1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kế toán quản trị tại các doanh nghiệp kinh doanh khách sạn trên địa bàn thành phố đà nẵng

119 152 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 1,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

tiềm năng to lớn như thế, các doanh nghiệp kinh doanh khách sạn còn đươngđầu với khó khăn thách thức về hình thức kinh doanh, chất lượng phục vụ, vàđặc biệt là vấn đề tính giá, định giá

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế thế giới đã mang đến cho các doanhnghiệp Việt Nam những vận hội mới để phát triển, nhưng cũng kèm theonhiều thách thức, hơn bao giờ hết, để vượt qua những thách thức mang tínhcạnh tranh gay gắt này, đòi hỏi các doanh nghiệp không chỉ dừng lại ở việcnâng cao chất lượng, đa dạng hoá sản phẩm, áp dụng công nghệ tiên tiến màcòn phải sử dụng nghệ thuật, công cụ và phương pháp quản trị doanh nghiệphiện đại Lĩnh vực kinh doanh khách sạn cũng nằm trong xu thế đó

Trên lĩnh vực kế toán quản trị, quá trình hội nhập cũng mang lại nhiềukinh nghiệm từ thực tiễn và lý luận ở nước ngoài, mà ngành khách sạn cũng làmột điển hình Do có những thuận lợi về điều kiện tự nhiên nên lĩnh vực kinhdoanh khách sạn ở Đà nẵng trong thời gian qua đã phát triển nhanh chóng.Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có những nghiên cứu ở phạm vi khảo sát sốlớn về vận dụng kế toán quản trị trong các doanh nghiệp kinh doanh kháchsạn trên địa bàn thành phố Đà Nẵng Mặt khác, Doanh nghiệp kinh doanhkhách sạn trên địa bàn thành phố Đà Nẵng rất đa dạng về: Quy mô; Hình thức

sở hữu Bối cảnh của Đà Nẵng: Là đô thị loại I, là thành phố trực thuộc trungương, là trung tâm của khu vực kinh tế trọng điểm miền Trung và Tâynguyên; Đà Nẵng nằm ở vị trí trung độ của cả nước với các trục đường giaothông Bắc – Nam xuyên Việt và Đông – Tây xuyên Đông Nam Á nối kết vớiLào, Thái Lan và Myanmar Hơn nữa, Đà Nẵng có tiềm năng to lớn về du lịchbiển, và có thế mạnh là trung điểm của bốn di sản văn hoá và thiên nhiên củathế giới Do đó, các doanh nghiệp kinh doanh khách sạn trên địa bàn thànhphố Đà Nẵng đang đứng trước những vận hội với triển vọng phát triển vôcùng to lớn Tuy nhiên, không hoàn toàn dể dàng để khai thác thuận lợi những

Trang 2

tiềm năng to lớn như thế, các doanh nghiệp kinh doanh khách sạn còn đươngđầu với khó khăn thách thức về hình thức kinh doanh, chất lượng phục vụ, vàđặc biệt là vấn đề tính giá, định giá của sản phẩm dịch vụ trong môi trườngcạnh tranh gay gắt của nền kinh tế thị trường.

Trước tình hình đó, đòi hỏi các doanh nghiệp kinh doanh khách sạn trênđịa bàn thành phố Đà Nẵng nhất thiết phải cải tiến và nâng cao hiệu quả, chấtlượng quản lý, mà trong đó kế toán quản trị là phương tiện, là công cụ hổ trợquan trọng nhất quyết định chất lượng của quá trình quản lý doanh nghiệpnhằm tranh thủ giành được ưu thế so với các đối thủ cạnh tranh, khai thác triệt

để được tiềm lực dồi dào của thị trường, ngăn ngừa được các nguy cơ rủi ro,cuối cùng tối đa hoá lợi nhuận cũng như tối đa hoá thu nhập trên vốn chủ sởhữu

Với tất cả các lý do nêu trên đã đặt ra tính cấp thiết cần phải tiến hành

nghiên cứu đề tài: “ Kế toán quản trị tại các doanh nghiệp kinh doanh khách sạn trên địa bàn thành phố Đà Nẵng”.

2 Mục đích nghiên cứu

- Về lý luận: Đề tài góp phần hệ thống lại bản chất, vai trò, chức năng,

và nội dung của kế toán quản trị trong quản lý kinh doanh ở các khách sạn

- Về thực tiễn: Khảo sát thực tế về đặc điểm và hiện trạng của kế toánquản trị trong các khách sạn tại thành phố Đà Nẵng Từ đó, đưa ra phươnghướng và đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện kế toán quản trị tại cáckhách sạn

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: công tác kế toán quản trị tại các doanh nghiệpkinh doanh khách sạn trên địa địa bàn thành phố Đà Nẵng

Trang 3

- Phạm vi nghiên cứu: Chỉ nghiên cứu hoạt động kinh doanh khách sạn

là chủ yếu; Không nghiên cứu hoạt động kinh doanh lữ hành, kinh doanh nhànghỉ của các doanh nghiệp tư nhân

4 Phương pháp nghiên cứu

- Điều tra, khảo sát để chọn mẫu:

+ Doanh nghiệp Nhà nước với quy mô kinh doanh lớn có 20doanh nghiệp gồm các đại diện như: Khách sạn Bamboo Green I, Khách sạnTourance trực thuộc SaiGon Tourist V v

+ Doanh nghiệp cổ phần với quy mô kinh doanh vừa có 10doanh nghiệp, gồm các doanh nghiệp đại diện như: Khách sạn FaiFo, v.v

+ Doanh nghiệp tư nhân với quy mô kinh doanh nhỏ có 10doanh nghiệp, gồm các đại diện như: Khách sạn Green Plaza, Khách sạnThượng Hải, v.v

- Đối tượng để khảo sát, triều tra: Kế toán trưởng hoặc phụ trách kếtoán tại các doanh nghiệp kinh doanh khách sạn

Trang 4

6 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đượcchia thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán quản trị trong kinh doanh khách

sạn

Chương 2: Thực trạng kế toán quản trị tại các doanh nghiệp kinh

doanh khách sạn trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

Chương 3: Phương hướng và giải pháp kế toán quản trị tại các doanh

nghiệp kinh doanh khách sạn trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

Trang 5

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ

TRONG KINH DOANH KHÁCH SẠN

1.1 BẢN CHẤT VÀ CHỨC NĂNG CỦA KẾ TOÁN QUẢN TRỊ

1.1.1 Bản chất của kế toán quản trị [1]

Doanh nghiệp là một hệ thống, theo chức năng hoạt động bao gồm: Hệthống quyết định; Hệ thống tác nghiệp; Hệ thống thông tin; Trong đó: Hệthống thông tin thực hiện mối liên hệ giữa hệ thống tác nghiệp và hệ thống raquyết định, đảm bảo chúng vận hành một cách thuận tiện, linh hoạt để đạtđược các mục tiêu của doanh nghiệp Hệ thống thông tin của doanh nghiệpđược phân thành các phân hệ thông tin như: Thông tin thị trường; Thông tinsản xuất; Thông tin tài chính; Thông tin nhân sự; Thông tin kế toán .Hệthống thông tin kế toán cần phải thực hiện cung cấp thông tin báo cáo cho bênngoài và cho nội bộ doanh nghiệp, nên đã hình thành nên kế toán tài chính và

kế toán quản trị xem như hai hệ thống con của hệ thống kế toán

Kế toán tài chính là bộ phận kế toán cung cấp thông tin chủ yếu chonhững người ngoài doanh nghiệp, bao gồm: Chủ sở hữu, ngân hàng, nhà đầu

tư, chủ nợ, khách hàng và tất cả những ai quan tâm đến doanh nghiệp Nhữngngười này tiếp nhận thông tin qua các báo cáo tài chính, như: Bảng cân đối kếtoán; Báo cáo kết quả kinh doanh; Báo cáo lưu chuyển tiền tệ; Thuyết minhbáo cáo tài chính Mục tiêu của báo cáo tài chính là cung cấp cho người ngoàidoanh nghiệp có thể ra các quyết định liên quan đến việc đầu tư và cung cấptài chính Thông tin từ các báo cáo tài chính là công khai và làm nền tảng đểmọi các nhân, tổ chức có thể ra quyết định trong một môi trường kinh doanhthuận lợi

Trang 6

Kế toán quản trị là bộ phận kế toán cung cấp thông tin cho những nhàquản trị tại doanh nghiệp thông qua các báo cáo kế toán nội bộ Những ngườibên trong doanh nghiệp rất đa dạng, gọi chung là các nhà quản trị, nhưng nhucầu thông tin của họ phản ánh một mục đích chung là phục vụ quá trình raquyết định nhằm tối đa hoá lợi nhuận của doanh nghiệp Do nhu cầu thông tinnội bộ rất đa dạng trong các loại hình doanh nghiệp, nên các báo cáo nội bộ

do kế toán quản trị cung cấp không mang tính tiêu chuẩn như báo cáo tàichính Kế toán quản trị đặt trọng tâm giải quyết các vấn đề quản trị doanhnghiệp Vì vây, kế toán quản trị phải thiết kế các thông tin kế toán sao cho nhàquản trị có thể dùng vào việc thực hiện các chức năng quản trị

Thoạt nhìn hình như kế toán quản trị có mục đích bổ sung cho kế toántài chính, nhưng thực chất thì đây là hai hệ thống con của một hệ thống kếtoán, cả hai nhằm mục đích mô hình hoá thông tin kinh tế của doanh nghiệp.Tuy nhiên chính nhu cầu bí mật các thông tin nội bộ đối với người cạnh tranh

và công khai các thông tin bên ngoài cho nhà tài trợ là động cơ chủ yếu hìnhthành hai hệ thống con này Nói một cách khác chính cạnh tranh làm xuất hiện

kế toán quản trị trong doanh nghiệp

Tuy nhiên, phân chia hệ thống kế toán thành kế toán tài chính và kếtoán quản trị không có nghĩa chỉ có kế toán quản trị tham gia vào hoạt độngquản lý của doanh nghiệp Công việc theo dõi tài sản, công nợ và vốn chủ sởhữu của kế toán tài chính cũng là công cụ hỗ trợ cho công tác quản lý doanhnghiệp Ngoài ra, cũng có sự giao thoa về mối quan hệ giữa kế toán tài chính,

kế toán quản trị và kế toán quản trị chi phí Nội dung của kế toán quản trị chiphí là tập hợp, phân loại, tính giá theo yêu cầu nhất định của kế toán quản trị.Với kế toán tài chính, kế toán chi phí là cơ sở xác định chi phí và thu nhập thểhiện trên báo cáo kết quả kinh doanh trong kỳ kế toán Với kế toán quản trị,

kế toán chi phí được sử dụng để tính giá thành sản phẩm, dịch vụ hoặc chi phí

Trang 7

theo từng nơi hoạt động, lập dự toán , làm cơ sở để phân tích chi phí và raquyết định

1.1.2 Chức năng của kế toán quản trị với quá trình quản lý [2]; [3]

Quản trị một doanh nghiệp bao gồm các chức năng cơ bản là: Hoạchđịnh, tổ chức, kiểm soát, đánh giá và ra quyết định

1.1.2.1 Hoạch định: Là xây dựng các mục tiêu phải đạt được và

vạch ra các bước, phương pháp thực hiện để đạt được mục tiêu đó Để hoạchđịnh và xây dựng các kế hoạch, nhà quản trị phải dự toán nhằm tiên liệu trướcmục tiêu, phương pháp, thủ tục trên cơ sở khoa học Trong công việc này nhàquản trị phải liên kết các mục tiêu cụ thể lại với nhau và chỉ rõ cách huy động,

sử dụng các nguồn lực sẵn có, chức năng này chỉ có thể thực hiện tốt có hiệuquả, và có tính khả thi cao nếu nó được xây dựng trên cơ sở các thông tin phùhợp, hợp lý do bộ phận kế toán quản trị cung cấp Như vậy kế toán quản trịphải cung cấp thông tin cần thiết để các nhà quản trị ra các quyết định ngắnhạn và dài hạn, đáp ứng mục tiêu của doanh nghiệp

1.1.2.2 Tổ chức: Bao gồm việc thiết lập cơ cấu tổ chức và

truyền đạt thông tin các kế hoạch đến những cá nhân có trách nhiệm trongtuyến quản lý để thực hiện kế hoạch đó Thực hiện chức năng này, nhà quảntrị phải liên kết giữa các bộ phận, giữa các cá nhân nhằm huy động và kết hợpcác nguồn lực sẵn có của doanh nghiệp lại với nhau để có thể thực hiện đượccác mục tiêu đề ra trong quá trình hoạch định một cách hiệu quả Vì thế, nhàquản trị phải cần các thông tin khác nhau do nhiều bộ phận cung cấp, trong đó

kế toán quản trị sẽ cung cấp chủ yếu liên quan đến kinh tế, tài chính Kế toánquản trị sẽ dự toán nhiều tình huống khác nhau của các phương án khác nhau

để nhà quản trị xem xét đề ra quyết định trong quá trình tổ chức thực hiệncũng như điều hành các hoạt động sản xuất kinh doanh theo các mục tiêuchung

Trang 8

1.1.2.3 Kiểm soát: Là công việc kiểm tra sau khi triển khai thực

hiện kế hoạch nhằm điều chỉnh và đánh giá có vị trí rất quan trọng Với chứcnăng kiểm soát và đánh giá của quản trị, kế toán quản trị cung cấp các báo cáohoạt động, xem xét giữa kết quả thực tế với dự toán đặt ra và chỉ ra những vấn

đề còn tồn tại cần giải quyết hoặc các cơ hội cần khai thác Thường trong quátrình này người ta sử dụng phương pháp chi tiết, so sánh giữa kết quả thựchiện với các số kế hoạch, dự toán qua đó xem xét sai lệch giữa kết quả đạtđược do kế toán cung cấp theo các báo cáo kế toán tài chính với dự toán đãlập để đánh giá thực hiện Như vậy, có thể xem xét các báo cáo kế toán quảntrị là sự phản hồi hoạt động quản lý của doanh nghiệp để các nhà quản trị raquyết định, xem lại các hoạch định kế hoạch Do vậy để kế toán quản trịgiúp cho các chức năng kiểm tra, đánh giá thì các thông tin kế toán quản trịphải được tổ chức dưới dạng so sánh được

1.1.2.4 Ra quyết định: Là quá trình cân nhắc, xem xét ký lưỡng

với ự hổ trợ chủ yếu của thông tin kế toán quản trị để phân tích các khả năngkhi giải quyết một vấn đề vì mỗi khả năng, mỗi phương án quyết định đều cónhững chi phí và lợi ích riêng có thể đo lường được để các nhà quản trị sẽ lựachọn khả năng nào là tốt nhất Cung cấp thông tin cho việc ra quyết định đòihỏi nhà quản trị phải có phương pháp lựa chọn hợp lý trong nhiều phương ánđặt ra Ra quyết định tự thân nó không là một chức năng riêng biệt mà trongquá trình thực hiện các chức năng quản lý khác đều đòi hỏi phải ra quyết định

do đó thông tin kế toán quản trị thường phục vụ chủ yếu cho quá trình này

Do vậy, mối quan hệ giữa kế toán quản trị với các chức năng quản lý doanhnghiệp là cung cấp thông tin kế toán quản trị để các nhà quản trị có thể nhìnnhận được vấn đề gì đang xảy ra, những khả năng tiềm tàng, những cơ hội sẵn

có để có quyết định kinh doanh đúng đắn

Trang 9

1.2 ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG KINH DOANH KHÁCH SẠN

1.2.1 Khái quát hoạt động kinh doanh khách sạn

Kinh doanh khách sạn thực chất là ngành cung cấp dịch vụ lưu trú chokhách nghỉ trong một thời gian nhất định nhằm thoả mãn nhiều nhu cầu khácnhau như: Lưu trú trong quá trình đi lại giao dịch làm ăn, lưu trú để tổ chứchội nghị, hội thảo, hay lưu trú để đi du lịch, thăm quan, giải trí, và nghỉ dưỡng

Kinh doanh khách sạn không chỉ có những khách sạn ở trung tâm cácthành phố với nhiều quy mô và kiến trúc khác nhau mà còn bao gồm cảnhững khu nghỉ mát, nghỉ dưỡng miền biển hoặc miền núi với nhiều kiểudáng kiến trúc đa dạng và phong phú Mặt khác, sản phẩm dịch vụ của ngànhkinh doanh khách sạn cũng không đơn thuần chỉ có dịch vụ lưu trú mà còn cóhàng loạt các sản phẩm dịch vụ tiện ích cần thiết khác phục vụ cho nhu cầucủa khách lưu trú như: Ăn uống, thông tin liên lạc, phương tiện đi lại, tổ chứchội nghị, hội thảo, và các dịch vụ vui chơi giải trí khác Và chính sự khôngngừng nâng cao chất lượng, đa dạng hoá sản phẩm dịch vụ cung cấp chokhách hàng lưu trú mà các doanh nghiệp kinh doanh khách sạn sẽ giành được

ưu thế trong thị trường cạnh tranh ngày càng phát triển theo xu thế của nềnkinh tế hội nhập

1.2.2 Đặc điểm của kinh doanh khách sạn [6]

Với mục đích và đối tượng kinh doanh đặc thù, nên kinh doanh kháchsạn có những đặc điểm cơ bản riêng như sau:

1.2.2.1 Phụ thuộc theo thời gian và mùa vụ: Mặc dù các hoạt

động kinh doanh nói chung, doanh thu ít nhiều bị biến động tăng giảm theomùa vụ, nhưng đối với hoạt động kinh doanh khách sạn thì mức độ ảnhhưởng theo mùa vụ càng rõ nét hơn, ngay cả trong thời gian một ngày thì mức

độ tập trung của hoạt động kinh doanh cũng thay đổi khác nhau, vì phần lớn

Trang 10

khách làm thủ tục vào khách sạn tập trung khoản 10 giờ đến 15 giờ và kháchlàm thủ tục ra khách sạn tập trung từ 7 giờ đến 9 giờ 30 phút Đối với hoạtđộng nhà hàng thì mức độ hoạt động tập trung vào các giờ ăn sáng, ăn trưa và

ăn tối Còn lại những giờ khác thì hoạt động tương đối nhàn rỗi Ngoài ra,kinh doanh khách sạn còn thay đổi mức độ hoạt động theo các ngày trongtuần, và các tháng trong năm Bận rộn nhất tập trung vào những ngày cuốituần và cao điểm nhất là những tháng của mùa du lịch từ tháng 10 đến tháng 4năm sau Mặt khác, mức độ tập trung ngành kinh doanh khách sạn còn biếnđộng theo các loại hình của kinh doanh, chẳng hạn các khách sạn ở trung tâmthành phố phục vụ cho các thương nhân thì khách tập trung vào những ngàylàm việc từ thứ 2 đến thứ 6, ngược lại những khu nghỉ mát thì khách lại tậptrung vào những ngày nghỉ cuối tuần

1.2.2.2 Thời gian và quãng đường tiêu thụ sản phẩm: Sản

phẩm kinh doanh khách sạn có thời gian và quãng đường tiêu thụ rất ngắn.Trong hoạt động nhà hàng từ giai đoạn mua thực phẩm, chế biến, cung cấpthức ăn, cuối cùng thu tiền của khách là một quá trình diễn ra rất ngắn trongvòng một buổi hay một ngày và trên cùng một địa điểm Ngược lại, đối vớingành công nghiệp chẳng hạn như công nghiệp sản xuất ô tô từ giai đoạn chếtạo, lắp ráp đến khi tiêu thụ phải diễn ra vài tháng và quãng đường tiêu thụ cókhi hàng ngàn cây số Tóm lại, kinh doanh khách sạn quá trình sản xuất vàtiêu thụ sản phẩm diễn ra cùng một địa điểm và trong khoản thời gian rấtngắn Vì vậy, hoạt động kinh doanh khách sạn chỉ có lượng hàng hoá tồn khorất thấp chiếm khoảng 5% trong tổng tài sản, ngược lại trong các ngành côngnghiệp khác tỷ lệ này thông thường là 30%

1.2.2.3 Sử dụng số lượng và cường độ lao động tập trung cao:

Một đặc điểm quan trọng khác nhau cơ bản giữa ngành kinh doanh khách sạn

và các ngành sản xuất công nghiệp khác là vấn đề sử dụng sức lao động

Trang 11

Trong ngành sản xuất công nghiệp do sử dụng chuyên sâu các máy móc thiết

bị hiện đại nên làm giảm nhu cầu sử dụng lao động, ngược lại ngành kinhdoanh khách sạn thì mức độ sử dụng lao động rất tập trung cao cả về số lượnglẫn cường độ, chi phí tiền lương chiếm tỷ lệ rất cao trong tổng chi phí củakhách sạn Trong những giờ, ngày hay tháng cao điểm mức độ tập trung laođộng cả về số lượng lẫn cường độ lao động càng đòi hỏi phải phân bố thíchhợp để đảm bảo đáp ứng được các yêu cầu phục vụ với chất lượng cao Thôngthường, tổng chi phí tiền lương chiếm khoảng 20% trong tổng doanh thu củakhách sạn Như vậy kiểm soát chi phí tiền lương một cách hợp lý trong điềukiện vẫn đáp ứng được nhu cầu và mong muốn chất lượng cao của kháchhàng là nhân tố quyết định sự thành công trong ngành kinh doanh khách sạn

1.2.2.4 Tỷ trọng giá trị tài sản cố định trên tổng tài sản rất cao: Một đặc điểm nổi bật của ngành kinh doanh khách sạn là sự đầu tư lớn

vào tài sản cố định Sản phẩm khách sạn gồm có: Phòng ngủ, nhà hàng và cáctiện ích giải trí khác cùng các trang thiết bị là những tài sản cố định có giá trịđầu tư lớn được phân bổ khấu hao vào chi phí kinh doanh và nhiều kỳ kinhdoanh, chi phí khấu hao được phân bổ là chi phí cố định bất kể khách sạncung cấp nhiều hay ít dịch vụ trong kỳ kinh doanh đó Nghĩa là một phòngcủa khách sạn không bán được trong ngày thì coi như bị mất đi, không thể dựtrữ tồn kho và doanh nghiệp coi như bị lỗ chi phí cố định phân bổ cho phòngtrong ngày đó Thông thường, tổng giá trị của tài sản cố định trong ngànhkinh doanh khách sạn chiếm từ 55% đến 85% của tổng tài sản Ngược lại,trong các ngành công nghiệp khác thì tỷ lệ này vào khoảng 30% đến 45%

Trang 12

1.2.3 Đặc điểm của hoạt động kinh doanh khách sạn ảnh hưởng đến kế toán quản trị tại các doanh nghiệp kinh doanh khách sạn [4]

Đặc điểm hoạt động kinh doanh khách sạn ảnh hưởng rất lớn đến kếtoán quản trị tại các khách sạn Khác với ngành công nghiệp sản xuất, ngànhcông nghiệp khách sạn có những đặc thù riêng:

Một là: Quy trình sản xuất trong ngành công nghiệp sản xuất có thể lặp

đi lặp lại qua một tiến trình chuẩn và được máy móc hoá Nhưng kinh doanhkhách sạn thì đây là điều không thể, bởi vì quá trình cung cấp thức ăn, thứcuống, nơi ăn ở của khách liên quan đến đối tượng thực khách, du khách cụthể, đây là nét khá khác biệt với ngành sản xuất công nghiệp Ví dụ: Bộ phậntiếp nhận khách: Khách là đối tượng đa dạng: Có thể là đàn ông, phụ nữ, già,trẻ, từ nhiều nền văn hoá khác nhau, có khách đi theo Tour, có khách tự do, cókhách theo đoàn dự hội nghị v.v Chính vì sự đa dạng này mà đòi hỏi phải cónhiều loại dịch vụ khác nhau, tạo ra tính không ổn định trong môi trườngcông việc Vì vậy ảnh hưởng đến việc đưa ra quyết định về đặt phòng đến tỷ

lệ định giá phòng

Hai là: Do đặt tính kinh doanh khách sạn mang tính cá nhân và theo

đơn đặt hàng nên việc cung cấp sản phẩm và dịch vụ cũng rất khác nhau vànhà quản lý đóng vai trò quan trọng trong chất lượng quản lý Nhà quản lýphải trực tiếp giải quyết các vấn đề liên quan đến khách hàng Vì vậy cónhững lúc quyết định phải được đưa ra trong tức khắc, để đưa ra các quyếtđịnh trong tình huống này nhà quản lý phải có những thông tin rất kịp thời từnhiều bộ phận khác nhau, trong đó bộ phận kế toán đóng vai trò khá quantrọng Vì suy cho cùng mọi quyết định trong kinh doanh đều liên quan đến kếtquả cuối cùng của doanh nghiệp đó là lợi nhuận

Ba là: Sản phẩm và dịch vụ trong khách sạn mang tính không ổn định,

nó phụ thuộc vào nhu cầu tăng hay giảm của lượng khách từng ngày thời

Trang 13

điểm Ví dụ: Việc đặt phòng trong khách sạn theo từng ngày tuỳ thuộc theomùa: Có ngày thì phòng và bàn được đặt quá nhiều, có ngày không có kháchđặt Đây cũng là sự khác biệt của ngành sản xuất công nghiệp và ngành côngnghiệp kháh sạn Trong sản xuất hàng hoá: Bán không hết sản phẩm có thểđược lưu kho nên đa phần ít chịu rủi ro Nếu khách sạn rơi vào thời điểmkhách quá đông, nhu cầu về phòng nghỉ lớn, thức ăn, uống quá lớn buộc cácnhà quản lý phải xoay chuyển tình thế cho phù hợp, chứ không thể hành độngtheo kế hoạch đã định Vì thế công việc và ra quyết định của các nhà quản lýkhách sạn mang tính không ổn định.

Chính vì những yếu tố trên cho nên việc tổ chức hệ thống thông tin kếtoán nói chung, tổ chức hệ thống thông tin của kế toán quản trị nói riêng phảiđảm bảo được 2 cấp độ trong quản lý: Quản lý chung và quản lý bộ phận cho

dù kế toán quản trị tại các doanh nghiệp kinh doanh khách sạn có vận dụng, tổchức đầy đủ thì 2 nhóm quản lý trên vẫn đưa ra các quyết định độc lập

1.3 SỰ CẦN THIẾT CỦA KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TẠI CÁC DOANH NGHIỆP KINH DOANH KHÁCH SẠN [4]

Môi trường trong kinh doanh khách sạn đang ngày càng mang tínhcạnh tranh khốc liệt hơn, mỗi khách sạn đều phải đối mặt với sự cạnh tranhhoặc trực tiếp hoặc gián tiếp với các khách sạn khác Chính môi trường cạnhtranh đó khiến các nhà quản lý khách sạn ngày càng cố gắng để đáp ứng nhucầu của khách hàng, để đảm bảo sự sống còn và thành công của doanh nghiệpmình

Một hệ thống thông tin chính xác trong khách sạn, giúp các nhà quản lýthoả mãn nhu cầu của khách hàng và đạt được mục tiêu đề ra

Kế toán quản trị đóng vai trò quan trọng trọng việc cung cấp thông tin,chương trình khuyến mãi, tính doanh thu phòng, phân loại khách hàng và dịch

Trang 14

vụ làm thoả mãn nhu cầu của khách hàng Đây là cách mà kế toán quản trị hổtrợ cho khách sạn theo đuổi việc cạnh tranh về giá cả của sản phẩm, dịch vụ.Hơn thế nữa các nhà quản lý có thể dùng các thông tin mà kế toán quản trịcung cấp để theo dõi các đối thủ cạnh tranh với mình để đưa ra giá cả hợp lý.

Kế toán quản trị còn giúp cho các nhà quản lý cũng cố vị thế của mình trongthị trường cạnh tranh Trong kinh doanh khách sạn ngày nay, sự cạnh tranh làkhốc liệt đòi hỏi các nhà quản lý thông tin nhanh, hiệu quả Kết quả là kế toánquản trị có thể giúp các nhà quản lý trong việc ứng biến với các thông tin vềtình hình kinh tế, chính sách, sách lược của chính phủ, thời gian bao lâu là đủ

để áp dụng sản phẩm và dịch vụ mới của khách sạn mình

1.4 NỘI DUNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TẠI CÁC DOANH NGHIỆP KINH DOANH KHÁCH SẠN [7]

1.4.1 Lập dự toán tại các doanh nghiệp kinh doanh khách sạn

1.4.1.1 Sự cần thiết phải lập dự toán tại các doanh nghiệp kinh doanh khách sạn

Nhiều doanh nghiệp kinh doanh khách sạn có quy mô nhỏ không có lập

kế hoạch kinh doanh tổng thể doanh nghiệp mà chỉ dự kiến các chỉ tiêu cơbản như: Mục tiêu tổng thể, đối tượng thị trường và tổng chi phí kinh doanh.Tuy nhiên, lập kế hoạch kinh doanh là một yêu cầu cần thiết nhằm thực hiệncác chức năng quản trị doanh nghiệp một cách có hiệu quả theo các lý do sau:

+ Lập kế hoạch kinh doanh nhằm đòi hỏi nhà quản trị phải khảo sát tất

cả các khả năng, các phương án để lựa chọn một khả năng tốt nhất về cácnhân tố quyết định kết quả kinh doanh như thị trường, chiến lược quảng cáotiếp thị, tính giá, định giá của mỗi loại sản phẩm dịch vụ bán ra

+ Lập kế hoạch kinh doanh nhằm xác định trước một mục tiêu, một tiêuchuẩn, một định mức để có cơ sở so sánh với quá trình thực hiện kế hoạch

Trang 15

Cuối những kỳ kinh doanh thông thường là hàng tháng nhà quản trị có thể sosánh kết quả thực hiện so với kế hoạch đã lập, những thay đổi chênh lệchthuận lợi và bất lợi so với dự toán kế hoạch được phân tích chi tiết để tìm racác nguyên nhân và biện pháp khắc phục.

+ Lập kế hoạch kinh doanh nhằm định hướng chiến lược về sự pháttriển kin doanh của doanh nghiệp, định hướng phát triển tương lai phải đượccân nhắc cả những yếu tố bên ngoài doanh nghiệp như sự tăng trưởng kinh tếcủa quốc gia và khu vực, tố độ lạm phát, thị trường cạnh tranh và cả nhữngnhân tố bên trong của doanh nghiệp như chiến lược quảng cáo tiếp thị, chiếnlược đào tạo nhân viên, chiến lược mở rộng đầu tư và tăng thêm sản phẩmdịch vụ

+ Lập kế hoạch kinh doanh là quá trình liên quan trách nhiệm đến tất cảcác cấp quản trị trong doanh nghiệp Đó là sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấplảnh đạo từ giám đốc các bộ phận đến tổng giảm đốc, gắn trách nhiệm củamọi cấp lảnh đạo đối với trách nhiệm thực hiện mục tiêu chung của doanhnghiệp Đồng thời, quá trình này tạo nên một kênh thông tin thường xuyêngiữa các cấp lảnh đạo doanh nghiệp để đồng tâm hiệp lực thực hiện hoànthành kế hoạch mục tiêu của doanh nghiệp Trong đó, cấp dưới có nhiệm vụbáo cáo thường xuyên với cấp trên về hoạt động kinh doanh của bộ phậnmình và cấp trên kịp thời đánh giá cổ động quá trình nỗ lực thực hiện tốt kếtquả mục tiêu của cấp dưới

Trang 16

1.4.1.2 Phân loại chi phí trong các doanh nghiệp kinh doanh khách sạn

Kế toán quản trị thường phân loại chi phí theo hành vi ứng xử của chiphí và theo cách phân loại này chi phí kinh doanh khách sạn được chia thành

3 loại:

a Biến phí: Là những chi phí nếu xét về tổng số thì nó thay đổi

tỷ lệ thuận với khối lượng sản phẩm dịch vụ tạo ra và liên quan trực tiếp đếnviệc tạo ra các sản phẩm dịch vụ đó Trong hoạt động kinh doanh khách sạn,biến phí là các chi phí như: Vật liệu cho khách sử dụng trong phòng, lươngcủa nhân viên phục vụ phòng, chi phí điện, nước Hoặc là chi phí vật liệuchế biến thực phẩm, lương của nhân viên nhà hàng, đầu bếp .Tuy nhiên, để

có thể thấy được đặc điểm của từng loại biến phí có thể chia biến phí thànhbiến phí tỷ lệ như: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công vàbiến phí cấp bậc: Chi phí phục vụ, chi phí bảo trì

b Định phí: Là những chi phí mà tổng số của nó không thay đổi

khi khối lượng sản phẩm dịch vụ tạo ra nó thay đổi Khi mức sản lượng tăngthì định phí tính cho một đơn vị sản phẩm giảm và ngược lại Trong hoạt độngkinh doanh khách sạn, định phí thường là những chi phí mang tính phục vụchung gồm: Chi phí khấu hao tài sản cố định, bảo hiểm tài sản, chi phí quản

lý hành chính

Để phục vụ cho kế toán quản trị thì định phí còn được chia thành địnhphí bắt buộc: Là những chi phí có liên quan đến hệ thống phương tiện, máymóc, thiết bị, cơ sở hạ tầng, chi phí quản lý Định phí bắt buộc có đặc điểm làlâu dài điều đó có nghĩa là trong các quyết định đầu tư thì chi phí này khôngthay đổi trong nhiều năm kinh doanh và định phí không bắt buộc: Là nhữngchi phí có những thay đổi trong từng kỳ kế hoạch của nhà quản trị như chi phí

Trang 17

quảng cáo, chi phí đào tạo nghiên cứu Định phí không bắt buộc có tính chấtngắn hạn Trong các trường hợp cần thiết có thể bị cắt giảm.

c Chi phí hỗn hợp: Là những chi phí bao gồm yếu tố định phí và

biến phí Ở mức độ hoạt động cơ bản chi phí hỗn hợp thể hiện đặc điểm củađịnh phí và ở mức độ hoạt động vượt quá mức cơ bản thể hiện đặc điểm củabiến phí Trong hoạt động kinh doanh khách sạn chi phí hỗn hợp gồm: Chi phíđiện, nước, chi phí bảo trì, bảo dưỡng

1.4.1.3 Lập dự toán kinh doanh tổng thể

Lập dự toán tổng thể kế hoạch kinh doanh là lập dự toán doanh thu vàchi phí trong một thời kỳ kinh doanh bao gồm ngắn và dài hạn Kế hoạch kinhdoanh tổng thể trong ngành kinh doanh khách sạn được tổng hợp trên cơ sở

kế hoạch kinh doanh được lập cho từng trung tâm lợi nhuận gắn liền vớinhững bộ phận kinh doanh trực tiếp như: Bộ phận phòng và lễ tân; Bộ phậnnhà hàng và bếp; Bộ phận kinh doanh điện thoại và các bộ phận kinh doanhkhác; Đồng thời cũng được soạn lập cho cả các trung tâm chi phí gắn liền vớinhững bộ phận gián tiếp như: Bộ phận bán hàng, tiếp thị, kế toán, nhân sự .Ngoài ra, lập kế hoạch kinh doanh tổng thể cũng bao gồm dự toán cho các chiphí cố định như: Chi phí khấu hao, chi phí bảo hiểm tài sản Có thể nói, kếhoạch kinh doanh tổng thể của khách sạn là tổng hoà các kế hoạch kinh doanhchi tiết của các trung tâm lợi nhuận và trung tâm chi phí Về nội dung kếhoạch kinh doanh tổng thể bao gồm toàn bộ doanh thu và tất cả chi phí đượctrình bày như một báo cáo kết quả kinh doanh hoàn chỉnh của một doanhnghiệp Đối với kế hoạch kinh doanh ngắn hạn thường là một năm thì phảiđược lập trên cơ sở là hàng tháng sau đó tổng hợp cho cả năm Hơn nữa, đốivới những thông tin cơ bản thì cần phải được dự toán chi tiết trên cơ sở hàngngày để giúp cho nhà quản trị doanh nghiệp kiểm soát thường xuyên hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp Đối với kế hoạch kinh doanh dài hạn

Trang 18

thông thường là năm hoặc mười năm thì dự toán trên cơ sở hàng năm và sau

đó tổng hợp cho cả thời kỳ dài hạn Kế hoạch kinh doanh dài hạn được hiểunhư là kế hoạch chiến lược để dự báo tốc độ tăng trưởng trong hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp Nó không chỉ bao gồm dự toán doanh thu và chi phí

mà còn là định hướng phát triển kinh doanh trong cả thời kỳ dài hạn bao gồmcác định hướng mở rộng thị trường, mở rộng các sản phẩm dịch vụ và cácbiện pháp đối phó với các đối thủ cạnh tranh

Trình tự xây dựng kế hoạch kinh doanh tổng thể: Trình tự xây dựng kế hoạchkinh doanh tổng thể gồm các bước cơ bản như: Xác định mục tiêu kinh doanh

và kết quả lợi nhuận, dự toán doanh thu, dự toán chi phí:

- Xác định mục tiêu kinh doanh: Là bước đầu tiên để lập kế hoạch kinhdoanh do Hội đồng quản trị đề ra các mục tiêu kinh doanh và mục tiêu lợinhuận trong kỳ đó

- Dự toán doanh thu: Là bước tiếp theo để lập kế hoạch kinh doanh.Trước tiên, để lập dự toán doanh thu cần phải xác định các thông tin về môitrường kinh tế gồm: Các yếu tố tốc độ lạm phát, tình trạng của đối thủ cạnhtranh, xu hướng phát triển du lịch và tiềm năng phát triển của các hãng hàngkhông, các đại lý lữ hành Về kế hoạch tiếp thị gồm các kế hoạch về quảngcáo và chính sách khuyến mãi

Lập dự toán doanh thu trên cơ sở lập dự toán doanh thu của bộ phậnkinh doanh phòng và được lập chi tiết trên cơ sở hàng tháng Phương pháp dựtoán doanh thu được áp dụng trên cơ sở số liệu lịch sử đã thực hiện của nămtrước nhân với tốc độ tăng trưởng dự kiến trong năm kế hoạch Công thức dựtoán doanh thu như sau:

Tổng doanh Số lượng phòng Công suất sử Giá bình

thu phòng sẵn có để bán ra dụng phòng quân

Trang 19

Trong đó: Các chỉ tiêu công suất sử dụng phòng và giá bán phòng bìnhquân được dự tính:

Công suất sử dụng Công suất sử dụng Tỷ lệ tăng trưởngphòng năm kế hoạch phòng năm trước dự kiến năm kế hoạch

Giá bán phòng bình Giá bán phòng bình Tỷ lệ tăng giá dựquân năm kế hoạch quân năm trước kiến trong năm k/hoạch

Tương tự, cũng theo phương pháp dựa vào số liệu lịch sử của nămtrước và dự kiến tỷ lệ năm kế hoạch để dự toán daonh thu nhà hàng và cácdoanh thu khác trong khách sạn

- Dự toán chi phí: Bao gồm chi phí trực tiếp của các trung tâm lợinhuận và chi phí gián tiếp cho các trung tâm chi phí đồng thời tính toán và tậphợp các chi phí này dưới hình thức chi phí biến đổi và chi phí cố định Vềnguyên tắc dự toán chi phí, tính toán theo phương pháp tương tự như dự toándoanh thu Tuy nhiên, để cho các bộ phận có dự toán lập chi phí cho bộ phậnmình cần phải nắm được những thông tin cơ bản sau:

+ Dự toán chi phí tăng thêm về các nhu cầu vật liệu, vật dụng,nhu cầu về thực thẩm, thức uống và các chi phí khác

+ Dự toán chi phí lao động tăng thêm bao gồm cả chi phí tiềnlương và lợi ích khác của nhân viên

Sơ đồ 1.1: Mô hình dự toán tiêu thụ và chi phí

Dự toán tiêu thụ

Dự toán chi phí kinh doanh khách sạn

Trang 20

Sơ đồ 1.2: Mô hình dự toán kết quả kinh doanh 1.4.2 Kiểm soát trong doanh nghiệp kinh doanh khách sạn

1.4.2.1 Kiểm soát doanh thu trong doanh nghiệp kinh doanh khách sạn

Kiểm soát là chức năng quan trọng trong kế toán quả trị Trong Kế toánquản trị, kiểm tra trước, trong và sau các quá trình không chỉ nhằm mục đíchđánh giá công tác, thành tích của mỗi cá nhân, mỗi bộ phận mà còn hỗ trợviệc tổ chức thực hiện cũng như điều chỉnh dự toán đã được lập của doanhnghiệp và làm cơ sở dự toán cho các kỳ sau

Để kiểm soát doanh thu của doanh nghiệp kinh doanh khách sạn,thường ta cần phân tích ba mức độ khác nhau: Về con người, về sản phẩm, vềthị trường, qua đó đánh giá thành tích của các cá nhân trong cơ cấu tổ chức cótrách nhiệm trong doanh nghiệp Có ba trường hợp sau về kiểm tra kết quảbán hàng (doanh thu):

- Một giám đốc bộ phận sẽ kiểm tra hoạt động các đại diện của họ vềgiá và khối lượng bán ra

- Một giám đốc kinh doanh sẽ phải kiểm tra hoạt động của các giámđốc bộ phận khác nhau Sự thay đổi về khối lượng và giá bán theo sản phẩmcũng là kiểm tra thành tích của giám đốc bộ phận

- Tổng giám đốc (giám đốc) thường sẽ kiểm tra tổng doanh thu cũngnhư sự thay đổi doanh thu từng sản phẩm Việc kiểm tra này cũng nhằm xemxét lãi gộp của từng sản phẩm, qua đó ra quyết định duy trì hoặc tiếp tục kinhdoanh các sản phẩm

Báo cáo kết quả kinh doanh dự toán

Trang 21

a Kiểm soát doanh thu theo từng bộ phận: Giám đốc kinh doanh

sẽ kiểm tra hiệu quả hoạt động các giám đốc bộ phận đối với việc tiêu thụ sảnphẩm của đơn vị Để thực hiện mục tiêu này thì việc kiểm tra chênh lệch giữadoanh thu thực tế và doanh thu dự toán ít có ý nghĩa Do vậy, khi nghiên cứudoanh thu theo bộ phận cần thiết phải tách biệt các khoản chênh lệch giữadoanh thu thực hiện và doanh thu dự toán thành ảnh hưởng của hai nhân tố:

- Ảnh hưởng của sự thay đổi khối lượng tiêu thụ

về lượng thực tế dự toán dự toán

- Ảnh hưởng của sự khác nhau của giá bán sản phẩm

về giá thực tế dự toán thực tế

b Kiểm soát doanh thu chung: Ở mọi thời điểm, tổng giám đốc

phải biết được kết quả và hiệu quả của mạng lưới kinh doanh thông qua quađánh giá kết quả của từng cá nhân, bộ phận Hiệu quả này gắn chặt với cácsản phẩm kinh doanh của đơn vị, một sản phẩm tồi hoặc không phù hợp vớinhu cầu của thị trường sẽ không cho phép mạng lưới kinh doanh của đơn vịđạt hiệu quả cao

- Kiểm soát sản phẩm theo nhân tố ảnh hưởng:

Công việc kiểm tra này nhằm xác định mức độ ảnh hưởng củacác nhân tố: Đơn giá bán, khối lượng tiêu thụ đến biến động doanh thu củađơn vị Qua đó xác định trách nhiệm của mỗi bộ phận cũng như các nguyênnhân cụ thể ảnh hưởng đến doanh thu thông qua các nhân tố

Biến động Ảnh hưởng về lượng Ảnh hưởng về giá

doanh thu đến biến động doanh thu đến biến động doanh thuTrong đó:

Trang 22

Ảnh hưởng Số sản Số sản Đơn giá

về lượng đến phẩm tiêu phẩm tiêu bán sản

biến động thụ thực thụ dự phẩm theo doanh thu tế toán dự toán

Ảnh hưởng Đơn Đơn Số sản

về giá đến giá bán giá bán phẩm tiêu biến động thực dự thụ

doanh thu tế toán thực tế

- Ảnh hưởng của các nhân tố theo từng bộ phận

Để xem xét biến động doanh thu của từng bộ phận đối với biến độngcủa toàn công ty, phần kiểm soát tiếp theo cũng cần xem xét ảnh hưởng củanhân tố khối lượng tiêu thụ và đơn giá của từng vùng thị trường (từng đốitượng khách hàng)

Sơ đồ 1.3: Quy trình kiểm soát doanh thu

1.4.2.2 Kiểm soát chi phí trong doanh nghiệp kinh doanh khách sạn

Như đã đề cập ở trên, phương pháp dự toán chi phí không theo dõi chiphí dự toán mà còn theo dõi chi phí thực tế Chính vì vậy, một trong những

Kiểm soát doanh thu

Kiểm soát doanh thu chung

Kiểm soát doanh thu

Trang 23

ứng dụng của phương pháp này là giúp kiểm soát chi phí chặt chẽ hơn thôngqua việc phân tích nhân tố chi phí sản xuất.

a Kiểm soát chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:

Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp bao gồm các chi phí nguyên liệu, vậtliệu chính, vật liệu phụ hao phí cho từng quá trình sản xuất Biến động của chiphí nguyên vật liệu trực tiếp có thể được kiểm soát gắn liền với các nhân tốgiá và lượng có liên quan

- Phân tích biến động:

+ Biến về động giá: Là chênh lệch giữa giá nguyên vật liệutrực tiếp thực tế với giá nguyên vật liệu trực tiếp theo dự toán để sản xuất ralượng sản phẩm nhất định Nếu tính trên một đơn vị sản phẩm thì nó phản ánhgiá cả của một đơn vị nguyên vật liệu để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm đãthay đổi như thế nào với dự toán

Ảnh hưởng Đơn giá Đơn giá Lượng nguyên

về giá đến nguyên vật nguyên vật vật liệu trực tiếp biến động liệu trực tiếp liệu trực tiếp thực tế nguyên vật thực tế dự toán sử dụngliệu trực tiếp

Ảnh hưởng biến động về giá có thể là âm hoặc dương Nếu ảnh hưởng

là âm chứng tỏ giá vật liệu thực tế thấp hơn giá vật liệu dự toán đặt ra Tìnhhình này được đánh giá tốt nếu chất lượng vật liệu đảm bảo Ngược lại, ảnhhưởng dương thể hiện giá vật liệu thực tế tăng so với dự toán và sẽ làm tăngtổng chi phí sản xuất của doanh nghiệp Xét trên phương diện các trung tâmtrách nhiệm thì biến động về giá gắn liền với trách nhiệm của bộ phận cungứng vật liệu

+ Biến động về lượng: Là chênh lệch giữa lượng

Trang 24

nguyên vật liệu trực tiếp thực tế với lượng nguyên vật liệu trực tiếp theo dựtoán để sản xuất ra lượng sản phẩm nhất định Biến động về lượng phản ánhtiêu hao vật chất thay đổi như thế nào và ảnh hưởng đến tổng chi phí nguyênvật liệu trực tiếp ra sao Biến động về lượng được xác định:

Ảnh hưởng Nguyên vật Nguyên vật Đơn giá nguyên

về lượng đến liệu trực liệu trực tiếp vật liệu trực tiếp biến động tiếp thực tế dự toán dự

nguyên vật sử dụng sử dụng toán

liệu trực tiếp

Nếu biến động về lượng là kết quả dương thể hiện lượng vật liệu sửdụng thực tế nhiều hơn dự toán; Còn nếu là kết quả âm thì ngược lại Nhân tốlượng sử dụng thường do nhiều nguyên nhân, gắn liền với trách nhiệm của bộphận sử dụng vật liệu Khi tìm hiểu nguyên nhân của biến động về lượng cũngcần xem xét đến các nguyên nhân khách quan, như: Thiên tai, hỏa hoạn, mấtđiện

b Kiểm soát chi phí nhân công trực tiếp:

Chi phí nhân công trực tiếp bao gồm chi phí lương và các khoản tríchtheo lương vào chi phí Biến động của chi phí nhân công trực tiếp gắn liền vớicác nhân tố giá và lượng liên quan

- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng

+ Nhân tố về giá: Là chênh lệch giữa giá giờ công lao động

trực tiếp thực tế với dự toán để sản xuất ra lượng sản phẩm nhất định Nhân tốnày phản ánh sự thay đổi về giá của giờ công công lao động để sản xuất sảnphẩm ảnh hưởng đến chi phí nhân công trực tiếp

Trang 25

Ảnh hưởng Đơn giá Đơn giá Thời

của giá đến nhân công nhân công gian lao biến động trực tiếp trực tiếp động chi phí nhân thực tế dự toán thực tế

công trực tiếp

Biến động do giá thường do các nguyên nhân gắn liền với việc trả cônglao động như chế độ lương, tình hình thị trường lao động, chính sách của nhànước Nếu ảnh hưởng tăng (giảm) giá là thể hiện sự lãng phí hoặc tiết kiệmchi phí nhân công trực tiếp, thì kiểm soát chi phí nhân công còn cho phép talàm rõ bộ phận chịu trách nhiệm, làm ảnh hưởng đến công tác quản lý chi phígiá thành Nhân tố giá tăng hay giảm được đánh giá là tốt hay không tốt phảicăn cứ vào chất lượng công nhân: Trình độ, năng lực làm việc của công nhân.Nếu giá giảm so với dự toán nhưng chất lượng vẫn đảm bảo thì sự biến động

đó là tốt và ngược lại

+ Nhân tố về lượng: Là chênh lệch giữa số giờ công lao

động trực tiếp thực tế với dự toán để sản xuất ra lượng sản phẩm nhất định.Nhân tố này phản ánh sự thay đổi về số công công lao động để sản xuất sảnphẩm ảnh hưởng đến chi phí nhân công trực tiếp hay gọi là nhân tố năng suất

Ảnh hưởng của nhân tố thời gian lao động do nhiều nguyên nhân: Cóthể là trình độ và năng lực của người lao động thay đổi, do điều kiện trang bịmáy móc thiết bị, chính sách lương của doanh nghiệp

c Kiểm soát chi phí sản xuất chung: Chi phí sản xuất chung

biến động là do sự biến động biến phí sản xuất chung và biến động của địnhphí sản xuất chung:

Trang 26

Biến động chi Biến động định Biến động biếnphí sản xuất phí sản xuất phí sản xuất

chung chung chung

- Kiểm soát biến động biến phí sản xuất chung: Biến phí sản xuất

chung gồm những chi phí gián tiếp liên quan đến phục vụ và quản lý hoạtđộng sản xuất Chi phí này thường thay đổi theo sự biến thiên của mức độhoạt động sản xuất của doanh nghiệp, như: Chi phí vật tư gián tiếp, tiền lương

bộ phận quản lý trả theo sản phẩm gián tiếp, chi phí năng lượng thay đổi theo

số lượng sản phẩm sản xuất

Biến động của biến phí sản xuất chung do nhiều nguyên nhân, nhưng

về phương pháp phân tích trong kiểm tra, nó cũng được phân tích thành ảnhhưởng của nhân tố giá và nhân tố lượng như đối với chi phí nguyên vật liệutrực tiếp và chi phí nhân công trực trực tiếp

Ảnh hưởng Đơn giá Đơn giá Mức độ

của giá đến biến phí biến phí hoạt

biến phí sản xuất sản xuất chung động

sản xuất chung chung thực tế dự toán thực tế

Ảnh hưởng Mức độ Mức độ Đơn giácủa lượng đến hoạt hoạt biến phí biến phí động động sản xuất chungsản xuất chung thực tế dự toán dự toán

- Kiểm soát định phí sản xuất chung: Định phí sản xuất chung là

Trang 27

các khoản chi phí phục vụ và quản lý sản xuất, thường không thay đổi theo sựbiến thiên của mức độ hoạt động trong phạm vi phù hợp Chẳng hạn: Tiềnlương bộ phận quản lý trả theo thời gian, chi phí bảo hiểm, khấu hao tài sản

cố định là những khoản chi phí không thay đổi theo quy mô sản xuất trongphạm vi hoạt động Biến động định phí sản xuất chung thường liên quan đếnviệc thay đổi cấu trúc sản xuất của doanh nghiệp hoặc do hiệu quả sử dụngnăng lực sản xuất của doanh nghiệp Kiểm soát định phí sản xuất chung nhằmđánh giá việc sử dụng năng lực tài sản cố định

định phí sản sản xuất chung sản xuất chung

xuất chung thực tế dự toán

Khi phân tích định phí sản xuất chung, người ta cần xem xét định phítùy ý, định phí bắt buộc cũng như định phí kiểm soát được với định phí khôngkiểm soát được để xác định nguyên nhân, trách nhiệm cụ thể của các bộ phận

Sơ đồ 1.4: Quy trình kiểm soát chi phí

Kiểm soát chi phí

Kiểm soát chi phí

nguyên vật liệu

trực tiếp

Kiểm soát chi phí nhân công trực tiếp

Kiểm soát chi phí sản xuất chung

Nhân tố

về giá

Nhân tố về lượng

Biến phí sản xuất chung

Định phí sản xuất chung

Trang 28

1.4.2.3 Kiểm soát lợi nhuận trong doanh nghiệp kinh doanh khách sạn

Kiểm soát lợi nhuận của doanh nghiệp kinh doanh khách sạn nhằm xácđịnh trách nhiệm cụ thể của từng bộ phận cũng như các nhân tố ảnh hưởngđến lợi nhuận Để đơn giản ta có thể chỉ xem xét ảnh hưởng của thu nhập, củachi phí đối với từng loại sản phẩm, dịch vụ mà không cần dùng phương phápphân biệt ảnh hưởng của các nhân tố lượng, giá

1.4.3 Tính giá thành sản phẩm dịch vụ buồng trong doanh nghiệp kinh doanh khách sạn

1.4.3.1 Đối tượng tính giá thành: Đối tượng tính giá thành là

các sản phẩm của doanh nghiệp cần phải tính tổng giá thành và giá thành đơn

vị theo các khoản mục chi phí Việc xác định đối tượng tính giá thành cũngphải căn cứ vào đặc điểm tổ chức quản lý và yêu cầu quản lý cụ thể của doanhnghiệp Đối với hoạt động kinh doanh dịch vụ buồng , đối tượng tính giáthành thường là lượt phòng/ngày, đêm, tính theo loại buồng, phòng (phòngđặc biệt, phòng loại 1, loại 2, )

1.4.3.2 Phương pháp tính giá thành: Do đặc điểm của hoạt

động kinh doanh dịch vụ buồng là sản phẩm không có hình thái vật chất cụthể, không có sản phẩm là thành phẩm nhập kho, sản phẩm không tồn kho,không lưu được nên cũng không có sản phẩm dở dang thì toàn bộ chi phí đãtập hợp cho hoạt động dịch vụ buồng là tổng giá thành sản phẩm trong kỳ.Mặt khác, đối tượng tập hợp chi phí là hoạt động kinh doanh dịch vụbuồng/ngày, đêm Do đó, phương pháp tính giá thành thích hợp là phươngpháp tính giá thành theo hệ số

Trình tự tính giá thành theo phương pháp hệ số:

Trang 29

- Căn cứ vào đặc điểm kinh tế kỹ thuật và định mức chi phí để quy định chomỗi loại buồng một hệ số Trong đó chọn loại buồng có đặc trưng tiêu biểunhất có hệ số bằng 1.

- Quy đổi số lượt/ngày, đêm thực tế từng loại buồng ra số lượt buồng tiêu chuẩn:

Hệ sốbuồng loại i

- Tính tổng giá thành các loại buồng theo phương pháp giản đơn:

Tổng giá thành Chi phí các loại sản xuất

buồng trong kỳ

- Tính hệ số phân bổ chi phí của từng loại buồng:

chi phí buồng loại i Tổng số lượt/ngày, đêm quy đổi

- Tính giá thành từng loại buồng:

thành buồng thành các x chi phí

loại i loại buồng buồng loại i

- Giá thành đơn vị buồng loại i:

Giá thành đơn vị Tổng giá thành buồng loại i buồng loại i Số lượt thực tế buồng loại i

Tập hợp và kết chuyển chi phí Tính giá thành dịch vụ buồng

Trang 30

Sơ đồ 1.5: Quy trình tính giá thành 1.4.4 Kế toán trách nhiệm trong những doanh nghiệp kinh doanh khách sạn có quy mô lớn

1.4.4.1 Trung tâm doanh thu: Là trung tâm trách nhiệm mà đầu

ra có thể lượng hóa bằng tiền còn đầu vào thì không lượng hóa được bằngtiền Ví dụ: Bộ phận bán hàng tiếp thị chỉ chịu trách nhiệm về doanh thu vềdoanh thu mà không chịu trách nhiệm về giá thành sản phẩm

1.4.4.2 Trung tâm chi phí: Là những bộ phận hay phòng, ban

mà chỉ đơn thuần liên quan và chịu trách nhiệm đến các loại chi phí như:Phòng kế toán, phòng nhân sự, phòng kỷ thuật bảo trì và bảo dưỡng Nhưvậy, giám đốc của các bộ phận này chịu trách nhiệm về mặt kiểm soát chi phí

Số lượt buồng thực tế

từng loại

Hệ số từng loại buồng

Số lượt buồng chuẩn Tính giá thành số buồng chuẩn

Tính giá thành thực tế từng loại

Giá thành

buồng VIP

Giá thành buồng loại 1

Giá thành buồng loại 2

Giá thành buồng

Hệ số phân bổ chi phí từng loại buồng

Trang 31

thể hiện trong các báo cáo của trung tâm chi phí thuộc trách nhiệm của mình.Mặc dù các trung tâm chi phí này không trực tiếp tạo ra doanh thu cho kháchsạn nhưng góp phần tạo nên chất lượng chung của dịch vụ cung cấp chokhách hàng của khách sạn Chẳng hạn, bộ phận kỷ thuật, bảo trì và bảo dưỡngkhông liên quan trực tiếp tạo ra doanh thu cho khách sạn nhưng bộ phận nàyđóng vai trò rất quan trọng để đảm bảo trang thiết bị, đồ đạc, phòng ốc trongkhách sạn được hoạt động trong điều kiện tốt nhất và an toàn nhất để thoảmãn nhu cầu của khách hàng; Đồng thời bộ phận này cũng luôn thường trực

để giải quyết các sự cố kỹ thuật một cách kịp thời, không làm ảnh hưởng đếnhoạt động kinh doanh của khách sạn

1.4.4.3.Trung tâm lợi nhuận: Trong khách sạn những bộ phận

trực tiếp tạo ra doanh thu và có phát sinh chi phí tưng ứng với doanh thu, vàcuối cùng tạo ra lợi nhuận cho bộ phận đó được gọi là trung tâm lợi nhuậnnhư: Bộ phận kinh doanh phòng gồm bộ phận buồng và lễ tân thì tạo ra doanhthu phòng; Bộ phận nhà hàng gồm nhà hàng và bếp thì tạo ra doanh thu ănuống; Bộ phận kinh doanh các dịch vụ giải trí thì tạo ra doanh thu dịch vụ giảitrí; Bộ phận thông tin liên lạc thì tạo ra doanh thu các dịch vụ này Tương

tự, các giám đốc của bộ phận này có trách nhiệm phối hợp, nỗ lực thực hiệnnhiệm vụ tối đa hoá lợi nhuận cho bộ phận mình, nghĩa là kiểm soát chặt chẽmọi hoạt động kinh doanh có liên quan trong bộ phận mình để giảm thiểu chiphí và cực đại doanh thu Việc kiểm soát nhằm làm cực tiểu chi phí và tối đahoá doanh thu là thước đo để đánh giá trách nhiệm của các giảm đốc và nhânviên trong các trung tâm lợi nhuận này, các trung tâm lợi nhuận này hoạt động

có chức năng và nhiệm vụ như một doanh nghiệp thu nhỏ và phải lập báo cáokết quả hoạt động kinh doanh cho trung tâm trách nhiệm của mình theo từngthời kỳ kinh doanh nhất định

Trang 32

Kế toán trách nhiệm không phải là hệ thống tập hợp và ghi chép cácthông tin kế toán tài chính mà được nhấn mạnh như là một hệ thống đượcthiết kế các kênh thông tin báo cáo dữ liệu kế toán tài chính gắn với tráchnhiệm của từng bộ phận hoạt động theo cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp Vìthế, kế toán tài chính có chức năng tập hợp ghi chép các nghiệp vụ kinh tếphát sinh hằng ngày của doanh nghiệp Sau đó, kế toán trách nhiệm với chứcnăng phân loại dữ liệu kế toán tài chính này để lập các báo cáo tài chính riêngcho từng lĩnh vực hoạt động của các trung tâm trách nhiệm.

Lợi ích của kế toán trách nhiệm là cơ sở để thực hiện hiệu quả kiểmsoát của kế toán quản trị vì doanh thu và chi phí được tập hợp và trình bàytheo từng trung tâm trách nhiệm, qua đó nhà quản trị dể dàng nhận biết đượcnguyên nhân và trách nhiệm gây nên những hậu quả bất lợi về tăng chi phí vàgiảm doanh thu so với dự toán là thuộc về trách nhiệm của bộ phận nào do aichịu trách nhiệm để tăng cường kiểm soát và có biện pháp khắc phục kịp thời.Ngược lại, nếu kết quả thực hiện đạt yêu cầu mục tiêu hay vượt kế hoạch là

do nổ lực của bộ phận nào để cổ động biểu dương kịp thời nhằm khuyếnkhích phát huy các thành quả đó

1.4.4.4 Trung tâm đầu tư: Là trung tâm trách nhiệm không chỉ

lượng hóa bằng tiền đầu vào, đầu ra mà cả lượng vốn sử dụng ở trung tâm.Như vậy, nhà quản trị ở trung tâm đầu tư chịu trách nhiệm cả về doanh thu,chi phí và vốn đầu tư

Trang 33

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Kế toán quản trị là công cụ quản lý khoa học, hữu hiệu nhằm cung cấpcác thông tin kế toán tài chính chính xác, kịp thời cho việc thực hiện các chứcnăng quản trị doanh nghiệp

Ở chương này luận văn tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận kế toán quảntrị trong các doanh nghiệp kinh doanh khách sạn Việc nghiên cứu nội dungcủa kế toán quản trị trong kinh doanh khách sạn: Bắt đầu từ việc nghiên cứubản chất kế toán quản trị trong mối quan hệ hữu cơ tương hỗ với kế toán tàichính, đến khái quát hoá vai trò kế toán quản trị với các chức năng quản trịdoanh nghiệp, từ đó khẳng định được chức năng và nhiệm vụ quan trọng của

kế toán quản trị Sau đó, nghiên cứu đặc điểm sản phẩm dịch vụ và kinhdoanh khách sạn và ảnh hưởng của kinh doanh khách sạn đến kế toán quản trị

để trên cơ sở đó xác định nội dung kế toán quản trị phù hợp với đặc thù củacác khách sạn

Nội dung cơ bản của kế toán quản trị trong kinh doanh khách sạn baogồm: Tổ chức nhận diện và thu thập thông tin chi phí theo các trung tâm tráchnhiệm như: Trung tâm lợi nhuận và trung tâm chi phí; Lập kế hoạch kinhdoanh tổng thể bao gồm dự toán doanh thu và chi phí theo từng trung tâmtrách nhiệm tương ứng với từng bộ phận kinh doanh của khách sạn; Thực hiệnkiểm soát kiểm tra và đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch và cuối cùng làphân tích thông tin về chi phí phụ vụ quá trình ra quyết định của các nhà quảntrị trong doanh nghiệp khách sạn như phân tích điểm hoà vốn, phân tích mốiquan hệ giữa chi phí, doanh thu và lợi nhuận cũng như thông tin chi phí thíchhợp để lựa chọn các phương án kinh doanh tối ưu

Kế toán quản trị không chỉ dừng lại ở việc lập dự toán doanh thu và chiphí để tổng hợp thành kế hoạch kinh doanh tổng thể mà còn phải thực hiện

Trang 34

việc kiểm tra kiểm soát toàn bộ quá trình thực hiện kế hoạch, đánh giá tìnhhình biến động của chi phí trên cơ sở đó xác định các nguyên nhân làm tăngchi phí và lượng hoá chúng một cách khoa học nhằm nêu các kiến nghị, đềxuất các giải pháp cho các nhà quản trị ra quyết định kinh doanh có hiệu quảnhất.

Ngoài ra, phần cuối của chương này cũng đã đề cập đến quá trình hìnhthành và phát triển của kế toán quản trị trên cơ sở áp dụng hệ thống tài khoảnthống nhất trong ngành kinh doanh khách sạn trên thế giới, qua đó xem xétthế giới đã giải quyết vấn đề kế toán quản trị hữu hiệu như thế nào để có địnhhướng đối với các doanh nghiệp kinh doanh khách sạn ở thành phố Đà Nẵng

Trang 35

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TẠI CÁC DOANH NGHIỆP KINH DOANH KHÁCH SẠN

2.1.1.1 Giai đoạn trước năm 1975: Đà Nẵng cũng là trung tâm

kinh tế văn hoá của miền Trung Trong thời gian này, người Pháp đã xây dựngquần thể biệt thự, nhà hàng và khu giải trí Bà Nà để phục vụ du khách Sau

1954, tư nhân đã xây dựng khách sạn, nhà trọ chủ yếu phục vụ cho lính, sĩquan Mỹ và chế độ cũ Số lượng cơ sở lưu trú khoảng 9 khách sạn, 20 nhà trọnhưng chất lượng và tiện nghi rất kém

2.1.1.2 Giai đoạn từ năm 1975 đến 1990: Lượng khách đến Đà

Nẵng tăng đáng kể nhưng chủ yếu là khách nội địa Khách quốc tế vào ĐàNẵng rất khiêm tốn bình quân ở mức 8.000 khách/năm Hoạt động du lịchtrong thời gian này tập trung thực hiện chính sách xã hội hơn là hiệu quả kinhdoanh, nên đã xây dựng hàng loạt nhà nghỉ, nhà khách của công đoàn chủ yếuphục vụ mực đích phúc lợi xã hội của đông đảo lực lượng công nhân viênchức Nhà nước Toàn thành phố có khoảng 10 khách sạn, 15 nhà khách và

Trang 36

một số nhà trọ tư nhân với tổng số khoảng 1.000 giường nhưng trang bị tiệnnghi lạc hậu, chất lượng thấp.

2.1.1.3 Giai đoạn sau năm 1990: Từ năm 1990, nền kinh tế nói

chung đã từng bước chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch tập trung bao cấpsang cơ chế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa, nên ngành du lịch vàkinh doanh khách sạn đã có những cải tiến đáng kể, khả năng cung ứng cơ sởlưu trú đã tăng lên nhanh chóng, đặc biệt là số khách sạn đạt tiêu chuẩn cao và

số phòng đạt tiêu chuẩn quốc tế Năm 1991, tại Đà Nẵng chỉ có 14 khách sạnvới 603 phòng Sang giai đoạn 1993 – 2003 mạng lưới khách sạn phát triểnnhanh chóng: Số lượng khách sạn tăng 5 lần, số lượng buồng phòng tăng 4,45lần Trong giai đoạn này, hàng loạt các khách sạn mới ra đời Đặc bịêt, bộphận khách sạn tư nhân phát triển nhanh, nhiều dự án liên doanh được nghiêncứu và thương thảo, thậm chí nhiều dự án đã được ký kết, xây dựng và đã đưavào khai thác kinh doanh như: Dự án khu du lịch Bến Thành Non Nước, dự

án khu du lịch Furama Có trên 65 khách sạn với 2.280 phòng, trong đó:1.650 phòng đạt tiêu chuẩn quốc tế, phần lớn quy mô vừa và nhỏ Nhiều đơn

vị kinh doanh khách sạn đã đầu tư cải tạo, nâng cấp cơ sở vật chất kỹ thuật,trang thiết bị khách sạn hiện đại, từng bước nâng cao chất lượng phục vụ đạttiêu chuẩn quốc tế Có 30 khách sạn được Tổng cục du lịch công nhận hạngsao, trong đó có 1 khách sạn 5 sao, 8 khách sạn 3 sao, 12 khách sạn 2 sao, 9khách sạn 1 sao Số lượng phòng tương đương 3 sao có 603 phòng và 5 sao có

186 phòng Tuy nhiên, ngoài khu nghỉ mát Furama chưa khách sạn nào có quy

mô lớn, trang bị hiện đại, dịch vụ đồng bộ, chất lượng phục vụ cao Công suất

sử dụng buồng các năm 1991 – 1995 ở mức 55% - 70%, năm 2000 - 2010bình quân ở mức 65% - 75% Tính đến thời điểm đầu tháng 03 năm 2010:Trên địa bàn Thành phố Đà nẵng có 140 khách sạn với 5.000 phòng và 142nhà khách, nhà nghỉ với 1.019 phòng

Trang 37

Nhìn chung, trong hai thập niên qua, ngành Du lịch thành phố đã đạtđược những thành tựu đáng kể và đã khẳng định được vị thế chiến lược củangành trong cơ cấu kinh tế chung của thành phố Đà Nẵng Năm 1999, ĐàNẵng đón 304.000 lượt khách, trong đó: 98.000 lượt khách quốc tế và206.000 lượt khách nội địa, tăng 7% so với năm 1998, trong đó khách quốc tếtăng 10% Khách du lịch đến bằng đường biển đạt 14.000 lượt Doanh thu đạt

185 tỷ/năm, tăng 16% so với năm 1998 Năm 2000, đón 400.579 lượt khách,đạt 121% so với kế hoạch, vượt 30% so với năm 1999, trong đó khách quốc tếđạt 181.000 lượt, đạt 157% so với kế hoạch, bằng 183% so với năm 1999.Riêng khách du lịch đường biển đạt 60.000 lượt, tăng gấp 4,3 lần năm 1999.Trong đó khách của hãng tàu STAR CRUISE đến thứ ba hàng tuần đạt 45.000lượt khách Doanh thu đạt 240,9 tỷ đồng, đạt 112% kế hoạch và bằng 128%

so với năm 1999 Riêng doanh thu kinh doanh khách sạn đạt 125 tỷ đồng.Năm 2001, đón 454.000 lượt khách, tăng 20% so với năm 2000 và chiếm28% tổng lượt khách Khách nội địa đạt 331.000 lượt khách, tăng 22% vàchiếm 72% tổng lượt khách Doanh thu đạt 290,8 tỷ đồng, tăng 17% so vớinăm 2000, trong đó doanh thu khách sạn đạt 131,1 tỷ đồng, tăng 18% vàdoanh thu lữ hành và vận chuyển đạt 108 tỷ đồng Tổng số khách du lịch đếnthành phố Đà Nẵng trong năm 2002 là 565.196 lượt, trong đó khách quốc tế214.137 lượt Doanh thu đạt 338,8 tỷ đồng, trong đó doanh thu kinh doanhkhách sạn là 156,2 tỷ đồng Trong năm 2003 chỉ đạt được 513.385 lượt khách,giảm 9% so với năm 2002, trong đó có 174.453 lượt khách quốc tế, giảm 19%

so với 2002 và 339.381 lượt khách nội địa, giảm 3% so với năm 2002, nguyênnhân do bị ảnh hưởng nặng nề của đại dịch SARS Tuy nhiên, trong năm

2004, lượng khách và doanh thu ngành du lịch Đà Nẵng phục hồi và đạt tăngtrưởng nhanh

Trang 38

(gồm cả đạt chuẩn trước đây) KS 67 101 102 122 131

(Nguồn số liệu: Sở văn hoá thể thao và du lịch thành phố Đà Nẵng)

2.1.2 Tiềm năng và định hướng phát triển du lịch và khách sạn trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

2.1.2.1 Tiềm năng phát triển du lịch và khách sạn tại Đà Nẵng

Đà Nẵng có nguồn tài nguyên du lịch đa dạng, phong phú và đặcsắc Vùng bờ biển dài 90 km từ chân đèo Hải Vân nến non nước, cảnh quanhấp dẫn với bán đảo Sơn Trà, biển Nam Ô, Làng Vân và những bãi biển đẹpnổi tiếng như: Mỹ Khê, Bắc Mỹ An, Non Nước, Xuân Thiều, Bãi Nồm, BãiBắc Vùng trung du phía tây thành phố có: Bà Nà – Suối Mơ là vùng cảnhquan kỳ thú nằm cách trung tâm thành phố 40 km về phía tây, độ cao 1.480mét so với mực nước biển, có diện tích 8.838ha, khí hậu ôn hoà, nhiệt độtrung bình là 18 độ C, hệ thống thực vật phong phú với 544 loại thực vật bậccao, 256 loài động vật rừng Trong đó có các động vật quý hiếm như: Trĩ sao,

gà lôi lam mào trắng, chà vá chân nâu Bà Nà rất phù hợp với việc pháttriển du lịch và khách sạn nghỉ dưỡng – sinh thái kết hợp với du lịch leo núi

Hồ Đồng Nghệ - suối nước nóng Phước Nhơn: Cách trung tâm thành phố 24

km về hướng tây nam, thuộc huyện Hoà Vang, là hồ nước nhân tạo nằm giữavùng đồi núi, có suối nước khoáng Phước Nhơn lộ thiên, tự chảy với nhiệt độ

43 độ C, thích hợp cho việc xây dựng du lịch tham quan và chữa bệnh Thắngcảnh Ngũ Hành Sơn – Non Nước là một “Nam Thiên Danh Thắng” gồm cụmnúi đá vôi, cẩm thạch nằm trên một dãi cát dài 2 km, rộng 800 mét thuộc quận

Trang 39

Ngũ Hành Sơn Ngũ Hành Sơn nổi tiếng với các hàng động như HuyềnKhông, Hoa Nghiêm, Linh Nham, Vân Thông, Tàng Chơn, Âm phủ, Quan

Âm, Huyền Vy, Vọng Giang đài, Vọng Hải đài và các chùa, các di tích vănhoá lịch sử khác Năm 1980 Bộ Văn hoá thông tin (Nay là Bộ Văn Hoá ThểThao và Du Lịch) đã xếp hạng Ngũ Hành Sơn là di tích lịch sử - văn hoá vàdanh thắng quốc gia Đèo Hải Vân: Nằm ở phía Bắc thành phố, được mệnhdanh là “Đề nhất hùng quan”, ở độ cao 498 mét so với mực nước biển, trênđường xuyên Bắc – Nam dài 20 km Khu bảo tồn Hải Vân có diện tích 10.850

ha, có 501 loài thực vật bậc cao, 205 loài chinh, thú Hải Vân là nơi có cảnhquan thiên nhiên hùng vĩ, thơ mộng là điểm dừng chân lý tưởng của du khách

đi đường bộ trong tuyến du lịch Đà Nẵng - Huế Bán đảo Sơn Trà: Là khu bảotồn thiên nhiên nằm phía Đông bắc thành phố Đà Nẵng, là khối núi đá granit,đỉnh cao nhất 696 mét so với mực nước biển, có diện tích 4.370 ha với 985loài thực vật bậc cao, trong đó có 22 loài quý hiếm; 287 loài động vật, trong

đó có những loài động vật đặc biệt quý hiếm như voọc, chà và Sơn Trà có 3bãi tắm đẹp: Bãi Bắc khoảng 5 ha, bãi Tiên sa và bãi Nam

2.1.2.2 Định hướng phát triển kinh doanh du lịch và khách sạn thành phố Đà Nẵng

Theo sở văn hoá thể thao và du lịch thành phố Đà Nẵng pháttriển kinh doanh du lịch và khách sạn trong giai đoạn 5 năm: 2006 – 2010, vàđịnh hướng giai đoạn 2010 - 2015 tóm tắt trên cơ sở các chỉ tiêu:

Trang 40

Bảng 2.2: Thực tế phát triển ngành du lịch và khách sạn trong giai đoạn

từ năm 2006 đến năm 2010

- Tổng số khách du lịch đến Đà Nẵng 2006-2010

1.Tổng lượt khách Kh 774,000 1,024,020 1,269,144 1,328,863 1,770,000 Khách quốc tế Kh 258,000 299,593 353,696 314,169 370,000 Khách nội địa Kh 516,000 724,427 915,448 1,014,694 1,400,000

- Khách nội địa Kh 790,000 953,000 1,128,000 1,286,000 1,440,000

2 Doanh thu khách sạn Tỷ đ 1.180 1.427 1.727 2.090 2.450

(Nguồn số liệu: Sở văn hóa thể thao và du lịch Đà nẵng)

Theo QĐ 7099/QĐUBND ngày 17/09/2010 của Ủy Ban nhân dânthành phố Đà Nẵng: Dự kiến đến năm 2020, khách du lịch đến Đà Nẵng đạt

Ngày đăng: 04/10/2018, 17:14

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w