ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊNNGUYỄN ĐỨC ANH ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ TỔN THƯƠNG DO BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU CỦA HỆ THỐNG ĐÔ THỊ VÀ KHU DÂN CƯ NÔNG THÔN TỈNH PHÚ THỌ LUẬN VĂN
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
NGUYỄN ĐỨC ANH
ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ TỔN THƯƠNG DO BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU CỦA
HỆ THỐNG ĐÔ THỊ VÀ KHU DÂN CƯ NÔNG THÔN TỈNH PHÚ THỌ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội – 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
NGUYỄN ĐỨC ANH
ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ TỔN THƯƠNG DO BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU CỦA
HỆ THỐNG ĐÔ THỊ VÀ KHU DÂN CƯ NÔNG THÔN TỈNH PHÚ THỌ
Chuyên ngành: Quản lý tài nguyên và môi trường
Mã số: 60850101
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN AN THỊNH
Hà Nội - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan các nội dung, số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Luận văn này là sản phẩm nghiên cứu do cá nhân tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn An Thịnh, không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác Số liệu và kết quả của luận văn chưa từng được công bố
ở bất kỳ một công trình khoa học nào khác
Các thông tin thứ cấp sử dụng trong luận văn là có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đầy đủ, trung thực và đúng quy cách
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực và nguyên bản của luận văn
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Đức Anh
Trang 4
bộ của Khoa Địa lý, Trường Đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội
đã tạo điều kiện tốt nhất để học viên có thể tiếp thu kiến thức và hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Học viên xin chân thành cám ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của các cán bộ Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Phú Thọ, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Phú Thọ, Cục thống kê tỉnh Phú Thọ, Chi cục đê điều tỉnh Phú Thọ đã nhiệt tình giúp đỡ học viên trong quá trình khảo sát và thu thập tài liệu tại địa phương
Lời cuối cùng, học viên xin được cảm ơn sự động viên của bạn bè và sự ủng
hộ nhiệt tình của gia đình trong suốt quá trình học tập và rèn luyện
Trân trọng cảm ơn
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 TÍNH CẤP THIẾT 1
2 MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 2
3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
4 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN 3
5 CƠ SỞ DỮ LIỆU THỰC HIỆN ĐỀ TÀI 4
6 CẤU TRÚC LUẬN VĂN 4
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ LUẬN 5
VỀ ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ TỔN THƯƠNG DO BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 5
1.1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU 5
1.1.1 Các công trình nghiên cứu ngoài nước 5
1.1.2 Các công trình nghiên cứu trong nước 7
1.1.3 Các công trình nghiên cứu tại tỉnh Phú Thọ có liên quan đến đề tài luận văn 10
1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ TỔN THƯƠNG DO BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 11
1.2.1 Các khái niệm cơ bản 11
1.2.2 Cách tiếp cận và các bước đánh giá mức độ tổn thương do biến đổi khí hậu 13
1.3 QUAN ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
1.3.1 Các quan điểm nghiên cứu 16
1.3.2 Các phương pháp nghiên cứu 17
1.3.3 Quy trình các bước nghiên cứu 21
CHƯƠNG 2 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ TỔN THƯƠNG DO BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU CỦA HỆ THỐNG ĐÔ THỊ VÀ KHU DÂN CƯ NÔNG THÔN 22
2.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ - XÃ HỘI 22
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 22
Trang 62.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 30
2.2 HIỆN TRẠNG HỆ THỐNG ĐÔ THỊ 31
2.2.1 Hiện trạng phát triển hệ thống đô thị 31
2.2.2 Nhận xét tình hình đô thị hoá và phát triển đô thị 39
2.3 HIỆN TRẠNG CÁC KHU DÂN CƯ NÔNG THÔN 40
2.4 DIỄN BIẾN CÁC YẾU TỐ KHÍ HẬU, THIÊN TAI VÀ KỊCH BẢN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 41
2.4.1 Diễn biến các yếu tố khí hậu trong quá khứ 41
2.4.2 Kịch bản biến đổi khí hậu 44
2.4.3 Thiên tai và số liệu thiệt hại do thiên tai gây ra trong năm 2016 46
CHƯƠNG 3 MỨC ĐỘ TỔN THƯƠNG VÀ GIẢI PHÁP 50
PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG ĐÔ THỊ, KHU DÂN CƯ NÔNG THÔN 50
THÍCH ỨNG BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TỈNH PHÚ THỌ 50
3.1 XÂY DỰNG BỘ CHỈ SỐ ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ TỔN THƯƠNG 50
3.1.1 Các tiêu chí xây dựng bộ chỉ số đánh giá mức độ tổn thương 50
3.1.2 Bộ chỉ số đánh giá mức độ tổn thương cho hệ thống đô thị 51
3.1.3 Bộ chỉ số đánh giá mức độ tổn thương cho khu dân cư nông thôn 52
3.2 ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ TỔN THƯƠNG CỦA HỆ THỐNG ĐÔ THỊ 53 3.2.1 Đánh giá khả năng thích ứng (AC) của hệ thống đô thị 53
3.2.2 Đánh giá mức độ nhạy cảm (S) của hệ thống đô thị 57
3.2.3 Đánh giá độ phơi nhiễm (E) của hệ thống đô thị 61
3.2.4 Đánh giá mức độ tổn thương (V) của hệ thống đô thị 64
3.3 ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ TỔN THƯƠNG CỦA KHU DÂN CƯ NÔNG THÔN 67
3.3.1 Đánh giá khả năng thích ứng (AC) của khu dân cư nông thôn 67
3.3.2 Đánh giá mức độ nhạy cảm (S) của khu dân cư nông thôn 71
3.3.3 Đánh giá độ phơi nhiễm (E) của khu dân cư nông thôn 75
3.3.4 Đánh giá mức độ tổn thương (V) của khu dân cư nông thôn 78
3.4 ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ TỔN THƯƠNG TRUNG BÌNH CẤP HUYỆN81 3.5 ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ
Trang 7HẬU CỦA HỆ THỐNG ĐÔ THỊ VÀ KHU DÂN CƢ NÔNG THÔN 84
3.5.1 Các giải pháp tổng thể 84
3.5.2 Các giải pháp cụ thể 85
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
PHỤ LỤC 99
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Ma trận so sánh của các nhân tố 20
Bảng 1.2: Bảng chỉ số ngẫu nhiên RI do Satty đề xuất 21
Bảng 2.1: Hiện trạng dân số và và đô thị hóa toàn tỉnh năm 2011 - 2015 32
Bảng 2.2: Quy mô, đặc điểm các đô thị cấp tỉnh 33
Bảng 2.3: Quy mô, đặc điểm các đô thị cấp huyện 34
Bảng 2.4: Biến đổi nhiệt độ ( 0 C) trung bình theo kịch bản RCP4.5 của tỉnh Phú Thọ (Giá trị trong ngoặc đơn là khoảng biến đổi quanh giá trị trung bình với cận dưới 10% và cận trên 90%) 46
Bảng 2.5: Mức thay đổi (%) lượng mưa trung bình theo kịch bản RCP4.5 của tỉnh Phú Thọ (Giá trị trong ngoặc đơn là khoảng biến đổi quanh giá trị trung bình với cận dưới 20% và cận trên 80%) 46
Bảng 3.1: Bộ chỉ số đánh giá mức độ tổn thương cho hệ thống đô thị 51
Bảng 3.2: Bộ chỉ số đánh giá mức độ tổn thương cho khu dân cư nông thôn 52
Bảng 3.3: Xác định trọng số cho bộ chỉ thị (AC) cho hệ thống đô thị 53
Bảng 3.4: Kết quả tính toán khả năng thích ứng (AC) cho hệ thống đô thị 54
Bảng 3.5: Xác định trọng số cho bộ chỉ thị (S) cho hệ thống đô thị 57
Bảng 3.6: Kết quả tính toán mức độ nhạy cảm (S) cho hệ thống đô thị 58
Bảng 3.7: Xác định trọng số cho bộ chỉ thị (E) cho hệ thống đô thị 61
Bảng 3.8: Kết quả tính toán độ phơi nhiễm (E) cho hệ thống đô thị 62
Bảng 3.9: Xác định trọng số các chỉ thị (AC), (E), (S) của hệ thống đô thị 64
Bảng 3.10: Kết quả tính mức độ dễ bị tổn thương (V) cho hệ thống đô thị 64
Bảng 3.11: Xác định trọng số cho bộ chỉ thị (AC) cho khu dân cư nông thôn 67
Trang 9Bảng 3.12: Kết quả tính toán khả năng thích ứng (AC) cho khu dân cư nông thôn 68 Bảng 3.13: Xác định trọng số cho bộ chỉ thị (S) cho khu dân cư nông thôn 71 Bảng 3.14: Kết quả tính toán mức độ nhạy cảm (S) cho khu dân cư nông thôn 72 Bảng 3.15: Xác định trọng số cho bộ chỉ thị (E) cho khu dân cư nông thôn 75 Bảng 3.16: Kết quả tính toán độ phơi nhiễm (E) cho khu dân cư nông thôn 75 Bảng 3.17: Xác định trọng số các chỉ thị (AC), (E), (S) của khu dân cư nông thôn 78 Bảng 3.18: Kết quả tính mức độ dễ bị tổn thương (V) cho khu dân cư nông
thôn 78 Bảng 3.19: Kết quả tính mức độ dễ bị tổn thương (V) trung bình cấp huyện 81 Bảng 3.20: Một số giải pháp thích ứng BĐKH cụ thể cho từng huyện 85
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Quy trình các bước nghiên cứu 21
Hình 2.1: Bản đồ hành chính tỉnh Phú Thọ 22
Hình 2.2: Sự thay đổi của yếu tố nhiệt độ xác định tại 3 trạm Minh Đài, Phú Hộ, Việt Trì thời kỳ 1970 - 2010 42
Hình 2.3: Sự thay đổi của yếu tố lượng mưa tại 3 trạm Minh Đài, Phú Hộ, Việt Trì thời kỳ 1970 – 2010 44
Hình 3.1: Bản đồ năng lực thích ứng (AC) của hệ thống đô thị theo đơn vị cấp huyện 56
Hình 3.2: Bản đồ độ nhạy cảm (S) của hệ thống đô thị theo đơn vị cấp huyện 60 Hình 3.3: Bản đồ độ phơi nhiễm (E) của hệ thống đô thị theo đơn vị cấp huyện 63 Hình 3.4: Bản đồ mức độ tổn thương (V) của hệ thống đô thị theo đơn vị cấp huyện 66
Hình 3.5: Bản đồ năng lực thích ứng (AC) của khu dân cư nông thôn 70
Hình 3.6: Bản đồ độ nhạy cảm (S) của khu dân cư nông thôn 74
Hình 3.7: Bản đồ độ phơi nhiễm (E) của khu dân cư nông thôn 77
Hình 3.8: Bản đồ mức độ tổn thương (V) của khu dân cư nông thôn 80
Hình 3.9: Bản đồ mức độ tổn thương trung bình cấp huyện 83
Trang 11DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BĐKH : Biến đổi khí hậu
IPCC : Uỷ ban Liên Chính phủ về Biến đổi khí hậu
KTXH : Kinh tế xã hội
BTNMT : Bộ Tài nguyên và Môi trường
UBND : Uỷ ban nhân dân
UNEP : Chương trình Môi trường Liên hiệp quốc
UNESCO : Tổ chức Văn hóa, Giáo dục và Khoa học của Liên hiệp quốc UNFCCC : Công ước khung của Liên hiệp quốc về biến đổi khí hậu TDBTT : Tính dễ bị tổn thương
ADPC : Trung tâm sẵn sàng ứng phó với thiên tai Châu Á
Trang 12m vào năm 2100 gây ảnh hưởng lớn đến đời sống của người dân [8] Bên cạnh đó, biến đổi khí hậu thực sự đã làm cho thiên tai, đặc biệt là bão, lũ, hạn hán ngày càng nghiêm trọng gây tổn thương đến hệ thống cơ sở hạ tầng, kinh tế - xã hội và tính mạng của người dân Do đó, việc đánh giá mức độ tổn thương do biến đổi khí hậu đang ngày càng được quan tâm nghiên cứu
Phú Thọ là một tỉnh trung du miền núi, cửa ngõ phía Tây Bắc của thủ đô Hà Nội, cách thủ đô Hà Nội 80 km về phía Bắc Phía Đông giáp tỉnh Vĩnh Phúc và thành phố Hà Nội; Tây giáp tỉnh Sơn La; Nam giáp tỉnh Hòa Bình; Bắc giáp tỉnh Yên Bái và tỉnh Tuyên Quang Trên địa bàn tỉnh Phú Thọ có 3 sông lớn chảy qua là sông Hồng, sông Lô và sông Đà, có đường sắt Hà Nội – Lào Cai – Côn Minh và đường cao tốc xuyên Á, quốc lộ 2 Bên cạnh đó tỉnh Phú Thọ còn có khu du lịch văn hóa lịch sử Đền Hùng nổi tiếng Các trục có tốc độ đô thị hoá cao là các đô thị chủ yếu phát triển dọc theo QL2 từ thành phố Việt Trì lên đến huyện Đoan Hùng bao gồm: Thành phố Việt Trì, thị trấn Phong Châu, thị xã Phú Thọ, thị trấn Đoan Hùng Thị trấn Hùng Sơn, thị trấn Lâm Thao, thị trấn Hưng Hoá và thị trấn Thanh Sơn phát triển dọc theo tuyến quốc lộ 32 Các vùng có tốc độ đô thị kém, chậm phát triển là: Cẩm Khê, Yên Lập, Hạ Hoà Các điểm dân cư nông thôn tỉnh Phú Thọ, đặc biệt là các huyện miền núi (Tân Sơn, Thanh Sơn, Yên Lập Hạ Hoà,…) đời sống còn thấp, điều kiện hạ tầng xã hội và kỹ thuật chưa phát triển [21]
Hàng năm tỉnh Phú Thọ chịu ảnh hưởng nhiều thiên tai khắc nghiệt, nhất là khi các tác động của BĐKH ngày càng trở nên mạnh mẽ như hiện nay Năm 2016, địa bàn tỉnh đã xảy ra 13 đợt gió lốc, mưa lớn cục bộ, sét đánh; ảnh hưởng hoàn lưu của 02 cơn bão (Bão số 2, bão số 3) và 04 đợt lũ lớn trên sông Thao, 01 trận lũ quét
Trang 13trên ngòi Giành, ngòi Me, sông Bứa gây thiệt hại đáng kể đến người, tài sản, các công trình cở sở hạ tầng và sản xuất nông nghiệp [1] Biến đổi khí hậu ở tỉnh Phú Thọ đã ảnh hưởng lớn đến hạ tầng cơ sở, cuộc sống và sinh kế của người dân Nhiều dấu hiệu môi trường thay đổi ngày càng khắc nghiệt đã xảy ra, gây thiệt hại
cả về người và của như những đợt rét kéo dài làm chết hàng ngàn gia súc, những trận lụt ngày càng dữ dội, liên tiếp xảy ra ở khu vực miền núi Nhận thức rõ ảnh hưởng của BĐKH, việc đánh giá mức độ tổn thương của BĐKH đến các điểm dân
cư liên quan mật thiết đến đời sống và sự phát triển kinh tế - xã hội của người dân là việc hết sức quan trọng và cần thiết
Xuất phát từ lý do thực tiễn trên, đề tài luận văn thạc sỹ: “Đánh giá mức độ tổn thương do biến đổi khí hậu của hệ thống đô thị và khu dân cư nông thôn tỉnh Phú Thọ” được lựa chọn và nghiên cứu
2 MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
a Mục tiêu
Xác lập luận cứ khoa học và thực tiễn trong đề xuất giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu trên cơ sở đánh giá mức độ tổn thương đối với hệ thống đô thị và khu dân cư nông thôn trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
b Nhiệm vụ
Để đạt được mục tiêu trên, các nhiệm vụ nghiên cứu sau cần được thực hiện trên địa bàn tỉnh Phú Thọ:
- Tổng quan cơ sở lý luận và các phương pháp đánh giá mức độ tổn thương;
- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng và quy hoạch hệ thống đô thị và khu dân cư nông thôn;
- Nghiên cứu biểu hiện và kịch bản biến đổi khí hậu; mức độ ảnh hưởng và thiệt hại của hệ thống hạ tầng đô thị và khu dân cư nông thôn do thiên tai trong những năm gần đây;
- Nghiên cứu đánh giá các yếu tố liên quan đến mức độ tổn thương của hệ thống đô thị do biến đổi khí hậu (năng lực thích ứng, độ nhạy cảm, độ phơi nhiễm, mức độ tổn thương);
Trang 14- Nghiên cứu đánh giá các yếu tố liên quan đến mức độ tổn thương của các khu dân cư nông thôn do biến đổi khí hậu (năng lực thích ứng, độ nhạy cảm, độ phơi nhiễm, mức độ tổn thương);
- Định hướng các giải pháp phát triển hệ thống đô thị và các khu dân cư nông thôn thích ứng biến đổi khí hậu phục vụ công tác quản lý và quy hoạch
3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
a Phạm vi không gian
Nghiên cứu được thực hiện trong phạm vi ranh giới hành chính tỉnh Phú Thọ, gồm 13 đơn vị cấp huyện, diện tích tự nhiên là 3.534,56 km2 Cấp huyện được lựa chọn là đơn vị không gian cơ sở để đánh giá khả năng tổn thương do biến đổi khí hậu
b Phạm vi khoa học
- Đánh giá mức độ tổn thương do biến đổi khí hậu đối với hệ thống đô thị và khu dân cư nông thôn theo mô hình của IPCC dựa trên 3 biến: năng lực thích ứng,
độ nhạy cảm và độ phơi nhiễm;
- Trọng số được tính toán bằng phương pháp AHP;
- Đề xuất các giải pháp phát triển hệ thống đô thị và các khu dân cư nông thôn
thích ứng biến đổi khí hậu dựa trên kết quả đánh giá mức độ tổn thương
4 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
a Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm phong phú hệ thống tri thức của hướng nghiên cứu đánh giá mức độ tổn thương do biến đổi khí hậu nói chung, trong lĩnh vực quy hoạch đô thị và nông thôn thích ứng biến đổi khí hậu nói riêng
b Ý nghĩa thực tiễn
Các kết quả nghiên cứu tạo cơ sở dữ liệu về điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên; đánh giá mức độ tổn thương do biến đổi khí hậu đối với hạ tầng khu dân cư; đề xuất các giải pháp thích ứng là cơ sở khoa học cho các nhà quản lý ra
quyết định quản lý và quy hoạch đô thị - nông thôn
Trang 155 CƠ SỞ DỮ LIỆU THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
- Các công trình, đề tài nghiên cứu về biến đổi khí hậu và đánh giá mức độ tổn thương trên thế giới, tại Việt Nam và ở địa phương;
- Các văn bản về lĩnh vực: Tài nguyên và môi trường, Xây dựng, Giao thông vận tải, Nông nghiệp và phát triển nông thôn, liên quan đến biến đổi khí hậu ở Việt Nam và tỉnh Phú Thọ Quy hoạch tổng thể hệ thống đô thị và điểm dân cư nông thôn tỉnh Phú Thọ đến năm 2020, các quy hoạch khác có liên quan;
- Các tài liệu thống kê về kinh tế - xã hội, các báo cáo hàng năm, niên giám thống kê, báo cáo thiệt hại do thiên tai, của tỉnh Phú Thọ;
- Qua quá trình khảo sát thực địa và thu thập số liệu học viên tự phân tích, thành lập các bản đồ, bảng biểu như: Bộ chỉ số đánh giá mức độ tổn thương, bảng chuẩn hóa các chỉ thị, tính toán trọng số AHP, bản đồ khả năng thích ứng, bản đồ độ nhạy cảm, bản đồ độ phơi nhiễm, bản đồ mức độ tổn thương,
6 CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị và tài liệu tham khảo luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1 Tổng quan cơ sở lý luận về đánh giá mức độ tổn thương do biến đổi khí hậu
- Chương 2 Đặc điểm hệ thống đô thị, khu dân cư nông thôn và kịch bản biến đổi khí hậu tỉnh Phú Thọ
- Chương 3 Mức độ tổn thương và giải pháp phát triển hệ thống đô thị, khu dân cư nông thôn thích ứng biến đổi khí hậu tỉnh Phú Thọ
Trang 16CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ LUẬN
VỀ ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ TỔN THƯƠNG DO BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 1.1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
1.1.1 Các công trình nghiên cứu ngoài nước
Với cách tiếp cận đa ngành, đa lĩnh vực, các nghiên cứu tính dễ bị tổn thương (TDBTT) và khả năng tổn thương do BĐKH trên thế giới đã và đang có những đóng góp đáng kể trong quy hoạch,ứng phó khẩn cấp đối với các tai biến, thiếu hụt lương thực, nạn đói, phát triển kinh tế, làm cơ sở cho đánh giá môi trường chiến lược và quy hoạch cơ sở hạ tầng, hình thành các chương trình ưu tiên và bảo tồn tài nguyên – môi trường biển, đô thị, hoạch định chính sách, định hướng quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội cũng như thiết lập khung cho quản lý tổng hợp đới bờ tiếp cận gần với mục tiêu phát triển bền vững Trong đó, một số nghiên cứu đã mang lại những thành tựu đáng kể
Trong công trình nghiên cứu của Nass (2003) [34] về đánh giá TDBTT và thích ứng với BĐKH ở Nauy, TDBTT được nghiên cứu và đánh giá dựa trên cách tiếp cận đa chiều Đánh giá TDBTT được coi là một quá trình chứ không đơn thuần
là một kết quả thực hiện Nghiên cứu này có ý nghĩa trong việc đưa ra các kịch bản khí hậu, liên hệ với các điều kiện địa phương vào quá trình xác định mức độ tổn thương
Năm 2003, Cutter [30] đã xây dựng được bộ chỉ số đánh giá TDBTT tổn
thương xã hội (SoVI - Social Vulnerability Index) cho một vùng cụ thể Bộ chỉ số
SoVI gồm 42 tham số kinh tế xã hội, nhân khẩu và môi trường để xác định mức khả năng phục hồi sau tai biến của các khu vực ở Hoa Kỳ Chất lượng cuộc sống của con người (loại và kiến trúc nhà ở, cơ sở hạ tầng,…); môi trường tác động cũng rất quan trọng để hiểu rõ tổn thương xã hội, đặc biệt là những đặc điểm ảnh hưởng đến khả năng thiệt hại về kinh tế, thiệt hại về người do tai biến thiên nhiên Chính vì vậy, bộ chỉ tiêu được xây dựng có vai trò quan trọng trong kiểm soát những biến đổi trong tổn thương xã hội về cả khía cạnh không gian và thời gian
Trong nghiên cứu của Romieu (2010) [40], TDBTT hệ thống xã hội - môi trường tại khu vực Bắc Kinh (Trung Quốc) đã đánh giá bằng xây dựng các chỉ số
Trang 17thông qua việc định lượng các yếu tố tai biến và khả năng phục hồi của hệ thống xã hội, sinh thái Kết quả nghiên cứu có ứng dụng quan trọng cho phát triển bền vững
và bảo vệ, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên
Brunckhorst và nnk (2011) [28] đã thực hiện đánh giá tổn thương do tác động của BĐKH ở bang New South Wales, Australia trên cơ sở sử dụng một số chỉ thị tổn thương xã hội (chỉ thị bất lợi KT-XH, chỉ thị nguồn lực kinh tế và chỉ thị giáo dục và nghề nghiệp) để xây dựng chỉ số tổn thương tổng hợp của cộng đồng và khả năng thích ứng của họ Tổn thương được phân tích theo tổn thương ngắn hạn (bão, ngập lụt) và tổn thương dài hạn (bất lợi KT-XH, tính ổn định dân cư)
Uỷ ban Địa học ứng dụng Nam Thái Bình Dương SOPAC (2014) [43] đề xuất
bộ chỉ số gồm 50 chỉ số về tổn thương môi trường (EVI – Environmental
Vulnerability Index) Mỗi yếu tố gây tổn thương cho môi trường đều được định
lượng và đề xuất biện pháp giảm thiểu tổn thương Chỉ số tổn thương môi trường là
cơ sở để đánh giá phúc lợi xã hội và được thiết kế để đánh giá cả TDBTT kinh tế -
xã hội, đồng thời cung cấp cái nhìn sâu rộng vào các quá trình tiêu cực có thể ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của quốc gia Đây là công trình nghiên cứu có ý nghĩa lớn cho các nước đang phát triển thuộc nam Thái Bình Dương Đồng thời là
dữ liệu quan trọng phục vụ phát triển kinh tế bền vững tại khu vực, trong đó có Việt Nam
Lakhdar và nnk (2015) [32] đưa ra quan điểm cho rằng đánh giá tính dễ bị tổn thương do BĐKH là một nguyên tắc của sự phát triển bền vững Với nghiên cứu điển hình ở thị trấn Ghardaia, Algeria, nghiên cứu này đã thử một cách tiếp cận hoàn chỉnh hơn, bao gồm gần như toàn bộ những thách thức hiện nay ở khu vực này Kết quả nghiên cứu là cơ sở đề xuất một phương pháp đánh giá và ngăn ngừa nguy cơ do BĐKH
Chang và nnk (2015) [29] đã thực hiện nghiên cứu đánh giá tính dễ bị tổn thương do BĐKH ở thành thị bằng một cách tiếp cận mới Phương pháp đánh giá dùng các biến thành phần gồm độ phơi nhiễm, độ nhạy cảm và khả năng thích ứng của hệ thống đô thị tại Đài Loan Kết quả nghiên cứu đã xây dựng bản đồ mức độ tổn thương từ đó cho thấy các vùng dễ bị tổn thương do BĐKH Đồng thời nghiên
Trang 18cứu đã chỉ ra rằng những vùng có độ phơi nhiễm cao chưa chắc đã dễ bị tổn thương
mà chủ yếu phụ thuộc vào khả năng thích ứng của vùng đó
Tapia và nnk (2017) [45] thực hiện nghiên cứu xây dựng bộ chỉ số đánh giá mức độ tổn thương của các thành phố châu Âu do biến đổi khí hậu Nghiên cứu này trình bày đánh giá tính dễ bị tổn thương dựa trên chỉ số cho 571 thành phố ở châu
Âu Kết quả cho thấy những thách thức chính mà các thành phố châu Âu phải đối mặt để đối phó tốt hơn với những tác động của biến đổi khí hậu Kết quả này là một bước quan trọng để thúc đẩy sự hiểu biết về rủi ro của BĐKH đối với đô thị từ đó xây dựng các chính sách có hiệu quả của châu Âu đối với thích ứng đô thị trong bối cảnh BĐKH
Trong phần lớn các kết quả nghiên cứu kể trên, phương pháp viễn thám và GIS có vai trò rất quan trọng và đã được các nhà nghiên cứu TDBTT áp dụng để xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về các chỉ tiêu đánh giá TDBTT, phân tích không gian để thành lập các loại bản đồ mức độ tổn thương
1.1.2 Các công trình nghiên cứu trong nước
Các công trình nghiên cứu TDBTT và đánh giá mức độ tổn thương do BĐKH
ở Việt Nam chỉ mới bắt đầu từ những năm cuối của thế kỷ XX và được tiếp cận theo các lĩnh vực khác nhau của hệ thống tự nhiên – xã hội, cộng đồng dân cư và các tài nguyên ven biển trên quy mô nghiên cứu từ vùng/khu vực đến cả đới ven biển Việt Nam
Nổi bật là các công trình nghiên cứu TDBTT ở Việt Nam được Mai Trọng Nhuận và cộng sự triển khai từ những năm 2000 đến nay với các công trình nghiên cứu điển hình với các kết quả quan trọng: ứng dụng trong giảm thiểu thiệt hại tai biến, thích ứng với BĐKH, nâng cao khả năng ứng phó của cộng đồng chịu tổn thương, bảo vệ tài nguyên - môi trường biển định hướng cho quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, sử dụng tài nguyên bền vững Một số công trình và kết quả nghiên cứu điển hình như sau:
Trong giai đoạn 2001-2015, các nghiên cứu TDBTT của hệ thống tự nhiên –
xã hội đới ven biển miền Trung và Nam Trung Bộ được nhóm tác giả đề cập trong các đề tài và chuyên đề địa chất môi trường và địa chất tai biến Cụ thể trong đề tài
Trang 19“Nghiên cứu, đánh giá TDBTT của đới duyên hải Nam Trung Bộ làm cơ sở khoa học để giảm nhẹ tai biến, quy hoạch sử dụng đất bền vững” được thực hiện trong giai đoạn 2001-2002 Trong công trình này, lần đầu tiên các tác giả đã xây dựng được phương pháp luận, phương pháp và quy trình đánh giá TDBTT áp dụng cho đới duyên hải Qua đó, bước đầu thiết lập được quy trình công nghệ thành lập bản
đồ TDBTT của tài nguyên và môi trường đới duyên hải Nam Trung Bộ Nhận định, đánh giá các yếu tố ảnh hưởng tới TDBTT, đánh giá hiện trạng TDBTT và phân vùng TDBTT đới duyên hải Nam Trung Bộ dựa trên các bản đồ phân vùng mức độ nguy hiểm do tai biến và phân vùng mật độ các đối tượng bị tổn thương (mật độ tài nguyên, kinh tế - xã hội, cơ sở hạ tầng ) Kết quả đã thành lập được bản đồ phân vùng TDBTT các vùng ven biển miền Trung và Nam Trung Bộ theo 4 mức từ thấp đến cao Các nghiên cứu này đã góp phần quan trọng trong công tác giảm thiểu thiệt hại tai biến, bảo vệ tài nguyên và môi trường, quy hoạch sử dụng hợp lý lãnh thổ, lãnh hải ven bờ miền Trung, Nam Trung Bộ nói riêng và ven bờ Việt Nam nói chung
Cùng với đó, trong khía cạnh BĐKH toàn cầu, Mai Trọng Nhuận cùng cộng
sự đã có những nghiên cứu TDBTT do BĐKH (áp dụng cho thành phố Hạ Long, cửa sông Hồng, Chân Mây - Lăng Cô,…) Trên cơ sở đó, tập thể tác giả cũng đã đề xuất các giải pháp nhằm sử dụng bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường, phòng tránh giảm nhẹ thiên tai và thích ứng với BĐKH vùng như quy hoạch sử dụng bền vững tài nguyên – môi trường (với các mô hình phát triển kinh tế bền vững như nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và du lịch sinh thái, khai thác khoáng sản sạch,…), giải pháp quản lý và bảo vệ tài nguyên – môi trường, giải pháp giảm thiểu thiệt hại tai biến do BĐKH và giải pháp giáo dục nâng cao nhận thức cộng đồng Kết quả các nghiên cứu này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong xây dựng chính sách, chiến lược thích ứng với BĐKH, giảm thiểu tác động do BĐKH đến tài nguyên – môi trường đới ven biển và là cơ sở khoa học cho đánh giá môi trường chiến lược [18]
Từ năm 2007 đến nay, cũng đã có nhiều dự án hợp tác giữa Việt Nam và quốc
tế cũng đã có những tiếp cận tổng hợp đến việc nghiên cứu TDBTT do tác động của
Trang 20BĐKH Dự án WISDOM (Hệ thống Thông tin liên quan đến Nước cho Sự Phát triển Bền vững của Đồng bằng Sông Cửu Long 2007-2010) được phối hợp giữa Việt Nam và Đức đã lựa chọn đánh giá TDBTT cách ứng phó trên khía cạnh các mối nguy liên quan đến nước, đặc biệt lũ và xâm nhập mặn tại ba địa điểm là xã Phú Hiệp, Phú Thạnh B, đại diện cho các xã thuộc huyện Tam Nông, Đồng Tháp; các xã Phong Thạnh và Phong Phú thuộc Cầu Kè tại Trà Vinh và các khu vực đô thị
và ven đô tại Cần Thơ Nghiên cứu ở Đồng Tháp cho thấy những thay đổi về chính sách và cấu trúc có liên quan là nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến sự tổn thương của các hộ gia đình sống trong hai xã nghiên cứu Thay đổi kiểu sinh kế có một tác động mạnh mẽ đến các đặc tính tổn thương do tiềm năng đối phó và thích ứng - chẳng hạn như khả năng làm giảm tác động gây ra do sự mất thu nhập trong năm lũ lụt hoặc để sửa chữa hư hỏng tài sản – có sự liên quan rất lớn đến tình trạng sinh kế Nghiên cứu thăm dò tại Cần Thơ đã cho thấy một cái nhìn cơ bản về những đặc điểm của sự tổn thương đô thị và ven đô Thông qua sự kết hợp của các phương pháp khác nhau như thảo luận nhóm với các chuyên gia, phỏng vấn hộ gia đình và những phân tích dữ liệu thứ cấp (số liệu thống kê về lũ lụt), kiến thức về các kiểu tổn thương và quy trình quản lý có thể thu thập được Nhờ đó, các câu hỏi nghiên cứu và phương pháp tiếp cận có thể được điều chỉnh cho các nghiên cứu ở giai đoạn tiếp theo Dự án phân tích khá chi tiết ảnh hưởng của BĐKH có ý nghĩa quan trọng trong công tác quy hoạch lãnh thổ của khu vực và chính sách thích ứng của cộng đồng [25]
Cuối năm 2010, dự án “Tiếp cận tổng hợp đến các đối tượng dễ bị tổn thương nhằm đối phó với các thảm họa tự nhiên tại miền Trung Việt Nam” được hợp tác giữa Đại học Nông lâm Huế - Đại học Huế, Việt Nam và Viện GSGES – Đại học Kyoto, Nhật Bản dưới sự tài trợ của Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) Khu vực lựa chọn nghiên cứu của dự án gồm 4 xã: xã Hương Phong, xã Hương Vân huyện Hương Trà, 1 xã thuộc huyện núi A Lưới và nhóm cư dân vạn đò định cư tại thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế Đây là những nơi thường xuyên gặp thiên tai
và dễ bị tổn thương bởi những ảnh hưởng của thiên tai và cần có sự hỗ trợ để nâng cao năng lực đối phó với thiên tai Dự án được thực hiện với mục tiêu làm rõ tính
Trang 21trạng dễ bị tổn thương do thiên tai và hoàn cảnh của người dân dễ bị tổn thương trong khu vực đối tượng, nâng cao năng lực phòng chống thiên tai qua các lớp tận huấn cho người dân dễ bị tổn thương Nâng cao năng lực phòng chống thiên tai thông qua đa dạng hóa sinh kế theo thí điểm có sự tham gia của người dân cho người dân dễ bị tổn thương Biên soạn và phân phối các tập tài liệu kỹ thuật và tập huấn về đối phó thiên tai cũng như đa dạng hóa sinh kế Nâng cao kiến thức đối phó thiên tai của chính quyền các cấp, và cộng đồng qua các lớp tập huấn, và cấu trúc lại mạng lưới kết hợp nhằm đối phó thiên tai và đa dạng hóa sinh kế [16]
Viện nghiên cứu BĐKH, Đại học Cần Thơ với sự tham gia của một số viện nghiên cứu và tổ chức phi chính phủ nước ngoài đã thỏa thuận thực hiện dự án nghiên cứu: Tác động của BĐKH và đánh giá tính dễ bị tổn thương của thành phố Cần Thơ
Ðây là một phần của chương trình được tài trợ bởi Quỹ Rockerfeller (Mỹ) nhằm hỗ trợ nhóm các thành phố ở Châu Á – mạng lưới các thành phố châu Á (gồm Việt Nam, Thái Lan, Ấn Ðộ và Indonesia) có khả năng chống chịu với BĐKH (ACCCRN) xây dựng các công cụ và biện pháp thực tế để ứng phó BĐKH, giảm nghèo và quản lý tốc độ đô thị hóa đang gia tăng
Kết quả nghiên cứu của dự án “Tác động của BĐKH tới tăng trưởng và phát triển kinh tế ở Việt Nam” do Cơ quan Phát triển Quốc tế Đan Mạch phối hợp với Viện Nguy cơ Quản lý Kinh tế Trung ương Việt Nam thực hiện đã nhận định: Đến năm 2050 BĐKH sẽ làm tăng trưởng kinh tế chậm lại, thiệt hại do BĐKH trong giai đoạn 2007-2050 ở Việt Nam ước tính khoảng 8-21 tỷ USD, trong trường hợp xấu nhất có thể lên đến 40 tỷ USD Nông nghiệp là lĩnh vực bị ảnh hưởng nhiều nhất do BĐKH nhưng do tỷ lệ đóng góp trong nền kinh tế ngày cảng giảm nên cũng không gây ảnh hưởng nhiều [26]
1.1.3 Các công trình nghiên cứu tại tỉnh Phú Thọ có liên quan đến đề tài luận văn
Trần Ngọc Minh (2007) nghiên cứu đặc điểm khí hậu và phân vùng khí hậu tỉnh Phú Thọ phục vụ phát triển bền vững và phòng chống thiên tai Tác giả đã xây dựng bản đồ phân vùng đặc điểm khí hậu tỉnh Phú Thọ phục vụ phát triển kinh tế xã
Trang 22hội và đề xuất một số giải pháp nhằm khai thác hợp lý tài nguyên khí hậu phục vụ phát triển bền vững và phòng chống thiên tai trên địa bàn tỉnh Phú Thọ [18]
Năm 2012, Uỷ ban nhân dân tỉnh Phú Thọ đã phê duyệt “Kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu của tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2012-2015, tầm nhìn 2020” do Trung tâm Tư vấn khí tượng thủy văn và môi trường, Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường là đơn vị tư vấn lập Kế hoạch đã chỉ rõ diễn biến của biến đối khí hậu trên địa bàn tỉnh hiện tại và tầm nhìn tương lai, phân tích hiện trạng kinh tế - xã hội để đề xuất các dự án và biện pháp thích ứng giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu [20]
Nói tóm lại, tác động và thích ứng BĐKH tại tỉnh Phú Thọ được quan tâm trong một số công trình nghiên cứu và dự án triển khai Tuy nhiên, vấn đề đánh giá tính dễ bị tổn thương do BĐKH và đề xuất giải pháp thích ứng đối với hệ thống đô thị và khu dân cư nông thôn chưa được nghiên cứu Do đó, luận văn thực hiện nghiên cứu trên cơ sở thừa kế những nghiên cứu trước tại tỉnh Phú Thọ (về biến đổi khí hậu), từ đó xây dựng bộ tiêu chí và thực hiện đánh giá TDBTT của hệ thống đô thị và khu dân cư nông thôn do BĐKH tại khu vực này
1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ TỔN THƯƠNG DO BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
1.2.1 Các khái niệm cơ bản
a Biến đổi khí hậu: Sự thay đổi của khí hậu (định nghĩa của Công ước khí
hậu) được quy trực tiếp hay gián tiếp là do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu và đóng góp thêm vào sự biến động khí hậu tự
nhiên trong các thời gian có thể so sánh được [20]
Biến đổi khí hậu xác định sự khác biệt giữa các giá trị trung bình dài hạn của một tham số hay thống kê khí hậu Trong đó, trung bình được thực hiện trong một khoảng thời gian xác định, thường là vài thập kỷ [20]
b Tác động của biến đổi khí hậu
Những thay đổi về nhiệt độ, lượng mưa và nước biển dâng do BĐKH sẽ dẫn đến những tác động về kinh tế, xã hội và môi trường Các tác động này có thể là tác động trực tiếp hay gián tiếp, tích cực hay tiêu cực Tác động của BĐKH còn được coi là tác động do sự thay đổi trong hệ thống khí hậu và các sức ép khác Tại một
Trang 23địa phương nào đó tác động của BĐKH là sự kết hợp của tác động trực tiếp (lũ lụt, hạn hán, bão nước biển dâng) và tác động gián tiếp Tác động trực tiếp gây ảnh hưởng đến hệ thống nông nghiệp khu dân cư, sức khỏe, cơ sở hạ tầng, rừng và các
hệ sinh thái Tác động gián tiếp có thể tác động đến hệ thống phân phối lương thực cung cấp và sử dụng nguồn lao động, tiêu chuẩn môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm, cung cấp và sử dụng quỹ hỗ trợ phát triển và hỗ trợ các vấn đề BĐKH [8] BĐKH có thể tác động đến các ngành kinh tế, các lĩnh vực xã hội và những đối tượng dễ bị tổn thương như người nghèo, người già, phụ nữ, dân cư ở các vùng núi, vùng biển …
Tác giả Anupam Khajuria trong công trình Climate Change Vulnerability Assessment – Approach DPSIR cho rằng: Kết hợp với các áp lực khác, tác động của BĐKH có thể làm gia tăng các thách thức nghiêm trọng của địa phương và khu vực như đói nghèo, chăm sóc sức khỏe cho người nghèo, bất bình đẳng trong việc phân phối các nguồn lực, làm giảm khả năng phục hồi về mặt sinh thái và tạo ra sự bất ổn
về mặt năng lượng
Các tác động của BĐKH thể hiện khác nhau theo các vùng địa lý Tại mỗi vùng mỗi khu vực, mỗi địa phương (cấp tỉnh, huyện) tác động của BĐKH thể hiện với các mức độ khác nhau kể cả các yếu tố tác động lẫn cường độ, quy mô tác động [8]
c Tính tổn thương/ Khả năng (bị) tổn thương (Vulnerability) do tác động của BĐKH là mức độ mà một hệ thống (tự nhiên, xã hội, kinh tế) có thể bị tổn thương
do BĐKH, hoặc không có khả năng thích ứng với những tác động bất lợi của BĐKH [20]
d Ứng phó với biến đổi khí hậu (Response/Coping) là các hoạt động của con
người nhằm thích ứng và giảm nhẹ các tác nhân gây ra BĐKH Thích ứng với biến đổi khí hâ ̣u (adaptation) là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc con người đối với hoàn cảnh hoặc môi trường thay đổi, nhằm mục đích giảm khả năng bị tổn thương
do BĐKH và tận dụng các cơ hội do nó mang lại Giảm nhẹ biến đổi khí hậu (Mitigation) là các hoạt động nhằm giảm mức độ hoặc cường độ phát thải khí nhà kính [22]
Trang 24e Kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH
Dựa vào kịch bản BĐKH của Bộ Tài nguyên và Môi trường đánh giá mức độ tác động của BĐKH đối với các lĩnh vực kinh tế/khu vực địa lý, từ đó xây dựng và lựa chọn các giải pháp cụ thể ứng phó với BĐKH và thực hiện việc nghiên cứu lồng ghép các hoạt động của Kế hoạch hành động vào quy hoạch phát triển KT-XH cũng như quy hoạch của từng ngành, lĩnh vực Bên cạnh đó, trong kế hoạch hành động thực hiện việc củng cố và tăng cường được năng lực tổ chức, thể chế, chính sách về BĐKH, nâng cao được nhận thức, trách nhiệm tham gia của cộng đồng và phát triển nguồn nhân lực [22]
1.2.2 Cách tiếp cận và các bước đánh giá mức độ tổn thương do biến đổi khí hậu
a Cách tiếp cận đánh giá mức độ tổn thương do BĐKH
Đánh giá tổn thương do BĐKH là đánh giá mức độ dễ bị ảnh hưởng của một/các đối tượng (các cộng đồng, khu vực, nhóm người hoặc hoạt động KT-XH/ngành) dưới tác động của BĐKH Mức độ dễ bị tổn thương của một đối tượng không chỉ phụ thuộc vào bản chất của BĐKH mà còn phụ thuộc vào khả năng thích ứng của đối tượng đó [24]
Trong luận văn sử dụng cách tiếp cận đánh giá mức độ tổn thương theo IPCC (2007) [31] nguy cơ tổn thương trước BĐKH được xác định là “mức độ mà một hệ thống nhạy cảm hoặc là không thể đương đầu với những tác động của BĐKH, bao gồm những thay đổi và hiện tượng cực đoan của khí hậu” IPCC đã xác định 3 biến
số cần thiết để đánh giá nguy cơ tổn thương là: tai biến khí hậu (đe dọa), tính nhạy cảm với tai biến và khả năng thích ứng và đương đầu với các tác động tiềm năng Bezuien cho rằng nguy cơ tổn thương là hàm số của đặc điểm, mức độ và tỷ lệ của những thay đổi về khí hậu mà theo đó, một hệ thống bị đặt vào tình trạng đe dọa, mức độ nhạy cảm và khả năng thích ứng của nó
Nguy cơ tổn thương = f (độ phơi nhiễm, độ nhạy cảm, năng lực thích ứng)
V = f (E, S, AC)
+ Độ phơi nhiễm (Exposure) là tính chất và mức độ mà một hệ thống tiếp xúc với những thay đổi đáng kể của khí hậu Trong nhiều trường hợp các nhà nghiên
Trang 25cứu khác nhau đã gọi độ phơi nhiễm là độ hứng chịu hoặc độ phơi lộ Độ phơi nhiễm phản ánh các yếu tố bên ngoài của hệ thống chẳng hạn như những thay đổi của các dao động khí hậu, bao gồm cả các hiện tượng thời tiết cực đoan hoặc mức
độ thay đổi của các điều kiện khí hậu trung bình Độ phơi nhiễm có thể bao gồm cả
vị trí địa lý có liên quan đến mức độ bị tác động cao bởi những rủi ro [24] Trong luận văn, độ phơi nhiễm phụ thuộc vào những yếu tố thời tiết cực đoan (lượng mưa thấp nhất mùa hè, nhiệt độ cao nhất mùa hè, nhiệt độ thấp nhất mùa đông) và thiên tai (bão, áp thấp nhiệt đới; gió lốc, mưa dông và lũ sông)
+ Độ nhạy cảm (Sensitivity) là mức độ mà một hệ thống bị ảnh hưởng hoặc xấu hoặc tốt bởi các tác nhân liên quan đến khí hậu Độ nhạy cảm tùy thuộc vào bối cảnh cụ thể và có thể thay đổi từ vùng này sang vùng khác, từ cộng đồng này với cộng đồng khác, giữa các nhóm xã hội và các cá nhân và có sự thay đổi theo thời gian cả về giá trị cũng như về bản chất [24] Trong luận văn, độ nhạy cảm phụ thuộc vào những yếu tố dân số (số dân, mật độ dân số,…); yếu tố về kinh tế - xã hội (tỷ lệ hộ nghèo, tỷ lệ hộ cận nghèo, tỷ lệ người phụ thuộc, …) và số thiệt hại do thiên tai, thời tiết cực đoan (số người chết, bị thương; số nhà ở, tài sản bị thiệt hại,…)
+ Năng lực thích ứng (Adaptive Capacity) là khả năng của một hệ thống thích nghi với BĐKH (bao gồm biến động khí hậu và các hiện tượng cực đoan) để giảm nhẹ thiệt hại tiềm năng do nó gây ra, để tận dụng các cơ hội hoặc đối phó với các hậu quả Năng lực thích ứng của một cộng đồng phụ thuộc vào sự kết hợp của các yếu tố kinh tế, xã hội, công nghệ và sự phân bố nguồn lực [24] Trong luận văn, năng lực thích ứng phụ thuộc vào yếu tố cơ sở hạ tầng (tỷ lệ dân dùng nước hợp vệ sinh, tỷ lệ rác thải sinh hoạt được thu gom, tỷ lệ đường giao thông được cứng hóa,
…); yếu tố về kinh tế - xã hội ( thu nhập bình quân đầu người, tổng vốn đầu tư xã hội, tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế,…) và yếu tố về lao động ( tỷ lệ lao động có việc làm, tỷ lệ lao động đang làm việc đã qua đào tạo)
+ Đánh giá nguy cơ tổn thương là sự tính toán các giá trị của 3 hợp phần chính sau đây: Độ phơi nhiễm, độ nhạy cảm và năng lực thích ứng của các đối tượng bị tác động khác nhau do BĐKH tại khu vực địa lý cụ thể Mức độ tổn thương không
Trang 26dễ dàng xác định và định lượng hóa được, đặc biệt là đối với những vấn đề KT-XH Các đối tượng có nguy cơ tổn thương và mức độ tổn thương của chúng thường được xác định theo bối cảnh và các mục tiêu nguy cơ cụ thể Đối với nguy cơ đánh giá mức độ tổn thương ở cấp vi mô (cấp huyện, xã) thường sử dụng cơ sở dữ liệu gốc được thu thập từ các cuộc điều tra khảo sát thực tế, đối với những đánh giá ở cấp cao hơn (cấp tỉnh, cấp vùng) cần phải sử dụng thêm các dữ liệu thứ cấp
Lĩnh vực đánh giá nguy cơ tổn thương ra đời để giải quyết nhu cầu định lượng hóa xem các cộng đồng sẽ thích ứng như thế nào với những thay đổi điều kiện môi trường Đánh giá nguy cơ tổn thương có ý nghĩa quan trọng bởi vì nó là một trong những căn cứ hết sức cần thiết để xây dựng chính sách và các kế hoạch thích ứng cho các nhóm và các khu vực dễ bị tổn thương cụ thể đồng thời nó cũng là căn cứ
để thiết lập các cơ chế phản hồi nhằm giảm rủi ro của BĐKH
Như vậy, việc đánh giá mức độ tổn thương được tiến hành bằng cách xây dựng “chỉ số dễ bị tổn thương” và tính toán, phân ngưỡng giá trị của các chỉ số dễ bị tổn thương cho đối tượng đánh giá (trong phạm vi đề tài này, đối tượng đánh giá là các đơn vị cấp huyện và tương đương của tỉnh Phú Thọ) Chỉ số này dựa trên nhiều
bộ chỉ thị làm nên khả năng dễ bị tổn thương của một vùng Phương pháp này cho kết quả là một số duy nhất, có thể được dùng để so sánh các vùng khác nhau Đánh giá mức độ tổn thương được thực hiện dựa vào các chỉ số dễ bị tổn thương V (Vulnerability) được tính toán dựa trên 3 yếu tố thành phần: độ phơi nhiễm E (Exposure), độ nhạy S (Sensitivity) và năng lực thích ứng AC (Adaptation Capacity)
b Các bước đánh giá mức độ tổn thương do BĐKH sử dụng trong luận văn
Bao gồm 4 bước chuyển từ các chỉ thị sang các đặc trưng và cuối cùng là chỉ
số chuẩn hóa tổng hợp của nguy cơ tổn thương Đối với mỗi đặc trưng có một giá trị được xác định thông qua việc so sánh dữ liệu của các chỉ số thuộc về các đặc trưng
đó Các giá trị đặc trưng sẽ được sử dụng làm đầu vào cho việc tính toán các giá trị của 3 hợp phần: Mức độ hứng chịu, mức độ nhạy cảm và năng lực thích ứng Chỉ số chuẩn hóa của nguy cơ tổn thương (Vulnerability index) của vùng được tính toán bằng việc tổng hợp các giá trị của các hợp phần này Các bước tính toán như sau:
Trang 27Quy trình gồm 4 bước:
Bước 1: Chuẩn hóa các chỉ thị được lựa chọn bằng cách dùng phần mềm
thống kê IBM SPSS Statistics 20 theo phương pháp chuẩn hóa dữ liệu theo phương sai (z-score)
Trong chuẩn hóa z-score, các giá trị của thuộc tính A sẽ được chuẩn hóa dựa trên giá trị trung bình và độ lệch chuẩn của A Một giá trị v của A sẽ được chuẩn hóa thành giá trị v’ bằng công thức sau:
Trong đó: A là giá trị trung bình của A; A là độ lệch chuẩn của A
Việc tính toán nhằm mục đích đưa các yếu tố khác nhau có đơn vị khác nhau quy về cùng một đơn vị
Bước 2: Xác định trọng số của các chỉ thị bằng phương pháp AHP Trong luận
văn sử dụng ứng dụng AHP Online Calculator của BPMSG để thực hiện đánh giá AHP
Bước 3: Tính toán giá trị các thành phần/biến: Giá trị của các chỉ thị trong một
phần/biến được tích hợp lại để có được giá trị chung của thành phần/biến đó:
C = ∑(Trọng số AHP của chỉ thị * Giá trị của chỉ thị đã chuẩn hóa)
Bước 4: Tính toán chỉ số tổng hợp mức độ dễ bị tổn thương: Tích hợp các giá
trị của ba thành phần/biến sẽ có chỉ số tổng hợp mức độ dễ bị tổn thương:
1.3 QUAN ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.3.1 Các quan điểm nghiên cứu
S
Trang 28bình diện có ảnh hưởng trong một thể thống nhất hữu cơ Vì các đơn vị lảnh thổ địa
lý tự nhiên là một hệ thống phức tạp gồm các hợp phần tự nhiên cấu thành có tác động tương hỗ lẫn nhau thông qua các dòng vật chất, năng lượng và thông tin Khi
có một hợp phần nào đó bị tác động và bị biến đổi thì các hợp phần khác cũng sẽ bị biến đổi theo Dựa trên cơ sở các kết quả phân tích toàn diện, đồng bộ về các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và tài nguyên thiên nhiên với quy luật phân hoá của chúng, cũng như các mối tác động tương hỗ của các hợp phần của tổng hợp thể địa
lý để nghiên cứu đánh giá tác động của biến đổi khí hậu Đây là một quan điểm hữu dụng cho việc bảo vệ tài nguyên môi trường tiến tới phát triển bền vững
b Quan điểm lịch sử
Các hợp phần địa lý tự nhiên tồn tại và phát triển theo quy luật riêng và chịu chi phối của các hợp phần tự nhiên khác Trong từng giai đoạn lịch sử khác nhau, chúng bị biến đổi dưới các tác động tự nhiên và nhân tạo Vì thế khi nghiên cứu về biến đổi khí hậu thì cần phải đứng trên quan điểm lịch sử để có thể đưa ra được những biện pháp hữu hiệu cho giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu phục vụ cho phát triển bền vững
c Quan điểm phát triển bền vững
Phát triển bền vững là nhu cầu cấp bách và xu thế tất yếu trong tiến trình phát triển của xã hội loài người Vì vậy khi nghiên cứu đánh giá tác động của biến đổi khí hậu tại tỉnh Phú Thọ cần đứng trên góc độ phát triển bền vững để đạt hiệu quả cao nhất
1.3.2 Các phương pháp nghiên cứu
a Phương pháp khảo sát thực địa, thu thập, thống kê, xử lý và phân tích tài liệu
Phương pháp này được sử dụng để phân tích tình hình các vấn đề về thiên tai, sinh kế tại địa phương có liên quan đến nghiên cứu Các loại số liệu lấy từ nguồn khảo sát thực địa sau được thống kê và phân tích:
- Số liệu quan trắc về khí hậu: Số liệu về nhiệt độ độ trung bình năm, nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất, nhiệt độ trung bình tháng lạnh nhất, lượng mưa năm, lượng mưa mùa mưa, lượng mưa mùa khô, các ngày mưa lớn từ 2010 đến năm
2015 Bộ số liệu này được thu thập từ trạm quan trắc khí tượng tại địa phương Sử
Trang 29dụng các phương pháp thống kê khí tượng để xem xét xu hướng của BĐKH tại địa phương thông qua một số đặc trưng như nhiệt độ, lượng mưa Thừa kế từ các báo cáo về tình hình thời tiết trên địa bàn tỉnh
- Các hiện tượng thiên tai: Thu thập số liệu của lũ lụt, hạn hán, rét hại, nắng nóng, từ các báo cáo Tổng kết thiệt hại do thiên tai hàng năm của UBND tỉnh Phú Thọ; các báo chí, website của các tổ chức liên quan; sử dụng phương pháp thống kê
để xem xét tần xuất xuất hiện các dạng thiên tai trên địa bàn
- Số liệu về kinh tế - xã hội: Từ các Báo cáo Tổng kết thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội hàng năm của tỉnh Sau khi thu thập, tiến hành chuẩn hóa thành các biến chỉ thị Sau đó, sử dụng thống kê mô tả để mô tả đặc trưng của các biến theo các chuỗi
Phương pháp thu thập, xử lý số liệu đã trở thành phương pháp nghiên cứu chính Dưới sự hỗ trợ của công cụ nghiên cứu, phương pháp thu thập, xử lý và phân tích tài liệu được sử dụng ở tất cả các khâu của luận văn
b Phương pháp bản đồ và GIS
Việc ứng dụng các phần mềm bản đồ cùng các phép phân tích không gian trong môi trường GIS để thể hiện các kết quả trên bản đồ là rất hữu ích trong việc phân vùng hiện trạng phát triển kinh tế-xã hội, phân vùng tổn thương do biến đổi khí hậu Phương pháp này được sử dụng cho các mục đích sau :
- Sử dụng bản đồ nghiên cứu từ thực địa Bản đồ sử dụng là bản đồ địa hình tỷ
lệ 1:50.000
- Sử dụng phần mềm Mapinfo 15.0 để thành lập các bản đồ chuyên đề bao gồm bản đồ mức độ phơi nhiễm, bản đồ mức độ nhạy cảm, bản đồ khả năng thích ứng và bản đồ tổn thương của khu vực
c Phương pháp tính toán trọng số theo mô hình quá trình phân tích thứ bậc (AHP)
Phương pháp đánh giá theo quá trình phân tích thứ bậc (AHP = Analytic Hierarchy Process) được Saaty phát triển trong những năm 1970 dựa trên các mô hình toán học và tâm lý học Với ưu thế trong xác định khách quan các trọng số nhằm đưa ra các quyết định đa bậc, phương pháp này hiện nay được sử dụng rộng rãi trong rất nhiều lĩnh vực, cả khoa học tự nhiên và khoa học xã hội nhân văn Việc
Trang 30sử dụng AHP trong lựa chọn các giải pháp ưu tiên thể hiện được những ưu thế sau
so với các phương pháp phân tích truyền thống:
- Với nền tảng toán học mạnh nên cho phép phân tích, đánh giá và phân loại các vấn đề môi trường một cách bán định lượng và định lượng;
- Cho phép xây dựng một hệ thống chỉ tiêu đánh giá nhiều cấp rất linh hoạt Những vấn đề phức tạp được phân tích thành những chỉ tiêu đơn giản hơn theo nhiều cấp, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc đánh giá
- Các chuyên gia được quyền linh hoạt hơn trong việc xếp hạng so sánh mức
độ quan trọng của các chỉ tiêu ở mỗi cấp
- Đánh giá được tính nhất quán trong các đánh giá của chuyên gia dựa trên so sánh từng cặp đôi một để xác định trọng số và có kỹ thuật tính toán chỉ số đo lường
sự nhất quán từ đó giảm thiểu được những hạn chế vốn có của phương pháp chuyên gia đó là tính chủ quan
Quá trình đánh giá sử dụng ma trận so sánh cặp với thang 9 điểm, xác định trọng số dựa trên vector riêng ứng với giá trị riêng lớn nhất, sau đó kiểm tra hệ số nhất quán của trọng số (Saaty, 1980) [44]
AHP dựa trên ba nguyên tắc: (1) Phân tích vấn đề ra quyết định, (2) Đánh giá
so sánh các thành phần, (3) Tổng hợp các yếu tố ưu tiên
Cụ thể bài toán AHP trong luận văn được tính toán theo 2 bước
* Bước 1: Xác định trọng số của các giải pháp dựa trên phân tích các ma trận
vuông cấp n (còn gọi là ma trận độ ưu tiên bậc 1, bậc 2, ) Các tiêu chí trong ma trận này sau đó được thực hiện so sánh từng cặp với nhau Độ ưu tiên cho các tiêu chí được xác định theo bảng độ ưu tiên chuẩn của Saaty (1980) với 9 bậc ưu tiên và giá trị tương ứng sau:
- Ưu tiên bằng nhau: 1 điểm
- Ưu tiên bằng nhau cho đến vừa phải: 2 điểm
- Ưu tiên vừa phải: 3 điểm
- Ưu tiên vừa phải cho đến hơi ưu tiên: 4 điểm
- Hơi ưu tiên hơn: 5 điểm
- Hơi ưu tiên cho đến rất ưu tiên: 6 điểm
Trang 31- Rất ưu tiên: 7 điểm
- Rất ưu tiên cho đến vô cùng ưu tiên: 8 điểm
- Vô cùng ưu tiên: 9 điểm
* Bước 2: Tính toán trọng số cho các chỉ tiêu theo phần mềm tính toán AHP
Online Calculator của BPMSG
Trang 32CR = CI
RI 100%
Trong đó: RI là chỉ số ngẫu nhiên phụ thuộc vào bậc của ma trận (n)
Nếu chỉ số CR ≤ 0,1 có nghĩa là sai số trong khoảng 10% và các đánh giá là
nhất quán, chính xác
Bảng 1 2 2: Bảng chỉ số ngẫu nhiên RI do Satty đề xuất
RI 0 0 0,58 0,9 1,12 1,24 1,32 1,41 1,45 1,49
1.3.3 Quy trình các bước nghiên cứu
Hình 1 1 .1: Quy trình các bước nghiên cứu
Trang 33CHƯƠNG 2 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ TỔN THƯƠNG
DO BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU CỦA HỆ THỐNG ĐÔ THỊ VÀ KHU DÂN CƯ
NÔNG THÔN 2.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ - XÃ HỘI
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
- Phía Đông Bắc giáp tỉnh Vĩnh Phúc
- Phía Đông Nam giáp với TP.Hà Nội
- Phía Tây Nam giáp tỉnh Sơn La
- Phía Tây Bắc giáp tỉnh Yên Bái
- Phía Nam giáp tỉnh Hoà Bình
- Phía Bắc tiếp giáp với tỉnh Tuyên Quang
Hình 2.1: Bản đồ hành chính tỉnh Phú Thọ [20]
Trang 34b Địa chất
Theo kết quả thăm dò của đoàn địa chất 29 cấu tạo địa tầng của tỉnh Phú Thọ
có thể đánh giá như sau: Đa số đất đai của tỉnh được hình thành bởi các đá mẹ cổ,
đã bị biến chất mạnh Cấu tạo địa tầng phổ biến là:
+ Phúc hệ đá biến chất gồm đá Gờ Nai và phiến thạch Mi Ca thường gặp
ở các đồi núi tả ngạn sông Hồng
+ Phúc hệ đá Trầm tích gồm các phiến Thạch sét, đá sét, phiến thạch sét vôi, đá vôi phân bố ở Tân Sơn, Thanh Sơn, Yên Lập
- Riêng lũng sông Hồng, sông Lô, sông Đà hình thành do bồi đắp phù sa đệ tứ
kỷ gồm sa cổ, phù sa mới Trầm tích đệ tứ kỷ này còn phân bổ dọc theo 2 bên bờ sông Bứa, sông Chảy Đặc điểm của phù sa cổ là tầng cuội sỏi rất dày tới 5,6 đến 10m
- Địa chất thủy văn
Tỉnh Phú Thọ nằm ở vùng đồi núi trung du phía Bắc từ độ cao 1.300m.Theo khảo sát sơ bộ thấy trữ lượng nước ngầm ở địa bàn Phú Thọ khá phong phú, trữ lượng động nước dưới đất của tỉnh Phú Thọ khoảng 1.500 ngàn m3/ ngày Nguồn nước ngầm phân bố ở nhiều huyện như: Lâm Thao, Đoan Hùng, thị xã Phú Thọ Đây là nguồn nước có thể dùng bổ sung cho nơi thiếu các nguồn nước mặt Hiện mới chỉ có một số khu vực thị trấn và cơ sở công nghiệp sử dụng nước ngầm bằng giếng khoan công nghiệp, còn lại phần lớn sử dụng nước dưới đất bằng giếng đào hoặc khoan thủ công ở độ sâu từ 10-30m
10 Địa chất vật lý
Theo tài liệu của viện Vật Lý Địa Cầu: Động đất Việt Nam được chia thành 3 khu vực Khu vực sông Hồng, sông Cả, sông Chảy và dọc đới đứt gãy Tây Biển Đông từ Đà Nẵng xuống phía Nam dọc kinh tuyến 110 thuộc vùng chịu ảnh hưởng của động đất cấp 8 (tương đương 6,7-6,8richter) Tỉnh Phú Thọ thuộc vùng ảnh hưởng của động đất cấp 8 Vì vậy khi thiết kế và xây dựng các công trình cần phải đảm an toàn cho các công trình nằm trong vùng dự báo có cấp động đất nêu trên
Trang 35- Vùng thung lũng và đồng bằng: Khu vực này thuận lợi cho xây dựng các đô thị, các điểm dân cư nông thôn, là các cánh đồng trước núi, ven sông thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế Tuy nhiên các khu vực thung lũng này thường phải cảnh giác với khả năng bị ngập úng do thiếu lối thoát nước mưa, bị đất trượt, xói lở từ các sườn núi đổ xuống, hoặc bị lũ ống, lũ quét tại các vị trí ven suối Khu vực đồng bằng thường ảnh hưởng ngập úng
d Khí hậu
Phú Thọ nằm tựa vào các dãy núi của huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La và huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái, tạo ra địa hình cao dần về phía Tây và Tây Nam, thấp dần
về phía Đông và Đông Bắc; Nằm trong vùng khí hậu đồng bằng và trung du Bắc
Bộ, mang nét đặc trưng về khí hậu nhiệt đới gió mùa Phú Thọ có mùa đông lạnh kéo dài, lạnh nhất từ giữa tháng 12 đến giữa tháng 03, ít mưa và khô hanh Mùa hè nóng ẩm và mưa nhiều, nóng nhất vào tháng 7, tháng 8; Mưa nhiều vào các tháng từ tháng 4 đến tháng 8, nhiều nhất vào tháng 7 và 8 có kèm dông bão, mùa này hay gây ra ngập úng
Mùa đông khí hậu lạnh, khô hanh, từ tháng 12 đến tháng 3 của năm sau Lạnh nhất từ 15 tháng 12 đến 15 tháng 02 của năm sau, nhiệt độ trung bình 15oC17oC, nhiệt độ xuống thấp nhất 5oC 7oC Mùa Hè từ tháng 4 đến tháng 9, nóng nhất vào
tháng 7, tháng 8, nhiệt độ trung bình 28oC 29oC, nhiệt độ cao nhất 39oC Tuỳ theo
vị trí từng khu vực, từng thung lũng, huyện có nhiệt độ chênh lệch nhau khoảng từ
1oC 3oC
Trang 36Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 9, mưa nhiều nhất vào tháng 7, tháng 8, lượng mưa trung bình 200mm350mm, tháng cao nhất tới 423mm ở huyện Thanh Sơn Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 2 của năm sau, lượng mưa chỉ đạt trung bình 20mm40mm Có năm bị hạn hán cả thời kỳ không có mưa, thường xẩy ra tháng
11, 12, và tháng 01 Tổng lượng mưa trung bình năm là 1.200mm1.700mm, tuỳ theo vị trí địa lý của từng huyện có lượng mưa khác nhau Lượng mưa năm cao nhất
là ở huyện Thanh Sơn là 2.418 mm
Độ ẩm trung bình toàn tỉnh từ 84%86% Tháng có độ ẩm cao nhất là tháng 2
và tháng 8, đôi khi đạt tới 92% Tháng có độ ẩm thấp nhất là tháng 11 và tháng 12, thường chỉ đạt 76%
Tổng số giờ nắng trong năm từ 1.120giờ1.732giờ Số giờ nắng cao nhất là ở huyện Tân Sơn là 1.732giờ Số giờ nắng thấp nhất ở Phú Thọ, Việt Trì là 1.130- 1.328giờ Tổng số giờ nắng trong năm 2016 từ 1.403,7-1.410,7 giờ Số giờ nắng trong các tháng năm 2016 trung bình từ 130-160 giờ Số giờ nắng thấp nhất tại thị
xã Phú Thọ tháng 1 là 30,9 giờ Số giờ nắng cao nhất tại thị xã Phú Thọ tháng 8 là
192,8 giờ
* Các hiện tượng thời tiết cực đoan:
- Gió Tây thường xảy ra vào cuối tháng 5 đầu tháng 6, có 3 đến 4 đợt gió Tây khô nóng, làm ảnh hưởng đến đời sống của cư dân và sản xuất nông nghiệp, nhất là
ảnh hưởng đến cây ăn quả
- Bão ít xảy ra ở vùng này, nhưng vào mùa mưa từ tháng 7, tháng 8, mưa lớn thường xảy ra lũ quét, lũ ống và lở núi, ở các chân núi hoặc ven các suối, thung lũng hẹp, làm thiệt hại tài sản và tính mạng cư dân, như khu vực các huyện Tân Sơn,
Thanh Sơn, Yên Lập và Hạ Hoà
e Thủy văn
Phú Thọ có ba con sông lớn là sông Hồng, sông Lô và sông Đà, và các sông khác như sông Chảy, sông Bứa, sông Dân, ngòi Lao, ngòi Giành Các thông số thủy văn đầy đủ hiện mới chỉ có số liệu của sông Lô tại trạm thuỷ văn Vụ Quang, của sông Hồng tại trạm Việt Trì, còn các sông khác chưa có các số liệu mực nước
Trang 37Hệ thống sông Lô
Bắt nguồn từ Vân Nam Trung Quốc ở độ cao trên 1000m, vào địa phận Phú Thọ tại huyện Đoan Hùng, chảy qua huyện Đoan Hùng về huyện Phù Ninh, tới Việt Trì rồi đổ vào sông Hồng Sông Lô chảy qua địa phận tỉnh Phú Thọ dài 110km, diện tích lưu vực khoảng 2500km2 Tại trạm thuỷ văn Vụ Quang mực nước mùa cạn là 10,58m, mùa lũ là 20,36m21,18m Lưu lượng trung bình 1.140-1.420m3/s, lưu lượng cao nhất mùa lũ là 6.610 m3/s, lưu lượng thấp nhất mùa kiệt là 242m3/s Các thông số cụ thể như sau: P1%=104,07m; P5%=101,74m; P20%=99,81m; P90%=96,72m
Hệ thống sông Hồng
Bắt nguồn từ các dãy núi ở tỉnh Vân Nam Trung Quốc chảy qua tỉnh Lào Cai, rồi chảy qua địa phận tỉnh Yên Bái, vào địa phận tỉnh Phú Thọ tại huyện Hạ Hoà qua địa phận các huyện Cẩm Khê-Thanh Ba-Thị xã Phú Thọ-Tam Nông-Lâm Thao rồi hợp với sông Đà chảy về Việt Trì hợp với sông Lô Sông tương đối thẳng, lòng sông rộng 800-1.200m , chiều dài sông qua địa phận Phú Thọ khoảng 64km, diện tích lưu vực khoảng 6.500km2 Tại trạm thuỷ văn Việt trì mực nước mùa cạn là 5,73m, mùa lũ là 13,65m16,45m Lưu lượng dòng chảy 3.670-4.470m3/s, cao nhất 18.000m3/s, thấp nhất 920m3/s
Sông Đà
Bắt nguồn từ Trung Quốc chảy theo hướng Tây Bắc-Đông Nam, qua các tỉnh Lai Châu-Sơn La-Hoà Bình rồi chảy theo hướng từ Nam lên Bắc chảy vào địa phận tỉnh Phú Thọ tại huyện Thanh Sơn chảy qua huyện Thanh Thuỷ rồi hợp với sông Hồng tại khu vực huyện Lâm Thao và chảy về Việt Trì Sông có chiều dài chảy qua tỉnh Phú Thọ khoảng 30km, diện tích lưu vực khoảng 2.700km2, lòng sông dốc, mùa mưa mực nước sông lên cao, nước chảy xiết Nhà máy thuỷ điện Hoà Bình được xây dựng đã điều hoà được chế độ chảy của sông Đà, hạn chế được lũ lụt cho vùng, tuy nhiên do nước chảy xiết về mùa lũ nên thường gây xói lở cho vùng ven sông (huyện Thanh Thuỷ) Lưu lượng dòng chảy 4500-4.800m3/s, lớn nhất khoảng
> 18 000m3/giây, chiếm tới 49% tổng lượng lũ sông Hồng và là nguyên nhân gây
lũ lụt nhiều nhất
Trang 38Mùa lũ bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11, chậm hơn mùa mưa 1 tháng Biên độ nước dao động giữa mùa lũ, kiệt lớn Biên độ TB là 9,65m và dao động lớn nhất là 12,25m Đặc điểm này gây khó khăn lớn cho việc xây dựng các công trình tưới Về mùa lũ mực nước sông luôn luôn cao hơn mực nước trong đồng Vào mùa lũ mực nước max theo tần suất 10% tại Bến Gót là + 13,63 (BĐ I); 14,85 (BĐ II) và + 15,85 (BĐ III) thì khi đó mực nước cao nhất trong đồng chỉ là + 13,50 Do vậycác công trình tiêu tự chảy không phát huy được vào mùa lũ mà phải tiêu nhờ các trạm bơm Trừ sông Lô còn lại sông Đà và sông Thao có hàm lượng phù sa lớn, khoảng 1kg/m3, đặc biệt là những năm gần đây do nạn phá rừng đầu nguồn càng làm tăng thêm độ đục của các dòng sông, điều này đã gây rất nhiều khó khăn cho công tác khai thác các trạm bơm ven sông Đối với những hệ thống lớn, tuyến kênh dẫn dài phải nạo vét hàng vạn đến hàng chục vạn m3 bùn cát hàng năm mới dẫn được nước tưới Ngoài các sông ngòi Phú Thọ còn có hệ thống hồ, ao, đầm chiếm khoảng 3000ha, đây là nguồn cung cấp nước, điều tiết lũ vào mùa mưa và nuôi thuỷ sản (như đầm Ao Câu, đầm Đào, đầm Dị Nậu, đầm Bạch Thuỷ…Và hệ thống ao hồ ở phía Nam Việt Trì…)
Nhận xét đánh giá chung về khí hậu, thủy văn
Qua các tài liệu, số liệu về khí hậu của tỉnh Phú Thọ cho thấy Phú Thọ nằm ở vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, mang tính lục địa á Nhiệt đới, khí hậu quanh năm mát mẻ, ít bị ảnh hưởng của bão, rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, các loại cây trồng công nghiệp, cây dài ngày, cây dược liệu, phát triển kinh
tế đồi rừng cũng như chăn nuôi gia súc Tuy nhiên do bị chi phối bởi yếu tố địa hình một số vùng độ dốc lớn nên trong mùa mưa ở các sườn núi cao, hai bên bờ các khe suối thường xẩy ra lũ quét, trượt lở, gây thiệt hại về người và tài sản của dân
Mạng lưới sông ngòi, suối của Phú Thọ dày đặc, phân bố khắp các huyện, nhưng mật độ không đều, nhiều thác ghềnh thuận lợi cho việc xây dựng các hồ chứa nước phục vụ cho sản xuất tại địa phương Các hồ đập góp phần cung cấp nước cho vùng đồng bằng trong mùa kiệt, đồng thời chống lũ trong mùa mưa
Bên cạnh những ưu điểm trên còn có nhiều khó khăn do địa hình dốc, độ che phủ của rừng đầu nguồn kém, kém giữ nước nên thường xuyên bị hạn hán nhất là
Trang 39các huyện trung du Công tác thuỷ lợi vùng này cũng khó khăn vì thiếu nguồn nước Hiện tại tỉnh Phú Thọ là một trong những tỉnh thiếu nước sinh hoạt cho dân, nhất là các huyện vùng trung du và miền núi, điều đó cho thấy công tác thuỷ lợi vùng trung
du miền núi cần được khẩn trương đầu tư đồng bộ, để nâng cao đời sống các dân tộc, và phục vụ cho phát triển kinh tế
- Đất phù sa không được bồi hàng năm: Diện tích chiếm khoảng 8,8% diện tích tự nhiên, phân bố ở huyện Thanh Ba, Hạ Hòa, Thanh Sơn, Lâm Thao và TP Việt Trì
- Đất phù sa úng nước: Diện tích chiếm khoảng 4,5% Đất được hình thành ở vũng thấp, trũng, ngập nước; phân bố tập trung ở huyện Lâm Thao, Yên Lập, Phù Ninh, Thanh Sơn và TP Việt Trì
- Đất phù sa ở ngòi suối: Diện tích loại đất này ít chiếm khoảng 0,14% diện tích tự nhiên và phân bố ở huyện Thanh Sơn và Thanh Thủy
* Nhóm II: Đất lầy
Diện tích chiếm khoảng 0,11%, phân bố tập trung ở huyện Phù Ninh và Thành phố Việt Trì Đất lầy được hình thành từ phù sa các sông, đặc điểm là bị úng nước quanh năm, hiện tại chỉ được trồng 1 vụ lúa
* Nhóm III: Đất xám
- Đất xám bạc màu trên phù sa cổ: diện tích chiếm khoảng 0,74 % diện tích tự nhiên, có màu xám nhạt, phân bố tập trung ở huyện Lâm Thao, Thanh Ba Đất chua,
Trang 40hàm lượng dinh dưỡng thấp, thành phần cơ giới thịt nhẹ Loại đất thích hợp với cây trồng nông nghiệp trồng cạn và cây lâm nghiệp
* Nhóm IV: Đất đỏ vàng (đất Feralit)
- Đất đỏ vàng trên đá biến chất và đá sét: Đất có màu đỏ vàng, diện tích chiếm khoảng 59,76% diện tích tự nhiên, phân bố ở huyện Thanh Sơn, Tân Sơn,Yên Lập, Thanh Ba, Hạ Hoà, Phù Ninh và Lâm Thao Đặc điểm thành phần cơ giới thịt trung bình đến thịt nặng; thích hợp cho trồng cây lâm nghiệp, công nghiệp như: Keo tai tượng, Keo lai, Bạch đàn, Giổi, Cao su, Chè
- Đất nâu vàng trên phù sa cổ: Diện tích chiếm khoảng 6,93% Phân bố ở huyện Tam Nông, Thanh Thủy, Yên Lập, Lâm Thao Đất được hình thành trên các đồi thấp, thoải, thành phần cơ giới thịt trung bình Thích hợp trồng cây ăn quả, cây công nghiệp dài ngày và cây màu ngắn ngày
- Đất vàng đỏ trên đá Mácma axit: Đất màu vàng đỏ, diện tích chiếm khoảng 1,71% diện tích tự nhiên, phân bố ở Thanh Sơn và Yên Lập
- Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa nước: Diện tích chiếm khoảng 1,27% diện tích tự nhiên, phân bố ở Đoan Hùng, Thanh Sơn, Hạ Hòa
* Nhóm V: Đất mùn
Diện tích chiếm khoảng 0,99% diện tích tự nhiên, phân bố ở huyện Thanh Sơn, Tân Sơn, Yên Lập Loại đất này hiện nay còn lớp thực bì là rừng tự nhiên, có địa hình cao, dốc Đây cũng là vùng rừng đầu nguồn cần được bảo vệ
* Nhóm VI: Đất thung lũng
Diện tích chiếm khoảng 4,27% diện tích tự nhiên Đất được hình thành do sự tích đọng ở các thung lũng hẹp, chân các dãy đồi và núi thấp; Phân bố nhiều ở huyện Thanh Sơn, Yên Lập, Hạ Hoà Loại đất này thích hợp trồng cây ngắn ngày, cây công nghiệp, cây ăn quả
* Nhóm VII: Đất xói mòn trơ sỏi đá
Đất xói mòn trơ sỏi đá phân bố ở Thanh Sơn, Tân Sơn
Thực vật rừng Phú Thọ mang đặc trưng của thực vật đặc hữu khu hệ đệ tam Nam Trung Hoa - Bắc Việt Nam Qua kết quả nghiên cứu gần đây của các nhà khoa học, khu hệ thực vật tỉnh Phú Thọ thống kê được 175 họ thuộc 5 ngành thực vật bậc