1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ảnh hưởng của giáo lý phật giáo đến giáo dục đạo đức trong gia đình ven đô việt nam hiện nay

79 216 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 8,83 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết: “Nghiên cứu và ứng dụng các giá trị văn hóa Phật giáo trong xã hội Việt Nam hiện n a y ”, của Nguyễn Hồng Dương, tác giả đã chỉ ra với những đặc thù của Phật giáo Việt Nam mà

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 3

ĐẠI HỌC QƯÓC GIA HÀ NỘI

Trang 4

PHẦN I THÔNG TIN CHUNG

1.1 Tên đề tài: Ảnh hưỏng của giáo lý Phật giáo đến giáo dục đạo đức trong gia đình ven đô Việt Nam hiện nay

1.2 Mã số: ỌG 15.46

1.3 Danh sách chủ trì, thành vicn tham gia thực hiện đề tài

TT Chức danh, học vị, họ và tên Đon vị công tác Vai trò thực hiện đề tài

2 PGS.TS Trần Thu Hương Trường ĐHKHXH&NV ủ y viên

3 PGS.TS Nguyễn Hồi Loan Trường ĐHKHXH&NV ủ y viên

5 T h s Phan Hồng Giang Trường ĐHKHXH&NV ủ y viên

1.4 Đon vị chủ trì: ĐHKHXH&NV

1.5 Thòi gian thực hiện: 24 tháng

1.5.1 Theo họp đồng: từ tháng 03 năm2015 đến tháng 03 năm 2017

1.5.2 Gia hạn (nếu có): đến tháng năm

1.5.3 Thực hiện thực tế: từ tháng 3 năm 2015 đến tháng 03 năm 2017

1.6 Những thay đổi so vói thuyết minh ban đầu (nếu có):

(Về mục tiêu, nội dung, phương pháp, kết quả nghiên cứu và tô chức thực hiện; Nguyên nhân; Ý kiến cùa Cơ quan quản lý)

1.7 Tông kinh phí được phc duyệt của đề tài: 150 triệu đồng.

PHẦN II TỎNG QUAN KÉT QUẢ NGHIÊN c ứ u

Viết theo cấu trúc một bài báo khoa học tổng quan từ 6-15 trang (báo cáo này sẽ được đăng trên tạp chí khoa học ĐHQGHN sau khi đề tài được nghiệm thu), nội dung gồm các phần:

1 Đặt vấn đề

Đạo Phật được truyền bá vào Việt Nam khoảng thế kỉ II sau công nguyên và đã nhanh chóng trở thành một tôn giáo có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần của người Việt (Theo điều tra của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, năm 2008, có 80% người Việt có niềm tin Phật giáo ở các mức độ khác nhau) bên cạnh đạo Nho, đạo Lão, đạo Thiên C húa Phật giáo cho rằng, dù ít hay nhiều, con người phải đối mặt với khó khăn, hiểm nguy, thất b ại Trong những lúc như thế, cuộc sống của con người rât dễ bị tôn thương và trở nên vô nghĩa, niềm tin tôn giáo sẽ giúp cho họ ít khi bị đẩy vào trạng thái bất an, tuyệt vọng hay đau khổ, u sâu Do vậy, họ tự tìm ra lối thoát cho chính mình

và cộng động trên cơ sở của niềm tin vào các triết lý của giáo lý Phật giáo

Quá trình Phật giáo truyền bá vào Việt Nam gắn liền với quá trình hình thành, phát triển tư tưởng, đạo đức của con người Việt Nam Phật giáo luôn đề cao lòng từ, nhân ái, đây là nguyên nhân quan trọng giúp Phật giáo luôn gắn chặt và đồng hành cùng dân tộc Việt Nam trong suốt chiều dài

lịch sử Phật giáo luôn quan niệm con người cần có lòng từ, bi, hỉ, xả (tứ vô lượng tâm), đây là nhân

tô chủ yếu giúp phát triển tâm từ bi, hạnh cứu khổ, điều đó định hướng cho mọi hoạt động (tâm linh

và thế tục) của Phật giáo cho con người và vì con người Những quan niệm này luôn được thể hiện trong giáo lý của Phật giáo và cũng chính là nền tảng xây dựng giá trị đạo đức của con người Việt Nam, thê hiện trong quan niệm về nhân sinh quan, thế giới quan và định hướng cho hành vi ứng xử

1

Trang 5

Ngày nay, Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, có nhiều thành tựu nổi bật trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế Tuy vậy, bên cạnh những thành tựu nổi bật những mặt tích cực đã đạt được vẫn có nhiều vấn đề xã hội bức xúc nổi lên như: tình trạng nhập cư

ồ ạt vào các đô thị lớn, môi trường bị tàn phá, nghèo đói, thất nghiệp ở nông thôn, bệnh dịch Các vấn đề xã hội này đang trở thành thách thức cho nước ta trong quá trình hướng đến sự phát triến ổn định, bền vũng

Đặc biệt tốc độ đô thị hóa nhanh và mạnh như hiện nay đã biến những vùng nông thôn trở thành vùng ven đô Vùng ven đô và ngoại thành là khu vực trung gian giữa nông thôn và thành thị Các giá trị văn hóa thành thị được chuyển vào khu vực ven đô nhanh hơn bất kỳ khu vực nào khác bởi tính chất giao lưu mạnh mẽ ở khu vực này Neu yếu tố vật chất trong sự chuyển đổi diễn ra nhanh chóng và có thể nhận thấy rất rõ ràng qua sự thay đổi bộ mặt cảnh quan môi trường, hệ thống dịch

v ụ .thì yếu tố tinh thần của sự biến đổi (từ phương diện văn hóa, tâm lý) lại diễn ra từ từ và rất khó khăn nhận biết được ngay lập tức

Sự biến đổi quá nhanh với tốc độ cao, diễn ra trên diện rộng của đô thị hóa, công nghiệp hóa, kinh tế thị trường đã khiến cho dân vùng ven đô không thể thích nghi ngay với môi trường đô thị, từ

đó có rất nhiều vấn đề tâm lý xã hội mới xuất hiện và diễn ra phức tạp Mặt trái của đô thị hóa và kinh tế thị trường đã làm cho lối sống và các mối quan hệ xã hội bị biến dạng, các giá trị đạo đức bị lung lay, các mối quan hệ trong gia đình và cộng đồng trở nên lỏng lẻo, mâu thuẫn, xung đột ngày càng nhiều Như vậy, trước tình hình đó Phật giáo đã, đang và sẽ góp phần hồ trợ với Nhà nước (bằng hệ thống giáo lý) thực hiện tốt an sinh và đảm bảo công bàng xã hội, xây dựng hệ thống giá trị đạo đức (bắt đầu từ trong gia đình và lan tỏa tới cộng đồng) phù họp với thuần phong mỹ tục, đảm bảo tính kế thừa những nét đẹp truyền thống trong ứng xử nhưng vẫn bắt nhịp với lối sổng hiện đại

Vì những lí do nêu trên, chúng tôi đề xuất đề tài nghiên cứu: “Ảnh hưởng của giáo lý Phật

giáo đến giáo dục đạo đức trong gia đình ven đô Việt Nam hiện nay”.

2 Mục tiêu

Nghiên cứu này nhằm đem lại một bức tranh chung về thực trạng mức độ ảnh hưởng của những nội dung đạo đức căn bản được thể hiện trong giáo lý Phật giáo đến vấn đề giáo dục đạo đức trong gia đình ven đô Việt Nam hiện nay Từ đó, đề xuất những kiến nghị và giải pháp nhàm phát huy tính tích cực của giáo lý Phật giáo trong giáo dục đạo đức tại các gia đình ven đô

3 Phương pháp nghiên cún

Phương pháp nghiên cứu tài liệu

Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Phương pháp quan sát

Phương pháp phỏng vấn sâu

Phương pháp thảo luận nhóm

Phương pháp thống kê toán học

4 Tổng kết kết quả nghiên cứu

4.1 Tống quan tình hình nghiên cún ở nưóc ngoài về giáo lý phật giáo và sự tưoug đồng giữa những nội dung giáo lý vói giáo dục đạo đức

4.1.1 Những nghiên cứu theo xu hướng “Luân lỷ học và nhân bản ” - tìm kiếm sự tương

đồng trong quan niệm lý luận của tăm lý học về hành vi và xung đột với giáo lý Phật giáo

Đa số các nhà Tâm lý học xã hội như N.Miller, E.Fromm, K.Lewin, J.P.Chaplin, M.Follet, A.Kauzer đặc biệt quan tâm đến nghiên cứu hành vi cá nhân, hành vi nhóm, mâu thuẫn, xung đột trong các quan hệ cá nhân, quan hệ liên nhóm Theo các tác giả này, nếu các vấn đề của cá nhân,

2

Trang 6

nhóm, cộng đồng được giải quyết trên cơ sở tạo ra sự cân bằng (trên bình diện cá nhân và xã hội) thì mâu thuẫn và xung đột của xã hội sẽ giảm thiểu Những thuộc tính tâm lý cá nhân như tham lam,

kiêu ngạo, thù hận, ganh ghét, ích kỷ (trong Phật giáo là tham, sân, sĩ) của con người đều là

nguyên nhân tạo nên sự mất cân bằng tâm lý của cá nhân và nhóm xã hội và tạo ra các “vấn nạn” cho cá nhân và cộng đồng [3,4,5]

Theo quan niệm của Phật giáo, sự hài hòa của thế giới nhân loại được đặt trên nền tảng sự cân bằng tâm lý cá nhân Vì vậy, hành vi xã hội của cá nhân hay nhóm, cộng đồng phải được dựa trên nguyên tắc đó Bồi dưỡng phẩm chất (đức tính) đã được nhìn nhận là có giá trị văn hóa xã hội như: tự tiết chế, tâm ]ý an bình thanh tịnh, tự răn buộc, giúp đỡ đồng loại đó chính là đạo đức xã hội, ỉà cơ sở có thể làm giảm thiểu mâu thuẫn, xung đột trong chính mỗi cá nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng xã hội, đồng thời bồi dưỡng, phát triển nhân cách lành mạnh, có thể kiến lập được một

x ã hội lương thiện

Các nhà tâm lý học xã hội phương Tây đã đặc biệt quan tâm đến vấn đề xung đột, xung đột giá trị trong bản thân cá nhân và trong quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với nhóm

Và họ coi bất đồng, mâu thuẫn, xung đột khi nhu cầu, lợi ích không được thỏa mãn là nguyên nhân tạo ra những cảm xúc, hành vi tiêu cực, lệch chuẩn Trong khi đó, từ góc độ giáo lý Phật giáo, xung đột cũng luôn được đề cập đến và lý giải theo quan điểm của Phật giáo Xung đột xuất hiện là do những nhu cẩu, khát khao, ham muốn, mục tiêu của con người không được thỏa mãn Giải quyết sự xung đột đương nhiên liên hệ đến nhân tố quyết định của nó và khoảng cách xa gần của mục tiêu, động cơ cá nhân, cường độ nhu cầu cá nhân, ý chí, thời gian, kỳ vọng cá nhân Sự trắc trở, thất bại luôn tồn tại trong quá trình giải quyết xung đột Sự trắc trở có thể bởi hoàn cảnh như người nhà bị chết; có những trắc trở bởi yếu tố thể chất, như khuyết tật; hoặc trắc trở có nhân tố xã hội như ly hôn, thất nghiệp Phương thức đối phó với sự trắc trở, thất bại gồm có công kích, gây hấn (gián tiếp hoặc trực tiếp công kích, gây hấn), ảo tưởng và co rút (trở về với những hành vi trẻ con - như khóc lóc ồn ào, lạnh l ù n g s ợ hãi, dồn nén, kìm chế, phóng chiếu, né tránh, phù định, cự tuyệt, bù

trừ, hợp lý hóa, di chuyển Đó chính là các cơ chế phòng vệ trong tâm lý học Đức Phật dạy rằng

trên cơ bản, sự xung đột và bình an, thanh tịnh có thể kiểm nghiệm từ hai thứ tầng bậc: Thứ nhất, niết bàn là thanh tịnh, hài hòa một cách tuyệt đối; còn đau khô thì đầy dẫy sự bất an và xung đột Thứ hai giữa sự hài hòa (mục tiêu truy cầu lý tưởng của người tại gia) và thanh tịnh tuyệt đối (là lý tưởng truy cầu của người xuất gia) cũng có rất nhiều khác biệt Người tại gia chánh trực nếu tuân theo thủ đoạn họp pháp đế làm giàu, không tham lam thì có công đức và hon nữa có thể đạt được sự hài hòa; nếu người tại gia khởi lên tâm tham lam, khát cầu sự hường thụ quá độ thì chắc chắn là bị xung đột với người khác Người xuất gia vì xả bỏ tất cả, không những có khả năng giải trừ đau khổ

mà hơn nữa còn có thể truy tầm sự thanh tịnh cao nhất trong nội tâm của họ [19]

Phật giáo giải thích về những trắc trở, thất bại rằng, khoái lạc và hưởng thụ qua tham, sân, si của con người, khi mà chúng ta truy tầm kết quả biến thành rỗng tuếch thì sinh ra trắc trở, thất bại nặng nề Loại trắc trở thất bại sâu nặng hơn không tức khắc xuất hiện mà nó xuất hiện khi qua trải nghiệm, day rứt, dày vò hoặc đổ kỵ, ghen ghét, hận thù Ngoài sự trắc trở vì truy cầu thỏa mãn cảm quan đã gây nên, Phật giáo còn đề ra sự xung đột tâm lý của tự ngã bảo tồn (quyền lực, địa vị, danh vọng), các nhà tâm lý học phân loại nó là “nội xung đột”, một người có nhu cầu quyền lực mạnh mẽ thì sự xung đột tâm lý cũng to lớn và sự trắc trở, trở ngại mà họ gặp phải cũng rất nặng

nề Khi cảm giác trắc trở lên đến cao điểm là không thể tiếp nhận thì con người hiển nhiên lập tức gặp một loại hiện tương hy hữu đó là dục vọng và khát vọng muốn hủy diệt tự ngã Vì thế, xung đột

mà Phật giáo đã đề cập như phân tích động cơ căn nguyên thỏa mãn nhu cầu, bảo tồn tự ngã, hủy

3

Trang 7

diệt tự ngã và tham lam, ghét h ậ n .cùng với tâm lý học xã hội hiện đại có nhiều điểm tương đồng.

4.1.2 S ự tương dòng trong quan niệm lý luận của tâm lý học về động cơ với giáo lý Phật

giáo

Tâm lý học cũng như giáo lý Phật giáo luôn hướng tới lý giải hành vi của con người Theo các nhà Tâm lý học hoạt động như Leonchiev, Rubinstein, hành vi của các nhân lệ thuộc vào nhận thức và động cơ của họ, nhận thức không thể tách rời động cơ, động cơ thể hiện sự chín muồi của nhận thức, là động lực thúc đẩy hành vi cùa cá nhân [4,19]

Phật giáo coi dục vọng của con người là động cơ của mọi thống khổ của nhân sinh Phật

giáo dạy rằng có hai loại phương pháp có thể đạt đến sự phát triển trên phương diện tinh thần: Ninh

Tịnh (sự tĩnh lặng an bình)', Đống Kiến (sự nhìn thấy xuyên suốt bên trong sự vật) và cũng có 5 loại nhân tố có thể nhiễu loạn sự phát triển của sự ninh tịnh là dục cầu, ỷ chí xấu, lười biếng và chậm lụt, và Itì lắng, hoài nghi Đức Phật cũng đã chỉ dạy 7 loại nhân tố của Khai ngộ để có thể bồi

dưỡng tri thức và đổng kiến của chúng ta, đó là: chánh tư duy, truy cầu Phật Pháp, tinh thần, hỷ lạc, ninh tịnh, thiền định và trấn định (bình tĩnh)

Động cơ là cái mà vì nó con người hành động, nó có vai trò như một sự kích thích, thúc đẩy nguồn năng lực có trong con người, nguồn năng lực này có thể sinh ra hành động giúp cho con người đạt được mục tiêu nào đó trong cuộc sống Động cơ có thể chia thành hai phần đó là sinh lý

và tâm lý Phật giáo quan niệm động cơ chủ yếu dẫn đến sự bất an, căng thẳng, nóng nảy, lo lắng,

bồn chồn và cảm thọ đau khổ cả sự xung đột trên mặt tâm lý và sự bất an của nội tại là do dục cầu của con người, từ đó đề ra pháp môn bất nhị đe hướng dẫn muôn loài đạt đến con đường hạnh phúc, ấm no, hướng tới chân, thiện, mĩ.

Như vậy, rõ ràng có sự tương đồng giữa quan niệm lý luận của tâm lý học về động cơ và giáo lý Phật giáo trong quá trình xây dựng hệ giá trị đạo đức lành mạnh, giúp tạo động lực trong hành vi đạo đức của con người

4.1.3 Sự tương đồng trong quan niệm lý luận về nhân cách của tâm lý học với giáo lý Phật

giáo.

Nhân cách là tổ họp các phẩm chất tâm lý, nó tạo nên bộ mặt giá trị xã hội của con người Sigmund Freud (đại diện cho lý thuyết phân tâm cổ điển) cho rằng có ba loại tầng bậc tâm lý, đó là siêu ý thức, ý thức và vô thức Nội dung của ba tầng thức này tạo thành ba loại hệ thống tâm lý, tức

cái nó (id), cải tôi (ego) và cải siêu tôi (superego) được biểu hiện trong nhân cách Theo S.Freud thì

trong xã hội văn minh, thường do các loại áp lực của xã hội và thật khó để con người có thể được thỏa mãn các nhu cầu của mình một cách dễ dàng, bởi vậy mà nó biến thành nhân tố chủ yếu làm ảnh hưởng đến nhân cách Từ đó về sau, rất nhiều học thuyết, lý luận về nhân cách mà phát nguồn

từ học thuyết của Sigmund Freud và được tu chỉnh thêm, được gọi là “lý thuyết phân tâm m ới” ra đời Cuối năm 1930 đến đầu năm 1950, có rất nhiều học trò của Sigmund Freud đã phát biểu về những kiến giải và lý luận về tâm lý phân tích học, trong đó, Carl Jung chủ trương nhấn mạnh nhân cách là sự thăng bằng của ý thức và vô thức [5,18,19]

Lý thuyết tâm lý học cá nhân của Altred Adler đặc biệt nhấn mạnh đến kỳ vọng bẩm sinh (birth order) trong sự hình thành nhân cách, sự ảnh hưởng của việc bỏ bê hoặc nuông chiều trong sự phát triển của trẻ em, khái niệm một động lực về “cái ngã hoàn hảo” (self perfecting) trong sự tồn tại của con người, và ý tưởng cần nghiên cứu và đối xử với bệnh nhân như là “con người toàn thể” Một nguyên lý quan trọng khác trong lý thuyết của Adler đó là khẳng định những mơ tưởng của con người trong tuổi thơ có thể hướng dẫn cho sự nhận thức và các lựa chọn trong suốt cuộc đời họ, và

4

Trang 8

khả năng cùng làm việc với ngưới khác vì một lợi ích cộng đồng đóng vai trò trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách.

Nhà tâm lý học nhân văn A.MasIovv đã đề xuất hệ thống thang bậc nhu cầu của con người

và cũng coi đó là nguyên nhân thúc đấy của các hành vi của con người trong đời sống xã hội Theo ông, một xã hội hoàn hảo đó là xã hội cần khuyến khích con người tiến tới các nhu cầu khẳng định bản thân, tạo điều kiện cho cá nhân có cơ hội phát triển năng lực yêu thương đồng loại

Carl Rogers, một nhà tâm lý học nhân văn đã đề xuất liệu pháp 'Thân chủ irọng tâm ” là thuật

ngữ được chọn đế gọi tên cho một nhóm những phương pháp tham vấn tâm lý dựa trên quan điểm [ý thuyết về bản chất con người và các tương tác xã hội giả thiết rằng mỗi người đều sở hữu những tiềm năng cho sự lớn lên, tiềm năng cho những hành vi có hiệu quả và có khuynh hướng tự hiện thực hoá những tiềm năng của mình Sở dĩ một cá nhân nào đó phát triển những hành vi kém thích nghi là do

sự tập nhiễm những mẫu ứng xử sai lệch Bởi vì mồi cá nhân đều có nhu cầu mạnh mẽ được người khác chấp nhận, coi trọng nên anh ta hoặc cô ta có thể hành động một cách không tự nhiên, không thực tế và phát triển những cảm giác sai lệch về bản thân, về những điều mình mong muốn

Thuyết hành vi tạo tác của F Skinner lại coi học tập là quá trình và kết quả lĩnh hội kinh nghiệm cá nhân, tri thức, kỹ năng, kỹ xảo Học tập được xem như là biểu hiện của phương pháp hành vi nhất định trong các điều kiện tác động của các kích thích cụ thể Nói cách khác, học tập là

sự thay đổi một cách có hệ thống hành vi khi lặp lại tình huống giống nhau Học tập thể hiện như là nguyên tắc phương pháp luận cơ bản và nhiệm vụ chính của tâm lý học hành vi đó là nhân tố quan trọng của tác động điều trị trong các hệ thống tâm lý tri liệu, đặc biệt là trị liệu nhóm Tâm lý trị liệu hành vi thực chất là sử dụng trong lâm sàng các lý thuyết học tập, được hình thành trong hành vi F Skinner cho rằng hành vi củng cố là yếu tố điều chỉnh sự lệch chuẩn hành vi con người Và ông cũng đề cao vai trò của giáo dục trong hình thành và phát triển nhân cách, đồng thời cũng là một liệu pháp tâm lý giúp cá nhân điều chỉnh hành vi phù họp với chuẩn mực đạo đức chung của xã hội

Lý thuyết của Alfred Adler, Carl Rogers và F.Skinner rất gần gũi và tương đồng với quan điểm của Phật giáo (lấy chủng sinh là tâm điểm) luôn hướng chúng sinh tới sự giải thoát có giá trị thiết thực và nhân bản sâu sắc Phật giáo dạy con người phải sống với hiện tại, nhận ra sự khổ đau

đê đối mặt vượt qua, nhìn nhận thế giới tự nhiên cũng như nhân sinh bằng sự phân tích nhân - quả Theo Phật giáo nhân - quả là một chuỗi liên tục không gián đoạn và không hỗn loạn, có nghĩa là nhân nào quả ấy

Phật giáo đối với sự giải thích về nhân cách đã có sự bao hàm của triết học, đạo đức học và tâm lý học Phật giáo phủ định con người vốn có tự ngã thuần túy cố định (ego) vì nó chỉ là nhân duyên hòa họp Do sự quan hệ của nhân duyên hòa họp mà mỗi con người đều có ý thức, ký ức và thuộc tính của nhân cách để có thể phân biệt Ta, Người (chủ thể, khách thể) Phật giáo tiếp nhận quan điểm cho rằng con người có một nhân cách, giả hợp biến động bất thường, nhân cách chỉ là một loại danh tự của phương tiện được sử dụng để phân biệt giữa Người và Ta mà thôi, nhân cách chịu trách nhiệm về hành động của chính mình Phân tích một cách nghiêm chỉnh về tâm lý học hành vi cổ điển thì nhân cách cũng chỉ là một phương tiện giả danh, bởi nó biểu thị cho một loại chức năng thống nhất nào đó - như đi, đứng, tri giác, tư tưởng, quyết đ ịnh giống như chiếc xe ngựa, do sự kết hợp toàn thể của các bộ phận mới có thể gọi là xe ngựa được (sau này Lý thuyết TLH hành vi mới đã đưa yếu tố xã hội vào quá trình tạo nên hành vi của cá nhân); Nhân cách cũng thế, do thân thể, cảm giác, ý thức và định hướng hướng, giá trị V V là tổ hợp các thuộc tính tâm lý tạo nên giá trị xã hội của cá nhân mà thành và như thế mới có thể gọi là nhân cách

5

Trang 9

Giáo lý Phật giáo thể hiện sự tiếp nhận ý nghĩa trọng yếu về mối quan hệ tương hỗ giữa con người với hoàn cảnh xã hội Phật giáo cho ràng, luân lý xã hội có thể giúp cho con người kiến lập một quan hệ nhân tế lành mạnh và một lý tưởng xã hội hài hòa Mục tiêu trị liệu (nhân tâm) của đức Phật đặt trên tâm lý, khí chất của cá nhân biến hóa, Phật giáo truy tìm tung tích về sự xung đột căn bản của

cá nhân, xã hội và đã khẳng định là nó được bẳt nguồn từ tham lam, thù hận và vọng tưởng bất họp lý

về bản ngã Đói khát là phản ứng nội tại của sinh lý, dục tánh thì có khuynh hướng sinh lý và xã hội,

đó là: dục vọng nhục dục, dục vọng quyền lực, dục vọng danh vọng và địa vị là kết quả của quá trình tương hỗ giữa cá nhân với các hoạt động xã hội và điều kiện xã hội của cá nhân đó

Nói tóm lại, có thể thây khăng định, thông qua việc điêm luận các quan điểm cùa các nhà Tãm lý học xã hội, Tâm lý học hành vi, Tâm lý học nhân cách, chủng tôi tháy có moi liên hệ, thong nhất tương đổi trong giáo lý Phật giáo đoi với quan điêm của các nhà Tâm lý học Phương Tây về động cơ, hành vi và nhân cách và đây chính là những cơ sở khoa học mang tính định hướng để chúng tôi triển khai xây dựng khung lý thuyết cho đề tài.

4.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu ở trong nước về giáo lý Phật giáo và sự tưong đồng giữa những nội dung giáo lý với giáo dục đạo đức

4.2.1 Phật giáo và giáo tý giáo dục luân ỉỷ, đạo đức của Phật giáo thu hút được sự quan

tâm nghiên cứu của các nhà nghiên cứu Phật học, Văn hóa học, Tôn giáo học và Itình thành ba nhóm quan điểm khác nhau

Thứ nhất, nhóm quan điểm cho ràng, quá trình Phật giáo phát triển, truyền bá ờ Việt Nam gắn liền với quá trình hình thành phát triển tư tưởng đạo đức của con người Chính vì vậy, khi nghiên cứu lịch sử, tư tưởng đạo đức Việt Nam không thể không đề cập đến giáo lý Phật Giáo và những mối quan hệ, tác động qua lại giữa chúng

Bài viết: “ Vai trò Phật giáo Việt Nam cần được nhìn từ góc độ Phương pháp luận, thong nhất phân tích Phật giảo về mặt Triết học với phân tích về mặt X ã hội h ọ c ”, của Nguyễn Hữu

Vui, Đại học Quốc gia Hà Nội đã chỉ ra rằng để đánh giá vai trò của Phật giáo Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc cần coi sự thống nhất hai cách phân tích trên như một nguyên tắc phương pháp luận khoa học Bài viết cũng đề cập đến sự phân tích Xã hội học đã làm sáng tỏ vị trí, vai trò của Phật giáo trong đời sống xã hội, tức là với tính chất là một hiện tượng xã hội, Phật giáo được xem như một cấu trúc xã hội, một kết cấu — chức năng hay như một tiểu hệ thống kiến trúc thượng tầng Mặt khác, sự phân tích Phật giáo về mặt xã hội học còn nhằm sáng tỏ một vấn

đề là những nhu cầu xã hội nào đã sinh ra và tái hiện Đức tin trong Phật giáo, những nguyên nhân

làm cho nó có vị trí và một đời sống lâu dài trong xã hội Nghiên cứu “Vai trò của Phật giáo đối với sự ôn định và phát triển xã h ộ i”, của tác giả Nguyễn Thế Cường, Nguyễn Ngọc Lan (2012) đã

chỉ ra một số vai trò quan trọng của Phật giáo đối với sự phát triển xã hội, văn hóa Phật giáo Việt Nam thấm đẫm trong đạo đức, lối sống của người Việt và chuyển hóa thành một yếu tố sức mạnh của dân tộc ta trong công cuộc xây dựng nhà nước độc lập, phát triển và bảo vệ đất nước Vì vậy

mà Phật giáo ở nước ta đã gắn liền với lịch sử đời sống dân tộc, đồng thời Phật giáo cũng trang bị cho hành giả phương pháp quán tưởng với thiết bị là tâm để nhìn rõ bản tính chân thật của thực tại, cơ chế vận hành của hạnh phúc và đau khổ, những tiến trình gây ra những hệ quả độc hại, dẫn đến chuyên hóa sâu sắc nhận thức về thế giới, đưa tới sự bình an nội tâm và tấm lòng khoan ái giúp đỡ đối vói tha nhân để cùng phát triển

Bài viết: “Sự du nhập Việt Nam của Phật giáo từ Ản Độ và những thành quả của tác giả

Nguyễn Quốc Tuấn, tác giả đã chỉ ra quá trình du nhập Phật giáo từ Ấn Độ vào Việt Nam, bên

6

Trang 10

cạnh đó sự tiếp thu Phật giáo đã để lại nhiều hệ quả về mặt văn hóa, chính trị, xã hội, đặc biệt để lại những hệ quả chính trị - xã hội có tính tích cực rõ rệt Qua đây tác giả cũng nhấn mạnh vai trò của các nhà sư không chỉ tham gia vào một lĩnh vực mà hầu như các lĩnh vực nào cũng in dấu các nhà sư, sự đóng góp không mệt mỏi của nhiều thế hệ nhà sư cho sự nghiệp dựng nước và giữ nước ngày càng được nhận thức đầy đủ hơn, rõ ràng hơn trong thiên niên kỉ đầu Sự đóng góp đó không những giúp cho dân tộc trong đấu tranh đòi độc lập mà còn tạo tiền đề cho công cuộc xây

dựng đất nước “Cơ sở tồn tại và gắn bó cùa Phật giáo trong đời sổng người dân Cà Mau ” của

Đỗ Lan Hiền, bài viết đã chỉ ra mặc dù triết lý nhà Phật rất trừu tượng, khó hiểu nhưng những người dân lao động vẫn thấy gần gũi, thân quen, Phật giáo là tôn giáo có lối truyền đạo ôn hòa và

có thể chung sống hòa bình với các tôn giáo độc thân khác Phật giáo có nhiều điểm tương thích với tâm lý, hoàn cảnh nhân sinh của người Việt nói chung và người dân phương Nam nói riêng, Phật giáo đã bén rễ và ăn sâu vào đời sống của người dân Cà Mau, chi phối và ảnh hưởng sâu sắc đến mọi mặt của đời sống xã hội con người Việt Nam

Bài viết: “Nghiên cứu và ứng dụng các giá trị văn hóa Phật giáo trong xã hội Việt Nam hiện

n a y ”, của Nguyễn Hồng Dương, tác giả đã chỉ ra với những đặc thù của Phật giáo Việt Nam mà

giá trị văn hóa của Phật giáo vào sự phát triển của đất nước hiện nay, cần tập trung vào một số nội dung sau: Một là, giữ gìn và phát huy văn hóa Phật giáo phục vụ cho mục tiêu giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, hai là vận dụng tư tưởng từ bi hỉ xả cứu khố cứu nạn của Phật giáo vào giải quyết một số vấn đề xã hội đó là việc kêu gọi tăng ni, Phật tử phát tâm công đức làm các công việc từ thiện bác ái: Nuôi dạy trẻ mồ côi, nuôi người già không nơi nương tựa, mở lớp học tình thương, khám chữa bệnh miễn phí cho người nghèo, ủng hộ đồng bào lũ lụt, xóa nhà tình thương, xây dựng đời sống văn hóa, tham gia các phong trào về xóa đói giảm nghèo; Tư tưởng kinh tế Phật giáo là tôn trọng môi trường, kinh tế Việt Nam trong ngày nay phải được phát triển bền vững, bảo vệ môi trường Như vậy chúng ta kế thừa và phát huy một mảng tiềm năng văn hóa dân tộc, thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo, trong đó có tư tưởng Hồ Chí Minh về Phật giáo

Các nhà nghiên cứu đã rút ra kết luận như sau: Nghiên cứu Phật giáo, nhìn nhận và đánh giá

nó là một nội dung quan trọng nhằm tìm hiểu lịch sử cũng như định hướng cho sự phát triển nhân cách, tư duy con người Việt Nam trong tương lai [1,12,16,17]

Thứ hai, những nghiên cứu lý luận chỉ ra: giáo lý Phật giáo có nhiều điểm tương đồng với giá trị đạo đức của người Việt như: Tính xã hội và nhân bản của đạo đức Phật Giáo; Mười chuẩn mực đạo đức căn bản của Phật giáo; Quy luật nhân quả, kiếp luân hồi, bản ngã, chế ngự tham sân si Các nhà nghiên cứu theo xu hướng này khẳng định: mặc dù Phật giáo du nhập vào Việt Nam sau một số tín ngưỡng dân gian như Thờ Mầu, thờ Thành Hoàng, Thờ cúng Tổ tiên thế nhưng Phật giáo đã giải đáp được những băn khoăn mang tính triết lý nhân sinh mà tín ngưỡng dân gian chưa thể đáp ứng được Với những tư tưởng về “vô thường vô ngã”, “từ, bi, hỷ, xả”, “nghiệp chướng, luân hồi”, “nhân quả” P h ật giáo đã phần nào đáp ứng được nhu cầu tâm linh của người dân lúc bấy giờ Do đó, Phật giáo đã nhanh chóng tạo lập được cơ sở thực tiễn vững chắc cho sự tồn tại và phát triển của mình trên đất nước Việt Nam Cùng với quá trình du nhập và phát triển đó, những chuẩn mực đạo đức Phật giáo cũng xâm nhập và tác động nhất đinh đến nền đạo đức của dân tộc Việt Nam Đạo đức Phật giáo đã góp phần bổ khuyết những giá trị đạo đức mới phù hợp với tâm

lý, giá trị của người Việt [18,19]

7

Trang 11

Thứ ba là những công trình nghiên cứu lý luận về ảnh hưởng của Phật Giáo đến các giá trị đạo dức xã hội của người Việt, đa số các tác giả khang định: Phật giáo được xem là một trong những nhân tố quan trọng góp phần dịnh hình nên các quan niệm, chuẩn mực, hệ giá trị đạo đức trong xã hội Trong hệ thống giáo lý của Phật giáo cho thấy những cơ sở lý luận xác thực cho vấn

đề đạo đức xã hội hướng con người tới Chân, Thiện, Mỹ Đạo đức Phật giáo đã thực sự ăn sâu vào đạo lý truyền thống dân tộc, ảnh hưởng sâu sắc đến tâm lý, lối sống, phong tục, tập quán của người Việt Người Việt tiếp nhận đạo Phật không phải chỉ là nội dung triết lý ẩn trong đó, mà quan trọng hơn là những hành vi đạo đức mang tính hướng thiện Họ tiếp thu Phật giáo không phải với tư cách

là một hệ tư tưởng với các giáo lý cao siêu mà là những điều rất gần gũi với tâm tư, tình cảm của minh [26,27,28,29]

Sau cùng là những công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của tư tưởng Phật Giáo đến đời sống của các tầng lóp dân cư, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến thanh thiếu niên, nhưng những nghiên cứu này mới chỉ dừng ở góc độ mô tả hiện tượng, chứ không lý giải được nguyên nhân, bản chất của hiện tượng và đề xuất các biện pháp nhằm phát huy mặt tích cực của tư tưởng Phật giáo

4.2.2 Phật giáo và các giáo lý giáo dục đạo đức con người cũng thu hút được sự quan tâm

nglíiên cứu của khá nhiều các nhà công tác xã hội, tâm lý học và x ã hội học trong nước

Các nhà Tâm lý học, trên bình diện lý luận chủ yếu quan tâm nghiên cứu mối dây liên hệ giữa Phật giáo Việt Nam và tâm lý học và các tác giả đã phát hiện ra mối tương đồng thể hiện ở những mục đích sau đây:

Thứ nhất, cả Phật giáo và tâm lý học đều cung cấp cho con người phương pháp tự nhận thức chính mình

Thứ hai, giúp con người định hướng tư duy và hành động

Thứ ba, giúp con người thay đổi tình trạng đau khổ do rối loạn tâm lý, đi sâu vào đời sổng nội tâm để giải phóng những ức chế tâm lý

v ề mặt lý luận, các nhà Tâm lý học tôn giáo cũng khẳng định, Phật giáo quan tâm đến con người như một cá nhân cụ thể Vì thế, Phật giáo khẳng định con người là sự phối hợp của các loại vật chất, các giác quan, của tri giác, của những bộ phận cấu thành tâm trí và của ý thức Sự kết nối này không ôn định bởi mồi một tập họp lại tuân thủ theo một lôgic riêng trong nhịp tiến hóa của các thành tố từ khi sinh ra cho đến khi chết đi

Các nhà Tâm lý học còn chỉ ra cơ sở tâm lý học của hoạt động thờ cúng tổ tiên và coi chúng như một hình thức biểu hiện, xâm nhập của Phật giáo trong các gia đình Việt Nam Lương c ần Liêm

(2004), trong cuôn Từ nền Tâm lý Châu Á: tính nhân văn, chính trị và đạo đức, đã khẳng định: Việc

ghi nhớ người đã khuất sẽ làm dịu đi một cách từ từ nỗi đau mất người thân trong tâm trí của người sông và từ đó “chuyến ký ức cá nhân thành điều mà mọi người đểu có thể chia sẻ được với nhau

Bàn thờ trong mỗi gia đình gợi cho mỗi thành viên nhớ rằng linh hồn người đã mất vẫn còn tồn tại, họ không vô hình mà luôn hiện hữu trong tâm trí những người đang sống, chúng ta vẫn giữ mối liên hệ mật thiết với người thân của mình cho dù họ đã nằm sâu dưới lòng đất và khi chúng ta chết, chúng ta

sẽ tái ngộ với họ Nhìn từ góc độ văn hóa truyền thống, thờ cúng tổ tiên được xem như phương thức thê hiện đạo hiếu, là quy tắc hành xử đủng đắn trong xã hội và mang đậm bản sắc dân tộc, là sự kết hợp giữa những giá trị đạo đức truyền thống với giáo lý răn dạy luân lý của Phật giáo [12,16,19]

8

Trang 12

Sâu hơn nữa, trong Tâm lý học trị liệu, một chuyên ngành ứng dụng của Tâm lý học, người

ta áp dụng Thiền (Meditation) như một hình thức trị liệu bằng thư giãn mới Có khá nhiều các tài liệu về thực hành các phương pháp chăm chữa sức khỏe tinh thần khẳng định rằng: Việc nghe giảng các giáo lý, những quan điểm của đạo Phật tỏ ra có tác dụng rõ rệt trong việc làm giảm triệu chứng

và mang lại an dịu tinh thẩn cho thân chủ mà không cần thiết phải dùng đến thuốc Tuy ở góc độ lý luận, mặc dù vẫn còn nhiều tranh cãi về tính khoa học của các phương pháp chăm chữa này nhưng những hiệu quả trong ứng dụng thực tế của chúng là không thể phủ nhận

Trong lĩnh vực công tác xã hội, các nhà công tác xã hội cũng có những nghiên cứu về lý luận nhằm phát hiện ra cơ chế tâm lý học tạo nên sự tưưng đồng giữa các hoạt động xã hội của Phật

giáo với công tác xã hội Nguyễn Hồi Loan (2012) đã khẳng định: “ vấn để cốt tủy cùa Phật giảo đó

là căn nguyên khô đau cùa nhân loại và con đường giải thoát, cũng vậy, van đề cốt tủy của công tác

xã hội về cơ ban cũng là những vẩn đề đặt ra cùa Phật giáo - nguyên nhân của vấn nạn con người gặp phải trong đời sống cùa họ và cách í hức (con đường) giải thoái vấn nạn đó trên cơ sở trợ giúp, can thiệp, trị liệu (liên két nguồn lực, dịch vụ) của nhân viên công tác xã hội nhằm nâng cao năng lực, tăng cường chức năng xã hội cho cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn nạn Irên bình diện cá nhân và xã hội nhằm đàm bào an sinh xã hội Các phạm trù: động cơ (motivation), hoạt động (action) và cảm xúc (emotion); nhận thức (cognition), nhân cách (personality), hành vi (behaviour), can thiệp (prevention), trị liệu (therapy) đều là các phạm trù

“sổng c ò n ”, “thẩm đẫm ” và xuyên suốt không chi trong giáo lý và thực hành các lễ nghi của Phật giáo và trong nghiên cứu lý luận và ứng dụng của Tâm lý học mà còn thê hiện trong lý thuyết và thực hành, ứng dụng cùa công tác xã hội ở nước ta hiện nay” [ 19]

Tiếp cận tìm kiếm sự tương đồng giữa Phật giáo, tâm lý học và công tác xã hội trên phương

diện trị liệu, theo Nguyễn Hồi Loan (2012): “Các van nạn của con ngitời” cùa tâm lý học, công tác

xã hội và "Nhân sinh là đau k h ổ ” của Phật giáo dù không có sự micu tỉnh nhưng vẫn đã gặp nhau Phật giáo để ra phương pháp dùng quan niệm vô ngã đê có thê trị liệu sự nóng này, lo lang, khổ đau và phiền chán Phật giáo cũng cho rằng con người sở d ĩ nóng này lo lang bất an là bởi vì bám víu vào sự chấp trước nơi tự ngã Tâm lý học, Công tác xã hội đưa ra các cách trị liệu, can (hiệp như nhận thức, hành vi, nhận thức - hành vi, nhân văn .đ ê can thiệp, trị liệu có hiệu quả những vấn nạn con người Phật giảo thì đề ra tình thần vô ngã đê giải quyết vấn đề một cách rốt ráo vấn nạn của con ngư ời”; Tác giả đi đến kết luận như sau: “Đối chiếu triết lý của Phật giảo với các mục tiêu của CTXH dưới góc độ TLH chúng ta thấy có sự trùng lặp đáng kể, các cơ sở lý luận khoa hoạc và thực tiễn hiện nay chủng ta có thê xây dựng một cách tiếp cận mới trong công lác xã hội tại Việt Nam mang tính dân tộc, phù hợp với truyền thong văn hóa dân tộc nham nâng cao hiệu quả, chất lượng cùa hoạt động này, đó là cách tiếp cận Phật giáo trong C TX H ” [19]

Các nhà công tác xã hội cũng đã có những tổng kết về hoạt động thực tế của giáo hội Phật giáo Việt Nam với vấn đề an sinh xã hội Họ coi, hoạt động từ thiện xã hội là một hoạt động cụ thể

về chức năng xã hội của Phật giáo, những hoạt động từ thiện đó đã nói lên ý nghĩa cao đẹp của đạo Phật và đạo lý dân tộc Việt Nam, thể hiện tính hiệu quả, thiết thực góp phần trợ giúp cho những người yếm thế vượt qua những nan đề họ gặp phải trong cuộc sống Hoạt động từ thiện của Phật giáo Bình Dương và Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh được coi là hoạt động mang tính điển hình

và phổ biến trong giáo hội, là sự hiện thực hóa những giáo lý Phật giáo vào trợ giúp con người trong đời sống thế tục Qua việc tìm hiểu vấn đề hoạt động từ thiện xã hội của Phật giáo Việt Nam của các nhà công tác xã hội, chúng ta phần nào hiểu thêm được tư tường của Phật giáo Giáo lý Phật giáo mang tính độ sinh, giúp cho con người thức tỉnh, bô ác làm lành, vượt qua mọi khổ đau phiền

9

Trang 13

muộn ngay ở trong hiện tại để có một cuộc sống hạnh phúc, an lạc cho dù còn nhiều thiếu thốn về vật chất hay bất cứ một yếu tố khách quan nào đưa lại, qua đó cho chúng ta thấy rõ vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng hình thành tình yêu thương và trách nhiệm xã hội của mỗi cá nhân trong cộng dồng.

Những kết quả nghiên cứu, tổng kết trên đây khiến chúng ta không thể phủ nhận những giá trị đạo đức - xã hội to lớn mà Phật giáo đã mang lại Hệ thống giáo lý đạo đức của Phật giáo giúp con người sống thân ái, yêu thương nhau, xã hội yên bình Như vậy trong cả quá khứ, hiện tại và tương lai, Phật giáo luôn luôn tồn tại và gắn liền với cuộc sống của con người Việt Nam Công tác

từ thiện xã hội là một trong những công tác Phật sự trọng yếu của Giáo hội Công tác từ thiện được Giáo hội chỉ đạo các thành viên thực hiện thường xuyên, liên tục, kịp thời và được xem như một nội dung tu tập thực hành giáo lý từ bi của Đạo Phật Giáo hội luôn có mặt đúng lúc và kịp thời cứu trợ đồng bào bị thiên tai, lũ lụt và tham gia tích cực ủng hộ phong trào xóa đói giảm nghèo, chăm sóc các đối tượng người có công với đất nước Các hoạt động từ thiện xã hội cũng như những giá trị nhân bản Phật giáo sẽ góp phần bảo vệ và xây dựng xã hội ngày càng ổn định, phát triển

Như vậy, có thể nói, đã có khá nhiều nghiên cứu (chủ yếu dưới góc độ lý luận) phân tích,

mo xẻ, tìm kiếm sự liên hệ giữa giáo lý Phật giáo với những giá trị đạo đức mà người Việt Nam theo đuổi thực hành trong cuộc sống thực nhung chưa hề có nghiên cứu nào chuyên sâu tìm ra sự ảnh hưởng của giáo lý Phật giáo đến vấn đề giáo dục đạo đức trong các gia đình ven đô hiện nay

Trong quá trình tìm kiếm các tài liệu khác nhau để tổng quan về vấn đề nghiên cứu chính của đề tài, chúng tôi nhận thay, vấn đề đô thị hóa, tốc độ đô thị hóa nhanh và mạnh bên cạnh những mặt tích cực thì còn rất nhiều hệ lụy xã hội phải giải quyết như: sự phát triển không bền vững, sự gia tăng của các tệ nạn xã hội, thất nghiệp, mất đất canh tác, mất việc làm, sự lung lay, biến đối của các giá trị đạo đức truyền thống trong gia đình, tất cả những vấn đề này khiến cho gia đình ven đô đang phải đối diện với sự cố kết không bền chặt, mâu thuẫn, xung đột ngay trong chính bản thân nội tại từng gia đình Những giá trị đạo đức trong gia đình lung lay tất yếu sẽ ảnh hưởng đến sự cố kết, tương trợ lẫn nhau trong cộng đồng Chính vì thế, để giúp cho các gia đình ven đô có thể thích nghi được với quá trình đô thị hóa thì việc xây dựng một hệ thống những giá trị đạo đức phù họp với bản săc truyền thống, thích nghi được với lối sống hiện đại và vận hành chúng để củng cố và duy trì các mối quan hệ gia đình bền chặt là việc làm cần thiết

Như đã phân tích ở trên, những giá trị đạo đức được phổ biển trong đạo Phật có rất nhiều điếm tương đồng với hệ thống đạo đức truyền thống của người Việt Nam nói chung, người dân ven

đô nói riêng Chính vì vậy, việc tổng quan các công trình nghiên cứu về giáo lý Phật giáo, sự tương đồng giữa giáo lý Phật giáo với giá trị đạo đức của người Việt, các vấn đề về gia đình ven đô trong quá trình đô thị hóa đã bước đầu giúp cho chúng tôi xây dựng khung lý thuyết để tìm ra mức độ ảnh hưởng, phổ biến thật sự của giáo lý Phật giáo trong giáo dục đời sống đạo đức gia đình ven đô

4.3 Ket quả nghiên cứu thực tiễn

Vấn đề giáo dục đạo đức trong gia đình là rất quan trọng Kinh tế phát triển chính là yếu tố đem đến cả thuận lợi và khó khăn cho việ giáo dục đạo đức cho con cái trong gia đỉnh Các giá trị đạo đức được ưu tiên lựa chọn khi giáo dục con cái lần lượt là gia đình, bản thân, cộng đồng.Nhận thức của người dân về các nội dung căn bản trong giáo lý đạo Phật là rất đúng đắn Các nội dung căn bản này được người dân đánh giá là rất phù họp với những giá trị đạo đức được họ lựa chọn giáo dục cho con cái và có ý nghĩa quan rất quan trọng với vấn đề giáo dục đạo đức Người

10

Trang 14

dân thường xuyên áp dụng những nội dung giáo lý căn bản đó vào để giáo dục đạo dức cho con cái trong gia đình.

Các cơ chế tâm lý xã hội nảy sinh trong quá trình giáo dục đạo dức cho con cái trong gia đình dưới sự ảnh hưởng của giáo lý đạo Phật bao gồm bắt chước, lây lan và ám thị Trong đó cơ chế ám thị là cơ chế chủ đạo và có tác động mạnh nhất đến quá trình giáo dục đạo dức Các cơ chế này được thực hiện hiệu quả

5 Đánh giá về các kết quả đã đạt đưọc và kết luận

Vấn đề giáo dục đạo đức trong gia đình có vai trò rất quan trọng trong cả lý luận và thực tiễn Kinh tế phát triển đem đến cả những thuận lợi và những khó khăn đối với vấn đề này Trên thực tế, các nội dung cơ bản của giáo lý Phật giáo có tác động rất nhiều đến việc giáo dục đạo đức cho con cái trong gia đinh bởi từ lâu, Phật giáo nói chung đã ăn sâu, đóng một vai trò quan trọng trong văn hóa người Việt

Cũng như các quá trình ảnh hưởng xã hội khác, các cơ chế tâm lý xã hội nảy sinh trong quá trình giáo dục đạo đức cho con cái trong gia đình đó là bắt chước, ám thị và lây lan Trong đó, qua nghiên cứu này, chúng tôi chỉ ra cơ chế ám thị là cơ chế chủ chốt nhất Các cơ chế này được thực hiện ờ mức hiệu quả, đã tác động thay đổi hành vi được ở các chủ thể

Để việc giáo dục đạo đức cho con cái trong gia đình đạt hiệu quả cao hơn, tich cực hơn, chúng tôi đề xuất kiến nghị về phía các bậc phụ huynh cần nắm bắt chính xác các nội dung đạo đức muốn giáo dục cho con cái

Các bậc cha mẹ cũng cần tìm hiếu và nắm bắt được tâm sinh lý của con cái, từ đó có những cách thức giáo dục con cái thật phù họp, đạt hiệu quả cao nhất

Các bậc cha mẹ cũng cần cân bàng thời gian làm việc và thời gian chăm sóc, quan tâm đếncon cái

6 Tóm tắt kết quả (tiếng Việt và tiếng Anh)

Trên cơ sở đánh giá sự hiểu biết của người dân ven đô về các nội dung căn bản củ a giáo

lý Phật giáo, m ức độ phù hợp giữa nội dung đạo đức Phật giáo với nội dung đạo đ ứ c đang theo đuổi, vận hành trong gia đình, cộng đồng và với chính bản thân thế hệ trẻ, bài v iế t này

sẽ tập trung vào phân tích nhóm các phươ ng pháp chính được sử dụng trong giáo dụ c con cái tại các gia đình ven đô và hiệu quả của các phương pháp đó trong việc giúp con cái thực hành, vận dụng giáo lý Phật giáo vào thực tiễn cuộc sống hàng ngày

Avvareness o f suburban residents of the basic Buddhist doctrine is correct and proíound These contents are appreciated as very consistent with the moral values they have selected for educating their children in the family The educational style used most is to set an example, a modeling Besides, the parents are also to create conditions for their children to experience the contents o f Buddhist doctrine in practice The parents also admitted that the experience was advised from those who went ahead and were very meaningíul to them in selecting and providing knowledge and seeking appropriate methods to education their children

PHẦN III SẢN PHẨM, CÔNG BỐ VÀ KÉT QUẢ ĐÀO TẠO CỦA ĐÊ TÀI

3.1 Kết quả nghicn cứu

TT Tên sản phấm Yêu cầu khoa học hoặc/và chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật

11

Trang 15

1 Ảnh hưởng của giáo lý Phật

giáo đến sự lựa chọn các giá

trị đạo đức trong giáo dục con

cái tại các gia đình ven đô

Việt Nam hiện nay

Đánh giá tầm quan trọng và mức độ ưu tiên trong lựa chọn các giá trị đạo đức khi giáo dục con cái dưới ảnh hưởng của giáo lý Phật giáo

Các nội dung căn bản của giáo lý Phật giáo được người dân ven đô đánh giá

là rất phù hợp với những giá trị đạo đức mà họ lựa chọn trong giáo dục cho con cái

Các nội dung giáo lý có ý nghĩa rất quan trọng trong định hướ ng hành vi, thái

độ ứng x ử với bản thân, gia đình, cộng đồng

C hính vì thế, người dân ven đô thườ ng xuyên áp dụng những nội dung giáo

lý căn bản của Phật giáo vào giáo dục đạo đức cho con cái trong gia đình

2 ỉníluence o f Buddhist doctrine

on methods o f moral

education in íầmilies in

suburban in Vietnam today (A

cuse study o f Tao Duong Van

commune, Ung Hoa district,

Ha Noi)

Đ ánh giá sự hiểu biết của người dân ven đô về các nội dung căn bản của giáo

lý Phật giáo

M ức độ phù hợp giữa nội dung đạo đức Phật giáo với nội dung đạo đức đang theo đuổi, vận hành trong eia đình, cộng đồng và với chính bản thân thể hệ trẻ

Phân tích nhóm các phươ ng pháp chính được

sử dụng trong giáo dục con cái tại các gia đình ven đô

và hiệu quả của các phương pháp đó trong việc giúp con cái thực hành, vận dụng giáo lý Phật giáo vào thực tiễn cuộc sống hàng ngày

3 Buddhism in VietNam: From

philanthropy to Buddhist

social work

Triết lý căn bản của Phật giáo và sự thâm nhập của triết lý này trong Công tác xã hội tại Việt nam

Mức độ, hình thức, nội dung

và tính chất của hoạt động trợ giúp tiệm cận dần tới công tác xã hội cũng theo sự phát triển của xã hội, đặc biệt tùy thuộc vào mức độ nhập thế (thế tục) cuả Phật giáo

VN ở các giai đoạn lịch sử nhất định Nhà chùa thực hiện (đưa) các giáo lý của phật giáo thành thực tế trong đời sống hiện thực, về bản chất là sự lan tỏa của Phật giáo đến đời sống của cộng đồng

4 Triết lý nhân quả của Phật

giáo trong chăm sóc, trợ giúp

12

Trang 16

Bán thảo sách chuyên khảo:

Giáo dục đạo đức trong gia

dinh ven đô Việt Nam hiện

nay dưới tác động của giáo lý

Phật giáo

Phần 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về giáo dục đạo đức trong gia đình ven đô dưới tác động của giáo lý Phật giáo

Phần 2: Thực trạngPhần 3: các mô hình và các

cơ chế tâm lý trong giáo dục đạo đức tại các gia đình ven đô

Bản thảo sách dày gần 400 trang gồm đầy đù các nội dung như đã đăng ký

3.2 H ình thức, cấp độ công bố kết quả

Tình trạng

(Đã in/ chấp nhận in/ đã nộp đơn/ đã được chấp nhận đơn hợp lệ/ đã được cấp giấy xác nhận SH TT/ xác nhận sử dụng sản phẩm)

Ghi địa chỉ

và cảm ơn

sự tài trợ của ĐHQGHN đúng quy đinh

Đánh giá chung

(Đạt, không đạt)

1 Công trình công bố trên tạp chí khoa học quốc tế theo hệ thống ISI/Scopus

1.1

1.2

2 Sách chuyên khảo được xuất bản hoặc ký hợp đồng xuất bản

2.1 Giáo dục đạo đức trong gia đình

ven đô Việt Nam hiện nay dưới tác

động của giáo lý Phật giáo

5 Bài báo trên các tạp chí khoa học của ĐHQGHN, tạp chí khoa học chuyên ngành

quốc gia hoặc báo cáo khoa học đăng trong kỷ yếu hội nghị quốc tế

5.1 Anh hưởng của giáo lý Phật giáo

đến sự lựa chọn các giá trị đạo đức

trong giáo dục con cái tại các gia

đình ven đô Việt Nam hiện nay

5.2 lntluence of Buddhist doctrine on

methods o f moral education in

lầmilies in suburban in Vietnam

today (A case study of Tao Duong

Van commune, Ung Hoa district,

Ha Noi)

5.3 lìuđđhism in VietNam: From

philanthropy to Buddhist sociaỉ

work

Hội thảo quôc tê vê Phật giáo trong công tác xã hội tai Nhât bản

X

5.4 Triết lý nhân quả của Phật giáo Hội thảo quôc tê nhân kỷ X

13

Trang 17

trong chăm sóc, trợ giúp người

Cột sản phâm khoa học công nghệ: Liệt kê các thông tin các sản phẩm KHCN theo thứ tự

<tén tác giả, tên công trình, tên tạp chí/nhà xuất bản, so phát hành, năm phát hành, trang đăng công trình, mã công trình đăng tạp chí/sách chuyên kháo (DOI), loại tạp chí ISI/Scopus>

Các an phâm khoa học (bài bảo, báo cáo KH, sách chuyên khảo ) chỉ đươc chấp nhân nếu

có ghi nhận địa chỉ và cảm ơn tài trợ của ĐHOGHN theo đúng quy định.

Bản phô tô toàn văn các ẩn phẩm này phải đưa vào phụ lục các minh chứng cùa báo cáo Riêng sách chuyên khảo cần có bùn phô tô bìa, trang đầu và trang cuối có ghi thông tin mã số xuất bản.

3.3 Kết quả đào tạo

TT Họ và tên

Thòi gian và kinh phí tham gia đề tài

(sổ tháng/số tiền)

Công trình công bô liên quan

(Sàn phâm KHCN, luận án, luận

Cột công trình công bố ghi như mục III ỉ.

PHẦN IV TỎNG HỢP KẾT QUẢ CÁC SẢN PHẨM KH&CN VÀ ĐÀO TẠO CỦA ĐẺ TÀI

đăng ký

Sô lượng đã hoàn thành

1 Bài báo công bố trên tạp chí khoa học quốc tế theo hệ thống

4 Bài báo quôc tê không thuộc hệ thông ISI/Scopus

5 Sô lượng bài báo trên các tạp chí khoa học của ĐHQGHN, c ò o^t

14

Trang 18

tạp chí khoa học chuyên ngành quôc gia hoặc báo cáo khoa

học đăng trong kỷ yếu hội nghị quốc tế

6 Háo cáo khoa học kiên nghị, tư vân chính sách theo đặt

hàng của đon vị sử dụng

7 Kêt quả dự kiên được ứng dụng tại các cơ quan hoạch định

chính sách hoặc cơ sở ứng dụng KH&CN

8 Dào tao/hỗ trơ đào tao NCS

PHẦN V TÌNH HÌNH s ử DỤNG KINH PHÍ

t

Kinh phí đưọc duyệt

(triệu đồng)

Kinh phí thực hiện

(triệu đồng)

Ghi chú

3 Điêu tra khảo sát thu thập sô liệu, xử lý sô liệu,

PHẢN VI PHỤ LỤC (minh chứng các sản phẩm nêu ờ Phần III)

Trang 19

VASP JOURNAL 0F SOCIAL

Trang 20

Tạp chí

Tâm lý học xã hội

VASP JOURNAL 0F SOCIAL PSYCHOLOGY

M Ụ C L Ụ C

Trần Thu Hương và Nguyễn Minh Hà (1)

Plân tích khái niệm “Người mẹ không đủ tốt” theo quan điểm của Donald w.

Wínnicot qua nghiên cứu một trưòng họp trẻ có chậm trễ ngôn ngữ

Tnệu chứng rối loạn tress sau sang chấn của phụ nữ bị bạo hành gia đình đến nhà

tạn lánh

Ả)h hường của giáo lý Phật giáo đến sự lựa chọn các giá trị đạo đức trong giáo

dic con cái tại các gia đình ven đô hiện nay

Tìực trạng nhu cầu giao tiếp của người dân tái định cư

Píát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi qua việc dạy trẻ kê chuyện

th:o kinh nghiệm

Ký năng thuyết phục ngưòi dân của công an xã

Đio Thị Hồng, Huỳnh Ngọc Khoa, Nguyễn Hoàng Trang 70Tiực trạng kỹ năng sống của sinh viên Trưòng Cao đẳng Binh Định

Niận thức của sinh viên ngành học mầm non về vấn đề bạo hành trẻ trong các

trròng mầm non

Đinh giá nhu cầu đào tạo kỹ năng giao tiếp cùa sinh viên khoa sự phạm Trưòng

Đii học Bạc Liêu

Qiản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh hệ chính quy tại Trường Đại học Giao

ứòng vận tải

Trang 21

Nguyễn Thị Thu Hà 101Mức độ hiểu biết lẫn nhau trong tương họp tâm lý giữa cán bộ quản lý và học viên

đào tạo sỹ quan cấp phân đội

Kỳ năng quản lý cảm xúc lo âu trong hoạt động học tập của sinh viên nhìn từ góc

độ của một số biến số

Năng lực tổ chức hoạt động giáo dục trong gia đinh của cha mẹ học sinh trung

học cơ sỏ' Nghĩa Tân

Nhận thức của sinh viên trường Đại học Hồng Đức về tệ nạn xã hội

Ghi chú: (1) PGS.TS Trần Thu Hưong ; (2) TS Trần Thu Hưcmg

Trang 22

30 Tạp chí Tâm lý học xã hội số 6, 6 - 2016

ẢNH HƯỞNG CỦA GIÁO LÝ PHẬT GIÁO ĐÉN s ự LỰA CHỌN CÁC GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRONG GIÁO DỤC CON CÁI TẠI CÁC GIA ĐÌNH VEN ĐÔ HIỆN NAY

(Nghiên cứu trư ờ n g họp xã Tảo Dương V ăn, ứ n g Hòa, Hà Nội)

Bài báo được viết dựa trên kết quả nghiên cứu của đề tài cấp Đại học Quốc gia, mã sô QG 15.46 “Anh hưởng của giáo lý Phật giảo âến giáo dục đạo đức trong các gia đình ven đô Việt Nam hiện n a y ”.

T ừ khóa: Giá trị đạo đức; Giáo dục đạo đức; Giáo lý Phật giáo

Ngày nhận bài: 1/2016; Ngày duyệt đăng bài: 25/5/2016

1 Đ ặt vấn đề

Thông qua tìm hiểu các quan điểm của các nhà Tâm lý học xã hội, Tâm

lý học hành vi, Tâm lý học nhân cách ta thấy có mối liên hệ, thống nhất tương

Trang 23

Tạp chí Tâm lý học xã hội số 6, 6 - 2016 31

đối trong giáo lý Phật siáo đối với quan điểm của các nhà Tâm lý học phương Tây về động cơ, hành vi và nhân cách con người Đây chính là những cơ sở khoa học mang tính định hướng để đề tài triển khai xây dựng khung lý thuyết cho nghiên cửu Ở Việt Nam cũng có khá nhiều nghiên cứu phân tích sự liên

hệ giữa siáo lý Phật giáo với những giá trị đạo đức mà người Việt Nam theo đuổi thực hành trong cuộc sống, nhưng chưa hề có nghiên cứu nào chuvên sáu tìm ra sự ảnh hưởng của giáo lý Phật giáo đến vấn đề giáo dục đạo đức trong các gia đình ven đô hiện nay, nhữne giá trị đạo đức được phổ biển trong đạo Phật có rất nhiều điểm tương đồna với hệ thống đạo đức truyền thống của người Việt Nam nói chung, người dân ven đô nói riêng Giáo dục đạo đức là một trong những chức năng căn bản của gia đình Giáo dục đạo đức gia đình là một quá trình liên tục trong suốt cuộc đời một con người Giáo dục đạo đức trong gia đình có phương pháp đặc thù, chuyên biệt là thuyết phục, giảng giải, cùng trao đổi thân tình và làm gương trên cơ sở tình thương yêu của những neười ruột thịt với nhau.

Quá trình Phật giáo truyền bá vào Việt Nam gắn liền với quá trình hình thành, phát triển tư tưởng, đạo đức của con người Việt Nam Phật giáo luôn đề cao lòng từ bi, nhân ái, đây là nguyên nhân quan trọng giúp Phật giáo luôn gan chặt và đồng hành cùng dân tộc Việt Nam trơng suốt chiều dài lịch sử Phật

giáo luôn quan niệm con người cẩn có lòng từ, bi, hỉ, xả (tứ vô lượng tâm)

Đây là nhân tổ chủ yếu giúp phát triển tâm từ bi, hạnh cứu khổ, điều đó định hướng cho mọi hoạt động (tâm linh và thế tục) của Phật giáo cho con người và

vì con người Những quan niệm này luôn được thể hiện trong giáo lý của Phật giáo và cũng chính là nền tảng xây dựng giá trị đạo đức của con người Việt Nam, thể hiện trong quan niệm về nhân sinh quan, thế giới quan và định hướng cho hành vi ứng xử.

Ngày nay, tốc độ đô thị hóa nhanh đã biến những vùng nông thôn trở thành vùng ven đô Vùng ven đô và ngoại thành là khu vực trung gian giữa nông thôn và thành thị Sự biến đổi quá nhanh của đô thị hóa, công nghiệp hóa, kinh tế thị trường đã khiến cho dân vùng ven đô không thể thích nghi ngay với môi trường đô thị, từ đó có rất nhiều vấn đề tâm lý xã hội mới xuất hiện và diễn ra phức tạp Mặt trái của đô thị hóa và kinh tế thị trường đã làm cho lối sống và các mối quan hệ xã hội bị biến dạng, các giá trị đạo đức bị lung lay, các mối quan hệ trong gia đình và cộng đồng trở nên lỏng lẻo, mâu thuẫn, xung đột ngày càng nhiều Như vậy, trước tình hình đó Phật giáo đã, đang và sẽ góp phần hỗ trợ với bằng hệ thống giáo lý thực hiện tốt an sinh và đảm bảo công bằng xã hội, xây dựng hệ thống giá trị đạo đức bắt đầu từ trong

Trang 24

32 Tạp chí Tâm lý học xã hội số 6, 6 - 2016

gia đình và lan tỏa tới cộng đồng phù hợp với thuần phong mỹ tục, đảm bảo lính kế thừa những nét đẹp truyền thống trong ứng xử nhưng vẫn bắt nhịp với lối sống hiện đại Với những lí do nêu trên đề tài ảnh hưởng của giáo lý Phật giáo đen sự lựa chọn các giá trị đạo đức trong giáo dục con cái tại các gia đình ven đô hiện nay được thực hiện tại xã Tảo Dương Văn, ứ n g Hòa, Hà Nội.

2 K hách thê, địa bàn và phươ ng pháp nghiên cứu

2 Ị K h á c h th ế v à đ ịa bàn n g h iê n cứ u

Tổng số khách thể nghiên cứu là 350 người, trong đó: 200 khách thể là các cặp bố mẹ; 100 khách thể là con cái ở độ tuổi vị thành niên (16 - 18 tuổi);

50 khách thể tham gia phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm Địa bàn nghiên cứu

là xã Tảo Dương Văn huyện ứ n g Hòa, Hà Nội.

3 K ết quả nghiên cứu thực tiễn

3.1 Nhận thức của người dân ven đô về tầm quan trọng của vấn đề giáo dục đạo đức trong gia đình hiện nay

Giáo dục đạo đức là một trong những chức năng chính của gia đình Quá trình giáo dục này được thực hiện thưòng xuyên và liên tục từ khi một cá nhâm sinh ra cho đến khi trưởng thành Giáo dục đạo đức giúp cho mồi người thẩm thẩu, lĩnh hội những giá trị, chuẩn mực của cộng đồng, biến nó trở thành tiêu chuẩn sống cho chính mình, là kim chỉ nam cho mỗi hành động trong thực

tế K ết quả khảo sát nhận thức của người dân về tầm quan trọng của việc giáo

Trang 25

Bảng 1: Mức độ thường xuyên lựa chọn những siá trị đạo đức

trong giáo dục con cái

1 Ngoan ngoãn, yêu thương và kính trọng ông bà cha mẹ 3.9 0.36

2 Đoàn kết, nhường nhịn, yêu thương và giúp đỡ anh chị em 3.7 0.58

3 Coi trọng danh dự, uy tín, nề nếp của cả gia đình 3.6 0.61

Các giá trị đạo đức được đưa ra bao gồm: giá trị đạo đức đối với gia đình, với bản thân, và với cộng đồng Cả năm giá trị đổi với gia đình chúng tôi đưa ra đều được các khách thể lựa chọn ở mức độ “Rất thường xuyên” (ĐTB>3.25), trong đó được lựa chọn thường xuyên nhất là giá trị thể hiện đạo hiếu “Ngoan ngoãn, yêu thương và kính trọng ông bà, cha mẹ” (ĐTB=3.9), sự lựa chọn này của các bậc cha mẹ hoàn toàn phù hợp với truyền thống đạo lý vốn có của người Việt.

Nhóm giá trị đạo đức với bản thân, cả 7 giá trị này đều được các khách thể lựa chọn ở mức độ cao Ở mức độ “Rất thường xuyên” lần lượt là sáu giá trị: “Tránh xa các tệ nạn xã hội vì chúng sẽ hủy hoại bản thân”(ĐTB=3.58),

“Tôn trọng chính mình” (ĐTB=3.56), “Sống trung thực, ngay thẳng” (ĐTB=3.52), “Chấp nhận cả ưu và nhược điểm của bản thân” (ĐTB=3.48), giá trị “Tự lập” (ĐTB=3.38) và cuổi cùng là giá trị “Có hoài bão, mơ ước để hoàn thiện bản thân” (ĐTB=3.27) Chỉ có duy nhất giá trị “Không tham la, sâm hận, tiết chế dục vọng” (ĐTB=3.23) được lựa chọn ở mức “Thường xuyên”.

Với bốn giá trị được đưa ra trong nhóm giá trị đạo đức với cộng đồng, kết quả điều tra cho thấy ba giá trị “Luôn giúp đỡ những người khó khăn trong cuộc sổng” (ĐTB=3.33), “Không bạo hành, gây thù chuốc oán với người khác” (ĐTB=3.25) và giá trị “Luôn hành xử thiện ý với người khác” (ĐTB=3.25) là được các khách thể lựa chọn ở mức độ “Rất thường xuyên.

Trang 26

h êt sức căn bảíi được các bậc cha mẹ thừa nhận, coi trọng và ứng dụng.

Tuy nhiên, khi so sánh mức độ thường xuyên được lựa chọn giữa ba nhóm giá trị dạo đức: Nhóm giá trị đạo đức với gia đình, nhóm giá trị đạo đức với bản

Ấhân, nhóm giá trị với cộng đồng, chúng tôi thấy có sự khác biệt trong mức độ

được lựa chọn của ba nhóm: Biểu đồ 2 cho thấy nhóm các giá trị đạo đức đối vớì gia đình được lựa chọn thường xuyên nhất (ĐTB=3.63); sau đó đến nhóm các giá trị đạo đức đối với bản thân (ĐTB=3.43) và cuối cùng là nhóm các giá trị đạo đức đối với cộng đồng (ĐTB=3.26) Kết quả này đã được kiểm chứng khi yêu cầu các khách thể xếp thứ tự ưu tiên ba nhóm giá trị này.

3,7 3,6 3,5 3,4 3,3 3,2 3,1 3

Biểu đồ 3.2 Mửc độ lựa chọn các nhóm giá trị đạo đức

Biểu đồ 2: So sánh mức độ lựa chọn các nhóm giá trị đạo đức

Sự ưu tiên dành vị trí số 1 cho các giá trị đạo đức đổi với gia đình cho thây các bậc cha mẹ rất coi trọng các mối quan hệ trong gia đình, qua phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm chủng tôi nhận được những câu trả lời đồng thuận

với kết quả nêu trên: “Điều quan trọng và gần gũi nhất là p hải dạy con cái

hiếu thuận với người lớn trong nhà trước, trong nhà mà không có nề nếp thì

ra bên ngoài xã hội sẽ khó quản lý lắm ” (Nam, phiếu số 48); Hay: “Con cải

p h ả i ngoan ngoãn, lê độ vì thế người lớn trong gia đình p h ả i chủ ỷ mà giáo dục trước tiên ” (Nữ, phiếu 139).

Trang 27

có giáo dục đạo đức.

Với mục đích tìm hiểu xem những nội dung cơ bản trong giáo lý đạo Phật được áp dụng như thế nào vào giáo dục đạo đức cho con cái tại các gia đình ven đô hiện nay, đề tài đã tìm hiểu về mức độ phù hợp eiữa những giá trị đạo đức được người dân lựa chọn để giáo dục cho con cái với những nội dung căn bản trong giáo lý Phật giáo.

Bảng 3: Mức độ phù hợp giữa những giá trị đạo đức của gia đình và những

nội dung cơ bản trong giáo lý Phật giáo

1 Ngoan ngoãn, yêu thương và kính trọng ông bà cha mẹ 3.87 0.44

2 Coi trọng danh dự, uy tín, nề nếp của cả gia đình 3.74 0.57

4 Đoàn kết, nhường nhịn, yêu thương và giúp đỡ anh chị em 3.68 0.59

Người dân ven đô đã đánh giá cả năm giá trị đạo đức mà họ lựa chọn trong giáo dục gia đình là “Rất phù hợp” (ĐTB > 3.25) với những nội dung căn bản trong giáo lý Phật giáo.

Trang 28

36 Tạp chí Tâm lý học xa hội số 6, 6 - 2016

B ảng 4: Mức độ phù hợp giữa những giá trị đạo đức với bản thân và những

nội dung cơ bản trong giáo lý Phật giáo

3 Tránh xa các tệ nạn x ã hội vì chúng sẽ hủy hoại bản thân 3.46 0.59

6 Có hoài bão, m ơ ước để hoàn thiên bản thân 3.42 0.66

7 Không tham lam, sâm hận, tiết chế dục vọng 3.39 0.74

Kết quả ở bảng 4 cho thấy, bảy giá trị đạo đức đối với bản thân mà người dân lựa chọn để giáo dục cho con cái cũng nhận được sự đánh giá là “Rất phù hợp” với những nội dung căn bản trong giáo lý (ĐTB > 3.25).

Kết quả ở bảng 5 cũng cho thấy có sự tương đồng rất lớn giữa việc đánh giá mức độ phù họp eiữa những giá trị đạo đức được lựa chọn trong giáo dục thái độ của con cái với cộng đồng với những nội dung căn bản của giáo lý Phật giáo (ĐTB > 3.25) Đây là một căn cứ rất quan trọng, tạo tiền đề thuận lợi để các khách thể lựa chọn áp dụng những nội dung giáo lý căn bản trong giáo lý đạo Phật vào giáo dục đạo đức cho con cái trong gia đình.

Bảng 5: Mức độ phù hợp giữa những giá trị đạo đức với cộng đồng

và những nội dung cơ bản trong giáo lý Phật giáo

1 Luôn giúp đỡ những người khó khăn trong cuộc sống 3.47 0.67

3 Không bạo hành, gây thù chuốc oán với người khác 3.39 0.66

4 Chung tay góp sức cho sự phát triển của làng xóm 3.32 0.82

Với những tiền đề thuận lợi là sự phù họp cao giữa những giá trị đạo đức được lựa chọn trong giáo dục với các nội dung căn bản của giáo lý Phật giáo,

đề tài khảo sát mức độ thường xuyên áp dụne các nội dung căn bản trong giáo

lý đạo Phật vào giáo dục đạo đức cho con cái trong gia đình.

Trang 29

Tạp chí Tâm lý học xã hội số 6, 6 - 2016 37

B ả n g 6: M ứ c độ th ư ờ n g x u y ê n áp d ụ n g n hữ n s, nội d u n g c ăn b ản tro n g giáo lý

đạo P h ậ t v à o g iáo d ụ c đ ạo đ ứ c c h o co n c ái tro n g g ia đ ìn h

1

Sống một cách chân chính bằng nghề nghiệp lương thiện,

chính đáng, không bóc lột, xâm hại đến lợi ích chung của

người khác

3.55 0.63

2

Siêng năng, chuyên cần, chân chính tiến thẳng đến mục tiêu và

lý tường của bản thân H ăng say làm những việc chính đáng

mang lại lợi ích cho m ình và cho người

3.42 0.61

3

Nói những lời chân thật, không gian dối, có lợi ích chính đáng,

công bằng, ngay thẳng, họp lý, lời nói không làm tổn hại đến

đời sống và danh dự của người khác

3.42 0.66

5 Suy nghĩ và làm những điều tốt, điều có lợi cho mọi người và

6 Không tham lam, trộm cắp, xâm hại đến tài sản của người

8 Nhận thức sáng suốt và hợp lý, không nhận thức sai lệch, mê

9 Không tà dâm, đảm bảo giữ gìn hạnh phúc gia đình m ình và

10 Các hành động trong đời sống cần phải sáng suốt, chân chính 3.29 0.64

11 Không giết hại mạng sống con người, quý trọng sinh mạng

12 Tập trung tư tưởng vào vấn đề chính đáng, đúng đắn 3.11 0.74

13 Ghi nhớ những kinh nghiệm , bài học trong quá khứ, công ơn

được nhận trong quá khứ, sẵn sàng cho tương lai 3.10 0.76

14 Hành thiện tích đức để sau này được hưởng cuộc sống sung

Trang 30

Lý giải cho tân suât thường xuyên áp dụng các giáo lý này vào giáo dục đạo đức cho con cái qua phỏng vấn sâu, chúng tôi thu được những thông tin

như sau: “Những nội dung này rất phù hợp với quan điểm của chủng tôi, làm

người thì phải sống thiện, tu nhân tích đức, tránh xa tham sân s ỉ ” (Nữ, phiếu

120); Hay: “Các con tôi đã có gia đình riêng, lúc nào tôi cũng dạy chúng phải

coi trọng hạnh phúc mình đang có, sống thủy chung với vợ chồng của mình, tuyệt đổi đừng đôi xử nhân tâm với người khác nhất là những người thân yêu ruột thịt của mình ” (Nữ, phiếu số 21); Hoặc: “Làm đàn ông trong gia đình thì phải gánh vác nhưng đừng vì cái lợi trước mắt mà bất chấp tất cả, đàn ông là

p h ả i đ à n g hoàng, tư cách, so n g tử t ế ” (Nam, phiếu số 145).

ơ mức độ “Thườne xuyên” áp dụng là các nội dung: “Không giêt hại

m ạ n g sô n g con ngư ờ i, q u ỷ trọ n g sin h m ạ n g m ình và sin h m ạ n g n g ư ờ i kh á c ”

(ĐTB=3.24); “Tập trung tư tưởng vào van đề chỉnh đáng, đúng đ a n ”

(ĐTB=3.11) Như vậy các nội dung trong cơ bản trong eiáo lý được chúng tôi đề cập đến đều được người dân thường xuyên áp dụng để giáo dục đạo đức cho con cái trong gia đình.

3.3 Đánh giá của người dân ven đô về tác dụng của giáo ỉỷ đạo Phật với vấn đề giáo dục đạo đức trong gia đình hiện nay

Không chỉ dừng lại ở việc đánh si? mức độ hiểu biết, lựa chọn và áp dụng những giáo lý Phật giáo vào quá trình giáo dục đạo đức cho con cái trong sia đình đề tài còn xem xét các bậc cha mẹ và cả các em học sinh (khách thể đang thụ hưởng quá trình giáo dục đạo đức) nhìn nhận về tác dụng của những nội dung giáo ỉý này đen quan điểm, thái độ và hành vi ứns xử của mình trong thực tiễn ra sao

Trang 31

Tạp chí Tâm lý học xã hội số 6, 6 - 2016 39

B ả n g 7 : Tác dụng của giáo lý đạo Phật với vấn đề 2Ìáo dục đạo đức

trong gia đình (Cha mẹ và các em học sinh)

(Cha mẹ)

ĐTB(Học sinh)

5 Giúp đỡ những ngưòi khó khăn trong cuộc sổng 3.54 3.10

7

Luôn cẩn trọng trong mọi hành động để không làm ngược lại

8 Đem lại động lực cho con ngưòi phấn đấu và cống hiến 3.19 3.03

10 Hướng con ngưòi ứng xử theo luật nhân quả 3.17 3.07

11 Hành động phù họp với đạo lý truyền thống của ngưòi Việt 3.17 3.03

12 Dần dắt con ngưòi tránh xa tham, sân, si 3.06 2.82

13 Sống thiện ỏ' hiện tại để hưỏng phúc ờ thế giới khác 2.99 2.96Kết quả khảo sát thể hiện ở bảng 7 cho thấy có sự tương đồng rất lớn giữa các bậc cha mẹ và các em học sinh khi đánh giá về tác dụng của giáo Hý Phật eiáo với vấn đề giáo dục đạo đức trong gia đình hiện nay, đa số khách thể

ở cả hai nhóm đều đánh giá ở mức có ý nghĩa “Rất quan trọng” và “Quain trọng” Trong đó, ý nghĩa giáo dục tình yêu thương trong ứng xử của giáo Ilý Phật giáo được cả nhóm các bậc cha mẹ (ĐTB=3.74) và nhóm học simh (ĐTB=3.39) xếp ở mức điểm cao nhất Tiến hành phỏng vấn sâu và thảo luận

nhóm, chúng tôi thu được thông tin như sau: “Em thay tác dụng lớn nhất của

giáo lý Phật giáo là làm cho mọi người biết yêu thương nhau, xích lại gân nhau ” (Học sinh, phiếu số 20); “Tôi thấy các nội dung triết lý của Phật giáo không có gì cao siêu cả, rất gần gũi với những điểu chủng tôi đã được dạy dô

từ nhỏ: sổng thiện, yêu th ư ơ n g và trợ giúp những người củng cảnh ngộ Víới

m ình” (Nữ, phiếu số 37) Như vậy, có thể khẳng định ràng đa sổ các bậc cha

mẹ và các em học sinh đều đánh giá cao tác dụng của giáo lý Phật giáo trong hướng dẫn và điều chỉnh hành vi ứng xử của con cái trong thực tiễn đời sống đạo đức.

Trang 32

40 Tạp chí Tâm lý học xã hội số 6, 6 - 2016

4 K ết lu ận :

Đa sô các bậc cha mẹ đều nhận thức được tầm quan trong của vấn đề giáo dục đạo đức trong gia đình là rất quan trọng Các giá trị đạo đức được ưu tiên lựa chọn khi giáo dục con cái lần lượt là gia đình, bản thân, cộng đồng Nhận thức của người dân ven đô về các nội dung căn bản trong giáo lý đạo Phật là rất đúng đắn Các nội dung căn bản này được họ đánh giá là rất phù hợp với những giá trị đạo đức mà họ lựa chọn giáo dục cho con cái và có

ý nghĩa rất quan trọng với vấn đề giáo dục đạo đức Chính vì thế, người dân ven đô thường xuyên áp dụng những nội dung giáo lý căn bản của Phật giáo vào giáo dục đạo đức cho con cái trong gia đình.

Tài liệu th am khảo

T iê n g Việt

1 Nguyễn Duy c ầ n (1997), Tinh hoa Phật giáo, Nxb Thành phố Hồ Chí

Minh.

2 Vũ Dũng (2000), Tâm lý học tôn giáo, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

3 Thích Nữ Trí Hải (Dịch) (2000), Đức Phật đã dạy những gì (con đường

thoát khổ), Nxb Tôn Giáo, Hà Nội.

4 Trần Thu Hương (2016),Bài g iả n g Tâm lý học gia đình, Khoa Tâm lý học,

Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn ĐHQGHN.

5 Trần Thu Hương (2012),Gia đình ven đô dưới tác độns của đô thị hóa, Tạp chí Tâm lý học 4 (157), tr 89 - 98.

6 Trần Thu Hương (2014), Xung đột gia đình ở vừng ven đô đang trong quá

trình đô thị hóa, Luận án tiến sĩ tâm lý học, ĐHQG Hà Nội.

7 Lương c ầ n Liêm (1992), Bouddhisme etpsychiatrie Paris : Harmattan.

8 Trần Hồng Liên (2010), Tìm hiểu chức năng xã hội của Phật Giảo Việt

Nam, Nxb Tp Hồ Chí Minh.

9 Nguyễn Hồi Loan (2011), Tiếp cận Phật giảo với công tác xã hội ở Việt

Nam, Hội thảo quốc tế: 20 năm khoa xã hội học - Thành tựu và thách thức,

Nxb ĐHQG Hà Nội.

Trang 33

Tạp chí Tâm lý học xa hội số 6, 6 - 2016 41

Tiếng Anh

10 Robert A.Baron, Donn Byme, Nyla R.Branscombe (2006), Social

Psychology, International edition.

11 Giddens, A (1989), Sociology, Cambridge: Polity press.

12 David G.Myers (2005), Socialpsychoỉogy, The McGraw - Hill Companies.

Trang 34

VASP JOURNAL 0F SOCIAL

Trang 35

Nguyen Xuan Long

VALUE ORIENTATION OF STƯDENTS AT THE ƯNIVERSITY OF LANGƯAGES AND INTERNATIONAL STƯDIES - VIETNAM NATIONAL UNIVERSITY

Dau Minh Long & Nguyen Thi Ngoe Be

CURRENT SITƯATION OF THE JƯVENILE OFFENDERS’ SELF- IN.ÍƯRIOƯS BEHAVIOR

Tran Thu Huong & Nguyen Cong Dzung

STATƯS OF DEVELOPMENT OF CHỈLDREN WITH SPEECH DELAY: A LONGITƯDINAL STƯDY

Le Thi Tuong Van

WOMEN WITH POST-TRAUMATIC STRESS DISORDER

SYMPTOMS (PTSD) AT PEACE HOƯSE SHELTER

Tran Thu Hnong

INPLUENCH OF BƯDDHIST DOCTRINE ON METHODS OF

MORAL DƯCATION IN FAMILIES IN SUBURBAN IN VIETNAM TODAY

(a case study o f Tao Duong Van commune, Ung Hoa district, Hanoi)

Thai Van Anh

SITUATION OF PRACTICE OF BƯDDHA^S TEACHINGS IN

HOCHIMINH CITY

Trang 36

48 Journal ofSociaI Psychology, Vol 12, December 2016

IN FLU EN C E OF B U D D H IST D O C T R IN E ON M ETH O D S

OF M O R A L E D U C A T IO N IN FA M ỈLIES IN SƯ BƯRBAN

IN V IE TN A M T O D A Y

(A case study o f Tao Duong Van commune, ư n g Hoa district, Ha Noi)

This article is based on the results o f theresearch projectsponsored by Vietnam National Ựniversity in Hanoi, code QG 15.46, entitled “ĩnfluence o f Buddhist doctrine on methods o f moral education in /am ilies in suburban in Vietnam today”.

Tran Thu Huong (

Paculty of Psychology, University of Social Sciences and Humanities

Vietnam National University - Hanoi

ABSTRACT

A\vareness o f suburban residents o f the basic contents o f the Buddhist doctrine is correct and profound These contents are appreciated as very consistent wifh the moral values they have selected fo r educating their cìùldren in the family The educalional styỉe used most ìs to set an example, a modeling Besìdes, the parents are also to create conditions fo r their children

to experience the contents o f Bnddhist doctrine in practỉce The parents also admitted that the experience was advised from those who went aheod and were very meaningful to them in selecting and providing knoM’ledge and seeking appropriate methods to educate their children.

Keywords: Moral education method; fam ily ỉn suburban; Buddhist doctrine

Date of receiving article: May 2016; Date of approving article: 25 September 2016

(l)Tran Thu Huong, PhD.

Trang 37

io u r n a l of Social Psychoiogy, Vol 12, D ecem ber 2016 49

1 In tr o d u c tio n

Buddhism is one o f the maịor religions and has a strong intluence in the world The bottom line o f Buddhist philosophy is to focus on explaining the origin o f human suffering and the way to help the human beina: to liberate from their suffering To help living beings escape from the sufferings o f life, Buddhism has made the philosophies o f “Four Noble Truths” “Twelve Nidanas doctrine”, “Causality” và “Noble Eightíbld Path” These are the core ideas in human moral philosophy o f Buddhism With the moral philosophy characterized o f life as such, Bưddhism was indoctrinated in Vietnam about the second century AD and hađ quickly become one o f the great religions which have a proíound impact on the Vietnamese people's spiritual life Buddhism always dignitìes compassion, kindness in a Iight that the human being need loving-kindness, compassion, empathetic joy, equanimity (four immeasurables also called Brahma-viharas), helps develop compassion, happy savior, orientation for all activities (spiritual and secular) o f Buddhism.

The personal philosophy o f Buddhism has a similarity with the fundamental moral values o f Vietnamese people and it is important to help Buddhism closely attached to and accompanied the Vietnamese nation during the process o f building up the value system and ethical norms o f the Vietnamese person It can be said that the general education methods of Buddhism is found the most clearly in the direction o f causality Buddhist education is education from initial inception unwholesome mind, beíbre something bad happens, it advises people doing good, understanding the causality, crime reports so that they naturally become good people Therefore, those who understand the causality enjoy a peaceíiil life An evil person may become a sage, and a despicable evil people can become a good person(l).

2 R esearch subjects and m ethods

2.1 R e sse a rc h s u b je c ts

The total o f research subjects is 350 persons, including 200 parents, 100 teenagers (16 - 18 year-olds) and 50 involved in in-depth intervievvs and focus groups The survey location is Tao Duong Van commune, Ung Hoa district, Hanoi.

(l) Thiền Viện Trúc Lâm Viên N gộ, Phan Rang - Ninh Thuận, Mùa Vu lan Báo hiếu - Phật lịch 2555

( 2011 )

Trang 38

50 JournaI o f Social Psychology, Vol 12, D ecem ber 2016

2.2 Research methods

In this study, the main methods o f research used are Research Methodology documents; Survey method by using questionnaires (02 questionnaires: 01 for parents and 01 for high-school students); In-depth interview; Observation; Data Processing in mathematical statistics.

3 R esults of the em pirical research

3.1 Avvareness o f suburban residents about the basic contents in Buddhist doctrine

We carried out a survey o f knowledge o f suburban citizens on the bạsic contents in Buddhist doctrine The results showed that up to 89.5% o f the subjects knew about “the causality law”, 35% knew about “Four Noble Truths” and 12% knew about the other teachings o f Buddhism.

In fact, the “Law of causality” is a content to be a large number o f people known by its comprehensible meaning; in everyday life, people always apply this law in the moral conducts: “All Buddhist teachings are true, we must cultivate virtue and morals, we reap as we sow I always set a good example to

my chiỉdren íĩrst We should learn as much as possible, but the most important thing is our family” (Interview, a 61 year-old woman); “The most coniprehensible content for my children is the law o f causality, I apply Ihe ideas o f “Four Noble Truths” to the upbringing o f my children 1 m yself must set a good example to them Talk with, listen to them for a better mutual understanding,, (interview, a 68 year-old woman).

To get a more accurate assessment o f the level o f understanding o f urban people for the specific contents in Ihe “Law o f Causality” and the “Four noble truths”, we gave them 10 statements so that they would gi ve 4 ratings from absolutely trưe to false The mạiority o f studied rated the statements absolutely true (M=3.2).The statement “Causality means that a good tum is never lost; do

2,00)d deeds, be blessed” (M=3.6) came ílrst, followed in descending order by the statements “Human suffering is caused by Greed, Hatred, Delusion” (Mr=3.39), “Karma is a consequence o f the Law o f Causality in the ]ife o f each indiividuar’ (M=3.38), “Karma is self-created by each individual through his thoue,hts, actions and words” (M=3.36), “Four Noble Truths are the truth of suffering and liberation from the suffering” (M=3.34), “Causality means that people in this life must suffer the consequences o f what they did in their pievious lives” (M=3.29), “Buddhism proviđes us morals to prevent evil

Trang 39

Journal of Social Psychology, Voi 12, December 2016 51

deeds That is “Five Precepts”: abstain from killing, abstain from stealing, abstain from lying, abstain from sensual (including sexual) misconduct, abstain from intoxicants” (M=3.29), “Buddhism shows us the path to eliminate suffering and liberate us from Samsara through Nirvana” (M=3.28), “Four Noble Truths are Suffering, Cause o f Suffering, End o f Suffering and Path to the suppression o f Suffering” (M=3.28), and the last one is “Suffering in Buddhism teachings shows that life is a sea o f suffering and sea waters are not

as much as people!s tears Their suffering is expressed in Eight Sufferings” (M=3.27).

We also offer eight fundamental causes resulting in human suffering for suburban people choice of which the cause “Due to ỉack o f cultivating virtue and morals” has the highest mean score: 3.11 and the two causes “Due to be predestinated by Buddha” (M=1.42) and “Due to social unfair” (M=1.47) Conducting in-depth interviews, the answers received were: “We b e lie ^

in Buddhism, but we aren’t superstitious and we d on’t think Buddha causes the human being's suffering The suffering is made by ourselves, so we shouldn’t blame our society for its uníair If we blame it, there will be r,0

eíTorts to liberate ourselves írom suffering To free ourselves from suffering,

we should have right conduct, live in a peaceful way and do good deeds'5 (Group discussion, woman, 54 years old).

About two pairs o f basic categories o f Buddhist teachings, as Nirvara and Hell,we can see that people had a very accurate and insightful awareness

of Nirvana and hell,namely “Nirvana is a place only for living beings who always did good deeds and lived well vvhen they were alive” (M=3.32) ar;d

“Hell isn’t permanent, after paying off their debts made by crime, the so as will leave the hell and be rebom in a better realm” (M=3.21).

Thus, it can be coníĩrmed that the mạịority o f suburban people have a full and insightful understanding o f the basic contents of Buddhist teachineỉ, which is the íbundation to fonn the points o f worldview and outlooks on life for selecting ethical values as well as applying educational methods to infuse these values into the reality o f íamily life.

3.2 Relevanceo/f'amỉỉỉal moral values vvith Buddhisí eíhicol values

Buddhism has been long ago a religion with a proíbund inAuence on the spiritual life o f the Vietnamese people The concepts in Buddhist teachings :s the basics for developing ethical values of the Vietnamese people Buddhism

Ngày đăng: 06/10/2018, 00:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w