ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN Phan Tiến Thành ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG TỈNH THÁI BÌNH LÀM CƠ SỞ KHOA HỌC CHO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP TRONG BỐ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Phan Tiến Thành
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG TỈNH THÁI BÌNH LÀM CƠ SỞ KHOA HỌC CHO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Phan Tiến Thành
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG TỈNH THÁI BÌNH LÀM CƠ SỞ KHOA HỌC CHO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Chuyên ngành: Khoa học Môi trường
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Bằng sự giúp đỡ, hướng dẫn nhiệt tình của các thầy, cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp và gia đình,đặc biệt là trong quá trình học tập, nghiên cứu và xây dựng luận văn,đến nay, luận văn của tôi đã được hoàn thành
Nhân dịp này, tôi xin được gửi lời ơn sâu sắc tới PGS TS Trần Văn Thụy, Trưởng bộ môn Sinh thái môi trườngđã tận tình hướng dẫn, tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn tập thể Khoa Môi trường, Bộ mônSinh thái môi trường đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu, thực hiện
đề tài và hoàn thành luận văn
Bên cạnh đó, sự giúp đỡ, tạo điều kiện của Lãnh đạo Tổng cục Môi trường, Văn phòng Tổng cục, Sở Tài nguyên và Môi trường, Chi cục Bảo vệ môi trường tỉnh Thái Bình cũng đã giúp tôi có thể hoàn thành tốt luận văn Tôi xin được trân trọng cảm ơn với sự giúp đỡ quý báu đó
Trong thời gian nghiên cứu đề tài và xây dựng luận văn, vì những lý do chủ quan và khách quan cũngnhư hạn chế về mặt thời gian cho nên không tránh khỏi sai sót Tôi rấtmong nhận được sự đóng góp của các thầy, cô giáo để luận văn này được hoànthiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Học viên
Phan Tiến Thành
Trang 4DANH MỤC TỪ NGỮ VIÊT TẮT
BĐKH Biến đổi khí hậu
BTNMT Bộ Tài nguyên và Môi trường
BVMT Bảo vệ môi trường
CCN Cụm công nghiệp
CNH Công nghiệp hóa
ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long
ĐBSH Đồng bằng sông Hồng
DT Diện tích
EEA Tổ chức Môi trường châu Âu
HĐH Hiện đại hóa
NGTK Niên giám thống kê
NOAA Cục Quản lý Đại dương và Khí quyển Quốc gia Hoa Kỳ
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 3
1.1 Tổng quan hướng nghiên cứu về hiện trạng môi trường, phát triển bền vững, biến đổi khí hậu trên thế giới và Việt Nam 3
1.1.1 Các hướng nghiên cứu về hiện trạng môi trường, biến đổi khí hậu và phát triển nông nghiệp bền vững 3
1.1.2 Tổng quan nghiên cứu về tác động của biến đổi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp 7
1.2 Tổng quan về khu vực nghiên cứu 12
1.2.1 Điều kiện tự nhiên 12
1.2.2 Các điều kiện kinh tế - xã hội 16
1.2.3 Đặc điểm sản xuất nông nghiệp ở Thái Bình 18
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
2.1 Đối tượng nghiên cứu 21
2.2 Nội dung nghiên cứu 21
2.3 Phương pháp nghiên cứu 22
1 Phương pháp kế thừa, tổng quan tài liệu 22
2 Phương pháp đánh giá tổng hợp DPSIR 23
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 25
3.1 Các động lực (D) chi phối tới môi trường khu vực nghiên cứu 25
3.1.1 Thực trạng phát triển ngành kinh tế nông nghiệp tỉnh Thái Bình 25
Trang 63.1.2 Các khó khăn, vướng mắc và định hướng phát triển nông nghiệp
trên địa bàn tỉnh Thái Bình trong thời gian tới 34
3.2 Những áp lực (P) của biến đổi khí hậu đến tỉnh Thái Bình 36
3.2.1 Khung Kịch bản biến đổi khí hậu tỉnh Thái Bình 36
3.2.2 Các hệ sinh thái chính ven biển Thái Bình có khả năng chịu ảnh hưởng mạnh của BĐKH 37
3.2.3 Một số biểu hiện của BĐKH tỉnh Thái Bình 39
Hình 1 Diễn biến nhiệt độ trung bình năm tại Thái Bình qua các năm 39 3.2.4 Ảnh hưởng của BĐKH tới các hệ sinh thái ven biển Thái Bình 41
3.3 Hiện trạng môi trường (S) tỉnh Thái Bình 44
3.3.1 Hiện trạng môi trường nước tỉnh Thái Bình 44
3.3.2 Hiện trạng môi trường không khí tỉnh Thái Bình 59
3.3.3 Hiện trạng môi trường đất tỉnh Thái Bình 65
3.3.4 Hiện trạng đa dạng sinh học tỉnh Thái Bình 67
3.4 Tác động (I) của môi trường và biến đổi khí hậu đối với ngành nông nghiệp của tỉnh Thái Bình 71
3.4.1 Tác động do ô nhiễm môi trường nước 71
3.4.2 Tác động do ô nhiễm môi trường không khí 73
3.4.3 Tác động do ô nhiễm môi trường đất 73
3.4.4 Tác động của ô nhiễm môi trường đối với các hệ sinh thái và tác động do suy thoái đa dạng sinh học 74
3.5 Đề xuất một số giải pháp (Đáp ứng - R) nhằm định hướng phát triển nông nghiệp tỉnh Thái Bình trong bối cảnh biến đổi khí hậu 74
Trang 73.5.1 Lập kế hoạch thích ứng với BĐKH, đánh giá tính dễ bị tổn thương
và phân vùng khả năng ảnh hưởng của nước biển dâng đến hệ sinh thái
ven biển Thái Bình 75
3.5.2 Quy hoạch phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường vùng ven biển Thái bình, điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất hợp lý cho từng đối tượng phát triển 76
3.5.3 Chuyển đổi mô hình nuôi trồng thủy sản nước lợ và nước mặn theo quy hoạch vùng; bảo vệ và khôi phục rừng ngập mặn ven biển, từng bước phủ xanh đất trống, bãi cát ven biển 77
3.5.4 Thay đổi biện pháp canh tác và cơ cấu cây trồng, vật nuôi 77
3.5.5 Một số giải pháp khác 79
KẾT LUẬN 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1 Thay đổi lượng mưa (%) trong 57 năm qua (1958-2014) ở các vùng
khí hậu 5
Bảng 2 Thiệt hại do thiên tai đối với nông nghiệp tại Việt Nam (1995 - 2007) 9
Bảng 3 Thiệt hại do thiên tai gây ra đối với nông nghiệp ở nước ta 10
Bảng 4 Thiệt hại của ngành thủy sản do thiên tai 11
Bảng 5 Diện tích, sản lượng cây lương thực có hạt của tỉnh Thái Bình 26
Bảng 6 Số lượng gia súc, gia cầm của tỉnh qua một số năm 28
Bảng 7 Giá trị sản xuất ngành thủy sản (theo giá hiện hành) 30
Bảng 8 Diện tích mặt nước và sản lượng thủy sản nuôi trồng tỉnh Thái Bình 31
Bảng 9 Sản lượng thủy sản khai thác phân theo huyện, thành phố 33
Bảng 10 Nồng độ các chất hữu cơ trên sông Hồng trong năm 2014 45
Bảng 11 Nồng độ các chất hữu cơ trên sông Hóa - sông Luộc trong năm 2014 46
Bảng 12 Nồng độ COD trên sông Trà Lý trong năm 2014 49
Bảng 13 Nồng độ BOD5 trên sông Trà Lý trong năm 2014 50
Bảng 14 Nồng độ trung bình COD và BOD5 trên sông lớn trong năm 2011 - 2014 52
Bảng 15 Nồng độ trung bình các chất hữu cơ và dinh dưỡng tại cầu Đen - Vũ Phúc từ năm 2011 - 2014 54
Trang 9Bảng 16 Hàm lượng Cl- trong nước dưới đất 56 Bảng 17 Hàm lượng trung bình Fe và NH4+ năm 2012 - 2014 57 Bảng 18 Hàm lượng bụi TSP tại KCN Tiền Hải, CCN Phong Phú năm 2013 59 Bảng 19 Hàm lượng bụi TSP quan trắc tại các KCN Tiền Hải, CCN Phong Phú, CCN Vũ Thư năm 2014 60 Bảng 20 Hàm lượng bụi tại một số trục đường chính 63 Bảng 21 Cấu trúc thành phần thực vật khu vực tỉnh Thái Bình 69
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1 Biểu đồ nhiệt độ trung bình các năm của tỉnh Thái Bình 39
Biểu đồ 2 Biểu đồ lượng mưa trung bình các năm của tỉnh Thái Bình 40
Biểu đồ 3 Biểu đồ biểu diễn hàm lượng COD, BOD5 trên sông Hồng 45
Biểu đồ 4 Biểu đồ biểu diễn hàm lượng BOD5 trên sông Luộc và sông Hóa 47 Biểu đồ 5 Biểu đồ biểu diễn hàm lượng COD trên sông Luộc và sông Hóa 48 Biểu đồ 6 Biểu đồ biểu diễn hàm lượng COD trên sông Trà Lý 50
Biểu đồ 7 Biểu đồ biểu diễn hàm lượng BOD5 trên sông Trà Lý 51
Biểu đồ 8 Biểu đồ biểu diễn hàm lượng trung bình COD trên sông lớn năm 2011 - 2014 52
Biểu đồ 9 Biểu đồ biểu diễn hàm lượng trung bình BOD5 trên sông lớn năm 2011 - 2014 53
Biểu đồ 10 Biểu đồ biểu diễn nồng độ trung bình COD, BOD5 tại cầu Đen - Vũ Phúc từ năm 2011 - 2014 55
Biểu đồ 11 Hàm lượng Cl- trung bình trong nước dưới đất 2013 - 2014 57
Biểu đồ 12 Hàm lượng trung bình của Fe năm 2012 - 2014 58
Biểu đồ 13 Hàm lượng trung bình của NH4+ năm 2012 - 2014 58
Biểu đồ 14 Hàm lượng bụi TSP quan trắc tại KCN Tiền Hải, CCN Phong Phú năm 2014 60
Biểu đồ 15 Hàm lượng bụi TSP quan trắc tại các KCN Tiền Hải, CCN Phong Phú, CCN Vũ Thư năm 2014 61
Biểu đồ 16 Chất lượng môi trường không khí xung quanh năm 2012 62
Trang 11Biểu đồ 17 Chất lượng môi trường không khí xung quanh năm 2012 62
Biểu đồ 18 Hàm lượng bụi tại một số trục đường chính 64
Biểu đồ 19 Hàm lượng các khí thải tại một số trục đường chính 64
Biểu đồ 20 Hàm lượng trung bình của kẽm (Zn) trong đất 66
Trang 12MỞ ĐẦU
Hiện nay trong bối cảnh tài nguyên thiên nhiên (TNTN) và môi trường (MT) toàn cầu đang đứng trước những thách thức nghiêm trọng, bảo vệ môi trường (BVMT), đảm bảo tính bền vững của phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) đã trở thành nhiệm vụ quan trọng và cấp bách của tất cả các quốc gia trên thế giới Bảo vệ môi trường không phải là việc đối phó tức thời mà là việc làm lâu dài, dựa trên đường lối, chiến lược, quy hoạch và kế hoạch được xây dựng một cách đúng đắn và thường xuyên được cập nhật và điều chỉnh Đối với đất nước ta nói chung và các địa phương nói riêng vấn đề ô nhiễm, suy thoái môi trường dưới tác động mạnh mẽ của các hoạt động sản xuất, kinh tế đã và đang là những vấn đề cấp thiết, đang được
sự quan tâm của Nhà nước, Chính phủ, các Ban, Ngành của Trung Ương, các cấp lãnh đạo và đông đảo nhân dân các địa phương và nhất là sự quan tâm, đóng góp giải quyết, tìm ra các giải pháp phòng chống của nhiều nhà khoa học trong hầu hết các lĩnh vực nghiên cứu khoa học cả tự nhiên và xã hội
Thái Bình là tỉnh có nhiều tiềm năng trong phát triển nông nghiệp Năm
2011, trong tổng diện tích đất tự nhiên là 157 nghìn ha, thì đất cho sử dụng nông nghiệp là 97,2 nghìn ha (chiếm tới 61,9% tổng diện tích đất tự nhiên) và thu hút gần 60% lao động làm trong lĩnh vực nông nghiệp Đất đai ở đây khá thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và sự phân bố đất đai giữa các huyện trong tỉnh tạo nên những nét khác biệt trong cơ cấu sản phẩm nông nghiệp của mỗi địa phương trong tỉnh Thực
tế, trong những năm gần đây, sản xuất nông nghiệp của tỉnh đã giành được nhiều thắng lợi, tương đối toàn diện cả về trồng trọt, chăn nuôi và kinh tế biển Nông nghiệp còn là đòn bẩy cho ngành công nghiệp chế biến, dịch vụ,… phát triển tương đối mạnh cả về chất và lượng Bộ mặt nông thôn Thái Bình đã có nhiều khởi sắc đáng ghi nhận trong nhiều lĩnh vực kinh tế, đời sống, văn hóa và xã hội
Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng nông nghiệp của tỉnh Thái Bình chưa bền vững do chịu tác động nhiều của các yếu tố khách quan, đặc biệt là các yếu tố môi
Trang 13trường, biến đổi khí hậu Đời sống của nhân dân tuy đã được cải thiện nhưng vẫn còn nhiều khó khăn Công tác chỉ đạo và tổ chức thực hiện các chủ trương của tỉnh
ở một số cơ sở, địa phương còn mang tính hình thức chung chung, chưa quyết liệt
Trên cơ sở đó, tác giả phát triển đề tài Luận văn tốt nghiệp cao học chuyên
ngành Khoa học Môi trường “Đánh giá hiện trạng môi trường tỉnh Thái Bình làm
cơ sở khoa học cho định hướng phát triển nông nghiệp trong bối cảnh biến đổi khí hậu”, với mục tiêu nghiên cứu gồm:
- Thu thập, tổng hợp, đánh giá hiện trạng môi trường tỉnh Thái Bình và những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đối với môi trường tỉnh Thái Bình
- Thu thập, tổng hợp hiện trạng nông nghiệp tỉnh Thái Bình và đánh giá sự ảnh hưởng của môi trường và biến đổi khí hậu đối với ngành nông nghiệp của tỉnh Thái Bình
- Đề xuất một số định hướng phát triển nông nghiệp tỉnh Thái Bình trong bối cảnh biến đổi khí hậu
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1.Tổng quan hướng nghiên cứu về hiện trạng môi trường, phát triển bền vững, biến đổi khí hậu trên thế giới và Việt Nam
1.1.1 Các hướng nghiên cứu về hiện trạng môi trường, biến đổi khí hậu
và phát triển nông nghiệp bền vững
Hiện nay, chúng ta đang sống trong một thế giới có nhiều biến đổi lớn về môi trường: khí hậu biến đổi, nhiệt độ trái đất đang nóng lên, mực nước biển đang dâng lên, sự xâm nhập của các loài ngoại lai ngày càng nhiều, các hệ sinh thái như rừng, đất ngập nước đang bị co hẹp lại và phân cách nhau, tốc độ mất mát các loài ngày càng gia tăng, ô nhiễm môi trường ngày càng nặng nề, dân số tăng nhanh, sức
ép của công nghiệp hóa và thương mại toàn cầu ngày càng lớn Tất cả những thay đổi đó đang ảnh hưởng rõ ràng đến công cuộc phát triển của tất cả các nước trên thế giới và cả nước ta
Loài người đang phải đối mặt với thảm họa cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, môi trường sống bị ô nhiễm, nhiều bệnh tật mới xuất hiện và phát triển, thiên tai ngày càng nặng nề Tất cả những thảm họa đó và cả những hiện tượng bất thường
về thời tiết trong những năm qua tại nhiều vùng trên thế giới đã gây tác hại vô cùng nghiêm trọng có nguyên nhân chính là do các hoạt động của con người.Khắc phục khủng hoảng môi trường chính là góp phần cải thiện và phát triển cuộc sống của con người
a)Hiện trạng diễn biến khí hậu trên thế giới
Sự nóng lên toàn cầu là rất rõ ràng với những biểu hiện của sự gia tăng nhiệt
độ không khí và qua đó là mức tăng mực nước biển trung bình toàn cầu Theo báo cáo gần đây của WMO, năm 2010 là năm nóng nhất trong lịch sử Ngoài ra, trong giai đoạn 2001 - 2010, nhiệt độ trung bình toàn cầu đã cao hơn 0,5oC so với giai đoạn 1961 - 1990, mức cao nhất đối với bất kỳ giai đoạn 10 năm nào kể từ khi bắt
Trang 15đầu quan trắc khí hậu bằng thiết bị đo đạc [1] Theo số liệu của NOAA (Hoa Kỳ), tháng 6 năm 2010 được ghi nhận là tháng nóng nhất trên toàn thế giới kể từ những năm 1880, khi các quan trắc khí tượng được thực hiện một cách tương đối hệ thống
Sự tăng lên của nhiệt độ không khí dẫn đến suy giảm khối lượng băng trên phạm vi toàn cầu Từ năm 1978 đến nay, lượng băng trung bình hàng năm ở Bắc Băng Dương giảm khoảng 2,1 - 3,3% mỗi thập kỷ [33] Và điều này đã được minh chứng
rõ ràng thông qua số liệu quan trắc ghi nhận sự tăng lên của nhiệt độ không khí và nhiệt độ nước biển trung bình toàn cầu, sự tan chảy nhanh của lớp băng, làm tăng mực nước biển trung bình toàn cầu
Các nghiên cứu từ số liệu quan trắc trên toàn cầu cho thấy, mực nước biển trung bình toàn cầu trong thời kỳ 1961 - 2003 đã dâng với tốc độ 1,8 - 0,5mm/năm, trong đó đóng góp do giãn nở nhiệt khoảng 0,42 - 0,12mm/năm và tan băng khoảng 0,70 - 0,50mm/năm [33]
Bên cạnh nhiệt độ tăng và mực nước biển dâng, con người cũng đã cảm nhận ngày càng rõ rệt về sự gia tăng các hiện tượng thời tiết cực đoan Hạn hán và lũ lụt xảy ra thường xuyên hơn, các cơn bão trở nên mạnh hơn, nhiều đợt nắng nóng hơn; cường độ của những cơn bão và lốc nhiệt đới đã trở nên nghiêm trọng hơn
b)Hiện trạngdiễn biến khí hậu ở Việt Nam
Việt Nam nằm ở khu vực nhiệt đới gió mùa, hàng năm chịu ảnh hưởng của nhiều hiện tượng thời tiết và khí hậu cực đoan như bão, lũ lụt, mưa lớn, nắng nóng, hạn hán, Có thể nói sự gia tăng của các hiện tượng khí hậu khắc nghiệt, cực đoan chính là thách thức lớn nhất với Việt Nam hiện nay trong việc ứng phó với BĐKH Tại Việt Nam, có khá nhiều bằng chứng về BĐKH
* Hiện tượng thay đổi nhiệt độ
Nhiệt độ có xu thế tăng ở hầu hết các trạm quan trắc, tăng nhanh trong những thập kỷ gần đây Trung bình cả nước, nhiệt độ trung bình năm thời kỳ 1958-2014 tăng khoảng 0,62oC, riêng giai đoạn (1985-2014) nhiệt độ tăng khoảng 0,42oC Tốc
Trang 16độ tăng trung bình mỗi thập kỷ khoảng 0,10oC, thấp hơn giá trị trung bình toàn cầu 0,12oC/thập kỷ [2]
Theo thống kê trong 16 năm gần đây, số đợt nắng nóng hàng năm có xu thế tăng khá mạnh Năm 2012 có tới 18 đợt nắng nóng, nhiều nhất trong giai đoạn này Năm ít nhất là năm 1998 có 6 đợt Tuy nhiên, đây lại là năm có tổng số ngày nắng nóng lớn nhất giai đoạn, lên tới 132 ngày trong 6 đợt Trong các đợt nắng nóng mạnh, nhiệt độ ở một số nơi lên tới trên 40oC Các tỉnh ven biển Trung Bộ, nhất là Bắc Trung Bộ, là nơi có tần suất nắng nóng lớn nhất và gay gắt nhất ở Việt Nam Ví
dụ, đợt nắng nóng xảy ra từ ngày 12 - 16/6/1998 ở Tĩnh Gia - Thanh Hóa nhiệt độ lên tới 40,9oC, còn trong đợt nắng nóng từ ngày 07 - 31/7/1998 đã đo được nhiệt độ cao nhất tại Cửa Rào - Nghệ An là 41,2oC [22]
* Hiện tượng thay đổi lượng mưa
Ở Việt Nam, xu hướng mưa lớn thường là hệ quả của một số hình thế, loại hình thời tiết như bão, ATNĐ, dải hội tụ nhiệt đới, front lạnh, đường đứt, Khi có
sự kết hợp của chúng sẽ gây nên mưa lớn trong một thời gian dài trên một phạm vi rộng Trong thời kỳ 1958-2014, lượng mưa năm tính trung bình cả nước có xu thế tăng nhẹ Trong đó, tăng nhiều nhất vào các tháng mùa đông và mùa xuân; giảm vào các tháng mùa thu Nhìn chung, lượng mưa năm ở các khu vực phía Bắc có xu thế giảm (từ 5,8% ÷ 12,5%/57 năm); các khu vực phía Nam có xu thế tăng (từ 6,9%
÷ 19,8%/57 năm) Khu vực Nam Trung Bộ có mức tăng lớn nhất (19,8%/57 năm); khu vực đồng bằng Bắc Bộ có mức giảm lớn nhất (12,5%/57 năm) Đối với các khu vực phía Bắc, lượng mưa chủ yếu giảm rõ nhất vào các tháng mùa thu và tăng nhẹ vào các tháng mùa xuân Đối với các khu vực phía Nam, lượng mưa các mùa ở các vùng khí hậu đều có xu thế tăng; tăng nhiều nhất vào các tháng mùa đông (từ 35,3%
÷ 80,5%/57 năm) và mùa xuân (từ 9,2% ÷ 37,6%/57 năm) [2]
Bảng 1 Thay đổi lượng mưa (%) trong 57 năm qua (1958-2014) ở các vùng khí
hậu
Trang 17Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường, Kịch bản biến đổi khí hậu và nước
biển dâng cho Việt Nam, 2016
* Hiện tượng cực đoan
Theo số liệu quan trắc thời kỳ 1961-2014, nhiệt độ ngày cao nhất (Tx) và thấp nhất (Tm) có xu thế tăng rõ rệt, với mức tăng cao nhất lên tới 1oC/10 năm Số ngày nóng (số ngày có Tx ≥35oC) có xu thế tăng ở hầu hết các khu vực của cả nước, đặc biệt là ở Đông Bắc, đồng bằng Bắc Bộ và Tây Nguyên với mức tăng phổ biến 2÷3 ngày/10 năm, nhưng giảm ở một số trạm thuộc Tây Bắc, Nam Trung Bộ và khu vực phía Nam Các kỷ lục về nhiệt độ trung bình cũng như nhiệt độ tối cao liên tục được ghi nhận từ năm này qua năm khác Một ví dụ điển hình như tại trạm Con Cuông (Nghệ An), nhiệt độ cao nhất quan trắc được trong đợt nắng nóng năm 1980
là 42oC, năm 2010 là 42,2oC và năm 2015 là 42,7oC [2]
Số lượng các đợt hạn hán, đặc biệt là hạn khắc nghiệt gia tăng trên phạm vi toàn quốc Các giá trị kỷ lục liên tiếp được ghi nhận trong vài năm trở lại đây Từ năm 2000 đếnnay, khô hạn gay gắt hầu như năm nào cũng xảy ra Vào năm 2010 mức độ thiếu hụt dòngchảy trên hệ thống sông, suối cả nước so với trung bình nhiều năm từ 60÷90%, mực nước ởnhiều nơi rất thấp, tương ứng với tần suất lặp lại 40÷100 năm Năm 2015 mùa mưa kết thúcsớm, dẫn đến tổng lượng mưa thiếu hụt nhiều so với trung bình nhiều năm trên phạm vi cảnước, đặc biệt là ở Nam Bộ, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên [2]
Số ngày rét đậm, rét hại ở miền Bắc có xu thế giảm, đặc biệt là trong hai thập
kỷ gầnđây, tuy nhiên có sự biến động mạnh từ năm này qua năm khác, xuất hiện
Trang 18những đợt rétđậm kéo dài kỷ lục, những đợt rét hại có nhiệt độ khá thấp Năm 2008 miền Bắc trải qua đợtrét đậm, rét hại kéo dài 38 ngày (từ 13/1 đến 20/2), băng tuyết xuất hiện trên đỉnh Mẫu Sơn(Lạng Sơn) và Hoàng Liên Sơn (Lào Cai), nhiệt độ có giá trị -2 và -3oC Mùa đông 2015-2016,rét đậm, rét hại diện rộng ở miền Bắc, tuy không kéo dài nhưng nhiệt độ đạt giá trị thấp nhấttrong 40 năm gần đây; tại các vùng núi cao như Pha Đin, Sa Pa hay Mẫu Sơn, nhiệt độ thấpnhất dao động từ -5 đến -4oC; băng tuyết xuất hiện nhiều nơi, đặc biệt là ở một số nơi nhưBa Vì (Hà Nội) và Kỳ Sơn (Nghệ An) có mưa tuyết lần đầu tiên trong lịch sử [2]
Tóm lại, BĐKH thực sự đã làm các thiên tai, đặc biệt là bão, lũ, hạn hán ngày càng ác liệt Các thiên tai và hiện tượng thời tiết cực đoan xảy ra bất thường với sự gia tăng tần suất xuất hiện và cường độ
1.1.2 Tổng quan nghiên cứu về tác động của biến đổi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp
a)Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp trên thế giới
Biến đổi khí hậu sẽ gây ảnh hưởng lớn đối với sản xuất nông nghiệp ở các vùng sinh thái Nhiều nghiên cứu đã bắt đầu từ các thành phần khí hậu và chủ yếu xuất phát từ sự ấm lên của trái đất [33] Kết quả của các nghiên cứu này thể hiện ở các khíacạnh sau:
o Khi nhiệt độ tăng sẽ ảnh hưởng đến khả năng phát sinh, phát triển của câytrồng, vật nuôi làm cho thay đổi về năng suất và sản lượng;
o Khi nhiệt độ tăng làm cho suy giảm tài nguyên nước, nhiều vùng không cónước và không thể tiếp tục canh tác làm cho diện tích canh tác bị suy giảm;
o Khi nhiệt độ tăng làm cho băng tan, dẫn đến nhiều vùng đất bị xâm lấn vàngập mặn và không tiếp tục canh tác các loại cây trồng hoặc làm giảm năngsuất;
o Thay đổi về các điều kiện khí hậu sẽ làm suy giảm đa dạng sinh học, làm mấtcân bằng sinh thái, đặc biệt là thiên địch và ảnh hưởng đến sinh trưởng pháttriển cây trồng và phát sinh dịch bệnh;
Trang 19o Các hiện tượng thời tiết cực đoan, không theo quy luật như bão sớm, muộn,mưa không đúng mùa sẽ gây khó khăn cho bố trí cơ cấu mùa vụ và gây thiệthại,
Từ các kết quả nghiên cứu được tổng hợp ở trên cho thấy, tác động của BĐKHđến nông nghiệp là tương đối rõ ràng và đều xuất phát từ các thành phần khí hậu Việcgiảm thiểu tác động trên sẽ khó khăn hơn nhiều so với việc thích ứng và lựa chọn, cảitiến các công nghệ phù hợp nhằm thích ứng với BĐKH
b) Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam
Việt Nam là một nước nông nghiệp với 73% dân số sống bằng nghề nông và 70% lãnh thổ là nông thôn với cuộc sống người dân còn phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên Sản xuất nông nghiệp hiện nay vẫn chủ yếu dựa trên các hộ cá thể, quy mô nhỏ, trình độ khoa học kỹ thuật chưa cao, phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết Đây là một thách thức lớn dưới tác động của BĐKH Nhiệt
độ, tính biến động và dị thường của thời tiết và khí hậu tăng sẽ ảnh hưởng rất lớn tới sản xuất nông nghiệp, nhất là trồng trọt Sự gia tăng của thiên tai và các hiện tượng thời tiết, khí hậu cực đoan như bão, lũ lụt, hạn hán, giá rét sẽ ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ tới sản xuất nông nghiệp Một số nghiên cứu khoa học đã chỉ những tác động của BĐKH đến sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam như: Ảnh hưởng nghiêm trọng đến đất sử dụng cho nông nghiệp, mất diện tích do nước biển dâng Sự giảm dần cường độ lạnh trong mùa đông, tăng cường thời gian nắng nóng dẫn đến tình trạng mất dần hoặc triệt tiêu tính phù hợp giữa các tập đoàn cây, con trên vùng sinh thái, BĐKH làm mất đi một số đặc điểm quan trọng của các vùng nông nghiệp phía Bắc
Thiên tai, hạn hán, lũ lụt là một trong những hậu quả của BĐKH Việt Nam được đánh giá là nước nằm trong trung tâm của vùng bão nhiệt đới Kết hợp với các thiên tai khác, hàng năm ngành nông nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung chịu thiệt hại nặng nề do hậu quả của bão và hiện tượng thời tiết cực đoan
Trang 20Bảng 2 Thiệt hại do thiên tai đối với nông nghiệp tại Việt Nam (1995 -2007)
Năm
Lĩnh vực nông nghiệp Tất cả các lĩnh vực
Tỷ lệ
% Triệu VNĐ Triệu USD Triệu VNĐ Triệu USD
là nguồn sống của trên 71.41% dân số, do vậy bất cứ thiệt hại nào do thiên tai đối với nông nghiệp sẽ mang tổn thương nhiều hơn tới nông dân nghèo và khả năng phục hồi sẽ khó khăn vì cần có thời gian dài hơn
Trang 21Năm 2011, thời tiết thủy văn đã có những diễn biến phức tạp, khó lường, trong năm có hàng chục cơn bão và đợt áp thấp nhiệt đới hoạt động trên biển Đông, nhiều đợt gió mùa Đông Bắc và không khí lạnh tăng cường Mưa lớn kéo dài gây
lũ, lụt ở nhiều địa phương của miền Trung, Tây Nguyên và Nam Bộ, đặc biệt là đợt
lũ tháng 9 và tháng 10 tại các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Ngãi và ĐBSCL
đã gây thiệt hại lớn về người và tài sản của nhà nước và nhân dân Theo thống kê, trong năm 2012, thiệt hại do ảnh hưởng của thiên tai, lũ lụt, bão gây ra đã làm 239.676 ha lúa bị ngập, trong đó có 15.848 ha bị mất trắng và nhiều thiệt hại khác
về nông nghiệp, thủy lợi, thủy sản,…
Bảng 3 Thiệt hại do thiên tai gây ra đối với nông nghiệp ở nước ta
2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012
Diện tích lúa mất trắng (ha)
2.182 41.076 105.337 30.372 21.348 33.064 44.628 4.083 9.706 12.433 15.848 Diện tích lúa thiệt hại nặng (ha)
Diện tích hoa mầu mất trắng (ha)
10.233 5.925 3.072 1.710 23.488 37.768 189.395 0 0 1.519 3.027 Diện tích hoa màu thiệt hại nặng (ha)
Trâu bò chết (con)
8.465 288 837 1.629 427 1.931 414 48.492 4.567 3.354 2.096 Lợn chết (con)
27.723 2.535 1.365 6.708 619 246.553 22.006 98.350 32.555 21.896 53.604 Gia cầm chết (con)
219.456 93.885 171.481 131.747 79.766 2.868.985 1.162.303 1.231.007 767.782 49.815 70.015
Nguồn: Văn phòng thường trực phòng chống lụt bão trung ương (2011)
Đánh bắt thủy sản là một sinh kế quan trọng của nhiều hộ gia đình ở vùng ven biển mặc dù chi phí đầu tư tàu, thuyền, xăng dầu cao và mức độ rủi ro đến tính mạng cao cũng như sản lượng, giá cả phụ thuộc theo mùa Đối với hoạt động nuôi trồng thủy sản, không phải hộ gia đình nào cũng có đủ tiềm lực kinh tế để thực hiện
mà chỉ có một số hộ khá giả mới có khả năng thực hiện Những năm gần đây, do
Trang 22dịch bệnh, ô nhiễm môi trường nước, ngọt hóa do lũ lụt, muối hóa do xâm nhập mặn và hạn hán, thay đổi thời tiết, khí hậu nên sản lượng nuôi trồng giảm, có hộ lỗ hàng trăm triệu trong một vụ Do phụ thuộc vào nguồn nước và sự phong phú của nguồn lợi ven biển, nên ngành thủy sản là một trong những lĩnh vực nhạy cảm và dễ
bị tổn thương do sự thay đổi môi trường sống sau khi bị ảnh hưởng của thiên tai hay
sự tàn phá của thiên tai với hệ sinh thái ven biển như rừng ngập mặn và san hô Vậy nên thiệt hại do thiên tai đối với ngành thủy sản là thiệt hại lớn
Bảng 4 Thiệt hại của ngành thủy sản do thiên tai
2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013
Diện tích ao, hồ nuôi tôm cá bị vỡ
21.250 16.651 5.828 14.490 55.691 9.819 19.765 57.199 Lồng cá bị trôi (cái)
Nguồn: Tổng hợp báo cáo thiệt hại thiên tai qua các năm
Ở Việt Nam, cực đoan khí hậu không đồng đều về cường độ và phân bố không gian trên cả nước, do đó, vai trò, tác động và mức độ nguy hiểm của từng hiểm họa, và mức độ phơi bày trước các hiểm họa cực đoan cũng khác nhau tùy thuộc vào bản chất và vùng mà chúng gây tác động Sự tương tác (ảnh hưởng lẫn
Trang 23nhau, làm giảm hoặc gia tăng tác động tiêu cực ) giữa các hiểm họa cực đoan và tác động phụ thuộc vào quy mô, tần suất của chúng
Do tác động của BĐKH, những năm gần đây, thiên tai dị thường về khí hậu vượt qua những hiểu biết hiện tại của con người đã xảy ra ngày thường xuyên hơn, diễn biến phức tạp hơn gây hậu quả khó lường
1.2 Tổng quan về khu vực nghiên cứu
1.2.1 Điều kiện tự nhiên
Trang 24Hồng), phía Đông giáp Vịnh Bắc Bộ với đường bờ biển dài trên 50km và một vùng biển rộng
Mặt khác, Thái Bình nằm trong phạm vi ảnh hưởng của địa bàn kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, có đường bờ biển và hệ thống sông ngòi thuận lợi cho giao lưu kinh
tế Thành phố Thái Bình cách thành phố Hải Phòng 70km và cách thủ đô Hà Nội 110km, là những thị trường tiêu thụ rộng lớn trong việc hỗ trợ đầu tư kĩ thuật, kinh nghiệm quản lý, chuyển giao công nghệ và thông tin cho tỉnh Vị trí địa lý trên đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho Thái Bình phát triển và mở rộng giao lưu kinh tế trong mọi lĩnh vực với các tỉnh trong cả nước và quốc tế
b) Các điều kiện tự nhiên
* Địa hình
Thái Bình là một tỉnh đồng bằng có địa hình nhìn chung bằng phẳng, thấp dần từ bắc xuống nam Song ở từng khu vực lại có nơi trũng hay gò cao hơn so với địa hình chung, độ cao so với mặt nước biển dao động từ 1-2m Vùng có độ cao trên 2m chiếm diện tích nhỏ
Địa hình đồng bằng Thái Bình chủ yếu có 3 kiểu: đồng bằng tích tụ cao ở Kiến Xương, Hưng Hà, Đông Hưng, Vũ Thư: đất thấp, phần lớn có độ cao dưới 1m, xen kẽ với các dải cồn cao 1-2m; đồng bằng tích tụ thấp ở Quỳnh Phụ là đồng bằng tích tụ phù sa mới, thấp, phát triển ở những nơi ít được bồi đắp phù sa do bản thân sông chảy qua ít phù sa; đồng bằng duyên hải ở Tiền Hải, Thái Thụy là vùng châu thổ rõ rệt Đất mặn chiếm phần lớn diện tích, sau đến đất cát trên các dải cồn và cuối cùng là đất phèn Đất được sử dụng làm ruộng hai vụ, ven biển có đồng cói và rừng ngập mặn Các bãi cát và cồn cát ven biển chủ yếu phân bố ở rìa phía đông, đông nam và đông bắc Các cồn cát là cồn Đen, cồn Vành, cồn Thủ[5]
* Khí hậu và thủy văn
Điều kiện khí hậu và thủy văn Thái Bình nhờ có thiên nhiên ưu đãi nên rất thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp, đặc biệt đối với cây lúa nước
Trang 25- Khí hậu Thái Bình về cơ bản mang tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa Nhiệt
độ trung bình năm từ 22-230C, số giờ nắng trung bình trong năm 1.300-1.700 giờ
Độ ẩm tương đối cao, khoảng 85-90% Khí hậu có sự thay đổi theo mùa, lượng mưa phân theo hai mùa: mùa mưa và mùa khô Mùa mưa thường bắt đầu từ tháng V cho đến tháng X, chiếm khoảng 85% tổng lượng mưa cả năm, tháng VII và tháng VIII
là hai tháng có lượng mưa cao nhất Mùa khô bắt đầu từ tháng XI đến tháng IV năm sau, lượng mưa chỉ chiếm 15-20% tổng lượng mưa trong năm Trong mùa mưa, hướng gió thịnh hành là gió đông nam, còn mùa khô là gió đông bắc[6]
Tuy nhiên, do giáp biển nên khí hậu Thái Bình có những sắc thái riêng Về mùa đông thường ẩm hơn những tỉnh nằm sâu trong đất liền Những ngày giá lạnh của mùa đông thường không kéo dài liên tục mà xen kẽ có những ngày ấm áp Mùa
hạ tuy nóng nhung cũng có những ngày mát dịu, thường được hướng không khí mát mẻ của gió biển vào buổi chiều Điều kiện khí hậu đó có nhiều thuận lợi cho thâm canh, xen canh trong sản xuất Song nhược điểm khí hậu ở Thái Bình là độ ẩm cao nên việc bảo quản máy móc, thực phẩm gặp nhiều khó khăn, dịch bệnh dễ lây lan và phát triển ở diện rộng Trong mùa mưa thường có bão, mùa khô thì có những ngày lạnh giá, sương muối làm ảnh hưởng đến sức khỏe con người, gia súc và cây trồng
Sự phân mùa tạo điều kiện cho việc bố trí cây trồng, vật nuôi theo mùa khớp với chu kỳ sản xuất Hơn nữa, mùa đông lạnh kéo dài trong khoảng 3 tháng (từ tháng XII đến tháng II năm sau), với nhiệt độ trung bình khá thấp, là cơ sở để phát triển vụ đông là vụ quan trọng để trồng các loại rau ưa lạnh
- Về thủy văn: Thái Bình là tỉnh bốn bề có sông, nước bao quanh, một mặt là biển, ba mặt khác là sông Phía Bắc và Đông Bắc có sông Hóa chảy qua địa phận ranh giới tỉnh dài 38km, phía Bắc và Tây Bắc có sông Luộc chảy qua dài 53km, phía Nam và Tây Nam có sông Hồng chảy qua dài 77km Giữa tỉnh có sông Trà Lý (dài 67km) chảy qua phân tỉnh thành hai bộ phận: phía bắc gồm 4 huyện, phía nam gồm 3 huyện và thành phố Thái Bình[6]
Trang 26Những con sông lớn này được nối liền với một hệ thống sông đào, kênh mương dày đặc, cộng với ảnh hưởng của thủy triều đã tạo cho Thái Bình có nguồn nước vô cùng phong phú, cung cấp đầy đủ nước sinh hoạt cho nhân dân và cho các hoạt động sản xuất nông nghiệp, công nghiệp Các sông trên đổ ra biển qua 5 cửa: Thái Bình, Diêm Hộ, Trà Lý, Lân và Ba Lạt có vai trò bồi đắp phù sa, tạo nên thế mạnh lấn biển của Thái Bình Bên cạnh đó, khi các sông đổ ra biển chịu ảnh hưởng của thủy triều Vào mùa hè,mực nước tăng nhanh, lưu lượng lớn, hàm lượng phù sa cao Mùa đông lưu lượng giảm xuống nhiều, nước mặn từ các cửa sông lớn có thể chuyển sâu vào đất liền thành những vùng nước lợ, rất thuận tiện cho việc đánh bắt nuôi trồng thủy sản Song, điều này cũng gây không ít khó khăn cho địa phương hằng năm phải đầu tư cải tạo hàng trăm ha đất nhiễm măn và xây dựng cải tạo cơ sở
hạ tầng, đê, kè, thủy lợi, mương máng tưới tiêu và phòng chống thiên tai để đáp ứng yêu cầu của sản xuất và đời sống nhân dân
* Đất đai và sinh vật
- Do ảnh hưởng của địa hình và hệ thống sông, biển, ở Thái Bình có nhiều nhóm đất khác nhau như đất mặn, đất cát ven biển, đất chua phèn, đất phù sa, đất bạc màu và đất xói mòn Nhìn chung, đất đai ở đây khá thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và sự phân bố đất đai giữa các huyện trong tỉnh, tạo nên những nét khác biệt trong cơ cấu sản phẩm nông nghiệp của mỗi địa phương trong tỉnh
Đất mặn phân bố ở vùng cửa sông, ven biển và những chỗ trũng ở trong và ngoài đê Loại đất này thích hợp cho các loại thực vật ngập mặn như đước, sú, vẹt, bần, sậy, lác; Đất cát ven biển phân bố trên các cồn cát duyên hải cũ, đây là loại đất tơi xốp, thoáng khí, dễ canh tác, thích hợp với nhiều loại cây trồng; Đất phèn phân
bố chủ yếu ở huyện Thái Thụy, đất có độ phì tương đối khá khi trồng lúa sẽ có năng suất cao; Đất phù sa do hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình bồi đắp, là loại đất tốt nhất với nhiều loại cây trồng như lúa, hoa màu và các cây thực phẩm khác Còn loại đất bạc màu và đất xói mòn được phân bố rải rác ở các huyện thị, đất này không
Trang 27thích hợp trồng lúa nhưng có thể phát triển một số loại hoa màu, cây trồng cạn như đậu, lạc, vừng…
- Hệ thống sinh vật của Thái Bình không nhiều, chủ yếu là rừng ngập mặn ven biển, phân bố ở hai huyện Tiền Hải và Thái Thụy với các loại cây chính là sú, vẹt,… Các thảm thực vật tự nhiên khác hầu như không có mà thay vào đó là các hệ sinh thái đồng ruộng với các loại cây lương thực, thực phẩm, cây ăn quả,… Giới động vật trên cạn vì vậy cũng có rất ít
1.2.2 Các điều kiện kinh tế- xã hội
a Dân cư, lao động
- Đông dân là một trong những lợi thế cơ bản cho phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh Thái Bình Tính đến hết năm 2011, số dân Thái Bình là 1.786,3 nghìn người, với mật độ 1.138 người/km2[5] Dân số đông, tạo nguồn lao động dồi dào, thị trường tiêu thụ rộng lớn cho các sản phẩm nông nghiệp và của các ngành kinh tế khác
- Nguồn lao động của tỉnh khá đông Năm 2011, số lao động làm việc trong các ngành kinh tế là 1.010,1 nghìn người, chiếm 56,5% dân số của tỉnh Trong cơ cấu lao động theo ngành ở Thái Bình, nhóm ngành nông-lâm- thủy sản chiếm tỷ lệ cao nhất 59,4% (600 nghìn người) và tỷ lệ lao động nữ làm việc trong nhóm ngành này cũng rất cao (chiếm 54,6% so với tổng số lao động nữ đang làm việc trong các ngành kinh tế)[5]
Nguồn lao động nông nghiệp có trình độ thâm canh cao so với cả nước vì đây là mảnh đất của nghề trồng lúa nước và các sản phẩm chăn nuôi Người lao động Thái Bình cần cù, chịu khó, lao động có khả năng tiếp thu, tiếp cận với tiến bộ khoa học- kỹ thuật Tỷ lệ lao động qua đào tạo đang tăng dần qua các năm Nếu tỉnh
có chiến lược đầu tư giáo dục- đào tạo một cách đồng bộ để nâng cao trình độ nguồn nhân lực sẽ tạo được một đội ngũ cán bộ đông đảo có trình độ và tay nghề cao Đồng thời lại có chính sách quản lý và sử dụng hợp lý đội ngũ cán bộ, sẽ là động lực, là lợi thế cho phát triển nông nghiệp nói riêng và kinh tế xã hội nói chung
Trang 28Tuy nhiên, sức ép về dân số ở Thái Bình hiện đang là vấn đề cần được quan tâm giải quyết Vì sự gia tăng dân số trên địa bàn tỉnh đã gây ra các hiện tượng như thất nghiệp, sự nghèo đói, giáu dục và bảo vệ sức khỏe kém, thu nhập không công bằng và sự thiếu hụt về tài nguyên thiên nhiên, môi trường Đặc biệt dân số gia tăng
sẽ dẫn đến sự thiếu hụt lương thực, ruộng đất sẽ sử dụng quá độ, đất đai bị thoái hóa, làm giảm diện tích canh tác,…
b) Các ngành kinh tế khác
Sự phát triển của mỗi ngành kinh tế là điều kiện, tiền đề cho ngành kia phát triển Nông nghiệp- công nghiệp- dịch vụ tạo mối liên kết vững chắc và có tác động qua lại với nhau Sản phẩm của một số ngành công nghiệp tác động trực tiếp đến toàn bộ ngành nông nghiệp đó là máy móc, thiết bị, hóa chất và các sản phẩm tiêu dùng công nghiệp khác Dịch vụ thì ngoài việc tạo mối quan hệ sâu sắc giữa công nghiệp và nông nghiệp, nó còn đáp ứng kịp thời yêu cầu nhiều vẻ các mặt sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng trong quá trình tái sản xuất nông nghiệp Nhờ có dịch
vụ mà các sản phẩm của ngành nông nghiệp được tiêu thụ trong và ngoài khu vực, đặc biệt ở các thị trường ngoài nước
- Đối với ngành công nghiệp tỉnh Thái Bình, những năm qua giá trị sản xuất của riêng ngành công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm luôn giữ ở mức tương đối ổn định Năm 2011, giá trị sản xuất của loại ngành công nghiệp này chiếm 7,9%
so với tổng giá trị sản xuất công nghiệp theo ngành công nghiệp[5] Theo đó, các cơ
sở sản xuất công nghiệp của Thái Bình trong lĩnh vực chế biến nông thủy sản hầu như chiếm tuyệt đại đa số với các ngành công nghiệp quy mô vừa và nhỏ phục vụ nông nghiệp ở các địa điểm như thị trấn Đông Hưng :chế biến lương thực xuất khẩu, chế biến hoa quả; thị trấn Quỳnh Côi: chế biến lương thực thực phẩm; thị trấn Kiến Xương: chế biến lương thực thực thực phẩm, v.v…Sản phẩm của ngành công nghiệp được chế biến từ các nông, thủy sản khá đa dạng như muối, thịt đông lạnh, thủy sản đông lạnh, nước mắm, sợi đay, thảm len,…
Trang 29- Các sản phẩm của ngành nông nghiệp, công nghiệp nói chung và công nghiệp chế biến nói riêng được tiêu thụ không chỉ ở trong khu vực nội địa mà còn xuất khẩu ra nước ngoài thông qua các hoạt động dịch vụ Các mặt hàng nông thủy sản như thịt lợn, tôm đông lạnh., gạo là một trong những mặt hàng xuất khẩu có thế mạnh của tỉnh Thái Bình Năm 2011, các mặt hàng này đã mang lại cho Thái Bình 12.855 nghìn USD[5] Tuy nhiên, do năng lực quản lý, kinh doanh hạn chế nên các sản phẩm thường bị chèn ép về giá, bị các tư thương chiếm dụng vốn nên hiệu quả kinh doanh chưa cao Thị trường tiêu thụ bấp bênh, người lao động không yên tâm nên chưa mạnh dạn đầu tư lớn cho sản xuất
1.2.3 Đặc điểm sản xuất nông nghiệp ở Thái Bình
Với đặc điểm tự nhiên là tỉnh ven biển, Thái Bình là một trong những địa phương chịu ảnh hưởng trực tiếp và nặng nề, nhất là đối với ngành nông nghiệp do tác động của biến đổi khí hậu Nước biển dâng cao khiến diện tích đất nông nghiệp
bị thu hẹp, làm cho quy mô sản xuất bị co lại; nhiệt độ tăng cũng làm cho nhu cầu nước cho sản xuất tăng theo, đã ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp
Thực tế những năm qua, trên địa bàn tỉnh Thái Bình do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu nên các hiện tượng thời tiết như: bão, lụt, áp thấp nhiệt đới xảy ra thất thường đã trực tiếp ảnh hưởng, gây thiệt hại nghiêm trọng đến nhiều ngành sản xuất
và đời sống của người dân Những cơn bão với cường độ ngày càng mạnh đã tàn phá nhiều cánh rừng ngập mặn cũng như rừng phòng hộ, làm suy thoái hệ sinh thái ven biển, ảnh hưởng lớn tới kinh tế thủy hải sản của địa phương Đặc biệt là cơn bão số 8 đổ bộ trực tiếp vào Thái Bình vào cuối năm 2012 đã gây thiệt hại lớn về người và tài sản mà nguyên nhân chủ yếu là do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu; trong đó thiệt hại nặng nề nhất là ngành nông nghiệp với 6.000 ha lúa mùa đã chín
bị đổ, ngập sâu trong nước, gần 30.000 ha hoa màu, cây vụ đông bị hư hỏng nặng, hàng vạn cây lấy gỗ, cây ăn qủa bị đổ; trên 8.000 ha nuôi trồng thủy sản bị ngập, trong đó 2 huyện ven biển Thái Thụy và Tiền Hải có gần 2.500 ha ngao bị thiệt hại nặng nề [19]
Trang 30Các đợt rét đậm, rét hại bất thường kéo dài vào cuối năm 2011 và đầu năm
2012 tại Thái Bình cho thấy sự gia tăng của thiên tai và các hiện tượng cực đoan của khí hậu, thời tiết làm ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp Sâu bệnh phát sinh trên diện rộng, dịch bệnh gia súc, gia cầm bùng phát ở nhiều nơi gây tâm lý lo ngại, người nông dân không yên tâm đầu tư phát triển sản xuất, cây trồng sinh trưởng chậm, ảnh hưởng thời vụ Nắng nóng kéo dài do tác động của biến đổi khí hậu trong những năm gần đây, dẫn đến nước biển xâm nhập sâu vào đất liền làm cho đất canh tác tại các địa phương ven biển trong tỉnh bị mặn hóa
Theo Sở Tài nguyên và Môi trường Thái Bình, nếu mực nước biển dâng 50
cm thì diện tích đất có nguy cơ ngập lụt trên địa bàn tỉnh là 11,8%; nếu dâng lên
100 cm thì sẽ có khoảng 31,4% diện tích có nguy cơ bị ngập lụt Trong đó, 2 huyện ven biển Thái Thụy, Tiền Hải chịu tác động nặng nề nhất với diện tích ngập tương ứng là 31,86 km2 và 35,91 km2, Dự báo đến năm 2100, Thái Bình sẽ bị xâm nhập mặn sâu thêm vào đất liền từ 3 - 9 km, uy hiếp trực tiếp đến an toàn hệ thống hồ chứa và hệ thống đê Bên cạnh đó, sự diễn biến phức tạp của khí hậu, sự thay đổi các dòng chảy của sông, mực nước biển dâng đã và đang gây ra các hiện tượng sạt
lở, xói mòn các bờ sông, bờ biển, phá hủy nhiều công trình cơ sở hạ tầng Trong những năm gần đây, hầu hết các con sông chính chảy qua địa bàn tỉnh là sông Hồng, sông Trà Lý, sông Luộc… đều diễn ra quá trình sạt lở bờ sông, không chỉ ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống sản xuất, sinh hoạt của người dân mà còn đe dọa đến tính mạng của con người
Thời gian tới, biến đổi khí hậu sẽ tiếp tục tác động mạnh mẽ và rõ nét đối với các vùng ven biển như: Nước biển dâng, mất đất sản xuất nông nghiệp tại các khu vực ven biển, tình trạng xâm nhập mặn Thời tiết diễn biến ngày càng thất thường, nắng nóng và mưa bão ngày càng phức tạp, không những gây thiệt hại về người mà đáng lo ngại hơn là biến đổi khí hậu sẽ làm thay đổi tính thích hợp của nền sản xuất nông nghiệp Khi khí hậu thay đổi, nhiều loại cây trồng truyền thống không còn thích nghi với điều kiện khí hậu mới, nên sẽ ảnh hưởng lớn đến hiệu quả sản xuất
Trang 31nông nghiệp trên địa bàn toàn tỉnh Có thể thấy, biến đổi khí hậu đang tác động mạnh đến hầu hết các lĩnh vực KT-XH của Thái Bình
Trang 32CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài được triển khai trên địa bàn tỉnh Thái Bình, đánh giá hiện trạng môi trường tỉnh Thái Bình theo các khía cạnh động lực, áp lực, hiện trạng, tác động và đáp ứng; những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đối với môi trường tỉnh Thái Bình; đánh giá sự ảnh hưởng của môi trường và biến đổi khí hậu đối với ngành nông nghiệp của tỉnh Thái Bình Từ đó, đề xuất một số định hướng phát triển nông nghiệp tỉnh Thái Bình trong bối cảnh biến đổi khí hậu
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Khái quát chung về khu vực nghiên cứu;
- Đánh giá hiện trạng môi trường của tỉnh Thái Bình:
o Đánh giá hiện trạng môi trường nước tỉnh Thái Bình;
o Đánh giá hiện trạng môi trường không khí tỉnh Thái Bình;
o Đánh giá hiện trạng môi trường đất tỉnh Thái Bình;
o Đánh giá hiện trạng môi trường đất do sản xuất nông nghiệp tỉnh Thái Bình;
o Đánh giá hiện trạng đa dạng sinh học tỉnh Thái Bình;
o Đánh giá hiện trạng, nguồn phát sinh, thu gom và xử lý chất thải rắn tỉnh Thái Bình;
- Đánh giá tình hình phát triển nông nghiệp tỉnh Thái Bình;
- Đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến tỉnh Thái Bình;
- Đánh giá sự ảnh hưởng của môi trường và biến đổi khí hậu đối với ngành nông nghiệp tỉnh Thái Bình;
Trang 33- Đề xuất một số định hướng phát triển nông nghiệp tỉnh Thái Bình trong bối cảnh biến đổi khí hậu
2.3 Phương pháp nghiên cứu
1 Phương pháp kế thừa, tổng quan tài liệu
Phương pháp này nhằm kế thừa, tổng hợp các tài liệu đã có để thống kê, phân tích đánh giá các điều kiện tự nhiên, môi trường, hiện trạng KT-XH tại khu vực nghiên cứu
- Phương pháp tổng hợp tài liệu, kế thừa các kết quả nghiên cứu đã công bố
để thống kê, phân tích đánh giá các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, kinh
tế - xã hội tại khu vực nghiên cứu Sử dụng các kịch bản BĐKH và nước biển dâng
đã công bố của Việt Nam và các nguồn số liệu khác trong phân tích đánh giá ảnh hưởng BĐKH tới các hệ sinh thái
- Thu thập thông tin về đặc điểm khí tượng của tỉnh Thái Bình Những số liệu khí tượng liên quan trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp như: nhiệt độ, lượng mưa, số cơn bão, số ngày rét đậm, rét hại từ Trung tâm khí tượng Thủy Văn tỉnh Thái Bình
- Thu thập số liệu thống kê về hiện trạng sản xuất nông nghiệp (diện tích, giống lúa, lịch thời vụ, năng suất lúa, ) từ số liệu thống kê hàng năm của Chi cục Thống kê Tỉnh Thái Bình, báo cáo phát triển kinh tế - xã hội trong năm tại địa phương
- Qua Internet để thu thập thêm các số liệu thống kê về biến đổi khí hậu; Các nguồn số liệu: về nông - lâm nghiệp - thuỷ sản ở Cục Thống kê Thái Bình và Viện Kinh tế và Quy hoạch thuỷ sản, về khí tượng ở Bộ Tài Nguyên và Môi Trường và Viện Khoa học khí tượng thuỷ văn và môi trường,
- Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài để thu thập thêm những số liệu có liên quan
Trang 342 Phương pháp đánh giá tổng hợp DPSIR
Phương pháp Đánh giá tổng hợp DPSIR do Tổ chức Môi trường Châu Âu (EEA) xây dựng vào năm 1999 là một mô hình nhận thức dùng để xác định, phân tích và đánh giá các chuỗi quan hệ nguyên nhân - kết quả: nguyên nhân gây ra các vấn đề môi trường, hậu quả của chúng và các biện pháp ứng phó cần thiết Cấu trúc của mô hình bao gồm các thông số chỉ thị về điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội của vùng nghiên cứu, dựa vào đặc điểm và bản chất, các thông số này được chi thành 5 hợp phần:
Hình 1 Sơ đồ mô hình DPSIR
- Các thông số thể hiện các động lực chi phối đặc điểm và chất lượng môi trường vùng (DRIVER indicators): các động lực này thường là một số yếu tố đặc trưng cho địa hình, hình thái, thủy văn, khí hậu,…cũng như các hoạt động sản xuất phát triển kinh tế - xã hội chính diễn ra trong vùng như cơ sở hạ tầng, nông nghiệp, công nghiệp, du lịch,…
- Các thông số thể hiện áp lực (PRESSURE indicators) Ví dụ, các thông số
áp lực thường cung cấp các thông tin định tính và định lượng diện tích canh tác,
Trang 35lượng phân bón thuốc trừ sâu được sử dụng,…Rõ ràng là cường độ của các áplực này sẽ làm thay đổi đáng kể điều kiện tự nhiên vật lý và sinh thái vốn có của vùng Hơn nữa, phần lớn các thay đổi đó diễn ra theo chiều hướng tiêu cực
- Các thông số về hiện trạng chất lượng môi trường (STATE indicators) Các thông số hiện trạng chất lượng môi trường giúp cung cấp thông tin định tính và định lượng về đặc điểm và tính chất của các yếu tố vật lý, hóa học và sinh thái các thành phần môi trường vùng (đất, nước, không khí, động thực vật hoang dã, hệ sinh thái thủy sinh) Chất lượng môi trường bị suy giảm dần và ảnh hưởng xấu tới cộng đồng
và hệ sinh thái tự nhiên trong vùng
- Các thông số phản ánh các tác động tiêu cực tới đa dạng sinh học, tới sức khỏe và sự ổn định, phồn vinh của cộng đồng (IMPACT indicators)
- Các thông số thể hiện các biện pháp đối phó với các hậu quả môi trường và
xã hội (RESPONSE indicators)
Như thể hiện trên hình 1, 5 hợp phần có mối quan hệ tương tác qua lại theo hai chiều: chiều thuận và chiều phản hồi Với các xây dựng mô hình nhận thức theo chuỗi như vậy, DPSIR là một công cụ hiệu quả để xác định, phân tích và đánh giá các mối quan hệ rất phức tạp của hệ thống môi trường tự nhiên và hệ thống kinh tế -
xã hội Vì vậy, phương pháp này thường được áp dụng cho xây dựng quy hoạch và chiến lược quản lý vùng và quốc gia nhằm đảm phát triển bền vững Với các ưu điểm như vậy, DPSIR đã được sử dụng trong luận văn nhằm đánh giá hiện trạng môi trường tỉnh Thái Bình làm cơ sở khoa học cho định hướng phát triển nông nghiệp trong bối cảnh biến đổi khí hậu
Trang 36CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trên cơ sở Phương pháp Đánh giá tổng hợp DPSIR, kết quả nghiên cứu được xác định như sau:
Hình 2 Sơ đồ đánh giá hiện trạng môi trường tỉnh Thái Bình theo mô hình
DPSIR
Kết quả phân tích các thành phần của Phương pháp DPSIR chi tiết như sau:
3.1.Các động lực (D) chi phối tới môi trường khu vực nghiên cứu
3.1.1 Thực trạng phát triển ngành kinh tế nông nghiệp tỉnh Thái Bình
Với đặc điểm một tỉnh thuần nông nghiệp, so với các tỉnh trong vùng Đồng bằng sông Hồng, Thái Bình là tỉnh duy nhất có tỷ trọng khu vực nông, lâm nghiệp
và thủy sản chiếm tỷ lệ cao nhất so với tổng tỷ trọng cơ cấu kinh tế chung Những năm qua, tỷ trọng của khu vực này đang có xu hướng giảm dần, đặc biệt từ năm
2000 cho đến 2011, trong vòng 11 năm, tỷ trọng giảm đi 16,84% (từ 54,1% năm
Đáp ứng (R)
- Lập kế hoạch thích ứng với BĐKH
- Quy hoạch phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường vùng ven biển, điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất hợp lý cho từng đối tượng phát triển
- Chuyển đổi mô hình nuôi trồng thủy sản nước lợ và nước mặn theo quy hoạch vùng; bảo
vệ và khôi phục rừng ngập mặn ven biển, từng bước phủ xanh đất trống, bãi cát ven biển
- Thay đổi biện pháp canh tác và cơ cấu cây trồng, vật nuôi
Hiện trạng (S)
- Chất lượng môi trường nước
- Chất lượng môi trường không khí
- Chất lượng môi trường đất
- Hiện trạng ĐDSH
Tác động (I)
- Sức khỏe cộng đồng
- Hoạt động sản xuất nông nghiệp
- Hệ sinh thái
Trang 372000 xuống còn 37,26% năm 2011), thay vào đó là sự tăng tỷ trọng ở khu vực công nghiệp- xây dựng và dịch vụ[10]
Là một tỉnh thuộc Vùng đồng bằng sông Hồng, đồng thời gần Vùng KTTĐ Bắc Bộ, do đó cơ cấu kinh tế của Thái Bình phải có sự chuyển dịch mạnh hơn, nhanh hơn để phù hợp với xu thế của vùng đến năm 2020: các ngành phi nông nghiệp chiếm khoảng 90% trong tổng GDP, các sản phẩm chủ lực đóng góp 60-65% GDP, độ mở của nền kinh tế đạt trên 90% và cơ cấu kinh tế của vùng là cơ cấu hiện đại với các ngành mũi nhọn có khả năng đột phá, có sức cạnh tranh [29]
a) Ngành nông nghiệp
Với đặc điểm vị trí địa lý tự nhiên, đến nay Thái Bình vẫn được nhận định là một tỉnh có nền kinh tế nông nghiệp thuần nông, mà sản xuất trồng trọt là chủ yếu, chiếm tỷ trọng lớn trong lĩnh vực nông nghiệp của tỉnh Thái Bình (trên 50%) Tuy nhiên, tỷ trọng này đang có xu hướng giảm dần theo các năm và thay vào đó là tỷ trọng tăng của lĩnh vực chăn nuôi Nếu năm 2007, tỷ trọng của ngành trồng trọt chiếm 62,96% thì đến năm 2010 giảm xuống còn 55,72% và đến năm 2011 chỉ còn 55,35% [29]
Diện tích gieo trồng cây lương thực của Thái Bình những năm qua tương đối
ổn định, năm 2011 với tổng số 174,9 nghìn ha và sản lượng đạt 1.140,8 nghìn tấn, Thái Bình là tỉnh dẫn đầu trong các tỉnh ở đồng bằng sông Hồng [29] Tỉnh đã có nhiều chính sách khuyến nông, tập trung cho thâm canh, tăng hệ số sử dụng đất, hoàn chỉnh và xây dựng các công trình thủy lợi, đưa giống mới vào sản xuất
Bảng 5 Diện tích, sản lượng cây lương thực có hạt của tỉnh Thái Bình
Trang 38Nguồn: NGTK Việt Nam 2005, 2011
Trong ngành trồng trọt, cây lương thực vẫn là cây trồng chủ yếu, chiếm 63,3% giá trị sản xuất của ngành Lúa giữ địa vị ưu thế trong các loại cây lương thực Diện tích lúa năm 2011 là 165,7 nghìn ha, sản lượng đạt 1.091,3 nghìn tấn Lúa được phân bố hầu hết ở các huyện trong tỉnh Từ những năm 1970 trở lại đây, năng suất lúa thường xuyên giữ vững ở vị trí hàng đầu cả nước và năng suất khá đồng đều ở các huyện trong tỉnh Năng suất lúa năm 2011 đạt 65,86 tạ/ha, cao nhất
cả nước Ngoài lúa, Thái Bình còn trồng các loại cây màu lương thực Diện tích trồng màu tăng lên qua các năm Cây màu chính gồm cây ngô và khoai lang Cây công nghiệp có đay, cói, dâu tằm, mía, lạc, thuốc lào [5]
Những năm qua, tỉnh đã thực hiện việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng nhằm tạo ra các vùng, khu vực chuyên canh tập trung và hiệu quả hơn Mỗi huyện đều đã hình thành và phát triển một số vùng trồng rau, màu tập trung, hiệu quả cao hơn 2-3 lần trồng lúa
Sự phát triển của ngành trồng trọt đã có tác động mạnh mẽ đến ngành chăn nuôi Trong điều kiện dịch bệnh khó kiểm soát nhưng chăn nuôi của tỉnh vẫn giữ được tăng trưởng khá ổn định, bình quân khoảng 9%/năm Số lượng gia súc, gia
Trang 39cầm tăng nhanh, có nhiều tiến bộ cả về giống và phương thức chăn nuôi, chuyển từ chăn nuôi mang tính tận dụng là chủ yếu sang chăn nuôi công nghiệp hoặc bán công nghiệp, đầu tư thâm canh tăng năng suất và chất lượng sản phẩm
Bảng 6 Số lượng gia súc, gia cầm của tỉnh qua một số năm
Nguồn: NGTK Việt Nam 2005, 2011
Năm 2011, tổng đàn trâu bò trên toàn tỉnh có 65,1 nghìn con Đàn lợn của Thái Bình nhìn chung tăng trước hết nhằm đáp ứng cho nhu cầu của nhân dân trong tỉnh, đạt 1.118 nghìn con Chăn nuôi gia cầm phát triển tương đối mạnh mẽ với 9.261 nghìn con Tuy vậy, chăn nuôi trang trại, gia trại đang có xu hướng giảm mạnh Xu thế chăn nuôi hộ trong khu vực dân cư cũng giảm mạnh do hiệu quả không cao và gây ô nhiễm môi trường Năm 2010, toàn tỉnh có 1.001 trang trại chăn nuôi, tăng gấp 2 lần năm 2006 và đã hình thành được 7 khu chăn nuôi tập trung với tổng diện tích 91 ha [10]
Là một tỉnh đồng bằng ven biển có nhiều sông ngòi, đầm hồ, ruộng nước là điều kiện thuận lợi cho phát triển chăn nuôi vịt Nghề nuôi ong cũng được phát triển mạnh ở một số ven biển có rừng ngập mặn, mỗi năm cả tỉnh thu được từ 40-60 tấn mật ong và hang chục kilo gam sữa ong chúa, phấn ong
Tóm lại, sản xuất chăn nuôi vẫn đạt yêu cầu thấp: chuyển đổi cơ cấu vật nuôi còn chậm; phát triển chăn nuôi theo hình thức trang trại, gia trại có quy mô còn nhỏ, chưa hiện đại
- Dự báo nhu cầu sử dụng nước mặt phục vụ sản xuất nông nghiệp:
Trang 40Trong thời gian tới diện tích đất nông nghiệp của tỉnh ngày càng bị thu hẹp
do phát triển các KCN, CCN và xây dựng cơ sở hạ tầng Quan điểm sử dụng đất nông nghiệp là: phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hoá, có năng suất chất lượng cao, tăng giá trị làm ra trên 1ha canh tác Hình thành các vùng chuyên canh về lương thực thực phẩm, cây công nghiệp ngắn ngày, cây ăn quả, chăn nuôi với khả năng thâm canh lớn Chuyển đất trồng lúa vùng trũng, hiệu quả thấp sang nuôi trồng thuỷ sản Theo quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội tỉnh Thái Bình đến năm 2020, cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp cũng có sự thay đổi, theo đó đất trồng cây hàng năm, đất vườn tạp sẽ giảm, đất trồng cây lâu năm, nuôi trồng thủy sản sẽ tăng Đất trồng cây hàng năm, mức độ thâm canh sẽ được nâng lên Dựa trên các dữ kiện này cho thấy công tác phát triển tài nguyên nước phục vụ sản xuất nông nghiệp vẫn cần tiếp tục phát triển, đảm bảo tưới tiêu chủ động hơn, có đủ nước cho thâm canh, tăng hệ số quay vòng đất và phục vụ cho chuyển đổi cơ cấu sản xuất, đa dạng hoá cây trồng, phát triển cây trồng có giá trị hàng hoá cao Dự báo nhu cầu nước cho nông nghiệp giảm nhẹ 2-3% vào năm 2020
b) Ngành lâm nghiệp
Với đặc thù về địa hình là tỉnh đồng bằng nên các hoạt động lâm nghiệp của Thái Bình không nhiều Năm 2010, tổng diện tích đất có rừng là 7,3 nghìn ha (chiếm 1,7% so với tổng diện tích đất có rừng của vùng ĐBSH), tập trung chủ yếu
là trồng, tu bổ rừng ngập mặn ở các huyện ven biển Tiền Hải, Thái Thụy và trồng cây phân tán [5]
Kết quả sản xuất lâm nghiệp của Thái Bình những năm qua thường phát triển không ổn định và có xu hướng giảm dần Năm 1995, giá trị sản xuất lâm nghiệp theo giá thực tế của tỉnh đạt 53.309 triệu đồng, đến năm 2000 giảm xuống còn 21.101 triệu đồng và đến năm 2010, 2011, có giá trị tương ứng là 9.580 triệu đồng
và 6.750 triệu đồng Giá trị sản xuất này đạt lớn nhất ở huyện Thái Thụy (1.693 triệu đồng, chiếm 25%), sau đó đến Tiền Hải (1.084 triệu đồng (chiếm 16%), lần lượt tiếp theo là huyện Quỳnh Phụ (14,4%), huyện Vũ Thư (11,6%), huyện Kiến