1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp tại ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển việt nam chi nhánh đăk lăk

113 111 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 1,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Rủi ro tập trung: là loại rủi ro tín dụng phát sinh từ trường hợp Ngân hàng tập trung cấp tín dụng quá nhiều đối với một số khách hàng, hoặc đối với một số Doanh nghiệp hoạt động tron

Trang 1

-

ĐỖ MẠNH CƯỜNG

ẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM

CHI NHÁNH ĐAKLAK

Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng

Mã số: 60.34.20

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lâm Chí Dũng

Đà Nẵng - Năm 2014

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Đỗ Mạnh Cường

Trang 3

MỤC LỤC

1

1

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2

3 Câu hỏi nghiên cứu 2

5 Phương pháp nghiên cứu 3

6 3

7 Bố cục đề tài 4

8 Tổ ứu 4

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG

TRONG CHO VAY NGẮN HẠN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CỦA NHTM 8

1.1 HOẠT ĐỘNG CHO VAY NGẮN HẠN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG 8

1.1.1 Hoạt động cho vay của Ngân hàng 8

1.1.2 Hoạt động cho vay ngắn hạn đối với Doanh nghiệp của Ngân hàng 10

1.2 RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG 14

1.2.1 Khái niệm rủi ro tín dụng 14

1.2.2 Phân loại rủi ro tín dụng 15

1.2.3 Tác động của rủi ro tín dụng 17

1.3 HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY NGẮN HẠN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CỦA NHTM 19

1.3.1 Đặc điểm RRTD trong cho vay ngắn hạn 19

1.3.2 Nội dung hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay ngắn hạn đối với Doanh nghiệp 20

1.3.3 Tiêu chí đánh giá kết quả hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay ngắn hạn đối với Doanh nghiệp 22

Trang 4

1.3.4 Nhân tố ảnh hưởng đến công tác hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay ngắn hạn đối với Doanh nghiệp 26

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 34 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY NGẮN HẠN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM CHI NHÁNH ĐẮK LẮK 35

2.1 KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM CHI NHÁNH ĐẮK LẮK 35 2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 35 2.1.2 Cơ cấu tổ chức 39 2.1.3 Tình hình hoạt động kinh doanh cơ bản của Ngân hàng TMCP Đầu

tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Đắk Lắk trong 03 năm 2013) 41 2.2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY NGẮN HẠN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM CHI NHÁNH ĐẮK LẮK 46 2.2.1 Những biện pháp hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay ngắn hạn

(2011-2012-mà BIDV - Chi nhánh Đắk Lắk đã triển khai trong thời gian qua 46 2.2.2 Kết quả hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay ngắn hạn đối với Doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Đắk Lắk 72 2.2.3 Đánh giá chung thực trạng hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay ngắn hạn đối với Doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Đắk Lắk 77

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 82

Trang 5

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO NGẮN HẠN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM CHI NHÁNH ĐẮK LẮK 83

3.1 ĐỊNH HƯỚNG CÔNG TÁC HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM CHI NHÁNH ĐẮK LẮK TRONG THỜI GIAN TỚI 83 3.1.1 Định hướng chung của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam 83 3.1.2 Định hướng công tác hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay ngắn hạn đối với Doanh nghiệp của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Đắk Lắk 86 3.2 GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY NGẮN HẠN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM CHI NHÁNH ĐẮK LẮK 88 3.2.1 Hoàn thiện chất lượng hệ thống thông tin khách hàng 88 3.2.2 Bảo đảm việc tuân thủ chính sách và quy trình cho vay ngắn hạn

DN của Ngân hàng 88 3.2.3 Hoàn thiện công tác thẩm định trong cho vay ngắn hạn 89 3.2.4 Tăng cường kiểm tra, kiểm soát sau cho vay đối với Doanh nghiệp 89 3.2.5 Tăng cường và nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm tra, kiểm toán nội

bộ 90 3.2.6 Phân tán rủi ro trong cho vay ngắn hạn đối với Doanh nghiệp 91 3.2.7 Thực hiện tốt việc phân loại nợ và sử dụng dự phòng RRTD để tài trợ rủi ro tín dụng trong cho vay ngắn hạn đối với DN 91 3.2.8 Hoàn thiện công tác xếp hạng tín dụng nội bộ khách hàng 92 3.2.9 Tăng cường xử lý nợ có vấn đề, áp dụng các công cụ mới trong xử

lý RRTD 94

Trang 6

3.3 KIẾN NGHỊ 97

3.3.1 Đối với chính phủ 97

3.3.2 Đối với Ngân hàng Nhà nước 99

3.3.3 Đối với Hội sở chính 100

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 102

KẾT LUẬN 185 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI (bản sao)

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BCTC Báo cáo tài chính

BIDV Ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam

Trang 10

ề tài “Hạn chế rủi ro tín dụ

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

3 Câu hỏi nghiên cứu

Những nghiên cứu của đề tài nhằm trả lời các câu hỏi nghiên cứu chủ yếu sau:

Trang 11

- Đối tượng nghiên cứ ững vấn đề ận về hạn chế RRTD trong NHTM và thự ạn chế RRTD

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật biện chứng

- Cơ sở lý luận: Kinh tế học vĩ mô, vi mô, Lý thuyết tài chính – tiền tệ, quản trị Ngân hàng thương mại…

- Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Đề tài sử dụng các phương pháp suy luận khoa học phổ ổng hợp; Quy nạp và diễn dịch và các phương pháp thống kê

Trang 12

Chương 3 : Giải pháp tăng cường hạn chế rủi ro tín dụng trong cho ngắn hạn đối với Doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Đắk Lắk

8

Các nghiên cứu về các giải pháp nhằm bảo đảm chất lượng tín dụng, hoàn thiện công tác kiểm soát rủi ro tín dụng trong tương quan với mục tiêu tăng trưởng quy mô tín dụng đã được tiến hành rất nhiều Phần lớn các đề tài thường tiếp cận dưới góc độ hai góc độ: quản trị rủi ro tín dụng hoặc các giải pháp nhằm phòng ngừa hoặc giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng Trong đó, thời gian gần đây, cách tiếp cận về quản trị rủi ro tín dụng tương đối phổ biến hơn Các nghiên cứu về giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tương đối ít Một số công trình tiêu biểu:

1 Nguyễn Thị Thanh Huyền (2011), Quản trị rủi ro tín dụng Doanh nghiệp theo mức độ rủi ro khách hàng – kinh nghiệm quốc tế, Tạp chí Ngân hàng, (7), tr.60-67

Bài báo đề cập đến cách tiếp cận quản trị danh mục tín dụng Doanh nghiệp căn cứ trên mức độ rủi ro tín dụng (rủi ro vỡ nợ) Điều này có ý nghĩa rất quan trọng trong quản trị tín dụng, góp phần tăng cường chất lượng tín dụng của danh mục tín dụng nói chung

Trang 13

Công cụ quan trọng để thực hiện điều này là hệ thống xếp hạng TD nội

bộ đối với khách hàng và ước tính tổn thất RRTD Cùng với việc đó, là việc xây dựng danh mục theo kế hoạch

2 Phạm Thị Nguyệt, Hà Mạnh Hùng (2011), Nguyên nhân và những biểu hiện rủi ro tín dụng của NHTM, Tạp chí Ngân hàng, (9), tr.29-33

Bài báo nêu những nghiên cứu về nguyên nhân của RRTD và một số chỉ dấu cơ bản để nhận diện RRTD

3 Nguyễn Bá Diệp (2011), Một số giải pháp xử lý nợ xấu tại Chi nhánh Ngân hàng NNo Tỉnh Quảng Nam, Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng, Đại học Đà Nẵng

Tác giả tiếp cận vấn đề dưới góc độ xử lý nợ xấu Nợ xấu là một biểu hiện chủ yếu của rủi ro tín dụng Xử lý nợ xấu là một nghiệp vụ được tiến hành nhằm hạn chế rủi ro tín dụng Tác giả đã thu thập các dữ liệu thứ cấp về tính hình nợ xấu và xử lý nợ xấu tại NHNNo Quảng Nam, từ dó phân tích các vấn đề còn tồn tại, hạn chế và đề xuất các giải pháp nhằm đẩy mạnh công tác

xử lý nợ xấu tại NH này

Tuy nhiên, dữ liệu so sánh với các Ngân hàng khác vẫn còn hạn chế Một số giải pháp vẫn chưa gắn với những phân tích ở chương 2 và do đó, chưa thể hiện được tính đặc thù của Ngân hàng NN Quảng Nam

4 Ngô Hải Quỳnh (2010), Quản trị rủi ro trong hoạt động cho vay tại Ngân hàng Hàng Hải chi nhánh Đà Nẵng, Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh, chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng, Đại học Đà Nẵng

Đề tài xuất phát từ phân tích, đánh giá thực trạng rủi ro và quản trị rủi ro trong hoạt động cho vay tại chi nhánh NH hàng Hải tại Đà Nẵng, đề xuất những giải pháp hoàn thiện công tác quản trị rủi ro trong hoạt động cho vay tại NH này

Trang 14

Cách tiếp cận của đề tài là đề cập toàn diện hoạt động quản trị rủi ro trong hoạt động cho vay Tuy nhiên, khái niệm về rủi ro trong hoạt động cho vay quá rộng, đề tài vẫn chưa thể giải quyết trọn vẹn theo mục tiêu đề ra do

đó, đề tài chỉ giới hạn trong rủi ro tín dụng

5 Nguyễn Thị Kim Sơn (2011), Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng đối với các DN vừa và nhỏ tài chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Đà Nẵng, Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh, Đại học Đà Nẵng

Đề tài tiếp cận ván đề dưới góc độ hạn chế rủi ro tín dụng cho một loại đối tượng khách hàng là các Doanh nghiệp nhỏ và vừa Vì vậy, đề tài xuất phát từ các đặc trưng của các DNNVV

Đề tài đã xuất phát từ khảo sát thực trạng RRTD và công tác hạn chế rủi

ro TD tại chi nhánh NH nghiên cứu để đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường hạn chế rủi ro tín dụng tại Chi nhánh Tuy nhiên, những đặc trưng trong công tác hạn chế RRTD đối với DNNVV vẫn chưa được nhận diện đầy đủ

6 Võ Lê Anh Huy (2012), Quản lý rủi ro tín dụng đối với khách hàng Doanh nghiệp tại NH TMCP VP Bank Chi nhánh Đà Nẵng, Luận văn thạc sĩ Quản trị kinh doanh, chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng, Đại học Đà Nẵng

Đề tài đã giải quyết được một số vấn đề về Cơ sở lý luận về quản lý rủi

ro tín dụng đối với khách hàng Doanh nghiệp tại NHTM; khảo sát, đánh giá Thực trạng quản lý rủi ro tín dụng đối với khách hàng Doanh nghiệp tại NHTM và đề xuất giải pháp tăng cường quản lý rủi ro tín dụng đối với khách hàng Doanh nghiệp tại NHTMCP VP Bank chi nhánh Đà Nẵng

Tuy nhiên, cách tiếp cận của đề tài không nhất quán, các khái niệm sử dụng có nhiều chỗ có phần trùng lặp và khó hiểu

7 Trương Tuấn Anh (2012), Quản trị rủi ro tín dụng tại Sacombank – Chi nhánh Đà Nẵng, Luận văn thạc sĩ Quản trị kinh doanh, chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng, Đại học Đà Nẵng

Trang 15

Đề tài đã tổng hợp nhiều vấn đề mới về lý luận rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng và đã thu thập, xử lý một lượng thông tin khá lớn, các phân tích, đánh giá thực trạng quản trị rủi ro tín dụng theo một cách tiếp cận nhất quán về vấn đề nghiên cứu Đề tài cũng đã đề xuất một hệ thống giải pháp phù hợp với mục tiêu và phạm vi nghiên cứu Tuy nhiên, một số khái niệm vẫn chưa được phân định rõ dẫn đến sự lúng túng trong phân tích Một số giải pháp vẫn còn thiếu những bàn luận cụ thể, chi tiết

8 Phan Thị Mai Hoa (2007), Giải pháp phòng ngừa, hạn chế rủi ro tín dụng tại chi nhánh Ngân hàng Công thương 2 TP.Hồ Chí Minh, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh

Đề tài đã trình bày một số mô hình lượng hóa RRTD trên thế giới

Đề tài cũng được tiến hành theo cách truyền thống là sử dụng các dữ liệu thứ cấp để phân tích, đánh giá thực trạng về RRTD và công tác quản lý RRTD của Ngân hàng Công thương Việt Nam – chi nhánh NHCT 2 TP.HCM, Từ

đó, đề xuất một số giải pháp phòng ngừa, hạn chế RRTD tại Ngân hàng

Tuy nhiên, hạn chế của đề tài là các khái niệm phòng ngừa, hạn chế RRTD chưa được định nghĩa rõ ràng, nhiều chỗ trùng lặp, dẫn đến lúng túng trong phân tích, giảm tính thuyết phục của đề tài

Trang 16

1.1.1 Hoạt động cho vay của Ngân hàng

a Khái niệm cho vay

Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi

b Phân loại cho vay

- Phân loại cho vay của TCTD dựa vào thời hạn:

+ Cho vay ngắn hạn: là khoản vay có thời hạn cho vay đến 12 tháng + Cho vay trung hạn: là các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 12 tháng đến 60 tháng

+ Cho vay dài hạn: là các khoản vay có thời hạn cho vay từ 60 tháng trở lên

- Phân loại cho vay của TCTD dựa vào tính chất có bảo đảm của khoản vay (hay là mức độ tín nhiệm của khách hàng):

+ Cho vay có tài sản đảm bảo: là hình thức cho vay mà trong đó nghĩa vụ trả nợ tiền vay được bảo đảm bằng tài sản của bên vay hoặc của người thứ ba (người bảo lãnh khoản tiền vay)

Trang 17

+ Cho vay không có tài sản đảm bảo: là hình thức cho vay mà trong đó nghĩa vụ hoàn trả tiền vay không được bảo đảm bằng các tài sản thuộc quyền

sở hữu của khách hàng vay hoặc của người thứ ba

- Phân loại cho vay dựa vào mục đích sử dụng vốn vay:

+ Cho vay để kinh doanh là hình thức cho vay mà trong đó các bên đã có cam kết là số tiền vay sẽ được bên vay sử dụng vào mục đích sử dụng thực hiện các công việc kinh doanh của mình

+ Cho vay tiêu dùng: là việc cho vay mà trong đó các bên có thỏa thuận, cam kết với nhau về vấn đề số tiền vay sẽ được khách hàng (bên đi vay) sử dụng vào việc thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt hàng ngày và tiêu dùng: Mua sắm

đồ gia dụng, mua sắm nhà của hoặc phương tiện đi lại…

- Phân loại cho vay dựa vào phương thức vay:

+ Cho vay từng lần: áp dụng đối với khách hàng có nhu cầu vay vốn từng lần Mỗi lần vay vốn, khách hàng và Ngân hàng nơi cho vay lập thủ tục vay vốn theo quy định và ký hợp đồng tín dụng

+ Cho vay theo hạn mức tín dụng: áp dụng với khách hàng vay ngắn hạn

có nhu cầu vay vốn thường xuyên, kinh doanh ổn định

+ Cho vay theo dự án đầu tư: Ngân hàng cho khách hàng vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự

Trang 18

đồng Việt Nam hoặc ngoại tệ của NH; trong thời gian hiệu lực của hợp đồng, nếu khách hàng không sử dụng hoặc sử dụng không hết hạn mức tín dụng dự phòng, khách hàng vẫn phải trả phí cam kết tính cho hạn mức tín dụng dự phòng đó Mức phí cam kết được thỏa thuận giữa khách hàng vay và NH + Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: NH chấp thuận cho khách hàng được sử dụng số vốn vay trong phạm vi hạn mức tín dụng để thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ và rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt là đại lý của NH

+ Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là việc cho vay mà NH thỏa thuận bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán của khách hàng

1.1.2 Hoạt động cho vay ngắn hạn đối với Doanh nghiệp của Ngân hàng

a Khái niệm Doanh nghiệp

Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh (theo Luật Doanh nghiệp năm

2005)

b Cho vay ngắn hạn đối với Doanh nghiệp của NHTM

 Khái niệm cho vay ngắn hạn đối với Doanh nghiệp của NHTM

Cho vay ngắn hạn là loại hình cho vay có thời hạn dưới 1 năm Mục đích của loại cho vay này thường là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản lưu động

Đối tượng khách hàng của NHTM là các Doanh nghiệp hoạt động theo quy định của Pháp luật Việt Nam

 Đặc điểm cho vay ngắn hạn đối với Doanh nghiệp của NHTM

- Thời hạn của hợp đồng tín dụng ngắn hạn không quá 12 tháng

Trang 19

- Cho vay ngắn hạn nhằm bổ sung vốn lưu động tạm thời thiếu của các Doanh nghiệp

- Đối tượng cho vay bao gồm: Giá trị vật tư hàng hóa là các vật tư, nguyên vật liệu chuẩn bị cho sản xuất và thành phẩm hàng hóa sẵn sàng cho tiêu thụ; Chi phí sản xuất và lưu thông để tạo ra thành phẩm; Giá trị tiền tệ trong thanh toán bao gồm quỹ tiền mặt chuẩn bị thu mua vật tư hàng hóa, tiền gửi thư tín dụng,… để thu mua vật tư hàng hóa và các chứng từ giao hàng đang trong thanh toán của Doanh nghiệp

- Lãi suất cho vay ngắn hạn thường thấp hơn lãi suất cho vay trung dài hạn

- Cho vay ngắn hạn gắn liền với chu kỳ ngân quỹ và nhu cầu vốn thời vụ của Doanh nghiệp Ngoài ra để đáp ứng nhu cầu tài sản lưu động thời vụ chủ yếu là hàng tồn kho và các khoản phải thu Doanh nghiệp cũng tìm đến các khoản tín dụng ngắn hạn Các khoản vay ngắn hạn phụ thuộc vào nhiều quá trình luân chuyển vốn lưu động của Doanh nghiệp nên thời hạn thu hồi vốn nhanh

 Phân loại cho vay ngắn hạn đối với Doanh nghiệp của NHTM

- Các khoản cho vay mua hàng dự trữ: Là loại cho vay để tài trợ mua

hàng tồn kho như nguyên liệu, bán thành phẩm, thành phẩm Đây là loại hình cho vay ngắn hạn chủ yếu của các NHTM Đặc điểm của loại hình cho vay này:

+ Ngân hàng xem xét cho vay từng lần theo từng đối tượng cụ thể

+ Kỳ hạn nợ của loại cho vay này cụ thể, bắt đầu từ lúc bỏ tiền để mua hàng tồn kho và chấm dứt khi hàng tồn kho đã tiêu thụ và thu được tiền Phương thức cho vay đối với dự trữ hàng tồn kho được áp dụng là phương thức cho vay ứng trước, thời hạn cho vay gắn liền với chu kỳ ngân quỹ của Doanh nghiệp

Trang 20

- Cho vay vốn lưu động: là loại cho vay nhằm đáp ứng toàn bộ nhu cầu

dự trữ hàng tồn kho và có đặc điểm gần giống với cho vay mua hàng dự trữ, tuy nhiên loại cho vay nhằm đáp ứng toàn bộ nhu cầu vốn lưu động thiếu hụt của Doanh nghiệp (tức nhu cầu vốn lưu động thời vụ của khách hàng) Đặc điểm của loại hình cho vay này:

+ Đối tượng cho vay là toàn bộ nhu cầu vốn lưu động thiếu hụt Hạn mức tín dụng là cơ sở để Ngân hàng cho vay và giải ngân

+ Không có kỳ hạn cụ thể gắn với từng lần giải ngân mà chỉ có thời hạn cho vay cuối cùng và các điều kiện sử dụng vốn vay

+ Chi phí của món vay bao gồm chi phí trả lãi và chi phí ngoài lãi như phí cam kết sử dụng hạn mức

+ Thời hạn cho vay tuỳ theo đặc điểm về chu kỳ sản xuất kinh doanh và khả năng tài chính của từng loại khách hàng, có thể vài ngày đến 1 năm

- Cho vay ngắn hạn các công trình xây dựng: Đối với các Doanh

nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây lắp, sau khi nhận được các công trình xây dựng, cần phải ứng vốn mua nguyên liệu, thuê thiết bị, thuê nhân công, ,

để thực hiện thi công và khi công trình, hạng mục công trình hoàn thành thì mới được chủ đầu tư thanh toán theo thoả thuận ở hợp đồng nhận thầu Vì vậy, cho vay ngắn hạn đối với Doanh nghiệp xây lắp để đáp ứng nhu cầu vốn trong quá thi công các công trình xây dựng, đặc điểm của loại cho vay này: + Việc xem xét cho vay chủ yếu dựa vào từng hợp đồng nhận thầu + Đối tượng cho vay là tiền thuê công nhân, thiết bị, mua vật tư, nguyên liệu để thực hiện thi công theo hợp đồng nhận thầu

+ Kỳ hạn nợ được xác định dựa vào kế hoạch thi công theo hợp đồng nhận thầu

+ Nguồn thu nợ là tiền thanh toán của chủ đầu tư

+ Hợp đồng nhận thầu là cơ sở đảm bảo cho khoản tiền vay

Trang 21

Loại cho vay này khá chắc chắn nhưng vẫn thường xảy ra một số rủi ro

là ý thức trả nợ, khả năng thanh toán của chủ đầu tư và khả năng thực hiện hợp đồng của nhà thầu

- Cho vay kinh doanh chứng khoán: là loại cho vay đối với các công ty

chứng khoán Thời hạn cho vay từ khi mua chứng khoán mới đến khi bán chứng khoán đó cho khách hàng Loại cho vay này có thời hạn rất ngắn và được đảm bảo bằng chính các chứng khoán mua vào hoặc tài sản khác

- Cho vay kinh doanh bán lẻ: là loại cho vay đối với các Doanh nghiệp

bán lẻ hàng tiêu dùng để họ thanh toán tiền mua hàng cho nhà sản xuất, cơ sở

để cho vay dựa vào hàng tồn kho Sau khi tiêu thụ được hàng hoá, Doanh nghiệp sẽ thanh toán tiền vay cho Ngân hàng Tài sản tồn kho là tài sản thuộc quyền sở hữu của Ngân hàng

- Cho vay trên tài sản có: là loại cho vay dựa trên cơ sở số dư của các

khoản phải thu, tồn kho nguyên liệu, thành phẩm Tài sản đảm bảo cho các khoản cho vay này là chính các tài sản được tài trợ Đối với các khoản phải thu, hoạt động cho vay này được thực hiện thông qua nghiệp vụ chiết khấu

hoặc nghiệp vụ mua nợ

 Phương thức cho vay ngắn hạn đối với Doanh nghiệp của NHTM

Hai phương thức cho vay ngắn hạn được áp dụng phổ biến nhất hiện nay là:

+ Mỗi khoản vay có thời hạn trả nợ cụ thể

+ Chi phí cho khoản vay thường chỉ có lãi

Trang 22

+ Áp dụng cho Doanh nghiệp ít có uy tín, quan hệ không thường xuyên (Doanh nghiệp nhỏ, mới thành lập)

- Cho vay theo hạn mức tín dụng

+ Cho vay theo đối tương tổng hợp, toàn bộ nhu cầu vốn lưu động thiếu hụt

+ Xác định hạn mức tín dụng trên cơ sở phân tích toàn diện các mặt hoạt động của Doanh nghiệp và Doanh nghiệp chủ động sử dụng tiền vay trong hạn mức được thoả thuận

+ Kỳ hạn nợ được xác định chung cho tất cả các khoản nợ, không định riêng cho từng lần giải ngân

+ Chi phí cho khoản vay ngoài chi phí lãi thường có các chi phí phi lãi (phí cấp hạn mức tín dụng, phí không sử dụng hạn mức, )

+ Áp dụng cho các Doanh nghiệp có uy tín, quan hệ thường xuyên với Ngân hàng

1.2 RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG

1.2.1 Khái niệm rủi ro tín dụng

Rủi ro tín dụng là rủi ro mà các dòng tiền (cash flows) được hẹn trả theo hợp đồng (tiền lãi, tiền gốc hoặc cả hai) từ các khoản cho vay và các chứng khoán đầu tư sẽ không được trả đầy đủ

Vì các tổn thất thực tế do hậu quả của rủi ro tín dụng không chỉ là sự giảm sút trong lợi nhuận và giá trị số sách mà cả sự giảm sút trong giá trị thị trường của các tài sản đầu tư trong danh mục cấp tín dụng nên Rủi ro ro tín dụng còn được định nghĩa là sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và thị giá của vốn xuất phát từ việc khách hàng không thanh toán hay thanh toán trễ hạn

Trang 23

1.2.2 Phân loại rủi ro tín dụng

Tùy theo mục đích nghiên cứu, rủi ro tín dụng được phân loại theo các tiêu thức khác nhau, cụ thể:

a Căn cứ vào tiêu thức nguyên nhân phát sinh rủi ro

Rủi ro tín dụng được phân chia thành rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục:

(i) Rủi ro giao dịch: là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những sai sót, hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng Loại rủi ro tín dụng này phát sinh do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng với ba nguyên nhân cụ thể: rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp

vụ

- Rủi ro lựa chọn: Là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, khi Ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả

để quyết định cho vay

- Rủi ro bảo đảm: Phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên trị giá của tài sản đảm bảo

- Rủi ro nghiệp vụ: Là rủi ro liên quan đến công tác quản lí khoản vay và hoạt động cho vay ,bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lí các khoản cho vay có vấn đề

(ii) Rủi ro danh mục : là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những thiếu sót, nhược điểm trong quản lý danh mục cho vay của Ngân hàng Loại rủi ro tín dụng này xuất phát từ hai nguyên nhân: rủi

ro nội tại và rủi ro tập trung

- Rủi ro nội tại: là rủi ro tín dụng phát sinh từ các yếu tố, các đặc điểm

riêng có, mang tính đặc thù bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh

Trang 24

vực kinh tế Loại rủi ro này xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn

- Rủi ro tập trung: là loại rủi ro tín dụng phát sinh từ trường hợp Ngân

hàng tập trung cấp tín dụng quá nhiều đối với một số khách hàng, hoặc đối với một số Doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế, hoặc trong cùng một vùng địa lí nhất định, hoặc cùng một loại hình cho vay

- Rủi ro chủ quan: là rủi ro tín dụng xuất phát từ hành vi của các chủ thể liên quan đến hợp đồng cấp tín dụng của Ngân hàng, trong đó hai chủ thể chính là Ngân hàng và khách hàng Về phía khách hàng đó là những rủi ro do quản lý yếu kém, do trục lợi, gian lận, lừa đảo, đầu tư mạo hiểm, sử dụng vốn không đúng mục đích, che giấu thông tin Về phía Ngân hàng đó là việc thực hiện không tốt quy trình cấp tín dụng, hoặc cố ý trục lợi của cán bộ Ngân

hàng, hoặc những sai lầm trong đánh giá và xử lý thông tin

c Căn cứ vào tác động lên danh mục tín dụng

- Rủi ro đặc thù: Rủi ro tín dụng của một người vay cụ thể phát sinh do những kiểu đặc thù của rủi ro dự án mà người vay thực hiện

Trang 25

- Rủi ro hệ thống: Rủi ro tín dụng phát sinh do bối cảnh chung của nền kinh tế hoặc những điều kiện vĩ mô tác động lên toàn bộ các người vay (vd:

suy thoái kinh tế )

1.2.3 Tác động của rủi ro tín dụng

a Đối với Ngân hàng thương mại

Rủi ro tín dụng là nguyên nhân đến các tác động sau đối với hoạt động của NHTM:

- Giảm thu nhập ròng Ngân hàng:

Rủi ro tín dụng làm cho Ngân hàng không thu được lãi nên trực tiếp làm giảm lợi nhuận của Ngân hàng Mặt khác, việc không thu được các dòng tiền đúng hạn làm cho Ngân hàng không đảm bảo các khoản cấp tín dụng liên tục, kịp thời nên gián tiếp làm giảm lợi nhuận của Ngân hàng

- Giảm giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu của Ngân hàng:

Giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu của Ngân hàng là hiệu số giữa giá trị thị trường của tài sản và giá trị thị trường của nợ Ngân hàng Rủi ro tín dụng vừa trực tiếp làm giảm giá trị của tài sản trên sổ sách, vừa làm giảm giá trị thị trường của các khoản dư nợ bị rủi ro - điều này là do giá trị thị trường của các khoản cấp tín dụng biến động giảm do rủi ro tín dụng của nó gia tăng

- Gia tăng các loại rủi ro khác đối với Ngân hàng: rủi ro thanh khoản; rủi

ro lãi suất; rủi ro vỡ nợ:

Rủi ro tín dụng làm cho các dòng tiền được hẹn trả theo hợp đồng bị trì hoãn hoặc mất khả năng thanh toán Điều này dẫn đến hệ quả: kế hoạch về các dòng tiền vào ra của Ngân hàng bị phá vỡ, làm cho Ngân hàng bị động trong việc đáp ứng các nhu cầu về dòng tiền ra Do đó, rủi ro tín dụng sẽ kéo theo hệ quả là rủi ro thanh khoản

Rủi ro tín dụng cũng sẽ kéo theo rủi ro lãi suất Do các dòng tiền không được trả theo hợp đồng và bị trì hoản nên phát sinh chênh lệch (khe hở) kỳ

Trang 26

hạn giữa tài sản và nợ ngoài dự tính Khe hở kỳ hạn ngoài dự tình này có thể tạo nên các loại rủi ro tái tài trợ và rủi ro tái đầu tư trong rủi ro lãi suất

Rủi ro tín dụng là một nguyên nhân cơ bản dẫn đến rủi ro vỡ nợ của Ngân hàng Như đã phân tích ở trên, rủi ro tín dụng làm sụt giảm vị thế của vốn chủ sở hữu trong Ngân hàng nên nếu nó xảy ra với quy mô lớn hoặc kết hợp đồng thời với các loại rủi tro khác làm vị thế vốn chủ sở hữu giảm đột ngột sẽ dẫn tới rủi ro vỡ nợ của Ngân hàng

- Gia tăng chi phí vay vốn của Ngân hàng

Rủi ro tín dụng làm gia tăng nguy cơ vỡ nợ và tác động tiêu cực đến đánh giá của công chúng về hoạt động kinh doanh của Ngân hàng về mức độ rủi ro của Ngân hàng Điều này làm cho thị trường vốn yêu cầu một phần bù rủi ro cao hơn cho các khoản đầu tư vào Ngân hàng trong lãi suất huy động dẫn đến chi phí huy động của Ngân hàng tăng lên

- Rủi ro tín dụng làm giảm uy tín của Ngân hàng

Rủi ro tín dụng làm giảm uy tín, giảm giá trị thương hiệu của Ngân hàng trước công chúng do đó ảnh hưởng nặng nề đến vị thế kinh doanh của Ngân hàng Một khi khách hàng mất lòng tin ở Ngân hàng, họ sẽ không gửi tiền thậm chí họ có thể còn rút lại những khoản tiền đã gửi Bên cạnh đó, việc mất lòng tin còn làm ảnh hưởng đến mức độ sử dụng các dịch vụ qua Ngân hàng

b Đối với nền kinh tế

Vai trò của tín dụng Ngân hàng rất quan trọng trong việc điều hòa các nguồn vốn trong nền kinh tế, khi RRTD xảy ra, các nguồn vốn trong xã hội sẽ không thể luân chuyển một cách liên tục, giảm khả năng cung cấp vốn cho nền kinh tế Nếu RRTD càng lớn nghĩa là nguồn vốn trong nền kinh tế không được phân bổ hợp lý Hiệu quả sử dụng vốn vì thế rất thấp, ảnh hưởng đến sự phát triển của nên kinh tế nói chung

Trang 27

Hậu quả của rủi ro tín dụng ảnh hưởng rất nặng nề cho Ngân hàng và nền kinh tế Các cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực và trên thế giới đã minh chứng rằng các Ngân hàng lớn sụp đổ thì hậu quả của nó không giới hạn trong phạm vi một quốc gia, mà còn mang tính quốc tế

c Đối với khách hàng

Nguyên nhân chính của rủi ro tín dụng Ngân hàng, chủ yếu là do khách hàng vay không có khả năng hoàn trả đầy đủ khoản vay, do xuất phát từ các rủi ro trong chính hoạt động kinh doanh của khách hàng vay

Với tình hình tài chính không lành mạnh, kèm theo đó là các khoản nợ quá hạn, khách hàng vay đã tự đánh mất nguồn tài trợ các Ngân hàng – nơi cung ứng vốn chủ yếu Thiếu vốn, các DN phải chấp nhận để các cơ hội kinh doanh trôi qua Mặt khác, các tài sản bảo đảm cho khoản vay có thể bị tịch thu hoặc phát mãi để thực hiện nghĩa vụ trả nợ, khách hàng vay sẽ phải đối mặt với nguy cơ phá sản, giải thể

1.3 HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY NGẮN HẠN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CỦA NHTM

1.3.1 Đặc điểm RRTD trong cho vay ngắn hạn

- Trong RRTD thì sự bất định là yếu tố cơ bản vì vậy thời gian vay càng dài thì sự bất định trong khả năng thu hồi các khoản nợ càng lớn Do đó việc cho vay ngắn hạn có rủi ro thấp hơn so với cho vay trung dài hạn; tuy nhiên, việc thời hạn cho vay ngắn cũng tạo ra sức ép lớn về mặt thời gian sẽ dễ khiến cho khách hàng vay không đủ thời gian sắp xếp để thanh toán các khoản nợ đúng hạn

- Do quy mô của khoản vay ngắn hạn thường nhỏ hơn các khoản vay trung, dài hạn nên các danh mục cho vay ngắn hạn thường rất đa dạng Tuy nhiên vì sự phong phú của các khoản vay ngắn hạn mà việc quản lý cũng gặp phải nhiều khó khăn hơn so với các khoản vay trung dài hạn

Trang 28

- Dễ xảy ra rủi ro trong việc sử dụng vốn sai mục đích

- Những nhân tố biến động môi trường có ảnh hưởng lớn hơn đối với RRTD trong cho vay ngắn hạn

- Tương quan đánh đổi giữa rủi ro và lãi suất trong tín dụng ngắn hạn: rủi ro trong cho vay ngắn hạn không cao nên lãi suất trong cho vay ngắn hạn thường thấp hơn so với lãi suất cho vay trung dài hạn

1.3.2 Nội dung hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay ngắn hạn đối với Doanh nghiệp

Hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay ngắn hạn đối với Doanh nghiệp là tổng thể những hoạt động theo đó NH sử dụng tổng hợp những công cụ, biện pháp khác nhau nhằm giảm thiểu những tác động tiêu cực do rủi ro tín dụng gây nên trong khi vẫn bảo đảm hoàn thành các mục tiêu tăng trưởng và sinh lời trong hoạt động cho vay ngắn hạn đối với Doanh nghiệp cũng như phù hợp với bối cảnh kinh doanh của NH trong từng thời kỳ

Hai nhân tố chính của RRTD là xác suất xuất hiện rủi ro tín dụng và mức

độ tổn thất trong trường hợp nếu rủi ro xảy ra Do vậy, để đạt được mục tiêu hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay ngắn hạn đối với Doanh nghiệp, Ngân hàng phải đạt được 2 nhiệm vụ trọng tâm là giảm thiểu khả năng (xác suất) phát sinh RRTD và giảm thiểu mức độ tổn thất do RRTD gây ra

“Thông tin bất đối xứng” là tình trạng chính dẫn đến rủi ro trong hoạt động tín dụng của NHTM Vì vậy, việc thực hiện các biện pháp nhằm giảm thiểu tình trạng trên chính là bản chất cốt lõi của hạn chế “rủi ro” trong hoạt động cho vay ngắn hạn đối với Doanh nghiệp

Trên phương diện lý luận, Ngân hàng có thể áp dụng các biện pháp theo định hướng cụ thể để hạn chế rủi ro xảy ra trong quá trình cho vay ngắn hạn đối với Doanh nghiệp, các biện pháp này bao gồm một chuỗi các biện pháp ngăn chặn được thực hiện trước khi rủi ro xảy ra; Bên cạnh đó, cũng có hệ

Trang 29

thống các biện pháp hạn chế, khắc phục hậu quả trong trường hợp có RRTD xảy ra

a Trước khi rủi ro xảy ra, Ngân hàng sẽ tiến hành thực hiện các biện

pháp cụ thể trước, trong và sau khi cho vay nhằm mục đích phòng ngừa rủi ro tín dụng đồng thời hạn chế xác suất xảy ra RRTD, ngoài ra cần phải kết hợp thực hiện các biện pháp để hạn chế tổn thất xuống mức thấp nhất nếu RRTD phát sinh Do đó, Ngân hàng cần phải tiến hành áp dụng, thực hiện các biện pháp sau:

 Phân tích, đánh giá và xác định các loại rủi ro tiềm tàng nằm trong các khoản vay của khách hàng Doanh nghiệp

 Thực hiện nghiêm ngặt, chặt chẽ bước xếp hạng tín dụng nội bộ đối với đối tượng khách hàng Doanh nghiệp

 Công tác Thẩm định tín dụng phải được tiến hành một cách chính xác, có chất lượng

 Các thông tin về hoạt động sản xuất kinh doanh, tình hình sử dụng các khoản vốn vay của khách hàng phải cập nhật kịp thời

 Chú trọng việc áp dụng các biện pháp bảo đảm tài sản phù hợp với từng khách hàng cụ thể

 Phát triển mối quan hệ lâu dài với Doanh nghiệp

 Đa dạng hóa các danh mục cho vay đối với Doanh nghiệp một cách hợp lý

 Đối với các điều khoản hạn chế trong hợp đồng, phải tăng cường, thường xuyên kiểm tra, giám sát và cưỡng chế trong trường hợp khách hàng Doanh nghiệp không thực hiện

 Tiến hành phân loại nợ và trích lập dự phòng đúng quy định

 Áp dụng và thực hiện một số công cụ như: bán nợ, chứng khoán hóa các khoản nợ hay thiết lập các hợp đồng phái sinh

Trang 30

b Trường hợp khi RRTD đã phát sinh, nhằm mục tiêu giảm thiểu hậu

quả của RRTD xuống mức thấp nhất, tránh tối đa những thiệt hai đối với hoạt động của Ngân hàng, cần phải tiến hành, thực hiện các biện pháp sau:

 Áp dụng các biện pháp cơ cấu lại nợ (biện pháp khai thác)

 Áp dụng các biện pháp thanh lý nợ rủi ro, trích lập dự phòng

 Hoàn thiện kỹ thuật, quy trình thu hồi nợ có vấn đề

 Có thể thực hiện việc chuyển giao rủi ro bàng cách vận dụng chứng

khoán hóa, bảo hiểm, các hợp đồng phái sinh hay chứng khoán hóa

1.3.3 Tiêu chí đánh giá kết quả hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay ngắn hạn đối với Doanh nghiệp

a Mức giảm tỷ lệ dư nợ cho vay ngắn hạn DN từ nhóm 2 đến nhóm 5

Tỷ lệ dư nợ từ nhóm 2

đến nhóm 5 =

Dư nợ từ nhóm 2 - 5

x 100% (1.1) Tổng dư nợ

Mức giảm các chỉ tiêu này được tính bằng hiệu số giữa tỷ lệ dư nợ từ nhóm 2 – nhóm 5 của kỳ báo cáo so với tỷ lệ dư nợ từ nhóm 2 – nhóm 5 so với tổng dư nợ của kỳ so sánh

Chỉ tiêu so sánh giữa dư nợ nhóm 2 – nhóm 5 kỳ báo cáo so với kỳ so sánh có thể dùng bổ sung theo hướng kết hợp với chỉ tiêu tỷ lệ Bởi vì, chỉ tiêu này nếu chỉ dùng độc lập sẽ không có ý nghĩa hoặc phản ảnh sai lệch Vì

số dư nợ của các nhóm nợ còn phụ thuộc vào quy mô tổng dư nợ

Việc phân loại nợ theo nhóm nợ căn cứ vào mức rủi ro Theo thông lệ và theo quy định của Ngân hàng nhà nước Việt Nam, các nhóm nợ từ nhóm 2 trở lên (nhóm 2 - nợ cần chú ý, nhóm 3 - nợ dưới tiêu chuẩn, nhóm 4 - nợ nghi ngờ, nhóm 5 - nợ có khả năng mất vốn) được xem là các khoản dư nợ có rủi

ro tín dụng Vì vậy, tỷ lệ dư nợ từ nhóm 2 – nhóm 5 trên tổng dư nợ tín dụng cho phép đánh giá toàn bộ các biểu hiện rủi ro tín dụng tại một NH nhất định

Trang 31

b Biến động trong cơ cấu nhóm nợ của tổng dư nợ của các khoản cho vay ngắn hạn DN

Tuy chỉ tiêu tỷ lệ nợ từ nhóm 2 – nhóm 5 cho phép đánh giá toàn bộ các biểu hiện của rủi ro tín dụng nhưng do các nhóm nợ lại có mức rủi ro khác nhau chứ không đồng nhất, nên nếu tỷ lệ này ở hai Ngân hàng giống nhau hoặc giữa cùng một NH ở 2 thời kỳ giống nhau thì mức độ rủi ro tín dụng chưa hẳn đã đồng nhất Do đó, để đánh giá chuấn xác hơn mức độ rủi ro tín dụng cần phân tích thêm về cơ cấu các nhóm nợ

Nếu tỷ trọng các nhóm nợ có mức rủi ro giảm, có thể đánh giá mức độ rủi ro tín dụng của NH giảm, kết quả hạn chế rủi ro tín dụng tốt hơn và ngược lại; Nếu tỷ trọng của các nhóm nợ có mức độ rủi ro tín dụng cao tăng thì là một biểu hiện của công tác hạn chế rủi ro tín dụng có chiều hướng tiêu cực

c Mức giảm tỷ lệ nợ xấu của các khoản cho vay ngắn hạn Doanh nghiệp

Tỷ lệ nợ xấu = Dư nợ xấu

x 100% (1.2) Tổng dư nợ

Về phương diện lý thuyết, khái niệm Nợ xấu (Non-performing loans) được dùng để chỉ các khoản nợ không có khả năng trả cả gốc lẫn lãi (default) hoặc sắp rơi vào tình trạng này Thông thường, một khoản cấp tín dụng mà thời gian chi trả quá hạn từ 3 tháng trở lên được xem là một khoản nợ xấu Tuy nhiên, điều này còn phụ thuộc vào những điều khoản cụ thể của hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng và người vay Ngoài ra, thời gian quá hạn mặc

dù được xem xét như một tiêu chí chủ yếu nhưng cũng chỉ là một trong những tiêu chí để đánh giá một khoản nợ là nợ xấu Những tiêu chí định tính khác cũng được các Ngân hàng sử dụng kết hợp với thời gian quá hạn để phân loại

nợ xấu

Trang 32

Theo thông lệ quốc tế, việc phân loại nợ xấu bao gồm những khoản nợ được đánh giá là nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ và nợ có khả năng mất vốn, trong đó:

- Nợ dưới tiêu chuẩn là nợ được đánh giá là không có khả năng thu hồi đầy đủ gốc và lãi khi đến hạn

- Nợ nghi ngờ (hay khó đòi) là nợ dưới tiêu chuẩn nhưng có nhiều thông tin có thể đánh giá là khả năng thu hồi nợ không chắc chắn

- Nợ có khả năng mất vốn là những khoản nợ không thể thu hồi được

Nợ xấu theo QĐ 493/2005/QĐ-NHNN là nợ được phân loại vào nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (nợ nghi ngờ) và nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) Đây là những khoản nợ rất khó có khả năng hoàn trả So với khái niệm phổ biến của thế giới, có thể thấy khái niệm “nợ xấu” của Việt Nam đã tiếp cận với những chuẩn mực quốc tế

Căn cứ vào khái niệm nợ xấu như trên, có thể thấy tỷ lệ nợ xấu trên dư

nợ là một chỉ tiêu đánh giá được khá chuẩn xác mức độ rủi ro tín dụng hiện tại của một Ngân hàng, vì nó tập trung chú ý các khoản nợ đã có biểu hiện rủi

ro tín dụng ở mức cao

Tỷ lệ này càng cao chứng tỏ mức độ nguy cơ tổn thất trong hoạt động tín dụng của NH càng lớn Hai chỉ tiêu Tỷ lệ nợ từ nhóm 2 – nhóm 5, tỷ lệ nợ xấu (trên dư nợ) nếu có xu hướng giảm là biểu hiện tốt trong công tác hạn chế RRTD và ngược lại

Tuy nhiên, vì nợ xấu bao gồm cả ba nhóm nợ có mức độ RRTD khác nhau nên cần xem xét kết hợp với việc xem xét biến động trong cơ cấu nhóm

Trang 33

Trong đó:

Giá trị xóa nợ ròng = Dư nợ ngắn hạn xóa trong bảng – số tiền đã thu hồi được

Nợ xóa là những khoản nợ đã được xử lý rủi ro từ trích lập dự phòng rủi

ro tín dụng và đã được xuất toán trong bảng để chuyển sang theo dõi ngoại bảng Những khoản nợ đã xuất toán trong bảng là những khoản nợ đã được xác định là tổn thất, kể cả đã được xử lý từ dự phòng Bởi vì, bản chất của việc trích lập dự phòng rủi ro tín dụng là việc trích trước vào chi phí các khoản tổn thất có thể phát sinh do rủi ro tín dụng Do đó, xử lý từ dự phòng chỉ là tất toán một khoản chi phí trích trước Tuy nhiên, số tiền thu hồi được

từ việc khai thác, thanh lý khoản nợ, phát mãi tài sản bảo đảm, phải được xem là khoản khấu trừ của tổn thất

Do những ý nghĩa nói trên, đây là chỉ tiêu đánh giá mức độ tổn thất thực

sự do RRTD của Ngân hàng Chỉ tiêu này cũng đánh giá khả năng thu các khoản nợ đã xử lý rủi ro (tức là đã xuất ngoại bảng) Mức giảm tỷ lệ xóa nợ ròng tương quan nghịch với RRTD và thể hiện kết quả tốt hơn của công tác hạn chế rủi ro tín dụng Chỉ tiêu này còn có ý nghĩa trong việc kết hợp với chỉ tiêu nợ xấu Bởi vì, một Ngân hàng có thể giảm tỷ lệ nợ xấu trên số sách bằng cách xuất các khoản nợ nợ này ra ngoại bảng

e Mức giảm tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro của các khoản cho vay ngắn hạn DN

Tỷ lệ trích lập dự phòng = Số đã trích lập dự phòng x 100% (1.4)

Tổng dư nợ

Mức trích lập dự phòng RRTD phản ảnh mức độ RRTD của Ngân hàng dựa trên việc phân loại nợ theo mức độ rủi ro Do đó, chỉ tiêu này nói lên sự chuẩn bị của một Ngân hàng cho các tổn thất tín dụng được dự kiến trước Mức trích lập này phụ thuộc vào phân nhóm nợ theo mức độ RRTD Do

đó, nó phản ảnh được mức độ rủi ro tín dụng chung của Ngân hàng Mức

Trang 34

giảm của nó thể hiện mức độ RRTD chung của Ngân hàng giảm xuống và ngược lại

Một ý nghĩa của chỉ tiêu này là nó bổ sung cho 2 chỉ tiêu tỷ lệ nợ xấu và

tỷ lệ xóa nợ ròng vì nó cho thấy mức trích lập dự phòng trong kỳ không phụ thuộc vào tỷ lệ các khoản nợ đã được xử lý xuất ngoại bảng

f Mức giảm lãi treo các khoản cho vay ngắn hạn DN

Lãi treo = Lãi treo phát sinh – Lãi treo thu được

Lãi treo là lãi của các khoản cho vay từ nhóm 2 đến nhóm 5, do đó lãi treo phản ánh chất lượng tín dụng Việc gia tăng lãi treo trong năm cho thấy kết quả của sự gia tăng rủi ro tín dụng, và ngược lại việc giảm lãi treo trong năm cho thấy kết quả của sự giảm thiểu rủi ro tín dụng

Công tác hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay ngắn hạn đối với Doanh nghiệp được thực hiện tốt hay không phản ánh qua mức giảm lãi treo trong năm Việc không để phát sinh lãi treo và việc thu hồi tốt lãi treo là kết quả tích cực trong công tác hạn chế RRTD, đồng thời làm gia tăng hiệu quả hoạt động của Ngân hàng

Nếu lãi treo tăng mạnh và duy trì ở mức cao thì Ngân hàng sẽ bị ảnh hưởng nặng nề, là yếu tố tiềm tàng của rủi ro vỡ nợ

1.3.4 Nhân tố ảnh hưởng đến công tác hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay ngắn hạn đối với Doanh nghiệp

a Nhân tố từ phía Ngân hàng cho vay

 Chính sách tín dụng của Ngân hàng

Chính sách tín dụng của NHTM là một hệ thống các biện pháp nhằm đạt được các mục tiêu trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng, đồng thời đảm bảo giới hạn rủi ro trong hoạt động tín dụng ở mức cho phép Có thể coi chính sách tín dụng như một cương lĩnh tài trợ của một NHTM, bao gồm các quan điểm, chủ trương, định hướng, qui định chỉ đạo hoạt động tín dụng và đầu tư

Trang 35

của NHTM Chính sách tín dụng tạo sự thống nhất chung trong hoạt động tín dụng, tạo đường hướng, chỉ dẫn cho cán bộ tín dụng Để có thể đảm bảo mục tiêu nâng cao hiệu quả, kiểm soát rủi ro nhất thiết phải xây dựng một chính sách tín dụng nhất quán và hợp lý, thích ứng với môi trường, phù hợp với đặc điểm của NHTM, phát huy được các thế mạnh, khắc phục và hạn chế được các điểm yếu nhằm mục tiêu an toàn và sinh lợi

Chính sách tín dụng là một hướng dẫn có tính bắt buộc và nhất quán của Ngân hàng về các vấn đề sau: Quy mô cấp tín dụng tối đa, các giới hạn tín dụng; các loại hình mà NH có thể lựa chọn để cấp tín dụng; lĩnh vực cấp tín dụng; kỳ hạn cấp tín dụng; chính sách đảm bảo tín dụng; cách thức xác định giá cả tín dụng (lãi suất)

Một chính sách tín dụng phù hợp sẽ xác định những giới hạn áp dụng cho các hoạt động tín dụng, đồng thời cũng thiết lập môi trường nhằm giảm bớt rủi ro trong hoạt động cho vay ngắn hạn đối với Doanh nghiệp của Ngân hàng Chính sách tín dụng được đưa ra nhằm bảo đảm rằng mỗi quyết định tín dụng đều tuân thủ quy định của Ngân hàng Ngược lại, một chính sách tín dụng không hợp lý, ví dụ như quá nhấn mạnh vào lợi nhuận Ngân hàng mà đơn giản hoá việc phân tích đánh giá khách hàng, đặt mục tiêu về lợi nhuận cao hơn các khoản cho vay lành mạnh, hoặc do áp lực cạnh tranh mà các Ngân hàng có chủ trương đơn giản hoá việc phân tích đánh giá khách hàng nhằm thu hút được nhiều khách hàng đến với Ngân hàng sẽ gây nên những tổn thất tiềm ẩn trong hoạt động Ngân hàng

 Quy trình tín dụng của Ngân hàng

Quy trình tín dụng là tổng hợp các nguyên tắc, quy định của Ngân hàng trong hoạt động cấp tín dụng nói chung và trong công tác cho vay ngắn hạn đối với Doanh nghiệp nói riêng Trong đó xây dựng các bước đi cụ thể theo một trình tự nhất định kể từ khi chuẩn bị hồ sơ để nghị cấp tín dụng cho đến

Trang 36

khi chấm dứt quan hệ tín dụng Đây là một quá trình bao gồm nhiều giai đoạn mang tính chất liên hoàn, theo một trật tự nhất định, đồng thời có quan hệ chặt chẽ và gắn bó với nhau Quy trình tín dụng là biểu hiện cụ thể nhất các hoạt động tác nghiệp của Ngân hàng trong quá trình cấp tín dụng cho Khách hàng

Một quy trình tín dụng tốt phải bảo đảm yêu cầu giải quyết được mâu thuẫn giữa nâng cao chất lượng dịch vụ, sự hài lòng của khách hàng với yêu cầu an toàn tài sản, hạn chế rủi ro của Ngân hàng Thông qua kiểm soát thực hiện quy trình tín dụng, nhà quản trị Ngân hàng nhanh chóng xác định những khâu, những công việc cần điều chỉnh, cũng như hướng đào tạo và phân công tương lai để từ đó kiểm soát được những rủi ro khi cấp tín dụng, đặc biệt là rủi ro trong cho vay ngắn hạn đối với Doanh nghiệp

Một quy trình tín dụng phù hợp, chặt chẽ và khoa học sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro đồng thời nâng cao lợi nhuận; Các vấn đề trong quy trình cấp tín dụng là nguyên nhân gây ra RRTD, trong đó chủ yếu liên quan đến quá trình thẩm định và theo dõi, giám sát tín dụng

 Vận dụng các nguyên tắc quản lý tín dụng

Về lý thuyết, các nguyên tắc quản lý tín dụng xuất phát từ mục tiêu khắc phục hậu quả của tình trạng thông tin bất đối xứng, bao gồm các nguyên tắc sau:

- Sàng lọc và giám sát khách hàng: Lựa chọn đối nghịch buộc các Ngân hàng phải lựa chọn khách hàng có ít rủi ro nhất, đó là quá trình sàng lọc khách hàng được thực hiện trước khi món vay được quyết định Khi quyết định cho vay đã được thực hiện, Ngân hàng phải giám sát việc sử dụng vốn vay và trả

nợ của người vay nhằm đảm bảo thu hồi đủ cả gốc lẫn lãi của khoản vay đó

- Quan hệ khách hàng lâu dài: Để quản lý món vay được hiệu quả, Ngân hàng cần thu được các thông tin về khách hàng, điều này có thể được làm tốt

Trang 37

bằng việc thiết lập quan hệ lâu dài với khách hàng Quan hệ khách hàng lâu dài giúp cho Ngân hàng hiểu biết về tình hình tài chính của khách hàng, một mặt làm giảm chi phí thu thập thông tin và chi phí giám sát cho Ngân hàng, mặt khác giúp cho Ngân hàng ra các quyết định tín dụng đúng đắn, hạn chế rủi ro tín dụng

- Bảo đảm bằng tài sản và số dư bù: Bảo đảm bằng tài sản đối với khoản vay là một trong những công cụ quan trọng để hạn chế rủi ro tín dụng, làm giảm bớt tổn thất Ngân hàng phải gánh chịu nếu trường hợp rủi ro xảy ra Nó vừa có chức năng là nguồn thu nợ thứ cấp vừa có chức năng hạn chế lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức do tính trạng bất đối xứng về thông tin trong giao dịch tín dụng Số dư bù là một dạng đặc biệt tài sản bảo đảm có chức năng hổ trợ Ngân hàng giám sát người vay và từ đó hạn chế rủi ro xảy ra bắt nguồn từ khách hàng

- Hạn chế tín dụng: Vấn đề lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức làm phát sinh rủi ro tín dụng Để đối phó với vấn đề này, Ngân hàng có thể thực hiện việc hạn chế tín dụng theo hai cách: Ngân hàng được quyền từ chối bất

kỳ yêu cầu vay vốn nào của khách hàng hoặc Ngân hàng vẫn sẵn sàng cho vay nhưng hạn chế ở dưới mức mà người vay mong muốn

Do các nguyên tắc nói trên được thực hiện không ngoài mục đích hạn chế rủi ro tín dụng, đặc biệt là hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay ngắn hạn đối với Doanh nghiệp nên việc Ngân hàng tuân thủ và thực hiện các nguyên tắc này là các nhân tố chính tác động tới hạn chế rủi ro tín dụng của Ngân hàng Nếu các nguyên tắc này được thực hiện một cách hợp lý sẽ giúp cho Ngân hàng quản lý các khoản cấp tín dụng một cách hiệu quả hơn, từ đó giúp giảm thiểu khả năng xảy ra rủi ro tín dụng trong cho vay ngắn hạn đối với Doanh nghiệp Ngược lại, nếu các nguyên tắc không được tuân thủ và được vận dụng một cách tùy tiện sẽ gia tăng rủi ro, gây khó khăn cho hoạt động hạn

Trang 38

chế rủi ro tín dụng trong cho vay ngắn hạn đối với Doanh nghiệp của Ngân hàng

 Nguồn nhân lực thực hiện hoạt động tín dụng

Chính sách tín dụng và quy trình tín dụng được thực hiện thông qua vai trò của các cán bộ hoạt động trong lĩnh vực cấp tín dụng Vì vậy, chất lượng của cán bộ đảm nhiệm các phần hành liên quan đến tín dụng nhân tố có ảnh hưởng rất quan trọng đến công tác hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay ngắn hạn đối với Doanh nghiệp của Ngân hàng Chất lượng của nhân viên tín dụng phải được đảm bảo hai yếu tố năng lực chuyên môn và đạo đức: Năng lực chuyên môn thể hiện ở kiến thức và kỹ năng trong thực hiện các công việc cụ thể, trong tầm nhìn về các vấn đè liên quan đến khoản cấp tín dụng; Đạo đức nghề nghiệp với bất kỳ hoạt động nào cũng rất quan trọng nhưng riêng đối với lĩnh vực cấp tín dụng Ngân hàng thì đặc biệt quan trọng vì những hành vi trục lợi rất dễ xảy ra làm cho nguy cơ rủi ro gia tăng Thực tế đã chứng minh một điều rõ ràng là NHTM nào có đội ngũ cán bộ tín dụng tốt thì ở đó công tác hạn chế rủi tro tín dụng đạt kết quả tốt và ngược lại

 Chất lượng hệ thống thông tin Ngân hàng

Thông tin Ngân hàng đầy đủ, chính xác và kịp thời là cơ sở để ra một quyết định đúng đắn Theo lý thuyết thông tin bất đối xứng thì bản chất của hoạt động Ngân hàng là hoạt động sản xuất thông tin Vì vậy, chất lượng của

hệ thống thông tin quyết định kết quả của công tác hạn chế rủi tro tín dụng nói chung và công tác hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay ngắn hạn đối với Doanh nghiệp nói riêng

Xem xét quy trình tín dụng, có thể thấy trong hoạt động tín dụng, thông tin được sử dụng ở mọi thời điểm: trong quyết định sàng lọc người vay; trong hoạt động giám sát người vay; và cả trong các hoạt động xử lý rủi ro tín dụng

Trang 39

 Năng lực tài chính và trang bị công nghệ Ngân hàng

Năng lực tài chính của một Ngân hàng được đánh giá qua nhiều yếu tố trong đó các yếu tố quan trọng nhất bao gồm:

- Năng lực về vốn chủ sở hữu thể hiện ở tỷ lệ vôn chủ sở hữu trong tổng tài sản và các hệ số an toàn

- Năng lực thanh toán thể hiện ở các hệ số thanh toán

Một Ngân hàng có năng lực tài chính mạnh sẽ có nền tảng chắc chắn trong năng lực chịu đựng rủi ro tín dụng, đồng nghĩa cũng có khả năng dễ dàng mở rộng quy mô tín dụng và đa dạng hóa danh mục trong cho vay ngắn hạn đối với Doanh nghiệp Mặt khác với năng lực tài chính mạnh mới cho phép Ngân hàng dễ dàng đầu tư mua sắm, trang bị hệ thống công nghệ Ngân hàng hiện đại phục vụ công tác hạn chế rủi ro tín dụng

Một trong những xu hướng của các NHTM hiện đại là cuộc cách mạng

về công nghệ, trong đó, chủ yếu là công nghệ thông tin Công nghệ thông tin

đã trở thành công cụ đóng vai trò quan trọng trong mọi khâu quản lý rủi ro Xét riêng, đối với công tác hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay ngắn hạn đối với Doanh nghiệp, công nghệ thông tin giúp Ngân hàng có được công cụ để quản lý rủi ro trong toàn hệ thống, cập nhật thông tin, dữ liệu, vận dụng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ, hỗ trợ hệ thống ra quyết định cho vay từ đó nâng cao hiệu quả công tác hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay ngắn hạn đối với Doanh nghiệp

b Nhân tố bên ngoài Ngân hàng

 Nhân tố từ phía Doanh nghiệp

- Rủi ro trong hoạt động kinh doanh của DN sẽ xảy ra nếu việc tính toán phương án sản xuất kinh doanh của DN thiếu khoa học, không được thực hiện

kỹ càng và chính xác Tuy nhiên, cho dù phương án/dự án sản xuất kinh doanh của DN đã được tính toán một cách chi tiết, khoa học và bám sát thực

Trang 40

tế, thì vẫn luôn chứa đựng khả năng xảy ra rủi ro do những thay đổi bất ngờ, ngoài ý muốn và bất khả kháng, tác động đến các điều kiện sản xuất kinh doanh, làm phát sinh rủi ro cho DN và ảnh hưởng xấu đến khả năng trả nợ cho NH

- Năng lực tài chính của Doanh nghiệp, khả năng thanh toán yếu kém, kinh doanh dựa nhiều vào vốn vay, vốn chiếm dụng; hoặc các nguồn thu của

DN rất hạn chế, nhưng khối lượng các khoản nợ đến hạn quá lớn (như các khoản nợ ngân sách, nợ người bán, nợ Ngân hàng ); hoặc phương án bán hàng không hợp lý, vòng quay hàng tồn kho và các khoản phải thu chậm không đảm bảo thanh toán các khoản nợ đến hạn; Đây là các nguyên nhân chính làm Doanh nghiệp mất kiểm soát trong ngắn hạn, nảy sinh rủi ro phá sản, không có khả năng thanh toán nợ là rất lớn

- Xuất phát từ ý muốn chủ quan của khách hàng vay: Việc không trả nợ đúng hạn cũng có thể xuất phát từ ý định chủ quan của khách hàng đi vay không muốn trả nợ (có khả năng, nhưng không thực hiện), loại nguyên nhân gây ra nợ quá hạn này được xếp vào loại nguyên nhân rủi ro về tư cách đạo đức của khách hàng vay, đây là nguyên nhân khá phổ biến trong việc gây ra

nợ xấu, rủi ro tín dụng cho NH

 Sự thay đổi của môi trường tự nhiên

Rủi ro đối với các ngành sản xuất kinh doanh (Vd: chăn nuôi, thủy sản, nông nghiệp, .) phải phụ thuộc nhiều vào các điều kiện tự nhiên như: khí hậu, thiên tai, dịch bệnh Nếu xảy ra các thay đổi xấu ngoài dự kiến sẽ làm ảnh hưởng nặng nề đến hoạt động sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp dẫn đến phát sinh rủi ro tín dụng

 Môi trường kinh tế

Hiện tại nền kinh tế trong nước đang ở trong tình trạng suy thoái, sản xuất có dấu hiệu chững lại, thu nhập nhiều ngành nghề suy giảm đã không ít

Ngày đăng: 04/10/2018, 18:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w