1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu ảnh hưởng của quản trị vốn luân chuyển đến tỷ suất lợi nhuận của các công ty cổ phần ngành vận tải niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam

130 184 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 4,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài Sự tồn tại của doanh nghiệp gắn liền với chiến lược kinh doanh đa lĩnh vực như hiện nay thì việc mở rộng thị trường, cơ cấu lại phương thức sản xuất kinh doanh

Trang 1

LUẬN VĂN THẠC SỸ KẾ TOÁN

Đà Nẵng, năm 2017

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SỸ KẾ TOÁN

Mã số: 60.34.03.01

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS TRƯƠNG BÁ THANH

Đà Nẵng, năm 2017

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Bố cục đề tài 4

6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 5

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC CHỈ TIÊU QUẢN TRỊ VỐN LUÂN CHUYỂN VÀ TỶ SUẤT LỢI NHUẬN 10

1.1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ VỐN LUÂN CHUYỂN 10

1.1.1 Khái niệm vốn luân chuyển và quản trị vốn luân chuyển 10

1.1.2 Tầm quan trọng của quản trị vốn luân chuyển 11

1.1.3 Các chỉ tiêu phản ánh quản trị vốn luân chuyển 15

1.2 MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC CHỈ TIÊU QUẢN TRỊ VỐN LUÂN CHUYỂN VÀ TỶ SUẤT LỢI NHUẬN DOANH NGHIỆP 32

1.2.1 Phân tích mối quan hệ giữa các chỉ tiêu quản trị vốn luân chuyển và tỷ suất lợi nhuận 32

1.2.2 Mối quan hệ giữa quản trị vốn luân chuyển và tỷ suất lợi nhuận trong các nghiên cứu trước đây 35

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 38

CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 39

2.1 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 39

2.1.1 Các biến được sử dụng cho mô hình 39

2.1.2 Dữ liệu nghiên cứu 44

2.1.3 Mô hình nghiên cứu đề nghị cho đề tài 45

2.1.4 Các giả thuyết nghiên cứu của mô hình 47

Trang 5

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 49

2.2.1 Mô tả thống kê 49

2.2.2 Phân tích tương quan Pearson 49

2.2.3 Phân tích hồi qui 50

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 54

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 55

3.1 MÔ TẢ THỐNG KÊ 55

3.2 PHÂN TÍCH TƯƠNG QUAN PEARSON 57

3.3 PHÂN TÍCH HỒI QUI 60

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 80

CHƯƠNG 4 HÀM Ý CHÍNH SÁCH VÀ KIẾN NGHỊ 81

4.1 HÀM Ý CHÍNH SÁCH 81

4.2 KIẾN NGHỊ 83

KẾT LUẬN 87 TÀI LIỆU THAM KHẢO

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI (Bản sao)

PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Kí hiệu Tên đầy đủ bằng Tiếng Anh Tên đầy đủ bằng Tiếng Việt

hành

TPP

Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement

Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương

thiểu tổng quát

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH

Số hiệu

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sự tồn tại của doanh nghiệp gắn liền với chiến lược kinh doanh đa lĩnh vực như hiện nay thì việc mở rộng thị trường, cơ cấu lại phương thức sản xuất kinh doanh, chuyển dịch đầu tư và điều chỉnh các hoạt động sản xuất kinh doanh do vậy mà mỗi doanh nghiệp cần quản trị nguồn vốn linh hoạt - đó là một vấn đề được đánh giá ở tầm quan trọng cao của quản trị doanh nghiệp, nhằm tạo điều kiện để các nguồn vốn tài chính được nhanh chóng chuyển sang sử dụng ở các lĩnh vực kinh doanh khác hiệu quả hơn Với vai trò cần phải đáp ứng nhanh chóng nhu cầu về vốn, để đẩy nhanh quá trình chuyển hóa các dạng tồn tại của tài sản lưu động để có thể liên tục tạo ra ngân quĩ Do đó, quản trị vốn luân chuyển mà cụ thể là quản trị tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn hiệu quả là vấn đề thực tế mà các nhà quản trị doanh nghiệp quan tâm

Quản trị tài chính trong doanh nghiệp là nhằm tối đa hóa giá trị cho chủ sở hữu doanh nghiệp, thì việc ra quyết định thông qua nhờ các thông tin tài chính, nhà quản trị cần đưa ra quyết định về đầu tư dựa trên bảng cân đối tài sản nguồn vốn và nợ phải trả, thì phải duy trì một cơ cấu tài sản hợp lí, tăng thêm hay loại

bỏ các tài sản không còn giá trị Quyết định sử dụng nguồn tài trợ đầu tư cho tài sản, và sử dụng hiệu quả tài sản sau khi đầu tư Việc quản trị tài chính như vậy mang tầm bao quát thì quản trị vốn luân chuyển là một bộ phận lại xem xét trong phạm vi ngắn hạn gắn liền với chu kì hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Vốn luân chuyển được coi là sản ngắn hạn của một công ty, chiếm một tỷ

lệ trong nguồn lực tài chính của công ty và được chuyển hóa qua nhiều hình thái khác nhau, thay đổi ngày qua ngày trong hoạt động sản xuất của công ty Mà tài sản ngắn hạn chủ yếu bao gồm tiền mặt, chi phí trả trước, đầu tư ngắn hạn,

Trang 10

khoản phải thu, hàng tồn kho, khoản phải trả và các loại tài sản ngắn hạn khác Vốn luân chuyển thuần có thể được tính toán bằng cách lấy tài sản ngắn hạn của công ty trừ đi nợ ngắn hạn của nó Hay nói cách khác quản trị vốn luân chuyển

là duy trì mức độ phù hợp có thể tối thiểu hóa chi phí về vốn tạo ra đủ tiền để thanh toán các nghĩa vụ ngắn hạn vì công ty không thể đầu tư quá nhiều vào tài sản cố định mà bỏ quên nhu cầu vốn ngắn hạn và đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh dài hạn

Ở Việt Nam vấn đề nghiên cứu về vốn luân chuyển không còn là quá mới

mẻ, vấn đề này đã được xem xét trong quyết định hằng ngày của giám đốc tài chính các công ty Chiến lược quản trị về vốn là phải cân bằng hai mục tiêu tính thanh khoản và khả năng sinh lời, chẳng hạn nếu như bỏ qua khả năng sinh lời công ty khó tồn tại và duy trì hoạt động trong thời gian dài Quản trị vốn luân chuyển để gia tăng khả năng sinh lợi trong điều kiện kinh tế hiện nay, Việt Nam gia nhập TPP, trước thềm hội thảo APEC 2017 Nó sẽ là vấn đề chú trọng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện nay

Tóm lại, với rất nhiều lý do ở trên, chúng ta đã thấy được mối quan hệ khăng khít giữa quản trị vốn luân chuyển và lợi nhuận của một công ty Do đó, bài nghiên cứu này nhằm khẳng định tác động của quản trị vốn luân chuyển lên lợi nhuận của các công ty ở Việt Nam và hoàn thiện những nghiên cứu đã được thực hiện trước đây để giúp các nhà quản trị doanh nghiệp có cái nhìn sâu sắc hơn về vốn luân chuyển, qua đó có những chính sách nhằm nâng cao thành quả của doanh nghiệp và tối đa hóa giá trị cổ đông

2 Mục tiêu nghiên cứu

Với những nghiên cứu trước đây trên thế giới về quản trị vốn luân chuyển

đã có bằng chứng xác đáng kết luận ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh của công ty, tuy nhiên kết quả nghiên cứu ở mỗi quốc gia là khác nhau,

Trang 11

phần của quản trị vốn luân chuyển và tỷ suất lợi nhuận của các công ty cổ phần thuộc nhóm ngành vận tải ở Việt Nam nhằm tạo thuận lợi cho các nhà quản trị

có thể sử dụng kết quả của mô hình để đưa ra những chính sách quản trị phù hợp nhằm nâng cao lợi nhuận công ty và tối đa hóa giá trị cổ đông Bài viết sẽ

cố gắng giải quyết những vấn đề sau:

- Thứ nhất, nghiên cứu chiều tác động lên tỷ suất lợi nhuận của các thành

phần của vốn luân chuyển bao gồm kỳ phải thu, kỳ phải trả, chu kỳ chuyển đổi tồn kho, chu kỳ luân chuyển tiền mặt cũng như chỉ tiêu kết hợp của 4 nhân tố này là kỳ luân chuyển tiền mặt đối với nhóm ngành vận tải tại Việt Nam

- Thứ hai, xem xét mức độ tác động của các nhân tố này lên tỷ suất lợi

nhuận của công ty

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Các chỉ tiêu quản trị vốn luân chuyển và mối quan

hệ của các chỉ tiêu quản trị vốn luân chuyển và tỷ suất lợi nhuận của các công ty

cổ phần thuộc nhóm ngành vận tải niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

4 Phương pháp nghiên cứu

Phần lý thuyết: Tham khảo các tài liệu nghiên cứu và các quan điểm của quản trị vốn luân chuyển ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp

Trang 12

Mô hình nghiên cứu: Dùng phương pháp hồi quy đa biến, mô hình vận dụng sự phụ thuộc của bốn nhân tố chính của quản trị vốn luân chuyển đến lợi nhuận, trong đó đại diện cho mức lợi nhuận của doanh nghiệp là tỷ suất lợi nhuận gộp

Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu nói trên, luận văn sử dụng dữ liệu nghiên cứu mẫu 38 công ty trong ngành vận tải niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam Các số liệu được thu thập từ các báo cáo tài chính hằng năm được công khai trên các website tài chính

Trong bài, lợi nhuận của công ty được đo lường qua lợi nhuận hoạt động gộp (GOP), trong khi đó biến tổng quát nhất liên quan tới quản trị vốn luân chuyển là kỳ luân chuyển tiền mặt (CCC) Để có thể đưa đến kết quả tin cậy nhất, bài nghiên cứu vận dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

Mô tả thống kê: Mô tả các khía cạnh liên quan đến chu kỳ chuyển thành tiền mặt và cung cấp thông tin chi tiết về mỗi biến có liên quan

Phân tích tương quan Pearson: để đo lường mức độ liên kết giữa các biến

số khác nhau

Phân tích hồi quy: Để ước lượng các mối quan hệ nhân quả giữa biến tỷ suất sinh lợi và các biến độc lập khác

Bài viết sử dụng phần mềm SPSS để xử lý kết quả về số liệu thu thập chạy

mô hình phân tích, dữ liệu có ý nghĩa về các biến trong nghiên cứu này

5 Bố cục đề tài

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phụ lục và danh mục các tài liệu tham khảo, nội dung nghiên cứu của đề tài bao gồm bốn chương được trình bày theo trình

tự như sau:

Trang 13

Chương 1: Cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa các chỉ tiêu quản trị vốn luân chuyển và lợi nhuận của công ty

Chương 2: Thiết kế nghiên cứu

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Chương 4: Hàm ý chính sách và kiến nghị

6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Về khía cạnh lịch sử thì quản trị vốn luân chuyển còn là nhiệm vụ tiền thân của quản trị tài chính, đã có rất nhiều những nghiên cứu về những yếu tố về vốn luân chuyển, những nghiên cứu về vốn luân chuyển trước đây chủ yếu về cải thiện khả năng thanh toán và số dư tiền mặt tối ưu Như nghiên cứu tiên phong

của Baumol (1952) về mô hình quản lý hàng tồn kho và Miller (1966), về mô hình quản lý tiền mặt có thể đươc coi là nghiên cứu đầu tiên và được biết đến

nhiều nhất trong lĩnh vực này Những nghiên cứu này cung cấp cho nhà quản trị các vấn đề liên quan đến thực hành quản trị vốn luân chuyển Và tiếp nối từ các nghiên cứu trước những nghiên cứu gần đây phân tích tác động ảnh hưởng của mối quan hệ giữa khả năng thanh toán, quản trị vốn luân chuyển và khả năng sinh lời của công ty đó, được thực hiện ở nhiều quốc gia và bằng nhiều phương pháp thống kê nên có rất nhiều quan điểm về mối quan hệ này [9]

Shin và Soenen (1998) đã lựa chọn các doanh nghiệp tại Mỹ trong giai đoạn 1975-1944 thực hiện mối quan hệ giữa quả trị vốn luân chuyển và khả năng tạo ra giá trị cho cổ đông Tác giả làm thực nghiệm nghiên cứu có hay không mối quan hệ giữa hai biến được chọn là giữa kỳ luân chuyển tiền mặt và khả năng sinh lời của công ty Chu kỳ luân chuyển tiền mặt phản ánh khoảng thời gian giữa chi tiền và thu lại tiền mặt ,được đo lường bằng cách ước lượng thời gian chuyển đổi hàng tồn kho và khoảng chênh lệch chuyển đổi các khoản phải thu trừ đi thời gian chuyển đổi các khoản phải trả Hai tác giả này đã sử

Trang 14

dụng phân tích tương quan và hồi qui để đưa ra được kết luận tìm thấy mối quan

hệ ngược chiều giữa lợi nhuận công ty và kỳ luân chuyển tiền mặt Cùng quan

điểm về dấu đối với cặp quan hệ này, bài viết của tác giả Moss và Stine (2006)

lựa chọn nghiên cứu 1717 doanh nghiệp ngành bán lẻ tại Mỹ trong giai đoạn

1971 – 1990 thông qua phân tích hồi qui đa biến [33]

Lazaridis và Tryfonidis (2006) điều tra mối quan hệ giữa quản trị vốn luân

chuyển và khả năng sinh lời doanh nghiệp của các công ty niêm yết tại Sở giao dịch và chứng khoán Athens Kết quả từ phân tích hồi quy chỉ ra rằng có một ý nghĩa thống kê giữa khả năng sinh lời – đánh giá thông qua lợi nhuận gộp, và chu kì chuyển hóa thành tiền mặt Từ những kết quả đó, họ chỉ ra rằng các nhà quản trị có thể tạo giá trị cho cổ đông bằng cách xử lý một cách chính xác chu kì chuyển hóa thành tiền mặt và giữ các thành phần khác nhau trong chu kỳ luôn ở mức độ tối ưu [23]

Deloof (2003), nghiên cứu các mối quan hệ giữa quản trị vốn luân chuyển

và khả năng sinh lời doanh nghiệp cho một mẫu gồm 1009 công ty phi tài chính lớn của Bỉ trong giai đoạn 1992 – 1996 Tác giả sử dụng chỉ tiêu thu nhập gộp từ hoạt động kinh doanh để đo lường khả năng sinh lợi và chu kì chuyển hóa tiền mặt Tác giả sử dụng phân tích tương quan và hồi quy trong bài nghiên cứu này, ông tìm thấy rằng có mối quan hệ nghịch biến giữa khả năng sinh lợi và chu kỳ luân chuyển tiền mặt và các thành phần của nó kỳ thu tiền, kỳ thanh toán bình quân và thời gian chuyển đổi hàng tồn kho Từ kết quả phân tích ông đề xuất rằng các nhà quản trị có thể tăng khả năng sinh lợi của công ty bằng cách giảm

kì thu tiền và thời gian luân chuyển hàng tồn kho Hoặc có thể trì hoãn việc thanh toán các hóa đơn của công ty Ngoài ra nghiên cứu này còn cho thấy các công ty lớn thường tập trung quản lý về tiền nhiều hơn.[9]

Tác giả Eljelly (2004) đã nghiên cứu thực nghiệm mối quan hệ giữa mối quan hệ khả năng sinh lợi và tính thanh khoản bằng tỷ số khả năng thanh toán

Trang 15

hiện hành và chu kỳ chuyển đổi tiền mặt của các công ty cổ phần ở Ả rập – Saudi Sử dụng phân tích tương quan và hồi quy kết luận mối quan hệ nghịch chiều giữa lợi nhuận và mức độ thanh khoản của nó Tuy nhiên, ở cấp độ ngành công nghiệp ông thấy rằng chỉ tiêu chu kỳ luân chuyển tiền mặt là thước đo chính xác hơn so với khả năng thanh toán hiện hành về sự tác động của tính thanh khoản lên khả năng sinh lợi Biến quy mô công ty cũng có ảnh hưởng đáng kể đến lợi nhuận ở mức độ ngành công nghiệp [11]

Padachi (2006) tiến hành nghiên cứu tương tự như Deloof dựa trên các công ty tại Mauritian, trong khoảng thời gian từ năm 1998 – 2003 và tìm ra rằng

số ngày của khoản phải thu và lợi nhuận có mối quan hệ ngược chiều, bởi nó bao gồm cả chi phí phần chiết khấu cho khách hàng thanh toán sớm Khi doanh thu giảm, doanh nghiệp áp dụng chính sách gia hạn thêm thời hạn thanh toán để

có thể tồn tại Sử dụng chỉ tiêu lợi nhuận trên tổng tài sản để đo lường đánh giá lợi nhuận, tác giả kết luận rằng số vòng quay khoản phải thu có ảnh hưởng đến lợi nhuận nghĩa rằng cứ thêm một ngày vòng quay khoản phải thu thì làm giảm chỉ tiêu lợi nhuận trên tổng tài sản Và thêm nữa Padachi không tìm ra mối quan

hệ giữa hàng tồn kho và lợi nhuận [23]

Afza và Nazir (2009) đã nghiên cứu về các chính sách quản trị vốn luân

chuyển và khả năng sinh lời cho mẫu 204 công ty phi tài chính ở Nigeria trong giai đoạn 1996 – 2005 Nghiên cứu sử dụng dữ liệu kinh tế lượng trong một hồi qui gộp, trong đó các quan sát chuỗi thời gian và nghiên cứu cắt ngang được sử dụng kết hợp nhưng không có sự thay đổi đáng kể trong hiệu quả quản lí vốn luân chuyển giữa các công ty lớn và công ty nhỏ.Tác giả đề nghị rằng các nhà quản trị có thể tạo ra giá trị nếu họ thông qua hướng tiếp cận đến đầu tư về vốn

và các chính sách tài chính về vốn [13]

Gill, Biger và Mathur (2010) nghiên cứu mối quan hệ giữa các chỉ tiêu vốn luân chuyển với khả năng sinh lời đại diện bằng chỉ tiêu thu nhập hoạt động làm

Trang 16

biến phụ thuộc, trên phạm vi 88 công ty ở New York trong khoảng thời gian từ

2005 – 2007, nhận định rằng tồn tại mối quan hệ ngược chiều giữa lợi nhuận và

số ngày phải thu, số vòng quay tiền mặt và lợi nhuận là cùng chiều, do đó công

ty cần chú trọng các chính sách thu hồi các khoản nợ đúng hạn và đúng đối tượng khách hàng [18]

Gracia, Martins và Brandao (2011) khảo sát trên 2.974 công ty phi tài chính niêm yết trên 11 thị trường chứng khoán châu Âu, kết quả phân tích GLS và OLS cho thấy mối quan hệ ngược chiều giữa vòng quay tiền mặt và lợi nhuận các thể gia tăng khả năng sinh lợi bằng cách giảm khoản thời gian vốn luân chuyển mà công ty đang nắm giữ [19]

Arbidance và Ignatjeva (2013) nghiên cứu ảnh hưởng của vốn luân chuyển đến lợi nhuận của 182 doanh nghiệp ở Latvian từ 2004 – 2010, kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng có mối quan hệ rất mật thiết giữa các chỉ tiêu của vốn luân chuyển và lợi nhuận Tương tự cho những nghiên cứu của Ahmadi (2012) khám phá mối quan hệ trên dựa vào khảo sát của các công ty ngành thực phẩm trên thị trường chứng khoán tại Tehran.[6]

Enqvist et at (2012) đã sử dụng mẫu dữ liệu gồm 1136 doanh nghiệp Phần

Lan, niêm yết trên thị trường chứng khoán Nasdag OMX từ năm 1990 – 2008, với mẫu nghiên cứu số lớn như vậy, họ kết luận rằng quản trị vốn luân chuyển hiệu quả có vai trò quan trọng trong hoạt động quản trị doanh nghiệp do vậy nên được đưa vào kế hoạch tài chính của doanh nghiệp [16]

Riêng ở Việt Nam, tác giả Huynh Phuong Dong & Jyh – tay Su (2010) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa chu kì luân chuyển tiền và khả năng sinh lời, được

đo lường bằng tỷ lệ lợi nhuận hoạt động gộp trên một mẫu nghiên cứu 130 công

ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2006 – 2008 Nhóm tác giả đã tìm ra mối quan hệ mạnh giữa khả năng sinh lợi và chu kì luân

Trang 17

đông bằng cách xác định kì luân chuyển tiền phù hợp và duy trì từng thành phần này ở mức tối ưu [12] Và tác giả Tran Viet Hoang ( 2015) dựa trên 98 công ty sản xuất trên thị trường chứng khoán Hồ Chí Minh trong 6 năm 2009 – 2014 bằng kết quả phân tích tương quan Pearson và hồi quy FEM khẳng định mối quan hệ giữa các yếu tố, và chỉ ra rằng có thể gia tăng lợi nhuận tối ưu bằng cách giảm số vòng quay tiền mặt và thương mại ròng [22]

Tất cả nghiên cứu trên cho ta một sơ sở lí thuyết về quản trị vốn luân chuyển và các thành phần của nó Những tác giả cùng phát hiện ra mối quan hệ ngược chiều giữa số vòng quay nợ phải trả và lợi nhuận dựa trên tiến hành nhiều quốc gia và môi trường khác nhau Mối quan hệ ngược chiều giữa kì tồn kho và lợi nhuận thể hiện rằng công ty có lợi nhuận cao thì quá trình chuyển đổi hàng tồn kho thành thành phẩm trong giai đoạn ngắn Trên cơ sở những nghiên cứu trước đây, bài nghiên cứu về mối quan hệ giữa các chỉ tiêu quản trị vốn luân chuyển và khả năng sinh lời của các công ty cổ phần thuộc nhóm ngành vận tải được niêm yết trên thị trường chứng khoán ở Việt Nam nhằm xác định tồn tại mối quan hệ giữa các chỉ tiêu vốn luân chuyển và khả năng sinh lời của các công

ty này hay không Và xác định mức độ tương quan giữa khả năng sinh lời với ảnh hưởng của các nhân tố quản trị vốn luân chuyển và khả năng sinh lời cho các doanh nghiệp trong ngành này

Trang 18

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC CHỈ TIÊU QUẢN TRỊ VỐN LUÂN CHUYỂN VÀ TỶ SUẤT LỢI NHUẬN

1.1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ VỐN LUÂN CHUYỂN

1.1.1 Khái niệm vốn luân chuyển và quản trị vốn luân chuyển

Vốn luân chuyển (Working Capital) là giá trị của toàn bộ tài sản lưu động, là những tài sản gắn liền với chu kỳ kinh doanh của công ty Trong mỗi chu kỳ kinh doanh, chúng chuyển hóa qua tất cả các dạng từ tiền mặt đến tồn kho, khoản phải thu và trở về hình thái ban đầu là tiền mặt Nhiệm vụ của quản trị tài chính là đáp ứng đầy đủ nhu cầu vốn cho vốn luân chuyển, thúc đẩy sự chuyển hóa nhanh chóng các hình thái tồn tại của tài sản lưu động Các chính sách quản trị vốn luân chuyển cần giải quyết hai vấn đề lớn: thứ nhất đầu tư bao nhiêu vào tài sản lưu động và đầu tư vào tài sản nào; thứ hai sử dụng nguồn vốn nào để tài trợ cho vốn luân chuyển Hai vấn đề này đều có tác động trực tiếp và

Theo nghĩa rộng, vốn luân chuyển là giá trị của toàn bộ tài sản ngắn hạn, những tài sản gắn liền với chu kỳ kinh doanh của công ty Trong mỗi chu kỳ kinh doanh, chúng chuyển hoá qua tất cả các dạng - tồn tại từ tiền mặt đến hàng tồn kho, khoản phải thu và trở về hình thái cơ bản ban đầu là tiền mặt Vốn luân chuyển đo lường sức khỏe tài chính của một doanh nghiệp và nó đóng một vai trò quan trọng trong việc tối đa hóa tài sản của cổ đông Vấn đề là

để cân bằng các thành phần của vốn luân chuyển, đáp ứng những nghĩa vụ trong ngắn hạn của công ty vì các thành phần của vốn luân chuyển này có mối quan

hệ mật thiết với nhau Nếu giá trị của tài sản ngắn hạn nhỏ hơn nợ ngắn hạn thì vốn luân chuyển thuần sẽ bị âm, chứng tỏ vốn luân chuyển đang bị thâm hụt

Trang 19

Thì dù rằng công ty đang làm ăn có lãi nhưng thực sự khoản lợi nhuận này đang

bị chiếm dụng bởi các khoản phải thu ngắn hạn và công ty phải đi tìm nguồn tài trợ từ vay mượn cho tài sản ngắn hạn, công ty chịu thêm áp lực về chi phí về vốn, chi phí sản xuất do đó ảnh hưởng đến lợi nhuận

Từ đó nhiệm vụ của quản trị vốn luân chuyển là đảm bảo rằng doanh nghiệp có đủ vốn luân chuyển, ngân quĩ quá ít dẫn đến tình trạng giảm tính thanh khoản Quản trị vốn luân chuyển còn duy trì quan hệ giữa từng bộ phận cấu thành cũng như tổng thể của vốn luân chuyển một cách hợp lý và tìm ra các nguồn vốn phù hợp tài trợ cho vốn luân chuyển Nội dung của quản trị tài chính đối với vốn luân chuyển đó chính là giải quyết hai vấn đề mức tài sản lưu động hợp lý và công ty duy trì đối với từng khoản mục và công ty nên sử dụng nguồn nào Mục đích của bài nghiên cứu này là xem xét mối quan hệ giữa các thành phần của vốn luân chuyển như hàng tồn kho, khoản phải thu, khoản phải trả đối với lợi nhuận của công ty

1.1.2 Tầm quan trọng của quản trị vốn luân chuyển

Quá trình hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp là quá trình hình thành và sử dụng vốn kinh doanh để tạo ra lợi nhuận cho các chủ doanh nghiệp Ngày nay các doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế thị trường yêu cầu về tài sản lưu động là rất lớn, có thể coi tài sản lưu động là mạch sống của quá trình tuần hoàn qua các hình thái kể từ hoạt động kinh doanh – mua nguyên vật liệu, sản xuất, bán hàng, thu hồi tiền hay nợ Để đảm bảo mục tiêu này, doanh nghiệp thường xuyên phải đưa ra và giải quyết tập hợp các quyết định tài chính dài hạn

và ngắn hạn Khi một doanh nghiệp đưa ra quyết định đối với tài sản ngắn hạn

và nợ ngắn hạn của mình thì được gọi là quản trị vốn luân chuyển Hay nói cách khác sự quản trị vốn luân chuyển có thể được định nghĩa như một sự duy trì mức

độ tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn phù hợp nhằm duy trì tốt hoạt động công ty,

Trang 20

tận dụng tối đa nguồn vốn và tối thiểu hóa chi phí, tạo ra đủ tiền để thanh toán các nghĩa vụ ngắn hạn cũng như đầu tư thêm vào sản xuất kinh doanh Quản lý

và sử dụng hiệu quả tài sản lưu động là một nội dung trọng tâm trong các quyết định tài chính ngắn hạn và nội dung có ảnh hưởng lớn đến mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận

Với bản chất và định hướng mục tiêu như trên, doanh nghiệp luôn luôn tìm mọi biện pháp để tồn tại và phát triển Tài sản lưu động thường chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng tài sản Và chúng có đặc điểm chuyển hóa thành tiền nhanh,

vì thế tài sản lưu động có tầm quan trọng đặc biệt trong việc đảm bảo khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn Tỷ lệ tài sản ngắn hạn chiếm phần lớn so với tổng tài sản đối với các doanh nghiệp sản xuất và thương mại, vì thế điều quan trọng là vốn luân chuyển được quản lí bằng cách tối ưu, cân bằng tính thanh khoản và lợi nhuận Mặc dù một công ty làm ăn có lãi nhưng thực sự khoản lãi này bị chiếm dụng bởi khoản phải thu, và công ty phải đi vay mượn thêm hoặc mua nợ, hàng tồn kho Như vậy lợi nhuận và tính thanh khoản cần quản trị một cách cẩn trọng hợp lý, khoản đầu tư vào tài sản và hàng tồn kho đúng lúc để tạo

ra cơ hội tốt để bán được hàng hóa sẽ cải thiện được lợi nhuận và thanh khoản của doanh nghiệp Hàng hóa được luân chuyển nhanh hơn thì có kì luân chuyển tiền mặt ngắn hơn (Padichi, 2006) Vốn luân chuyển đầy đủ còn giúp công ty có thể chi trả các chi phí hoạt động hằng ngày như tiền lương, chi phí chung và chi phí điều hành khác

Đi cùng với khả năng chuyển hóa thành tiền cao, thì so với các tài sản khác tài sản lưu động lại có khả năng sinh lời thấp đặc biệt là tiền mặt vì thế nếu chúng ta quản trị lỏng lẻo làm cho các khoản phải thu, tồn kho,… tăng lên nhanh chóng sẽ làm giảm khả năng sinh lời chung của toàn bộ tài sản

Trang 21

Mukhopadhyay, (2004) kết luận khi nghiên cứu vốn luân chuyển trong ngành công nghiệp nặng, mỗi công việc kinh doanh đều cần vốn luân chuyển để tồn tại và duy trì hoạt động, nói không sai khi người ta coi vốn luân chuyển là sự sống của một doanh nghiệp Nó cần cho một công ty để duy trì tính thanh khoản, tính thanh toán nợ và lợi nhuận Tầm quan trọng của quản trị vốn luân chuyển hiệu quả là không thể chối cãi [20] Nếu một công ty dự định đầu tư nhiều vào vốn luân chuyển, tức là lợi nhuận có thể đầu tư vào tài sản cố định hoặc tài sản dài hạn sẽ bị giảm bớt vì công ty sẽ phải duy trì chi phí lưu trữ hàng tồn kho trong dài hạn cũng như chi phí nắm giữ hàng tồn kho dư thừa (Arnold, 2008) Mặt khác, nếu một công ty đầu tư quá nhiều vào tài sản cố định mà bỏ quên nhu cầu vốn ngắn hạn thì có thể sẽ phải đối mặt với tình trạng kiệt quệ tài chính vì không đủ tiền Lợi nhuận và thanh khoản là 2 mục tiêu chính để duy trì hoạt động của một công ty, do đó nhiệm vụ chính của các nhà quản trị là đánh đổi giữa lợi nhuận và thanh khoản ở một mức độ tối ưu nhất nhằm đem lại hiệu quả cho công ty (Kargar & Blumenthal, 1994) Việc thiếu vốn luân chuyển là một trong những nguyên nhân phổ biến dẫn tới phá sản ở nhiều doanh nghiệp nhỏ ở nhiều nước khác nhau do việc tiếp cận nguồn vốn của các doanh nghiệp lớn Quản trị hiệu quả vốn luân chuyển bao gồm 2 bước là chuẩn bị nguồn lực và điều khiển nguồn lực đó Cả 2 đều với mục tiêu để công ty có thể đáp ứng các nghĩa vụ ngắn hạn cũng như tránh lãng phí nguồn lực vì đầu tư quá nhiều vào tài sản ngắn hạn (Eljelly, 2004) Quản trị hiệu quả sẽ làm giảm nhu cầu vay mượn bên ngoài cho công ty

Có nhiều các tiếp cận khác nhau đối với quản trị vốn luân chuyển, 2 cách

cơ bản đó là chính sách quản trị vốn luân chuyển cấp tiến và chính sách quản trị vốn luân chuyển bảo thủ Chính sách quản trị cấp tiến với việc đầu tư nhiều vào tài sản cố định và đầu tư ít vào tài sản ngắn hạn có thể tạo ra nhiều lợi nhuận cho

Trang 22

động thường ngày và khoản trả nợ ngắn hạn Ngược lại, chính sách bảo thủ đầu

tư ít vào tài sản cố định để đổ vốn vào tài sản ngắn hạn, nó hàm ý rằng nợ ngắn hạn được ưa thích sử dụng hơn so với nợ dài hạn, tỷ lệ nợ ngắn hạn nhiều sẽ cần nhiều vốn ở dạng thanh khoản cao để chi trả sớm nhằm hưởng được lãi vay thấp

và tiết kiệm được nhiều hơn

Trong khâu dự trữ và sản xuất tài sản lưu động đảm bảo cho sản xuất của doanh nghiệp được tiến hành liên tục, đảm bảo qui trình công nghệ, công đoạn sản xuất Trong lưu thông, tài sản lưu động đảm bảo dự trữ thành phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ được liên tục, nhịp nhàng, đáp ứng nhu cầu của khách hàng Thời gian luân chuyển tài sản lưu động lớn khiến cho công việc quản lí và sử dụng tài sản lưu động luôn luôn diễn ra thường xuyên, hằng ngày với vai trò to lớn như vậy, việc tăng tốc độ luân chuyển tài sản lưu động, nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản lưu động trong doanh nghiệp là một yêu cầu tất yếu

Trên thực tế, có rất nhiều nguyên nhân khiến một doanh nghiệp làm ăn thiếu hiệu quả thậm chí thất bại trên thương trường Có thể có các nguyên nhân chủ quan, nguyên nhân khách quan, tuy nhiên một nguyên nhân phổ biến vẫn là việc sử dụng vốn không hiệu quả Trong việc mua sắm, dự trữ, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Điều này dẫn đến việc sử dụng lãng phí tài sản lưu động, tốc độ luân chuyên tài sản lưu động còn thấp, mức sinh lợi kém thậm chí có doanh nghiệp còn gây thất thoát không kiểm soát được tài sản lưu động dẫn đến mất khả năng tổ chức sản xuất kinh doanh, khả năng thanh toán

Bên cạnh việc xác định cấu trúc vốn tối ưu, quản lý vốn luân chuyển là một vấn đề rất được quan tâm trong tài chính doanh nghiệp vì nó có mối liên hệ mật thiết với khả năng sinh lợi, rủi ro và giá trị công ty Quản trị vốn lưu động là quản trị các tài sản ngắn hạn chủ yếu của công ty, bao gồm các khoản mục phải thu khách hàng, hàng tồn kho và tiền mặt Các nghiên cứu trong lĩnh vực tài

Trang 23

chính doanh nghiệp chủ yếu tập trung vào các quyết định tài chính dài hạn như cấu trúc vốn, chính sách cổ tức hoặc định giá công ty Tuy nhiên, các khoản đầu

tư vào tài sản ngắn hạn lại chiếm phần lớn các khoản mục trên bảng cân đối kế toán của công ty Do đó, quản lý vốn luân chuyển là một vấn đề rất quan trọng đối với hầu hết các công ty, đặc biệt là ở các công ty vừa và nhỏ vì phần lớn tài sản của các công ty này là tài sản ngắn hạn Tương tự, nợ ngắn hạn là một trong những nguồn tài trợ bên ngoài chủ yếu của các công ty do những hạn chế về quy

mô và khó khăn về khả năng huy động trên thị trường vốn dài hạn

1.1.3 Các chỉ tiêu phản ánh quản trị vốn luân chuyển

Trong một chu kì kinh doanh, các tài sản vốn luân chuyển chuyển hóa liên tục qua các hình thái từ tiền mặt, đến tồn kho, khoản phải thu và quay trở lại tiền mặt Chu kì này là chu kì tuần hoàn vốn Chính sách quản trị vốn luân chuyển hiệu quả phải đảm bảo giảm tối thiểu thời gian từ khi trả tiền đến khi mua nguyên vật liệu đến khi thu tiền bán tín dụng

a Quản trị hàng tồn kho

Tùy theo ngành nghề kinh doanh mà hàng tồn kho tồn tại dưới các trạng thái và tỷ lệ trong cơ cấu tài sản ngắn hạn là khác nhau Đối với công ty sản xuất thì hàng tồn kho là những mặt hàng sản phẩm được đã được hoàn thành doanh nghiệp giữ để bán ra sau cùng Nói cách khác, hàng tồn kho là những mặt hàng

dự trữ mà một công ty sản xuất ra để bán và những thành phần tạo nên sản phẩm Do đó, hàng tồn kho chính là sự liên kết giữa việc sản xuất và bán sản phẩm đồng thời là một bộ phận của tài sản ngắn hạn, chiếm tỉ trọng lớn, có vai trò quan trọng trong việc sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Đối với doanh nghiệp dịch vụ thì không lưu trữ hàng hóa, các nhà bán lẻ thì chỉ có quá trình lưu trữ thành phẩm Một số công ty cũng duy trì loại thứ tư của hàng tồn kho, được gọi là nguồn vật tư, chẳng hạn như đồ dùng văn phòng, vật liệu làm sạch

Trang 24

máy, dầu, nhiên liệu, bóng đèn và những thứ tương tự Những loại hàng này đều cần thiết cho quá trình sản xuất Đáp ứng nhu cầu mỗi loại hình khác nhau, duy trì số dư hàng tồn kho đáp ứng sự thay đổi trong nhu cầu, cũng như sự thay đổi

về nguyên vật liệu đảm bảo cho lập dự toán quá trình sản xuất – mua nguyên vật liệu, hay lập dự toán cho quá trình cung ứng

Lí do chính của việc lưu trữ hàng tồn kho thứ nhất về vấn đề giao dịch doanh nghiệp sẽ duy trì hàng tồn kho để tránh tắc nghẽn trong quá trình sản suất và bán hàng Bằng việc duy trì hàng tồn kho, các doanh nghiệp đảm bảo được việc sản xuất không bị gián đoạn do thiếu nguyên liệu thô Mặt khác, việc bán hàng cũng không bị ảnh hưởng do không có sẵn hàng hóa thành phẩm Thứ hai việc giữ lại hàng tồn kho với mục đích này là một tấm đệm cho những tình huống kinh doanh xấu nằm ngoài dự đoán Tương tự, cũng sẽ có những sự sụt giảm không lường trước trong cung ứng nguyên liệu ở một vài thời điểm Và doanh nghiệp giữ hàng tồn kho để có được những lợi thế khi giá cả biến động Giả sử nếu giá nguyên liệu thô tăng, doanh nghiệp sẽ muốn giữ nhiều hàng tồn

kho so với yêu cầu với giá thấp hơn

Quản trị lưu trữ hàng tồn kho đem lại những lợi thế nhất định cho doanh nghiệp liên quan đến việc tối đa hóa những lợi ích như sau mà vẫn giảm thiểu được chí phí lưu trữ hàng tồn kho: Tránh các khoản lỗ trong kinh doanh bằng việc lưu trữ hàng tồn kho, một công ty có thể tránh tình trạng kinh doanh thua lỗ khi không có sẵn nguồn cung tại một thời điểm nào đó nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng Có thể giảm chi phí đặt hàng: Các chi phí đặt hàng gồm chi phí liên quan đến đơn đặt hàng cá nhân như đánh máy, phê duyệt, gửi thư… có thể được giảm rất nhiều nếu công ty đặt những đơn hàng lớn hơn là vài đơn hàng nhỏ lẻ Và đạt được hiệu quả sản xuất cao nhờ có việc xác định được nhu cầu sản xuất để lưu trữ nguồn nguyên liệu Nói cách khác, nguồn cung ứng đủ hàng

Trang 25

tồn kho sẽ ngăn ngừa sự thiếu hụt nguyên liệu ở những thời điểm nhất định mà

có thể làm gián đoạn quá trình sản xuất

Tuy nhiên, việc lưu trữ hàng tồn kho không phải lúc nào cũng tốt Có thể nói rằng việc thu mua tràn lan chứa đựng nhiều rủi ro và việc gặp phải những rủi

ro không lường trước được sẽ gây khó khăn cho doanh nghiệp.Việc lưu trữ hàng tồn kho quá nhiều, không có kế hoạch, sẽ chiếm những khoản chi phí nhất định

Ví dụ như công ty bán các loại hàng hóa có thời hạn sử dụng ngắn dễ hư hỏng ( như phân phối các loại sữa nước, các loại trái cây,…) cần phải tránh dự trữ vượt quá nhu cầu ngắn hạn Hay những hàng hóa thuộc tuýp dễ bị lỗi thời do công nghệ Do vậy, rất cần thiết cho việc một công ty lập kế hoạch cụ thể về lưu trữ

hàng tồn kho Chi phí lưu trữ hàng tồn kho được phân ra làm hai loại: Chi phí

nguyên liệu: bao gồm các khoản phí liên quan đến đến việc đặt hàng để thu mua

nguyên liệu, các thành phần, tiền lương cho nhân viên quản trị hành chính, chí phí thuê mặt bằng, cước phí, chuyển phát, hóa đơn, văn phòng phẩm, v.v Càng

nhiều đơn hàng thì càng nhiều các chi phí liên quan và ngược lại Chi phí thực

hiện: bao gồm các khoản phí liên quan đến việc lưu trữ hoặc vận chuyển hàng

tồn kho cũng như chi phí bảo hiểm rủi ro trọn gói, chi phí thuê mặt bằng, tiền lương cho nhân công, sự lãng phí, lỗi thời, sự hao mòn, mất trộm… Nó cũng bao gồm các khoản phí cơ hội Điều này có nghĩa: khoản tiền dành cho hàng tồn kho nếu được đầu tư vào nơi khác trong kinh doanh, thì nó sẽ thu lại được một khoản nhất định Do đó mà sự mất mát của việc thu lại cũng có thể được xem

như một chi phí cơ hội

Kết quả là việc kinh doanh giảm sút dẫn đến giảm doanh thu, giảm lợi nhuận và tệ hơn là thua lỗ Mặt khác, sự dư thừa hàng tồn kho cũng có nghĩa làm kéo dài thời gian sản xuất và phân phối luồng hàng hóa Điều này có nghĩa

là khoản tiền đầu tư vào hàng tồn kho nếu được đầu tư vào nơi khác trong kinh

Trang 26

doanh, thì nó sẽ thu lại được một khoản nhất định Không chỉ vậy, nó cũng sẽ làm giảm các chi phí thực hiện và làm tăng lợi nhuận Điều này có lợi cho tổ chức theo hai cách Một là khoản tiền không bị chặn khi hàng tồn kho chưa được

sử dụng tới và có thể được sử dụng để đầu tư vào những nơi khác để kiếm lời Hai là nó sẽ làm giảm các chi phi thực hiện, đồng thời sẽ làm tăng lợi nhuận Quản trị hàng tồn kho cũng là một vấn đề không kém phần quan trọng Việc duy trì mức tồn kho cao sẽ giúp doanh nghiệp tránh được sự gián đoạn trong quá trình sản xuất và thua lỗ trong kinh doanh do khan hiếm hàng hóa, giảm được chi phí cung ứng và hạn chế sự biến động về giá cả Mặc dù vậy, một công ty có lượng hàng tồn kho lớn và chính sách tín dụng thiếu chặt chẽ có thể phải gánh chịu sự sụt giảm về khả năng sinh lợi Do đó, đầu tư nhiều vào hàng tồn kho sẽ giúp công ty giảm thiểu rủi ro nhưng đồng thời cũng làm giảm khả năng sinh lợi của công ty

Tồn kho hàng hóa là một vấn đề quan trọng nên cũng cần cách thức quản lí,

có 3 cách tiếp cận cơ bản như sau:

+ Kỹ thuật phân tích ABC thường được sử dụng trong phân loại hàng hóa tồn kho, nhằm xác định mức độ quan trọng của hàng hóa tồn kho khác nhau Từ

đó xây dựng các phương pháp dự báo, chuẩn bị nguồn lực và kiểm soát tồn kho cho từng nhóm hàng khác nhau

Trong kỹ thuật phân tích ABC phân loại toàn bộ hàng hóa dự trữ của đơn

vị thành 3 nhóm hàng: Nhóm A, nhóm B và nhóm C Căn cứ vào mối quan hệ giá trị hàng năm với số lượng chủng loại hàng

Giá trị hàng hoá dự trữ hàng năm được xác định bằng tích số giữa giá bán một đơn vị hàng hoá với lượng dự trữ hàng hoá đó trong năm Số lượng chủng loại hàng là số lượng từng loại hàng hoá dự trữ trong năm

Trang 27

- Nhóm A: Bao gồm những hàng hóa dự trữ có giá trị hàng năm cao nhất, chiếm từ 70 - 80% so với tổng giá trị hàng hoá sự trữ, nhưng về mặt số lượng, chủng loại thì chỉ chiếm khoảng 10 - 15% lượng hàng dự trữ

- Nhóm B: Bao gồm những loại hàng hoá dự trữ có giá trị hàng năm ở mức trung bình, chiếm từ 15- 25% so với tổng giá trị hàng dự trữ, nhưng về số lượng, chủng loại chúng chỉ chiếm khoảng 30% tổng số hàng dự trữ

- Nhóm C: Gồm những loại hàng có giá trị thấp, giá trị dự trữ chỉ chiếm khoảng 5% so với tổng giá trị hàng dự trữ, nhưng số lượng chiếm khoảng 50- 55% tổng số lượng hàng dự trữ

- Các nguồn vốn dùng để mua hàng nhóm A cần phải nhiều hơn so với nhóm C, do đó cần sự ưu tiên đầu tư thích đáng vào quản trị nhóm A

- Các loại hàng nhóm A cần có sự ưu tiên trong bố trí, kiểm tra, kiểm soát hiện vật Việc thiết lập các báo cáo chính xác về nhóm A phải được thực hiện thường xuyên nhằm đảm bảo khả năng an toàn trong sản xuất

- Trong dự báo nhu cầu dự trữ, chúng ta cần áp dụng các phương pháp dự báo khác nhau cho nhóm mặt hàng khác nhau, nhóm A cần được dự báo cẩn thận hơn so với các nhóm khác

- Nhờ có kỹ thuật phân tích ABC trình độ của nhân viên giữ kho tăng lên không ngừng, do họ thường xuyên thực hiện các chu kỳ kiểm tra, kiểm soát từng nhóm hàng

Tóm lại, kỹ thuật phân tích ABC sẽ cho chúng ta những kết quả tốt hơn trong dự báo, kiểm soát, đảm bảo tính khả thi của nguồn cung ứng, tối ưu hoá lượng dự trữ

+Tồn kho đúng thời điểm

Trang 28

Hàng dự trữ trong hệ thống sản xuất và cung ứng nhằm mục đích đề phòng những bất trắc có thể xảy ra trong quá trình sản xuất và phân phối Để đảm bảo hiệu quả tối ưu của sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần áp dụng cung ứng đúng thời điểm

Lượng dự trữ đúng thời điểm là lượng dự trữ tối thiểu cần thiết giữ cho hệ thống sản xuất hoạt động bình thường Với phương thức tổ chức cung ứng và dự trữ đúng thời điểm để đảm bảo lượng hàng hoá được đưa đến nơi có nhu cầu đúng lúc, kịp thời sao cho hoạt động của bất kỳ nơi nào cũng được liên

tục (không sớm quá cũng không muộn quá)

Để đạt được lượng dự trữ đúng thời điểm, các nhà quản trị sản xuất đúng thời điểm phải tìm cách giảm những biến đổi do các nhân tố bên trong và bên ngoài của quá trình sản xuất gây ra

+ Mô hình lượng đặt hàng kinh tế cơ bản (EOQ -Economic Order Quantity) – phương pháp này được thực hiện dựa trên ý tưởng và giảm thiểu tổng chi phí đầu tư liên quan đến hàng tồn kho Mô hình lượng đặt hàng theo lô sản xuất (POQ -Prodution Order Quantity) - Mô hình quản trị hàng tồn kho POQ là mô hình được áp dụng trong trường hợp hàng được đưa đến một cách liên tục, hàng được tích lũy dần cho đến khi lượng đặt hàng được tập kết hết Mô hình này cũng được áp dụng trong trường hợp DN vừa sản xuất vừa bán hoặc DN tự sản xuất lấy vật tư để dùng

Vì thế, việc tinh gọn những hạng mục có lượng tồn kho lớn sẽ đem lại một dòng tiền đáng kể cho công ty

Chỉ số đo lường hàng tồn kho ảnh hưởng đến lợi nhuận, tác giả sử dụng chỉ tiêu chu kì chuyển hóa hàng tồn kho Chu kì chuyển hóa hàng tồn kho (IP) là thời gian bình quân cần thiết để chuyển hóa nguyên vật liệu thành thành phẩm

Trang 29

bình quân nguyên liệu ở trong kho, trong sản xuất và thời gian bình quân của sản phẩm tồn kho Chu kì chuyển hóa tồn kho có thể xác định bằng công thức:

IP =Số ngày trong kỳ x Giá trị hàng tồn kho bình quân

Giảm lợi nhuận

Thiếu vốn

Chí phí dự trữ tăng

Hoạt động sản xuất ngƣng trệ

Mất khách

hàng

Thiếu nguyên vật liệu

Thành phẩm

dƣ thừa

Trang 30

b Quản trị khoản phải thu:

Khoản phải thu là giá trị hàng hóa và dịch vụ mà khách hàng còn nợ và họ cam kết thanh toán cho công ty Ngoài ra, thời gian thanh toán cho nhà cung cấp càng dài thì càng có lợi cho dòng tiền hoạt động Tuy nhiên, khi kéo dài thời gian trả tiền hàng hóa cho người bán, các nhà quản lý phải tính toán cẩn thận vì khi đó họ không chỉ bỏ lỡ các khoản chiết khấu thanh toán mà uy tín của chính công ty cũng có thể bị ảnh hưởng

Khoản phải thu chủ yếu là các khoản phải thu từ khách hàng, thể hiện số tiền mà khách hàng nợ doanh nghiệp phát sinh trong quá trình bán hàng hóa, dịch vụ dưới hình thức bán trước trả sau Ngoài ra trong một số trường hợp mua sắm vật tư, doanh nghiệp còn phải ứng trước tiền cho người cung cấp, từ đó hình thành các khoản tạm ứng Bên cạnh đó còn các khoản tạm ứng của cán bộ công nhân viên và các khoản phải thu khác

Cùng với quản trị tiền mặt và hàng tồn kho, quản trị khoản phải thu cũng liên quan đến quyết định về quản trị tài sản của Giám đốc tài chính Quyết định quản trị khoản phải thu gắn với việc đánh đổi giữa chi phí liên quan đến khoản phải thu và doanh thu tăng thêm do bán chịu hàng hóa

Quản trị khoản phải thu phải quan tâm đến các vấn đề sau:

+ Chính sách tín dụng và các mô hình quản trị khoản phải thu

+ Chính sách tín dụng của doanh nghiệp được thực hiện thông qua việc kiểm soát các biến số sau:

– Tiêu chuẩn tín dụng: mức “chất lượng tín dụng” tối thiểu để một đối tác được chấp nhận cấp tín dụng

– Chiết khấu thanh toán: Là biện pháp khuyến khích khách hàng trả tiền sớm bằng cách thực hiện việc giảm giá đối với các trường hợp mua hàng trả tiền trước thời hạn

Trang 31

– Thời hạn bán chịu (thời hạn tín dụng): Là quy định về độ dài thời gian của các khoản tín dụng

– Chính sách thu tiền: bao gồm các quy định về cách thức thu tiền như thu một lần hay nhiều lần, hay trả góp và biện pháp xử lý đối với các khoản tín dụng quá hạn

Các mô hình quản trị khoản phải thu:

Mô hình 1 – Mô hình nới lỏng chính sách bán chịụ

Mô hình 2 – Mô hình thắt chặt chính sách bán chịu

Mô hình 3 – Mô hình mở rộng thời hạn bán chịu

Mô hình 4 – Mô hình rút ngắn thời hạn bán chịu

Mô hình 5 – Mô hình tăng tỷ lệ chiết khấu

Mô hình 6 – Mô hình giảm tỷ lệ chiết khấu

Mô hình 7 – Mô hình nới lỏng chính sách bán chịu có xét đến ảnh hưởng của rủi ro từ bán chịu

Việc áp dụng các mô hình phụ thuộc vào các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách tín dụng như sau:

– Điều kiện của doanh nghiệp: đặc điểm về sản phẩm, ngành nghề kinh doanh và tiềm lực tài chính là những yếu tố tác động trực tiếp đến chính sách tín dụng

– Điều kiện của khách hàng: dựa vào các phán đoán sau theo “ tín dụng 5C”

Vốn sức mạnh tài chính (capital): là thước đo về tình hình tài chính của doanh nghiệp, ảnh hưởng đến rủi ro thanh toán

Trang 32

Khả năng thanh toán (capacity): đánh giá thông qua hệ số thanh toán chung, hệ thống thanh toán nhanh,… của khách hàng

Tư cách tín dụng (character): thái độ tự giác vói việc thanh toán nợ của khách hàng Yếu tố này rất quan trọng

Vật thế chấp (collateral): tài sản khách hàng dùng đảm bảo cho món nợ của mình

Điều kiện kinh tế (condition): sự phát triển của nền kinh tế nói chung và mức độ phát triển từng vùng địa lý nói riêng ảnh hưởng đến việc thanh toán của khách hàng với món nợ

Thông tin khách hàng có thể thu thập được thông qua việc điều tra trực tiếp như phân tích báo cáo tài chính khách hàng, phỏng vấn trực tiếp,… đồng thời có thể thu thập thông tin từ các trung tâm xử lý dữ liệu về vị thế tín dụng của các doanh nghiệp

Để đánh giá lợi ích kinh tế đạt được khi thực hiện chính sách tín dụng, doanh nghiệp cần dự báo, tính toán các thông số sau:

 Số lượng và giá bán sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ dự kiến tiêu thụ

 Các chi phí phát sinh do tăng các khoản nợ: chi phí quản lý khoản phải thu, chi phí thu hồi nợ, chi phí rủi ro

 So sánh lợi nhuận gộp do doanh số bán tăng lên với những chi phí tăng thêm do sự thay đổi của chính sách tín dụng gây ra

Việc thiết lập chính sách tín dụng có ảnh hưởng rất lớn tới tình hình kinh doanh của doanh nghiệp Nếu các tiêu chuẩn tín dụng quá cao có thể loại bỏ nhiều khách hàng tiềm năng, do đó làm giảm lợi nhuận Ngược lại, nếu tiêu chuẩn tín dụng quá thấp có thể làm tăng doanh số bán nhưng đồng thời cũng làm

Trang 33

cho rủi ro tín dụng tăng, gia tăng các khoản nợ khó đòi, chi phí thu tiền cũng tăng lên

Để quản lý các khoản phải thu, nhà quản lý phải biết cách theo dõi các khoản phải thu, trên cơ sở đó có thể thay đổi chính sách tín dụng thương mại kịp thời Thông thường người ta dựa vào các chỉ tiêu, phương pháp và mô hình sau:

* Kỳ phải thu bình quân (The average collection period – ACR)

x 365

Kỳ thu tiền bình quân là một tỷ số tài chính đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Tỷ số này cho biết doanh nghiệp cần mất bình quân là bao nhiêu ngày để thu hồi các khoản phải thu của mình Kỳ thu tiền ngắn chứng tỏ doanh nghiệp không bị ứ đọng vốn trong khâu thanh toán Ngược lại nếu kỳ thu tiền dài chứng tỏ thời gian thu hồi khoản phải thu chậm

c Quản trị khoản phải trả

Hầu hết các doanh nghiệp hoạt động đều phát sinh khoản phải trả, đây là nghĩa vụ doanh nghiệp phải thanh toán cho các đối tượng liên quan Các khoản phải trả trong đơn vị thường phát sinh trong các quan hệ giao dịch giữa đơn vị với người bán vật tư, hàng hóa, dịch vụ, tài sản cố định Nội dung cụ thể các khoản phải trả gồm:

- Các khoản nợ phải trả cho người bán, người cung cấp hàng hóa, dịch vụ, vật tư, người nhận thầu về XDCB, sửa chữa lớn

- Các khoản nợ vay, lãi về nợ vay phải trả

- Giá trị tài sản chưa xác định được nguyên nhân chờ giải quyết

Trang 34

- Các khoản phải trả khác như: phạt bồi thường vật chất

- Nợ công nhân viên, thuế và các khoản phải nộp nhà nước

Nhận tín dụng thương mại từ các nhà cung cấp là điều phổ biến trong kinh doanh Hầu như tất cả các công ty đều có một số khoản phải trả người bán chờ thanh toán Hoạt động quản lý khoản phải trả liên quan đến việc: cố gắng giành được mức tín dụng thương mại thỏa đáng từ nhà cung cấp và cố gắng kéo dài thời hạn tín dụng thương mại trong giai đoạn thiếu hụt tiền mặt, thứ hai là duy trì quan hệ tốt với các nhà cung cấp thường xuyên và quan trọng Vấn đề quan tâm đến thời hạn thanh toán của các khoản phải trả cho nhà cung cấp dựa trên nếu các chi phí công ty bỏ ra khi nhận tín dụng từ nhà cung cấp ít hơn so với nguồn tài chính khác, công ty nên sử dụng nguồn tín dụng từ nhà cung cấp Vì nếu công ty thanh toán sớm cho nhà cung cấp có thể hưởng các khoản chiết khấu này, từ đó, giảm chi phí mua hàng Tác giả sử dụng kì thanh toán bình quân làm biến đại diện cho việc quản lý các khoản phải trả Còn đối với các khoản nợ nhà nước thì có thời hạn thanh toán cụ thể theo từng sắc thuế, do đó công ty cần duy trì lượng tiền mặt hay tiền gửi ngân hàng để thanh toán

Để quản lý các khoản phải trả, nhà quản lý phải biết cách theo dõi các khoản phải trả, trên cơ sở đó có thể thay đổi chính sách tín dụng thương mại kịp thời Thông thường người ta dựa vào các chỉ tiêu, phương pháp và mô hình sau:

* Kỳ thanh toán bình quân (The average payment period – ACP)

x 365

Trang 35

Kỳ thanh toán bình quân là một tỷ số tài chính đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Tỷ số này cho biết doanh nghiệp cần mất bình quân là bao nhiêu ngày để thanh toán các khoản phải trả của mình Kỳ thanh toán ngắn chứng tỏ doanh nghiệp chứng tỏ doanh nghiệp kéo dài được thời hạn thanh toán

do nhận được cấp tín dụng từ khách hàng, điều này sẽ làm giảm áp lực thanh toán, cũng như dòng tiền trong tất cả các hoạt động của doanh nghiệp

d Quản trị vốn bằng tiền

Mục tiêu của việc quản lí tiền mặt duy trì số dư tiền mặt tối thiểu, hoặc tối

đa dòng tiền mặt lưu chuyển tốt sẽ giúp việc kinh doanh của đơn vị luôn thành công Theo quan điểm truyền thống mối quan hệ giữa chu kỳ luân chuyển tiền mặt và lợi nhuận của công ty trong điều kiện các yếu tố khác không thay đổi thì việc rút ngắn chu kỳ luân chuyển này sẽ làm tăng lợi nhuận của công ty Doanh nghiệp cần lập quy trình hiệu quả liên quan đến các khoản phải trả để có thể giải quyết vấn đề về tiền mặt và đảm bảo luôn có một số lượng lớn tiền mặt dành cho hoạt động kinh doanh

khoản

(Nguồn: sách quản trị tài chính)

Sơ đồ 1.2 Trình bày phạm vi của quản trị tiền mặt

Trang 36

Quản trị tiền mặt hiệu quả là bao gồm quản trị dòng nhập quỹ và dòng xuất quỹ nhằm giảm thiếu hụt tiền mặt cho đơn vị, là quản lý các tài sản ngắn hạn và những khoản nợ ngắn hạn Ví dụ như trì hoãn các khoản chi tiêu cho đầu tư nếu

có một số khoản mục chi tiêu cho đầu tư (nghĩa là đầu tư vào tài sản cố định) có vai trò quan trọng và cấp thiết hơn nhiều nhu cầu khác Có thể sẽ là thiếu thận trọng khi trì hoãn việc chi tiêu cho tài sản cố định cần thiết cho sự tăng trưởng

và phát triển của doanh nghiệp Tuy nhiên, có một vài khoản mục chi tiêu cho đầu tư diễn ra thường xuyên và có thể trì hoãn mà không để lại ảnh hưởng nghiêm trọng Ví dụ như khoản thay thế các phương tiện vận tải định kỳ Nếu chính sách của một công ty là thay thế xe hai năm một lần, nhưng công ty đang phải đối mặt với tình trạng thiếu hụt tiền mặt, thì có thể quyết định thay thế ba năm một lần Thứ hai gia tăng tốc độ thu hồi dòng tiền vào thay vì chờ đợi cách thường gặp nhất để đẩy nhanh tốc độ thu hồi dòng tiền vào là khuyến khích người mua chịu nhanh chóng trả sớm Chính sách này thường dẫn đến hậu quả

là mất danh tiếng và gây phiền toái cho khách hàng Sẽ có ít khả năng đẩy nhanh tốc độ thanh toán khi thời hạn tín dụng thương mại hiện hành đối với người mua chịu không lớn hơn mức chuẩn của ngành Công ty chỉ có thể khuyến khích người mua chịu thanh toán sớm bằng cách đưa ra các điều khoản chiết khấu hấp dẫn, thứ ba doanh nghiệp có thể đảo chiều các quyết định đầu tư trong quá khứ bằng cách bán các tài sản đã mua trước đây Nếu doanh nghiệp có vấn đề về dòng tiền, thì có thể xem xét đến giải pháp bán đi một số tài sản hoặc khoản mục đầu tư kém quan trọng hơn so với các tài sản khác trong doanh nghiệp Và có thể đàm phán để giảm bớt các dòng tiền ra cần thanh toán, trì hoãn thanh toán hoặc chỉ thanh toán một phần

Có một vài cách như sau:

- Tận dụng thời hạn tín dụng thương mại dài hơn từ các nhà cung cấp Tuy nhiên, nếu thời hạn tín dụng thương mại được cấp đã khá dài, người bán chịu có

Trang 37

thể không muốn nới lỏng hơn nữa và nếu có thì cũng phải đàm phán rất kỹ càng Nếu bị từ chối nguồn cung trong tương lai sẽ là rủi ro rất lớn với doanh nghiệp,

Có thể thương lượng với ngân hàng để tái cấu trúc thời gian thanh toán nợ vay

- Có thể giảm số tiền chi trả cổ tức Tiền chi trả cổ tức là dòng tiền ra được thanh toán có chủ ý, tuy nhiên ban giám đốc công ty có thể bị áp lực từ kỳ vọng của các cổ đông, nên họ luôn cảm thấy có nghĩa vụ phải thanh toán cổ tức ngay

cả khi công ty đang thiếu hụt tiền mặt

Dự báo tiền mặt là một dự báo nhu cầu tiền mặt của doanh nghiệp trên cơ

sở hằng ngày, hằng tuần, hằng tháng và hằng năm bằng cách xem xét các yếu tố

dự toán bán hàng ghi nhận doanh thu, dự báo hàng tồn kho liên quan đến chi phí nguyên vật liệu, dự toán phả trả cho nhà cung cấp, dự toán các khoản phải thu sẽ nhận được Tiền mặt và tiền gửi ngân hàng bản thân nó là loại tài sản không sinh lãi, do vậy trong quản lý tiền mặt và tiền gửi ngân hàng thì việc tối thiểu hóa lượng tiền mặt, tiền gửi ngân hàng phải giữ là mục tiêu quan trọng nhất Tuy nhiên việc giữ tiền trong kinh doanh cũng là vấn đề hết sức cần thiết để đảm bảo giao dịch kinh doanh hàng ngày Có 2 công cụ khoa học quản lý tiền mặt đó chính là Mô hình Miller-Orr và mô hình Baumol Các doanh nghiệp vận tải biển cần phải nghiên cứu phân tích nên lựa chọn ứng dụng mô hình nào để quản trị tiền cho phù hợp với loại hình hoạt động kinh doanh đặc thù trong lĩnh vực vận tải biển Qua nghiên cứu cho thấy mô hình Baumol chỉ thích hợp với những dòng tiền rời rạc chứ không liên tục, có thu nhưng không có chi Ngược lại Mô hình Miller-Orr đã khắc phục những hạn chế của mô hình Baumol phù hợp với quản trị tiền tại các doanh nghiệp vận tải biển lớn có dòng thu, dòng chi trong kỳ lớn và chi phí giao dịch mua bán chứng khoán là nhỏ, không đáng kể so với chi phí cơ hội của việc giữ tiền Mục đích của việc quản trị vốn bằng tiền của doanh nghiệp:

Trang 38

- Động cơ giao dịch: Nhằm đáp ứng nhu cầu giao dịch hằng ngày như chi trả tiền mua nhiên liệu, nguyên vật liệu, chi trả tiền lương, thuế, cổ tức,… trong quá trình hoạt động kinh doanh của công ty

- Động cơ đầu tư: Nhằm nắm bắt những cơ hội đầu tư thuận lợi trong kinh doanh như mua nguyên liệu dự trữ khi giá thị trường giảm, hoặc khi tỷ giá biến động thuận lợi, hay mua các chứng khoán đầu tư nhằm mục tiêu góp phần gia tăng lợi nhuận của công ty

- Động cơ dự phòng: Nhằm duy trì khả năng đáp ứng nhu cầu chi tiêu khi

có những biến cố bất ngờ xảy ra ảnh hưởng hoạt động thu chi bình thường của công ty, chẳng hạn do ảnh hưởng của yếu tố thời vụ khiến công ty phải chi tiêu nhiều cho việc mua hàng dự trữ trong khi tiền thu bán hàng chưa thu hồi kịp

Từ các động lực của việc giữ tiền tạo nên những ưu điểm của việc dự trữ tiền hợp lý trong doanh nghiệp Việc duy trì khả năng thanh toán có ý nghĩa quyết định đến sự tồn tại của doanh nghiệp, tuy nhiên, luôn có sự đánh đổi với khả năng sinh lợi Các khoản tiền dự phòng trong thanh toán, tự thân, không sinh lợi Chính vì vậy, nhiệm vụ tiếp theo của nhà quản lý là xác định mức tồn quỹ tối ưu, từ đó thực hiện các biện pháp xử lý thích hợp, hướng tới mục tiêu tối

đa hóa lợi ích kinh tế cho doanh nghiệp, cân bằng với khả năng thanh toán Đây cũng là mục tiêu cuối cùng của quản lý ngân quỹ

Có thể áp dụng định nghĩa này để tính chu kỳ chuyển hóa tiền mặt:

CCC = Chu kỳ chuyển hóa hàng tồn kho + Kỳ thu tiền bình quân – Kỳ thanh toán bình quân

Miller và Orr đã bổ sung thêm nhân tố biến động của lưu chuyển tiền thuần (đo bằng phương sai thu chi ngân quỹ) vào mô hình Theo đó, một doanh nghiệp

có dòng tiền thường xuyên biến động thất thường, chênh lệch giữa thu và chi lớn, cần duy trì mức tồn quỹ cao Ngược lại, nếu dòng tiền ổn định, mức tồn quỹ

Trang 39

cần thiết sẽ nhỏ hơn Kết luận này phù hợp với suy luận lý thuyết, đồng thời, giúp mô hình Miller - Orr có giá trị ứng dụng hơn trong thực tiễn, trở thành mô hình được sử dụng phổ biến để xác định ngân quỹ tối ưu cho doanh nghiệp Đặc điểm lớn nhất của ngành vận tải là mang tính phục vụ, đảm bảo cho các ngành sản xuất khác hoạt động bình thường Hoạt động kinh doanh vận tải tạo ra tính thống nhất giữa sản xuất và tiêu thụ Mặt khác hoạt động vận tải nói chung và vận tải biển nói riêng không có sản xuất dự trữ, không có hoạt động trung gian giữa sản xuất và tiêu thụ Quá trình sản xuất của ngành vận tải biển không làm thay đổi tính chất lý hóa mà chỉ làm thay đổi vị trí của đối tượng lao động để tạo ra sản phẩm, dịch vụ Lao động trong ngành vận tải không tạo ra sản phẩm mới mà chỉ làm tăng thêm giá trị của hàng hóa được vận chuyển Một đặc điểm khác của hoạt động vận tải là mang tính thời vụ và có tính chất quốc tế (đối với các doanh nghiệp vận tải biển có vận chuyển trên các tuyến nước ngoài)

Chính những đặc điểm hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp vận tải biển nói trên làm cho việc quản trị vốn bằng tiền của doanh nghiệp này rất khó khăn vì tính chất thời vụ, nhất là các công ty có doanh thu lớn (20 tỷ trở lên) Đối với ngành dịch vụ vận tải biển, một số lớn hoạt động đòi hỏi phải có tiền mặt để mua nhiên liệu, nước ngọt, vật tư dự trữ, trả tiền ăn, tiền tiêu vặt cho thủy thủ đoàn, trả các khoản tiền cảng phí, thuê đại lý, cho chuyến đi của tàu

Do đó ngành này đòi hỏi một tỷ số tiền mặt trên tổng doanh thu và tỉ số tiền mặt trên tổng tài sản khá cao Sau cùng doanh nghiệp cần có lượng tiền mặt nhằm đủ khả năng đáp ứng trong các trường hợp bất ngờ như hỏa hoạn, cạnh tranh về quảng cáo với các doanh nghiệp khác, Mặt khác đối với các doanh nghiệp vận tải biển có doanh thu lớn, cước phí vận chuyển một chuyến đi lớn, các khoản tiền thu được từ cước vận tải xuất hiện không đều đặn mà phụ thuộc rất nhiều vào thời gian chuyến đi của tàu và các điều khoản thanh toán trong hợp đồng

Trang 40

vận chuyển được ký kết với khách hàng Đồng thời các chi phí giao dịch chứng khoán là nhỏ không đáng kể so với chi phí cơ hội của việc giữ tiền thì doanh nghiệp nên mua tín phiếu kho bạc hay nắm giữ các cổ phiếu để thay thế dự trữ tiền Với hoạt động đặc thù như vậy các doanh nghiệp vận tải biển lớn cần thiết nên ứng dụng mô hình Miller-Orr trong lĩnh vực quản trị tiền của đơn vị

1.2 MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC CHỈ TIÊU QUẢN TRỊ VỐN LUÂN CHUYỂN VÀ TỶ SUẤT LỢI NHUẬN DOANH NGHIỆP

1.2.1 Phân tích mối quan hệ giữa các chỉ tiêu quản trị vốn luân chuyển

và tỷ suất lợi nhuận

Các thành tố cơ bản của vốn luân chuyển như các nghiên cứu trước sẽ ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp liên quan đến tài sản ngắn hạn và

nợ ngắn hạn Vai trò của việc quản trị vốn luân chuyển là đảm bảo các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được hoạt động liên tục do đó có tác động rất lớn đến việc ra các quyết định tài chính và hiệu quả hoạt động doanh nghiệp Quản trị vốn luân chuyển có thể làm giảm chi phí và tạo ra thêm lợi nhuận cho công ty (Brealey et at, 2006) [ Đầu tư vào vốn luân chuyển và các thành phần liên quan đến tài chính ngắn hạn bắt nguồn từ ba hoạt động kinh doanh – mua nguyên vật liệu, sản xuất và bán hàng Quản trị vốn luân chuyển trong vòng một năm có thể làm cho các hoạt động này trở nên hiệu quả và linh hoạt hơn Ở Việt Nam, tỷ trọng vốn luân chuyển nằm trong khoảng từ 0,6% - 67,6% tổng tài sản vì vậy các thành phần của vốn luân chuyển có tác động rất lớn đến khả năng sinh lời

Hàng tồn kho là một thành phần quan trọng nhất của tài sản ngắn hạn Ở công ty sản xuất hàng kho kho bao gồm nguyên vật liệu thô, nguyên vật liệu dở dang hoặc thành phẩm Trái lại, một công ty trong lĩnh vực tư vấn thì không có hàng kho Hàng tồn kho nhiều hay ít còn tùy thuộc vào ngành nghề kinh doanh Điều cần thiết là làm cân bằng để giữ đủ hàng tồn kho để bán và giảm hàng tồn

Ngày đăng: 05/10/2018, 10:58

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w