1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng về đạo làm người của khổng tử với việc giáo dục thế hệ trẻ ở nước ta hiện nay

111 193 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 33,87 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ư tưởng của Nho giáo, trong đó có tư tưởng và tấm gương về đạo làm người của Khổng Tử và nhiều danh nho khác đã sớm chiếm lĩnh một vị trí quan trọng trong nền giáo dục và đời sống tinh t

Trang 1

Đà Nẵng – năm 2014

Trang 2

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS NGUYỄN TẤN HÙNG

Trang 3

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả

Trang 4

MỤC LỤC

1

1 1

2 Mục đích, nhiệm vụ củ 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu củ 3

ứu 4

5 Bố cục của luận văn 4

4

CHƯƠNG 1 N 9

9

ổng Tử 9

1.1.2 Điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội thời kỳ 12

1.1.3 Tiền đề của sự hình thành tư tưởng về đạo làm người của Khổng Tử 18

20

1.2.1 Khái niệm “đạo” và “đạo làm người” 20

21

30

33

35

- tôi 35

- con 38

Trang 5

- 43

- em 44

46

- 47

CHƯƠNG 2 CHO 49

49

58

CHƯƠNG 3

70

TRONG 70

79

79

ên 82

86

89

94

99

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI

Trang 6

ư tưởng của Nho giáo, trong đó có tư tưởng và tấm gương về đạo làm người của Khổng Tử và nhiều danh nho khác

đã sớm chiếm lĩnh một vị trí quan trọng trong nền giáo dục và đời sống tinh thần của người Việt Nam

Ở Việt Nam, những giá trị về đạo đức đặc biệt là tư tưởng về đạo làm người của Khổng T

Trang 7

phần xây dựng, hoàn thiện đạo đức cho mỗi cá nhân và xã hội mà còn giúp cho mỗi người nhận rõ trách nhiệm của mình với gia đình, với xã hội, góp phần vào việc xây dựng, phát triển đất nước không c

Trang 8

ở nước ta hiện nay

Trang 9

5 Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung của luận văn được trình bày trong 3 chương (7 tiết):

Chương 1:

Chương 3:

Học thuyết chính trị xã hội, tư tưởng đạo đức nói chung và tư tưởng về đạo làm người nói riêng của Nho giáo cùng với với việc giáo dục cho thế hệ trẻ ở nước ta hiện nay là hướng nghiên cứu của đã và đang thu hút sự quan tâm của nhiều học giả trong nhiều ngành khoa học như: Triết học, văn hóa học, sử học, tôn giáo học, giáo dục học, đạo đức học, vv Có thể khái quát kết quả nghiên cứu đó theo các hướng sau:

Hướng thứ nhất, các công trình nghiên cứu về Khổng Tử trong tổng thể

Trang 10

nền văn hóa Trung Quốc Tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này có thể kể đến

các tác phẩm như:“Sử ký”của Tư Mã Thiên (Nxb Văn học, Hà Nội, 1988);“Đạo đức Phương Đông cổ đại”của PGS Vũ Tình (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998); “Đại cương triết học sử Trung Quốc”, của nhà triết học

Trung Quốc Phùng Hữu Lan (người dịch: Nguyễn Văn Dương, Nxb Thanh

niên, Trung tâm nghiên cứu quốc học, Hà Nội, 1999);“Lịch sử văn minh và

các triều đại Trung Quốc” của TS Dương Ngọc Dũng và nhà nghiên cứu

Anh Minh (Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2004);“Lịch sử văn minh

Trung Hoa” của nhà sử gia lớn thời hiện đại Will Durant (Nguyễn Hiến Lê

dịch, Nxb Văn hóa - Thông tin Hà Nội, 2004);“Nho giáo Trung Quốc” của tác giả Tôn Nhan (Nxb Văn hóa - Thông tin, 2005);“Lịch sử triết học Phương

Đông” của GS Nguyễn Đăng Thục (Nxb Từ điển bách khoa, Hà Nội,

2006)… Trong các công trình nghiên cứu này, các tác giả đã trình bày một cách khái quát về tư tưởng triết học của Khổng Tử, trong đó có tư tưởng về đạo làm người của ông tổ Nho giáo để khắc họa chân dung một con người, một nhân cách, một đại biểu văn hóa

Hướng thứ hai, đó là các công trình nghiên cứu tư tưởng của Khổng Tử

trong dòng phát triển của lịch sử triết học Trung Quốc Trong dòng nghiên cứu này có thể kể đến những công trình tiêu biểu như: Nguyễn Hiến Lê đã có một loạt các công trình nghiên cứu về Lịch sử triết học Trung Quốc, Nho giáo

và Khổng Tử, như “Nho giáo một triết lý chính trị” (1958), “Đại cương triết

học Trung Quốc” (viết chung với Giản Chi, 1965), “Nhà giáo họ Khổng”

(1972), “Khổng Tử” (1992) Khoa Triết học trường Đại học Khoa học xã hội

và nhân văn TP Hồ Chí Minh có công trình “Đại cương triết học Trung

Quốc” do Doãn Chính chủ biên (Nxb chính trị quốc gia, 1999);“Lịch sử triết học sử Trung Quốc” (2 tập) của TS Phùng Hữu Lan (Lê Anh Minh dịch, Nxb

Khoa học xã hội, Hà Nội, 2006)…

Trang 11

Các công trình nghiên cứu này đã trình bày, phân tích một cách sâu sắc triết học Khổng Tử trong tiến trình lịch sử triết học Hơn nữa các công trình này tập trung phân tích các học thuyết về chính trị xã hội của Khổng Tử, ít nhiều có đề cập đến tư tưởng đạo làm người trong mối tương quan đến những chuẩn mực cơ bản trong tư tưởng của Nho giáo

Hướng thứ ba, đó là các công trình biên dịch và chú giải về các kinh

điển của Nho gia Đó là:“Luận ngữ” của Nguyễn Hiến Lê (1995);“Luận

ngữ” của Nguyễn Hiến Lê (1995);“Tứ Thư” của dịch giả Đoàn Trung Côn

(Nxb Thuận Hóa, Huế, 2006); “Tứ thư bình giải” của dịch giả Lý Minh Tuấn

(Nxb Tôn giáo, 2010), v.v Những công trình nghiên cứu này biên dịch từ nguyên bản chữ Hán, đồng thời các nhà nghiên cứu dịch thuật cũng cố gắng bằng kiến thức uyên thâm của mình để phân tích, thuyết minh một số nội dung nhằm giúp độc giả hiểu được phần lớn tinh thần của tác phẩm

Nhìn chung, mỗi công trình nghiên cứu tiếp cận theo một hướng khác nhau, nhưng chưa có công trình nghiên cứu nào được coi là có cái nhìn toàn diện về tư tưởng đạo làm người trong triết học của Khổng Tử, chưa có công trình nào nghiên cứu riêng biệt hoặc trình bày một cách có hệ thống nội dung của Đạo làm người, chưa có công trình nào đánh giá hết những giá trị và hạn chế liên quan đến tư tưởng về Đạo làm người của Khổng Tử, cũng như đề ra phương pháp vận dụng những bài học lịch sử đó vào việc hoạch định chính sách, biện pháp giáo dục thế hệ trẻ hiện nay

Liên quan đến vấn đề giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ ở nước ta có các công trình nghiên cứu khảo sát, thống kê về thanh niên, về đạo đức, lối sống của thanh thiếu niên Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Những công trình này đã phản ánh thực trạng về tình hình đạo đức, lối sống của thanh niên Việt Nam trong bối cảnh kinh tế thị trường đang phát triển, có thể khẳng định đây

là những công trình nghiên cứu chuyên sâu của những nhà khoa học, những

Trang 12

công dân đang trăn trở về những biến động trong lối sống, đạo đức, chuẩn giá

trị xã hội Có thể kể đến: “Chuẩn mực đạo đức con người Việt Nam hiện

nay”, do Nguyễn Ngọc Phú chủ biên (Nxb Quân đội nhân dân, 2008) Nhóm

tác giả đã trình bày quan niệm chung về chuẩn mực đạo đức theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phân tích các giá trị chuẩn mực đạo đức truyền thống con người Việt Nam, đồng thời phân tích các tác động của nền kinh tế thị trường, quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa tác động đến sự vận động biến đổi các chuẩn mực đạo đức của con người Việt nam hiện nay

Trong công trình nghiên cứu: Công trình “Điều tra quốc gia về vị

thành niên và thanh niên Việt Nam” công bố ngày 26 tháng 08 năm 2005, cho

đến nay đây là cuộc điều tra về vị thành niên và thanh niên lớn nhất, toàn diện nhất ở Việt Nam, là nguồn thông tin bổ ích, đáng tin cậy về tình trạng sức khỏe, đời sống xã hội, thái độ, hoài bão của thế hệ thanh niên Việt Nam ngày

nay “Vận dung tư tưởng Hồ Chí Minh vào quá trình giáo dục đạo đức cho

sinh viên ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay” (Nxb Lý luận chính trị, Hà

Nội, 2008), Ths Phạm Tấn Xuân Phước, PGS.TS Huỳnh Thị Gấm đã trình bày tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục đạo đức cách mạng, lối sống mới cho thanh niên, phân tích thực trạng đạo đức, lối sống cho sinh viên, đề ra các nhóm giải pháp về giáo dục đạo đức cho sinh viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh Đây là công trình rất công phu, mỗi tác giả lại có cái nhìn chuyên sâu

về từng khía cạnh của đời sống thanh niên hiện nay và từ đó đưa ra những giải pháp góp phần nâng cao đạo đức xã hội Song, các tác phẩm còn dừng lại ở những giải pháp, ở tầm vĩ mô, chung chung mang tính định hướng mà chưa thực sự cụ thể, phù hợp để xây dựng chuẩn mực đạo đức cho từng nhóm bộ phận những người Việt Nam, chưa xây dựng được chương trình, biện pháp giáo dục đạo đức hiệu quả cho đối tượng thanh thiếu niên

Trang 13

Ngoài những công trình nghiên cứu trên đây, liên quan đến đề tài luận văn, còn có một số luận

đào tạo con người theo những nguyên tắc chuẩn mực đạo đức của Nho giáo

như: “Tìm hiểu mẫu người quân tử qua hai tác phẩm ‘Luận ngữ’ và ‘Mạnh

tử’ của Nguyễn Xuân Lộc, “Quan niệm của Nho giáo nguyên thủy về con người qua các mối quan hệ thân - nhà - nước - thiên hạ” của Trần Đình Thảo,

“Quan niệm của Khổng Tử về giáo dục” của Nguyễn Bá Cường, “Quan niệm của Khổng Tử về con người và giáo dục đào tạo con người” của Nguyễn Thị

Tuyết Mai, “Tư tưởng của Khổng Tử trong sách Luận ngữ” của Vũ Thị Bích

Ngọc

Liên quan đến vấn đề này còn có nhiều bài viết trên các tạp chí khoa

học, như: “Nho học và Nho học Việt Nam, một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của Nguyễn Tài Thư (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1997);“Tìm hiều tư

quá trình Nho giáo du nhập vào Việt nam”(Từ đầu công nguyên đến thế kỷ XIX của Doãn Chính, Nguyễn Sinh Kế (Tạp chí Triết học số 9, 2004);“Vấn đề bản chất con người trong Nho giáo Trung Quốc cổ đại” của Nguyễn Văn Thọ

(Tạp chí triết học, số 1, 2005);“Tình hình nghiên cứu và hoạt động của giới

Nho học Trung Quốc mấy năm nay” của PGS.TS Nguyễn Tài Thư (Tạp chí

Triết học, số 8, 2007);“Phạm trù Đức trong học thuyết của Khổng Tử” của

Trần Nguyên Việt (Tạp chí Triết học, số 3, 2004)

Với thái độ trận trọng những thành tựu nghiên cứu của các học giả đi trước đã cung cấp nhiều kiến thức có liên quan đến tư tưởng về đạo làm người cũng như đạo đức, lối sống xã hội vô cùng bổ ích và có giá trị, tôi đã tham khảo, kế thừa có chọn lọc và trung thực nguồn tài liệu quý báu đó trong quá trình thực hiện luận văn của mình

Trang 14

CHƯƠNG 1

N TRONG

rõ ràng, thiện ác khó phân biệt Cha Khổng tử là Thúc Lương Ngột là quan võ triều đình nước Lỗ Mẹ ông là Nhan Trưng Tại hay còn gọi là Nhan Thị Có sách chép rằng trán ông cao và gồ lên nên mới đặt tên là Khâu; Khâu nghĩa là cái gò

Cha Khổng Tử mất khi ông lên ba tuổi, từ đó gia đình Khổng Tử sống trong cảnh bần hàn Từ nhỏ Khổng Tử đã nổi tiếng là người siêng năng hiếu học, thích chơi trò cúng tế, ngay từ nhỏ đã theo mẹ nhận dạng mặt chữ, lúc lên năm, sáu tuổi đã tụ tập trẻ con mô phỏng trò tế lễ Năm 15 tuổi trở đi Khổng Tử bắt đầu để chí vào việc tự học Năm 17 tuổi, ông đã nổi danh và được trọng vọng Năm 19 tuổi ông lấy vợ, sinh đứa con đầu lòng đặt tên là

Lý, tự Bá Ngư Đồng thời ông nhận chức Ủy lại, coi việc cân đong thóc ở kho

và làm tư chức lại coi việc nuôi bò, dê để dùng vào việc cúng lễ Năm 22 tuổi

Trang 15

ông bắt đầu dạy học sau đó học nhạc và học đạo Tuy còn ít tuổi nhưng ông

đã nổi tiếng là một nhà nghiên cứu tài ba Đến năm 28, 29 tuổi, ông đến học ở Lạc ấp, là kinh sư của nhà Chu

Vào khoảng 30 tuổi, Khổng Tử đã bắt đầu nhận đệ tử dể dạy học, song Khổng Tử không bằng lòng ở đó mà lập trí để sửa trị thiên hạ Từ năm 34 tuổi đến năm 51 tuổi ông dẫn học trò đi khắp các nước để truyền bá và tìm người

sử dụng học thuyết của mình Có nơi ông được trọng dụng nhưng cũng có nơi không Mãi đến năm 51 tuổi, cơ hội thuận lợi mới đến với ông Năm ấy Lỗ Định Công cử Khổng Tử làm Trung Đô Tể, tức trưởng quan hành chính thủ

đô, bắt đầu một thời kỳ nắm chính sự của Khổng Tử, ngắn ngủi mà rực rỡ, lấy Trung Đô làm mẫu mực cho bốn phương làm theo Một năm sau ông được tăng làm Tiểu Tư Không rồi thăng làm Đại Tư Khấu, tạm đảm đương chức vụ

tể tướng Trong vòng mấy năm Khổng Tử đã thể hiện tài chính trị nổi trội của mình trên các mặt nội chính, ngoại giao, giáo hóa lễ nhạc, chế độ hành chính,

có thể nói là “nước Lỗ đại trị, chư hầu nễ phục” Song đáng tiếc là cơ hội không thể kéo dài, vua nước Lỗ trúng kế ly gián của nước Tề, chìm đắm bởi đoàn nữ nhạc mà nước Tề đem tặng, quên lo chính sự, Khổng Tử chán ngán, phẫn uất xin từ chức, rời khỏi nước Lỗ chu du liệt quốc, với mong ước tìm được vua chúa tài giỏi, thi triển được hoài bảo của mình

Từ năm 55 tuổi đến năm 68 tuổi, Khổng Tử với lòng mong nuốn đi tìm một mãnh đất thi triển tài năng hoài bảo của mình mà trôi dạt lênh đênh suốt

14 năm, tuy đạt được danh tiếng nhưng cũng nếm đủ mùi cay đắng Ông không tìm được chỗ nào để thi hành cái đạo của mình, không có cơ hội để thể nghiệm với đời

Cuối đời thấy thực sự bất lực về việc làm chính trị nên năm 68 tuổi Khổng Tử trở về nước Lỗ Ông tiếp tục dạy học, san định các sách vở đời trước như Dịch, Thi, Thư, Lễ, Nhạc của cổ nhân, viết sách Xuân Thu để bộc

Trang 16

lộ quan điểm của mình Nhiều quan điểm của ông thể hiện qua các buổi tọa đàm mà nội dung của nó sau này được trình bày trong “Luận ngữ” do học trò của ông chép lại Như vậy, Khổng Tử là người đầu tiên sáng lập ra trường học tư, thu nhận nhiều đồ đệ, đưa giáo dục mở rộng cho bình dân, đem tri thức văn hóa truyền bá cho nhân gian, có cống hiến thật to lớn đối với giáo dục thời cổ đại

Đến năm 479 (Chu Kính Vương 41 – Lỗ Ai Công năm 17), ông qua đời thọ 73 tuổi Sau khi Khổng Tử mất, nhất là qua giải pháp tàn khốc “đốt sách chôn nho” của Tần Thủy Hoàng thì sách của Khổng Tử không còn giữ được

là bao Khi đạo Nho được phục hưng (đời Hán Vũ Đế), sách Nhạc chỉ còn một thiên được đem chép vào bộ “Lễ ký” gọi là thiên “Nhạc ký” Những sách khác được người đương thời sưu tầm, bổ sung tạo thành năm kinh là: Kinh Dịch, Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ và Kinh Xuân Thu

Như vậy, có thể thấy Khổng Tử được sinh ra trong cảnh cơ hàn nhưng thuộc dòng dõi quyền quý

mà “Bá đạo” đang lấn át “Vương đạo”, trật tự lễ pháp nhà Chu bị đạo lộn Khổng Tử

Cuộc đời Khổng Tử là cuộc đời truy tìm miệt mài Trong các văn tuyển của mình, ông viết “Lúc mười lăm tuổi tôi đã đam mê học tập Khi ba mươi tuổi, tôi đã trở nên vững vàng Được bốn mươi tuổi, tôi không còn những ngờ vực gì hơn Và khi đã năm mươi tuổi, tôi đã

tôi hòa chung với ý gió Để khi được bảy mươi tôi có thể đi theo các ước vọng của lòng mình, và giờ tôi biết chúng đúng” [26, tr 435]

Cả cuộc đời ông tỏa sáng lên một nhân cách con người toàn vẹn Nhân,

Lễ, Nghĩa, Tín, Dũng Một con người chìm nổi

vẫn một lòng kiên định thực hiện hoài bão của mình, sống khiêm nhường,

Trang 17

giản dị Một con người luôn vui vẻ và tốt bụng, không hẹp hòi, cố chấp, yêu người, thương người Ông xứng đáng là một “tấm gương nhân luân” cho cả thế hệ sau noi theo

b Sự nghiệp của Khổng Tử

Khổng tử là một nhà tư tưởng lớn của nhân loại, ông đã sáng lập ra

trường phái Nho gia Học thuyết của ông - Nho giáo hay còn gọi là Nho học

được sử dụng làm cơ sở lý luận của trường phái Nho gia và về sau được phát triển thành hệ tư tưởng của giai cấp phong kiến Trung Quốc và nhiều nước lân cận trong đó có Việt Nam, Hàn Quốc Ông đã thấu sách thánh hiền để dạy bảo người đời ăn ở cho hợp luân thường đạo lý Trước thời Xuân Thu, nhà nho được gọi là “sĩ”, chuyên học văn chương và lục nghệ góp phần trị vì đất nước Đến thời mình, Khổng Tử đã hệ thống hóa những tư tưởng và tri thức trước đây thành học thuyết, học thuyết này được người đời sau gắn với tên tuổi người sáng lập ra nó gọi là Khổng học hay Khổng giáo hay Nho giáo

Hồ Chí Minh trong khi trả lời một nhà báo Liên Xô đã nói: “Tôi sinh ra trong một gia đình nhà Nho An Nam… Thanh niên trong những gia đình ấy thường học Khổng giáo, đồng chí biết chắc Khổng giáo không phải là tôn giáo mà là một thứ khoa học về kinh nghiệm đạo đức và phép ứng xử” [39, tr 477]

Khổng giáo đã tiếp thu nhiều niềm tin tinh thần trong Lão giáo, Phật giáo và tục lệ dân gian cổ xưa Nó thiên về thực hành hơn lý thuyết, hầu như

nó sợ những gì là trừu tượng, mà cố đưa ra những quy chuẩn thực tế để sống giữa cuộc đời này, hơn bất cứ điều gì khác Giống như Khổng Tử đã viết:

“Luật đạo lý không là điều gì xa lạ với thực tế đời người” [26, tr 308]

1.1.2 Điều kiện kinh tế, chính trị xã hội thời kỳ Xuân Thu

-Sự xuất hiện của mỗi học thuyết, tư tưởng, không phải một cách ngẫu

Trang 18

nhiên hay từ hư vô, mà luôn có cơ sở khách quan của nó Một trong những cơ

sở khách quan quan trọng mà trên đó nó ra đời, tồn tại và phát triển là những điều kiện kinh tế - xã hội Theo quan điểm chủ nghĩa duy vật biện chứng, giữa

tư tưởng và những điều kiên kinh tế - xã hội có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau Mỗi học thuyết luôn nảy sinh trên những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định Các Mác từng viết: “Các triết gia không mọc lên như nấm từ trái đất, họ là sản phẩm của thời đại mình, của dân tộc mình, mà dòng sữa tinh tế nhất, quý giá và vô hình được tập trung lại trong những tư tưởng triết học” [12, tr 156]

Quá trình hình thành và phát triển tư tưởng đạo làm người của Khổng

Tử cũng không phải là một trường hợp ngoại lệ, nằm ngoài quy luật trên Do

đó, muốn nghiên cứu, tìm hiểu tư tưởng Khổng Tử chúng ta không thể không

đi vào nghiên cứu, tìm hiểu điều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa, chính trị của thời đại mà tư tưởng Khổng Tử nói chung cũng như tư tưởng của ông về đạo làm người nói riêng nảy sinh, hình thành và phát triển

Khổng Tử sống trong thời kỳ Xuân Thu - Chiến Quốc (770 - 221 TCN) Đây là thời kỳ xã hội Trung Quốc đang có những chuyển biến hết sức căn bản và lớn lao Chế độ chiếm hữu nô lệ theo kiểu phương Đông mà đỉnh cao là chế độ “Tông Pháp” nhà Chu đang suy tàn, chế độ phong kiến sơ kỳ đang hình thành Trong xã hội Trung Quốc thời kỳ này diễn ra những biến đổi hết sức sâu sắc trên tất cả các mặt của đời sống xã hội, tạo điều kiện cho sự giải phóng tư tưởng của con người thoát khỏi thế giới quan mang tính chất thần bí, ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của tư tưởng triết học

Thời kỳ Xuân Thu được đánh dấu bằng sự kiện Chu Bình Vương dời

đô về phía Đông đến Lạc Ấp (771 TCN) Về mặt kinh tế, thời kỳ này nền kinh

tế Trung Quốc đang chuyển từ thời kỳ đồ đồng sang thời kỳ đồ sắt Sự ra đời của đồ sắt đã tạo ra một cuộc cách mạng trong công cụ sản xuất Nó thúc đẩy

Trang 19

nền kinh tế Trung Quốc phát triển nhanh chóng trên nhiều lĩnh vực, trong đó nông nghiệp là một nền kinh tế có truyền thống lâu đời và giữ vai trò hết sức quan trọng ở Trung Quốc

Với sự ra đời của đồ sắt và những cải tiến mạnh mẽ trong cộng cụ sản xuất nông nghiệp tất yếu dẫn đến những thay đổi trong quan hệ sản xuất cổ truyền Người ta thấy không cần thiết phải chia lại ruộng đất công theo định

kỳ vào đất tốt hay xấu như trước nữa Giờ đây công xã giao hẳn đất công cho từng gia đình nông nô cày cấy trong thời gian lâu dài Vì vậy, nông nô có thể dùng phương pháp lưu canh hay luân canh để tăng năng xuất cây trồng Mặt khác, một số người bình dân do có chút công trạng trong chiến trận mà có quyền lực đã ỷ vào đó để chiếm ruộng đất công thành ruộng đất tư, một số khác là nhà buôn giàu có đã giành tiền để mua ruộng đất, một số khác nữa là những người nghèo khổ đã tập hợp nhau lại để tiến hành khai khẩn ruộng hoang và trở thành chủ sở hữu lớn về ruộng đất Tình hình trên, một mặt đã làm cho cho chế độ “tỉnh điền” dần tan rã, chế độ tư hữu ruộng đất từng bước được hình thành và được nhà nước thừa nhận Mặt khác, đã hình thành trong

xã hội một giai cấp mới - giai cấp địa chủ Giai cấp này vừa giàu có về kinh

tế, vừa đòi hỏi quyền lực về chính trị Họ tham gia vào giai cấp thống trị xã hội, sánh vai cùng giai cấp chủ nô

Cùng với việc thay đổi quan hệ sản xuất, phương thức thu thuế cũng được thay đổi Trước đây, theo chế độ “tĩnh điền”, ruộng đất của công xã được chia đều cho nông nô, nông nô phải nộp một phần sản lượng nông phẩm thu hoạch được cho công xã để nộp lên triều đình Khi chế độ tư hữu ruộng đất phát triển, số lượng ruộng đất của nông dân sở hữu không bằng nhau, nhà nước đã bãi bỏ hình thức thu thuế cũ và thi hành chế độ thu thuế mới, đánh thuế vào từng mẫu ruộng (gọi là thuế sơ mẫu) Nước đầu tiên thi hành chế độ thuế mới này là nước Lỗ vào năm 594 (TCN)

Trang 20

Về kinh tế, sự phát triển đa dạng của nhiều ngành nghề thủ công nghiệp

đã có ý nghĩa tích cực trong việc giải phóng sức lao động, góp phần phá vỡ nền kinh tế thuần nông, nâng cao đời sống của nhân dân Trung Quốc thời cổ đại Nhưng về mặt chính trị, mặc dù số thợ thủ công nghiệp đông nhưng do trình độ còn thấp nên họ chưa có ảnh hưởng lớn trong xã hội

Cùng với nông nghiệp và thủ công nghiệp, đồ sắt ra đời và trở nên phổ biến, đồng thời tạo cơ sở cho thương nghiệp phát triển hơn trước, hoạt động giao lưu buôn bán diễn ra sôi động Tiền tệ đã xuất hiện Do nhờ buôn bán mà giàu có, trong xã hội hình thành một lớp thương nhân ngày càng có thế lực như Huyền Cao nước Trịnh, Tử Cống (vốn là học trò của Khổng Tử)… Tầng lớp này thường kết giao với các bậc chư hầu, công khanh đại phu tìm cách leo lên giành quyền lực với tầng lớp quý tộc cũ, gây nhiều ảnh hưởng đối với chính trị đương thời Tuy nhiên, do tình trạng xã hội rối ren, lãnh thổ chia năm xẻ bảy do nạn chư hầu cát cứ, phương tiện giao thông thô sơ, đường sá đi lại khó khăn, do đó việc kinh doanh không phải ai cũng làm được mà chỉ những người nào đó có quen biết kết giao với quan lại, người có đầu óc tháo vát và lòng quả cảm thì mới làm được Hơn nữa trong quan niệm của người Trung Quốc luôn xem thường, khinh rẻ người buôn bán, coi đó là nghề rẻ mạt nhất với tư duy “nông bản, thương mạt”, “Trọng nông, ức thương” Chính vì

sự hình thành của thương nghiệp, buôn bán đã tạo ra trong cơ cấu giai cấp xã hội một tầng lớp mới - tiền thân của một bộ phận giai cấp xã hội một tầng lớp mới - tiền thân của một bộ phận giai cấp địa chủ sau này

Về chính trị, những biến đổi về mặt kinh tế tất yếu dẫn đến những biến đổi về mặt chính trị trong thời Xuân Thu Nếu như trong thời Tây Chu chế độ tông pháp, “phong hầu, kiến địa” vừa có ý nghĩa về mặt kinh tế, vừa có ý nghĩa về mặt chính trị, ràng buộc về huyết thống có tác dụng tích cực làm cho

Trang 21

nhà Chu giữ được sự hưng thịnh trong một thời gian dài, thì đến thời Xuân Thu, chế độ tông pháp nhà Chu không còn được tôn trọng, đầu mối các quan

hệ kinh tế, chính trị, quân sự, giữa Thiên tử và các nước chư hầu trở nên lỏng lẻo, huyết thống ngày càng xa, trật tự lễ nghĩa nhà Chu không còn được duy trì như trước Thiên tử nhà Chu hầu như không còn quyền uy gì đối với các nước chư hầu Thiên tử không còn xét xử được những cuộc tranh chấp giữa các nước chư hầu Các lãnh chúa nhỏ và vừa xưa nay vẫn dựa vào quyền uy của Thiên tử thì giờ đây đã trở nên thất vọng, không còn muốn phụ thuộc vào Thiên tử nữa Nhiều nước chư hầu mượn tiếng muốn khôi phục lại địa vị tông chủ của nhà Chu đã đưa ra khẩu hiệu “Tôn vương bài di”, nhưng thực chất là mưu cầu lợi ích cá nhân, mở rộng thế lực và đất đai, thôn tính các nước nhỏ, tranh giành địa vị bá chủ thiên hạ đã đua nhau xuất binh đánh nhau suốt mấy trăm năm

Trong thời Xuân Thu – Chiến Quốc, đã xảy ra tới 483 cuộc chiến tranh lớn nhỏ giữa các nước chư hầu thôn tính lẫn nhau Đầu thời Tây Chu Trung Quốc có hàng ngàn nước (chư hầu), đến cuối thời Xuân Thu (Đông Chu) chỉ còn hơn một trăm nước Trong đó, có những nước hùng mạnh nhất thời bấy giờ thay nhau làm bá chủ thiên hạ như nước Tề, Tấn, Sở, Tống, Ngô, Việt, Tần Để tập trung tất cả tài lực và vật lực cho các cuộc chiến tranh, các quốc gia này đều thi hành chính sách “bá đạo” (cai trị bằng bạo lực, cưỡng bức) dựa trên sức mạnh và ra sức bóc lột nhân dân và các nước khác, điều này hoàn toàn khác với chính sách nhân nghĩa “vương đạo” (cai trị bằng đạo đức) của thánh nhân xưa Chính sách “bá đạo” đã làm

khổ Người dân phải tham gia vào quân đội thực hiện các cuộc chinh phạt của các “tập đoàn” quý tộc, đồng thời phải chịu sưu cao thuế nặng, lao dịch nặng nề Thiên tai thường xuyên xảy ra, nạn cướp bóc lại hoành hành khắp nơi Đồng ruộng bỏ hoang, cuộc sống nhân dân trăm bề khốn khổ

Trang 22

Cùng với các cuộc thôn tính lẫn nhau của các quốc gia, thì ngay bên trong mỗi quốc gia cũng nổ ra không ít các cuộc tranh giành quyền lực và đất đai giữa quý tộc với nhau Hậu quả của những cuộc tranh giành, thôn tính, chinh phạt lẫn nhau của tầng lớp quý tộc đã dẫn đến sự diệt vong của hàng loạt các nước chư hầu nhỏ, đạo đức xã hội bị suy đồi, các tệ nạn xã hội ngày càng gia tăng, mâu thuẫn giai cấp trong xã hội trở nên sâu sắc, kể cả mâu thuẫn giữa giai cấp thống trị và nhân dân cũng như giữa giai cấp thống trị với nhau, làm cho xã hội ngày càng thêm rối loạn Lễ nghĩa nhà Chu bị phá hoại, đặc biệt những nghi lễ chặt chẽ, tôn nghiêm trước đây đã từng góp phần bảo

vệ và làm hưng thịnh chế độ tông pháp nhà Chu, thì đến nay cũng bị xem thường Hậu quả tất yếu là một vài nơi đã nổi lên các cuộc khởi nghĩa nông dân và nô lệ, đẩy mâu thuẫn xã hội thời Xuân Thu lên đến đỉnh cao, đưa chế

độ chiếm hữu nô lệ Trung Quốc đi nhanh đến suy tàn và cáo chung

Chính trong thời đại lịch sử đầy biến động của thời kỳ Xuân Thu đã đặt

ra cho các nhà tư tưởng những dấu hỏi lớn về mặt triết học, chinh trị, luân lý đạo đức, pháp luật, quân sự,

nghiên cứu để đưa ra những câu trả lời, đưa ra những giải pháp giải quyết những vấn đề thực tiễn của xã hội lúc bấy giờ Vì vậy, trong thời kỳ này đã xuất hiện hàng loạt các nhà tư tưởng lớn và học thuyết lớn Có thể nói, đây là thời kỳ phát triển rực rỡ của triết học Trun

đây là thời kỳ “bách hoa đề phóng” (trăm hoa đua nở), “bách gia tranh minh” (trăm nhà đua tiếng) Giáo sư Nguyễn Tài Thư đã nhận xét: “Có một thời kỳ lịch sử Trung Quốc mà ngày nay nhớ đến có người còn xốn xang bở

triết học và chính trị - xã hội ra đời, nhiều khối óc tài ba làm nên sắc thái văn hóa và tư tưởng của Trung Quốc sau này” [45, tr 13] Một học thuyết lớn nhất trong các học thuyết thời bấy giờ mà người đứng đầu là Khổng Tử cho

Trang 23

rằng: Xã hội rối loạn là do con người vô đạo, không theo đạo lý, không có nhân nghĩa, nên xã hội ổn định thì phải làm cho xã hội có đạo, dẫn dắt con người về với đạo lý, với đức nhân, với chính danh của mình Với lý do đó, Khổng Tử đã đưa ra những tư tưởng về Đạo làm người để điều chỉnh hành vi của con người trong xã hội, đồng thời đề cao đức trị, lấy đức trị làm phương tiện nhằm thay đổi xã hội từ “loạn” thành “trị”

của sự hình thành tư tưởng về đạo làm người của Khổng Tử

Nho giáo nói chung và tư tưởng về Đạo làm người của Khổng Tử nói riêng được kế thừa và phát triển từ đời sống tư tưởng của Trung Quốc từ trước đến bấy giờ, đặc biệt là dưới thời nhà Chu

nhà Chu

Từ thời cổ đại, người Trung Quốc đã có tục thờ cúng tổ tiên và linh hồn

người chết, được gọi là thờ quỷ thần Khổng Tử tôn trọng phong tục đó, nhưng loại bỏ yếu tố mê tín dị đoan vốn có của nó Khổng Tử nói “tế thần

như thần tại” (khi cúng tế thần phải coi như thần đang có mặt), nhưng ông khuyên “thờ quỷ thần” nhưng “kinh nhi viễn chi” (tôn kính nhưng xa lánh), vì Khổng Tử cho rằng thờ quỷ thần chỉ là biểu hiện lòng tôn kính đối với người quá cố, nhưng ông không tin quỷ thần có thể giúp gì cho con người

Quan niệm về “Mệnh Trời” được nhà Chu sử dụng với nghĩa là “sự ủy nhiệm của Thượng đế” Vua nhà Chu được gọi là Thiên tử (con Trời), được Trời giao sứ mệnh cai trị đất nước Trung Quốc Khổng Tử tuy kế thừa quan

niệm về mệnh Trời của nhà Chu nhưng ông không quan niệm Trời như là một

không có chỗ nào nói về cúng Trời)

Trang 24

Quan niệm về “lễ” của Khổng Tử với tính cách là một yếu tố quan trọng của đạo làm người và đường lối đức trị có nguồn gốc từ các triều đại trước Từ mấy nghìn năm về trước cho đến nhà Chu, các triều đại Trung Quốc

đã lấy lễ để trị quốc, đảm bảo được sự thịnh trị của Trung Quốc Thời bấy giờ,

xã hội còn đơn giản nên vai trò của pháp luật chưa được phát huy Theo truyền thuyết, Nghiêu và Thuấn là hai vị vua mẫu mực nhất, cai trị thiên hạ bằng đạo đức, lễ nghĩa cho nên đất nước thái bình thịnh trị

Khổng Tử nói: “Không làm gì cực nhọc mà trị được thiên hạ, đó là vua Thuấn Ngài đã làm gì? Ngài đã cung kính ngôi trên ngôi và quay mặt về hướng nam” [26, tr 4]

Nhà Hạ (2205 - 1767 TCN) và nhà Thương (Ân) (1766 - 1122 TCN) đã dùng lễ cai trị gần hơn một nghìn năm Nhà Chu (1122 - 256 TCN) kế thừa lễ của hai triều đại trước đó cai trị Trung Quốc được gần 870 năm, là triều đại lâu nhất trong lịch sử Trung Quốc, chia thành hai giai đoạn : Tây Chu (1122 -

771 TCN) và Đông Chu (771 - 256 TCN)

Khổng Tử nói: “Lễ nhà Chu kế thừa hai triều đại đã qua (nhà Hạ và nhà

Chu.” [26, tr.14]

Vũ trụ quan và nhân sinh quan của Khổng Tử còn là sự kế thừa tư tưởng trong sách Hồng Phạm, sách dựa trên quan điểm “ngũ hành” để xét mối quan hệ giữa vua và dân, trong đó nêu lên vai trò quan trọng của nhà vua, của đạo làm vua Những tư tưởng chứa đựng trong sách Hồng Phạm tuy sơ lược nhưng đó là gốc rễ để các nhà Nho nói chung và Khổng Tử nói riêng xây dựng nên những mối quan hệ chồng chéo, đan xen, phức tạp giữa con người với con người

Như vây, có thể nhận thấy rằng, xã hội Trung Quốc thời Xuân Thu bấy giờ là xã hội hỗn loạn về đẳng cấp và danh phận, các chư Hầu xâm lấn lẫn

Trang 25

nhau Trước thực trạng xã hội và bằng nhãn quan giai cấp của mình, Khổng

Tử đã sáng lập Nho giáo, xây dựng nên hệ thống chuẫn mực về đạo làm người

để đưa xã hội từ loạn lạc đến thái bình, thịnh trị

1.2

1.2.1 Khái niệm “đạo” và “đạo làm người”

“Đạo” là một trong những khái niệm cơ bản nhất của triết học Trung Quốc cổ - trung đại Tất cả các trường phái đều nói về “đạo”, nhưng có những

cách hiểu khác nhau Phái Đạo gia do Lão Tử sáng lập coi “đạo” là bản

nguyên và quy luật vận hành của vũ trụ (Thiên đạo – đạo Trời) Con người

không có đạo riêng của mình mà chỉ làm theo đạo Trời Đạo gia hướng con người sống theo lẽ tự nhiên, “vô vi” “Vô vi” có nghĩa là không làm gì trái với đạo Trời Còn Pháp gia thì trái lại không tin ở đạo Trời, mà chú trọng tới nhân

đạo, tức đạo pháp trị để giúp cho các nước trở thành nước mạnh, binh cường

Với lập trường và mục đích chính trị riêng của mình, học thuyết chính trị - xã hội, đạo đức Khổng Tử chú trọng đến mối quan hệ giữa con người với

con người nhằm phát triển mặt nhân đạo và trên cơ sở đó mà hình thành nên

tư tưởng về đạo làm người

nhưng ngày nay luận bàn về nó không phải là điều đã cũ, cổ hủ Bởi lẽ, từ khi có con người và

xã hội loài người thì những mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, con người với con người, con người với chính bản thân mình luôn nảy sinh và do vậy, đạo làm người luôn vận hành Ngày nay khi xã hội càng phát triển, trình

độ nhân thức của con người ngày càng được nâng cao, mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, xã hội và chính bản thân mình nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp thì đạo làm người lại càng chú ý hơn bao giờ hết

Khi bàn đến đạo làm người, các nhà Nho và những nhà nghiên cứu Nho

Trang 26

giáo thường nhấn mạnh đến lòng “nhân” (lòng thương người) như là bản chất

và nội dung cơ bản của đạo làm người Nhân không chỉ là lòng thương người xuất phát từ nội tâm, mà còn thể hiện bằng những hành vi cụ thể trong quan

hệ với người khác, với xã hội, đó là lễ, nghĩa Theo nghĩa đó, đạo làm người

là khái niệm dùng để chỉ các quy phạm, chuẫn mực đạo đức nhằm điều chỉnh hành vi của con người, chỉ rõ trách nhiệm, quyền hạn, của mỗi người trong quan hệ với người khác từ trong gia đình đến ngoài xã hội Đó là nhân sinh quan, quan niệm sống trong sạch, thuận theo lẽ phải Đạo làm người của Khổng Tử bao quát các mối quan hệ trong xã hội ở một phạm vi rất rộng Một người có đạo đức, có đạo làm người là cơ sở để người đó thực hiện tốt mối quan hệ trong quan hệ với tự nhiên, trong ứng xử xã hội, ứng xử với chính bản thân mình theo danh phận Nho giáo gọi con người đạt được các chuẩn

mực đó là “người quân tử”, “đấng trượng phu” Với Khổng Tử, người quân

tử không thuần túy chỉ địa vị xã hội của người đó, mà chủ yếu chỉ phẩm chất đạo đức mà người đó đạt được

Đứng trước một xã hội loạn lạc bởi chiến tranh, bởi những mâu thuẫn

và xung đột giai cấp dường như không thể điều hòa, Khổng Tử đặt mục đích cho học thuyết của mình là xây dựng hệ thống chuẩn mực đạo đức về đạo làm người để đưa xã hội trở thành ổn định, thái bình, đại đồng, mọi người sống hòa mục, thân ái, bình đẳng Đạo làm người là hệ thống những chuẩn mực,

nguyên tắc, quy tắc ứng xử xuất phát từ lòng nhân ái, trong hành vi đạo đức

là lễ, nghĩa và biểu hiện trong những quan hệ cụ thể, như đạo quân thần (vua

– tôi), đạo cha con, đạo vợ chồng, v.v Do vậy, để hiểu rõ quan điểm của Khổng Tử về đạo làm người, chúng ta cần xem xét từng nội dung tư tưởng cụ thể và biểu hiện trong các quan hệ cụ thể

Trang 28

“Nhân” có hai khía cạnh ,

-đều gì mình cho là tốt đối với mình thì nên giúp người khác thực hiện: “Mình muốn lập thân thì hãy giúp người khác lập thân Mình muốn thành đạt thì hãy giúp người khác thành đạt” (Kỷ dục lập nhi lập nhân Kỷ dục đạt nhi đạt nhân), C

đừng làm cho người khác” (Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân)

Trang 29

26, tr

y nhânhân” (

[26, tr

g[26, tr

,

Trang 30

tộc mà chỉ lo tu đức để được địa vị chứ không dùng đến vũ lực, thể hiện ở việc người quân tử có sức mạnh biến cải nhân dân đến chỗ tốt hơn Sức mạnh

đó không chỉ là là lời nói mà là sức mạnh bên trong, là đạo đức Người quân

Trang 31

tử lấy đạo đức làm động lực thúc đẩy nhân dân hành thiện Khổng Tử nói:

“Đạo chi dĩ chính, tề chi dĩ hình, dân miễn nghi vô sĩ, đạo chi dĩ đức, tề chi dĩ

lễ, hữu sĩ thả cánh” (D

cầu ở mình không cầu

ở người.) [26, tr 443] “Giữ vững chính nghĩa không cố chấp điều tín nhỏ

hoàn cảnh nào thì người quân tử vẫn luôn giữ vững nhân cách của mình, làm điều nghĩa

Bên cạnh đó, người quân tử “lo không đạt được đạo chứ không lo nghèo” [26, tr.432] “ăn gạo xấu uống nước lã mà thấy vui, chứ không chịu

thái độ “thư thái không kiêu căng” [26, tr.370] “Không lo, không sợ vì tự xét mình không có điều gì đáng xấu hổ”, nghĩ vậy mà lúc nào cũng thản nhiên vui

vẻ Và “Nếu có hận thì người quân tử chỉ hận một điều là chết mà không làm được điều gì để mọi người biết tới mình, khen mình”[26, tr 441]

Người quân tử là mẫu người lý tưởng, hoàn thiện, nhưng bản thân người quân tử tự nhận thấy mình chưa phải là người hoàn thiện, nên họ luôn

tự xác định phải thường xuyên hoàn thiện bản thân để trở nên tốt hơn Trong cuộc sống hằng ngày không ai tránh khỏi được sai lầm, xong người quân tử là người biết sai để sửa, đó là một trong những phẩm chất tốt đẹp của người hoàn thiện, “có lỗi thì không ngại sửa” [26, tr.103] Một trong những đặc điểm nổi bật của người quân tử là mối quan hệ với cộng đồng xã hội, Khổng

Tử nói: “Thân với mọi người mà không kết đảng” [26, tr 134] “Hòa với mọi người mà không a dua” [26, tr 363] “Nghiêm trang giữ lập trường mà không tranh với ai”[26, tr 445] Đức của người quân tử rất cao cả, là một người có đức nhân luôn giúp người làm việc thiện, trọng nghĩa, cứ hợp nghĩa thì làm, luôn “sửa mình thành người kính cẩn”

Trang 32

Về hành vi ngôn ngữ của quân tử “Thận trọng về lời nói, mau mắn về việc làm”, “Làm trước điều mình muốn nói rồi hãy nói sau”[26, tr 125], điều này thể hiện rằng người quân tử quý ở chỗ thực hành chứ không phải ở lời nói suông: “Quân tử dục nột ư ngôn, nhi mẫu ư hành” [26, tr 114], (Người quân

tử nói ít mà chăm chú vào việc làm) Người quân tử “khi trông thì để ý để thấy cho minh bạch, khi nghe thì lắng tai nghe cho rõ, sắc mặt thì giữ cho ôn hòa, diện mạo giữ cho đoan trang, nói thì giữ trung thực, làm thì giữ cho kính cẩn, có điều nghi hoặc thì hỏi han, khi giận thì nghĩ đến tai hại hậu quả sẽ xảy

luôn ham điều nghĩa

Tóm lại, người quân tử là con người có đủ: nhân, trí, dũng, lễ, nghĩa, trung, tín, thành, hiếu đễ, khoan thứ, tự cường, hiếu học, chuyên cần … Có nhân nên lòng yêu người tỏa khắp, mong muốn cho người khác cũng được hạnh phúc, có yêu thương nhân loại nên lòng khoan dung độ lượng thứ tha, không nhớ lỗi lầm của người khác, mà chỉ chú trọng giáo hóa họ nên người

Có trí nên biết khôn ngoan suy xét điều phải, điều trái Nếu lỡ giao lưu với kẻ xấu thì phải tuyệt giao với họ nhưng không nói xấu họ, có dũng nên không biết sợ sệt là gì Thấy việc nghĩa bèn ra tay hành động, nếu đã hành động thì phải biết thực chứ không chỉ là lời nói xuông Có lễ nên giữ được hòa khí nên trong nhà chẳng ai ghét, trong xã hội chẳng ai oán mình, giữ được lễ trong việc giao tiếp với người tránh được sự sỗ sàng, có nghĩa nên luôn giữ công chính, chẳng tranh giành với ai Vì trung nên làm việc cho ai cũng phụng sự hết lòng, không phản bội những cái trung đó không phải là lòng trung máy móc, thiển cận (ngu trung) Bậc quân tử ngay cả lúc phụng sự vua đâu phải vì

cá nhân mà chính vì lẽ đạo Nếu vua vô đạo thì trung làm gì? Bậc quân tử vì tín mà hành xử Tín là tin mình, tin người, nhờ chữ tín đó mà thành người Vì

sự tin vào mình nên dù ai không biết tài đức của mình, mình cũng không

Trang 33

buồn, không oán Tự tin vào tài đức của mình, càng ngày càng trau dồi để một mai kinh bang tê thế, bấy giờ người biết mình cũng không muộn Khoan thứ

là lòng bao dung quản đại của bậc quân tử, và muốn tu thân phải hiếu học Việc học tập của người quân tử cũng giống như công việc người thợ làm ngọc, luôn luôn mài dũa trau chuốt mới có ngọc quý Tuy nhiên điều căn bản nhất của người quân tử cần đạt được ba đạo là nhân, trí, dũng “nhân” là không lo, “trí” là không lầm, “dũng” là không sợ

Cuối cùng hạng người thấp hơn quân tử là tiểu nhân Khổng Tử đã lấy đức hạnh làm tiêu chuẩn để vạch ra ranh giới giữa người có đức và người không có đức Đó là sự khác biệt giữa quân tử và tiểu nhân Khổng Tử căn cứ vào sự khác nhau về mức độ, phạm vi giác ngộ, thi hành điều nhân để so sánh tiểu nhân với quân tử, để hiểu rõ hơn về tính cánh tiểu nhân Người quân tử

thì coi trọng nghĩa, tiểu nhân thì coi trọng lợi (Quân tử dụ ư nghĩa, tiểu nhân

dụ ư lợi) Nói vậy nghĩa là hành vi của quân tử chủ yếu là hợp với nhân đạo, cùng những hành vi đã thành khuôn phép Tiểu nhân có thể nói là thấy lợi thì làm, mục tiêu cuối cùng của mọi lời nói việc làm điều là mưu cầu tư lợi cho mình Đây có thể nói là sự phân chia cơ bản giữa tiểu nhân và quân tử Quân

tử cậy ở mình mà thành công, tiểu nhân cậy ở người nên ít thành công Người quân tử do có tự giác tu dưỡng đạo đức của mình, kẻ tiểu nhân chỉ chỉ đến lợi lộc bởi thế mà khó có được một thế giới tinh thần tốt đẹp

Hơn nữa, quân tử thì thanh thản thư thái, tiểu nhân hay âu lo Biểu hiện

ở thái độ sống, quân tử do có nhân đức, có hiểu biết, dẫu nghèo mà vui với đạo, bởi thế mà trong lúc nguy khốn cũng như lúc thái bình Có địa vị cao cũng không kiêu ngạo khinh rẻ người khác Tiểu nhân thì chăm lo điều cầu lợi

mà cảm thấy không được yên ổn, phải luôn lo nghĩ, khi ngồi ở địa vị cao lại lo mất, chỉ thích tận hưởng xa hoa, với người thì ngạo mạn vậy nên thấy lúc nào không yên ổn cả

Trang 34

Người quân tử vì người khác thành đạt, kẻ tiểu nhân thì đố kị với người khác, người quân tử lấy đạo để tự lập, lấy trung thực để đối đãi với người khác, cái mình làm được thì cũng

không muốn làm cho mình thì cũng không muốn làm cho người khác Bởi thế

tiểu nhân muốn đặt tư lợi của mình lên hàng đầu nên không quyết tâm giúp đỡ người khác Trái lại để giành tư lợi của mình họ thường bất kể thủ đoạn tranh chỗ của người khác mà còn có thể làm điều ác với người khác nữa

Quân tử là mắt khâu liên kết giữa thánh nhân và người thường Theo Khổng Tử người quân tử sợ ba điều: “sợ mệnh trời, sợ bậc đại nhân, sợ lời của thánh nhân” Kẻ tiểu nhân không biết mệnh trời nên không sợ mà còn khinh nhờn bậc đại nhân, giễu cợt thánh nhân Có thể nói rằng: “người quân

tử đạt tới chỗ cao thượng, kẻ tiểu nhân đạt tới chỗ thấp hèn” [26, tr 401] Đạo đức cao cả của một bậc thánh nhân và quân tử là chữ nhân “Nhân” được mô

tả như là toàn bộ những giới đức Bởi vì, Khổng Tử đã từng nói rằng: K

chữ nhân Để tu tập chữ nhân thì hãy yêu thương mọi người

Theo Khổng Tử, những nhà cai trị hiền đức ngày xưa như Nghiêu, Thuấn và Hầu Chu có được chữ nhân, đệ tử Yên Nguyên không vi phạm điều nhân trong ba tháng Còn các đệ tử khác của Khổng Tử “Kẻ thì giữ được một ngày, người thì giữ được một tháng là cùng”

,

Trang 35

“ ”

i Chu Công, “l ”

, l

Trang 36

“l ”

biểu hiện

Cn

thi, thư, l

, Ân

26, tr 453]

tỏ

Trang 37

, khi

8, tr 532]

Tuy nhiên, trong quan niệm của Khổng Tử, lễ không phải là những quy định cứng nhắc, những hình thức phô trương Theo Khổng Tử, điều q

“Khi

Trang 38

[26, tr 5

, kh

Trang 39

thuần túy mà nói lên “

,

“Chính danh” có nghĩa là mỗi người phải

làm đúng cái chức danh của mình, “vua phải ra vua, tôi phải ra tôi, cha phải ra

cha, con phải ra con” (quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử)

Theo sự giải thích của các nhà nghiên cứu Nho học, trong câu nói trên của Khổng Tử, trong các cặp từ “quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử” thì từ thứ nhất nói về một ông vua, một bề tôi, một người cha, một người con cụ thể trong thực tế, còn từ thứ hai nói về khái niệm, bản chất, danh phận của ông

; danh phải đúng với thực

Người có cái danh nhưng không có tài năng, đức độ phù hợp với cái danh đó, như vậy danh chỉ là một cái tên trống rỗng không phải là thực danh

nếu làm không đúng với danh thì lời nói không có tính thuyết phục, dù nói đúng cũng không ai nghe) [26, tr 347]

Trang 40

mối quan hệ thứ ba thành “tam cương” (ba mối quan hệ cơ bản) bao gồm vua tôi, cha con, chồng vợ

Ngày đăng: 04/10/2018, 18:33

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w