Do đó, kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ đóng góp một cách hữu ích, thiết thực đối với lý luán và thực tiễn báo chí truyền thông ở Việt Nam, đề xuất ra những giải pháp quan trọng nhằm nâi
Trang 1ĐẠI HỌC QUỒC GIA HÀ NỘI
BÁO CÁO TỎNG KÉT
K ẾT Q UẢ T H Ụ C H IỆN ĐÈ TÀI K H & C N
CẨ P ĐẠ I HỌC QUỐC GIA
Tên đề tài: BÁO CHÍ VỚI VẤN ĐỀ BIÉN ĐỔI KHÍ HẬU
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Mã số đề tài: QG 15.57
Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS Đ IN H VĂN H Ư Ờ N G
Hà Nội, tháng 3 năm 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
BÁO CÁO TỎNG KÉT
KÉT QUẢ TH Ụ C HIỆN ĐÈ TÀI KH& CN
CẤP ĐẠI HỌC QUÓC GIA
Tên đề tài: B Á O C H Í VỚ I V Ấ N Đ Ề BIÉ N Đ Ổ I K H Í H Ậ U
Ở V I Ệ T N A M H IỆ N N A Y
Mã số đề tài: Q G 15.57
Hồ SO' bao gồm:
1 Báo cáo tổng kết (Mẩu 14)
2 Tóm tắt các kết quả nghiên cứu tiếng Việt và tiếng Anh
3 Các bài viết, tạp chí, hội thảo, bài báo quốc tế, quyết định nguòi hướng dẫn học viên sau Đại học
ĐAi HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI 1‘RUNG TẦM THÔNG TIN THƯ VIỆN
I CDOÉQŨÚŨ â Ạ ậ
Hà Nội, tháng 3 năm 2017
Trang 31.3 Danh sách chủ trì, t h à n h viên th a m gia th ự c hiện đề tài
T T C h ứ c d a n h , học vị, họ và tên Đ ơn vị công tác V ai tr ò th ự c hiện đề tài
9 ThS Nguyễn Đình Hậu T r ư ờ n g Đ H K H X H & N V Thành viên
10 ThS Phan Văn Kiền T r ư ờ n g Đ H K H X H & N V Thành viên
1.4 Đon vị chủ trì: T ru ò ìig Đ ại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
1.5 Thòi gian thực hiện:
1.5.1 Theo hợp đồng: từ tháng 3 năm 2015 đến tháng 3 năm 2017
1.5.2 Gia hạn (nếu có): đến tháng n ă m
1.5.3 Thực hiện thực tế: từ tháng 3 năm 2015 đến tháng 3 năm 2017
1.6 Nhũng thay đổi so v ó i thuyết minh ban đầu (nếu có):
(Vê mục tiêu, nội dung, p h ư ơ n g p h á p , kết quả nghiên cứu và tổ chức thực hiện; N guyên nhân; Ỷ kiến của Cơ quan quản lý)
1.7 Tống kinh phí được phê duyệt của đề tài: 300 triệu đồng.
PHẦN II T Ỏ N G Q U A N K É T Q U Ả N G H IÊ N cứu
1 Đặt vấn đề
Thứ nhất, xét từ sự bất cập giữ a thách thức và thời cơ của B Đ K H với sự hiểu biết, nhận thức của cộng đồng.
Trang 4Biến đổi khí hậu đang là vấn đề nóng của toàn thế giới, không riêng gì bất cứ quốc gia, dlân tộc nào Hiểm họa này không chỉ đe dọa nghiêm trọng đến môi trường, tài nguyên, an ninh chíính trị, kinh tế, xã hội của các quốc gia, mà đến chính cuộc sông của con người Đây là vân đê tháich thức toàn cầu vừa hiện tại vừa lâu dài Hiện nay BĐKH đang theo xu hướng ngày càng x ấu và nghiêm trọng hơn Cả thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đang bị ảnh hưởng rõ rệt của lhiiện tượng này Việt Nam nằm trong top 5 nước đứng đầu thế giới dễ bị tổn thương nhất trước BĐKCH Chỉ riêng trong hai thập kỷ qua, thiên tai liên quan đến khí hậu gây thiệt hại trung bình 1.8! tỷ USD/năm hoặc 1,2% GDP (trong PPP) và trung bình hàng năm có 445 người tử vong Và theo dự báo, nếu mực nước biển dâng lm , Việt Nam sẽ mất 5% diện tích đất đai, 11% người mất nhà c;ửa, giảm 7% sản lượng nông nghiệp và 10% thu nhập quốc nội (GDP) Neu nước biến dâng ở m ứ c 3m
- 5m, đồng nghĩa với thảm họa có thể xảy ra Đấy ỉà những thách thức, nguy cơ lớn Tuy nihiiên BĐKH cũng đem lại không ít thời cơ cho nhân loại về khả năng thích ứng, tự điều chỉnh, ứng p)hó, sáng tạo của con người để “sống chung với BĐKH”, khai thác tiềm năng, lợi thế đó quá trìnhi inày mang lại đế phát triến bền vững.
Trước thực trạng đó, mặc dù đã có nhiều công ước, nghị định và hàng trăm cuộc họp, 1 Hội nghị, tọa đàm để đưa ra các khuyến cáo và bàn cách ứng pho, giảm thiếu tác động của BĐ)FK.H Tuy nhiên công tác tuyên truyền, phổ biến, giải thích cho cộng đồng còn nhiều hạn chế, bất c ậ p nên
sự hiểu biết, nhận thức của họ chưa cao Thêm vào đó là sự thờ ơ, chủ quan, khinh suất của rmộ)t số
bộ phận lớn trong cộng đồng càng làm cho sự hiểu biết, nhận thức về thời cơ và thách th ứ c của BĐKH càng trở nên lo ngại.
Thứ hai, xét từ sự bất cập giữa yêu cầu cấp bách của ứng phó, giảm thiếu tác động; của
BĐ KH với các chủ trương, giải pháp và hành động chính trị cùa cộng đồng.
Rõ ràng, BĐKH đang ảnh hưởng trực tiếp đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Các 1 hiện tượng thời tiết, bão, lũ, mưa, nước biển dâng ngày càng diễn biến phức tạp, khó lường Vì 'v ậy , yêu cầu cấp bách hiện nay và lâu dài là ứng phó, giảm thiểu tác động tiêu cực của BĐKH đối v/óới xã hội, với cộng đồng.
Tuy nhiên công việc này cũng đang diễn ra chậm chạp, bị động và có nhiều rào cản Miặạc dù chú trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đã có như:
- Luật phòng, chống thiên tai ngày 19.6.2013;
- QĐ số 158/'QĐ-TTg ngày 2.12.2008 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương I trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH;
- QĐ số 1183/QĐ-TTg ngày 30.8.2012 của Thủ tướng CP phê duyệt chương trình mụicc tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH giai đoạn 2012 -2015;
- QĐ số 172/QĐ-TTg ngày 16.11.2007 của Thủ tướng CP phê duyệt Chiến lược qucốòc gia phong, chổng và giảm nhẹ thiên tai đến năm 2020;
- Của cộng đồng về các văn bản quan trọng nói trên chưa đến nơi, đến chốn, chưat í “phủ sóng” hết cộng đồng, hoặc hiểu biết còn lơ mơ, rời rạc; hoặc thậm chí có hiểu biết nhưng wẫ'ẫn cố tình làm ngược với các chủ trương, chính sách nói trên (hủy diệt môi trường, khai thác cạn kãciệt tài nguyên, chỉ thấy lợi trước mắt );
- Những năm qua mặc dù đã có không ít giải pháp và hành động kịp thời Tuy nhiên ÍSISO với yêu cầu thực tế thì giải pháp và hành động như hiện nay là chưa đủ.
Trang 5Thứ ba, xét từ vai trò, vị trí, chức năng và nhiệm vụ của báo chí trong công tác truyền thông
đẽ nâng cao hiêu biết, nhận thức và hcmh động của cộng đồng ứng phó với tác động của BĐ K H ở Việt Nam hiện nay và lâu dài.
Báo chí truyền thông có vai irò hết sức quan trọng, tạo nên dònu chảy tương tác, liên thông giữa các ngành, các lĩnh vực, tác động và chi phối đến mọi lĩnh vực khác nhau trong tiến trình phát triến kinh tế - xã hội Báo chí có vai trò to lớn trong việc truyền tải thông tin nhanh chóng, rộng khắp tới đông đảo quần chúng tiếp nhận Báo chí truyền thông thực hiện chức năng chính trị tư tưởng, tác động vào ý thức xã hội để hình thành và củng cố một hệ tư tưởng đối với xã hội với những định hướng cụ thể của hệ thống đó Đồng thời, báo chí có khả năng truyền bá giáo dục, nâng cao dân trí để chính người dân tham gia quản lý xã hội, dân số, môi trường, kinh tế, văn hóa, nhằm đảm bảo sự phất triển bền vững Chính vì vậy, báo chí truyền thông có vai trò quan trọng trong việc thông tin, tuyên truyền về BĐKH cho công chúng.
Mặc dù đã có một số tiến bộ bước đầu về thông tin BĐKH cho công chúng, tuy nhiên vẫn còn yếu, hạn chế và thiếu toàn diện Đây là vấn đề cần được nghiên cứu một cách nghiêm túc, có hệ thống, khoa học và bài bản để đánh giá đúng thực trạng thông tin báo chí về BĐKH, từ đó đưa ra những kiến nghị, giải pháp kịp thời, khả thi nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quá truyền thông cho lĩnh vực này.
2 M ục tiêu
Đe tài khẳng định vai trò quan trọng của báo chí đối với BĐKH ở Việt Nam, đánh giá thực trạng, thành công và hạn chế của báo chí hiện nay với vấn đề này, từ đó, đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả của báo chí đối với vấn đề BĐKH ở Việt Nam.
3 P hư ơ ng p h á p nghiên cứu
Thực tế cho thấy, không một phương pháp nghiên cún nào được coi là tối ưu trong nghiên cứu khoa học xã hội (benbasat et al 1987), bởi vậy, các nhà nghiên cứu thường phải kết hợp sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu, nhằm gia tăng chất lượng cho công trình nghiên cứu của mình Do vậy, để thực hiện đề tài này, chúng tôi sẽ áp dụng một số phương pháp nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp nghiên cứu lịch sử và sử dụng các tài liệu thứ cấp (historical and secondary research) Đe tài sưu tầm các văn kiện, chỉ thị, tư liệu của Đảng và Nhà nước liên quan nhằm tìm hiểu chủ trương, đường lối, định hướng của Đảng và Nhà nước về vấn đề này Đồng thời tập hợp,
hệ thống tài liệu lý luận từ các sách, tạp chí, các công trình khoa học (trong và ngoài nước) có liên quan đến đề tài.
- Phương pháp nghiên cứu trường hợp (case study): đề tài nghiên cứu trường hợp một số vùng, miền hoặc địa phương như: Quảng Ninh, Nam Định, Thái Bình, Thanh Hóa, Quảng Nam (Cửa Đại) có ảnh hưởng và tác động nhiều nhất về BĐKH.
Đồng thời, đề tài khảo sát, nghiên cứu trường hợp một số cơ quan báo chí trung ương và địa phương như VTV, v o v , Nhân dân, Lao động, Tiền phong, Nam Định, Thái Bình, Thanh Hóa, Quảng Ninh và Tuoitre.vn, VietnamNet.vn, Vnexpress.vn.
- Phương pháp phân tích nội dung (content analysis): Đề tài sử dụng phương pháp này đê khảo sát, phân tích nội dung và hình thức của một số tờ báo được khảo sát để đánh giá thực trạng, thành công và hạn chế của báo chí trong việc thông tin về BĐKH.
Trang 6- Phương pháp phỏng vấn chuyên gia: Đe tài phỏng vấn các chuyên gia về báo chí, về kinh
tế, văn hóa, môi trường, để tổng hợp ý kiến đóng góp của các chuyên gia với vấn đề này và quan trọng hơn là vai trò, trách nhiệm, nhiệm vụ của báo chí với vấn đề BĐKH ở nước ta hiện nay.
- Phương pháp điều tra xã hội học thông qua bảng hỏi anket: đề tài khảo sát, tập họp, phân tích ý kiến của công chúng là cư dân một số vùng, miền (như lựa chọn ở trên) về điều kiện, nhui cầu, thói quen, tâm lý tiếp nhận thông tin, nhận xét đánh giá của họ về chất lượng nội dung và hình thức sản phẩm báo chí, và nhận xét đánh giá của họ về vai trò của báo chí về vấn đề này.
4 T ong kết kết q u ả nghiên cứu
Chủ nhiệm đề tài và nhóm nghiên cứu đã hệ thống hóa các khái niệm công cụ cơ b ả n liên quan đến đề tài như: Thế nào là khí hậu? BĐKH? biểu hiện và tác động của BĐKH? nguyên nhân khách quan và chủ quan của BĐKH? Những khái niệm này có tính lý luận, lý thuyết soi đ ường cho giải quyết các vấn đề thực tiễn ở các phần tiếp theo.
Đe tài cũng nêu rõ, khá hệ thống các quan điểm chi đạo của Đảng, pháp luật của Nhà nước Việt Nam về BĐKH Tư tường xuyên suốt và nhất quán của Đảng và Nhà nước ta là coi vấn điề ứng phó, thích nghi, hài hòa với BĐKH là một trong những nhiệm vụ quan trọng, cơ bản, vừa trư ớ c mắt, vừa lâu dài, có sự đầu tư thích đáng nguồn lực trong và ngoài nước cho công tác này.
Chủ nhiệm đề tài và các cộng sự cũng nêu được những yêu cầu thông tin cơ bản về B.ĐKH trên báo chí, đặc biệt đã chỉ ra các vai trò quan trọng của báo chí với vấn đề BĐKH Đây c ũ n g là những cơ sở lý thuyết, lý luận cần thiết, quan trọng để giải quyết các vấn đề thực tiễn của đẽ tàii Chú nhiệm đề tài và các cộng sự đã nghiên cứu, tìm hiểu một số phương thức thông tin, ttnuyền thông về BĐKH trên thế giới, từ đó rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Đây làt iphần
có giá trị tham khảo, vận dụng tốt một số kinh nghiệm hay cho Việt Nam trong bối cảnh tháclh thức
và cơ hội toàn cầu về BĐKH.
Đe tài đã giành khá nhiều thời gian, công sức để khảo sát, phân tích, đánh giá tin, bàii, ảnh, chương trình phát thanh, truyền hình về BĐKH thời gian qua Đây là một trong những nộii (dung trọng tâm của đề tài Qua khảo sát, phân tích, đánh giá các tác phẩm báo chí, có thể thấy nộii (dung thông tin về BĐKH khá phong phú, đa dạng, cung cấp cho cộng đồng và xã hội những kiến thúức cơ bản về khí hậu, BĐK.H, tác động tích cực và tiêu cực của BĐKH, nguyên nhân và các giải ipháp, biện pháp để ứng phó, thích nghi với BĐKH.
v ề hình thức thể hiện, nhìn chung là hấp dẫn sinh động, phong phú (với báo in đã kíếtt hợp khá tốt chữ viết và hình ảnh, đồ họa; báo điện tử phát huy được tính đa phương tiện - chữ viếtt,, hình ảnh, audio và videoclip; phát thanh đã chú ý hơn về tiếng động, thông tin hiện trường; truyềmi hình
đã tăng hình ảnh động ở hiện trường với thông tin, lời bình tốt), hoặc sử dụng khá phong p>hiú, đa dạng các thể loại như tin, phản ánh, phỏng vấn, phóng sự, điều tra, chuyên luận Cả nội điuing và hình thức thông tin về BĐKH trên báo chí Việt Nam nhìn chung là tốt, tuy nhiên vẫn chưa đíáịip ứng được yêu cầu và nhu cầu của công chúng, chưa đạt hiệu quả cũng như sức lan tỏa cao mhưr imong muốn.
Các tác giả cũng chỉ ra hàng loạt nguyên nhân của hạn chế, khiếm khuyết về nộỉ diiung và hình thức chuyển tải về BĐKH như: Một số lãnh đạo cơ quan báo chí chưa có nhận thức điúáng và đầy đù về tầm quan trọng, cấp thiết và cần thiết thông tin về BĐKH trên các ấn phẩm báo cchí do mình phụ trách; sự hợp tác để chia sẻ, cung cấp thông tin và trao đổi, chuyển tải thông tin giiũữa các
cơ quan báo chí và các Bộ, ngành, địa phương chưa tốt; phóng viên, biên tập viên chưa cccó kiến thức sâu về BĐKH; báo chí chưa thực sự là cầu nối, diễn đàn của người dân và xã hội về E3ỒĐKH;
Trang 7một bộ phận không nho công chúng còn coi nhẹ, thờ ớ với thông tin về BĐK.H; các chuyên gia, nhà khoa học, n h à q u ả n lý c h ư a c ộ n g tác th ư ờ n g x u y ê n , trách n h iệ m với c ơ q u a n báo chí; CƯ s ở vật c h ấ t, tài chính chưa tương xứng với công tác ứng phó, thích nghi và hài hòa với BĐKH; khen thưởng, kỷ lu.it chưa nghiêm minh, kịp thời, công bang
Đó là những hạn chế, thiếu sót cần sớm có giải pháp khắc phục để nâng cao hơn nữa chất lưọrng và hiệu quả thông tin.
5 Đánh giá về các kết q u ả đã đ ạ t đư ợc và kết luận
Cho đến nay, chưa có một công trình khoa học nào (ở cấp tương đương với đề tài) triển khai nghiên cứu về báo chí với vấn đề BĐKH ở Việt Nam hiện nay.
Lần đầu tiên, đề tài áp dụng đồng bộ, hệ thống, kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu liên ngành như nghiên cún lịch sử và tài liệu thứ cấp, nghiên cứu trường hợp, phân tích nội dung, phong vấn sâu điều tra xã hội học dê thực hiện dề tài nghiên cứu về báo chí với vấn đề BĐKH.
Do đó, kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ đóng góp một cách hữu ích, thiết thực đối với lý luán và thực tiễn báo chí truyền thông ở Việt Nam, đề xuất ra những giải pháp quan trọng nhằm nâig cao vai trò, hiệu quả của báo chí truyền thông trong việc thông tin, truyền thông về BĐKII và ứng phó BĐKH.
Ket quả nghiên cứu của đề tài sẽ là tài liệu tham khảo cho các cấp lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý Trang ương và địa phương cũng như các Bộ, Ban, ngành khác trong việc khai thác, vận dụng, sử dụig báo chí đế thông tin, truyền thông về BĐKH cho công chúng.
Những đánh giá về thành công và hạn chế của báo chí và những đề xuất cụ thể của đề tài về việc nâng cao chất lượng nội dung và hình thức của các sản phấm báo chí về lĩnh vực này sẽ tạo điéu kiện để các cơ quan báo chí, phóng viên, biên tập viên nâng cao chất lượng và hiệu quả trong truyền thông.
Ket quả đề tài là tài liệu tham khảo có ích trong các cơ sở đào tạo báo chí, để định hướng tính chuyên nghiệp và trách nhiệm cho những nhà báo tương lai Đối với Khoa Báo chí và Truyền théng, Trường ĐHKHXH&NV, kết quả nghiên cứu của đề tài phục vụ hừu ích cho một số môn học nhí “Cơ sở lý luận báo chí truyền thông”, “ Lý luận và thực tiễn báo in, báo điện tử”, “ Báo chí và mci trường” Các kênh truyền thông của ĐHQGHN cũng có thế tham khảo, vận dụng tài liệu này
troig hoạt động thực tiễn của mình (Xem thêm địa chỉ ứng dụng trong Báo cáo tổng quan).
6 r ỏ m tắ t kết q u ả (tiếng Việt và tiếng Anh)
Đe tài “Bảo chí với vẩn đề BĐ K H ở Việt Nam hiện nay” tuy không mới, nhưng vẫn luôn
mrng tính thời sự, cấp thiết và quan trọng với đất nước nói chung và báo chí Việt Nam nói riêng Sai hai năm khảo sát, tìm hiểu, nghiên cứu, đánh giá, phân tích thông tin về BĐKH trên các loại hìrh báo chí nước ta đề tài này bước đầu đã đạt được một số kết quà sau đây:
Thứ nhất, Chủ nhiệm đề tài và nhóm nghiên cứu đã hệ thống hóa các khái niệm công cụ cơ
bảt liên quan đến đề tài như: Thế nào là khí hậu? BĐKH? biểu hiện và tác động của BĐKH? nguyên nhân khách quan và chủ quan của BĐKH? Những khái niệm này có tính lý luận, lý thuyết soi đường cho giải quyết các vấn đề thực tiễn ở các phần tiếp theo.
Thứ hai, đề tài cũng nêu rõ, khá hệ thống các quan điểm chỉ đạo của Đảng, pháp luật của
Nlìi nước Việt Nam về BĐKH Tư tưởng xuyên suốt và nhất quán của Đảng và Nhà nước ta là coi vấr đề ứng phó, thích nghi, hài hòa với BĐKH là một trong những nhiệm vụ quan trọng, cơ bản,
Trang 8vừa trước mắt, vừa lâu dài, có sự đầu tư thích đáng nguồn lực trong và ngoài nước cho côn g tác này.
Chù nhiệm đề tài và các cộng sự cũng nêu được những yêu cầu thông tin cơ bản về BĐKH trên báo chí, đặc biệt đã chỉ ra các vai trò quan trọng của báo chí với vấn đề BĐKH Đây cũng là những cơ sở lý thuyết, lý luận cần thiết, quan trọng để giải quyết các vấn đề thực tiễn của đề t à i Thứ hai, Chủ nhiệm đề tài và các cộng sự đã nghiên cứu, tìm hiểu một số phương thức thông tin, truyền thông về BĐKH trên thế giới, từ đó rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Đây là phần có giá trị tham khảo, vận dụng tốt một số kinh nghiệm hay cho Việt Nam trong bối cảnh thách thức và cơ hội toàn cầu về BĐKH.
Thứ ba, đề tài đã giành khá nhiều thời gian, công sức để khảo sát, phân tích, đánh giiá tin,
bài, ảnh, chương trình phát thanh, truyền hình về BĐKH thời gian qua Đây là một trong mhững nội dung trọng tâm của đề tài Qua khảo sát, phân tích, đánh giá các tác phẩm báo chí, có th ễ thấy nội dung thông tin về BĐKH khá phong phú, đa dạng, cung cấp cho cộng đồng và xã hội những kiến thức cơ bản về khí hậu, BĐKH, tác động tích cực và tiêu cực của BĐKH, nguyên nhân v à các giải pháp, biện pháp để ứng phó, thích nghi với BĐKH Đặc biệt báo chí đã góp phần nâng c a o hiểu biết, nhận thức cho lãnh đạo, cán bộ, người dân và cộng đồng để cùng chung tay hành động trong lĩnh vực này Tuy nhiên nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, nội dung thông tin về BĐKH nhìn c h u n g chưa kịp thời, cập nhật, chưa bám sát thực tiễn, nhu cầu của người dân Đặc biệt, các giải pháp C'.ụ thể, các kinh nghiệm, sáng kiến hay chưa nhiều, chưa có sức lan tỏa, chưa hiệu quả, thậm chí có l úc, có nơi thông tin còn sai sự thật hoặc “quan trọng hóa”, thổi phồng theo kiểu “tất cả chỉ tại ông tròn'’?!,
v ề hình thức thể hiện, nhìn chung là hấp dẫn, sinh động, phong phú (với báo in đã kết hợp k h á tốt chữ viết và hình ảnh, đồ họa; báo điện tử phát huy được tính đa phương tiện - chữ viết, hìnlh ảnh audio và videoclip; phát thanh đã chú ý hơn về tiếng động, thông tin hiện trường; truyền hiình đã tăng hình ảnh động ở hiện trường với thông tin, lời bình tốt), hoặc sử dụng khá phong phú día dạng các thể loại như tin, phản ánh, phỏng vấn, phóng sự, điều tra, chuyên luận Tuy nhiên, thô)ng tin
về BĐKH cần thể hiện tại hiện trường, hình ảnh thực, sống động, thuyết phục, hấp dẫn, lôii cuốn công chúng thì hình thức thể hiện cơ bản chưa đáp ứng được, còn máy móc, dập khuôn, chặìm đổi mới trong hình thức thể hiện.
Vì vậy, cả nội dung và hình thức thông tin về BĐKH trên báo chí Việt Nam nhìn chtuing là tốt, tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng được vêu cầu và nhu cầu của công chúng, chưa đạt hiệu quíả cũng như sức lan tỏa cao như mong muốn.
Các tác giả cũng chỉ ra hàng loạt nguyên nhân của hạn chế, khiếm khuyết về nội dtuing và hình thức chuyển tải về BĐKH như: Một số lãnh đạo cơ quan báo chí chưa có nhận thức điúing và đầy đủ về tầm quan trọng, cấp thiết và cần thiết thông tin về BĐKH trên các ấn phẩm báo c h í do mình phụ trách; sự hợp tác để chia sẻ, cung cấp thông tin và trao đổi, chuyển tải thông tin giiữra các
cơ quan báo chí và các Bộ, ngành, địa phương chưa tốt; phóng viên, biên tập viên chưa cccó kiến thức sâu về BĐKH; báo chí chưa thực sự là cầu nối, diễn đàn của người dân và xã hội về BỈĐKH: một bộ phận không nhỏ công chúng còn coi nhẹ, thờ ở với thông tin về BĐKH; các chuyên g>iia, nhà khoa học, nhà quản lý chưa c ộng tác thường xuyên, trách nhiệm với c ơ quan báo chí; c ơ s ỡ Víậtt chất, tài chính chưa tương xứng với công tác ứng phó, thích nghi và hài hòa với BĐKH; khen tlhưcởmg, kỷ luật chưa nghiêm minh, kịp thời, công bằng
Đó là những hạn chế, thiếu sót cần sớm có giải pháp khắc phục để nâng cao hơn niữía chất lượng và hiệu quả thông tin.
6
Trang 9Thứ tư, Chủ nhiệm đề tài và các cộng sự đã nghiên cứu, phân tích bối cảnh BĐKH và nhận
định rằng, BĐK.H đã, đang và sẽ diễn ra trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng với tốc độ nhanh, phức tạp, khó lường hơn Đó là sự thật cần nhận thức đúng và đầy đủ BĐKH sẽ tác động và ảnh hưởng tới tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, đối ngoại, an ninh, quốc phòng, đời sống dân sinh Vì vậy hàng loạt yêu cầu mới đang đặt ra cho báo chí trong bối cảnh này là: Tiếp tục thông tin đầy đủ chính xác, khách quan, kịp thời về BĐKH; tăng cường thông tin về các giải ph.ip, biện pháp, sáng kiến cụ thể để ứng phó, thích nghi với BĐKH; thường xuyên đổi mới về phương thức chuyển tải nội dung và hình thức về BĐK.H; tiếp tục nâng cao nhận thức, hiếu biết và trá;h nhiệm của các cấp lãnh đạo, các Bộ, ngành, địa phương về công tác này; tăng nguồn lực, cơ sở vậi chất, tài chính cho báo chí đế ứng phó, thích nghi với BĐKH; mở rộng hợp tác giữa báo chí với các cơ quan, nhà khoa học, chuyên gia, nhà quản lý trong và ngoài nước.
Các yêu cầu và nhiệm vụ mới này liên quan mật thiết và tác động lẫn nhau Tiến hành đồng
bộ sẽ mang lại hiệu quả và chất lượng cao hơn cho báo chí trước tình hình mới.
Thứ năm , trên cơ sở bối cảnh, thực trạng, yêu cầu mới của báo chí về BĐKH, các tác giả đã
thcng nhất đề xuất các kiến nghị cụ thể đối với báo chí như: Tổng Giám đốc, Giám đốc, Tổng Biên tập các cơ quan báo chí không ngừng nâng cao nhận thức và trách nhiệm thông tin về BĐKH trên
cơ quan báo chí mình; Đào tạo, bồi dưỡng phóng viên, biên tập viên có kiến thức sâu về BĐKH; Không ngừng đổi mới nội dung và hình thức thông tin về BĐKH; tăng cường nguồn lực cho báo chi; mở rộng họp tác trong và ngoài nước; sự tham gia của người dân và cộng đồng vào diễn đàn báo chí để chung tay hành dộng ứng phó, thích nghi, hài hòa với BĐKH, tăng tính chuyên nghiệp, khoa học, hiện đại, đại chúng của báo chí về BĐKH
Thứ sáu, kết quả nghiên cứu của đề tài được Chủ nhiệm và các cộng sự đề xuất địa chỉ có
thể tham khảo, vận dụng là: Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Thông tin và Truyền thông, Hội Nhà bác Việt Nam, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các trường đại học, viên nghiên cứu có ngành báo chí truyền thông, các cơ quan báo chí, các phóng viên, biên tập viên và những ai quan tâm đến đề tài
Mặc dù Chủ nhiệm đề tài và các cộng sự đã có nhiều cố gắng, nỗ lực, tâm huyết đế hoàn thàih nhiệm vụ, một số kết quả trên đây đáng nghi nhận , tuy nhiên cũng mới là kết quà bước đầu
Đề tài rộng, khó và có tính phức tạp, cộng với thời gian và năng lực nghiên cứu nên không tránh khoi hạn chế, khiếm khuyết Các tác giả sẽ chân thành tiếp thu tối đa ý kiến đóng góp để tiếp tục hoen chỉnh với chật lượng cao hơn.
1 Báo chí với vấn đề biến đổi
khí hậu ở Việt Nam
Sách chuyên khảo Được NXB ĐHQGHN đồng
Đã được báo cáo ngày 15/12/2016.
Trang 103 Vận dụng các nghị quyết Đại
hội Đảng toàn quốc về ứng
phó với BĐKH vào hoạt động
giảng dạy, nghiên cứu báo chí
truyền thông
Tham luận khoa học, Hội thảo khoa học quốc gia (Học viện Chính trị quốc gia HCM
- NXB Chính trị quốc gia).
Đã được báo cáo ngày 25/5/2015.
4 Báo chí với vấn đề biến đổi
khí hậu ở Việt Nam hiện nay
Bài báo khoa học Tạp chí: Người làm báo
Đã được đăng: Người làm báo
6 Giải pháp nâng cao chất
lượng, hiệu quả của báo chí về
vấn đề biến đổi khí hậu
Bài báo khoa học Tạp chí: Lý luận Chính trị và Truyền thông
Đã được đăng: Lý luận Chính trị và Truyền th ô n g ;
sản ohâm)
G hi địa chỉ và cảm ơn s ự tài trọ' của
Đ H Q G H N
đ ú n g quy đinh
Đ án hi giá chiuing
(Đcạt, khiôìng đíạit)
1 Sách chuyên khảo được xuât bản hoặc ký họp đông xuât bản
1.1 Báo chí với văn đê biên đôi khỉ
hậu ở Việt Nam
2 Bài báo trên các tạp chí khoa học của ĐHQGHN, tạp chí khoa học chuyên ngành
quốc gia hoặc báo cáo khoa học đăng trong kỷ yếu hội nghị quốc tế
2.1 Vai trò của báo chí Việt Nam
với vấn đề BĐKH
viưiợt 2.2 Vận dụng các nghị quyết Đại
hội Đáng toàn quốc về ứng phó
với BĐKH vào hoạt động giảng
dạy, nghiên cứu báo chí truyền
thông
V'uượt
2.3 Báo chí với vấn đề biến đổi khí
hậu ở Việt Nam hiện nay
2.4 Báo chí đồng bằng sông Hồng
ứng phó với BĐKH
2.5 Giải pháp nâng cao chất lượng,
hiệu quả của báo chí về vấn đề
biến đổi khí hậu
Trang 11G hi chủ:
Cột sản phẩm khoa học công nghệ: Liệt kê các thông tin cúc sán phắm KH CN theo thứ tự
<tên lác gia, tên công trình, tên tạp chí/nhà xuất bản, số phát hành, năm ph ái hành, trang đủng công trình, mã công trình đăng tạp chí/sách chuyên khào (DOI), loại tạp chí ISI/Scopus>
Các an phủm khua học (bài báo, báo cảo KH, sách chuyên khảo ) chì đươc chun nhân nếu
có ghi nhận địa ch ỉ và cảm ơn tài trợ cùa Đ H Q G H N theo đủng quy định.
Ban phô tô toàn văn các ẩn phấm này phái đưa vào phụ lục các minh chứng của báo cáo Riêng sách chuyên kháo cần có bàn phô tô bìa, trang đầu và trang cuối có ghi thông tin mã số xuất bản.
3.3 Kết quả đ ào tạo
T T Họ và tên
T h ò i gian và kinh phí
th a m gia đề tài
(sổ thúng/số tiền)
Công trìn h công bố liên q u a n
(San phâm KHCN, luận án luận
văn)
Đã bảo vệ Hoc viên cao hoc
Báo chí Trung bộ với văn đê
BĐ K H hiện nay (QĐ số 1152 ngày
7/4/2016)
G hi cltú:
Gửi kèm ban pholu trang bìa luận á n / luận văn/ khỏa luận và bằng hoặc giấy chứng nhận nghiên cứu sinh/thạc sỹ nếu học viên đã bảo vệ thành công luận á n / luận văn;
Cột công trình công bố ghi như mục III 1.
PHẦN IV T Ố N G H Ợ P K É T Q U Ả C Á C SẢN P H Ẩ M K H & C N VÀ Đ À O T Ạ O CỦA ĐÈ TÀI
đ ă n g ký
Sô lượng đã hoàn th à n h
1 Bài báo công bô trên tạp chí khoa học quôc tê theo hệ thông
ISI/Scopus
2 Sách chuyên khảo được xuât bản hoặc ký hợp đông xuât
bản
3 Đăng ký sở hữu trí tuệ
4 Bài báo quôc tê không thuộc hệ thông ISI/Scopus
5 Sô lượng bài báo trên các tạp chí khoa học của ĐHQGHN,
tạp chí khoa học chuyên ngành quốc gia
7 Kêt quả dự kiên được ứng dụng tại các cơ quan hoạch định
chính sách hoặc cơ sở ứng dụng KH&CN
8 Đào tao/hồ trơ đào tao NCS
Trang 12A Chi p h í trực tiêp 276 276
2 Nguyên, nhiên vật liệu, cây con
PHẦN V K IÉN N G H Ị (về ph át triển các kết quả nghiên cứu cùa đề tài; về quàn lý, tổ chức đlĩực hiện ở các cấp): K ết q u ả n g h iê n cứu của đề tài đ ư ợ c C h ủ n h iệ m v à các c ộ n g sự đề x u â t địa
chỉ có thể tham khảo, vận d ụ n g là: Ban T u y ên g iáo T ru n g ư ơ ng, B ộ T h ô n g tin và T ru y ề n
thông, Hội Nhà báo Việt Nam, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Phát ttriển nông thôn, các trường đại học, Viện nghiên cứu có ngành báo chí truyền thông
PHẦN VI PHỤ LỤ C (minh chứng các sàn phấm nêu ở Phần III)
Các sản phẩm kèm theo gồm:
1 Sả n p h ẩ m k h o a học:
- Báo cáo tổng quan đề tài;
- 3 bài báo k h o a h ọ c đ ă n g tạp chí;
- 1 báo cáo tham luận tại Hội thảo khoa học quốc gia;
- 1 báo cáo tham luận tại H ội thảo k h o a học quốc tế.
2 Sả n p h ă m đ ào tạo: C ác Q u y ết định cô n g nh ận học viê n cao học có nội d u n g liên quran đề
tài
3 Bảo cáo T ổ ng k ế t K e t q u ả th ự c hiện đề tài.
Hà Nội, ngày 50 tháng.Ạ năm 2017
Trang 13TÓM TẮT KÉT QUẢ NGHIÊN c ứ u
Đe tài uBảo chí với vấn đề BĐKH ở Việt Nam hiện nay” tuy không mới,
nhưng vẫn luôn mang tính thời sự, cấp thiết và quan trọng với đất nước nói chung và báo chí Việt Nam nói riêng Sau hai năm khảo sát, tìm hiểu, nghiên cứu, đánh giá, phân tích thông tin về BĐKH trên các loại hình báo chí nước ta,
đề tài này bước đầu đã đạt được một sổ kết quả sau đây:
T h ứ n h ấ t, C h ủ nhiệm đ ề tài v à nhóm n g h i ê n c ứ u đ ã h ệ thống h ó a các khái
niệm công cụ cơ bản liên quan đến đề tài như: Thế nào là khí hậu? BĐKH? biểu hiện và tác động của BĐKH? nguyên nhân khách quan và chủ quan của BĐKH? Những khái niệm này có tính lý luận, lý thuyết soi đường cho giải quyết các vấn đề thực tiễn ở các phần tiếp theo
Đê tài cũng nêu rõ, khá hệ thống các quan điếm chỉ đạo của Đảng, pháp
luật c ủ a N h à n ư ớ c V iệ t N a m về BĐK.H T ư t ư ở n g x u y ê n s u ố t v à n h ấ t q u á n c ủ a
Đảng và Nhà nước ta là coi vấn đề ứng phó, thích nghi, hài hòa với BĐKH là một trong những nhiệm vụ quan trọng, cơ bản, vừa trước mắt, vừa lâu dài, có sự đâu tư thích đáng nguồn lực trong và ngoài nước cho công tác này
Chủ nhiệm đề tài và các cộng sự cũng nêu được những yêu cầu thông tin
cơ bản về BĐKH trên báo chí, đặc biệt đã chỉ ra các vai trò quan trọng của báo chí với vấn đề BĐKH Đây cũng là những cơ sở lý thuyết, lý luận cần thiết, quan trọng đế giải quyết các vấn đề thực tiễn của đề tài
Thứ hai, Chủ n h iệ m đề tài và các cộng sự đã nghiên cứu, tìm h iể u một số phương thức thông tin, truyền thông về BĐKH trên thế giới, từ đó rút ra một số
bài h ọ c k in h n g h i ệ m c h o V iệ t N a m Đ â y là p h ầ n có g iá trị t h a m k h ả o , v ậ n d ụ n g
tốt một sổ kinh nghiệm hay cho Việt Nam trong bối cảnh thách thức và cơ hội
to à n c ầ u v ề B Đ K H
Trang 14Thứ ba, đề tài đã giành khá nhiều thời gian, công sức để khảo sát, phân
tích, đánh giá tin, bài, ảnh, chương trình phát thanh, truyền hình về BĐKH thời gian qua Đây là một trong những nội dung trọng tâm của đề tài Qua khảo sát., phân tích, đánh giá các tác phẩm báo chí, có thể thấy nội dung thông tin vẽ BĐKH khá phong phú, đa dạng, cung cấp cho cộng đồng và xã hội nhũng kiến thức cơ bản về khí hậu, BĐKH, tác động tích cực và tiêu cực của BĐKH, nguyên nhân và các giải pháp, biện pháp để ứng phó, thích nghi với BĐKH Đặc biệt báo chí đã góp phần nâng cao hiểu biết, nhận thức cho lãnh đạo, cán bộ, người dâm
và cộng đồng để cùng chung tay hành động trong lĩnh vực này Tuy nhiên nghiêm cứu cũng chỉ ra ràng, nội dung thông tin về BĐKH nhìn chung chưa kịp thời, cậịp nhật, chưa bám sát thực tiễn, nhu cầu của người dân Đặc biệt, các giải pháp ciụ thể, các kinh nghiệm, sáng kiến hay chưa nhiều, chưa có sức lan tỏa, chưa hiệm quả, thậm chí có lúc, có nơi thông tin còn sai sự thật hoặc “quan trọng hóa”, thổi phồng theo kiểu “tất cả chỉ tại ông trời”?!
v ề h ìn h t h ứ c thể hiện, nhìn chung là h ấ p d ẫ n , s in h đ ộ n g , p h o n g phú (vcới
báo in đã kết hợp khá tốt chữ viết và hình ảnh, đồ họa; báo điện tử phát huy đưọ-yc tính đa phương tiện - chữ viết, hình ảnh, audio và videoclip; phát thanh đã chú ý hơn về tiếng động, thông tin hiện trường; truyền hình đã tăng hình ảnh động ở hiện trường với thông tin, lời bình tốt), hoặc sử dụng khá phong phú, đa dạng cíác thê loại như tin, phản ánh, phỏng vấn, phóng sự, điều tra, chuyên luận Tiuy nhiên, thông tin về BĐKH cần thể hiện tại hiện trường, hình ảnh thực, sổrng động, thuyết phục, hấp dẫn, lôi cuốn công chúng thì hình thức thế hiện cơ btản
c h ư a đ á p ứ n g đ ư ợ c , c ò n m á y m ó c , d ậ p khuôn, c h ậ m đ ổ i m ớ i t r o n g hìn h th ứ c tth ể
hiện
2
Trang 15Vì vậy, cả nội dung và hình thức thông tin về BĐKH trên báo chí Việt Nam nhìn chung là tôt, tuy nhiên vần chưa đáp ứng được yêu câu và nhu câu của công chúng, chưa đạt hiệu quả cũng như sức lan tỏa cao như mong muốn.
Các tác giả cũng chỉ ra hàng loạt nguyên nhân của hạn chế, khiếm khuyết
về nội dung và hình thức chuyển tải về BĐKH như: Một số lãnh đạo cơ quan báo chí chưa có nhận thức đúng và đầy đủ về tầm quan trọng, cấp thiết và cần thiết thông tin về BĐKH trên các ấn phẩm báo chí do mình phụ trách; sự hợp tác đê chia sẻ, cung cấp thông tin và trao đối, chuyến tải thông tin giữa các cơ quan báo chí và các Bộ, ngành, địa phương chưa tốt; phóng viên, biên tập viên chưa có kiến thức sâu về BĐKH; báo chí chưa thực sự là cầu nối, diễn đàn của người dân
và xã hội về BĐKH; một bộ phận không nhỏ công chúng còn coi nhẹ, thờ ở với thông tin về BĐKH; các chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý chưa cộng tác thường xuyên, trách nhiệm với cơ quan báo chí; cơ sở vật chất, tài chính chưa tương xứng với công tác ứng phó, thích nghi và hài hòa với BĐKH; khen thưởng, kỷ luật chưa nghiêm minh, kịp thời, công băng
Đó là những hạn chế, thiếu sót cần sớm có giải pháp khắc phục đế nâng cao hơn nữa chất lượng và hiệu quả thông tin
T h ứ tư , Chủ nhiệm đ ề tài v à các cộng s ự đ ã nghiên c ứ u , phân tích bôi cảnh BĐKH và nhận định rằng, BĐKH đã, đang và sẽ diễn ra trên thế giới nói chung
và Việt Nam nói riêng với tốc độ nhanh, phức tạp, khó lường hon Đó là sự thật cần nhận thức đúng và đầy đủ BĐKH sẽ tác động và ảnh hưởng tới tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, đối ngoại, an ninh, quốc phòng, đời sống dân sinh Vì vậy hàng loạt yêu cầu mới đang đặt ra cho báo chí trong bối cảnh này là: Tiếp tục thông tin đầy đủ, chính xác, khách quan, kịp thời về BĐKH; tăng cưòng thông tin về các giải pháp, biện pháp, sáng kiến cụ the đê ứng phó, thích
Trang 16nghi với BĐKH; thường xuyên đổi mới về phương thức chuyến tải nội dung và hình thức về BĐKH; tiếp tục nâng cao nhận thức, hiểu biết và trách nhiệm cùa các cấp lãnh đạo, các Bộ, ngành, địa phương về công tác này; tăng nguôn lực, CO'
sở vật chất, tài chính cho báo chí để ứng phó, thích nghi với BĐKH; mở rộng họp tác giữa báo chí với các cơ quan, nhà khoa học, chuyên gia, nhà quản lý trong và ngoài nước
Các yêu cầu và nhiệm vụ mới này liên quan mật thiết và tác động lẫn nhau Tiến hành đồng bộ sẽ mang lại hiệu quả và chất lượng cao hon cho báo chí trước tình hình mới
Thứ năm, trên cơ sở bối cảnh, thực trạng, yêu câu mó'i của báo chí vê
BĐKH, các tác giả đã thống nhất đề xuất các kiến nghị cụ thể đối với báo chí như: Tổng Giám đốc, Giám đốc, Tổng Biên tập các cơ quan báo chí không ngừng nâng cao nhận thức và trách nhiệm thông tin về BĐKH trên cơ quan báio chí mình; Đào tạo, bồi dưỡng phóng viên, biên tập viên có kiến thức sâu về BĐKH; Không ngừng đổi mới nội dung và hình thức thông tin về BĐKH; tăng cường nguồn lực cho báo chí; mở rộng hợp tác trong và ngoài nước; sự tham gia của người dân và cộng đồng vào diễn đàn báo chí để chung tay hành động ứng phó, thích nghi, hài hòa với BĐKH, tăng tính chuyên nghiệp, khoa học, hiện đại, đại chúng của báo chí về BĐKH
Thứ sáu, kêt quả n g h iê n cứu của đề tài đưọ'c Chủ nhiệm và các cộng sự (đề xuất địa chỉ có thế tham khảo, vận dụng là: Ban Tuyên RĨáo Trung ương, B ộ Thông tin và Truyền thông, Hội Nhà báo Việt Nam, Bộ Tài nguyên và Míôi trường, Bộ Nông nghiệp và Phát triên nông thôn, các trường đại học, viên nghitên cứu có ngành báo chí truyền thông, các cơ quan báo chí, các phóng viên, biên tcập viên và những ai quan tâm đến đề tà i
4
Trang 17Mặc dù Chủ nhiệm đề tài và các cộng sự đã có nhiều cố gẳng, nỗ lực, tâm huyết đế hoàn thành nhiệm vụ, một số kết quả trên đây đáng nghi nhận , tuy nhiên cũng mới là kết quả bước đầu Đe tài rộng, khó và có tính phức tạp, cộng với thời gian và năng lực nghiên cứu nên không tránh khởi hạn chế, khiếm khuyết Các tác giả sẽ chân thành tiếp thu tôi đa ý kiến đóng góp đê hoàn chỉnh với chật lượng cao hơn./.
Trang 18R ESEA RCH RESULTS SUM M ARY
Although the theme of uJ o n r n a Iis m with climate-change issues iu Vỉetnam” is
not new, it has always been topical, urgent and necessary for the country in general and the Vietnam’s Journalism in particular After two years o f investigating, evaluating and analyzing the iníbrmation o f climate change above various types of press in our country, this study had initially achieved some following fíndings:
Firstly, Project leader and team had systematized basic tools and concepts related to the topic such as: climate, climate change, manifestations and effects of climate change, objective and subjective reasons of climate change These concepts provided theoretical bases and revelation to solve practical issues in the sequels
The study also clearly and systematically identiíìed Party’s viewpoints and laws o f the State o f Vietnam on Climate change The decisive and consistent ideology
o f the Party and State o f Vietnam is harmoniously adapting and coping with Climate- change which is considered as one o f the most priority mission in both short and long term, as well as should be appropriately invested both íoreign and domestic resources for this work
Principal investigator and colleagues have raised the basic requirements of climate change information in the press, particularly pointed out the important role of the media with climate change issues This is the theoretical basis, theoretical necessity which plays a crucial part in solving the practical problems of the subject
Secondly, Head o f research and his associates have gone through some methods of information and communication on climate change in the vvorld, from which to draw some lessons for Vietnam This is a valuable reference, good use for some experience for Vietnam in the context o f challenges and opportunities of global climate change
Thirdly, this study has taken a quite amount of time, effort for appraisal, analyzing, evaluating information, articles, photos, radio programs, etc about climate change over the years This is undoubtedly one of the key contents of this subject Through the survey, analysis, evaluation of the press work, it can be seen that all
Trang 19context of climate change is quite rich, diverse providing the community and societr not only the primal knowledge of climate change but also the positive effects , the negative ones, the causes and the measures to cope with and adapt to in terms of sudden changes Especially the media has contributed to improve the understanding, raise avvareness of leaders, officials, citizens and the community to join hands h action in this íield However, the study also points out that the content of iníormaticn
on climate change generally not timely, updated, not sticking to practical needs of thi people In particular, speciíìc solutions, experiences, initiatives are not many not to
m entio n are very perv asiv e, ineffective Even at times w h e re the inform atio n W8S
false
About form o f expression, it is generally attractive, lively, rich (since the printed news has pretty good combination of writing and images, graphics, electron c media which are promoting multimedia - text, image photos, audio and clips; the quality of radio sound and scene information has been better ; animation has becn increased in terms o f scene with the iníormation, good comments) , or taking advantage greatly of diverse categories such as news, feedbacks , intervievvs, reports, surveys, essays However, information on climate change needs to be present at the scene, real photos which are vivid, convincing, compelling, charismatic to the pubiic meaning they are not to meet the basic expression, while machinery, molding, innovation is slow in the form o f expression
Thereíore, both the content and form of information about climate change on Vietnam newspapers is generally good, but still not meet the requirements and needs
of the public, also not effective and highly contagious as desired
The authors also point out the cause of a series of restrictions, deficiencies in content and form o f delivering awareness on climate change: some Head of newspapers are not properly and fully aware of the importance, level and necessity of information about climate change on the press releases under their supervision; the cooperation to share, provide iníbrmation and exchange and transfer information between the press agencies and the ministries, branches and localities is not good; Reporters and editors do not have deep knowledge about climate change; the press is
Trang 20not really a bridge that connect the people and climate change consciousness ; a large part o f them are considered to be indifferent to information on climate change; experts, scientists, managers are not often in collaboration , responsible for press agencies; inírastructure, finance is not commensurate with the response, adaptation and harmonization with climate change; reward and discipline is not strict, timely and
Those are the limitations and shortcomings for which we should soon have solutions for further improvement o f the quality and effíciency iníormation
Fourthly, principal investigator and colleagues have studied, analyzed the context of climate change and said that climate change has and will take place in the world in general and Vietnam in particular at a high, complex and more unpredictable speed This is a fact that needs to be well iníbrmed Climate change will impact and affect all fields of politics, economy, culture, foreign affairs, security, defense and people's daily lives So a series of new requirements are set for the report even in this context which is: Continue informed, accurate, objective and timely on climate change; enhanced iníormation on solutions and measures, speciíìc initiatives to respond to and adapt to climate change; regularly renewed on the delivery of content and form of climate change; continue to raise awareness, understanding and responsibility o f the leaders, ministries, branches and localities of this task; increasing resources, facilities, íĩnance for the press to respond and adapt to climate change; expanding cooperation between press agencies, scientists, experts, managers and abroad
The new requirements and tasks are closely link and internet The synchronizations will bring efficiency and higher quality to the press prior to the new situation
Fifthly , on the basis o f context, status and new requirements of the media on climate change, the authors have agreed to propose speciíic recommendations for the press as: CEO, Director, Editor the press agencies constantly raise awareness and are responsible for inĩbrmation about climate change on its press agencies; Training and retraining of journalists, editors and expert knowledge on climate change;
3
Trang 21Constantly innovate the content and form of information on climate chariee; strengthening resources for the press; expand domestic and international cooperation; the participation o f citizens and community íbrums on journalism to act jointly to respond, adapt, in harmony with the climate change, increase professionalism, Science, modem mass media on climate change ,ect
Finally, the results of the research study was addressed by Chairman and colleagues can only be used as the proposed reference as: the Central Propaganda Department, Ministry of Information and Communications, Vietnam Journalists Association, Ministry Natural resources and Environment, Ministry of Agriculture and rural Development, universities, research fellow with the media industry, the press agencies, reporters, editors and those who are interested in problems ect
Although Project leader and associates have made many attempts, efforts, dedication to complete the task, some suspicious results are received, however, was the initial results Broad topic bearing difficulty and complexity, plus the time and research capacity is inevitably limited, defective The authors will absorb maximum heartíelt comments to continue to complete with higher quality
Trang 22Nhà Xuất bản ĐHQGHN đã nhận được bản thảo “Báo c h í V Ớ I vấn đề
Đây là sách chuyên khảo được thực hiện trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu khoa học cấp ĐHQGỈIN, mã số: QG 15.57
Nhà Xuất bản ĐHQGHN đã đăng ký với Cục Xuất bản đế xuất bản sách
chuyên khảo uBáo ch í với vấn đề Biến đổi k h ỉ hậu ở Việt N am ” vói khổ sách
16 X 24 cm và độ dày khoảng 250 trang
Hiện tại, Nhà Xuất bản ĐHQGHN đang tổ chức triển khai thiết kế, biên tập đế xuất bản theo đúng quy định của Luật Xuất bản
Thời gian dự kiến xuất bản: tháng 3 hoặc 4 năm 2017
Trang 23‘ỡi u O"
- « X
0 > u
*ro+-> &0 u 'O
o tó
-c 5 tó H
00 c
< 1
> o
* H
y z 'O ơ Q
5 - ' < w
Q H
'P
o Ễ
o
ọ
?N c
'<ỗ 5
0
z 'O I
0
o 0 s*
E 'ro
<s c '<g
3
ơ) c
CL
&
-C
c Í><< 1 )
cp 'S
0 J=
g Q- I
.«0
CŨ cb c cp
i5
3
m (D P
<
0
g Q- X
<
0
1 o
Trang 25SECĨION 6 CLIMATE CHANGE
ICVS 2016 I PROGRAM IN DETAILS I SECTION 6 I P.2
vulnerable country, b u t a írontier country in clim a te c h a n g e resistance
10:50-11:20 ỉjrge-V orsatz Diana, V ice Chair, Working G roup III, IPCC (Hungary), "M itigating clim ate
c h a n g e in the c o n te x t o f sustainable d e v e lo p m e n t"
11:20-11:40 M e g u m i Sakam oto, University of Fukushima (Japan), Ja p a n a n d V ietnam 's
C o o p e ra tio n for the Promotion o f R enewable Energy in the M e ko n g Delta: Solar
Phan V an Tan, VNU University of Science, V ieỉnam
A n d y Bairđ, University o f Leeds, United Kingdom 13:30-14:00 A n d y Baird, University of Leeds (United Kingdom), Tropical peatlands, restoration, a n d
c lim a te c h a n g e : an overview o f research a p p ro a ch e s
14:00-14:15 Doan Q uang Van, University o f Tsukuba, Japan), A p p lyin g D yn a m ica l Downscaling
M e th o d w ith a High-Resolution Regional C lim ate M o d e l for Local C lim ate Proịection in
C re a te r H anoi City
14:15-14:30 Hiroyuki Kusaka, University of Tsukuba, Japan), Urban C lim ate Proịection in 205ŨS for
G re a te r Ho C hi Minh City M etropolitan A reay
14:30-14:45 Dinh Van Huong, Political-Students Affairs D epartm ent, VNU (Vietnam ), The Role
p la y e d b y V ietnam ese Journalism in Clim ate c h a n g e
(V ietnam ), S ocial differentiation a n d access to clean w a te r in a co n te x t o f clim ate
c h a n g e : A case study from Bac Ninh
15:30-15:45 Le Van Thang, Institute of Resources an d Environment, (V ietnam ), A p p ro a c h to the
research on the A d a p tiv e M o đ e l to C lim ate c h a n g e in C entral Viet Nam
Trang 26Program Overvievv
VVednesday, 14th D ecem ber201ổ
Thursday, 15,hD ecem ber2016
10:00 - 10:30 PHOTOGRAPH SESSION M ain M eeting Hall
ị. 10:30-12:00 PAR A llE t SESSION5 Sections' rooms
Section 1: Foreign relations, international c o o p e ra tio n
Section 2: Cultural resources Room 217 & 219 Section 3: E ducation a n d training a n d hum an resource
ly,"- '■ 10:15-12:00 PARALLEl SESSIONS Sections’ rooms
13:30-15:00 CLOSING PLANERY Room218 13:30-14:30 Speech o f international scholars on the C o n íe re n c e
14:30-14:40 Closing remarks - Prof Nguyen Huu Duc, C o n íe re n ce Chairs
14:40-15:00 Speech o f ICVS 2020 Host's Representative - Prof Nguyen Q u a n g Thuan,
President o f V ietnam A c a d e m y o f Social Sciences
1&:OŨ-17:ỌO ViSITING STATE IEADERS (**) To b e a n n o u n c e d
19:00-21:00: FAREWELL PARTY (* ” ) To b e a n n o u n c e d (*), (**) & (***): for participants with invitation
Trang 27Vai trò của báo chí Viêt Nam vói vấn đề Biến đổi khí hâu• •
PGS TS Đinh Văn Hường, TS Nguyễn Minh Trường
(Đại học Quốc gia Hà Nội)
Biến đổi k h í hậu (BĐKH) đang là vẩn đề m ang tính toàn cầu, là một trong những thách thức lớn nhất đối với nhăn loại hiện nay Việt Nam là một trong sáu quốc gia trên th ế giới chịu ảnh hưởng và tác động nhiều nhất của BĐKH Đ ồng hành với Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt nam trong công tác phòng ngừa, ứng p h ó và thích nghi với BĐKH, những năm qua báo chí Việt Nam đã thể hiện vai trò quan trọng, cấp thiết của mình trong vấn đề này.
Hiện nay Việt Nam có khoảng 850 cơ quan báo chí với gần 1200 ấn phẩm, 1hãng thông tấn quốc gia, 67 Đài Phát thanh - Truyền hình, số lượng các kênhchương trình phát thanh - truyền hình quảng bá là 180, số lượng đơn vị cung cấptruyền hình cáp là 33 đơn vị, 98 cơ quan báo điện tử và 1.530 trang thông tin điện
tử tổng hợp, 420 mạng xã hội được phép hạt động với lượng truy cập rất cao, ảnhhưởng ngày càng lớn về thông tin đối với xã hộ i1 Với sự phát triển nhanh, mạnh
mẽ đó, những năm qua, báo chí Việt Nam đã thực hiện tốt chức năng thông tin,tuyên truyền về tất cả các lĩnh vực chính trị - kinh tế - văn hóa - xã hội, đặc biệt làvấn đề BĐKH Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn đánh giá cao và khắng địnhtầm quan trọng, cần thiết của báo chí đối với đời sống xã hội nói chung và vấn đềBĐKH nói riêng Báo chí đã thực sự giữ vai trò nòng cột như:
- Góp phần nâng cao hiểu biết và nhận thức cho quần chủng về BĐKH.
Đê quần chúng nhân dân thực hiện việc phòng ngừa, giảm thiếu, ứng phó vàthích nghi với BĐKH thì một trong những nhiệm vụ đầu tiên là giúp họ có kiếnthức, hiểu biết và nhận thức đúng về BĐKH “Ở Việt Nam, trong khoảng nửa thế
kỷ qua, nhiệt độ trung bình đã tăng khoảng 0,7°c, mực nước biển đã dâng khoảng
20 cm Hiện tượng El-Nino, La-Nina ngày càng tác động mạnh mẽ đến Việt Nam.BĐKH thực sự đã làm cho các thiên tai, đặc biệt là bão, lũ, hạn hán, xâm nhậpmặn ngày càng khốc liệt, phức tạp Theo tính toán của các chuyên gia về dự báothiên tai trên thế giới thì nhiệt độ trung bình ở Việt Nam có thể tăng lên 3°c vàmực nước biển có thể dâng cao hơn hiện tại 1 m vào năm 2100 Và nếu kịch bảnnày diễn ra thì theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, cứ mực nước biển dâng cao hơn
1 m thì khoảng 40 nghìn km2 đồng bằng ven biển Việt Nam sẽ bị ngập hàng năm,
Trang 28trong đó 90% diện tích thuộc các tỉnh Đồng bầng sông Cửu Long bị ngập hầu như hoàn toàn ”
Không có hiểu biết đúng, nhận thức đúng thì không thể hành động đúng Vì
vậy, báo chí bao gồm các loại hình bảo in, ph á t thanh, truyền hình, bảo ảnh, bảo
điện tử, hãng thông tẩn như báo Nhân dân, Lao động, Tiền phong, Tuôi trẻ
TP.HCM, Thanh niên, Vietnam Net, Vnexpress, Đài Truyền hình Việt Nam (VTV), Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV), Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN), các cơ quan báo chí Trung ương và địa phương khác với tiềm năng và thế mạnh của mình
đã đồng loạt thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giải thích cho người dân và cộng đồng những hiểu biết căn bản về: thế nào là BĐKH? nguyên nhân của BĐKH là gì? tác động tích cực và hậu quả nặng nề của BĐKH ra sao? người dân phải chống chịu thế nào? cách thức để phòng ngừa, giảm thiểu và thích nghi với BĐKH ra sao? Đó là hàng loạt câu hỏi, đồng thời là nhu cầu muốn biết, muốn nghe, muốn thấy và muốn hành động của người dân mà báo chí và các cơ quan liên quan phải trả lời Và thực tế trên các loại hình báo chí đã hình thành và xây dựng các chuyên trang, chuyên mục, chuyên đề về BĐKH ở các cấp độ và mức độ khác nhau
(chuyên mục M ôi trường của VTV; Môi trường và K hí hậu của VOV2; BĐKH và
môi trường của TTXVN; ử n g phó với BĐ K H của Tuổi trẻ, Lao động, Cà Mau,
Kiên Giang ) Các cơ quan báo chí đã cử các phóng viên, biên tập viên chuyên trách thông tin về BĐKH (Lan Phương, Mạnh Cường, Nguyễn Thị Ngân, Xuân Dung, Ngọc Tình của VTV); mời các chuyên gia, nhà khoa học trong và ngoài nước viết bài, tư vấn chương trình, trả lời phỏng vấn, giải đáp, tham mưu, hiến kế cho N hà nước, cơ quan, người dân và cộng đồng về BĐKH và ứng phó, thích nghi với BĐKH (các Giáo sư: Mai Trọng Nhuận, Trương Quang Học, Nguyễn Đức Ngữ, Trần Thục, Phan Văn Tân, Nguyễn Văn Thắng ); mở rộng mạng lới cộng tác viên để huy động trí tuệ, sức mạnh của quần chúng trong việc đóng góp, cung cấp thông tin về BĐKH; mời những người có sáng kiến hay, giải pháp tốt, hành động có hiệu quả đến trình bày, chia sẻ, chuyển giao cho cộng đồng Từ 10 năm qua (2006 - 2016), ngày 20/3 hàng năm Thế giới tổ chức “Giờ trái đất”, tắt điện 1 giờ để tiết kiệm năng lượng, giảm hiệu ứng nhà kính, giảm thiếu ô nhiễm môi trường hoặc các “Ngày Môi trường thế giới” (5/6); “Ngày nước thế giới” Việt Nam đã tích cực tham gia các hoạt động trên; hoặc VTV1, ngày 11/9/2016
: Tác động của biến đổi kh í hậu đến tài nguyên nước ớ Đ ồng bằng sổng Cứu L o n g, chuyentrang.m onre.gov.vn, ngày
Trang 29đưa tin FAO vinh danh bà Phạm Thị Huân - Giám đốc Công ty TNHH Ba Huân ở
Long An vì đã đầu tư, hướng dẫn, bao tiêu trứng gà cho hàng ngàn hộ nông dân
chuyển đổi vật nuôi trong điều kiện tác động và ảnh hưởng của BĐKH, tạo công
ăn, việc làm, thu nhập và sinh kế bền vững cho người dân đồng bàng sông Cửu
Long Báo chí sử dụng chính những gương điển hình, nhân tố mới đó để tuyên
truyền, phổ biến, nhân rộng cho mọi người biết, học hỏi và noi theo Với nhiều
hình thức, cách thức thông tin, tuyên truyền phong phú, sinh động, hấp dẫn, sâu
rộng của từng loại hình báo chí đã giúp người dân và cộng đồng từng bước tiếp cận
thông tin, mở mang hiếu biết, tích lũy kiến thức về BĐKH, từ đó có nhận thức
đúng và đầy đủ để hành động trong thực tiễn
Thông qua thông tin và truyền thông, báo chí đã giúp công chúng hiếu biết
và nhận thức về BĐKH từ chong BĐKH sang sang phòng ngừa, ứng phó với
BĐKH và hiện nay là thích nghỉ, “song ch u n g ”, hài hòa với BĐKH Đó là quá
trình nhận thức đúng, phù họp với quy luật của tự nhiên và xã hội
- Báo chí góp phần tuyên truyền, p h ổ biến đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước vê BĐKH.
Với khả năng thông tin nhanh chóng, kịp thời, mạnh mẽ và rộng khẳp, báo
chí Việt Nam luôn ý thức rõ vai trò, trách nhiệm của mình trong việc tuyên truyền,
phổ biến, giải thích đường lối, quan điểm của Đảng về BĐKH cho nhân dân biết và
thực thi Đảng và Nhà nước Việt Nam có nhiều chủ trương, chính sách, pháp
luật về BĐKH và ứng phó, thích nghi với BĐKH trong các văn kiện Đại hội
Đảng các thời kỳ (Đại hội VIII (1996); IX (2001); X (2006); XI (2011) và XII
(2016)); các Chỉ thị, Nghị quyết của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư; Luật
bảo vệ Môi trường; Luật tài nguyên nước; Luật phòng, chống thiên tai; Luật Khí
tượng thủy văn (trong đó có lồng ghép giám sát BĐKH quốc gia); Nghị quyết, chỉ
thị của Chính phủ, các Bộ, ngành Trung ương và địa phương; các Thông tư,
Hướng dẫn, chỉ thị của các cấp, các ngành; các chương trình mục tiêu Quốc gia
ứng phó với BĐKH; Chiến lược quốc gia về B Đ K H Các văn bản này khá đầy
đủ, hệ thống và nhất quán từ chỉ đạo, điều hành đến thực thi trong thực tiễn Bằng
nhiều cách thức và phương thức khác nhau, Báo chí đã đăng tải, tuyên truyền, phổ
biến, giải thích để giúp người dân và toàn xã hội hiểu rõ các quan điểm, chủ
trương, quyết tâm chính trị cao của Đảng, Nhà nước ta về BĐKH, từ đó có hành
Trang 30Thông qua báo chí, nhân dân hiểu được quan điếm của Đảng, chính sách,
pháp luật rõ ràng của Nhà nước ta về BĐKH là: Phát triến kinh tế đi đôi với bảo vệ
môi trường và phát triển bền vững; chủ động phòng ngừa và ứng phó với BĐKH;
huy động mọi nguồn lực của đất nước và hỗ trợ của quốc tế đế ứng phó, thích nghi
với BĐKH; bảo đảm an sinh và tạo sinh kế bền vững cho người dân, đặc biệt là
những nơi bị ảnh hưởng nặng nề của B Đ K H (văn kiện Đại hội Đảng lần thứ X
(2006); XI (2011) và XII (2016)) Những chủ trương, đường hướng đúng đắn đó
đã nhận được sự đồng tình, ủng hộ và hành động của nhân dân và cả hệ thống
chính trị của đất nước
Báo chí Việt Nam cũng kịp thời đăng tải, phổ biến, giải thích các văn bản
quốc tể về BĐKH như Công ước khung của LHQ về BĐKH (năm 1992); Nghị
định thư Kyoto về cắt giảm khí nhà kính (năm 1997); Công ước khung của LHQ
về BĐKH (COP 21) tại Paris (tháng 8/2015), Hội nghị đã thông qua trách nhiệm
các nước đóng góp 100 tỷ USD để phòng ngừa và giảm thiểu BĐKH, trong đó có
Việt Nam Những thông tin này đã giúp nhân dân ta hiểu biết rộng rãi hơn vê
BĐKH không chỉ ở Việt Nam mà còn cả thế giới để từ đó cùng chung tay hành
động trong cuộc chiến phòng ngừa, ứng phó và thích nghi với BĐKH
Việc làm cho người dân và cộng đồng hiểu, chia sẻ, đồng thuận và chung tay
hành động với cộng đồng quốc tế và trực tiếp là với Dảng, Nhà nước ta về BDKH
là một trong những việc làm cần thiết, quan trọng của báo chí
- Báo chí phản ánh chân thực, khách quan tác động tích cực và tiêu cực của BĐKH
Báo chí với đặc trưng và bản chất là phản ánh đúng sự thật, khách quan về
vấn đề, sự kiện, con người có thật trong đời sống xã hội Với thế mạnh đó, báo chí
đã kịp thời thông tin chân thực những mặt tích cực của BĐKH như sự gia tăng
nhiệt độ làm cho ranh giới của cây trồng nhiệt đới dịch chuyển về phía vùng cao
hơn; một số vùng trước đây không gieo trồng được cây trồng nhiệt đới thì nay có
thế gieo trồng được, tạo ra sản phẩm nông nghiệp mới hấp dẫn và có hiệu quả kinh
tế cao, chuyển đổi, lai tạo vật nuôi, thủy hải sản chất lượng cao và nhiều mặt tích
cực khác Đặc biệt trong môi trường BĐKH khắc nghiệt cũng tạo cơ hội cho con
người phát huy năng lực và khả năng sáng tạo đê ứng phó và thích nghi với
BĐKH Đồng thời báo chí cũng thẳng thắn chỉ ra những mặt trái nghiêm trọng của
BĐKH làm ảnh hưởng đến sản xuất, đời sống và môi trường trên phạm vi toàn cầu,
trong đó có Việt Nam M ột trong những hiện tượng điển hình là sự gia tăng nhiệt
4
Trang 31độ, mực nước biên dâng gây ngập lụt, xâm nhập mặn gây nhiễm mặn nguồn nước,
ảnh hường đen nông nghiệp, môi trường thủy hải sản, gây rủi ro lớn đối với công
nghiệp và hệ thống kinh tế, xã hội trong hiện tại và tương lai BĐKH làm thay đối
toàn diện và sâu sắc quá trình phát triến và an ninh năng lượng, nước, lương thực,
thực phẩm, xã hội, việc làm, ngoại giao, văn hóa, kinh tế, thương mại Những
năm qua, báo chí đã nhanh chóng, kịp thời phản ánh đúng sự thật diễn biến khí hậu
nhanh, phức tạp, khó lường xảy ra ở nước ta như hạn hán kéo dài ở Tây Nguyên và
Trung Bộ; xâm nhập mặn ở Đồng Bằng sông Cửu Long (VTV, v o v , TTXVN,
Tuổi trẻ, Lao động, Cà Mau, Sóc Trăng phản ánh năm 2014, 2015, 2016 ; phản
ánh Quốc hội Khóa XIII, phiên họp cuối, ngày 21/3/2016 (Khóa 2010 - 2015)
nhiều đại biểu nêu ý kiến bức xúc của cử tri về tình trạng đó và đề nghị Đảng, Nhà
nước, Chính phủ, Quốc hội cần có giải pháp căn cơ, đồng bộ về vấn đề này); rồi sạt
lở, lún sụt, lũ quét, lũ ống ở vùng núi và đồng bằng ven biển; ngập úng do mưa lớn
kéo dài ở Hà Nội (năm 2008, 2015), Thành phố Hồ Chí Minh (năm 2015, 2016);
bão, lũ, nóng, lạnh, mưa, thời tiết bất thường gây hậu quả không nhỏ về người và
tài sản của nhân dân, nhà nước, v ề nguyên nhân của diễn biến nhanh, phức tạp,
khó lường của BĐKH, báo chí qua phân tích, xem xét đã chỉ ra rằng nguyên nhân
chủ yếu là do tự nhiên và con người gây ra Trái đất nóng lên, băng tuyết tan chảy,
chuyển dịch thời tiết, khí hậu là những hiện tượng khách quan của tự nhiên Khai
thác tài nguyên cạn kiệt, chặt phá, đốt rừng, chặn các dòng sông làm thủy điện,
hiệu ứng nhà kính, xả khí thải quá mức, làm ô nhiễm môi trường là do con
người gây ra, được coi là thủ phạm chính của BĐKH Con người đang phải trả giá
cho những hành động của mình Những thông tin chân thực, kịp thời trên báo chí
đã cho người dân và toàn xã hội biết rõ sự thật, có sức lay động và thuyết phục,
cảnh báo cao Với thông tin về cả thời cơ và thách thức đan xen của BĐKH cũng giúp người dân và cộng đồng có cái nhìn toàn diện, bình tĩnh, không quá chủ quan nhưng cũng không lạc quan, coi thường hiện tượng BĐKH này
- Báo chí tuyên truyền, p h ổ biến, quảng bá kinh nghiệm hay, giải pháp tốt, hiệu quả về ứng phó và thích nghỉ với BĐ K H
Trước khó khăn, thách thức nghiệt ngã của BĐKH, con người không chịu bó
tay, phải nghĩ trăm phương ngàn kế đe chống chịu và thích nghi với BĐKH, đế
cùng tồn tại, phát triển Con người có nhiều sáng kiến, sáng tạo, giải pháp trước tự nhiên Báo chí đã đồng hành cùng họ, phản ánh kịp thời, phổ biến rộng rãi kinh
Trang 32Qua các trang báo in, báo điện tử, các chương trình phát thanh, truyền hình, ảnh báo chí (VTV, v o v , Tiền phong, c ầ n Thơ ngày 10/8/2015 đưa tin các nhà khoa học ở ĐH Cân Thơ, An Giang miệt mài nghiên cứu, thử nghiệm giông lúa, tôm, cá trong phòng thí nghiệm và trên thực tế đồng ruộng ) và cả mạng xã hội đã phản ánh sinh động, chân thực hình ảnh các chuyên gia, nhà khoa học và cả người dân miệt mài nghiên cứu, tìm tòi, thử nghiệm cây trồng, vật nuôi có khả năng chống chịu, sinh trưởng, phát triển trong môi trường nước nhiễm mặn, trên đất khô càn, hạn hán, trong thời tiết nóng, lạnh bất thường Từ những thành công, người dân vùng bị ảnh hưởng trực tiếp của BĐKH đã chuyển đổi cây trồng, vật nuôi phù hợp, đảm bảo sinh kế bền vững, lâu dài cho họ, nói cách khác là thích nghi, hài hòa
và sống chung với BĐKH Hoặc hình ảnh người dân vùng sạt lở đất, lún sụt đã xây mới, tôn tạo kè, bờ, bê tông hóa, khôi phục và phát triển rừng ngập mặn đế vừa giảm thiểu xâm lấn của sông, của biển, vừa mở mang thêm đất; xây dựng nhà ở, công trình dân sinh phù hợp với điều kiện và môi trường tự nhiên cụ thế Những hình ảnh, con người đó được báo chí phản ánh từ Đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, Tây Bắc, Đồng bằng sông Hồng để tiếp tục tuyên truyền, phổ biến, lan tỏa đến nhiều vùng, miền của Tổ quốc (VTV1, Thời sự 19h00, ngày
7, 8/10/2016 phản ánh, đưa tin chuyên gia sinh thái Nguyễn Hữu Thuận hướng dẫn nòng dân, ngư dân khôi phục hệ sinh thái khi lũ về đồng bằng sông Cửu Long như khôi phục và phát triển cây tràm, cây đước ở rừng ngập mặn; thau chua, rửa mặn; trồng lúa, cây ăn quả )
Báo chí cũng đề xuất, kiến nghị nhiều giải pháp thiết thực để nâng cao hiệu quả trong việc phòng ngừa, ứng phó và thích nghi với BĐKH như nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp, các ngành và nhân dân; tăng nguồn lực đầu tư cho ứng phó với BĐKH; kêu gọi sự giúp đỡ của quốc tế; tăng cường công tác tham mưu, tư vấn chính sách, biện pháp, cách thức cụ thể, thiết thực, hữu ích cho người dân và cộng đồng về ứng phó và thích nghi với BĐKH; biểu dương, khen thưởng kịp thời cá nhân, tập thể có nhiều đóng góp; đồng thời đấu tranh kiên quyết để chống lại hành động hủy hoại môi trường, khai thác tài nguyên bất hợp pháp, phá hủy các công trình, đê sông, đê biến, xả thải gây ô nhiễm, điến hình như trường hợp xử lý Formosa Hà Tĩnh vừa qua
Như vậy, báo chí có vai trò quan trọng trong việc phố biến điến hình, nhân
tô mới về BĐKH đế mọi người noi theo, đồng thời cũng giám sát, phản biện và đấu tranh chống lại các hành vi làm gia tăng tiêu cực của BĐKĨI
Trang 33- Báo chí Việt Nam giữ vai trò cầu nôi với thê giới đê chung tay hành động
im g phó và thích nghi với BĐKH.
Báo chí Việt Nam, một mặt thông tin cập nhật, đầy đủ, khách quan về thành
tựu và đặc biệt là hậu quả nặng nề của BĐKH đang diễn ra khắp cả nước, khăng
định Việt Nam là một trong sáu quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất của BĐKH
thông qua các loại hình báo chí và ngôn ngữ các nước để giúp thế giới biết đầy đủ,
đủng về Việt Nam Mặt khác, báo chí Việt Nam cũng thông tin nhanh, đầy đủ,
chân thực về hậu quả của BĐKH ở các nước trên thế giới; kết quả các Hội nghị cấp
cao, Hội nghị thượng đỉnh của LHQ và khu vực về BĐKH; về các phát ngôn, chia
sẻ, ủng hộ của lãnh đạo các nước cho Việt Nam về BĐKH (Vietnam Net, v o v
News, Tiền phong, Lao động ngày 24/5/2016 đăng toàn văn bài phát biếu của
Tổng thống Mỹ B Obama tại Hà Nội, trong đó nhấn mạnh “nước biển dâng sẽ ảnh
hưởng đến những bờ biển, dòng sông mà rất nhiều người Việt nam đang mưu sinh
Vì vậy, khi hợp tác đối phó BĐKH, chúng ta cùng thực hiện những cam kết đạt
được ở Paris, giúp đỡ nông dân, ngư dân thích ứng và sử dụng năng lượng sạch, ví
dụ ở đồng bằng sông Mekong, vựa lúa chúng ta cần để đảm bảo an ninh lương thực
cho nhiều thế hệ sau ”; hoặc v o v , TTXVN, VTV, c ổ n g thông tin điện tử Chính
phủ ngày 6/9/2016 đã đang toàn văn bài phát biểu của Tổng thống Pháp
F.Hollande tại ĐHQGHN “Tưưng lai chung của Pháp và Việt Nam” trong đó có
khẳng định sự ủng hộ tích cực và hiệu quả của Pháp cho Việt Nam trong công cuộc
úng phó với BĐKH ); hoặc các đề xuất, kiến nghị của Chính phủ Việt Nam đối
với các tổ chức quốc tế hoặc các nước có điều kiện trong việc trợ giúp về kinh phí
và kỹ thuật cho V iệt Nam để ứng phó với BĐKH
Ngoài ra các cơ quan báo chí nước ta còn tận dụng và sử dụng thông tin từ mạng xã hội như Facebook, Youtube, Blog, T w itter để chia sẻ, kết nối, tương
tác với cộng đồng về BĐKH ở Việt Nam và phạm vi toàn thế giới
Có thể nói vai trò của báo chí với vấn đề BĐKH là rất quan trọng Tuy nhiên cũng có lúc, có nơi báo chí chưa phát huy và thực hiện tốt vai trò của mình về vấn
đề này Hiện tại có rất ít những nghiên cứu về mức độ nhận thức hoặc thái độ đối với vấn đề BĐKH của người dân Việt Nam, tuy nhiên có những lý do để chúng ta
có thê nhận định ràng mức độ nhận thức nói chung vẫn còn thấp Trong một cuộc khảo sát trên quy mô toàn cầu về “mối quan tâm của chúng ta đối với hiện tượng
ấm lên toàn cầu” , Việt Nam là một trong những nước ít lo lắng nhất về BĐKH Mặc dù ở Việt Nam hiện chưa có những khảo sát về kiến thức, thái độ và hành vi
Trang 34trên diện rộng về biến đối khí hậu tính đến thời điểm này, tuy nhiên, một số những kêt quả khảo sát định tính ở cấp địa phương, như một nghiên cứu của Oxfam tại Ben Tre và Quảng Trị năm 2014 chỉ ra rằng các cấp chính quyền ở những địa phương này hiện không nhận thức đầy đủ vấn đề biến đổi khí hậu và họ thiếu thông tin, phương pháp, công cụ và kinh nghiệm đế đối phó với nó; Một số lãnh đạo cơ quan chủ quản báo chí và lãnh đạo cơ quan báo chí chưa nhận thức đầy đủ
và đúng tầm về BĐKH; phóng viên, biên tập viên đa phần chưa có kiến thức sâu về BĐKH; kinh nghiệm tác nghiệp trong môi trường BĐKH chưa chuyên nghiệp; thông tin sai sự thật hoặc quá cường điệu vấn đề; lực lượng cộng tác viên, chuyên gia, nhà khoa h ọ c tham gia chưa thường xuyên; nội dung chưa phong phú, đa dạng; hình thức chuyển tải chưa hấp dẫn, sinh động; còn ít các giải pháp cụ thể, hữu ích cho người dân và cộng đồng; chưa phân tầng các nhóm đối tượng cụ thể để truyền thông cho hiệu quả
Những hạn chế đó cần sớm khắc phục đe nâng cao hơn nữa vai trò, vị trí và hiệu quả của báo chí trong công cuộc ứng phó và thích nghi với BĐKH
Tóm lại, báo chí Việt Nam đã thể hiện vai trò quan trọng vào công tác thông tin, truyền thông về BĐKH và ứng phó với BĐKH, góp phần phát triển bền vững đất nước trong hiện tại và tương lai./.í*)
TÀI LIỆU T H A M K HẢ O
1 Nghị quyết sổ 24 - NQ/TW ngày 3/6/2013 của Ban chấp hành Trung ương về
chủ động ứng phó với BĐKH, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường;
2 Văn phòng Chính phủ, Chiến lược quốc gia về biến đổi khỉ hậu, Quyết
định số 2139 /QĐ-TTg, ngày 5/12/2011;
3 Văn phòng Chính phủ, Chương trình mục tiêu quốc gia ứ ng phó với biến
đỏi khí hậu giai đoạn 2012 - 2015, Quyết định số 1183/QĐ-TTg, ngày 30/8/2012;
4 Công ước Khung của LHQ về BĐKH (ƯNFCCC), năm 1992;
5 Nghị định thư Kyoto về cắt giảm khỉ nhà kính, năm 1997;