Tính cấp thiết của đề tài Việc làm là một trong những nhu cầu cơ bản của con người để đảm bảo cuộc sống và sự phát triển toàn diện Quyền lao động và đảm bảo việc làm của người lao động
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
TRƯƠNG CÔNG BẢO
GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NỮ
TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN SƠN TRÀ
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ PHÁT TRIỂN
Đà Nẵng - Năm 2017
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
TRƯƠNG CÔNG BẢO
GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NỮ
TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN SƠN TRÀ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Trương Công Bảo
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 3
5 Bố cục của luận văn 5
6 Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn 5
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NỮ 9
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM 9
1.1.1 Việc làm và thất nghiệp 9
1.1.2 Giải quyết việc làm 12
1.1.3 Vai trò của giải quyết việc làm 14
1.1.4 Đặc điểm đặc thù của lao động nữ ảnh hưởng đến công tác giải quyết việc làm 15
1.2 NỘI DUNG GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG NỮ 16
1.2.1 Tạo việc làm thông qua phát triển kinh tế 16
1.2.2 Hỗ trợ vốn để giải quyết việc làm cho lao động nữ 18
1.2.3 Giải quyết việc làm thông qua tăng cường năng lực cho người lao động 19
1.2.4 Tăng cường kết nối cung cầu thị trường lao động 22
1.2.5 Giải quyết việc làm thông qua thúc đẩy di chuyển lao động 25
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NỮ 28
Trang 51.3.1 Điều kiện tự nhiên 28
1.3.2 Điều kiện về kinh tế 29
1.3.3 Điều kiện về xã hội 29
1.3.4 Nhân tố về cơ chế, chính sách giải quyết việc làm cho lao động nữ của Nhà nước 31
1.4 KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ QUẬN, THÀNH PHỐ TRONG GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NỮ 33
1.4.1 Kinh nghiệm của thành phố Hồ Chí Minh 33
1.4.2 Kinh nghiệm của thành phố Hà Nội 34
1.4.3 Bài học kinh nghiệm rút ra từ công tác giải quyết việc làm của thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội 35
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NỮ TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN SƠN TRÀ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 37
2.1 CÁC ĐẶC ĐIỂM ẢNH HƯỞNG TỚI GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NỮ TẠI QUẬN SƠN TRÀ THÀNH PHỐ ĐÀ NĂNG 37
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 37
2.1.2 Đặc điểm kinh tế 38
2.1.3 Đặc điểm xã hội 41
2.1.4 Tình hình việc làm của lao động nữ ở Sơn Trà ảnh hưởng đến công tác giải quyết việc làm cho lao động nữ 45
2.2 THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NỮ TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN SƠN TRÀ 49
2.2.1 Kết quả giải quyết việc làm cho lao động nữ 49
2.2.2 Giải quyết việc làm thông qua thúc đẩy phát triển kinh tế để tạo việc làm cho người lao động 50
2.2.3 Giải quyết việc làm thông qua hỗ trợ vốn vay 52
Trang 62.2.4 Tăng cường đào tạo nâng cao năng lực cho người lao động để giải quyết việc làm 53 2.2.5 Thúc đẩy kết nối cung – cầu trên thị trường lao động 55 2.2.6 Giải quyết việc làm thông qua hỗ trợ di chuyển lao động 56 2.3 NHỮNG THÀNH CÔNG – TỒN TẠI, HẠN CHẾ VÀ NGUYÊN NHÂN HẠN CHẾ TRONG CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NỮ Ở QUẬN SƠN TRÀ 59 2.3.1 Thành công trong công tác giải quyết việc làm cho lao động nữ ở Sơn Trà 59 2.3.2 Những tồn tại - hạn chế 60 2.3.3 Nguyên nhân của tồn tại hạn chế 61
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG
NỮ TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN SƠN TRÀ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 62
3.1 CƠ SỞ TIỀN ĐỀ CHO VIỆC ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP 62 3.1.1 Các dự báo về thay đổi môi trường việc làm cho lao động nữ trong tương lai 62 3.1.2 Cơ sở pháp lý cho việc giải quyết việc làm 63 3.1.3 Mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế xã hội quận Sơn Trà đến năm
2020, chiến lược 2030 64 3.1.4 Mục tiêu quan điểm giải quyết việc làm ở Quận Sơn Trà trong những năm đến 65 3.2 CÁC GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NỮ TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 66 3.2.1 Nhóm giải pháp nhằm phát triển kinh tế - xã hội để tạo việc làm cho người lao động 66 3.2.2 Giải pháp nhằm tăng cường năng lực làm việc cho lao động nữ trên địa bàn quận Sơn Trà 74
Trang 73.2.3 Nhóm giải pháp đẩy mạnh kết nối cung cầu thị trường lao động 78 3.2.4 Giải pháp giải quyết việc làm cho lao động nữ thông qua hỗ trợ di chuyển lao động 81 3.2.5 Nhóm giải pháp nhằm giải quyết các khó khăn, bất lợi của lao động nữ Sơn Trà trong quá trình tìm kiếm việc làm 84
KẾT LUẬN 89 KIẾN NGHỊ 91 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)
GIẤY ĐỀ NGHỊ BẢO VỆ LUẬN VĂN
BIÊN BẢN HỌP HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ LUẬN VĂN (Bản sao)
NHẬN XÉT CỦA PHẢN BIỆN 1
NHẬN XÉT CỦA PHẢN BIỆN 2
BẢN GIẢI TRÌNH CHỈNH SỬA LUẬN VĂN
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 92.10 Tỷ trọng lao động chia theo khu vực kinh tế 46
2.11 Tỷ lệ thất nghiệp, thiếu việc làm của lao động nữ trên địa
bàn quận giai đoạn (2012 – 2016) 47 2.12 Thất nghiệp lao động nữ chia theo nhóm tuổi 2016 48 2.13 Kết quả giải quyết việc làm giai đoạn 2012 – 2016 49 2.14 Kết quả giải quyết việc làm năm 2016 50 2.15 Quản lý doanh nghiệp trên địa bàn qua các năm 51 2.16 Quản lý vốn vay giải quyết việc làm trên địa bàn quận 52 2.17 Kết quả giải quyết việc làm qua đào tạo nghề 54 2.18 Kết quả ra soát thị trường lao động và giới thiệu việc làm 55 2.19 Tình hình xuất khẩu lao động trên địa bàn quận 57 2.20 Lao động chuyển đổi nghề nghiệp toàn quận 58
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việc làm là một trong những nhu cầu cơ bản của con người để đảm bảo cuộc sống và sự phát triển toàn diện Quyền lao động và đảm bảo việc làm của người lao động đã được khẳng định trong Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và đã được cụ thể hoá trong Bộ luật Lao động đầu tiên ở nước ta Việc làm, giải quyết việc làm cho người lao động là một trong những ưu tiên hàng đầu trong các chính sách phát triển kinh tế – xã hội của nước ta Tuy nhiên, để thực hiện được điều đó, cần hoàn thiện chính sách, pháp luật về việc làm
Hệ thống chính sách việc làm với mục tiêu tạo ra nhiều việc làm cho người lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp, đảm bảo việc làm cho lao động nữ, lao động trẻ, lao động nghèo…được xem là một trong những ưu tiên hàng đầu của chính sách việc làm quốc gia
Tuy nhiên thực tế trong những năm qua, khoảng cách thu nhập giữa nam
và nữ ngày càng tăng ở Việt Nam, trong khi đó tỷ lệ phụ nữ tham gia lực lượng lao động trong nước ở mức cao so với thế giới, Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) cho biết Báo cáo Điều tra Lao động cho thấy thu nhập bình quân hàng tháng của phụ nữ thấp hơn nam giới ở tất cả các khu vực kinh tế - Nhà nước, ngoài Nhà nước và đầu tư nước ngoài Ngay cả trong các ngành nghề chủ yếu tuyển dụng phụ nữ như y tế, công việc xã hội và bán hàng, phụ
nữ vẫn chịu mức lương thấp hơn các đồng nghiệp nam
Qua đó ta có thể thấy giải quyết việc làm cho lao động nữ đang làm vấn
đề bức xúc, bên cạnh việc giải quyết việc làm thì còn cải thiện thu nhập và chất lượng công việc của lao động nữ Vì vậy, cần phải phát triển và tăng trưởng kinh tế trên cơ sở khai thác có hiệu quả các nguồn lực, tiềm năng thế mạnh của các địa phương, động viên, hướng dẫn và tạo điều kiện cho người
Trang 11dân phát triển sản xuất, tạo ra của cải vật chất ngày càng dồi dào, từ đó thì vấn
đề việc làm mới được cải thiện và qua đó lao động nữ cũng có cơ hội nhiều hơn trong tìm kiếm việc làm
Không nằm ngoài vấn đề chung, đặc biệt là trên địa bàn quận Sơn Trà nói riêng và thành phố Đà Nẵng nói chung thì là động nữ cũng là vấn đề nóng cần được giải quyết Tại quận Sơn Trà, tỷ lệ thất nghiệp đối với lao động còn cao, cao hơn so với mức trung bình chung của thành phố Đà Nẵng và cả nước Công tác giải quyết việc làm cho người lao động cũng còn nhiều hạn chế Cụ thể như: việc chuyển đổi ngành nghề, tập trung đông các phụ nữ đơn thân ở phường Nại Hiên chưa có việc làm ổn định, hộ nghèo ở Thọ Quang – Mân Thái, hay phụ nữ tuổi từ trung niên trở lên thì chưa có chương trình nào thật
sự cụ thể cho các đối tượng này…ngay cả việc triển khai các chương trình, chính sách giải quyết việc làm cũng chưa đạt hiệu quả cao và còn thực hiện ở quy mô nhỏ, thí điểm hay mô hình Chính vì vậy, vấn đề giải quyết việc làm càng trở trên bức thiết, đặc biệt là việc làm lao động nữ Xác định được thực trạng, tìm ra nguyên nhân, từ đó đề ra biện pháp hữu hiệu, có tính khả thi để giải quyết việc làm cho người lao động trên địa bàn quận Sơn Trà, thành phố
Đà Nẵng là yêu cầu rất quan trọng, có ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn cho địa phương có thể dùng như là tài liệu tham khảo nhằm đưa ra các chính sách, chủ trương trong công tác giải quyết việc làm cho lao động nữ trên địa bàn quận Sơn Trà
Xuất phát từ yêu cầu thực tế đó, bản thân tôi cũng đang công tác tại quận
Sơn Trà tôi lựa chọn đề tài “Giải quyết việc làm cho lao động nữ trên địa bàn quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng” để làm đề tài cho luận văn cao học của
mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Tổng hợp một các có hệ thống các vấn đề lý luận căn bản về việc làm
Trang 12và giải quyết việc làm, đặc biệt là giải quyết việc làm cho lao động nữ; các nhân tố ảnh hưởng đến giải quyết việc làm và hệ thống giải pháp
- Khái quát được đặc điểm tự nhiên – kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến công tác giải quyết việc làm; đánh giá lại thực trạng công tác giải quyết việc làm trên địa bàn quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng để từ đó thấy được những thành công, hạn chế và các nguyên nhân của công tác này trong thời gian qua Nhằm tìm ra các khoảng trong nghiên cứu
- Đưa ra được hệ thông các giải pháp nhằm làm cơ sở tham khảo cho việc thúc đẩy có hiệu quả công tác giải quyết việc làm cho lao động nữ trên địa bàn quận Sơn Trà trong tương lai
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là giải quyết việc làm cho lao động nữ; Phạm vi nghiên cứu: địa bàn quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng
+ Về nội dung: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu các vấn đề nhằm giải quyết việc làm cho lao động nữ trên địa bàn quận Sơn Trà
+ Về không gian: Nội dung nghiên cứu trên được tiến hành tại quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng
+ Về thời gian: Đánh giá lại thực trạng việc làm của Sơn Trà giai đoạn 2012-2016, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp trong luận văn có ý nghĩa đến năm 2020, tầm nhìn 2030
4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
a Cách tiếp cận
Tiếp cận theo duy vật lịch sử: trong luận văn tác giả sẽ dựa trên việc nghiên cứu các dữ liệu quá khứ và hiện tài để phân tích nhằm phát hiện các mối liên hệ có tính quy luật vận dụng cho việc xây dựng các giải pháp cho tương lai
Tiếp cận theo duy vật biên chứng: dựa trên phân tích các mối liên hệ về
Trang 13nguyên nhân và kết quả, cũng như phần tích nội dung, tính chất của vấn đề từ
đó đưa ra kết luận
b Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu trên, đề tài sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: thu thập số liệu thứ cấp từ các báo cáo kết quả, các báo cáo về xuất khẩu lao động, các báo về lao động việc làm, đào tạo nghề cho lao động, tình hình phát triển kinh tế trên địa bàn quận
từ năm 2012 đến năm 2016 (Dữ liệu thứ cấp được thu thập thông qua các
nguồn chính là: Nguồn bên trong: Từ các báo cáo tình hình thực hiện kế
hoạch kinh tế - xã hội quận hàng nằm từ năm 2012-2016, từ số liệu niêm giám thông kê, phòng Thống kê quận, báo cáo của phòng Lao động – Thương binh
và Xã hội; Nguồn bên ngoài: Những tài liệu chuyên ngành tạo việc làm, giải
quyết việc làm, hỗ trợ việc làm: tài liệu tham khảo, giáo trình, báo, tạp chí, tài liệu dự trữ, văn bảo liên quan đến giải quyết việc làm cho lao động thất nghiệp, thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng, công trình khoa học đã nghiên cứu và hoàn thiện trước đó )
- Phương pháp xử lý dữ liệu: Dựa trên số liệu thứ cấp được thu thập, tác giả lập các bảng biểu sơ đồ, đưa ra nhận xét một cách tổng thể đối với số liệu được thu thập, trích dẫn các nguồn tham khảo
- Ngoài ra, luận vă còn sử dụng các phương pháp: Phân tích thực chứng
để trả lời các câu hỏi tại sao công tác giải quyết việc làm ở Sơn Trà có những
kết quả đạt được và tồn tại như vậy Phân tích thống kê mô tả cho biết sự thay
đổi của công tác giải quyết việc làm qua các năm Cách phân tích này sẽ cho
phép chỉ ra những khiếm khuyết và nguyên nhân của chúng Phương pháp tổng hợp và khái quát hóa được thực hiện để cho ra những đánh giá và kết
luận xác đáng làm cơ sở đề ra giải pháp hoàn thiện công tác trong thời gian
Trang 14tới Phương pháp chuẩn tắc được thực hiện nhằm trả lời câu hỏi làm thể nào
để quản lý chi ngân sách của địa phương tốt hơn trong những năm tới
5 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, mục lục, phụ lục, danh mục các bảng, đồ thị, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về việc làm cho lao động nữ
Chương 2: Thực trạng giải quyết việc làm cho lao động nữ ở quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng
Chương 3: Những giải pháp nhằm giải quyết việc làm cho lao động nữ ở quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng
6 Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Để thực hiện luận văn này, tác giả đã đọc, tìm hiểu một số công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước liên quan đến lĩnh vực này đã được công bố trên các sách báo, tạp chí, cụ thể:
Bùi Quang Bình (2007), Giáo trình kinh tế lao động Nhà xuất bản
TT&TT Nội dung giáo trình cung cấp các kiến thức cơ bản về lao động, việc làm, các công cụ để thúc đẩy tạo việc làm cho người lao động Ngoài ra, giáo trình cũng cung cấp các thông tin liên quan đến phát triển thị trường lao động
ở Việt Nam trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường Thông qua các
cơ chế hoạt động của thị trường lao động giúp chúng ta hiểu được cung cầu thị trường lao động, những thay đổi của người lao động và doanh nghiệp khi môi trường kinh doanh thay đổi, tác động của các chính sách giải quyết việc làm của chính phủ
Hoàng Tú Anh (2012) “Giải quyết việc làm cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng” Luận văn thạc sĩ kinh tế
Luận văn tác giả đã hệ thống hoá các khái niệm về việc làm, giải quyết việc làm cho lao động nông thôn, đồng thời đưa ra các chỉ tiêu nhằm đánh giá các
Trang 15vấn đề giải quyết việc làm hiệu quả và đưa ra giải pháp dựa trên phân tích các vấn đề
Đỗ Thị Mai Huyền (2014) “Giải quyết việc làm cho lao động nông thôn huyện Phù Mỹ - Tỉnh Bình Định” Luận văn thạc sĩ kinh tế Trong luận văn
tác giả đã phân tích cung – cầu thị trường lao động, phân tích sâu công tác giải quyết việc làm cho người lao động từ đó tìm thấy những thành công và hạn chế làm cơ sở cho việc đưa ra giải pháp
Nguyễn Hữu Hải, Lê Văn Hoà (2013), “Giáo trình chính sách công”
Chính phủ đưa ra các chính sách công nhằm nâng cao đời sống, cải thiện môi trường kinh doanh, giúp phát triển kinh tế xã hội Chính phủ quy định các loại thuế đối với các doanh nghiệp, những lao động trong và ngoài nước, ngoài ra còn thực hiện các chính sách trợ cấp để giải quyết những mâu thuẩn trong hiệu quả kinh tế và công bằng xã hội Các chính sách giải quyết việc làm được nhà nước đầu tư và chú trọng, tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp phát triển, hỗ trợ vốn vay cho các đối tượng chính sách
Trần Đình Chín, Nguyễn Dũng Anh (2014), “Việc làm cho người lao động bị thu hồi đất trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa ở vùng kinh tế trọng điểm Trung bộ”, NXB Chính trị Quốc gia năm 2014 Nội dung cuốn
sách gồm 3 chương, đề cập đến những cơ sở lý luận và thực tiễn về việc làm, giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa; phân tích thực trạng chất lượng lao động, việc làm và tình hình giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất ở vùng kinh tế trọng điểm Trung Bộ với những hạn chế và một số vấn đề đặt ra Trên cơ sở
đó, các tác giả đã đề xuất một số giải pháp nhằm giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất ở khu vực kinh tế trọng điểm Trung Bộ trong thời gian tới
Nguyễn Trần Ánh (2014), “Chính sách việc làm ở Việt Nam – thực trạng
Trang 16và định hướng hoàn thiện” Tạp chí kinh tế & phát triển Chính sách việc làm
là một trong chính sách cơ bản của mỗi quốc gia Thông qua tạo thêm việc làm và đảm bảo việc làm cho người lao động, chính sách việc làm có mục tiêu
xã hội là nâng cao phúc lợi cho người dân, thực hiện công bằng xã hội, đảm bảo cho người dân hòa nhập xã hội, giảm dần sự tách biệt xã hội Chính sách việc làm ở nước ta thời gian qua đã từng bước thực hiện được mục tiêu đó, tuy vậy, vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập cần khắc phục Bài viết này góp phần làm rõ thực trạng chính sách việc làm ở nước ta hiện nay, từ đó đưa ra định hướng hoàn thiện chính sách việc làm tới năm 2020
Lê Thị Hồng Diệp (2014), “Những hạn chế về lao động và việc làm trên thị trường lao động ở Việt Nam hiện nay” Tạp chí khoa học – Đại học Quốc
gia Hà Nội Bài viết tập trung phân tích những hạn chế về lao động và việc làm trên thị trường lao động Việt Nam, trong đó nổi bật nhất là: (i) Cơ cấu lao động và việc làm còn nhiều bất hợp lý; (ii) Chất lượng lao động và việc làm còn rất thấp Để khắc phục những hạn chế này, cần nâng cao năng lực làm chủ của lực lượng lao động thông qua hai cách thức cơ bản là đổi mới toàn diện nền giáo dục - đào tạo của quốc gia và gia tăng sức ép cạnh tranh thông qua hội nhập quốc tế Từ khóa: Lao động, việc làm, thất nghiệp, thị trường lao động
Trần Việt Tiến (2012), “Chính sách việc làm ở Việt Nam: Thực trạng và định hướng hoàn thiện” Bài viết này góp phần làm rõ thực trạng chính sách
việc làm ở nước ta hiện nay, từ đó đưa ra định hướng hoàn thiện chính sách việc làm tới năm 2020
Ban kinh tế Trung ương (2015), “Vấn đề lao động, việc làm, thách thức giải pháp” Các kết quả đánh giá của ban KTTW cho thấy, đặc điểm cơ bản
của việc làm tại Việt Nam chủ yếu tập trung vào khu vực phi chính thức và khu vực nông nghiệp Tỷ trọng lao động hưởng lương trong khu vực phi
Trang 17chính thức thấp, chủ yếu là lao động tự làm và lao động gia đình không được trả công, đặc biệt trong khu vực nông nghiệp, do vậy việc đo lường một số yếu tố đánh giá tỷ lệ thất nghiệp, thiếu việc làm, chất lượng việc làm, năng suất lao động sẽ gặp khó khăn như vấn đề an toàn lao động, thu nhập
Tóm lại, qua tìm hiểu các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước,
tác giả nhận thấy vấn đề việc làm cho lao động nữ đang là vấn đề được cả thế giới quan tâm Việc giải quyết việc làm cho lao động nữ thường gặp khó khăn
do một số đặc điểm đặc thù của bản thân lao động nữ mà cụ thể là sự khác biệt về tâm sinh lý, vấn đề dễ bị tổn thương, vấn đề bị phân biệt đối xử… Để giải quyết việc làm cho lao động nữ, cần phải có sự nỗ lực của cả cộng đồng trong đó quan trọng nhất là các chính sách giải quyết việc làm cho phụ nữ của Chính phủ, sự vào cuộc quyết liệt của các cấp chính quyền địa phương, sự tham gia của các tổ chức đoàn thể xã hội và đặc biệt là sự nỗ lực của bản thân lao động nữ Các công trình nghiên cứu đã công bố cũng đã cho thấy các kinh nghiệm tốt và những định hướng hiệu quả trong việc giải quyết việc làm cho lao động nữ tại nhiều địa phương trong và ngoài nước, là thông tin có giá trị giúp cho tác giả tham khảo, vận dụng trong quá trình nghiên cứu vấn đề này tại địa bàn quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng trong tương lai Và cho đến nay chưa có ai nghiên cứu vấn đề này tại quận Sơn Trà nên việc nghiên cứu đề tài này là phù hợp và có ý nghĩa trong công tác giải quyết việc làm cho lao động
nữ quận Sơn Trà
Trang 18CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO
LAO ĐỘNG NỮ 1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM
1.1.1 Việc làm và thất nghiệp
a Việc làm
Các nhà kinh tế học Anh cho rằng: “Việc làm, theo nghĩa rộng, là toàn
bộ các hoạt động kinh tế của một xã hội, nghĩa là tất cả những gì quan hệ đến cách kiếm sống của một con người, kể cả các quan hệ xã hội và các tiêu chuẩn hành vi tạo thành khuôn khổ, của quá trình kinh tế ” Theo quan điểm này thì tất cả những hoạt động tạo ra thu nhập mà không cần phân biệt có được pháp luật cho phép hay ngăn cấm, đều được gọi là việc làm Quan điểm này chỉ đặt nặng vấn đề kinh tế của việc làm, trong khi đó, tính pháp lý là một trong những nguyên tắc cơ bản để xác định việc làm thì chưa đề cập đến
Theo tổ chức Lao động quốc tế (ILO), khái niệm việc làm chỉ đề cập đến trong mối quan hệ với lực lượng lao động, khi đó việc làm được phân thành hai loại: Có trả công (những người làm thuê, học việc) và không được trả công (những người như giới chủ làm kinh tế gia đình) Do đó việc làm có thể được định nghĩa như một tình trạng trong đó có sự trả công bằng tiền hoặc hiện vật, do có sự tham gia tích cực có tính chất cá nhân và trực tiếp vào nỗ lực sản xuất Khái niệm này đã được chính thức thông qua tại Hội nghị quốc
tế của ILO lần thứ 13 (1993) và đã được nhiều nước trên thế giới áp dụng Tuy nhiên khái niệm này mang nghĩa rất rộng bao trùm mọi hoạt động lao động của con người Nếu xem tất cả các công việc được trả công (được nhận thù lao) là việc làm thì sẽ dẫn đến sự thừa nhận các hoạt động bất hợp pháp như (các hoạt động tội phạm buôn bán ma túy, khủng bố ) các hoạt động vi
Trang 19phạm đạo đức xã hội (mại dâm), truyền thống các dân tộc cũng xem là việc làm Mặt khác, mỗi một quốc gia có một quan niệm khác nhau về việc làm để phù hợp với phong tục tập quán, quan điểm, điều kiện lịch sử của quốc gia mình, có những hoạt động được quốc gia này xem là việc làm nhưng nếu đặt ở quốc gia khác thì bị cho là vi phạm pháp luật làm ảnh hưởng đến trật tự
xã hội và an ninh quốc gia đó thì sẽ bị xem là phạm pháp, và không chỉ coi đó
là việc làm Do đó khái niệm trên chỉ mang tính khái quát là cơ sở nghiên cứu vấn đề chung, cho các nước trên thế giới
Ở Việt Nam, quan niệm về việc làm đã được cụ thể hóa tại điều 13, chương II của Bộ luật Lao động, như sau: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm, đều được thừa nhận là việc làm” Như vậy, một việc làm phải hội đủ 3 yếu tố: là hoạt động lao động của con người; hoạt động tạo ra thu nhập (kể cả công việc được trả công hay không được trả công); không bị pháp luật ngăn cấm
Theo tác giả Bùi Anh Tuấn cho rằng “Việc làm có thể được hiểu là phạm
trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động với tư liệu sản xuất hoặc những phương tiện để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội”
{11,tr8} cũng như các quan điểm vừa nêu, quan niệm này xem việc làm là một chỗ làm việc cụ thể nào đó của quá trình lao động được diễn ra, nhằm phân biệt với tình trạng thất nghiệp hoặc không làm việc Quan niệm này đã nêu lên các đặc trưng về việc làm như:
- Là sự biểu hiện quan hệ của hai yếu tố là sức lao động kết hợp với tư liệu sản xuất, là trạng thái phù hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất hoặc những phương tiện mà họ sử dụng để làm việc
- Lấy các lợi ích (vật chất và tinh thần) mà các hoạt động đem lại để xem xét hoạt động đó có được coi là việc làm hay không
Theo giáo trình kinh tế lao động của khoa kinh tế lao động và dân số
Trang 20trường đại học Kinh Tế quốc dân Hà Nội, khái niệm việc làm được hiểu “là
phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết (vấn, tư liệu sản xuất, công nghệ ) để sử dụng sức lao động đó {trang
48}
Từ những phân tích ở trên, trong luận văn này tác giả đồng tình với khái
niệm việc làm là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp với sức lao động và
những điều kiện cần thiết (vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ ) để sử dụng sức lao động đó
b Thiếu việc làm và thất nghiệp
Thất nghiệp
Theo tổ chức lao động quốc tế: “Thất nghiệp là tình trạng tồn tại khi một
số người trong độ tuổi lao động muốn làm việc nhưng không thể tìm được việc làm ở mức tiền công thịnh hành”
Thất nghiệp là một khái niệm vừa mang tính quốc tế vừa mang tính xã hội, nó mang nghĩa ngược với có việc làm Nói đến thất nghiệp là nói đến sự khó khăn cho việc hoạch định chính sách quốc gia Tuy nhiên trên thực tế tỷ
lệ thất nghiệp hợp lý là điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế
Phân loại thất nghiệp:
- Theo nhóm dân cư gồm: thất nghiệp chia theo giới tính, thất nghiệp chia theo vùng lãnh thổ, thất nghiệp chia theo dân tộc, chủng tộc, thất nghiệp chia theo lứa tuổi
Trang 21- Theo lý do thất nghiệp, gồm: mất việc, bỏ việc, nhập mới, tái nhập
- Theo nguồn gốc thất nghiệp: thất nghiệp tạm thời, thất nghiệp do cơ cấu, thất nghiệp chu kỳ, thất nghiệp do yếu tố ngoài môi trường
- Theo quan hệ cung cầu lao động: thất nghiệp tự nguyện, thất nghiệp không tự nguyện
c Phân loại việc làm
Theo mức độ sử dụng thời gian làm việc, có việc làm chính và việc làm phụ Việc làm chính là công việc mà người thực hiện giành nhiều thời gian nhất hoặc có thu nhập cao hơn so với công việc khác Việc làm phụ là công
việc mà người thực hiện giành nhiều thời gian nhất sau công việc chính
Ngoài ra, người ta còn chia việc làm thành việc làm toàn thời gian, bán
thời gian, việc làm thêm
- Việc làm toàn thời gian: Chỉ một công việc làm 8 tiếng mỗi ngày, hoặc
theo giờ hành chính 8 tiếng mỗi ngày và 5 ngày trong tuần
- Việc làm bán thời gian: Mô tả công việc làm không đủ thời gian giờ hành chính quy định của Nhà nước 8 tiếng mỗi ngày và 5 ngày mỗi tuần Thời
gian làm việc có thể dao động từ 0 5 đến 5 tiếng mỗi ngày và không liên tục
- Việc làm thêm: Mô tả một công việc không chính thức, không thường
xuyên bên cạnh một công việc chính thức và ổn định
Trong thời kỳ hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay, Tổ chức lao động quốc
tế (ILO) còn khuyến cáo và đề cập tới việc làm nhân văn hay việc làm bền
vững
1.1.2 Giải quyết việc làm
Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2001- 2010 được Đại hội đại biểu toàn quốc ĐCSVN lần IX xác định: “Giải quyết việc làm là yếu tố quyết định để phát huy nhân tố con người, ổn định và phát triển kinh
tế, làm lành mạnh xã hội, đáp ứng nguyện vọng chính đáng và yêu cầu bức
Trang 22xúc của nhân dân” Vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động là rất cần thiết, không những mang tầm quốc gia mà vượt ra bên ngoài khu vực và biên giới Tùy thuộc vào cách tiếp cận và mục đích nghiên cứu khác nhau mà người ta đưa ra khái niệm về giải quyết việc làm
Giải quyết việc làm không chỉ có nhiệm vụ chức năng của Nhà nước mà còn là trách nhiệm của xã hội, của các cơ quan doanh nghiệp và ngay bản thân người lao động Hiện nay các chính sách của Nhà nước luôn quan tâm chú trọng đến tạo công ăn việc làm cho người lao động thông qua các văn bản quy phạm pháp luật, các chương trình, chính sách hỗ trợ tới tận hộ gia đình, các cá nhân sẵn sàng làm việc Chính vì vậy chính sách của nhà nước là một trong những tác động quan trọng rất mạnh mẽ đến việc làm của người lao động như khuyến khích các doanh nghiệp mở rộng sản xuất như giảm thuế tiền sử dụng đất, thuê nhà xưởng, văn phòng hỗ trợ về cơ sở hạ tầng điện đường, trường trạm nhằm phục vụ cho các công trình sản xuất
Chính sách nhà nước tác động toàn diện đến vấn đề giải quyết việc làm Bên cạnh đó, các chương trình quốc gia, các chiến lược phát triển, các hoạt động cụ thể của các doanh nghiệp tác động trực tiếp đến giải quyết việc làm cho người lao động như đào tạo nguồn lao động, tuyển dụng, bố trí sắp xếp lao động phù hợp năng lực và yêu cầu
Như vậy có thể hiểu Giải quyết việc làm là một quá trình tạo ra môi trường hình thành các chỗ làm việc và sắp xếp người lao động phù hợp với chỗ làm việc để có các việc làm chất lượng đảm bảo nhu cầu của cả người lao động và người sử dụng lao động, đồng thời đáp ứng được mục tiêu phát triển đất nước
Dựa trên phân tích các quan điểm về giải quyết việc làm ở trên thì có thể nói rằng giải quyết việc làm là tổng thể các biện pháp, chính sách kinh tế - xã hội của nhà nước, cộng đồng và bản thân người lao động tác động đến mọi
Trang 23mặt của đời sống xã hội tạo điều kiện thuận lợi để đảm bảo rằng những người
có khả năng lao động có việc làm hay tìm kiếm được việc làm
1.1.3 Vai trò của giải quyết việc làm
Để thấy rõ vai trò của giải quyết việc làm cho người lao động thì ta đánh giá mức độ ảnh hưởng của thất nghiệp Thất nghiệp làm cho người lao động hoang mang buồn chán và thất vọng, tinh thần luôn bị căng thẳng và dẫn tới khủng hoảng lòng tin Người lao động bị thất nghiệp, tức mất việc làm, sẽ mất nguồn thu nhập Do đó, đời sống bản thân người lao động và gia đình họ
sẽ khó khăn Điều đó ảnh hưởng đến khả năng tự đào tạo lại để chuyển đổi nghề nghiệp, trở lại thị trường lao động; con cái họ sẽ khó khăn khi đến trường; sức khoẻ họ sẽ giảm sút do thiếu kinh tế để bồi dưỡng, để chăm sóc
y tế…Có thể nói, thất nghiệp “đẩy” người lao động đến bần cùng, đến chan nản với cuộc sống, với xã hội; dẫn họ đến những sai phạm đáng tiếc… Chính
vì vậy, giải quyết việc làm, đặc biệt là cho lao động nữ góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thân cho người lao động, góp phần ổn định đời sống của
cá nhân người lao động và gia đình của họ
b Đối với nền kinh tế:
Đối với nền kinh tế thì lao động là một trong những nguồn lực quan trọng, là đầu vào không thể thay thế của một số ngành, vì vậy nó là nhân tố tạo nên tăng trưởng kinh tế và thu nhập quốc dân Chính vậy vậy, giải quyết việc làm góp phần làm ổn định nền kinh tế và đảm bảo đầu vào ổn định cho sản xuất kinh tế, góp phần làm cho nền kinh tế phát triển bền vững Ngược lại, khi nền kinh tế tăng trưởng và phát triển thì cũng đáp ứng và duy trì được lợi ích của người lao động và phát huy tối đa tiềm năng của người lao động
c Đối với xã hội
Cá nhân, gia đình là yếu tố cấu thành xã hội, chính vì vậy giải quyết việc
Trang 24làm cho cá nhân và gia đình ảnh hưởng trực tiếp đến xã hội Khi các cá nhân trong xã hội được giải quyết việc làm và có việc làm ổn định thì xã hội được duy trì ổn định và phát triển vì không có những mâu thuẫn nội sinh trong xã hội, không có tiêu cực, tệ nạn xã hội, con người dần dần hoàn thiện về mặt nhân cách và trí tuệ… Ngược lại, khi nên kinh tế không thể giải quyết việc làm cho người lao động thì gây nên nhiều tình trạng tiêu cực trong xã hội, ảnh hưởng xấu đến nhân các của con người Con người có nhu cầu lao động và làm việc ngoài đáp ứng các nhu cầu về vật chất thì còn đáp ứng nhu cầu phát triển và hoàn thiện bản thân chính vì vậy khi không có việc làm thì ảnh hưởng đến long tự tin của mỗi người và bản thân họ xa lánh công động và dễ gây nên tình trạng tệ nạn xã hội Ngoài ra, khi giải quyết việc làm không được chú trọng thì thất nghiệp tăng và sẽ tạp nên khoảng các giàu nghèo và đây cũng là nguyên nhân dẫn đến các mâu thuẩn xã hội làm ảnh hưởng đến xã hội và tình hình chính trị
1.1.4 Đặc điểm đặc thù của lao động nữ ảnh hưởng đến công tác giải quyết việc làm
Phụ nữ là một lực lượng lao động quan trọng trong lực lượng lao động
xã hội Tuy nhiên, có sự khác biệt về đặc điểm tâm sinh lý giữa lao động nam
và lao động nữ nên đối với lao động nữ, khi đề cập, chúng ta phải xem xét đến các đặc thù cơ bản là:
• Phụ nữ thường hạn chế về thể lực so với nam giới và có thiên chức mang thai, sinh con, nuôi con: Vì phải sinh con, nuôi con nên thời gian làm việc của lao động nữ gặp khó khăn hơn Trong điều kiện kinh tế thị trường, vấn đề này luôn
được coi là "hạn chế của phụ nữ" với tư cách người đi tìm việc
• Điều kiện sinh hoạt của lao động nữ thường phức tạp hơn so với nam giới: Lao động nữ có đặc điểm tâm sinh lý phức tạp hơn nam giới, tồn tại chu
kỳ sinh lý nên dẫn đến khó khăn trong quá trình thực hiện công việc cũng như
Trang 25các hoạt động xã hội khác
• Lao động nữ thường có bản tính rụt rè, tỷ lệ được đào tạo thấp, kém tự tin vào chính bản thân mình nên thường gặp khó khăn tìm kiếm việc làm trên thị trường lao động bị cạnh tranh như hiện nay
• Lao động nữ thường gặp bất lợi do sự phân biệt đối xử: Mặc dù thế giới đã văn minh, tuy nhiên tình trạng trọng nam - khinh nữ vẫn còn ăn sâu trong suy nghĩ của xã hội dẫn đến phụ nữ thường bị phân biệt đối xử
• Lao động nữ thường dễ bị tổn thương hơn nam giới: Do đặc điểm tâm sinh lý nên dẫn đến ngưỡng giới hạn chịu đựng của lao động nữ thường thấp hơn nam giới vì vậy họ thường dễ bị tổn thương hơn khi có tác động bất lợi Điều này khiến nữ giới thường bị hạn chế hơn trong việc tiếp cận việc làm
1.2 NỘI DUNG GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG
NỮ
1.2.1 Tạo việc làm thông qua phát triển kinh tế
Phát triển kinh tế là sự tăng trưởng kinh tế gắn liền với sự hoàn thiện cơ cấu, thể chế kinh tế, nâng cao chất lượng cuộc sống và bảo đảm công bằng xã hội Muốn phát triển kinh tế trước hết phải có sự tăng trưởng kinh tế Nhưng không phải sự tăng trưởng kinh tế nào cũng dẫn tới phát triển kinh tế
Tăng trưởng kinh tế thường tạo việc làm cho người dân nhưng mức độ còn phụ thuộc vào mối quan hệ vốn, lao động và công nghệ Thời gian vừa qua, đóng góp của các yếu tố vốn và lao động vào tăng trưởng khá cao Trong điều kiện trình độ khoa học, công nghệ còn thấp, tăng trưởng dựa vào vốn và lao động hay tăng trưởng theo chiều rộng là phù hợp và tạo được nhiều việc làm Đối với các quốc gia có trình độ công nghệ, đầu tư như Việt Nam, tăng trưởng kinh tế là nhân tố đặc biệt quan trọng đối với vấn đề tạo việc làm
Sự tăng trưởng kinh tế gắn liền với sự hoàn thiện cơ cấu kinh tế, mà cơ cấu kinh tế của nước ta đang chuyển dịch tích cực, theo hướng công nghiệp
Trang 26hóa, hiện đại hóa, hội nhập kinh tế thế giới Tỷ trọng ngành nông nghiệp trong GDP giảm xuống, tăng tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ Đồng thời dịch chuyển lao động từ khu vực nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ Dịch chuyển cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động tạo ra một số điều kiện tốt cho việc làm của lao động qua đào tạo nghề
Thúc đẩy kinh tế nhằm tạo việc làm trong bối cảnh của quận thì cần chú trọng giải quyết các nội dung sau:
a Khuyến khích các nguồn vốn đầu tư
Việc kêu gọi các nguồn vốn đầu tư từ các doanh nghiệp trên địa bàn là yếu tố quan trọng nhằm tạo việc làm, chính sách này không nhưng đi theo hướng công nghiệp hoá và hiện đại hoá mà còn tận dụng tối đa nguồn lực tư nhân cùng với nhà nước trong việc tạo ra việc làm và giải quyết việc làm cho người lao động
Để khuyến khích được các nguồn vốn đầu tư thì cần phải hoàn thiện các thủ tục hành chính để có thể rút ngắn thời gian xin cấp phép cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn quận Cần phải quán triệt tinh thần nhất quán
từ cấp cáo đến các ban ngành địa phường trong công tác quản lý các doanh nghiệp trên địa bàn, tránh tình trạng trên trải thảm, dưới rãi đinh Bên cạnh
đó, cũng kết hợp với các chủ doanh nghiệp để có thể đảm bảo nguồn lao động đáp ứng đủ cho nhu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp để họ có thể yên tâm khi thành lập các doanh nghiệp
b Thúc đẩy phát triển kinh doanh hộ gia đình
Hiện nay, trong bối cảnh đô thị hoá thì việc thúc đẩy các hộ kinh doanh
cá thể nhằm tạo ra việc làm cho người lao động là cần thiết, đảm bảo cho nên kinh tế phát triển và cũng tạo ra việc làm ổn định cho người lao động
Đối với nội dung này, cần hướng đến khuyến khích các hộ gia đình thành lập các công ty, nhằm thu hút thêm người lao động vào làm việc Đặc
Trang 27biệt là khuyến khích các ngành nghề chiếm dụng nguồn lao động nữ, như là các ngành thương mại, dịch vụ
Để làm được điều này, đòi hỏi mỗi địa phương cần phải tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho các hộ gia đình trong việc làm các thủ tục hành chính cho việc thành lập các công ty Giới thiệu nguồn lao động tại chỗ chất lượng và giá rẻ Nhà nước đóng vai trò trung gian trong việc thúc đẩy tạo ra mạng lưới các công ty địa phường nhằm mục đích hình thành các chuỗi công ty cung cấp nguồn nguyên liệu đầu vào và đầu ra cho các công ty nầy để tạo nên lợi thế cạnh tranh và thúc đẩy phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh của địa phương
1.2.2 Hỗ trợ vốn để giải quyết việc làm cho lao động nữ
Vốn cho vay của Quỹ quốc gia về việc làm (gọi là Quỹ cho vay giải quyết việc làm) được dung để cho vay hỗ trợ các dự án nhỏ nhằm tạo thêm việc làm, được quản lý thống nhất từ trung ương đến địa phương
Mục đích của cho vay vốn để giải quyết việc làm nhằm góp phần tạo việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị và nâng cao tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở khu vực nông thôn, chuyển dịch cơ cấu lao động, phù hợp với cơ cấu kinh tế, bảo đảm việc làm cho người có nhu cầu làm việc, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân
Đối tượng được vay vốn gồm: Hộ kinh doanh cá thể; tổ hợp sản xuất; hợp tác xã hoạt động theo Luật Hợp tác xã; cơ sở sản xuất kinh doanh của người tàn tật; doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động theo Luật Doanh nghiệp; chủ trang trại; Trung tâm Giáo dục Lao động - Xã hội (sau đây gọi chung là
cơ sở sản xuất, kinh doanh) và các hộ gia đình Các đối tượng thuộc diện vay vốn phải thực hiện các thủ tục vay vốn theo đúng quy định hiện hành đối với từng đối tượng và mức vốn vay, thời hạn hoàn trả
Để giải quyết việc làm cho lao động nữ, Nhà nước có thể tiến hành các
Trang 28chính sách hỗ trợ như: hỗ trợ vốn sản xuất, kinh doanh cho lao động nữ để phát triển sản xuất, chuyển đổi nghề nghiệp, tao thêm việc làm, cụ thể:
- Đối với các cá nhân, tổ chức kinh doanh: Chính phủ cung cấp các khoản vay với lãi suất ưu đãi để doanh nghiệp và hộ gia đình tạo thêm việc làm cho lao động nữ
- Đối với người lao động nữ: Nhà nước hỗ trợ hộ nghèo vay vốn phát triển sản xuất thông qua Chương trình dự án khác nhau
Ngoài ra, các chương trình khởi nghiệp đang là xu hướng nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế vào tạo việc làm Chính vì vậy, bên cạnh cho vay phát triển sinh kế hộ nghèo cũng cần thúc đẩy các hộ gia đình khởi nghiệp hoặc các thanh niên – sinh viên có các dự án khởi nghiệp cũng nên mạnh dạn cho vay vốn
1.2.3 Giải quyết việc làm thông qua tăng cường năng lực cho người lao động
a Đào tạo nghề cho người lao động
Đào tạo nghề (đào tạo nghề nghiệp) không phải là hình thức trực tiếp tạo
ra việc làm nhưng nó là một trong những giải pháp quan trọng giúp người lao động nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật nhằm tìm kiếm việc làm hoặc tự tạo việc làm
Đào tạo nghề góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động Trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa, đào tạo nghề trang bị kỹ năng, năng lực cho người lao động khi dịch chuyển từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp và dịch vụ Đa số người lao động ở khu vực nông nghiệp chưa có trình
độ chuyên môn kỹ thuật hoặc trình độ thấp nên không đáp ứng được yêu cầu
về công việc của khu vực công nghiệp Khi chuyển sang làm việc trong các khu công nghiệp hoặc các làng nghề cần phải đào tạo nghề mới đáp ứng được yêu cầu của công việc Đào tạo nghề làm tăng cơ hội tìm kiếm việc làm và
Trang 29tăng thu nhập cho các cá nhân, tạo khả năng thay đổi và dịch chuyển việc làm, nhanh chóng thích nghi với các biến đổi về kinh tế và xã hội
Hơn nữa, việc làm của lao động qua đào tạo nghề đóng vai trò quan trọng trong tổng thể việc làm của lực lượng lao động và trong kết cấu lao động có chuyên môn kỹ thuật Biểu hiện thông qua mức độ tập trung việc làm của lao động qua đào tạo nghề ở các khu vực công nghiệp, dịch vụ, khu vực kinh tế hiện đại Trong tương lai, khi khu vực nông nghiệp thu hẹp dần, lao động qua đào tạo nghề sẽ là lực lượng lao động chính tạo ra của cải vật chất cho nền kinh tế Xét trên góc độ người tiêu dùng trong nền kinh tế thì lực lượng lao động qua đào tạo nghề là những công dân tầng lớp trung lưu đông đảo và là những người tiêu dùng chính trên thị trường hàng hóa, dịch vụ Lao động qua đào tạo nghề đang là nhóm được quan tâm nhiều trong cạnh tranh nguồn nhân lực giữa các nước trong khu vực có nền kinh tế phát triển tương đồng Cạnh tranh có thể là gián tiếp thông qua hàng hóa xuất nhập khẩu hoặc cạnh tranh trực tiếp thông qua cung cấp kỹ năng trên thị trường lao động quốc tế Các nước phát triển tỷ trọng lao động làng nghề cao lớn hơn so với lao động có trình độ tay nghề thấp và không có tay nghề Ở nước ta, tỷ trọng lao động có trình độ CMKT bậc trung sẽ tăng nhanh Trong đó, nhóm lao động qua đào tạo nghề sẽ là lực lượng chủ đạo, biểu trung cho chất lượng nguồn nhân lực trong thời gian tới
Theo luật quy định, đào tạo nghề có ba trình độ đào tạo là sơ cấp nghề, trung cấp nghề, cao đẳng nghề Đào tạo nghề bao gồm đào tạo nghề chính quy
và đào tạo nghề thường xuyên
Mục tiêu cụ thể đối với từng trình độ của giáo dục nghề nghiệp được quy định như sau:
- Đào tạo trình độ sơ cấp để người học có năng lực thực hiện được các công việc đơn giản của một nghề;
Trang 30- Đào tạo trình độ trung cấp để người học có năng lực thực hiện được các công việc của trình độ sơ cấp và thực hiện được một số công việc có tính phức tạp của chuyên ngành hoặc nghề; có khả năng ứng dụng kỹ thuật, công nghệ vào công việc, làm việc độc lập, làm việc theo nhóm;
- Đào tạo trình độ cao đẳng để người học có năng lực thực hiện được các công việc của trình độ trung cấp và giải quyết được các công việc có tính phức tạp của chuyên ngành hoặc nghề; có khả năng sáng tạo, ứng dụng kỹ thuật, công nghệ hiện đại vào công việc, hướng dẫn và giám sát được người khác trong nhóm thực hiện công việc
Với địa bàn quận việc đào tạo nghề sẽ thông qua các cơ sở dạy nghề trên địa bàn, các cơ sở dạy nghề sẽ tổ chức dạy nghề ngắn hạn với thời gian khoảng 03 tháng đối với những người có nhu cầu học nghề Có thể tổ chức học nghề tại cơ sở của mình hoặc tổ chức trực tiếp tại địa bàn các phường Bên cạnh đó, việc đào tào nghề cũng nên tổ chức theo hướng hợp tác với các doanh nghiệp trên địa bàn nhằm tổ chức các khoá đào tạo tại các doanh nghiệp và nhận vào làm tại các doanh nghiệp sau khi tốt nghiệp các khoá đào tạo nghề
b Nâng cao kỹ năng cho người lao động tìm kiếm việc làm
Năng lực làm việc của người lao động bao gồm kiến thức – kỹ năng – thái độ làm việc, chính vì vậy, bên cạnh việc đạo tạo nghề nhằm nâng cao năng lực chuyên môn cho người lao động nhằm giải quyết việc làm thì cũng đòi hỏi phải trang bị cho người lao động kỹ năng và thái độ làm việc Đặc biệt
là các kỹ năng tìm kiếm việc làm
Để có kỹ năng tìm kiếm việc làm tốt thì trước hết người lao động cần có khả năng làm tốt hồ sơ xin việc Ngoài ra, đối với một số loại hình công việc không cần hồ sơ xin việc thì đòi hỏi người lao động phải có kỹ năng giao tiếp tốt để trong các cuộc phỏng vấn trước khi làm việc cũng cần có đủ kỹ năng để
Trang 31có thể trao đổi với nhà tuyển dụng
Để làm được điều này thì song song với các khoá đào tạo nghề thì cần có các buổi hướng dẫn kỹ năng tìm kiếm việc làm, để trang bị cho người lao động một cách toàn diện
Ngoài ra, thông qua các cuộc gặp mặt hoặc tiếp xúc với người lao động thì cũng cần hướng dẫn và truyền thông về tầm quan trọng của kỹ năng và thái độ trong làm việc cho người lao động, để qua đó người lao động cũng chú
ý hơn trong việc trau dồi các kỹ năng và thái độ làm việc
Trong bối cảnh yêu cầu chất lượng lao động ngày càng cao, nếu người lao động bên cạnh việc đáp ứng được khả năng chuyên môn mà còn đáp ứng được các yêu cầu về kỹ năng và thái đổi thì có thể nói công tác giải quyết việc làm có thể đạt hiệu quả cao hơn Và đáp ứng tốt yêu cầu của nhà tuyển dụng
1.2.4 Tăng cường kết nối cung cầu thị trường lao động
a Đẩy mạnh phát triển thị trường lao động
Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO) thì: “Thị trường lao động là thị trường trong đó có các dịch vụ lao động được mua và bán thông qua quá trình
để xác định mức độ có việc làm của lao động, cũng như mức độ tiền công” Trong thời kỳ hội nhập kinh tế thế giới, thị trường lao động có vai trò rất quan trọng trong giải quyết việc làm cho người lao động Thị trường lao động đảm bảo việc làm cho dân số hoạt động kinh tế, kết nối họ vào lĩnh vực sản xuất và dịch vụ, tạo khả năng cho họ nhận được những thu nhập thiết yếu để tái sản xuất sức lao động của chính bản thân mình cũng như nuôi sống gia đình mình Thị trường lao động dễ dàng chuyển đổi người lao động sang chỗ làm việc thích hợp hơn, năng suất lao động và thu nhập cao hơn
Thị trường lao động là nguồn thông tin rất quan trọng và có quan hệ chặt chẽ với tất cả thị trường Thông tin trên thị trường lao động giúp cho cả người
sử dụng lao động cũng như người lao động xây dựng được các kế hoạch hoạt
Trang 32động trong tương lai
Phát triển thị trường lao động phải đáp ứng mục tiêu tăng trưởng bền vững, hỗ trợ tăng trưởng, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế và phát triển con người; Các chính sách về thị trường lao động cần phải được điều chỉnh để tạo điều kiện cho sự dịch chuyển cơ cấu lao động phù hợp với kinh
tế thị trường và hội nhập quốc tế Tạo việc làm cho người lao động thông qua một số kênh thông tin kết nối, cung ứng lao động như sau:
Mục tiêu chung của phát triển thị trường lao động là đảm bảo có một thị trường hiện đại, hiệu quả, cạnh tranh và công bằng, góp phần giải quyết việc làm và thực hiện các mục tiêu phát triển đất nước
Để giải quyết việc làm nói chung và việc làm cho lao động nữ nói riêng thì trước tiên phải giải quyết vấn đề quan trọng đó là thúc đẩy phát triển thị trường lao động Chính việc hoàn thiện thể chế phát triển thị trường lao động sẽ thúc đẩy việc tạo ra các cơ hội việc làm, thông qua đó thu hút lao động cần việc làm ở mỗi địa phương, quốc gia Muốn vậy phải giải quyết các vấn đề sau đây:
- Trước hết phải đẩy mạnh phát triển sản xuất kinh doanh theo hướng phù hợp với khả năng cung ứng của thị trường lao động, làm gia tăng nhu cầu lao động từ đó làm tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho người lao động trong đó
có lao động nữ
- Bên cạnh việc đẩy mạnh tăng trưởng về cầu lao động, cần phải có những chính sách hợp lý nhằm đảm bảo cung lao động đáp ứng với cầu lao động, đặc biệt là đối tượng lao động nữ Để giải quyết vấn đề này, cần phải đẩy mạnh phát triển giáo dục đào tạo, nhất là đào tạo nghề cho lao động nữ để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu thị trường lao động phát triển, thu hút lao động có chất lượng tham gia vào hoạt động lao động xã hội, đảm bảo nguồn cung lao động cũng là một nội dung quan trọng khác của việc hoàn thiện thể chế phát triển thị trường lao động
Trang 33- Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, nhất là khi Việt Nam tham gia AEC, thị trường lao động Việt Nam đã mở cửa đối với các nước Asean Khi đó, nếu không kiểm soát chặt thị tình trạng lao động nước ngoài vào Việt Nam làm việc sẽ dẫn đến tình trạng cạnh tranh không lành mạnh với lực lượng lao động bản địa, trong đó có lao động nữ
b Tổ chức các trung tâm giới thiệu việc làm và hội chợ việc làm
Các Trung tâm Giới thiệu việc làm chính là cầu nối giữa người lao động
và người sử dụng lao động Nâng cao hiệu quả hoạt động của các trung tâm giới thiệu việc làm góp phần phát triển thị trường lao động
Trong một thị trường lao động mở rộng và đa dạng như hiện nay, việc kết nối giữa cung, cầu lao động là điều kiện rất quan trọng để đảm bảo cho người lao động nói chung và lao động nữ nói riêng có thể tiếp cận với các cơ hội việc làm phù hợp Vì vậy, chính sách giải quyết việc làm cho lao động nữ cần hướng vào hoàn thiện các công cụ, các kênh thông tin nhằm giúp giải quyết vấn đề này
Việc phát triển các Trung tâm giới thiệu, xúc tiến việc làm Hướng dẫn, định hướng các Trung tâm này trong công việc thu thập, phân tích và cung ứng thông tin về thị trường lao động, bao gồm: nhu cầu tuyển lao động, tiêu chuẩn tuyển lao động, nhu cầu cần việc làm, tiền lương, tiền công
Tiến hành tư vấn giới thiệu việc làm cho lao động, đặc biệt là lao động
nữ, cung cấp các thông tin của các nhà tuyển dụng về ngành nghề, trình độ tay nghề, mức thu nhập và địa điểm làm việc để người lao động có thể lựa chọn công việc phù hợp và tiến hành ứng tuyển để tìm kiếm việc làm mới
Tổ chức các phiên giao dịch việc làm để người lao động và nhà tuyển dụng trực tiếp tham gia tuyển dụng Tại các phiên giao dịch việc làm người lao động tự do lựa chọn các công việc phù hợp với trình độ và tay nghề của mình, được tham gia vào sàn giao dịch việc làm miễn phí
Trang 34Định hướng các phương tiện thông tin đại chúng như báo đài, internet…
về việc giới thiệu việc làm, kết nối lao động giữa các tỉnh thành trong cả nước thông qua sàn giao dịch việc làm online
Đây là một trong những giải pháp mà nhà nước đã đưa ra thực hiện nhằm hỗ trợ cho người lao động nữ có đầy đủ thông tin về việc làm trên thị trường lao động nhanh chóng tìm kiếm được việc làm, giảm tải gánh nặng về việc làm cho người lao động
c Tăng cường thông tin về việc làm
Thông tin thị trường lao động có ý nghĩa quan trọng nhằm cung cấp thông tin về nhu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp, đồng thời mang tính
dự báo để phục vụ công tác đào tạo, đáp ứng nguồn cung phù hợp Chính vì vậy, để giải quyết việc làm cho lao động nữ nói riêng và lao động nói chung, các cấp chính quyền cần tăng cường công tác thông tin về việc làm cho người lao động thông qua việc kết nối nhu cầu việc làm của các doanh nghiệp đến những người lao động có nhu cầu việc làm Việc xây dựng các trang web việc làm trên đó đăng tài thông tin về nhu cầu tuyển dụng cũng như nhu cầu về việc làm của những người có nhu cầu là một hình thức phổ biến hiện nay
1.2.5 Giải quyết việc làm thông qua thúc đẩy di chuyển lao động
a Hỗ trợ di chuyển lao động trong nước
Ở một số địa phương, đặc biệt là quận/huyện phát triển thị trường lao động chủ yếu thông qua một số hình thức như: hỗ trợ cho người lao động đi làm việc ngoại tỉnh (bao gồm cả đi làm việc tại các địa phương khác trong nước hoặc đi xuất khẩu lao động) và hỗ trợ cho các khu công nghiệp trên địa bàn thu hút lao động ngoại tỉnh vào làm việc
Do đặc điểm của phát triển kinh tế, nhu cầu lao động có thể thay đổi dẫn đến cung cầu lao động của một ngành, một địa phương mất cân đối Vì vậy,
để giải quyết việc làm cho người lao động, đặc biệt là lao động nữ, các cấp
Trang 35chính quyền cần quan tâm đến các chinh sách nhằm thúc đẩy việc di chuyển lao động từ khu vực này dến khu vực khấc, từ ngành này qua ngành khác, từ địa phương này đến địa phương khác giúp kết nối thị trường lao động
b Tăng cường đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài
Để tạo việc làm cho lao động nữ trong điều kiện thị trường lao động mở rộng trên phạm vi toàn thế giới, trong khi thị trường lao động trong nước chưa phát triển thì việc tạo điều kiện hỗ trợ để lao động nói chung và lao động nữ nói riêng đi làm việc ở nước ngoài có thời hạn là một nội dung quan trọng trong giải quyết việc làm
Theo quy định tại điều 6 của Luật số 72/2006/QH11 ngày 29/11/2006 quy định về NLĐ Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng thì NLĐ
có thể đi XKLĐ theo 4 hình thức cụ thể như sau:
Thông qua doanh nghiệp hoạt động dịch vụ, tổ chức sự nghiệp được phép hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài
Các doanh nghiệp hoạt động dịch vụ là loại hình doanh nghiệp được Bộ LĐ-TB&XH cấp giấy phép hoạt động đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoài Doanh nghiệp khai thác hợp đồng, đăng ký với cơ quan có thẩm quyền, tổ chức tuyển chọn lao động, đưa và quản lý NLĐ ở nước ngoài
XKLĐ theo hình thức này được coi là một loại hình kinh doanh dịch vụ đem lại lợi nhuận cho các doanh nghiệp từ đó hình thành nên sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong hoạt động XKLĐ, thúc đẩy việc mở rộng thị trường XKLĐ, tăng lượng các hợp đồng cung ứng, chất lượng lao động ngày càng được nâng cao để đáp ứng nhu cầu cạnh tranh của các doanh nghiệp
Thông qua doanh nghiệp nhận thầu, tổ chức, cá nhân đầu tư ở nước ngoài
Đây là hình thức mà các doanh nghiệp có tư cách pháp nhân Việt Nam trúng thầu ở nước ngoài, đưa NLĐ của doanh nghiệp mình đi làm việc ở các
Trang 36công trình trúng thầu ở nước ngoài hoặc các tổ chức, cá nhân Việt Nam đầu
tư ra nước ngoài, đưa NLĐ Việt Nam sang làm việc tại các cơ sở sản xuất kinh doanh do tổ chức, cá nhân này đầu tư thành lập ở nước ngoài NLĐ đi theo hình thức này phải là NLĐ đã có hợp đồng lao động với doanh nghiệp và chỉ đi làm việc tại các công trình trúng thầu hoặc cơ sở sản xuất, kinh doanh
do tổ chức, cá nhân đầu tư thành lập ở nước ngoài
Thông qua doanh nghiệp XKLĐ theo hình thức thực tập, nâng cao tay nghề
Đây là hình thức XKLĐ mới được đưa vào điều chỉnh trong Luật, hình thức này xuất hiện tương đối nhiều trong những năm qua tại các doanh nghiệp, nhất là ở khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Doanh nghiệp XKLĐ theo hình thức này phải có hợp đồng với cơ sở thực tập ở nước ngoài để đưa NLĐ đi làm việc theo hình thực tập, nâng cao tay nghề, có hợp đồng đưa NLĐ đi thực tập
Với hình thức này thì NLĐ không mất các khoản chi phí xuất khẩu, có điều kiện thuận lợi trong việc học tập, nâng cao tay nghề tại cơ sở thực tập ở nước ngoài Tuy nhiên, hình thức này chỉ dành cho NLĐ đang làm việc tại các doanh nghiệp có nhu cầu đưa lao động của doanh nghiệp đi thực tập, nâng cao tay nghề tại các cơ sở ở nước ngoài, nên cũng giống như hình thức xuất khẩu thông qua doanh nghiệp nhận thầu, tổ chức, cá nhân đầu tư ở nước ngoài
là các hình thức xuất khẩu riêng biệt, không mang tính phổ biến rộng rãi
NLĐ tự đi theo hình thức hợp đồng cá nhân
Đây là hình thức NLĐ chủ yếu đi thông qua các mối quan hệ họ hàng giới thiệu, được bảo lãnh hoặc chủ sử dụng lao động cũ tuyển dụng lại lần thứ hai, số lượng đi không nhiều NLĐ ký hợp đồng trực tiếp với chủ, không thông qua bên trung gian môi giới Khi có hợp đồng trực tiếp đến Sở LĐ-TB&XH nơi thường trú để đăng ký hợp đồng cá nhân và khi làm việc ở nước
Trang 37ngoài thì đăng ký công dân với cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự Việt Nam
ở nước sở tại
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NỮ
1.3.1 Điều kiện tự nhiên
Trong những nhân tố ảnh hưởng đến việc mở rộng nguồn công việc, tạo việc làm cho người lao động, trước hết phải nói đến nhân tố có tính chất tự nhiên, vốn có sẵn ở mỗi quốc gia, mỗi địa phương, đó là nhân tố điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên bao gồm: vị trí địa lý, điều kiện về đất đai, các nguồn khoáng sản trong rừng, dưới biển, địa hình, khí hậu, hệ thống giao thông…Đây là những điều kiện vô cùng quý giá cho sự tồn tại và phát triển của con người và xã hội
Với những thuận lợi về vị trí địa lý, địa hình, hệ thống giao thông sẽ tạo môi trường thuận lợi thu hút đầu tư, phát triển kinh tế; đồng thời tạo cho địa phương có khả năng, cơ hội và nguồn lực lớn hơn trong việc khai thác, phát huy các nguồn lực nội tại cũng như khai thác, thu hút các nguồn lực từ bên ngoài để thúc đẩy phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, góp phần tạo việc làm cho người lao động không chỉ trong nội tại địa phương đó mà còn có khả năng thu hút lao động của các địa phương lân cận tìm kiếm việc làm
Cùng với vị trí địa lý, nguồn tài nguyên đất đai, khoáng sản, sông ngòi,
bờ biển, rừng núi cũng ảnh hưởng rất lớn đến tạo việc làm Đất đai là một nguồn tài nguyên quan trọng, là tư liệu lao động trong quá trình sản xuất Đất đai được sử dụng như những nguồn lực lớn để tạo việc làm trong nông nghiệp nông thôn; Đất đai cũng là một nguồn tài nguyên phục vụ cho công nghiệp, nếu địa phương có nhiều đất đai sẽ thu hút nhiều nhà đầu tư, mở rộng các khu công nghiệp nhằm phát triển sản xuất kinh doanh không những tạo việc làm
Trang 38cho lao động địa phương mình mà cho cả lao động của địa phương khác Ngoài các điều kiện tự nhiên trên thì điều kiện về phong cảnh, di tích lịch sử cũng là những lợi thế phát triển ngành du lịch và giúp tạo việc làm cho người lao động qua đào tạo nghề ngành du lịch Đối với địa bàn chỉ có đất đai, con người thì cần phải thu hút đầu tư vào các khu công nghiệp để tạo việc
làm cho người lao động
1.3.2 Điều kiện về kinh tế
Lao động là một trong các yếu tố đầu vào chính của nền kinh tế (bên cạnh vốn, tài nguyên, khoa học kỹ thuật…) chính vì vậy, hoạt động giải việc
việc làm cho người lao động liên quan trực tiếp đến các điều kiện kinh tế
Thứ nhất, về quy mô kinh tế thì đối với một địa phương thì quy mô kinh
tế càng cao thì việc làm cho người lao động nhiều hơn so với một địa phương
có quy mô kinh tế nhỏ Chính vì vậy, trong công tác giải quyết việc làm chúng ta có thể đánh gia quy mô kinh tế của một địa phương mà ước tính được số việc làm có thể tạo ra và đặt ra các chính sách cho công tác giải quyết
việc làm
Thứ hai, về tốc độ tăng trưởng kinh tế, tốc độ tăng trưởng càng nhanh thì việc làm được tạo ra càng nhiều và người lại, khi có đủ điều kiện về các
nguồn lực đầu vào như vốn và lao động thì thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng
Thứ ba, về cơ cấu ngành kinh tế cũng ảnh hưởng đối với công tác giải quyết việc làm Việc tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp cũng là một trong những yếu tố góp phần thúc đẩy công tác giải quyết việc làm, bởi nhu cầu lao động trong các ngành công nghiệp cao Bên cạnh đó, các ngành dịch vụ và du lịch phát triển thì cũng tạo
ra nhiều việc làm, đặc biệt làm việc làm cho lao động nữ
1.3.3 Điều kiện về xã hội
a Về dân số, văn hoá và xã hội
Đối với các điệu kiện xã hội thì ảnh hưởng trực tiếp đến công tác giải
Trang 39quyết về nguồn cung lao động
Đối với một địa phương, khi quy mô dân số lớn thì đảm bảo nguồn lao động dồi dào có thể cung cấp cho nhu cầu địa phương đó
Tốc độ tăng dân số, điều này cũng cho thấy đối với một địa phương, tốc
độ tăng dân số càng nhanh thì nguồn lao động dồi dào và nguồn lao động trẻ được đảm bảo nhưng người lại tốc độ tăng số chậm thì nguồn lao động ngày càng khan hiến và lực lượng lao động ngày càng già đi
Một địa phương mà ở đó có sự ổn định về mặt xã hội thì ở đó công tác
an sinh xã hội được đảm bảo trong đó có công tác giải quyết việc làm cho người lao động
Ngoài ra, trong công tác giải quyết việc làm cho lao động nữ cũng bị ảnh hưởng bởi tâm lý xã hội, với một xã hội tự do trong suy nghĩ và tôn trọng con người thì công tác giải quyết việc làm thuận lợi hơn, loại bỏ được các tâm lý
tự tôn trong công việc Trong một vài trường hợp, tâm lý xã hội chi phối rất lớn đối với quyết định làm việc của mỗi người, vì có một số người quan điểm rằng công việc này hoặc công việc kia không phù hợp với lao động nữ điều này làm rào cản rất lớn cho khách du lịch
b Về bản thân người lao động
Nhóm nhân tố này liên quan đến năng lực, trình độ, ý thức lao động, tính phù hợp của lao động đối với thị trường lao động Nếu trình độ, sự phù hợp càng cao thì cơ hội giải quyết việc làm càng cao và ngược lại
Khi các hoạt động hỗ trợ của nhà nước đã được đưa ra nhằm giúp cho người lao động có cơ hội tìm được việc làm, với điều kiện này thì chưa đủ mà còn phải phụ thuộc vào bản thân người lao động
Một trong yếu tố ảnh hưởng đến hỗ trợ giải quyết việc làm đó là trình độ tay nghề và trình độ nhận thức của người lao động Nếu một đội ngũ lao động
có trình độ tay nghề cao, thì khả năng khai thác cung lao động cho nhóm lao
Trang 40động này rất thuận lợi, ngược lại, nếu trình độ của người lao động thấp thì việc khai thác các công việc gặp khó khăn Từ trước tới nay tư duy suy nghĩ của người lao động đã ăn sâu vào tiềm thức của mỗi người dân lao động Việt Nam là thứ nhất cận thân thứ nhì cận lân Tư tưởng ỷ lại và trông chờ vào người khác sẽ giúp mình tìm kiếm việc làm, bản thân người lao động không chủ động tìm kiếm, không tự tạo ra cho mình một hướng đi mới, nên hoạtđộng hỗ trợ gặp khó khăn trong công tác tuyên truyền và tư vấn cho lao đông Công tác vận động lao động tham gia các hoạt động hỗ trợ giải quyết việc làm của nhà nước sẽ kém hiệu quả Tâm lý không thích thay đổi nghề nghiệp,
đã từng làm việc gì rồi thì mãi muốn làm việc đó, không mạnh dạn tìm hướng
đi mới trong nghề nghiệp của bản thân Đây cũng là yếu tố ảnh hưởng đến công tác hỗ trợ giải quyết việc làm,
Mỗi một chính sách đề ra nhằm hỗ trợ cho từng đối tượng cụ thể, đòi hỏi phải có sự kết hợp của hai yếu tố đó là con người và điều kiện hỗ trợ con người tiếp xúc được với việc làm Cả hai cùng lỗ lực vì mục tiêu giải quyết được việc làm thì hiệu quả của mục tiêu đó mới cao Bản thân người lao động, họ có thực sự muốn tìm kiếm việc làm mới hay không? Hay họ cứ ngồi trông chờ và ỷ lại cho nhà nước tìm kiếm cho họ Nếu bản thân họ lỗ lực tìm kiếm cơ hội việc làm, bằng các cách như tiếp tục học tập, học thêm nghề mới, tìm kiếm các công việc tương tự giống với công việc cũ, thay đổi các suy nghĩ, cách làm việc, hay tham gia vào các buổi tư vấn giới thiệu việc làm, tham gia vào các sàn giao dịch việc làm thì người lao động sớm tìm được việc mới còn ngược lại thì sẽ rất khó khăn
1.3.4 Nhân tố về cơ chế, chính sách giải quyết việc làm cho lao động
nữ của Nhà nước
Nhóm nhân tố này liên quan đến các chính sách ưu đãi thu hút, sử dụng lao động nữ trong nền kinh tế Nếu các chinh sách hỗ trợ của Chính phủ càng