các luận văn thạc sỹ, tiến sỹ đã đề cập đến vấn đề này ở nhiều góc độ và phạmvi hẹp rộng khác nhau như: Đề tài cấp Nhà nước do Viện nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trungương “ Nghiên
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận văn
Phạm Thị Hoài
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ 7
1.1 TỔNG QUAN VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ 7
1.1.1 Khái niệm nghề, đào tạo nghề 7
1.1.1.1 Khái niệm nghề 7
1.1.1.2 Khái niệm đào tạo nghề 8
1.1.2 Phân loại đào tạo nghề 11
1.1.3 Vai trò của đào tạo nghề 15
1.1.4 Đặc điểm, yêu cầu của hoạt động đào tạo nghề 17
1.1.4.1 Đặc điểm của hoạt động đào tạo nghề 17
1.1.4.2 Yêu cầu của hoạt động đào tạo nghề 18
1.1.5 Hệ thống tổ chức đào tạo nghề 20
1.2 NỘI DUNG ĐÀO TẠO NGHỀ 21
1.2.1 Xác định mục tiêu đào tạo nghề 21
1.2.2 Xác định nhu cầu đào tạo nghề 22
1.2.3 Xác định chương trình đào tạo nghề 25
1.2.4 Lựa chọn hình thức, phương pháp đào tạo nghề 26
1.2.5 Đánh giá kết quả đào tạo nghề 27
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐÀO TẠO NGHỀ 29
1.3.1 Các nhân tố thuộc về cơ sở đào tạo nghề 29
1.3.2 Các nhân tố thuộc về người học nghề 31
1.3.3 Các nhân tố thuộc về điều kiện, kinh tế - xã hội 31
1.4 KINH NGHIỆM ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG THUỘC DIỆN THU HỒI ĐẤT CỦA MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG 32
1.4.1 Kinh nghiệm của tỉnh Hưng Yên 32
Trang 31.4.2 Kinh nghiệm của tỉnh Bình Dương 33
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TÀO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG THUỘC DIỆN THU HỒI ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 34
2.1 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM VỀ TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC THU HỒI ĐẤT VÀ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG 34
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 34
2.1.1.1 Vị trí địa lý 34
2.1.1.2 Đất đai, địa hình 35
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 36
2.1.2.1 Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế 36
2.1.2.2 Dân số, lao động, việc làm, thu nhập 39
2.1.2.3 Cơ sở hạ tầng 44
2.1.2.4 Văn hóa, giáo dục, y tế 46
2.1.3 Thực trạng thu hồi đất trên địa bàn TPĐN và tác động của nó đến kinh tế, xã hội 49
2.1.3.1 Quá trình đô thị hóa tại thành phố Đà Nẵng và tình hình giải tỏa, di dời 49
2.1.3.2 Tác động của việc giải tỏa, di dời đến kinh tế - xã hội của thành phố .57
2.1.4 Đặc điểm của lao động thuộc diện thu hồi đất 60
2.1.5 Hệ thống cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn thành phố Đà Nẵng 64
2.1.5.1 Cơ sở đào tạo nghề 64
2.1.5.2 Quy mô đào tạo nghề 65
2.1.5.3 Ngành nghề đào tạo 66
2.1.5.4 Chương trình, giáo trình 66
Trang 42.1.5.5 Đội ngũ giáo viên đào tạo nghề 67
2.2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG THUỘC DIỆN THU HỒI ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 68
2.2.1 Những chính sách của thành phố về đào tạo nghề cho lao động thuộc diện thu hồi đất 68
2.2.2 Thực trạng xác định mục tiêu đào tạo nghề 71
2.2.3 Thực trạng xác định nhu cầu đào tạo nghề 72
2.2.4 Thực trạng xác định chương trình đào tạo nghề 74
2.2.5 Lựa chọn hình thức, phương pháp đào tạo nghề 76
2.2.6 Kinh phí đào tạo 78
2.2.7 Đánh giá kết quả đào tạo nghề 81
2.3 NHỮNG HẠN CHẾ TRONG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG THUỘC DIỆN THU HỒI ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG VÀ NGUYÊN NHÂN 82
2.3.1 Những hạn chế 82
2.3.2 Nguyên nhân của những hạn chế 84
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG THUỘC DIỆN THU HỒI ĐẤT Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẮNG 85
3.1 CĂN CỨ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP 85
3.1.1 Dự báo nhu cầu đào tạo nghề cho lao động thuộc diện thu hồi đất của thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2011 - 2015 85
3.1.2 Quan điểm về đào tạo nghề cho lao động thuộc diện thu hồi đất 87
3.1.3 Mục tiêu về đào tạo nghề cho lao động thuộc diện thu hồi đất 88
3.1.3.1 Mục tiêu chung 88
3.1.3.2 Mục tiêu cụ thể 89
Trang 53.1.4 Định hướng về đào tạo nghề cho lao động thuộc diện thu hồi đất 89
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN MỤC TIÊU ĐÀO TẠO NGHỀCHO LAO ĐỘNG THUỘC DIỆN THU HỒI ĐẤT Ở THÀNH PHỐ ĐÀNẴNG 913.2.1 Nâng cao nhận thức của xã hội về đào tạo nghề 913.2.2 Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phương tiện dạy nghề 923.2.3 Nâng cao chất lượng đào tạo nghề 92
3.2.3.1 Đổi mới chương trình, giáo trình dạy nghề 92 3.2.3.2 Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý dạy nghề 102
3.2.4 Đa dạng hóa, xã hội hoá, liên kết, hợp tác trong đào tạo nghề 1023.2.5 Hoàn thiện cơ chế, chính sách về hỗ trợ học nghề và tìm kiếm việc làm 103KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 107DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 109QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CNH - HĐH, ĐTH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa
Trang 72.7 Số lao động bị mất việc do thu hồi đất sản xuất 562.8 Cơ cấu tuổi của lao động thuộc diện thu hồi đất 622.9 Trình độ học vấn của lao động thuộc diện thu hồi đất 63
2.11 Danh mục đào tạo nghề, thời gian đào tạo nghề, mức
hỗ trợ
77
2.12 Danh mục nghề, thời gian đào tạo, mức hỗ trợ 792.13 Lao động thuộc diện thu hồi đất được đào tạo nghề 823.14 Số hộ di dời, giải tỏa chia theo nhân khẩu và có nhu
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Qúa trình đô thị hóa cùng với sự hình thành của các khu công nghiệptrên địa bàn thành phố Đà Nẵng đã đóng góp quan trọng cho sự tăng trưởngvà phát triển kinh tế của thành phố, tăng nguồn thu cho ngân sách trung ươngvà địa phương Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực đó, cũng đã nảy sinhcác vấn đề xã hội bức xúc: do thu hồi đất để phát triển khu công nghiệp, hàngchục nghìn hộ nông dân mất đất sản xuất, thiếu việc làm nên thu nhập thấp vàgiảm dần; các tệ nạn xã hội phát triển; môi trường sinh thái bị ảnh hưởngnghiêm trọng; sự phân hóa về thu nhập và đời sống trong nội bộ dân cư nôngthôn tăng lên Mất ruộng, mất tư liệu sản xuất, người nông dân chỉ còn haibàn tay trắng lập nghiệp Thế nhưng, quá trình chuyển đổi nghề nghiệp và tìmkiếm việc làm của họ rất khó khăn bởi trình độ, tay nghề không có, lạ lẫmvới kỹ năng làm việc trong môi trường công nghiệp Chính vì vậy, đào tạonghề để tạo việc làm cho người nông dân thuộc diện thu hồi đất nhằm ổn địnhcuộc sống lâu dài cho người dân trên địa bàn TP Đà Nẵng là vấn đề rất cầnthiết đòi hỏi chính quyền các cấp phải quan tâm Do đó, tôi đã chọn và nghiên
cứu đề tài: “Đào tạo nghề cho lao động thuộc diện thu hồi đất trên địa bàn thành phố Đà Nẵng”
2 Tổng quan nghiên cứu
Vấn đề về tạo việc làm cho người lao động là một nhu cầu cấp bách đặcbiệt là đối tượng lao động thuộc diện thu hồi đất Vì vậy việc đào tào cho laođộng thuộc diện thu hồi đất trong những năm gần đây rất được quan tâm đặcbiệt trong quá trình đô thị hóa đất nước ta hiện nay Ở TP Đà Nẵng cũng nhưcác tỉnh và TP khác trong nước đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học,
Trang 9các luận văn thạc sỹ, tiến sỹ đã đề cập đến vấn đề này ở nhiều góc độ và phạm
vi hẹp rộng khác nhau như:
Đề tài cấp Nhà nước do Viện nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trungương “ Nghiên cứu dự báo về chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp, nôngthôn và các giải pháp giải quyết việc làm trong quá trình CNH - HĐH, ĐTH”
Chủ nhiệm : PGS.TS Lê Xuân Bá
Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, giải pháp mang tính chung nhất (cho cảngắn hạn và dài hạn) và hữu hiệu nhất đối với việc tạo việc làm và toàn dụnglao động xã hội là tìm mọi cách để phục hồi các hoạt động sản xuất kinhdoanh đã có, mở mang thêm các hoạt động mới để tạo cơ hội việc làm chongười lao động bị mất việc hiện tại và những lao động trẻ tăng lên theo thờigian đồng thời phải có chiến lược đào tạo kỹ năng và nâng cao thể lực lượnglao động để có thể đáp ứng được những yêu cầu ngày càng cao của thị trườnglao động
Một số quan điểm và định hướng về giải pháp tạo việc làm và sửdụng lao động nông thôn trong điều kiện kinh tế hiện nay
Tác giả: TS Chu Tiến Quang - Viện NCQLKTTW
Cụ thể hóa hơn về giải pháp tổng quát của Lê Xuân Bá bài viết này đềcập đến quan điểm và những định hướng cơ bản về sử dụng lao động và tạoviệc làm cho lao động nông thôn trong điều kiện suy giảm kinh tế hiện nay
Đề tài cấp bộ “ Lao động và việc làm trong nông nghiệp, nôngthôn” ;cơ quan chủ trì Viện Chính sách và chiến lược NN,NT chủ nhiệm Ths,
Vũ Thị Mão, Hà Nội 2007
Luận văn thạc sỹ “Nâng cao chất lượng đào tạo nghề bằng biệnpháp tăng cường sự liên kết giữa các trường dạy nghề với doanh nghiệp”
Phát triển khu công nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng và vấn đềnông dân mất đất nông nghiệp
Trang 10Tác giả PGS, TS Nguyễn Sinh Cúc Tổng cục Thống kê.
Trong bài viết này tác giả đưa ra những vấn đề nổi cộm và nhữngnguyên nhân trực tiếp trong việc phát triển các khu công nghiệp tập trung củađồng bằng sông Hồng Vấn đề đặt ra là củng cố các KCN đã có, đi đôi vớigiải quyết các vấn đề xã hội phát sinh ở nông thôn và các hộ nông dân bị thuhồi đất nông nghiệp một cách đồng bộ Yêu cầu chung là bảo đảm tốt việclàm, thu nhập, đời sống của hộ nông dân mất đất nông nghiệp do phát triểnKCN phải được đặt lên hàng đầu trong chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, tổchức thực hiện và cơ chế chính sách của trung ương và địa phương vùngĐồng bằng sông Hồng Từ đó kiến nghị những giải pháp đối với nông dânmất đất nông nghiệp
Giải quyết việc làm cho người thuộc diện thu hồi đất nôngnghiệp ở NASICO.Theo Tạp chí cộng sản - 12/06/2010
Trong bải viết này đưa ra mô hình giải quyết việc làm cho người dân cóđất thu hồi cho sự phát triển công nghiệp tại Tổng công ty Công nghiệp tàuthủy Nam Triệu (NASICO) tại xã Tam Hưng, thành phố Hải Phòng Từ đóđưa ra một số kinh nghiệm trong việc giải quyết lao động, việc làm sau thuhồi đất nông nghiệp: đầu tiên là các doanh nghiệp cần chủ động liên doanh,liên kết chặc chẽ với chính quyền địa phương trong đào tạo; hai là chínhquyền địa phương phối hợp với các doanh nghiệp tổ chức dạy nghề; thứ 3 làbảo đảm sự công khai, công bằng hợp lý trong giải quyết lao động; cuối cùnglà: sau khi tiếp nhận, doanh nghiệp cần có kế hoạch nâng cao tay nghề
Thực trạng việc làm của người lao động trong các hộ dân thuộcdiện thu hồi đất Tỉnh Quảng Nam
Tác giả: Phạm Quang Tín Trường Đại học kinh tế , Đại học Đà NẵngNghiên cứu tình hình thu hồi đất và thực trạng đời sống các hộ dân bịthu hồi đất sản xuất tình trạng việc làm của lao động trong các hộ bị thu hồi
Trang 11đất ở Quảng Nam để làm cơ sở xây dựng các chính sách hỗ trợ, tạo việc làmcho người dân Quảng Nam Và kiến nghị một số giải pháp như sau: cần thựchiện tốt hơn nữa việc đào tạo và tái đào tạo trình độ nghiệp vụ chuyên môn kỹthuật cho lao động; hỗ trợ, cho vay vốn ưu đãi về lãi suất; tác động đến cácdoanh nghiệp trong việc tuyển dụng và tham gia đào tạo lao động và cuốicùng là nghiên cứu tính toán chi tiết, cụ thể sự tác động của việc thu hồi đấtsản xuất và có kế hoạch giải quyết việc làm cho người lao động trước khi giảitỏa mặt bằng
Vai trò của Nhà nước trong việc đào tạo nghề - nhìn từ góc độkinh tế học
Tác giả: TS Đỗ thị thu Hằng (*), Đỗ Thị Kim Thoa(**)
(*) Khoa Quản lý giáo dục, trường Đại học giáo dục, Đại học quốcgia Hà Nội
(**) Học viên cao học, trường Đại học Công nghệ Harbin, TrungQuốc
Bài viết này không chỉ làm rõ vấn đề về vai trò, chức năng của nhànước trong đào tạo nghề cho xã hội dưới góc độ kinh tế học mà còn có ảnhhưởng trực tiếp đến việc xây dựng chế độ đào tạo nghề phù hợp với thể chếkinh tế thị trường định hướng XHCN, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế của
xã hội, tiếp cận với trình độ khu vực và thế giới
Tuy nhiên các công trình nghiên cứu trên chưa đi sâu vào việc nghiêncứu đào tào nghề cho lao động thuộc diện thu hồi đất , đặc biệt là trên địabàn TP Đà Nẵng Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài: “ Đào tạo nghề cho lao độngthuộc diện thu hồi đất trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng” sẽ được tiếp cận mộtcách toàn diện dưới góc độ kinh tế phát triển
Trang 123 Mục tiêu nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận về đào tạo nghề cho lao động
- Phân tích, đánh giá thực trạng công tác đào tạo nghề cho người laođộng thuộc diện thu hồi đất trên địa bàn TP Đà Nẵng
- Đề xuất các giải pháp nhằm đẩy mạnh và hoàn thiện hoạt động đàotạo nghề cho lao động thuộc diện thu hồi đất ở TP Đà Nẵng, tạo cơ hội chongười lao động có việc làm ổn định
4 Điểm mới của đề tài
Vấn đề về tạo việc làm, đào tạo nghề cho người lao động đặc biệt là đốitượng lao động thuộc diện thu hồi đất là những đề tài mới được nhiều tác giảquan tâm Về cơ bản, các công trình nghiên cứu nói trên đã đi vào phân tích,đánh giá thực trạng và đề ra những giải pháp tạo việc làm cho nông dân thuộcdiện thu hồi đất trong quá trình CNH - HĐH ở nước ta, nhưng chủ yếu là ởtầm quốc gia và vùng kinh tế hoặc ở các địa phương khác Tuy nhiên, đào tạonghề cho lao động thuộc diện thu hồi đất trên địa bàn TP Đà Nẵng chưa cócông trình khoa học nào dưới góc độ Kinh tế phát triển nghiên cứu vấn đềnày
Luận văn phân tích rõ một số cơ sở lý luận và thực tiễn về đào tạo nghềcho lao động Đánh giá đúng thực trạng công tác đào tạo nghề cho lao độngthuộc diện thu hồi đất trên địa bàn TP Đà Nẵng thời gian qua Trên cơ sở đó
đề xuất mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng đào tạonghề cho lao động thuộc diện thu hồi đất của TP Đà Nẵng đến năm 2020
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng phương pháp phân tích,
tổng hợp, thống kê, so sánh, đánh giá, dự báo, điều tra khảo sát
- Phạm vi nghiên cứu: công tác đào tạo nghề cho đối tượng lao động
bị mất đất trên địa bàn TP Đà Nẵng
Trang 136 Nội dung nghiên cứu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận vănđược chia làm 3 chương:
Chương 1: Cở sở lý luận về đào tạo nghề
Chương 2: Thực trạng công tác đào tạo nghề cho lao động thuộc diệnthu hồi đất trên địa bàn TP Đà Nẵng
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác đào tạo nghề cho laođộng thuộc diện thu hồi đất ở TP Đà Nẵng
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ
1.1 TỔNG QUAN VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ
1.1.1 Khái niệm nghề, đào tạo nghề
1.1.1.1 Khái niệm nghề
Khái niệm nghề theo quan niệm ở mỗi quốc gia đều có sự khác nhaunhất định.Cho đến nay thuật ngữ “nghề” được hiểu và định nghĩa theo nhiềucách khác nhau Dưới đây là một số khái niệm về nghề
+ Khái niệm nghề ở Nga được định nghĩa: " Là một loại hoạt độnglao động đòi hỏi có sự đào tạo nhất định và thường là nguồn gốc của sự sinhtồn"
+ Khái niệm nghề ở Pháp: "Là một loại lao động có thói quen về kỹnăng, kỹ xảo của một người để từ đó tìm được phương tiện sống"
+ Khái niệm nghề ở Anh được định nghĩa: "Là công việc chuyênmôn đòi hỏi một sự đào tạo trong khoa học nghệ thuật"
+ Khái niệm nghề ở Đức được định nghĩa: "Là hoạt động cần thiếtcho xã hội ở một lĩnh vực lao động nhất định đòi hỏi phải được đào tạo ởtrình độ nào đó"
Như vậy nghề là một hiện tượng xã hội có tính lịch sử rất phổ biếngắn chặt với sự phân công lao động, với tiến bộ khoa học kỹ thuật, và vănminh nhân loại Bởi vậy được nhiều ngành khoa học khác nhau nghiên cứu từnhiều góc độ khác nhau
+ Ở Việt Nam, nhiều định nghĩa nghề được đưa ra song chưa đượcthống nhất, chẳng hạn có định nghĩa được nêu: "Nghề là một tập hợp lao động
do sự phân công lao động xã hội quy định mà giá trị của nó trao đổi được
Trang 15Nghề mang tính tương đối, nó phát sinh, phát triển hay mất đi do trình độ củanền sản xuất và nhu cầu xã hội.
Mặc dù khái niệm nghề được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau songchúng ta có thể nhận thấy một số nét đặc trưng nhất định sau:
- Đó là hoạt động, là công việc về lao động của con người được lặp đilặp lại
- Là sự phân công lao động xã hội, phù hợp với yêu cầu xã hội
- Là phương tiện để sinh sống
- Là lao động kỹ năng, kỹ xảo chuyên biệt có giá trị trao đổi trong xãhội đòi hỏi phải có một quá trình đào tạo nhất định
Hiện nay xu thế phát triển của nghề chịu tác động mạnh mẽ của tácđộng khoa học kỹ thuật và văn minh nhân loại nói chung và về chiến lượcphát triển KT - XH của mỗi quốc gia nói riêng Bởi vậy phạm trù "Nghề" biếnđổi mạnh mẽ và gắn chặt với xu hướng phát triển KT - XH của đất nước
1.1.1.2 Khái niệm đào tạo nghề
- Đào tạo: “Đào tạo là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chứcnhằm truyền đạt các kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo trong lý thuyết và thực tiễn,tạo ra năng lực để thực hiện thành công một hoạt động nghề nghiệp hoặc xãhội cần thiết
Như vậy, đào tạo là sự phát triển có hệ thống kiến thức, kỹ năng, kỹxảo cho mỗi cá nhân để họ thực hiện một nghề hoặc một nhiệm vụ cụ thể mộtcách tốt nhất Đào tạo được thực hiện bởi các loại hình tổ chức chuyên ngànhnhằm thay đổi hành vi và thái độ làm việc của con người, tạo cho họ khả năngđáp ứng được tiêu chuẩn và hiệu quả của công việc chuyên môn
- Đào tạo nghề: “Đào tạo nghề là những hoạt động nhằm mục đíchnâng cao tay nghề hay kỹ năng, kỹ xảo của mỗi cá nhân đối với công việc
Trang 16hiện tại và trong tương lai” Đào tạo nghề bao gồm hai quá trình có quan hệhữu cơ với nhau Đó là:
+ Dạy nghề: Là quá trình giảng viên truyền bá những kiến thức về lýthuyết và thực hành để các học viên có được một trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, sựkhéo léo, thành thục nhất định về nghề nghiệp
+ Học nghề: “Là quá trình tiếp thu những kiến thức về lý thuyết và thựchành của người lao động để đạt được một trình độ nghề nghiệp nhất định” Đào tạo nghề cho người lao động là giáo dục kỹ thuật sản xuất chongười lao động để họ nắm vững nghề nghiệp, chuyên môn bao gồm đào tạonghề mới, đào tạo nghề bổ sung, đào tạo lại nghề
Đào tạo nghề mới: Là đào tạo những người chưa có nghề, gồm nhữngngười đến tuổi lao động chưa được học nghề, hoặc những người trong độ tuổilao động nhưng trước đó chưa được học nghề Đào tạo mới nhằm đáp ứngtăng thêm lao động đào tạo nghề cho xã hội
Đào tạo lại nghề: Là đào tạo đối với những người đã có nghề, cóchuyên môn nhưng do yêu cầu mới của sản xuất và tiến bộ kỹ thuật dẫn đếnviệc thay đổi cơ cấu ngành nghề, trình độ chuyên môn Một số công nhânđược đào tạo lại cho phù hợp với cơ cấu ngành nghề và trình độ kỹ thuật mới Đào tạo lại thường được hiểu là quá trình nhằm tạo cho người laođộng có cơ hội để học tập một lĩnh vực chuyên môn mới để thay đổi nghề Bồi dưỡng nâng cao tay nghề: Bồi dưỡng có thể coi là quá trình cậpnhật hóa kiến thức còn thiếu, đã lạc hậu, bổ túc nghề, đào tạo thêm hoặc củng
cố các kỹ năng nghề nghiệp theo từng chuyên môn và thường được xác nhậnbằng một chứng chỉ hay nâng lên bậc cao hơn
Như vậy, xác định rõ ranh giới giữa đào tạo, bồi dưỡng và đào tạo lạinghề hiện nay là một việc phức tạp, khó khăn Dựa vào lý thuyết qui luật sốđông, các khái niệm trên được phân biệt theo các tiêu chí sau:
Trang 17+ Nội dung: Nội dung học có liên quan tới nghề chuyên môn mới hay cũ.+ Mục đích: Để tiếp tục làm nghề cũ hay đổi nghề.
+ Lần đào tạo: Lần đầu tiên hay tiếp nối
+ Văn bằng: Được cấp bằng, chứng chỉ hay không được cấp sau khi học.Sự phân biệt có thể được tóm tắc ở bảng 1:
Bảng 1.1: Tiêu chí phân loại đào tạo, bồi dưỡng, đào tạo lại
Tiêu chí phân loại Đào tạo Bồi dưỡng Đào tạo lại
Mục đích học Để có nghề Để tiếp tục nghề cũ Để có nghề mới Thời gian học 3 tháng -18 tháng 1-3 tháng 3-6 tháng Văn bằng Bằng nghề Chứng chỉ nâng bậc Chứng chỉ nâng bậc
Nguồn: “Vấn đề bồi dưỡng và đào tạo lại các loại hình lao động đáp ứng nhu cầu của sự phát triển Kinh tế - Xã hội” Đề tài cấp
Nhà nước KX07 - 14.
Đào tạo nghề là một bộ phận quan trọng của hệ thống giáo dục quốc dân.Theo qui định của Luật giáo dục, hệ thống giáo dục bao gồm: Giáo dục mầmnon, giáo dục phổ thông, giáo dục học nghề, giáo dục đại học và sau đại học.Theo hệ thống khung giáo dục quốc dân thì đào tạo nghề được thực hiện
ở các cấp khác nhau, ở lứa tuổi khác nhau và được phân luồng để đào tạonghề phù hợp với trình độ về văn hóa, khả năng phát triển của con người và
độ tuổi
Sơ đồ trên cho thấy sự liên thông giữa các cấp học, các điều kiện cầnthiết để học nghề hoặc các cấp học tiếp theo Nó là cơ sở quản lý giáo dục,nâng cao hiệu quả của đào tạo, tránh lãng phí trong đào tạo (cả người học và
xã hội), tránh trùng lặp nội dung chương trình, đồng thời là cơ sở đánh giátrình độ người học và cấp các văn bằng, chứng chỉ tốt nghiệp
Tuy vậy, sơ đồ trên cũng cho thấy sự liên thông giữa các cấp đào tạonghề chưa rõ ràng Bộ phận được phân luồng học nghề từ cấp học dưới khi
Trang 18muốn học nghề ở cấp cao hơn thì theo con đường nào hay thì lại phải tiếp tụchọc cấp cao hơn thì mới chuyển được Đây là điều hết sức lưu ý trong việcxây dựng hệ thống chương trình, khung giáo dục quốc dân, đảm bảo tính liênthông giữa các cấp học nghề.
1.1.2 Phân loại đào tạo nghề
a) Phân loại đào tạo nghề
Có rất nhiều cách phân loại đào tạo nghề, tuỳ theo mỗi loại tiêu thức ta
có thể phân loại đào tạo nghề thành các loại hình khác nhau Trong phạm vibài này chỉ xét hai tiêu thức phân loại như sau:
Căn cứ vào thời gian đào tạo nghề:
- Đào tạo ngắn hạn: Là loại hình đào tạo nghề có thời gian đào tạo
dưới một năm, chủ yếu áp dụng đối với phổ cập nghề Loại hình này có ưuđiểm là có thể tập hợp được đông đảo lực lượng lao động ở mọi lứa tuổi,những người không có điều kiện học tập tập trung vẫn có thể tiếp thu được trithức ngay tại chỗ, với sự hỗ trợ đắc lực của các cơ quan đoàn thể, địa phương,Nhà nước về mặt giáo trình, giảng viên
- Đào tạo dài hạn: Là loại hình đào tạo nghề có thời gian đào tạo từ
một năm trở lên, chủ yếu áp dụng đối với đào tạo công nhân kỹ thuật và nhânviên nghiệp vụ Đào tạo nghề dài hạn thường có chất lượng cao hơn các lớpđào tạo ngắn hạn
Căn cứ vào nghề đào tạo đối với người học:
- Đào tạo mới: Là loại hình đào tạo nghề áp dụng cho những người
chưa có nghề (đào tạo mới là để đáp ứng yêu cầu tăng thêm lao động cónghề)
Trang 19- Đào tạo lại: Là quá trình đào tạo nghề áp dụng với những người đã có
nghề song vì lý do nào đó, nghề của họ không còn phù hợp nữa
- Đào tạo nâng cao: Là quá trình bồi dưỡng nâng cao kiến thức và kinh
nghiệm làm việc để người lao động có thể đảm nhận được những công việcphức tạp hơn
b) Các hình thức đào tạo nghề
Các hình thức đào tạo nói chung và đào tạo nghề nói riêng nhìn chunglà rất phong phú và đa dạng Tuy nhiên, về cơ bản đào tạo nghề hiện naythường áp dụng một số hình thức chính sau đây:
Đào tạo nghề chính quy:
Theo quy định của Luật dạy nghề, đào tạo nghề chính quy được thựchiện với các chương trình sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao đẳng nghề tạicác cơ sở dạy nghề theo các khoá học tập trung và liên tục
Có thể hiểu đào tạo nghề chính quy là loại hình đào tạo tập trung tại cáctrung tâm dạy nghề, các trường nghề với quy mô đào tạo tương đối lớn, chủyếu là đào tạo các công nhân kỹ thuật có trình độ lành nghề cao
Việc đào tạo công nhân kỹ thuật thường chia làm hai giai đoạn: giaiđoạn học tập cơ bản và giai đoạn học tập chuyên môn Giai đoạn học tập cơbản là giai đoạn đào tạo nghề theo diện rộng, thường chiếm từ 70% đến 80%nội dung giảng dạy và tương đối ổn định Còn trong giai đoạn học tập chuyênmôn, người học được trang bị những kiến thức chuyên sâu và rèn luyệnnhững kỹ năng, kỹ xảo để nắm vững nghề đã chọn
Ưu điểm cơ bản của hình thức đào tạo này là: Học sinh được học mộtcách có hệ thống từ đơn giản đến phức tạp, từ lý thuyết đến thực hành, tạođiều kiện cho học sinh tiếp thu kiến thức nhanh chóng và dễ dàng; Đào tạotương đối toàn diện cả lý thuyết lẫn thực hành
Trang 20Với hình thức đào tạo chính quy, sau khi đào tạo, học viên có thể chủđộng, độc lập giải quyết công việc, có khả năng đảm nhận các công việctương đối phức tạp, đòi hỏi trình độ lành nghề cao Cùng với sự phát triển củasản xuất và tiến bộ của khoa học kỹ thuật, hình thức đào tạo này ngày cànggiữ vai trò quan trọng trong việc đào tạo đội ngũ công nhân kỹ thuật.
Tuy nhiên, đào tạo chính quy cũng có nhược điểm là: Thời gian đào tạotương đối dài; Đòi hỏi phải đầu tư lớn để đảm bảo đầy đủ cơ sở vật chất, độingũ giáo viên, các cán bộ quản lý nên kinh phí đào tạo cho một học viên là rấtlớn
Đào tạo nghề tại nơi làm việc (đào tạo trong công việc):
Đào tạo nghề tại nơi làm việc là hình thức đào tạo trực tiếp, trong đóngười học sẽ được dạy những kiến thức, kỹ năng cần thiết cho công việcthông qua thực tế thực hiện công việc và thường là dưới sự hướng dẫn củanhững người lao động có trình độ cao hơn Hình thức đào tạo này thiên vềthực hành ngay trong quá trình sản xuất và thường là do các doanh nghiệp(hoặc các cá nhân sản xuất) tự tổ chức
Chương trình đào tạo áp dụng cho hình thức đào tạo tại nơi làm việcthường chia làm ba giai đoạn: Giai đoạn đầu, người hướng dẫn vừa sản xuấtvừa hướng dẫn cho học viên; Giai đoạn hai, giao việc làm thử cho học viênsau khi họ đã nắm được các nguyên tắc và phương pháp làm việc; Giai đoạn
ba, giao việc hoàn toàn cho học viên khi họ đã có thể tiến hành làm việc mộtcách độc lập
Hình thức đào tạo tại nơi làm việc có nhiều ưu điểm như: Có khả năngđào tạo nhiều người cùng một lúc ở tất cả các doanh nghiệp, phân xưởng;Thời gian đào tạo ngắn; Không đòi hỏi điều kiện về trường lớp, giáo viênchuyên trách, bộ máy quản lý, thiết bị học tập riêng nên tiết kiệm chi phí đào
Trang 21tạo; Trong quá trình học tập, người học còn được trực tiếp tham gia vào quátrình lao động, điều này giúp họ có thể nắm chắc kỹ năng lao động.
Nhược điểm cơ bản của đào tạo tại nơi làm việc là: Việc truyền đạt vàtiếp thu kiến thức không có tính hệ thống; Người dạy không có nghiệp vụ sưphạm nên hạn chế trong quá trình hướng dẫn, việc tổ chức dạy lý thuyết gặpnhiều khó khăn nên kết quả học tập còn hạn chế; Học viên không chỉ họcnhững phương pháp tiên tiến mà còn có thể bắt chước cả những thói quenkhông tốt của người hướng dẫn Vì vậy, hình thức đào tạo này chỉ phù hợpvới những công việc đòi hỏi trình độ không cao
Tổ chức các lớp cạnh doanh nghiệp:
Đây là hình thức đào tạo theo chương trình gồm hai phần lý thuyết vàthực hành Phần lý thuyết được giảng tập trung do các kỹ sư, cán bộ kỹ thuậtphụ trách Còn phần thực hành thì được tiến hành ở các xưởng thực tập do các
kỹ sư hoặc công nhân lành nghề hướng dẫn Hình thức đào tạo này chủ yếu ápdụng để đào tạo cho những nghề phức tạp, đòi hỏi có sự hiểu biết rộng về lýthuyết và độ thành thục cao
Ưu điểm nổi bật của các lớp cạnh doanh nghiệp là: Dạy lý thuyết tươngđối có hệ thống, đồng thời học viên lại được trực tiếp tham gia lao động ở cácphân xưởng, tạo điều kiện cho họ nắm vững nghề; Bộ máy đào tạo gọn, chiphí đào tạo không lớn Tuy nhiên, hình thức đào tạo này chỉ áp dụng được ởnhững doanh nghiệp tương đối lớn và chỉ đào tạo cho các doanh nghiệp cùngngành có tính chất giống nhau
Đào tạo nghề kết hợp tại trường và doanh nghiệp:
Hình thức đào tạo nghề kết hợp tại trường và doanh nghiệp được ápdụng khá rộng rãi trên thế giới nhưng mới chỉ xuất hiện ở Việt Nam trongnhững năm gần đây và còn có nhiều cách hiểu khác nhau Có thể hiểu “đào
Trang 22tạo nghề kết hợp tại trường và doanh nghiệp là hình thức đào tạo dựa trên hệthống dạy và học có hai chỗ học, sự tích hợp chức năng của hai chỗ học tạothành chức năng chung của hệ thống”.
Đào tạo nghề kết hợp tại trường và doanh nghiệp có thể được tổ chứcdưới nhiều hình thức khác nhau tuỳ theo điều kiện, quan điểm ở từng vùng,lãnh thổ và khu vực
Hình thức đào tạo nghề kết hợp tại trường và doanh nghiệp xuất hiện ởViệt Nam còn quá yếu, mới chỉ thực hiện ở một số khía cạnh của việc kết hợpđào tạo và được biểu hiện ở các hoạt động như:
- Đào tạo theo đơn đặt hàng (Một số doanh nghiệp đặt hàng cho cáctrường đào tạo);
- Một số tổng công ty lớn thành lập trường đào tạo riêng;
- Nhà trường có xưởng sản xuất;
- Một số trường liên kết đưa sinh viên đi thực tập ở các doanh nghiệp
1.1.3 Vai trò của đào tạo nghề
Với mục tiêu "Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhântài" nhằm đáp ứng đòi hỏi sự phát triển KT-XH Cùng với các hệ thống giáodục, hệ thống dạy nghề có chức năng chủ yếu thực hiện các mục tiêu giáo dụcnói trên Đào tạo nghề góp phần quan trọng vào mục tiêu đào tạo nhân lực: "Mục tiêu của dạy nghề là đào tạo con người lao động có kiến thức, kỹ năngnghề nghiệp ở các trình độ khác nhau, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ýthức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ nhằm tạo điều kiện chongười lao động có khả năng tìm việc làm đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH,củng cố quốc phòng an ninh" [9;12]
CNH - HĐH là một tất yếu khách quan đối với nước ta nhằm xây dựng
cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội cao hơn cả hai mặt” trình độ kỹ
Trang 23thuật và cơ cấu sản xuất gắn liền với thành tựu của cách mạng khoa học công nghệ hiện đại
-CNH - HĐH còn đòi hỏi phải có một cơ cấu lao động hợp lý, nghĩa làphải có một tỉ lệ phù hợp giữa các thành tố của nguồn lực lao động Phải chú
ý đến công nhân lao động lành nghề, nâng cao năng lực thực hành và tănghàm lượng chất xám sao cho đội ngũ công nhân lành nghề và các kỹ nghệ gia,
kỹ thuật gia phải chiếm tỉ trọng chủ yếu Đây là một tiêu chí đòi hỏi sự phấnđấu không ngừng của cả nước, toàn xã hội, toàn ngành Giáo dục, giáo dụcchuyên nghiệp và dạy nghề nói riêng trong giai đoạn trước mắt cũng như lâudài mà nghị quyết Đại hội IX đã xác định: “Nâng tỉ lệ lao động qua đào tạolên 30% vào năm 2005” “Số học sinh công nhân kỹ thuật tăng 11-12%/năm” Trên thực tế, trong nhiều năm qua chúng ta mới đầu tư chú ý đến pháttriển giáo dục phổ thông, giáo dục đại học chưa coi trọng giáo dục nghềnghiệp, dẫn đến giáo dục chuyên nghiệp, nhất là đạo tạo công nhân mất cânđối Qui mô đào tạo nghề hiện nay vẫn quá nhỏ bé, manh mún, thiết bị đàotạo lạc hậu, không đáp ứng được yêu cầu CNH - HĐH Chính những vấn đềnêu trên đòi hỏi phải không ngừng đẩy mạnh công tác đào tạo nghề, khôngngừng nâng cao chất lượng đào tạo
Dạy nghề trong thời kỳ CNH - HĐH bao hàm nội dung rất phong phú
từ "Dạy chữ, dạy người" tới dạy nghề, dạy đạo lý nghề nghiệp, dạy pháp luật,tác phong công nghiệp Dạy nghề phải gắn liền với giải quyết việc làm, với sửdụng người lao động có tay nghề, với phát triển nhân lực bồi dưỡng và trọngdụng nhân tài Để đảm bảo phát triển nguồn nhân lực, Nghị quyết Đại hội IX
đã chỉ rõ" Tiếp tục đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp giảng dạy vàphương thức đào tạo đội ngũ lao động, có chất lượng cao, đặc biệt là trongcác ngành kinh tế mũi nhọn, công nghệ cao Gắn việc hình thành các khucông nghiệp, khu công nghệ cao, với hệ thống các trường đào tạo nghề Phát
Trang 24triển nhanh và phân bố hợp lý hệ thống trường dạy nghề trên địa bàn cả nước.
Mở rộng các hình thức đào tạo nghề đa dạng, linh hoạt, năng động"
1.1.4 Đặc điểm, yêu cầu của hoạt động đào tạo nghề
1.1.4.1 Đặc điểm của hoạt động đào tạo nghề
Dạy lý thuyết và dạy thực hành nghề trong đào tạo nghề có cùng mụcđích Nhưng lại có những nhiệm vụ khác nhau Dạy học thực hành nghề thểhiện sự khác biệt chính ở những điểm sau:
- Trong dạy thực hành nghề có mối liên hệ trực tiếp với thực tiễn sảnxuất, trong khi đó dạy lý thuyết nghề có mối liên hệ gián tiếp với sản xuất
- Trong dạy thực hành đơn vị thời gian là ngày, học ở nơi đào tạo nghềnhư: xưởng thực hành, hoặc phân xưởng sản xuất ngoài xí nghiệp hoặc ởphòng thực nghiệm Nhưng trong dạy lý thuyết thời gian là tiết học ở lớp hoặc
ở phòng học
- Trong dạy thực hành nghề, số lượng học sinh nghề rất khác nhau(thường có từ 15 đến 25 học sinh cho mỗi ca) Trong dạy lý thuyết nghề thì sốlượng học sinh lớn hơn (thường từ 30 đến 50 học sinh) và không thay đổitrong toàn bộ thời gian
- Trong dạy thực hành nghề trên cơ sở của lao động thực tế trong sảnxuất mà tự tổ chức nơi làm việc, vị trí đứng máy, các qui định về an toàn, vềbảo hộ lao động phức tạp hơn trong dạy lý thuyết nghề
- Lao động sư phạm của giáo viên và lao động học tập của học sinhtrong dạy học thực hành nghề không đơn thuần là lao động trí óc mà còn cótính chất thể hiện rõ rệt, đòi hỏi nỗ lực thể chất lớn hơn khi dạy học lý thuyết
Tính chất xã hội của dạy nghề Quá trình dạy học trong đào tạo nghề
có liên hệ chặt chẽ với quá trình lao động xã hội Đây là một vấn đề cơ bảntrong đào tạo nghề nghiệp người giáo viên dạy thực hành phải nghiên cứu một
Trang 25cách nghiêm túc, bởi vì chính thông qua lao động thực tiễn đã rút ra để rồixây dựng mục đích và nhiệm vụ của dạy học thực hành nghề.
- Trong đào tạo thực hành nghề tính chất của sự lĩnh hội nhận thức củahọc sinh đã từng bước chuyển biến từ hoạt động có tính chất học tập thuần túysang tính chất học tập lao động rồi đến tính chất lao động - học tập và cuốicúng trong giai đoạn thực tập ở vị trí người công nhân hoạt động của học sinhhẩu như hoàn toàn mang tính chất lao động Trong đào tạo nghề, nguyên lýgiáo dục: “ Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhàtrường gắn liền với xã hội” thể hiện rất rõ nét, đồng thời cũng có điều kiệnkhách quan thuận lợi để thực hiện một cách triệt để
- Trong dạy học thực hành nghề lao động học tập có tính chất phân hóacao do sự đa dạng phong phú của các yêu cầu đặc trưng của hàng trăm nghềđào tạo khác nhau của các loại hình và con đường đào tạo khác nhau
1.1.4.2 Yêu cầu của hoạt động đào tạo nghề
Bất kỳ hoạt động nghề nghiệp nào, muốn đạt kết quả tốt bao giờ cũngphải đảm bảo 2 mặt chủ yếu:
- Tính chính xác, nhanh gọn của các thao tác, động tác chính là kỹxảo
- Cách tổ chức sản xuất, hình thành kỹ năng, phát triển tư duy
Vai trò cốt lõi của dạy học thực hành nghề là hình thành kỹ năng, rènluyện kỹ xảo nghề và phát triển kỹ năng hành dụng trên cở sở những liên hệhữu cơ giữa tri thức, kỹ năng và kỹ xảo
Kỹ năng và kỹ xảo là hai thuật ngữ thường được dùng để chỉ sự thựchiện các hành động, hoạt động trong đời sống hoặc trong đào tạo nghề nghiệp.Hai thuật ngữ này có quan hệ chặt chẽ với nhau và phát triển trên nền kiếnthức thu nhận được Theo từ điển tiếng Việt (2002), kỹ năng là khả năng vậndụng những tri thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế Từ
Trang 26góc độ tâm lý học về dạy thực hành, kỹ năng được hiểu là: “ Khả năng củacon người thực hiện công việc một cách có hiệu quả trong một thời gian thíchhợp trong các điều kiện nhất định và dựa vào các tri thức, kỹ xảo đã có” Căn
cứ vào các yếu tố hợp thành kỹ năng và tính chất phức tạp của hoạt động đểphân loại kỹ năng đơn giản (kỹ năng đọc, kỹ năng cần nắm, ), kỹ năng phứctạp (kỹ năng học tập, kỹ năng giũa ), kỹ năng chung và kỹ năng riêng Kỹnăng được hình thành theo những qui luật nhất định Việc thực hành kỹ năngbắt đầu từ sự nhận thức và kết thúc là biểu hiện ở hành động cụ thể Có thểphân chia một cách tương đối gồm 5 giai đoạn hình thành kỹ năng:
- Giai đoạn hình thành sơ bộ: nhận thức được mục đích của hành độngvà tìm tòi các phương pháp thực hiện hành động, dựa trên các kiến thức và kỹxảo đã có từ trước
- Giai đoạn hoạt động chưa khéo léo: hiểu biết về các phương phápthực hiện hành động và sử dụng được những kỹ xảo đã có
- Giai đoạn hình thành các kỹ năng đơn lẻ nhưng có tính chất chungcho các hoạt động: có nhiều kỹ năng riêng lẻ có tính chất hẹp nhưng lại cầnthiết cho nhiều hoạt động khác nhau (kỹ năng kế hoạch hóa, kỹ năng tổ chức)
- Giai đọan kỹ năng phát triển cao: sử dụng một cách sáng tạo nhữngkiến thức và kỹ xảo nghề nghiệp vào thực tiễn, nhận thức đúng mục đích vàđộng cơ lựa chọn các phương pháp để đạt được mục đích
- Giai đoạn đạt trình độ tay nghề cao (lành nghề): vận dụng một cáchsáng tạo các kỹ năng khác nhau vào các hoàn cảnh khác nhau
Từ điển Tiếng Việt (2002) định nghĩa kỹ xảo là kỹ năng đạt đến mứcthuần thục Kỹ xảo là năng lực thực hiện hành động với độ chính xác cao, tốc
độ nhanh và hợp lý nhất Trong tâm lý học dạy thực hành, người ta coi: “ Kỹxảo là hoạt động hay thành phần của hoạt động đã được tự động hóa nhờ quátrình luyện tập” Trong đào tạo nghề, kỹ xảo thường bao gồm 3 loại kỹ xảo:
Trang 27kỹ xảo vận động, kỹ xảo cảm giác, kỹ xảo trí tuệ Các loại kỹ xảo này có quan
hệ mật thiết, gắn bó với nhau, khó có thể tách rời trong hoạt động nghềnghiệp
Các cơ sở đào tạo nghề: Theo bộ Luật Lao động bao gồm tất cả các cơ
sở đào tạo ngoài hệ thống trường đào tạo chính qui như: các trường dạy nghềcủa các tổ chức, cơ quan, Tổng công ty, doanh nghiệp; các trung tâm đào tạonghề quận, huyện; các trung tâm dịch vụ việc làm
Các trung tâm đào tạo nghề quận, huyện và các trung tâm dịch vụ việclàm đào tạo các lớp do các ngành và các thành phần kinh tế yêu cầu Kinh phícủa các cơ sở này một phần được ngân sách nhà nước cấp, một phần do Bộ,địa phương chủ quản và người học tự đóng góp
Các trường dạy nghề tư thục và các lớp dạy nghề tư nhân: do các tổchức, cá nhân tự tổ chức theo qui định của Nhà nước Kinh phí học tập chủyếu do người học phải đóng góp
Hợp tác Quốc tế về đào tạo nghề: Sự mở cửa nền kinh tế, chính sáchkhuyến khích tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài khiến cho nhiều quốc gia,
tổ chức quốc tế, các công ty lớn trên thế giới đã tìm đến Việt Nam hợp táctrong nhiều lĩnh vực Chúng ta có thể khai thác khả năng của các tổ chứcnước ngoài trong việc đào tạo bồi dưỡng nghề với hình thức đào tạo thông
Trang 28qua hợp đồng giữa các bên, qua các dự án đầu tư có khoản mục đào tạo mớivà đào tạo lại.
Căn cứ vào thời gian đào tạo, đào tạo dạy nghề được chia làm hai loại:Đào tạo dạy nghề dài hạn (cả đào tạo mới và đào tạo lại): Là hình thứcđào tạo phổ biến tại các trường chính qui của Nhà nước, các Bộ, Ngành vàcác tỉnh Thời gian đào tạo nghề dài hạn thường từ một năm trở lên
Đào tạo dạy nghề ngắn hạn: Là cách tổ chức dạy nghề trong thời gianngắn (từ ba đến mười hai tháng) Người học vừa học lý thuyết vừa thực hànhtheo hình thức kèm cặp tại nơi sản xuất, chủ yếu là rèn luyện kỹ năng thựchành nghề, chuyển giao công nghệ… Nhằm tạo cơ hội cho người học tìmđược việc làm hoặc tự tạo ra việc làm
1.2 NỘI DUNG ĐÀO TẠO NGHỀ
1.2.1 Xác định mục tiêu đào tạo nghề
Luật giáo dục (năm 2005, điều 33, trang 25,26) quy định về mục tiêucủa giáo dục nghề nghiệp như sau: “Mục tiêu của giáo dục nghề nghiệp là đàotạo người lao động có kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp ở các trình độ khácnhau, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, có sức khỏe nhằm tạo điều kiệncho người lao động có khả năng tìm được việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếptục hoặc tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu pháttriển kinh tế, xã hội củng cố quốc phòng, an ninh” Điều này có nghĩa là giáodục nghề nghiệp trong đó có đào tạo nghề phải lấy mục tiêu đào tạo người laođộng có kiến thức, kỹ năng, thái độ, ý thức nghề nghiệp đáp ứng nhu cầu laođộng xã hội là chính, đồng thời với khả năng phát triển toàn diện của chính họtrong nghề nghiệp và trong xã hội, phù hợp với chiến lược phát triển nguồnnhân lực, phát triển con người của đất nước ta trong thời kỳ công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước Những yêu cầu đối với mục tiêu dạy học là:
Trang 29- Mục tiêu dạy học phải được diễn đạt theo yêu cầu của người học chứkhông phải chức năng của người dạy Người học là chủ thể thực hiện mụctiêu để chiếm lĩnh khả năng mới.
- Mục tiêu dạy học phải thiết thực, phù hợp và có tính khả thi
- Xác định trình độ cần đạt được và phương pháp để đo lường đượcmức độ thành công của người học
- Xác định được trình độ hiện có của học sinh và thời gian, cơ sở vậtchất
1.2.2 Xác định nhu cầu đào tạo nghề
Nhu cầu đào tạo của một người là những gì người đó cần học để có thểđạt được một mục tiêu nhất định trong cuộc sống hay công việc của họ.Thông thường, nhu cầu học thường xuất phát từ những mong muốn haynguyện vọng của chính người học Đôi khi, người học không tự mình thấyngay được những nhu cầu đó mà cần phải có sự hỗ trợ, tư vấn của người làmcông tác đào tạo để có thể thấy rõ
Do vậy, nhu cầu đào tạo chính là những kiến thức, kỹ năng, phươngpháp và quan điểm mà học viên cần học để đáp ứng những nguyện vọng trongcông việc và cuộc sống của họ
Đánh giá và xác định nhu cầu đào tạo của người học đặc biệt là laođộng thuộc diện thu hồi đất là việc rất khó Người ta viết về tầm quan trọngcủa việc làm này rất nhiều nhưng có rất ít tài liệu mô tả xem nó có thể thựchiện như thế nào Một số vấn đề liên quan đến quá trình này:
- Các nhà xây dựng, thiết kế các khóa đào tạo có thể coi trọng các ý kiếncủa lao động thuộc diện thu hồi đất, những ý tưởng mà những người lao độnghiểu rõ nhất
- Lao động thuộc diện thu hồi đất không tin vào các nhà xây dựng, thiếtbị và tổ chức các khóa đào tạo hay họ thấy bị áp đặt bởi những người này bời
Trang 30vì họ đã từng bị áp đặt bởi cảm tính trong khi họ nghĩ rằng họ thực sự cần loạithông tin khác hoặc bởi vì họ đã từng trãi qua những khóa đào tạo vô bổ( không có tác dụng).
- Nông dân không nhận thức được nhu cầu đào tạo của mình là như thếnào và có các cơ hội nào về đào tạo
- Thảo luận về các nhu cầu đào tạo bị chi phối bởi nhúng nhóm người cóquyền lực nhất định như những người có vai trò định hướng, lãnh đạo, nhữngngười lao động giàu có và những nam lao động… mà không kể đến lợi íchcủa những nhóm người dễ bị tổn thương như lao động nghèo, phụ nữ, trẻ emvà các đối tượng dễ bị tổn thương khác
Những khó khăn này cho ta thấy với bất kì chương trình phát triểnchương trình đào tạo nào cũng cần phải tiến hành phân tích các bên liên quanthật cẩn thận ngay từ giai đoạn đầu Kết quả đạt được sẽ có ý nghĩa và phùhợp hơn nếu như mọi thành viên liên quan đều được mời tham gia vào quátrình đánh giá nhu cầu đào tạo
• Ý nghĩa , tầm quan trọng của việc xác định nhu cầu đào tạo
Xác định và phân tích nhu cầu đào tạo cần được coi là một nhiệm vụbắt buộc của công tác đào tạo tăng cường năng lực và của mỗi giáo viên.Trước đây, công việc này thường không được tiến hành đầy đủ hoặc thậm chíhoàn toàn không tiến hành, mà các chương trình đào tạo được tổ chức chủ yếulà do cảm nhận của ai đó cho rằng học viên cần học những nội dung này
Đào tạo không phải lúc nào cũng là một giải pháp đối với một vấn đềnào đó Nếu vấn đề là do đối tượng người học không biết làm vì thiếu kiếnthức, kỹ năng, phương pháp, có thể dùng giải pháp đào tạo, bồi dưỡng Nhưngnếu vấn đề lại là do họ không thích làm, không muốn làm, phải áp dụng cácbiện pháp khác
Trang 31Xác định và phân tích nhu cầu đào tạo là bước phải tiến hành trước tiên
để có một chương trình đào tạo hiệu quả Đây là công việc vô cùng quantrong để đảm bảo đáp ứng nhu cầu học tập của học viên, đồng thời đảm bảorằng đào tạo đứng trên quan điểm “lấy học viên làm trung tâm”
Quá trình đánh giá nhu cầu đào tạo giúp tìm hiểu cấp độ năng lực hiệntại của mỗi cá nhân và khả năng phản ứng của học viên đối với các nội dungđào tạo Kết quả đánh giá nhu cầu đào tạo giúp thiết kế khóa đào tạo sao cho
có thể đáp ứng được những nhu cầu chung và cả những nhu cầu riêng biệt củanhóm học viên mục tiêu
Trong đào tạo nghề, việc đào tạo phải gắn với nhu cầu lao động màtrước hết là gắn với người sử dụng lao động (các doanh nghiệp) Ở nhiềunước như Nhật, Hàn Quốc…việc đào tạo nghề được tiến hành trong công ty,xí nghiệp và đã chứng tỏ rất hiệu quả Thực tế cho thấy, bao giờ cũng có độtrễ về đào tạo so với nhu cầu sử dụng nên trong đào tạo nghề, có thể khắcphục bằng cách chia nhỏ các giai đoạn đào tạo (đào tạo theo modul) hay thiết
kế các modul thích ứng…Đối với người lao động, việc đào tạo nghề và đàotạo lại có thể tiến hành trong bất kỳ giai đoạn nào của cuộc đời
“Hầu hết các học viên sau khi hoàn thành các chương trình giáo dụcnghề nghiệp đều hy vọng sẽ có cơ hội tiếp tục được đào tạo tại nơi làm việchay trong các cơ sở đào tạo tư thục hoặc công lập Vì vậy, việc quản lýchương trình và nội dung đào tạo phải đảm bảo đầu vào linh hoạt và các cơhội đầu ra trong suốt cuộc đời Các học viên tốt nghiệp các chương trình giáodục nghề nghiệp mong muốn thu nhận được những kỹ năng mới thông quaviệc đào tạo lại, cần có các cơ hội học tập suốt đời Một số đề xuất nhằm tạođiều kiện cho hướng đi này bao gồm: thiết kế các khóa học theo mô hìnhmodul, giới thiệu phương pháp đánh giá dựa trên năng lực, sử dụng hình thứchọc tập tự điều chỉnh nhằm đáp ứng các nhu cầu của cá nhân và công nhận
Trang 32những kinh nghiệm, kiến thức và kỹ năng được tích luỹ trước đó của người
được đào tạo.” (Hội nghị thế giới về Giáo dục nghề nghiệp-UNESCO-1999)
Để đào tạo gắn với thị trường lao động, phải có định hướng về sự phát triểncủa các ngành nghề trong xã hội Nhà nước phải xây dựng hệ thống thông tin vềhướng phát triển của các ngành nghề, dự báo về nguồn nhân lực và thị trườnglao động Ở các nước phát triển như Pháp, Thụy Điển, Đan Mạch…,hệ thốngthông tin và dự báo này hoạt động khá tốt (có cơ quan của Nhà nước đảm tráchcông việc này) Ngoài ra, người dân còn được cung cấp những phần mềm tinhọc, những trang Web miễn phí…về lĩnh vực nghề nghiệp
1.2.3 Xác định chương trình đào tạo nghề
Điều 34, Khoản 1 của Luật giáo dục năm 2005 qui định yêu cầu về nộidung giáo dục nghề nghiệp như sau: “ Nội dung giáo dục nghề nghiệp phảitập trung đào tạo năng lực thực hành nghề nghiệp, coi trọng giáo dục đạo đức,rèn luyện sức khỏe, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp, đòi hỏi người họcphải nắm vững Trên cơ sở đó hình thành thế giơi quan và phẩm chất đạo đứcnghề nghiệp để người học bước vào cuộc sống và lao động để thực hiện đượcmục đích giáo dục nghề nghiệp nói riêng và thực hiện các nhiệm vụ dạy họcnói chung, trong thực hành nghề cũng phải bảo đảm các yêu cầu như:
- Nội dung dạy học phải phù hợp với mục tiêu đào tạo Mục tiêu đàotạo nghề là đào tạo nguồn nhân lực lao động có kỹ thuật, nội dung dạy họcphải bảo đảm tính toàn diện, tính hệ thống, liên tục giữa các môn học, tỷ lệgiữa lý thuyết và thực hành, kỹ năng, kỹ xảo cần có của ngành đào tạo
- Nội dung dạy học phải đảm bảo tính cân đối và toàn diện giữa cácmặt: thể hiện ở chỗ bên cạnh việc cung cấp kiến thức kỹ năng, kỹ xảo cần coitrong việc giáo dục chính trị, tư tưởng đạo đức
- Nội dung đào tạo phải gắn liền với thực tế sản xuất
Trang 33- Nội dung dạy học phải đảm bảo tính khoa học, cơ bản, hiện đại phùhợp với trình độ người học.
+ Tính khoa học: đảm bảo cho nội dung đào tạo chính xác về kiến thức,
kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp
+ Tính cơ bản: đảm bảo cho nội dung dạy học cung cấp những tri thứcđủ để nắm vững chuyên môn, nghề nghiệp
+ Phù hợp với trình độ người học: đảm bảo tính vừa sức trong nhậnthức của học sinh
+ Tính hiện đại: nội dung dạy học phải phản ánh thành tựu hiện đại củanhân loại cả lý thuyết lẫn thực tiễn ứng dụng thuộc lĩnh vực khoa học đó, phùhợp với thực tiễn Việt Nam
+ Nội dung dạy học phải đảm bảo tính thống nhất chung trong cả nướcđồng thời cũng tính đến đặc điểm từng miền
+ Nội dung dạy học phải đảm bảo tính liên thông và tính hệ thống giữacác môn học và liên thông giữa các cấp học
1.2.4 Lựa chọn hình thức, phương pháp đào tạo nghề
Điều 34, Khoản 2 của Luật giáo dục năm 2005 quy định yêu cầu vềphương pháp giáo dục nghề nghiệp như sau: “Phương pháp giáo dục nghềnghiệp phải kết hợp rèn luyện kỹ năng thực hành với giảng dạy lý thuyết đểgiúp người học có khả năng hành nghề và phát triển nghề nghiệp theo yêu cầucủa từng công việc” Về đổi mới phương pháp đào tạo, Nghị quyết Trungương IV ghi rõ: “ Đổi mới phương pháp dạy học ở tất cả các cấp học Kết hợptốt học với hành, học tập với lao động sản xuất, thực nghiệm và nghiên cứukhoa học; gắn nhà trường và xã hội Áp dụng những phương pháp giáo dụchiện đại để bồi dưỡng học sinh năng lực giải quyết vấn đề” Phương pháp họcgồm 4 nhóm: nhóm phương pháp dạy học dùng lời, nhóm phương pháp dạyhọc trực quan, nhóm phương pháp thực hành và nhóm phương pháp kiểm tra
Trang 34đánh giá kết quả học sinh Như vậy, mỗi phương pháp có một phạm vi nhấtđịnh, nó quy định trình tự kế tiếp của các bước riêng rẽ của tư duy và hànhđộng Toàn bộ các phương pháp dạy học không những có ý nghĩa đối vớicông tác giáo dưỡng, mà còn phải góp phần vào việc giáo dục đạo đức, ý thứcnghề nghiệp cho học sinh học nghề.
Phương pháp dạy học là tổng hợp các cách thức hoạt động của thầy trònhằm thực hiện tối ưu mục đích, nhiệm vụ dạy học Trong thực tiễn giảng dạymỗi phương pháp đều có những ưu, nhược điểm riêng cho nên để có lựa chọnvà vận dụng phối hợp tốt nhất các phương pháp dạy học, cần căn cứ vào mụcđích yêu cầu, nội dung và đặc trưng từng môn học, căn cứ vào đặc điểm nhậnthức, đặc điểm lứa tuổi người học, điều kiện cơ sở vật chất Trên cơ sở đógiáo viên tổ chức điều khiển hoạt động dạy, học sinh tự tổ chức điều khiểnhoạt động học để thực hiện tốt mục tiêu dạy học
1.2.5 Đánh giá kết quả đào tạo nghề
Đánh giá kết quả thành tích học tập của học sinh là khâu không thểthiếu trong quá trình dạy học Đánh giá có quan hệ hữu cơ với quá trình dạyhọc Đánh giá là động lực thúc đẩy tích cực hoạt động dạy học và là công cụ
đo trình độ người học Qua đánh giá giúp cho các nhà quản lý điều chỉnh, cảitiến nội dung chương trình, kế hoạch dạy học đồng thời giúp giáo viên luônđổi mới nội dung, phương pháp dạy học Những yêu cầu cơ bản của việc đánhgiá kết quả học tập của học sinh gồm:
- Đảm bảo việc đánh giá là đánh giá kết quả đạt được mục tiêu giáodục Đây là yêu cầu cơ bản nhất và quan trọng nhất của đánh giá kết quả họctập của học sinh và đó chính là độ giá trị của đánh giá Không đạt yêu cầu nàythì coi như cả quá trình đánh giá là không đạt
- Đảm bảo tính khách quan Yêu cầu đảm bảo tính khách quan của đánhgiá kết quả học tập của học sinh vừa đòi hỏi kết quả đánh giá, phải phản ánh
Trang 35đúng kết quả lĩnh hội kiến thức và kỹ năng của học sinh vừa đòi hỏi kết quảđánh giá không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của những người đánh giá.Thực hiện được yêu cầu này không những nhằm thu được những thông tinphản hồi chính xác mà còn đảm bào được sự công bằng trong đánh giá, vốn làmột trong những yêu cầu có ý nghĩa giáo dục và xã hội to lớn.
- Đảm bảo tính công khai Đảm bảo tính công khai trong đánh giá kếtquả học tập của học sinh từ khâu chuẩn bị tiến hành đến khâu công bố kết quảkhông những có ý nghĩa giáo dục mà còn có ý nghĩa xã hội, thể hiện tính dânchủ cũng như góp phần hạn chế tiêu cực trong giáo dục
Bốn yêu cầu cơ bản trên có thể dùng làm thước đo giá trị của việc đánhgiá kết quả học tập của học sinh Ngoài ra, cần phải bảo đảm ý nghĩa của việcđánh giá kết quả như sau:
- Đối với giáo viên: xác định được thành tích và thái độ của từng họcsinh nghề và của toàn bộ lớp học, qua đó phân tích nguyên nhân của nhữngkết quả thu được từ đó tìm ra biện pháp để cải tiến công tác sư phạm
- Đối với học sinh học nghề: họ tự xác định được sự hiểu biết và nănglực của chính mình so với yêu cầu đặt ra trong chương trình giáo dục
- Đối với người quản lý giáo dục: rút ra được những trọng tâm của côngtác giáo dục và giáo dưỡng ở cơ sở đào tạo của mình từ đó có những biệnpháp trong công tác tổ chức, quản lí và chỉ đạo mọi hoạt động đào tạo củatrường
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐÀO TẠO NGHỀ 1.3.1 Các nhân tố thuộc về cơ sở đào tạo nghề
Đào tạo nghề chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố thuộc về cơ sở đào tạonghề bao gồm: cơ sở vật chất; tài chính cho dạy nghề; đội ngũ giáo viên;
Trang 36chương trình, giáo trình đào tạo; tuyển sinh, việc làm; kiểm tra đánh giá, cấpvăn bằng chứng chỉ, những yếu tố này được coi là những yếu tố đảm bảo chấtlượng của đào tạo nghề Chúng ta xét một số yếu tố chính như sau:
- Cơ sở vật chất, trang thiết bị:
Cơ sở vật chất bao gồm: phòng học, xưởng thực hành cơ bản và thựctập sản xuất, thư viện, học liệu, trang thiết bị phục vụ cho giảng dạy và họctập Đây là yếu tố hết sức quan trọng, nó tác động trực tiếp đến chất lượng củađào tạo nghề Máy móc, trang thiết bị là những thứ không thể thiếu trong quátrình đào tạo nghề, nó giúp cho học viên có điều kiện thực hành để hoàn thiện
kỹ năng Điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy nghề càng tốt, càng hiệnđại, theo sát công nghệ sản xuất thực tế bao nhiêu thì học viên càng có thểthích ứng, vận dụng nhanh chóng trong công việc bấy nhiêu Do vậy, cơ sởvật chất trang thiết bị cho đào tạo nghề đòi hỏi phải theo kịp với tốc độ đổimới của máy móc, công nghệ sản xuất
- Nguồn tài chính: Tài chính cho đào tạo nghề cũng là một trong
những yếu tố cơ bản đảm bảo số lượng và chất lượng đào tạo nghề, nó tácđộng gián tiếp tới chất lượng đào tạo nghề thông qua khả năng trang bị về cơ
sở vật chất, phương tiện, thiết bị giảng dạy, khả năng đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ quản lý, giáo viên Tài chính đầu tư cho đào tạo nghề càng dồi dào thì càng
có điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo nghề Các nguồn tài chính chủ yếucho đào tạo nghề bao gồm: các nguồn lực từ Ngân sách nhà nước, đóng gópcủa bên hợp tác (doanh nghiệp), các nguồn hỗ trợ khác
- Đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý
Giáo viên dạy nghề là người giữ trọng trách truyền đạt kiến thức lýthuyết cũng như các kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm của mình cho các học viên
Trang 37trên cơ sở trang thiết bị dạy học hiện có Vì vậy, năng lực giáo viên dạy nghềtác động trực tiếp đến đào tạo nghề.
Một loại nhân lực khác cũng có ảnh hưởng đến đào tạo nghề đó là độingũ cán bộ quản lý dạy nghề Trong giai đoạn trước đây, vai trò của các cán
bộ quản lý trong các cơ sở đào tạo không được đánh giá cao Tuy nhiên, tronggiai đoạn hiện nay, nhất là trước bối cảnh hội nhập quốc tế và cạnh tranhtrong lĩnh vực dạy nghề đòi hỏi đội ngũ cán bộ quản lý phải là những ngườithực sự có trình độ Chất lượng cán bộ quản lý cũng có ảnh hưởng rất lớn đếnđào tạo nghề, thể hiện qua khả năng tổ chức, quản lý, điều phối quá trình đàotạo, tìm kiếm cơ hội hợp tác, liên kết đào tạo
- Chương trình, giáo trình đào tạo:
Chương trình đạo tạo là điều kiện không thể thiếu trong quản lý nhànước các cấp, các ngành đối với hoạt động của các cơ sở đào tạo nghề.Chương trình đào tạo phù hợp được các cấp có thẩm quyền phê duyệt là mộttrong những yếu tố quan trọng, quyết định chất lượng đào tạo Không cóchương trình đào tạo sẽ không có các căn cứ để xem xét, đánh giá bậc đào tạocủa các đối tượng tham gia đào tạo và việc đào tạo sẽ diễn ra tự phát khôngtheo một chuẩn thống nhất
Chương trình đào tạo bao gồm phần lý thuyết và phần thực hành,tương ứng với mỗi nghề thì tỷ lệ phân chia giữa hai phần này là khác nhau vềlượng nội dung cũng như thời gian học
Với giáo trình cũng tương tự, giáo trình là những quy định cụ thể hơncủa chương trình về từng môn cụ thể trong đào tạo Nội dung giáo trình phảitiên tiến, phải thường xuyên được cập nhật kiến thức mới thì việc đào tạo mớisát thực tế và hiệu quả đào tạo nghề mới cao
Việc nghiên cứu, xây dựng các chương trình, giáo trình sao cho hợp
lý và sát với nhu cầu đào tạo cũng như sát với nghề đào tạo để học viên có thể
Trang 38nắm vững được nghề sau khi tốt nghiệp là vấn đề quan trọng và ảnh hưởngtrực tiếp đến chất lượng đào tạo.
Trên đây là các yếu tố cơ bản tác động đến quá trình đào tạo nghề.Chất lượng của các yếu tố này sẽ tác động quyết định tới chất lượng đào tạonghề
1.3.2 Các nhân tố thuộc về người học nghề
Học viên học nghề là nhân tố quan trọng nhất, có tính quyết định đốivới công tác đào tạo nghề, nó ảnh hưởng toàn diện tới công tác đào tạo nghề.Trình độ văn hóa, sự hiểu biết, tâm lý, cá tính, khả năng tài chính, quỹ thờigian của bản thân học viên đều có ảnh hưởng sâu sắc tới quy mô và chấtlượng đào tạo nghề Trình độ văn hóa cũng như khả năng tư duy của học viêncàng cao thì khả năng tiếp thu các kiến thức trong quá trình học nghề càng tốt,khi ấy chất lượng đào tạo nghề càng cao và ngược lại
1.3.3 Các nhân tố thuộc về điều kiện, kinh tế - xã hội
Các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng tới chất lượng đào tạo nghề bao gồmcác điều kiện môi trường của hệ thống đào tạo nghề Các yếu tố này ảnhhưởng tới chất lượng đào tạo nghề với tính chất là điều kiện, hỗ trợ cho hệthống, phù hợp với các yếu tố bên trong thành hệ thống các yếu tố tác độngđến chất lượng đào tạo nghề
Các yếu tố bên ngoài tác động đến chất lượng đào tạo nghề thuộc nhiềulĩnh vực khác nhau như: thể chế chính trị, kinh tế - xã hội, khoa học - côngnghệ, địa lý, truyền thống - văn hóa Tuy nhiên cần quan tâm, hơn đến một sốyếu tố cơ bản như: hội nhập kinh tế và xu hướng toàn cầu hóa; sự phát triển
KT - XH; cơ chế - chính sách; qui mô - cơ cấu lao động; nhận thức xã hội vềđào tạo nghề
1.4 KINH NGHIỆM ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG THUỘC DIỆN THU HỒI ĐẤT CỦA MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG
Trang 39Nhà nước đã có nhiều chính sách, giải pháp hỗ trợ dạy nghề, việc làmcho lao động khu vực chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp Về phíađịa phương, mỗi nơi có một cách vận dụng khác nhau.
1.4.1 Kinh nghiệm của tỉnh Hưng Yên
Giải quyết vấn đề “hậu thu hồi đất”, nhất là ổn định và phát triển đờisống người nông dân là một bài toán khó đặt ra, không chỉ ở Hưng Yên, màcòn rất nhiều các địa phương khác trên cả nước Cùng với một hệ thống cácgiải pháp bám sát cuộc sống người dân để tháo gỡ như: hỗ trợ vốn giúp nôngdân đầu tư sản xuất, chuyển dịch cơ cấu cây trồng với những loại cây trồnghàng hóa không cần diện tích đất lớn, miễn thủy lợi phí toàn phần, đào tạonghề miễn phí cho nông dân , thì việc đánh thức tiềm năng và phát triển kinh
tế làng nghề nhằm tận dụng lực lượng lao động sẵn có, hạn chế những xáotrộn và ảnh hưởng tới cuộc sống người nông dân do không còn đất canh tác,
đã được Hưng Yên lựa chọn Hiện nay, toàn tỉnh Hưng Yên có khoảng 85làng nghề hoạt động ở các lĩnh vực và quy mô khác nhau, thu hút và giảiquyết việc làm cho 25.000 lao động, với thu nhập bình quân trên 1 triệu đồng/tháng Giá trị sản xuất của các làng nghề chiếm tỷ trọng hơn 30% trong tổnggiá trị sản xuất tiểu, thủ công nghiệp, năm 2009 đạt 672 tỉ đồng, tăng 3 lần sovới năm 2001 Trong điều kiện đất nông nghiệp bị thu hẹp, các làng nghềchính là nơi tạo công ăn việc làm ổn định cho người nông dân, không nhữngthế còn đóng góp lớn vào sự phát triển của địa phương
1.4.2 Kinh nghiệm của tỉnh Bình Dương
Mô hình đáng chú ý nhất là việc cấp đất tái định cư nằm trong khucông nghiệp, khu thương mại dịch vụ của tỉnh Bình Dương Mỗi lao động mấtđất trên 18 tuổi sẽ được cấp 300m2 đất để làm ăn Riêng đối với người trên 35
Trang 40tuổi còn được đào tạo nghề cắt may, điện gia dụng, sửa xe gắn máy, cắt uốntóc Sau khi học xong sẽ được hỗ trợ 1 máy khâu hoặc bộ đồ cắt uốn tóc.
Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TÀO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG
THUỘC DIỆN THU HỒI ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG