Nguyễn Thị Kim Thường Khoa Hóa học, ĐHKHTN - Viết đề cương, chuyên đề; báo cáo giữa kỳ và tổng kết - Khảo sát các tính chất điện hóa, nghiên cứu quy trình phân tích Atorvastatin và Fenof
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KẾT QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI KH&CN
CẤP ĐẠI HỌC QUỐC GIA
fenofibrat và quy trình xác định chúng trong mẫu dược
phẩm và mẫu huyết tương
Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Thị Kim Thường
Hà Nội, 2017
Trang 2PHẦN I THÔNG TIN CHUNG
1.1 Tên đề tài: Nghiên cứu đặc tính điện hóa của atorvastatin, fenofibrat và quy trình xác định chúng trong mẫu dược phẩm và mẫu huyết tương
1.2 Mã số: QG 15.14
1.3 Danh sách chủ trì, thành viên tham gia thực hiện đề tài
TT Chức danh, học vị, họ và tên Đơn vị công tác Vai trò thực hiện đề tài
1 TS Nguyễn Thị Kim Thường Khoa Hóa học,
ĐHKHTN
- Viết đề cương, chuyên đề; báo cáo giữa kỳ và tổng kết
- Khảo sát các tính chất điện hóa, nghiên cứu quy trình phân tích Atorvastatin và Fenofibrat trong mẫu dược phẩm và mẫu huyết tương bằng phương pháp von-ampe vòng và von-ampe hòa tan hấp phụ
- Bàn luận các kết quả khoa học
- Viết bài báo khoa học
2 PGS TS Tạ Thị Thảo Khoa Hóa học,
ĐHKHTN
- Tham gia nghiên cứu quy trình phân tích Atorvastatin và fenofibrat trong mẫu dược phẩm bằng phương pháp von-ampe hòa tan hấp phụ
- Bàn luận các kết quả khoa học
- Tham gia viết bài báo khoa học
3 PGS.TS Phạm Thị Ngọc Mai Khoa Hóa học,
ĐHKHTN
- Tham gia nghiên cứu quy trình phân tích Atorvastatin Fenofibrat trong mẫu huyết tương bằng phương pháp von-ampe hòa tan hấp phụ
- Bàn luận các kết quả khoa học
- Tham gia viết bài báo khoa
học
ĐHKHTN
Nghiên cứu tính chất điện hóa của atorvastatin và fenofibrat bằng phương pháp von-ampe
Trang 32
vòng
- Tham gia phân tích mẫu thuốc
- Bàn luận các kết quả khoa học
5 CN Hoàng Quốc Anh Khoa Hóa học,
ĐHKHTN
- Phối hợp lấy mẫu, bảo quản mẫu
- Tham gia phân tích mẫu thuốc
- Đánh giá kết quả phân tích giữa hai phương pháp
1.4 Đơn vị chủ trì: Trường Đại học Khoa học tự nhiên
1.5 Thời gian thực hiện:
1.5.1 Theo hợp đồng: từ tháng 02 năm 2015 đến tháng 02 năm 2017
1.5.2 Gia hạn (nếu có): đến tháng… năm…
1.5.3 Thực hiện thực tế: từ tháng 02 năm 2015 đến tháng 02 năm 2017
1.6 Những thay đổi so với thuyết minh ban đầu (nếu có):
(Về mục tiêu, nội dung, phương pháp, kết quả nghiên cứu và tổ chức thực hiện; Nguyên nhân; Ý kiến của Cơ quan quản lý)
1.7 Tổng kinh phí được phê duyệt của đề tài:200 triệu đồng
PHẦN II TỔNG QUAN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Viết theo cấu trúc một bài báo khoa học tổng quan từ 6-15 trang (báo cáo này sẽ được đăng trên tạp chí khoa học ĐHQGHN sau khi đề tài được nghiệm thu), nội dung gồm các phần:
1 Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây, số người bị bệnh máu nhiễm mỡ, cholesterol và triglicerid trong máu cao tăng đáng kể Điều đáng lo ngại những người có hàm lượng cholesterol cao trong máu lại rất dễ
bị bệnh tim mạch như nghẽn mạch vành tim, nhồi máu cơ tim, tái biến mạch máu não Chính vì vậy
nó được coi là kẻ thù số một, được toàn xã hội quan tâm chú ý Những người bị máu nhiễm mỡ, cholesterol cao cần có chế độ ăn uống đặc biệt, uống thuốc đều hàng ngày Hai thuốc thường được các bệnh nhân bị cholesterol cao sử dụng là atorvastatin và fenofibrat Chính vì vậy cần có phương pháp kiểm tra chính xác, nhanh hoạt chất đó trong thuốc để có thể kiểm soát được chất lượng thuốc trên thị trường Có nhiều phương pháp có thể xác định được hai nhóm thuốc hạ cholesterol trong máu như phương pháp sắc kí lỏng hiệu năng cao ( HPLC), phương pháp quang phổ hấp thụ phân tử
và nhóm phương pháp von-ampe Trong dược điển Việt Nam, fenofibrat được xác định bằng phương pháp sắc kí lỏng hiệu năng cao Tuy nhiên phương pháp này phân tích khá phức tạp, thiết bị tương đối đắt, thời gian phân tích lâu Hơn nữa, atorvastatin chưa có phương pháp thường quy trong dược điển để xác định Do đó, với mong muốn nghiên cứu được quy trình xác định atorvastatin và fennofibrat trong mẫu thuốc và mẫu sinh học có độ đúng, độ chính xác cao, đơn giản, chi phí phân tích không cao để có thể kiểm tra chất lượng thuốc song hành với phương pháp trong dược điển, chúng tôi đã lựa chọn phương pháp von-ampe hòa tan hấp phụ
2 Mục tiêu
Phát triển được quy trình xác định atorvastatin và fenofibrat trong mẫu dược phẩm, mẫu huyết
Trang 4tương bằng phương pháp von-ampe và von-ampe hòa tan hấp phụ
3 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp von-ampe vòng
Phương pháp von-ampe hòa tan hấp phụ sóng vuông
Phương pháp von – ampe hòa tan hấp phụ xung vi phân
4 Tổng kết kết quả nghiên cứu
4.1 Nghiên cứu quy trình xác định atorvastatin trong mẫu thuốc và mẫu huyết tương
4.1.1 Nghiên cứu đặc tính điện hóa của atorvastatin
Để nghiên cứu đặc tính điện hóa của atorvastatin trên bề mặt điện cực giọt thủy ngân treo (HMDE), chúng tôi đã tiến hành ghi đường von-ampe vòng trong một khoảng thế rộng trong điều kiện không hấp phụ và có hấp phụ 60s Kết quả thu được như sau:
Qua kết quả khảo sát đường von-ampe vòng cho
thấy, trên đường phân cực catot có píc khử xuất
hiện, trên đường phân cực anot không có píc oxi
hóa, nên atorvastatin là chất oxi hóa trên điện
cực HMDE, píc khử là bất thuận nghịch
So sánh đường von-ampe vòng ở đường 2) và
đường a) thấy rằng, khi có thời gian hấp phụ 60
s tại thế -0,9 V thì cường độ dòng píc khử cao
hơn so với đường von-ampe vòng không có giai
đoạn hấp phụ Đường b) đường c) là những
đường von-ampe vòng ghi liên tục sau đường a)
trên cùng một giọt thì tín hiệu cường độ dòng
đường b) và c) thấp hơn so với đường a) nhưng
cao hơn đường 2)
Điều này chứng tỏ atorvastatin có hấp phụ trên
bề mặt điện cực HMDE tại thế - 0,9V, hiện
tượng hấp phụ là đa lớp nên sau khi ghi đường
hòa tan ở vòng 1 (đường a) thì chất hấp phụ
chưa bị hòa tan hết nên tín hiệu ở vòng 2, 3 cao
hơn tín hiệu ở đường 2 khi không có hấp phụ
Hình 1: Đường von-ampe vòng của atorvastatin
10-7mol.L-1, đường 1) mẫu trắng, đường 2) atorvastatin 10-7 mol.L-1 không có thời gian hấp phụ, đường a) atorvastatin 10-7 mol.L-1 có thời gian hấp phụ 60s, các đường b,c) ghi liên tục sau đường a), tốc độ quét 100 mV/s
Để nghiên cứu khả năng hấp phụ của atorvastatin trên bề mặt điện cực HMDE, chúng tôi đã ghi đường von-ampe vòng phụ thuộc vào tốc độ quét từ 10 - 1000 mV s–1, kết quả thấy rằng khi tốc độ quét thế tăng thì cường độ dòng píc tăng tuyến tính với tốc độ quét theo phương trình log ip = 0,946 logν - 0,679; R2 = 0,998 Hệ số góc của phương trình 0,946 gần bằng 1 tức là phản ứng xảy ra trên
bề mặt, điều đó có nghĩa có quá trình hấp phụ xảy ra trên bề mặt điện cực
Để nghiên cứu đặc tính điện hóa của atorvastatin trên điện cực than gương (glassy cacbon) chúng tôi đã ghi đường von-ampe vòng trong hai trường hợp không có hấp phụ và có hấp phụ 60 s tại thế
0 V Kết quả đo được biểu diễn trên hình 2
-800m -1.00 -1.20 -1.40 -1.60
U (V) -40.0n
-30.0n -20.0n -10.0n
1
2
a
b
c
Trang 54
Hình 2: Đường a là đường CV mẫu trắng khi có thời gian hấp phụ 60s, đường b): CV của Atorvastatin 5.10-5M khi không hấp phụ, đường c): CV của Atorvastatin 5.10-5M khi có hấp phụ
làm giàu 60s Qua đường von-ampe vòng trên hình 2 cho thấy, đường a) là đường von-ampe vòng khi không có dung dịch chất phân tích nên trên đường phân cực anot và catot đều không có píc xuất hiện
Đường b) và đường c) là đường von-ampe vòng có dung dịch chất phân tích và atorvastatin cho một píc oxi hóa trên đường phân cực anot từ 0 V đến +1,3 V, trên đường phân cực catot từ +1,3 V đến 0 V không thấy có píc khử Như vậy, quá trình oxy hóa của atorvastatin trên điện cực than gương là bất thuận nghịch
Mặt khác, đường c) khi có thời gian hấp phụ 60s tại thế 0 V thì giá trị cường độ dòng tăng gấp 1,5 lần khi không có hấp phụ làm giàu ( đường b), điều này chứng tỏ, atorvastatin có hấp phụ trên bề mặt điện cực than gương
Khi khảo sát ảnh hưởng của tốc độ quét từ 5 mV/s đến 700 mV/s thấy rằng, khi tăng tốc độ quét thế thì giá trị cường độ dòng tăng và sự phụ thuộc giữa tốc độ quét logv và cường độ dòng logIp là một đường thẳng tuyến tính được biểu diễn theo phương trình: logIp =0,63xlogv - 5,61.Theo kết quả nghiên cứu,
hệ số góc của đường thẳng 0,63, có phản ứng điện hóa xảy ra trên bề mặt điện cực, chứng tỏ có quá trình hấp phụ xảy ra Tuy nhiên, hệ số hấp phụ đó xa với 1 nên atorvastatin có hấp phụ trên bề mặt điện cực tại thế 0 V nhưng không mạnh bằng điện cực HMDE Hơn nữa, quá trình bất thuận nghịch của píc oxi hóa còn được khẳng định hơn nữa khi tốc độ quét thế tăng thì thế đỉnh píc dịch chuyển về phía dương hơn
Như vậy, qua kết quả khảo sát bằng phương pháp von- ampe vòng có thể kết luận rằng, trên điện cực HMDE thì atorvastatin thể hiện là chất oxi hóa, píc khử hòa tan bất thuận nghịch và có hấp phụ Trên điện cực glassy các bon thì atorvastatin là chất khử cho píc oxi hóa bất thuận nghịch và có hấp phụ
4.1.2.Tối ưu hóa các điều kiện xác định atorvastatin bằng phương pháp von-ampe hòa tan hấp phụ trên điện cực HMDE
4.1.2.1 Khảo sát ảnh hưởng của pH
Thành phần dung dịch nền, pH quyết định độ dẫn điện của nền, dạng tồn tại và khả năng hấp phụ của chất phân tích lên bề mặt điện cực tức là ảnh hưởng đến cường độ dòng, thế đỉnh píc và
độ phân giải píc Vì vậy việc tìm điều kiện pH tối ưu là rất quan trọng Do đó, tôi tiến hành khảo sát ảnh hưởng của pH trong khoảng từ pH 7,0 đến 11,0, sử dụng đệm Britton-Robinson, nồng độ chất phân tích là 5.10-7 M, tốc độ quét 150 mV/s Kết quả được trình bày trên hình 3
Trang 6Hình 3 Sự phụ thuộc của cường độ dòng píc vào pH
Qua kết quả khảo sát ảnh hưởng của pH từ 7,0 đến 11,0 thấy rằng, trong khoảng pH từ 8,5 đến 9,0 thì cường độ dòng píc cao và ổn định Vì vậy, tôi chọn pH của dung dịch đệm là 9,0 cho các nghiên cứu sau
4.1.2.2 Khảo sát ảnh hưởng thế hấp phụ
Để nghiên cứu đặc tính hấp phụ của một chất, chúng tôi đã tiến hành khảo sát ảnh hưởng thế hấp phụ với các điều kiện đo: Nồng độ atorvastatin là 5.10-7M, tốc độ quét 150 mV/s, thời gian hấp phụ 60s, thay đổi thế hấp phụ trong khoảng từ 0 V đến -1,0 V Qua kết quả khảo sát ảnh hưởng của thế hấp phụ từ 0V đến -1V thì cường độ dòng píc phụ thuộc vào thế hấp phụ, tại thế -0,9V thì tín hiệu cường độ dòng cao, píc cân đối và chọn lọc
4.1.2.3 Khảo sát ảnh hưởng của thời gian hấp phụ
Trong phương pháp von-ampe hòa tan hấp phụ, độ nhạy phụ thuộc vào thời gian hấp phụ, khi nồng độ chất phân tích nhỏ thì cần nhiều thời gian hấp phụ hơn so với nồng độ chất phân tích lớn Cho nên việc chọn thời gian hấp phụ phù hợp với nồng độ chất phân tích là yếu tố rất quan trọng Chính vì vậy mà chúng tôi đã tiến hành khảo sát ảnh hưởng của thời gian hấp phụ ở hai mức nồng độ là 5.10-7M và 10-8M với các điều kiện đo dung dịch đệm BR pH = 9,0, thế hấp phụ -0,9V
Hình 4 Sự phụ thuộc của cường độ dòng píc vào thời gian hấp phụ (a): 5×10 –7 mol L –1 và
(b) 10–8mol L–1, Eacc.= - 0,4 V, a=50 mV, f =50 Hz
Qua kết quả khảo sát cho thấy, với nồng độ atorvastatin là 5.10-7 M, khi tăng thời gian hấp phụ từ 0 đến 90s thì cường độ dòng píc tăng dần, nếu tiếp tục tăng thời gian hấp phụ thì cường độ dòng píc giảm dần Tại nồng độ atorvastatin là 10-8 M, khi tăng thời gian hấp phụ từ 20 đến 300s thì cường độ dòng píc tăng dần và khi thời gian hấp phụ lớn hơn 300s thì cường độ dòng píc giảm dần, điều đó cho thấy sự hấp phụ là đa lớp Vì sau khi cường độ dòng píc đạt cực đại, nếu tiếp tục tăng
a
b
Trang 76
thời gian hấp phụ thì cường độ dòng bị giảm do có thể chất đã hấp phụ thành nhiều lớp (đa lớp) nên khi hòa tan sẽ không được hoàn toàn
Với kiểu hấp phụ đa lớp thì chúng ta nên chọn thời gian hấp phụ trong khoảng tuyến tính thì tín hiệu đo cường độ dòng sẽ lặp lại và chọn lọc hơn Do vậy, với nồng độ của atorvastatin là 5.10-7M thì chúng tôi chọn thời gian hấp phụ 90s và với nồng độ chất phân tích là 10-8 M thì chúng
tôi chọn thời gian hấp phụ 300s
4.1.2.4 Khảo sát thời gian cân bằng
Thời gian cân bằng là khoảng thời gian cần thiết để chất phân tích phân bố đều trên bề mặt điện cực do đó nó cũng có ảnh hưởng đến cường độ dòng píc Để chọn thời gian cân bằng thích hợp cho phép đo điện hóa, chúng tôi đã thay đổi thời gian cân bằng từ 0s đến 30s với các điều kiện khác tương tự như mục 4.1.2.3 Qua kết quả khảo sát, chúng tôi chọn thời gian cân bằng 10s
4.1.2.5 Khảo sát ảnh hưởng của tốc độ quét thế
Tốc độ quét thế ảnh hưởng đến giá trị cường độ dòng píc Trong phương pháp vôn - ampe, khi tốc độ quét thế tăng thì cường độ dòng píc tăng, tuy nhiên đối với trường hợp hấp phụ đa lớp, nếu tốc độ quét thế quá lớn thì chất phân tích sẽ không được hòa tan hết nên cường độ dòng píc sẽ giảm Vì vậy, tôi tiến hành khảo sát tốc độ quét, với các điều kiện: đệm BR ở pH = 9,0, thế hấp phụ -0,9 V, thời gian hấp phụ 90s, thời gian cân bằng 10s, nồng độ atorvastatin là 5.10-7M, thay đổi tốc
độ quét từ 10mV/s đến 300mV/s
Qua kết quả khảo sát thấy rằng khi tốc độ quét tăng thì cường độ dòng píc tăng nhưng tín hiệu píc dịch chuyển theo chiều âm hơn Khi tốc độ quét là 300 mV/s thì tín hiệu píc đẹp và cân đối nhất, khi tốc độ quét thế lớn hơn 450 mV/s thì cường độ dòng píc bắt đầu giảm Vì vậy, tôi đã chọn tốc độ quét là 300 mV/s cho những nghiên cứu tiếp theo
Sau khi khảo sát các điều kiện tối ưu để xác định atorvastatin bằng phương pháp von-ampe hòa tan hấp phụ sóng vuông, chúng tôi đã lựa chọn được các điều kiện như sau: Dung dịch đệm vạn năng với pH = 9,0, thế hấp phụ là -0,9V, thời gian hấp phụ là 90s với nồng độ 5.10-7 M và 300s với nồng độ 10-8M, thời gian cân bằng là 10s, tốc độ quét là 300 mV/s
4.1.2.6 Đánh giá phương pháp
- Khoảng tuyến tính: Đường chuẩn được xây dựng trong hai khoảng nồng độ từ 1×10-8 mol.L-1 đến 1×10-7 mol.L-1 (tacc.= 90 s) và từ 1×10–7 mol.L-1 đến 1×10-6 mol.L-1 (tacc.= 30 s) Sự phụ thuộc của cường độ dòng píc vào nồng độ atorvastatin là đường thẳng tuyến tính theo phương trình tương ứng
ip = 10,71C.10-8 mol.L-1 - 0,033 và ip = 30,47 C.10-7 mol.L-1 + 0,41
+ Giới hạn phát hiện và giới hạn định lượng của phương pháp được tính toán dựa vào đường chuẩn k.S.Da/b, trong đó k = 3 cho giới hạn phát hiện và k = 10 cho giới hạn định lượng, S.Da là độ lệch chuẩn và b là hệ số góc của đường chuẩn Dựa vào kết quả tính toán được LOD là 9,6.10-10 mol.L-1
và LOQ là 3.2.10-9 mol.L-1 sau thời gian hấp phụ 90s
+ Độ lặp lại của phương pháp được đo lặp lại đối với dung dịch 5.10-7 mol.L-1, thời gian hấp phụ 30s, độ lệch chuẩn tương đối (RSD) là 0,42%
4.1.3 Áp dụng quy trình phân tích mẫu thuốc và mẫu huyết tương
4.1.3.1 Quy trình phân tích mẫu thuốc
Cân 10 viên thuốc trên cân phân tích để tính khối lượng trung bình (A g) của một viên thuốc
đó Đem 10 viên thuốc đó nghiền mịn trên cối mã não, trộn đều mẫu thuốc Cân chính xác a g (khoảng 0,1g) mẫu thuốc bột mịn đó trên cân phân tích, cho vào cốc 100 ml, thêm 15 ml metanol, rung siêu âm 45 phút cho thuốc tan hết Chuyển dung dịch vào bình định mức 25,0 ml, định mức tới vạch bằng nước cất 2 lần, lọc dung dịch bằng giấy lọc băng xanh được dung dịch A có nồng độ C0
(M) Lấy 1,0 ml dung dịch A định mức 100,0 ml được dung dịch B có nồng độ C1 (M) Từ dung dịch B có nồng độ C1(M) lấy 1,00 ml dung dịch B và 10 ml dung dịch đệm BR pH = 9,0 định mức
Trang 8trong bình 25ml được dung dịch C có nồng độ Cx (M) Nồng độ atorvastatin (Cx) trong viên thuốc được xác định bằng phương pháp thêm chuẩn
Hàm lượng atorvastatin trong viên thuốc được tính theo công thức:
Áp dụng quy trình phân tích mẫu thuốc lipivastin 20mg của Mekofar và avastor 10 mg của công ty dược Boston Hàm lượng atorvastatin xác định được trong viên thuốc lần lượt là 19,0 mg và 8,1 mg
4.1.3.2 Quy trình phân tích mẫu huyết tương
Mẫu huyết tương được đông lạnh ngay sau khi lấy mẫu và được bảo quản ở nhiệt độ - 400C
để hạn chế sự chuyển hóa của axit lactone Trước khi phân tích, mẫu huyết tương được lấy ra, để giã đông ở nhiệt độ phòng Sau khi mẫu giã đông về đến nhiệt độ phòng, lấy 1,0 ml mẫu huyết tương trắng hoặc 1,0 ml huyết tương đã được tiêm thêm chất chuẩn atorvastatin, cho vào ống nghiệm, thêm tiếp 1ml dung dịch đệm Briston-Robinson (đệm BR, pH = 9,0), đem lắc Vortex trong
5 phút và đem quay ly tâm ở tốc độ 1600 vòng trong 15 phút
+ Quá trình hoạt hóa cột C18 (thể tích 3ml): Trước tiên, cho đi qua cột 2ml nước cất 2 lần
và 2 ml metanol Sau đó, mẫu sẽ được đi qua cột với tốc độ 0,4 ml/ phút
+ Rửa tạp bằng 1ml H2O và 1 ml hỗn hợp metanol: H2O (5:95 v/v)
+ Rửa giải chất phân tích bằng 1ml hỗn hợp dung dịch metanol: đệm (BR, pH = 9) theo tỉ
lệ 95:5 (v/v)
Các điều kiện đo mẫu bằng phương pháp von-ampe hòa tan hấp phụ: pH = 9,0, thời g ian hấp phụ 30 s, thế hấp phụ -0,9 V, tốc độ quét 300 mV/s Đường von-ampe hòa tan của atorvastatin có nồng
độ khác nhau trong mẫu huyết tương được xử lý theo quy trình trên được biểu diễn trên hình 5
-1.00 -1.10 -1.20 -1.30 -1.40
U (V) -100n
-80.0n -60.0n -40.0n -20.0n
Hình 5: Đường von–ampe hòa tan của atovastatin trong mẫu huyết tương
(1) Atorvastatine 1.0 x10-7, (2) 1.5 x 10-7 , (3) 2.0 x 10-7, (4) 2.5x10-7 molL-1 , Eacc = - 0,9 V, tacc. =
30 s, a = 50 mV, f = 50 Hz and BR buffer of pH = 9,0
1
2
3
4
Trang 98
Kết quả cho thấy, đường von-ampe hòa tan tăng tuyến tính với nồng độ atorvastatin trong mẫu huyết tương Sự phụ thuộc giữa cường độ dòng Ip và nồng độ chất atorvastatin tuân theo phương trình Ip = 29,88 C.10-8 + 13,26 với hệ số tương quan R2 = 0,996
Độ lặp lại của phương pháp khi xác định atorvastatin trong mẫu huyết tương đã được kiểm tra với các mẫu khác nhau Hiệu suất thu hồi của atovastatin trong mẫu huyết tương được xác định theo quy trình như trong xây dựng đường chuẩn là 94,7 ± 0,93%
4.1.4 Nghiên cứu quy trình xác định atorvastatin bằng phương pháp von-ampe hòa tan trên điện cực than gương
4.1.4.1 Tối ưu hóa các điều kiện xác định atorvastatin
Điều kiện đo: nồng độ atorvastatin 5.10-5 mol.L-1, thế tích lũy + 0,5V, thời gian tích lũy 30s, thời gian cân bằng 5s, tốc độ quét 15 mV/s, thay đổi pH từ 3,0 đến 10,0 Kết quả cho thấy, khi thay đổi pH cường độ dòng píc và thế đỉnh píc thay đổi, tại pH = 4,0 thì cường độ dòng píc đạt giá trị cao nhất Như vậy, tại pH = 4,0 atorvastatin tồn tại ở dạng axit (pKa = 4,6), và atorvastatin đã hấp phụ trên bề mặt điện cực, quá trình hòa tan là quá trình oxi hóa
Trong phương pháp von-ampe hòa tan hấp phụ, thế hấp phụ và thời gian hấp phụ là hai thông số quan trọng ảnh hưởng đến độ nhạy và độ chọn lọc của phương pháp Qua kết quả khảo sát thế hấp phụ và thời gian hấp phụ thấy rằng, thế hấp phụ thay đổi trong khoảng từ - 0,1 V đến + 0,7 V không ảnh hưởng nhiều đến giá trị cường độ dòng píc hòa tan, đồng thời việc tăng thời gian hấp phụ ở mức nồng độ 5.10-5 mol.L-1 cũng không tăng đáng kể tín hiệu píc hòa tan Tuy nhiên, khi có hấp phụ tại thế +0,5 V với thời gian 30 s thì píc hòa tan cân đối, đẹp hơn hẳn khi không có hấp phụ Do vậy, với đối tượng phân tích là mẫu thuốc thì chúng tôi chọn thời gian hấp phụ 30 s tại thế hấp phụ +0,5 V
Các điều kiện đo khác như tốc độ quét, biên độ xung, thời gian cân bằng cũng ảnh hưởng đến cường độ dòng píc Qua khảo sát, chúng tôi chọn biên độ xung 50 mV, tốc độ quét 10 mV/s, thời gian cân bằng 10 s
4.1.4.2 Đánh giá phương pháp
Từ các kết quả khảo sát được chúng
tôi đã xây dựng đường chuẩn trong khoảng
nồng độ từ 10-6 mol.L-1 đến 10-4 mol.L-1 với
các điều kiện thích hợp là pH = 4,0, thời gian
hấp phụ 30s, thế hấp phụ + 0,5V, tốc độ quét
10 mV/s, biên độ xung là 50 mV Kết quả
được biểu diễn trên hình 6 Đường chuẩn
tuyến tính trong khoảng nồng độ từ 10-6
mol.L-1 đến 10-4 mol.L-1, phương trình hồi
quy tuyến tính là ip = 15,32 *Cx.10-6 + 0,39,
hệ số tương quan hồi quy R2 = 0,998 Giới
hạn phát hiện là 3,1.10-7 mol.L-1 và giới hạn
định lượng là 1,0.10-6 mol.L-1
Hình 6 : Đường chuẩn của Atorvastatin
10-6 -10-4 mol.L-1
Độ lệch chuẩn tương đối trung bình là 1,5 % đối với các dung dịch có nồng độ n.10-6 mol.L-1
4.1.4.3 Xác định hàm lượng atorvastatin trong mẫu thuốc
Quy trình xác định: Cân chính xác 10 viên thuốc bằng cân phân tích Đem nghiền mịn bằng cối
mã não Cân chính xác khoảng 0,45 ÷ 0,5 g thuốc bằng cân phân tích cho vào cốc, hòa tan trong khoảng 5 mL metanol, khuấy đều và rung siêu âm 15 phút Sau đó, lọc dung dịch qua giấy lọc
Trang 10Whatman 0,45µm vào bình 25,0 mL, định mức bằng nước cất đến vạch Lấy chính xác 5,0 mL dung dịch trên, định mức thành 25,0 mL bằng nước cất, sau đó lấy 2,5 mL dung dịch pha loãng đó thêm dung dịch đệm, định mức 25,0 mL cho vào bình cực phổ và tiến hành đo với các điều kiện thời gian hấp phụ 30 s, thế hấp phụ + 0,5V, tốc độ quét 10 mV/s, biên độ xung là 50 mV Hàm lượng atorvastatin trong mẫu thuốc được xác định bằng phương pháp thêm chuẩn Kết quả hàm lượng atorvastatin trong viên thuốc được trình bày trong bảng 1
Bảng 1: Kết quả phân tích hàm lượng atorvastatin trong mẫu thuốc (* giá trị trung bình của 10 lần thí nghiệm làm lặp lại)
Tên thuốc
(atorvastatin 10
mg)
Hàm lượng trung bình xác định được(mg)*
± RSD
Sai khác giữa hàm lượng xác định và ghi trên nhãn (%) Stanagi TNHH 1 thành viên
DP&SHYT 231214 9,70 ± 0,55 -3,0
Qua kết quả phân tích một số mẫu thuốc atorvastatin thấy rằng sự khác nhau giữa hàm lượng phân tích được so với hàm lượng ghi trên nhãn của nhà sản xuất là không đáng kể Kết quả phân tích là đáng tin cậy, đáp ứng được yêu cầu phân tích
4.2 Nghiên cứu quy trình xác định fenofibrat trong mẫu thuốc và mẫu huyết tương
4.2.1 Nghiên cứu đặc tính điện hóa của fenofibrat trên điện cực giọt thủy ngân treo
Để nghiên cứu quá trình điện hóa xảy ra trên bề mặt điện cực giọt thủy ngân treo, chúng tôi
đã sử dụng phương pháp von - ampe vòng với các điều kiện: Nồng độ fenofibrat 1x10-6 mol.L-1, đệm pH = 8,5, thế bắt đầu quét 0 V, thế kết thúc -1,5 V, tốc độ quét 10 mV/s Tín hiệu đường CV được biểu diễn trên hình 7:
Hình 7: Đường von - ampe vòng của fenofibrat; đường a) Mẫu trắng, pH = 8,5; đường b) fenofibrat 1x10-6M không hấp phụ; c) fenofibrat 1x10-6M có hấp phụ