giá thực trạng, đề xuất giải pháp nâng cao chỉ số NLCT cấp tỉnh (PCI) của tỉnh Quảng Ngãi” do PGS.TS

Trang 22

Nguyễn Trường Sơn làm chủ nhiệm, thực hiện trong năm 2009 Dựa trên cách tiếp cận PCI do VNCI/VNCI tổ chức, nghiên cứu này đã tiến hành khảo sát đánh giá cảm nhận của các DN dân doanh về môi trường kinh doanh của tỉnh Quảng Ngãi với mẫu điều tra có tính đại diện cao hơn so với mẫu điều tra của tính toán trong báo cáo PCI của VCCI; kết hợp với phân tích dựa trên các dữ liệu thứ cấp rút ra các kết luận đúng hơn về ưu điểm và đặc biệt là những hạn chế trong hệ thống cơ chế, chính sách, thủ tục hành chính… của Quảng Ngãi

để đưa ra giải pháp nâng cao chỉ số NLCT cấp tỉnh (PCI) của Quảng Ngãi

Chỉ số NLCT cấp sở ngành địa phương (DDCI) được tỉnh Quảng Ninh

phối hợp với VCCI nghiên cứu và ứng dụng trong việc đánh giá chất lượng điều hành của các đơn vị trực thuộc tỉnh và làm cơ sở để thúc đẩy cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao NLCT của Quảng Ninh Đây là báo cáo sát thực và phản ánh rõ hơn chất lượng quản trị cũng như trách nhiệm của các cấp, các ngành đối với nhiệm vụ năng cao NLCT của Quảng Ninh

7.3 Những nghiên cứu, tài liệu khác liên quan đến nâng cao NLCT của địa phương

Một nhóm tài liệu trọng tâm của Luận văn được học viên tham khảo, chọn lọc và tập trung phân tích đó chính là cơ sở lý luận về phát triển cụm ngành Tài liệu tham khảo từ lý thuyết Cụm ngành do TS Vũ Thành Tự Anh soạn thảo (2008); đồng thời kết hợp với lý thuyết cụm công nghiệp và hệ sinh thái kinh doanh trong nghiên cứu chính sách thúc đẩy các ngành công nghiệp

hỗ trợ ở Việt Nam của GS.TS Lê Thế Giới (2009) để làm nền tảng phân tích cụm ngành trong Luận văn và cơ sở lý luận, kinh nghiệm quốc tế trong việc xây dựng chính sách hội tụ ngành của Nguyễn Bình Giang, Phạm Thị Thanh Hồng (2015)

Và để giải thích rõ hơn một số Cụm ngành nổi bật, có vai trò quan trọng trong việc nâng cao NLCT của một số địa phương, Luận văn còn tham khảo Nâng cao NLCT của ngành công nghiệp Đường mía Việt Nam của TS Đinh

Trang 23

Thị Nương (2007); Mô hình cụm ngành du lịch Huế - Đà Nẵng - Quảng Nam của Nguyễn Thanh Liêm, Nguyễn Thanh Long (Trường ĐH Kinh tế Đà Nẵng) và cụm ngành nổi trội của một số địa phương

Đối với khối thông tin về DN Quảng Ngãi, ngoài việc thu thập thông tin qua số liệu đăng ký DN, kết quả hoạt động kinh doanh thông qua việc đóng góp nguồn thu cho tỉnh,… Luận văn bổ sung phân tích về Chỉ số NLCT cấp tỉnh (PCI) của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam trong giai đoạn 2009-2015 để đánh giá tổng quan hơn môi trường đầu tư của tỉnh với các địa phương lân cận và so với cả nước Cuối cùng, nhóm dữ liệu cơ bản và không kém phần quan trọng là tài liệu về các điều kiện tự nhiên, môi trường, văn hóa

để phác họa rõ hơn các đặc điểm đặc thù của đất và người Quảng Ngãi

Luận văn sử dụng thông tin thứ cấp từ cơ sở dữ liệu của Cục Thống kê Quảng Ngãi, Cục Thống kê một số tỉnh khác, Tổng Cục thống kê Việt Nam; Cục Thuế, Cục Hải Quan, Các Sở: Kế hoạch và Đầu tư, Tài Chính, Giao thông vận tải, Trung Tâm xúc tiến đầu tư Quảng Ngãi, Ban quản lý Khu kinh

tế Dung Quất và KCN Quảng Ngãi; Bộ Tài Chính, Bộ Kế hoạch đầu tư, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam…

Tóm lại, đã có những nghiên cứu, báo cáo đánh giá NLCT ở phạm vi quốc gia cũng như phạm vi địa phương Trong đó, đối với các nghiên cứu NLCT địa phương ở Việt Nam phần lớn các nghiên cứu, báo cáo đánh giá tập trung phân tích chỉ số Năng lực cạnh tranh địa phương (PCI) do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) công bố hàng năm, chủ yếu xoay quanh việc đánh giá môi trường đầu tư, kinh doanh của các địa phương trên cả nước trên cơ sở điều hành của chính quyền địa phương Do vậy, qua nghiên cứu các lý thuyết, Đề tài đã chọn Khung phân tích NLCT địa phương

do Vũ Thành Tự Anh hiệu chỉnh từ Khung phân tích NLCT quốc gia của Micheal E Poter để làm cơ sở căn cứ đánh giá NLCT của tỉnh Quảng Ngãi

Trang 24

7.4 Hạn chế tài liệu nghiên cứu

Trong khuôn khổ các tài liệu nghiên cứu của Đề tài chưa thể hiện được các nghiên cứu NLCT ở phạm vi địa phương của quốc tế Việc tổng hợp, phân tích, đánh giá NLCT của Quảng Ngãi thông qua việc sử dụng dữ liệu thứ cấp (Báo cáo, điều tra thống kê của các cơ quan quản lý nhà nước, các chương trình, dự án…) đã qua xử lý nên khó đánh giá được mức độ chính xác, mức độ tin cậy của nguồn dữ liệu; dữ liệu này được thu thập để phục vụ cho mục đích khác do vậy phần nào làm hạn chế kết quả phân tích, đánh giá

8 Cấu trúc luận văn

Luận văn gồm 3 chương Trong đó:

- Chương 1: Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh địa phương

- Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của tỉnh Quảng Ngãi

- Chương 3: Kết luận, giải pháp và kiến nghị chính sách

Trang 25

Sơ đồ quy trình nghiên cứu

Năng lực cạnh tranh DN

Nêu vấn đề nghiên cứu

NLCT tỉnh Quảng Ngãi

Khung phân tích

Trang 26

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LU N VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH

ĐỊA PHƯƠNG 1.1 LÝ LU N CHUNG VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH

1.1.1 Cạnh tranh

a Khái niệm cạnh tranh

Theo Karl Marx: “Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch” Marx đã chỉ ra quy luật cơ bản của cạnh tranh tư bản chủ nghĩa là quy luật điều chỉnh tỷ suất lợi nhuận bình quân, qua đó hình thành nên hệ thống giá cả thị trường và dựa trên những chênh lệch giữa giá cả chi phí sản xuất, khả năng có thể bán hàng hoá dưới giá trị của nó nhưng vẫn thu đựơc lợi nhuận

Hai nhà kinh tế học Mỹ P.A Samuelson và W.D.Nordhaus cho rằng

“Cạnh tranh là sự kình địch giữa các DN cạnh tranh với nhau để dành khách hàng hoặc thị trường” [33] Theo hai tác giả này, cạnh tranh đồng nghĩa với cạnh tranh hoàn hảo Trong cuốn Kinh tế vi mô, N G Mankiw đã định nghĩa cạnh tranh: một thị trường có nhiều người bán và người mua, mỗi người không có khả năng ảnh hưởng đến giá thị trường [29]

Có nhiều định nghĩa khác nhau về cạnh tranh, tuy nhiên có thể nhìn nhận rằng cạnh tranh không phải là sự triệt tiêu lẫn nhau giữa các chủ thể tham gia,

mà cạnh tranh là động lực cho sự phát triển Thông qua cạnh tranh, các chủ thể tham gia xác định cho mình những điểm mạnh, điểm yếu cùng với những

cơ hội và thách thức, để từ đó có những hướng đi có lợi nhất cho mình

b Các loại hình cạnh tranh

Trang 27

Có nhiều hình thức được dùng để phân loại cạnh tranh, bao gồm: Căn cứ vào chủ thể tham gia thì có cạnh tranh giữa người mua và người bán, cạnh tranh giữa những người mua với nhau, cạnh tranh giữa những người bán với nhau Nếu căn cứ theo phạm vi ngành kinh tế thì có cạnh tranh trong nội bộ ngành, cạnh tranh giữa các ngành Căn cứ vào tính chất cạnh tranh thì có cạnh tranh hoàn hảo, cạnh tranh không hoàn hảo, cạnh tranh độc quyền

1.1.2 Năng lực cạnh tranh

Trong những năm gần đây, thuật ngữ “năng lực cạnh tranh” được sử dụng và thảo luận rất rộng rãi trong nhiều diễn dàn khoa học, cho đến chương trình nghị sự phát triển của các quốc gia cũng như được sử dụng ở phạm vi vùng, địa phương và cấp độ DN

Theo Từ điển thuật ngữ kinh tế học, NLCT là khả năng giành đươc thị phần lớn trước các đối thủ cạnh tranh trên thị trường, kể cả khả năng giành lại một phần hay toàn bộ thị phần của đối thủ Còn theo Franziska Wolff, Katharina Schmitt and Christian Hochfeld (2007), khái niệm NLCT là rất phức tạp, đươc sử dụng ở nhiều mức độ tổng hợp khác nhau, làm cho nó có nhiều nghĩa và nhiều nhân tố kết hợp khác nhau [27]

Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) thì cho rằng, NLCT là

“khả năng của các công ty, các ngành, các vùng, các quốc gia hoặc khu vực siêu quốc gia trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế trên cơ sở bền vững”

Theo Diễn đàn kinh tế thế giới (Porter, Salai-Martin, Schwab 2007), năng lực cạnh tranh là tập hợp các thể chế, chính sách và nhân tố quy định mức năng suất của một thành phố hay một vùng lãnh thổ Sử dụng năng suất

là thước đo cơ bản, khái niệm năng lực cạnh tranh vì vậy sẽ bao gồm cả mức

độ tăng trưởng kinh tế và khả năng tăng trưởng bền vững [27]

Như vậy, có thể thấy rằng, khái niệm “năng lực cạnh tranh” là một khái

Trang 28

niệm động, được cấu thành bởi nhiều yếu tố và chịu sự tác động của cả môi trường vĩ mô và vi mô Xét ở phạm vi quốc gia có thể xem NLCT là cách thức các nước tạo điều kiện tốt nhất về kinh tế, xã hội và môi trường cho phát triển kinh tế Nó đo lường những gì hình thành nên sự phát triển này, những thứ như chính sách, thể chế và các yếu tố quyết định năng suất (Nguyễn Xuân Thành, 2014) [52] Điều này cũng có thể sử dụng để phân tích, đánh giá

ở phạm vi vùng hoặc địa phương nhưng bị hạn chế hơn về một số mặt như chính sách hay thể chế

1.1.3 Các loại năng lực cạnh tranh

NLCT được chia làm 4 cấp: Quốc gia, ngành, địa phương và DN

a Năng lực cạnh tranh quốc gia

Theo quan điểm được phát triển bởi Michael E Porter, tại cấp độ quốc gia, NLCT là những điều kiện mà quốc gia đó cung cấp đến các DN để thúc đẩy các DN này ngày càng hoạt động hiệu quả và có tiềm năng tăng trưởng Theo nghĩa này, mỗi quốc gia sẽ có những tác động quan trọng đến sức mạnh trong khả năng cạnh tranh của mỗi DN ở cả mức độ thị trường toàn cầu và thị trường bên trong biên giới quốc gia [27]

Theo Scott & Lodge (1985) (trích trong Verner Tomás, 2011) [27][54], NLCT quốc gia là khả năng của Nhà nước để sản xuất, phân phối và phục vụ hàng hóa trong nền kinh tế quốc tế cạnh tranh với hàng hóa và dịch vụ đã sản xuất ở các nước khác và làm như vậy theo một cách thức nhằm nâng cao mức sống Hoặc một cách cụ thể hơn, NLCT quốc gia được quan niệm là năng lực của nền kinh tế đạt được tăng trưởng bền vững, thu hút được đầu tư, bảo đảm

ổn định kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống của người dân, chủ yếu nhờ khả năng cung cấp công nghệ hoặc bằng cách tự sáng tạo hoặc tiếp thu nhanh chóng và tích cực công nghệ từ nước khác (Đinh Văn Ân, 2014) [7]

Theo Diễn dàn Kinh tế thế giới (WEF) cho rằng, NLCT của một quốc

Trang 29

gia là “Năng lực của nền kinh tế nhằm đạt và duy trì được mức tăng trưởng cao trên cơ sở các chính sách, thể chế bền vững tương đối và các đặc trưng kinh tế khác”

Tóm lại, có thể hiểu NLCT quốc gia là tổng hợp các thể chế, chính sách

và nhân tố quyết định mức độ hiệu quả, năng suất của quốc gia đó Là năng lực vận hành nền kinh tế có hiệu quả, với chi phí hợp lý nhất mang lại kết quả thịnh vượng và bền vững nhất

b Năng lực cạnh tranh ngành kinh tế

Porter và Van der Linde định nghĩa rằng NLCT tại cấp độ ngành là năng suất bình quân của ngành hoặc giá trị được tạo ra trên mỗi đơn vị lao động và trên mỗi giá trị vốn đầu tư của ngành đó (Porter/Van der Linde 1995: 98) [1][52] Đo lường NLCT của ngành thông qua tốc độ phát triển của ngành, tỷ suất lợi nhuận, tỷ lệ thất nghiệp và năng suất lao động

c Năng lực cạnh tranh địa phương

Định nghĩa NLCT địa phương sẽ được trình bày một cách cụ thể trong

phần 1.2

d Năng lực cạnh tranh doanh nghiệp

Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), NLCT của DN là năng lực tạo ra năng suất lao động tương đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu

tố sản xuất có hiệu quả làm cho các DN phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế Nhìn nhận NLCT cấp độ DN được xem xét về phương diện khả năng cạnh tranh với các DN khác trong ngành thì NLCT của DN là khả năng chống chịu trước sự tấn công của DN khác

Mặc dù có nhiều quan niệm khác nhau về NLCT của DN, song xét về bản chất có thể nêu một số đặc trưng cơ bản của nó như sau: (1) NLCT của

DN phụ thuộc vào cả yếu tố bên trong (thực lực, lợi thế) và yếu tố bên ngoài; (2) NLCT của từng DN không phải được xác định một cách biệt lập, riêng lẻ

Trang 30

mà là trong đánh giá, so sánh với các đối thủ cạnh tranh trong hoạt động trên cùng một lĩnh vực, cùng một thị trường; (3) Những thực lực và lợi thế quyết định NLCT của DN phải hướng đến việc thỏa mãn khách hàng (mục tiêu trực tiếp) để nhằm đạt được các mục tiêu kinh doanh tốt nhất, trong đó, có lợi nhuận và (4) NLCT của DN có thể được phản ánh qua nhiều tiêu chí khác nhau, gồm một số chỉ tiêu tổng hợp phản ánh kết quả/hiệu quả sản xuất kinh doanh (doanh số, thị phần, lợi nhuận) và các chỉ tiêu phản ánh thực lực, lợi thế kinh doanh (công nghệ, tài chính, nhân lực, sản phẩm, dịch vụ…)

1.2 NĂNG LỰC CẠNH TRANH ĐỊA PHƯƠNG

1.2.1 Khái niệm năng lực cạnh tranh địa phương

Các công trình nghiên cứu về NLCT trên thế giới thì đa phần các nghiên cứu chủ yếu được phân tích, đánh giá ở phạm vi quốc gia, vùng hoặc dưới góc

độ NLCT của DN, một phần do trong phạm vi địa phương ít có tính chủ động

về các chính sách về tài khóa, tiền tệ (công cụ quan trọng của nhà nước) ở phạm vi địa phương mà thường phụ thuộc vào chính sách chung của quốc gia Chung quy lại vẫn chưa có một khái niệm chung, thống nhất về NLCT cấp địa phương Micheal E Porter cho rằng NLCT của địa phương phụ thuộc vào hiệu suất mà địa phương đó có thể tạo ra khi sử dụng nguồn nhân lực, vốn, tài nguyên thiên nhiên của mình Năng suất quyết định sự thịnh vượng của một quốc gia, địa phương vì năng suất cao đồng nghĩa với việc tạo ra nhiều giá trị gia tăng, lương cao và lợi nhuận trên vốn lớn từ đó tạo ra mức sống tăng dần cho người dân (Porter, 2008) [27]

Theo như khái niệm về NLCT, có thể định nghĩa NLCT địa phương là cách thức địa phương tạo điều kiện tốt nhất về kinh tế, xã hội và môi trường cho phát triển kinh tế Nó đo lường những gì hình thành nên sự phát triển này, những thứ như chính sách, thể chế và các yếu tố quyết định năng suất

Để đánh giá NLCT của địa phương, hiện tại có 02 hướng tiếp cận chính

Trang 31

Theo cách thứ nhất, NLCT được đánh giá dựa trên kết quả cuối cùng hay năng suất (quan điểm của Poter hay Krugman) Theo cách thứ hai, NLCT địa

phương được đánh giá thông qua các yếu tố cấu thành NLCT Theo cách này, các địa phương sẽ cạnh tranh với nhau trong việc đưa ra các giải pháp phù hợp với từng yếu tố cấu thành NLCT để cải thiện môi trường kinh doanh có hiệu quả nhất, tức là tạo ra được năng suất cao nhất, trong đó, khối DN đóng vai trò rất quan trọng trong tiến trình này

Trong phạm vi Đề tài này, để có cơ sở đề xuất giải pháp giúp nâng cao NLCT của một địa phương, mà cụ thể ở đây là tỉnh Quảng Ngãi, Đề tài chọn theo hướng tiếp cận thứ hai

1.2.2 Các yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh địa phương

Trên cơ sở nền tảng của các nghiên cứu có liên quan, đặc biệt là nghiên cứu của Porter (2008) và được Vũ Thành Tự Anh (2011) hiệu chỉnh thông qua

mô hình NLCT ở cấp độ địa phương, các nhân tố cấu thành NLCT của một địa phương gồm 3 nhóm yếu tố: (i) Các yếu tố sẵn có của địa phương, (ii) NLCT ở cấp độ địa phương và (iii) NLCT ở cấp độ DN [3]:

NĂNG LỰC CẠNH TRANH Ở CẤP ĐỘ DOANH NGHIỆP

NĂNG LỰC CẠNH TRANH Ở CẤP ĐỘ ĐỊA PHƯƠNG

C C YẾU TỐ CÓ SẴN CỦA ĐỊA PHƯƠNG

Hình 1.1 Các yếu tố quyết định NLCT địa phương

a Các yếu tố tự nhiên sẵn có của địa phương

Hoạt động và chiến lược của DN

Môi trường kinh

doanh

Trình độ phát triển cụm ngành

Hạ tầng văn hóa, giáo

dục, y tế, xã hội

Hạ tầng kỹ thuật (giao thông vận tải, điện, nước, viễn thông)

Chính sách tài chính, đầu tư, tín dụng, cơ cấu kinh tế

Vị trí địa lý Quy mô địa phươngTài nguyên tự nhiên

Trang 32

(i) Gồm tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý và quy mô của địa phương (được thể hiện trong phần dưới ở Hình 1.1) Một địa phương với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú sẽ là đầu vào quan trọng cho việc sản xuất và hình thành các ngành công nghiệp có NLCT cao Vị trí địa lý đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định NLCT của địa phương

Những nhân tố này không chỉ phản ánh về số lượng mà còn bao gồm sự phong phú, chất lượng, khả năng sử dụng lợi thế sẵn có của vị trí địa lý, diện tích, địa thế, thời tiết khí hậu, chi phí về đất đai, nguồn khoáng sản, nguồn nước, nguồn lợi thuỷ sản… Các yếu tố này thông thường có đặc điểm khác nhau giữa các địa phương, tuy nhiên, nó cũng có mức độ tương đồng giữa các địa phương lân cận hoặc trong cùng một Vùng Mỗi yếu tố này có mức độ tác động khác trong đối với lợi thế cạnh tranh của địa phương và giá trị nó được phản ánh qua cách thức địa phương đó tận dụng lợi thế từ các yếu tố này để phát triển kinh tế - xã hội Không hẳn sự dồi dào sẽ mang lại NLCT tốt hơn và

sự nghèo nàn sẽ đồng nghĩa với sự bất lợi

Có nghĩa rằng những lợi thế tự nhiên có thể đóng góp cho sự thịnh vượng của địa phương trong một thời kỳ và với những điều kiện nhất định Ngược lại, chính từ lợi thế này cũng có thể dẫn đến sự “ỷ lại”, sử dụng tài nguyên bất hợp lý và cho ra những những chính sách sai lầm

Theo Porter (2008), khi nguồn nguyên vật liệu được cung cấp một cách phong phú với giá rẻ hay lao động dư thừa, thì các doanh nghiệp có thể có khuynh hướng ỷ lại thái quá vào những lợi thế này và khai thác chúng một cách kém hiệu quả Nhưng khi các doanh nghiệp phải đối mặt với một số bất lợi, ví dụ như chi phí đất đai cao, thiếu hụt lao động, hay thiếu hụt nguyên vật liệu tại địa phương, thì các doanh nghiệp đó phải đổi mới và nâng cấp để có thể cạnh tranh [27]

b Năng lực cạnh tranh ở cấp độ địa phương

Trang 33

(ii) Có thể chia các yếu tố này thành hai nhóm gồm: (1) hạ tầng xã hội và các thể chế chính trị, pháp luật, văn hoá, xã hội, giáo dục, y tế; và (2) thể chế, chính sách kinh tế như chính sách tài chính, tín dụng và cơ cấu kinh tế (được thể hiện trong phần giữa ở Hình 1.1) Nhóm này bao gồm các nhân tố cấu thành nên môi trường hoạt động của DN, nó tác động lên NLCT của các DN

Yếu tố hạ tầng xã hội lấy sự phát triển của con người làm trung tâm,

trong đó chú trọng đến vai trò của giáo dục cơ bản và hệ thống y tế Yếu tố giáo dục cơ bản được xem là nền tảng cho việc học hỏi, khả năng tiếp thu tri thức, ứng dụng vào thực tiễn Hệ thống y tế hiệu quả sẽ góp phần giúp thể chất phát triển, giúp tăng năng suất làm việc Chính những yếu tố này phần nào phản ánh môi trường sống và làm việc tại địa phương

Yếu tố thể chế chính trị được đo lường bởi sự cởi mở và ổn định xã hội ở địa phương, tiếng nói của các DN được lắng nghe và được tôn trọng, trách

nhiệm giải trình của các quan chức chính quyền địa phương được đề cao, tính hiệu lực và hiệu quả của nền hành chính công được cải thiện Nói đến vai trò của thể chế chính trị còn phải gắn liền với thượng tôn pháp luật, ở đó yếu tố

an ninh xã hội, tính độc lập của hệ thống tư pháp, tính hiệu quả của khung pháp lý, mức độ tham nhũng, và sự thực thi các quyền dân sự [3]

Chính sách kinh tế cũng có tác động lên NLCT ở cấp độ địa phương

Phần lớn các chính sách này chịu ảnh hưởng bởi các chính sách kinh tế vĩ mô

từ chính quyền trung ương nhưng sự đánh giá ở cấp độ địa phương nằm ở khả năng của chính quyền địa phương áp dụng các chính sách đó vào thực tiễn

c Năng lực cạnh tranh ở cấp độ DN

(iii) NLCT ở cấp độ DN gồm có môi trường kinh doanh; trình độ phát triển của cụm ngành; hoạt động và chiến lược của DN (được thể hiện trong phần trên cùng ở Hình 1.1) Đây là những nhân tố tác động trực tiếp tới năng suất của DN

Trang 34

Môi trường kinh doanh là điều kiện bên ngoài giúp DN đạt được mức

năng suất và trình độ đổi mới, sáng tạo cao nhất1

[3] Theo Porter (2008), chất lượng của môi trường kinh doanh được đánh giá thông qua Mô hình kim cương với 04 đặc tính cơ bản gồm: (1) các điều kiện về nhân tố đầu vào; (2) các điều kiện cầu; (3) các ngành công nghiệp phụ trợ và liên quan và (4) bối cảnh cho chiến lược và cạnh tranh Mỗi “góc kim cương” được hình thành bởi nhiều yếu tố khác nhau Các địa phương đều có những yếu tố này nhưng sự phối hợp của các nhân tố đó lại rất khác nhau và lợi thế cạnh tranh từ các nhân

tố này phụ thuộc vào việc chúng được triển khai và hiệu quả hay không (Porter 2008) [27]

Hình 1.2 Mô hình kim cương

Điều kiện cácnhân

Các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên

quan

Sự có mặt của các nhà cung cấp và các ngành công nghiệp hỗ trợ

Mức độ đòi hỏi và khắt khe của khách hàng và nhu cầu nội địa

Tiếp cận các yếu tố đầu

vào chất lượng cao

lực khuyến khích đầu tư và năng suất

cạnh tranh trong nước

Trang 35

Các yếu tố như nhân lực, kiến thức và vốn có thể dịch chuyển giữa các địa phương, nên chưa hẳn là lợi thế cố định Hơn nữa, nguồn dự trữ các nhân

tố đầu vào mà một địa phương có được ở một thời điểm cụ thể không quan trọng bằng tốc độ và tính hiệu quả mà địa phương đó tạo ra cũng như việc nâng cấp và sử dụng các nhân tố này trong những ngành cụ thể (Porter 2008) [27]

Hoạt động và chiến lược của DN đánh giá các điều kiện bên trong giúp

DN đạt được hiệu suất, khả năng đổi mới sáng của DN Bao gồm những đánh giá về trình độ chuyên môn của chủ DN, ứng dụng khoa học công nghệ và công nghệ thông tin trong kinh doanh, điều hành, quản trị… của DN

Trình độ phát triển cụm ngành phân tích sự tập trung về mặt địa lý của các DN, mức độ chuyên môn hóa và các tổ chức hoạt động trong cùng một

lĩnh vực, ngành nhất định Cụm ngành phản ánh tác động của các liên kết và tác động lan toả giữa các DN và các tổ chức có liên quan trong cụm

Sự phát triển của các cụm ngành cũng sẽ giúp tăng năng suất và hiệu quả hoạt động, thúc đẩy sự đổi mới sáng tạo, và các quá trình thương mại hoá Sự

có mặt của cụm ngành cũng tạo cơ hội cho dòng chảy thông tin và trao đổi kỹ thuật, tăng khả năng phát sinh những cơ hội mới trong ngành công nghiệp, giúp hình thành một hình thức DN mới, những DN sẽ mang đến một phương pháp mới trong cạnh tranh (Porter 2008) [27]

d Lý thuyết cụm liên kết ngành

Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về Cụm liên kết ngành (CLKN) Định nghĩa của Viện Chiến lược và năng lực cạnh tranh, Khoa Kinh doanh, Đại học Harvard xây dựng dựa trên định nghĩa ban đầu của Micheal E Porter (1990)

có tính bao hàm đầy đủ nhất về nội dung của một CLKN Theo đó, “CLKN là

sự tập trung về địa lý của các công ty có liên kết với nhau, các nhà sản xuất chuyên môn hóa, các nhà cung cấp dịch vụ và các thể chế liên quan về một

Trang 36

lĩnh vực nhất định, hiện diện trong một quốc gia hay một vùng lãnh thổ” Khái niệm CLKN này được xây dựng dựa vào 02 trụ cột quan trọng Đầu tiên và quan trọng nhất là sự tập trung về mặt địa lý của hoạt động kinh tế Việc nhấn mạnh vào vài trò của sự tập trung này trong lý thuyết cụm ngành đem lại nhiều hiểu biết sâu sắc mới về bản chất của cạnh tranh và về vai trò của vị trí (location) đối với lợi thế so sánh (Vũ Thành Tự Anh, 2013)

Điều này có thể thấy thông qua sự hiện diện của CLKN ở mọi quốc gia trên khắp thế giới, có thể liệt kê những CLKN nổi trội như: CLKN tài chính ở New York, London, công nghệ cao ở Silicon Valley (Mỹ), cụm ô tô ở miền Nam nước Đức đến Detroit (Mỹ), rượu vang ở Western Cape (Nam Phi), từ cụm công nghiệp dệt, thời trang tại miền Bắc nước Ý cho đến thiết kế và thời trang ở Paris (Pháp), thủy sản ở đồng bằng sông Cửu Long (Việt Nam),… Chính sự phổ biến của CLKN cho thấy rằng NLCT của DN, của mỗi ngành công nghiệp không chỉ do bản thân DN hay ngành đó quyết định, mà phụ thuộc rất nhiều vào “hệ sinh thái” – hay Cụm liên kết ngành – trong đó DN và ngành công nghiệp tồn tại

Trụ cột thứ hai là tính “liên kết” và “liên quan” Cụm ngành không phải

là một tập hợp rời rạc của một nhóm công ty bất kỳ mà nó được gắn kết bởi

sự tương hỗ và được cộng hưởng bởi tác động lan tỏa tích cực Nói cách khác, sức mạnh chung của cụm ngành lớn hơn tổng sức mạnh của các thành viên riêng lẻ gọp lại (Vũ Thành Tự Anh, 2013)

Cũng cần nhấn mạnh thêm là sự tồn tại của nhiều DN/tổ chức trong cùng một ngành ở cùng một khu vực địa lý sẽ đối mặt với sự cạnh tranh từ các đối thủ khác trong cụm, đây chính là động lực bắt buộc các DN phải không ngừng học hỏi, nâng cao năng lực kinh doanh và tìm kiếm các cải tiến hiệu quả (Lê Thế Giới, 2009) [17] Chính nhờ sự cạnh tranh quyết liệt này mà một CLKN trở nên năng động, luôn đổi mới và có sức sống

Trang 37

Như vậy, khái niệm CLKN đem đến một cách tiếp cận mới về NLCT và qua đó một phương thức tuy duy mới về cách thức phối hợp, xây dựng và nâng cao NLCT của một nền kinh tế (quốc gia, khu vực, địa phương) thông qua việc gia tăng năng suất và hiệu quả hoạt động, kích thích và thúc đẩy đổi mới và tạo điều kiện thuận lợi cho sự ra đời các DN mới

1.3 KINH NGHIỆM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH THÔNG QUA PH T TRIỂN CỤM NGÀNH

1.3.1 Kinh nghiệm các nước

a Cụm ngành logistics Hà Lan

Nói đến Hà Lan, người ta nghĩ ngay đến một quốc gia thành công trong cuộc cách mạng container hóa các cảng biển và toàn cầu hóa logistics Hà Lan hiện có 9.000 trung tâm phân phối và 9% lực lượng lao động làm việc trong lĩnh vực logistics Hà Lan tập trung xây dựng và hình thành 04 trụ cột chính: (i) Đầu tư mạnh vào kết cấu hạ tầng giao thông, thiết bị xếp dỡ đồng bộ và các khu phân phối, chuyển tải hàng hóa khu vực Từ những năm 1960, giai đoạn đầu của container hóa, tận dụng lợi thế về địa kinh tế, Hà Lan đã tập trung đầu tư mạnh vào kết cấu hạ tầng giao thông và thiết bị xếp dỡ đồng bộ, không chỉ đáp ứng yêu cầu phát triển container mà còn chuẩn bị cho cảng Rotterdam trở thành trung tâm phân phối hàng hóa châu Âu; (ii) Kết nối hiệu quả hệ thống giao thông quốc gia với hệ thống đường sắt, đường bộ các nước lân cận Từ cảng Rotterdam có thể đi đến tất cả các trung tâm kinh tế và công nghiệp lớn ở Tây Âu trong vòng 24 giờ; (iii) Sử dụng hiệu quả vận tải đa phương thức Cùng mạng lưới vận tải đa phương thức hoàn chỉnh của châu

Âu, từ Rotterdam hàng hóa có thể đến mọi điểm một cách nhanh chóng và dễ dàng Hàng hóa có thể vận chuyển bằng xe tải, xe lửa, tàu thủy nội địa, tàu biển tuyến ngắn hoặc tàu gom hàng, hàng không và đường ống cho hàng lỏng;

(iv) Cơ chế hoạt động linh hoạt, hấp dẫn, bao trùm là cơ chế “Landord Port”,

Trang 38

Nhà nước cung cấp toàn bộ nhu cầu về kết cấu hạ tầng cho tư nhân khai thác cảng biển theo nguyên tắc đem lại hiệu quả cao nhất cho quốc gia Tư nhân đảm nhận việc khai thác theo luật định và tập quán quốc tế

b Các cụm liên kết năng lực cạnh tranh (CLKNLCT) ở Pháp

Pháp đã triển khai một chính sách liên ngành quy mô lớn, nhằm khai thác các nhân tố then chốt về NLCT của quốc gia CLKNLCT ở Pháp được xác định là sự tập trung về địa lý của các DN, các cơ sở đào tạo và các đơn vị nghiên cứu của nhà nước và tư nhân cùng hợp tác trong các dự án sáng tạo Hiện nay Pháp đã hình thành thành và phát triển hơn 70 CLKNLCT Điển hình là các CLKNLCT về giao thông, hàng không và vũ trụ, công nghệ sinh học, y tế, nông nghiệp, công nghệ thông tin và truyền thông, năng lượng và môi trường Mỗi một CLKNLCT được giám sát một Ủy ban điều phối do Ủy ban điều phối Vùng thiết lập, chịu trách nhiệm xây dựng một hợp đồng khung

để xác định các hoạt động, chính sách, các ưu tiên nghiên cứu và các tiêu

chuẩn đánh giá hoạt động của CLKNLCT

Chính phủ Pháp cung cấp ba cơ chế nhà nước để hỗ trợ thực hiện chính sách CLKNLCT: (i) Lôi kéo sự tham gia các công trình nghiên cứu nhà nước vào các chương trình nuôi dưỡng sự hợp tác giữa các phòng thí nghiệm của nhà nước và các tập đoàn, qua đó nhằm đóng góp vào chuyển giao công nghệ

từ các kết quả nghiên cứu cho giới DN: Cục Nghiên cứu Quốc gia; (ii) Phát triển hệ thống nghiên cứu và triển khai (R&D) với các dự án thực hiện các chương trình phát triển chủ chốt đồng tài trợ với khu vực tư nhân và (iii) Hỗ trợ các DN vừa và nhỏ (SMEs)

c Kế hoạch chính sách cụm liên kết ngành của Nhật Bản

Trong thời gian dài Nhật Bản đã xây dựng và triển khai kế hoạch chính sách CLKN một cách chặt chẽ Để hình thành một CLKN, Bộ kinh tế Công nghiệp và Thương mại Nhật Bản (METI) đã tiến hành bốn bước: (i) phân tích

Trang 39

đặc điểm địa phương; (ii) xác định mạng lưới có thể có; (iii) mở rộng phạm vi mạng lưới và (iv) thúc đẩy tập trung công nghiệp và đổi mới Nhật Bản thực hiện chính sách CLKN thông qua 03 chính sách: (i) xây dựng mạng lưới; (ii)

hỗ trợ DN (R&D, phát triển thị trường, quản lý, đào tạo); và (iii) thúc đẩy liên

kết (giữa tổ chức tài chính - công nghiệp - cơ sở đào tạo)

d Cụm liên kết sáng tạo của Hàn Quốc

Hàn Quốc xúc tiến mạnh mẽ việc phát triển các cụm liên kết sáng tạo kể

từ khi Chiến lược phát triển cân đối quốc gia được thông qua với Đạo luật đặc biệt về phát triển cân đối quốc gia năm 2004 Mục đích của Chiến lược phát triển cân đối quốc gia là nhằm hoàn thiện việc phát triển cân đối theo vùng và củng cố NLCT quốc gia, tăng cường năng lực sáng tạo các nền kinh tế địa phương, được biết đến với nội dung: “Chuyển đổi các tổ hợp công nghiệp thành các Cụm liên kết sáng tạo”, làm động lực cho cuộc cất cánh lần thứ hai của quốc gia Quá trình này được thực hiện bằng cách tiếp cận từng bước cân nhắc trình độ phát triển của cơ sở hạ tầng nghiên cứu triển khai (R&D) và mức độ hợp tác giữa các ngành và các trường đại học và thiết lập mạng lưới Các cụm liên kết “mẫu” được hỗ trợ một cách tích cực căn cứ theo các đặc điểm của tổ hợp tương ứng, năng lực sáng tạo cũng như các mối liên kết của

tổ hợp với các DN khác theo vùng

1.3.2 Kinh nghiệm các địa phương trong nước

a Cụm ngành điện tử vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ

Vùng Kinh tế trọng điểm Bắc bộ (VKTTĐBB) gồm 7 tỉnh/thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Quảng Ninh Trong thời gian qua ngành điện tử tại VKTTĐBB tăng trưởng nhanh, đóng góp lớn vào quy mô kinh tế vùng Kết quá đó là bởi những dự án đầu tư của các tập đoàn điện tử hàng đầu thế giới (Foxconn, Canon, Panasonic, Samsung, LG, Nokia, Brother…) Chính các công ty này đóng vai trò trung

Trang 40

tâm là nơi neo đậu các công ty vệ tinh, nó tạo ra hệ sinh thái xung quanh nó, giúp các DN vừa và nhỏ trong và ngoài nước tham gia vào chuỗi giá trị sản xuất Điển hình, năm 2013 Bắc Ninh nổi lên như là một trung tâm của xuất khẩu khi mà giá trị xuất khẩu hàng điện tử, linh kiện điện tử đạt 23,9 tỷ USD (chiếm tỷ trọng 93% giá trị xuất khẩu toàn tỉnh và chiếm 54% tổng giá trị xuất khẩu của toàn VKTTĐBB), có được thành quả này là do tổ hợp Samsung tại Bắc Ninh đi vào hoạt động, xuất khẩu đi 50 nước trên thế giới Theo sau là

200 công ty Hàn Quốc đầu tư sản xuất cung cấp linh kiện cho Samsung và cả

LG Tương tự như vậy, Canon và Panasonic khu đầu tư vào KCN Bắc Thăng Long cũng kéo theo các công ty Nhật Bản và Việt Nam đóng vai trò vệ tinh

Có nhiều nhân tố hình thành cụm ngành công nghiệp điện tử tại VKTTĐBB

nhưng nổi bật lên là yếu tố Công ty lớn đóng vai trò trung tâm, ngoài ra thì cơ

sở hạ tầng, môi trường đầu tư kinh doanh, nguồn nhân lực cũng là một trong

các yếu tố ban đầu góp phần hình thành cụm ngành này tại VKTTĐBB

b Cụm ngành du lịch Huế - Đà Nẵng - Quảng Nam

Khu vực Huế - Đà Nẵng - Quảng Nam là khu vực có vị trí địa lý nằm trên tuyến du lịch miền Trung - Tây Nguyên Tuy chỉ kéo dài chưa đầy 300

km mà cả 3 địa phương sở hữu những bãi biển đẹp vào loại nhất nhì thế giới,

có 04 di sản văn hóa thế giới, những khu sinh thái sinh quyển, rừng quốc gia phong phú đa dạng về chủng loại động thực vật… Tất cả những lợi thế đó đã được 3 địa phương nhìn nhận và liên kết thông qua chiến lược “3 địa phương, một điểm đến”, kết hợp với việc phát triển thương hiệu “Con đường di sản miền Trung”

Để phát huy các thế mạnh, người dân, DN và chính quyền các địa phương đã tạo ra những sản phẩm du lịch mang đặc trưng vùng như các làng nghề thủ công truyền thống tranh làng Sình, hoa giấy Thanh Tiên (Thừa Thiên Huế), đá mỹ nghệ Non Nước (Đà Nẵng), dệt thổ cẩm của người Cơ tu

Ngày đăng: 06/10/2018, 08:26

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w