1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kế toán quản trị doanh thu, chi phí tại công ty cổ phần sách thiết bị trường học đà nẵng

78 129 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 767,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thức được đầy đủ vai trò, bản chất và nội dung của kế toán quản trịđặc biệt là kế toán quản trị doanh thu, chi phí và việc vận dụng vào thực tiễn kinhdoanh là một vấn đề bức thiết g

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong giai đoạn hiện nay, giai đoạn toàn cầu hóa nền kinh tế sự cạnh tranh

mang tính chất khốc liệt Ở nước ta hiện nay hội nhập kinh tế đòi hỏi kéo theo sựhội nhập của các công cụ quản lý trong đó có kế toán với chức năng thông tin vàkiểm tra các hoạt động kinh tế tài chính của một tổ chức để phục vụ nhu cầu nhàquản lý của đối tượng bên trong và bên ngoài tổ chức lại còn có ý nghĩa quan trọng

Có thể nói chính chất lượng & hiệu quả của công tác kế toán ảnh hưởng trực tiếpđến chất lượng & hiệu quả quản lý, điều hành tổ chức để đạt được các mục tiêu đề

ra Kế toán quản trị là một bộ phận của hệ thống kế toán nó ra đời trong điều kiệnnền kinh tế thị trường Kế toán quản trị được coi là loại kế toán dành riêng chonhững người làm công tác quản lý kinh doanh, phục vụ cho các nhà quản lý ra cácquyết định kinh doanh

Kế toán quản trị chi phí có vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin

về chi phí trong các doanh nghiệp Kế toán quản trị luôn tồn tại trong mỗi tổ chức,mỗi đơn vị Tuy nhiên tác dụng cung cấp thông tin cho các nhà quản trị doanhnghiệp khác nhau sẽ khác nhau, tùy thuộc vào việc xây dựng và khai thác hệ thống

kế toán quản trị chi phí đó Các doanh nghiệp ở các nước phát triển đã xây dựng hệthống kế toán quản trị, cung cấp thông tin hữu ích cho các nhà quản trị nội bộ để trợgiúp họ trong việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch và kiểm tra, đánh giáviệc thực hiện kế hoạch, từ đó có những quyết định đúng đắn trong hoạt động sảnxuất kinh doanh

Nhận thức được đầy đủ vai trò, bản chất và nội dung của kế toán quản trịđặc biệt là kế toán quản trị doanh thu, chi phí và việc vận dụng vào thực tiễn kinhdoanh là một vấn đề bức thiết giúp cho các nhà quản lý có thể quản lý điều hànhhiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mình trong nền kinh tế

thị trường hiện nay Xuất phát từ những vấn đề trên tác giả chọn đề tài “Kế toán

Trang 2

quản trị doanh thu, chi phí tại Công ty Cổ phần sách & thiết bị trường học

Đà Nẵng”

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về kế toán quản trị doanh thu, chi phítrong doanh nghiệp

- Phân tích, đánh giá thực trạng kế toán quản trị doanh thu, chi phí tại Công ty

cổ phần sách & thiết bị trường học Đà Nẵng, từ đó rút ra ưu nhược điểm trong côngtác kế toán quản trị chi phí

- Đề xuất các phương hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống kế toán quảntrị doanh thu, chi phí tại Công ty cổ phần sách & thiết bị trường học Đà Nẵng

3 Câu hỏi nghiên cứu

- Thực trạng kế toán quản trị doanh thu, chi phí tại Công ty cổ phần sách &thiết bị trường học Đà Nẵng như thế nào? Ưu nhược điểm ra sao?

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề cơ bản liên quan đến kếtoán quản trị doanh thu, chi phí tại Công ty Cổ phần sách & thiết bị trường học ĐàNẵng

Phạm vi nghiên cứu

Phạm vị nghiên cứu giới hạn trong việc tìm hiểu thực tế công tác kế toánquản trị doanh thu, chi phí ở lĩnh vực sản xuất kinh doanh sách và thiết bị trườnghọc tại Văn phòng chính và 6 nhà sách trực thuộc tại TP Đà Nẵng năm 2011

Trang 3

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp cụ thể như: phương pháp phân tích, tổnghợp, thống kê, phỏng vấn, điều tra, so sánh… Tác giả đã trực tiếp tiến hành nghiêncứu tại Công ty cổ phân sách & thiết bị trường học Đà Nẵng theo phương phápphỏng vấn Dữ liệu sử dụng chủ yếu trong luận văn là dữ liệu sơ cấp tại đơn vị kếthợp với các quy định, hệ thống văn bản hướng dẫn của công ty về tài chính-kế toán

6 Những đóng góp của luận văn

- Về mặt lý luận: hệ thống hóa những vấn đề lý luận về kế toán quản trị

doanh thu, chi phí trong các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp sản xuất nóiriêng

- Về mặt thực tiễn: hoàn thiện KTQT doanh thu, chi phí tại Công ty Cổ phần

sách và thiết bị trường học Đà Nẵng: xây dựng cơ sở cho việc lập dự toán chi phílinh hoạt ở công ty, lập các báo cáo chi phí phục vụ việc kiểm tra, đánh giá và raquyết định kinh doanh ở công ty, phân tích chi phí phục vụ quá trình ra quyết định ởcông ty

7 Kết cấu của luận văn

Luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về kế toán quản trị doanh thu, chi

phí trong doanh nghiệp sản xuất

Chương 2: Thực trạng về kế toán quản trị doanh thu, chi phí tại Công ty Cổ

phần sách & thiết bị trường học Đà Nẵng

Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện công tác kế toán quản trị doanh thu, chi

phí tại Công ty Cổ phần sách & thiết bị trường học Đà Nẵng

Trang 4

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ DOANH THU, CHI PHÍ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP

SẢN XUẤT1.1 Khái quát chung về kế toán quản trị doanh thu, chi phí

1.1.1 Khái quát về kế toán quản trị

Đến nay có rất nhiều định nghĩa về kế toán quản trị:

Kế toán quản trị là một bộ phận của hệ thống kế toán ra đời và đặc biệt thíchứng với quản lý trong điều kiện kinh tế thị trường Kế toán quản trị thực hiện cungcấp thông tin cho các nhà quản trị trong điều hành sản xuất kinh doanh và đặc biệt

là ra các quyết định kinh doanh kịp thời Kinh tế thị trường với đặc tính cạnh tranhvốn có của nó đòi hỏi các doanh nghiệp không chỉ dừng lại ở việc nâng cao chấtlượng sản phẩm mà còn phải kiểm tra chặt chẽ chi phí bỏ ra, đặc biệt là kiểm soátgiá thành Có được như vậy, kế toán nói chung và kế toán quản trị nói riêng mớithực hiện được nhiệm vụ của mình trong quản lý của doanh nghiệp

Kế toán quản trị là một bộ phận kế toán cung cấp thông tin cho những nhàquản lý tại doanh nghiệp thông qua các báo cáo kế toán nội bộ Khái niệm kế toánquản trị được hiệp hội kế toán Mỹ định nghĩa: “Là quá trình định dạng, đo lường,tổng hợp, phân tích, lập báo biểu, giải trình và thông đạt các số liệu tài chính và phitài chính cho ban quản trị để lập kế hoạch, theo dõi việc thực hiện kế hoạch trongphạm vi nội bộ một doanh nghiệp, đảm bảo việc sử dụng có hiệu quả các tài sản vàquản lý chặt chẽ các tài sản này” Thông tin tài chính và phi tài chính cung cấptrong phạm vi nội bộ doanh nghiệp bao gồm:

- Thông tin về chi phí sản phẩm hoặc dịch vụ của doanh nghiệp

- Quá trình lập các dự toán cung cấp thông tin cho việc xây dựng kế hoạch và

kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch hướng đến các mục tiêu trên thị trường củadoanh nghiệp

- Thiết kế để lập các báo cáo và phân tích các báo cáo cung cấp các thông tinđặc thù để giúp các nhà quản trị ra quyết định kinh doanh

Trang 5

Theo luật kế toán Việt Nam ở khoản 3 điều 4, kế toán quản trị “là việc thuthập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế theo yêu cầu quản trị và quyếtđịnh kinh tế tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán”

Ở Việt Nam, khái niệm sau về KTQT được nhiều người thừa nhận: “ KTQT

là khoa học thu thập xử lý, cung cấp thông tin về hoạt động sản xuất kinh doanhmột cách cụ thể phục vụ cho các nhà quản lý trong việc lập kế hoạch, điều hành, tổchức thực hiện kế hoạch và quản lý hoạt động kinh tế tài chính trong nội bộ doanhnghiệp”

Mục đích chủ yếu của kế toán quản trị là cung cấp thông tin cho các nhàquản trị trong nội bộ tổ chức để đánh giá, kiểm soát quá trình hoạt động trong khimục đích chủ yếu của kế toán tài chính là cung cấp cơ sở thông tin cho các nhà đầu

tư, các ngân hàng, các đối tác ký kết các hợp đồng kinh tế đối với tổ chức.Với mụcđích khác nhau nên nội dung của kế toán quản trị và kế toán tài chính cũng khácnhau Kế toán quản trị cung cấp thông tin hướng về tương lai của tổ chức, trong khi

kế toán tài chính cung cấp thông tin về quá khứ của tổ chức Kế toán quản trị khôngchỉ cung cấp thông tin tài chính mà còn cung cấp thông tin phi tài chính về các quátrình hoạt động trong nội bộ tổ chức cũng như môi trường bên ngoài tổ chức Hơnnữa kế toán quản trị không phải tuân thủ theo các nguyên tắc, chuẩn mực kế toánban hành mà được thực hiện một cách linh hoạt nhằm đáp ứng tốt nhất cho nhu cầuquả trị trong nội bộ tổ chức

Bên cạnh khái niệm kế toán tài chính và kế toán quản trị còn có khái niệm kếtoán chi phí Theo Viện kế toán viên quản trị của Mỹ (IMA), kế toán chi phí đượcđịnh nghĩa là “kỹ thuật hay phương pháp để xác định chi phí cho một dự án, mộtquá trình hoặc một sản phẩm…Chi phí này được xác định bằng việc đo lường trựctiếp, kết chuyển tùy ý, hoặc phân bổ một cách có hệ thống và hợp lý” Theo địnhnghĩa này kế toán chi phí không phải là một bộ phận độc lập, một phân hệ thứ bacủa hệ thống kế toán, mà kế toán chi phí vừa là một bộ phận của kế toán tài chính

và vừa là một bộ phận của kế toán quản trị

Trang 6

Dưới góc độ kế toán tài chính, bộ phận kế toán chi phí có chức năng tínhtoán, đo lường chi phí phát sinh trong tổ chức theo đúng các nguyên tắc kế toán đểcung cấp thông tin về giá vốn hàng bán, các chi phí hoạt động trên báo cáo kết quảhoạt động kinh doanh và giá trị hàng tồn kho trên bảng cân đối kế toán Dưới góc

độ kế toán quản trị, bộ phận kế toán chi phí có chức năng đo lường, phân tích vềtình hình chi phí và khả năng sinh lời của các sản phẩm, dịch vụ, các hoạt động vàcác bộ phận của tổ chức nhằm nâng cao hiệu quả và hiệu năng của quá trình hoạtđộng kinh doanh

Bên cạnh quan điểm coi kế toán chi phí vừa là một bộ phận của kế toán tàichính và vừa là một bộ phận của kế toán quản trị còn có quan điểm đồng nhất kếtoán chi phí với kế toán quản trị Quan điểm này xuất phát từ thực tế khách quan làthông tin chi phí cho các mục đích quản trị nội bộ ngày càng quan trọng đối với sựsống còn của tổ chức Các nhà quản trị của tổ chức không phải đơn thuần chỉ cầnquyết định được chi phí giá vốn của hàng bán hoặc dịch vụ cung cấp mà quan trọnghơn, họ cần phải có khả năng kiểm soát chi phí của các hoạt động và các quá trìnhtrong ngắn hạn cũng như dài hạn Theo tác giẩ, quản điểm đồng nhất kế toán chi phí

và kế toán quản trị sẽ dẫn đến sự “thiên vị” khi xây dựng hệ thống kế toán chi phítrong các tổ chức Hệ thống kế toán chi phí theo quan điểm này sẽ tập trung vàoviệc cung cấp thông tin cho quản trị nội bộ và sẽ sao nhãng việc cung cấp thông tintrung thực và khách quan cho việc lập các báo cáo tài chính

Theo tác giả, quan điểm kế toán chi phí vừa có trong hệ thống kế toán tàichính và vừa có trong hệ thống kế toán quản trị là hoàn toàn hợp lý, trong đó bộphận kế toán chi phí trong hệ thống kế toán quản trị được gọi là kế toán quản trị chiphí Quan điểm này thể hiện đúng bản chất, chức năng của kế toán chi phí và sẽgiúp ích trong việc xây dựng hệ thống kế toán chi phí hiệu quả trong các tổ chức,với việc kết hợp hài hòa các mục tiêu của hệ thống kế toán tài chính và hệ thống kếtoán quản trị

Kế toán quản trị chi phí là một bộ phận của hệ thống kế toán, chính vì vậybản chất của kế toán quản trị trước hết thể hiện ở bản chất của kế toán Trải qua quá

Trang 7

trình hình thành và phát triển lâu đời, có rất nhiều định nghĩa về kế toán dưới cácgóc độ khác nhau, tuy nhiên trong phần này tác giả chỉ phân tích hai định nghĩa cơbản dưới góc độ bản chất và nội dung của kế toán.

Thứ nhất, kế toán được định nghĩa là một bộ phận của hoạt động quản lý, vớichức năng xử lý và cung cấp thông tin thức hiện về khách thể quản lý cho chủ thểquản lý [3,tr11] Định nghĩa này hướng về bản chất của kế toán

Thứ hai, kế toán được định nghĩa là một quá trình định dạng, đo lường, ghichép và cung cấp các thông tin về hoạt động kinh tế của một tổ chức [10,tr5],[48,tr5] Định nghĩa này hướng về nội dung của kế toán Dưới góc độ này, kế toáncần áp dụng hệ thống các phương pháp đặc thù (chứng từ, đối ứng tài khoản, tínhgiá và tổng hợp – cân đối) để cung cấp các thông tin phù hợp, tin cậy, nhất quán và

so sánh được nhằm giúp cho người sử dụng thông tin đưa ra các quyết định đúngđắn với tổ chức

Như vậy, xét một cách tổng quát, kế toán quản trị chi phí có bản chất là một

bộ phận của hoạt động quản lý và nội dung của kế toán quản trị chi phí là quá trìnhđịnh dạng, đo lường, ghi chép và cung cấp các thông tin của chi phí hoạt động kinh

kế toán trong nội bộ tổ chức là các nhà quản lý các cấp (ban giám đốc và lãnh đạocác bộ phận) trong tổ chức Mặc dù, cần đến thông tin về cùng một tổ chức, nhưnghai loại đối tượng này cần những thông tin với tính chất khác nhau Bên ngoài tổchức cần thông tin tổng quát về tình hình tài chính và kết quả hoạt động kinh tế của

tổ chức Các nhà quản lý trong nội bộ trong tổ chức cần thông tin chi tiết theo từngmặt hoạt động nhằm đánh giá hiệu quả hoạt động và thiết lập kế hoạch trong tươnglai cho tổ chức

Trang 8

Để cung cấp thông tin cho cả hai loại đối tượng này hệ thống kế toán trong tổchức được chia thành hai bộ phận: hệ thống kế toán tài chính và hệ thống kế toánquản trị Kế toán tài chính chủ yếu cung cấp thông tin cho các chủ thể quản lý bênngoài tổ chức, còn kế toán quản trị hướng tới mục tiêu cung cấp thông tin cho cácchủ thể quản lý trong nội bộ tổ chức.

Với các phân tích trên, tác giả cho rằng kế toán quản trị chi phí là một bộphận của hệ thống kế toán quản trị nhằm cung cấp thông tin về chi phí để mỗi tổchức thực hiện chức năng quản trị yếu tố nguồn lực tiêu dùng cho các hoạt động,nhằm xây dựng kế hoạch, kiểm soát, đánh giá hoạt độngvà ra các quyết định hợp lý.Quan điểm này sẽ là cơ sở cho tất cả các phân tích khác được trình bày trong nộidung luận văn

1.1.2 Bản chất của kế toán quản trị chi phí

Kế toán quản trị chi phí cung cấp những thông tin về hoạt động kinh tế tàichính trong phạm vi yêu cầu quản lý nội bộ của doanh nghiệp, kế toán quản trị chiphí phục vụ chủ yếu cho việc quản trị tài sản, ra các quyết định quản trị, kế toánquản trị chi phí là một bộ phận của kế toán doanh nghiệp nói chung, là công cụquan trọng trong công tác quản lý nội bộ của doanh nghiệp

Kế toán quản trị không nhận thức chi phí theo quan điểm của kế toán tàichính mà phải được nhận diện theo nhiều phương diện khác nhau để đáp ứng nhucầu thông tin trong hoạch định, tổ chức thực hiện, kiểm soát và ra quyết đinh Kếtoán quản trị chi phí nhấn mạnh đến việc dự báo của thông tin và trách nhiệm củacác nhà quản trị các cấp nhằm gắn trách nhiệm của họ với chi phí phát sinh qua hệthống thông tin chi phí được cung cấp theo các trung tâm chi phí được hình thànhtrong các đơn vị Kế toán quản trị chi phí sẽ trả lời chi phí là bao nhiêu, biến độngnhư thế nào khi có sự thay đổi của một hay một số nhân tố nào đó, ai sẽ là ngườichịu trách nhiệm giải thích những thay đổi bất lợi của chi phí và giải pháp được đưa

ra để điều chỉnh một cách kịp thời Điều này cho thấy kế toán quản trị chi phí mangnặng bản chất của kế toán quản trị hơn là kế toán chi phí thuần tuý Có thể hiểu kế

Trang 9

toán quản trị chi phí là một bộ phận của kế toán quản trị thực hiện xử lý và cung cấpthông tin về chi phí nhằm thực hiện các chức năng quản trị.

1.1.3 Khái quát về kế toán quản trị doanh thu

Doanh thu bán hàng là số tiền về số sản phẩm vật tư, hàng hóa, dịch vụ đãtiêu thụ hoặc thực hiện cho khách hàng theo giá thỏa thuận

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp mang tính tổng hợp Các doanh nghiệp tiến hành nhiều loại hoạt độngsản xuất khác nhau, trong mỗi loại sản xuất lại có nhiều loại sản phẩm khác nhau.Toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được chia thành: hoạtđộng sản xuất kinh doanh thông thường, hoạt động tài chính, hoạt động khác.Tươngứng vốn từng loại hoạt động sản xuất kinh doanh nêu trên hình thành các loại doanhthu sau:

Doanh thu bán hàng (thuộc hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường)Doanh thu hoạt động tài chính

Doanh thu khác

Các nhà quản trị doanh nghiệp luôn luôn cần thông tin một cách chi tiết cụthể về chi phí - doanh thu và kết quả của từng loại hoạt động, từng loại sản phẩm,lao vụ dịch vụ để đáp ứng yêu cầu quản lý vĩ mô, để có được những quyết địnhđúng đắn cho sự phát triển của doanh nghiệp không chỉ trong thời gian hiện tại mà

cả về tương lai lâu dài Việc kế toán chi tiết doanh thu – kết quả sẽ giúp cho các chủdoanh nghiệp quyết định nên mở rộng hay thu hẹp quy mô hoạt động, mở rộng, thuhẹp như thế nào, tới mức độ nào hay đình chỉ, quyết định tiếp tục SXKD haychuyển hướng hoạt động

Mặt khác, trong nền kinh tế thị trường, người tiêu dùng bỏ tiền ra mua nhữnghàng hóa mà họ thích với số lượng mà họ cần và giá cả mà họ chấp nhận Điều đóđòi hỏi doanh nghiệp phải xem xét đến nhu cầu của xã hội để sản xuất loại sảnphẩm, dịch vụ nào, số lượng là bao nhiêu và giá cả như thế nào để đủ sức cạnhtranh với các doanh nghiệp khác Trong cuộc cạnh tranh này buộc các doanh nghiệp

Trang 10

phải sử dụng kỹ thuật mới, công nghệ tiến tiến để giảm hao phí lao động cá biệt,tăng thị trường tiêu thụ tăng khối lượng hàng bán ra nhằm tăng doanh thu bán hàng.

Vì vậy, quyết định giá bán sản phẩm dịch vụ cung cấp là quyết định quantrọng mà doanh nghiệp phải thực hiện Vì quyết định liên quan đến tất cả các lĩnhvực hoạt động của doanh nghiệp Định giá bán của sản phẩm liên quan đến việc sẽbán được bao nhiêu sản phẩm, hàng hóa, có nhiều khách hàng hay ít khách hàng,tổng doanh thu thu được và kết quả lãi lỗ của doanh nghiệp chi phí là yếu tố chính

và là căn cứ ban đầu để xác định giá bán sản phẩm, hàng hóa và cung cấp dịch vụ,làm tiền đề kết hợp với các lý thuyết định giá trong kinh tế vi mô để hoạch định giá,điều chỉnh giá trong chính sách giá của doanh nghiệp

1.2 Nội dung KTQT chi phí, doanh thu trong các doanh nghiệp sản xuất

1.2.1 Phân loại chi phí trong doanh nghiệp sản xuất

1.2.1.1 Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động

* Chi phí sản xuất

Chi phí sản xuất bao gồm ba khoản mục: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp,chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung

Chi phí nguyên liệu vật liệu trực tiếp: khoản mục chi phí này bao gồm các

loại nguyên liệu và vật liệu xuất dùng trực tiếp cho việc chế tạo sản phẩm

Chi phí nhân công trực tiếp: khoản mục chi phí này bao gồm tiền lương và

những khoản trích theo lương phải trả cho bộ phận công nhân trực tiếp sản xuất sảnphẩm

Chi phí sản xuất chung: là các chi phí phục vụ và quản lý quá trình sản xuất

sản phẩm phát sinh trong phạm vi các phân xưởng khoản mục chi phí này bao gồm:chi phí vật liệu phục vụ quá trình sản xuất hoặc quản lý sản xuất, tiền lương và cáckhoản trích theo lương của nhân viên quản lý phân xưởng, chi phí khấu hao sửachữa và bảo trì máy móc thiết bị, nhà xưởng, chi phí dịch vụ mua ngoài phục vụ sảnxuất và quản lý ở phân xưởng,v.v…

* Chi phí ngoài sản xuất

Trang 11

Đây là các chi phí phát sinh ngoài quá trình sản xuất sản phẩm liên quan đếnquá trình tiêu thụ sản phẩm hoặc phục vụ công tác quản lý chung toàn doanhnghiệp Thuộc loại chi phí này gồm có hai khoản mục chi phí: chi phí bán hàng vàchi phí quản lý doanh nghiệp.

Chi phí bán hàng: khoản mục chi phí này bao gồm các chi phí phát sinh

phục vụ cho khâu tiêu thụ sản phẩm, là toàn bộ những chi phí cần thiết để đẩy mạnhquá trình lưu thông hàng hóa và đảm bảo việc đưa hàng hóa đến tay người tiêudùng Có thể kể đến các chi phí như chi phí vận chuyển, bốc dỡ thành phẩm giaocho khách hàng, chi phí bao bì, khấu hao các phương tiện vận chuyển, tiền lươngnhân viên bán hàng, hoa hồng bán hàng, chi phí tiếp thị quảng cáo,

Chi phí quản lý doanh nghiệp: bao gồm tất cả các chi phí phục vụ cho công

tác tổ chức và quản lý quá trình sản xuất kinh doanh nói chung trên giác độ toàndoanh nghiệp Khoản mục này bao gồm các chi phí như: chi phí văn phòng, tiềnlương và các khoản trích theo lương của nhân viên quản lý doanh nghiệp, khấu haotài sản của doanh nghiệp, các chi phí dịch vụ mua ngoài khác, cách phân loại nàygiúp xác định rõ vai trò, chức năng hoạt động của chi phí trong quá trình hoạt độngSXKD ở DN, đồng thời cung cấp thông tin có hệ thống cho việc lập báo cáo tàichính

1.2.1.2 Phân loại chi phí theo mối quan hệ giữa chi phí với lợi nhuận xác định từng kỳ

Chi phí sản phẩm (product cost): bao gồm các chi phí phát sinh liên quan

đến việc sản xuất sản phẩm, do vậy các chi phí này kết hợp tạo nên giá trị của sảnphẩm hình thành qua giai đoạn sản xuất (được gọi là giá thành sản xuất hay giáthành phân xưởng) Thuộc chi phí sản phẩm gồm các khoản mục chi phí nguyênliệu, vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung

Chi phí thời kỳ (period costs): gồm các khoản mục chi phí còn lại ngoài các

khoản mục chi phí thuộc chi phí sản phẩm Đó là chi phí bán hàng và chi phí quản

lý doanh nghiệp Các chi phí thời kỳ phát sinh ở kỳ hạch toán nào được xem là có

Trang 12

tác dụng phục vụ cho quá trình kinh doanh của kỳ đó, do vậy chúng được tính toánkết chuyển hết để xác định lợi tức ngay trong kỳ hạch toán mà chúng phát sinh.

1.2.1.3 Phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí

Có rất nhiều cách phân loại chi phí trong các doanh nghiệp sản xuất, songtiêu thức phân loại quan trọng nhất và có nhiều ứng dụng trong KTQT chi phí làphân loại chi phí theo cách ứng xử Theo tiêu thức này, chi phí trong các doanhnghiệp sản xuất bao gồm chi phí khả biến, chi phí bất biến và chi phí hổn hợp

- Chi phí khả biến: Xét về lý thuyết, chi phí khả biến là các chi phí có sự

thay đổi tỉ lệ với mức độ hoạt động Chi phí khả biến chỉ phát sinh khi có các hoạtđộng xảy ra Tổng số chi phí khả biến tăng hoặc giảm tương ứng với sự tăng hoặcgiảm của mức độ hoạt động, nhưng chi phí khả biến tính theo đơn vị của mức độhoạt động thì không thay đổi Các chi phí thể hiện rõ nhất đặc trưng của chi phí khảbiến là chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp Ngoài

ra, chi phí khả biến còn bao gồm các chi phí khác thuộc khoản mục chi phí sản xuấtchung(ví dụ, các chi phí vật liệu phụ, chi phí động lực, chi phí lao động gián tiếptrong chi phí sản xuất chung có thể là chi phí khả biến) hoặc thuộc khoản mục chiphí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp(như chi phí vật liêu, phí hoa hồng,phí vận chuyển )

- Chi phí bất biến: Chi phí bất biến là những chi phí mà xét về tổng số ít thay

đổi hoặc không thay đổi theo các mức độ hoạt động nhưng nếu xét trên một đơn vịmức độ hoạt động thì tỉ lệ nghịch với mức độ hoạt động Các loại chi phí bất biếnthường gặp trong các doanh nghiệp sản xuất là chi phí khấu hao TSCĐ chi phí thuênhà xưởng, lãi vay, chi phí giao tiếp, chi phí tiền lương nhân viên quản lý, chi phíquảng cáo, v.v

- Chi phí hỗn hợp: là những chi phí mà cấu thành nên nó bao gồm cả yếu tố

chi phí khả biến và chi phí bất biến Ở một mức độ hoạt động cụ thể nào đó, chi phíhỗn hợp mang đặc điểm của chi phí bất biến, khi mức độ hoạt động tăng lên, chi phíhỗn hợp sẽ biến đổi như đặc điểm của chi phí khả biến Trong các DN sản xuất, chiphí hỗn hợp cũng chiếm một tỷ lệ khá cao trong các loại chi phí, chẳng hạn như chi

Trang 13

phí điện thoại, chi phí bảo trì MMTB, chi phí thuê xe chi phí hỗn hợp rất quantrọng vì nó rất phổ biến trong hoạt động sản xuất kinh doanh của DN Vì vậy, đểphục vụ cho công tác quản trị chi phí, nhằm mục đích lập kế hoạch, kiểm soát vàchủ động điều tiết chi phí hỗn hợp, các nhà quản trị cần phải tách chi phí hỗn hợpthành chi phí khả biến và chi phí bất biến.

Phân loại chi phí theo mô hình ứng xử giúp nhà quản trị thấy được cách thứcứng xử từng loại chi phí, giúp nhà quản trị có được cách nhìn và quyết định tốt hơnkhi có sự thay đổi về mức độ hoạt động Ngoài ra, với cách phân loại này giúp nhàquản trị nhận biết thông tin về chi phí và tính toán kết quả nhanh chóng để lập dựtoán chi phí tốt hơn, phù hợp với thực tế và có khả thi hơn, giúp xây dựng mô hìnhchi phí trong mối quan hệ giữa chi phí, khối lượng, lợi nhuận, phân tích điểm hòavốn, phân tích chi phí và xác định sản lượng, doanh thu hòa vốn, xác định được chiphí bỏ ra để đạt được lợi nhuận dự kiến Qua đó, nhà quản trị xác định phươnghướng sử dụng chi phí, làm cở sở ra quyết định ngắn hạn

1.2.1.4 Phân loại chi phí sử dụng trong kiểm tra và ra quyết định

- Chi phi trực tiếp và chi phí gián tiếp

Chi phí trực tiếp trong DN sản xuất là những chi phí chỉ quan hệ trực tiếpđến việc sản xuất sản phẩm, hoặc thực hiện các đơn đặt hàng và hoàn toàn có thểhạch toán, quy nạp trực tiếp cho sản phẩm, đơn đặt hàng đó

Chi phí gián tiếp là các khoản chi phí có liên quan đến việc sản xuất và tiêuthụ nhiều loại sản phẩm, nhiều đơn đặt hàng, phát sinh cho mục đích phục vụ vàquản lý chung cần tiến hành phân bổ cho các đối tượng sử dụng chi phí theo tiêuthức phân bổ

Cách phân loại chi phí này có ý nghĩa thuần túy đối với kỹ thuật hạch toán.Việc lựa chọn tiêu thức phân bổ hợp lý và khoa học giúp các nhà quản trị doanhnghiệp có được thông tin chân thực về chi phí và kết quả lợi nhuận từng loại sảnphẩm

- Chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được

Trang 14

Một khoản chi phí được xem là chi phí có thể kiểm soát được hoặc là chi phíkhông thể kiểm soát được ở một cấp quản lý nào đó là tùy thuộc vào khả năng cấpquản lý này có thể ra quyết định để chi phối, tác động đến khoản chi phí đó haykhông Như vậy, nói đến khía cạnh quản lý chi phí bao giờ cũng gắn liền với mộtcấp quản lý nhất định: khoản chi phí mà ở một cấp quản lý nào đó có thẩm quyền raquyết đinh được gọi là chi phí kiểm soát được và ngược lại.

- Chi phí lặn : là khoản chi phí đã bỏ ra trong quá khứ và sẽ hiễn hiện ở tất cảmọi phương án với giá trị như nhau, là loại chi phí mà DN sẽ phải gánh chịu, bất kể

đã lựa chọn phương án hoặc hành động nào Chính vì vậy, chi phí lặn là loại chi phíkhông thích hợp cho việc xem xét, ra quyết định của người quản lý

- Chi phí chênh lệch: là những khoản chi phí có ở phương án này nhưngkhông có hoặc chỉ có một phần ở phương án khác Chi phí chênh lệch là một trongnhững căn cứ quan trọng để lựa chọn phương án sản xuất kinh doanh Chi phí chênhlệch là định dạng thông tin thích hợp cho việc ra quyết định

- Chi phí cơ hội: là những thu thập tiềm tàng bị mất đi khi lựa chọn thực hiệnphương án này thay cho phương án khác Chi phí cơ hội là một yếu tố đòi hỏi luônphải được tính đến trong mọi quyết định của quản lý Như vậy, ngoài các chi phíSXKD đã được tập hợp, phản ánh trên hệ thống sổ kế toán, trước khi lựa chọn cácphương án, nhà quản trị còn phải xêm xét chi phí cơ hội phát sinh do những yếu tốkinh doanh đó có thể được sử dụng theo cách khác nhưng vẫn mang lại lợi nhuậncho doanh nghiệp

Tùy thuộc vào yêu cầu và mục đích cụ thể của các nhà QTDN mà thông tinchi tiết về chi phí doanh thu và KQKD sẽ được tổ chức thu thập bằng hệ thống cácphương pháp các phương pháp kế toán phù hợp, được thiết kế dưới những dạng cụthể có thể so sánh được, hoặc dưới dạng phương trình, hoặc thành dạng đồ thị, cho

cả thông tin thực hiện (thông tin trong quá khứ) và cả những thông tin liên quan đếntương lai bao gồm cả thông tin sơ cấp và thông tin thứ cấp, từ đó xác định nhữngthông tin thích hợp và thông tin không thích hợp cho việc ra quyết định kinh doanhngắn hạn

Trang 15

1.2.2 Tổ chức thu thập thông tin thực hiện liên quan đến chi phí, doanh thu

Để thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin thực hiện trong KTQT cần tổ chứctốt các nội dung: tổ chức hệ thống chứng từ kế toán và hạch toán ban đầu; tổ chức

hệ thống tài khoản phục vụ KTQT, tổ chức hệ thống sổ KTQT và tổ chức hệ thốngbáo cáo KTQT

* Thu thập thông tin về kế toán chi tiết chi phí

Hạch toán ban đàu thông qua việc lập các chứng từ kế toán là khâu đầu tiêncủa mọi hệ thống kế toán khi tổ chức thu thập thông tin thực hiện Trên cơ sở cácchứng từ, tài khoản, sổ kế toán theo chế độ đã ban hành, KTQT sẽ xây dựng hệthống chứng từ, tài khoản, sổ kể toán phù hợp theo yêu cầu quản lý, đảm bảo vừachi tiết cho từng bộ phận sản xuất, vừa chi tiết theo biến phí và định phí

- Đối với chi phí trực tiếp (chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhâncông trực tiếp) lập chứng từ riêng cho từng loại sản phẩm (trong trương hợp nàythường xác định đối tượng tập hợp chi phí cho từng loại sản phẩm) Trường hợp cáckhoản chi phí nguyên vật liệu, nhân công có liên quan đến nhiều đối tượng tập hợpchi phí, không thể tách riêng thì áp dụng phương pháp phân bổ gian tiếp cho từngđối tượng Kế toán căn cứ vào các chứng từ phát sinh để tập hợp vào TK 621 “chiphí nguyên vật liệu trực tiếp”, TK622 “chi phí nhân công trực tiếp” Các tài khoảnnày được mở chi tiết cho từng đối tượng tập hợp chi phí tùy thuộc yêu cầu quản lýdoanh nghiệp

- Đối với chi phí phục vụ và chi phí sản xuất (chi phí sản xuất chung, chi phíbán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp) thì tổ chức chứng từ theo từng yếu tố chiphí để tập hợp được chi phí theo từng yếu tố, theo địa điểm phát sinh chi phí (phânxưởng, bộ phận sản xuất ), sau đó lựa chọn tiêu chuẩn phân bổ thích hợp để xácđịnh chi phí này cho từng loại sản phẩm, từng đối tượng theo yêu cầu QTDN Đểtheo dõi chi phí sản xuất chung, kế toán sử dụng TK627 “chi phí sản xuất chung”,TK641 để theo doixchi phí bán hàng và TK642 để theo dõi chi phí quản lý doanhnghiệp Các tài khoản này được mở chi tiết theo các tài khoản cấp 2 tương ứng

Trang 16

* Thu thập thông tin về kế toán chi tiết doanh thu

Việc tổ chức kế toán chi tiết doanh thu tiêu thụ phải được tiến hành riêngthành doanh thu tiêu thụ ra bên ngoài và doanh thu tiêu thụ nội bộ và thành cáckhoản doanh thu tương ứng sau:

- Doanh thu bán hàng

- Doanh thu bán hàng bị chiết khấu

- Doanh thu của hàng hóa đã bán, lao vụ đã cung cấp hoặc bị trả lại khôngđược chấp nhận

- Doanh thu bị giảm giá do giảm giá hàng bán

Ngoài ra doanh thu bán hàng ra bên ngoài và doanh thu bán hàng nội bộ đềuphải được tổ chức kế toán chi tiết cho từng loại hình kinh doanh, trong từng loại lạiphải tổ chức kế toán chi tiết theo từng loại sản phẩm nhằm phục vụ cho việc xácđịnh đầy đủ, chính xác kết quả kinh doanh theo yêu cầu quản lý tài chính và lập báobáo kết quả kinh doanh của doanh nghiệp

Các khoản giảm trừ doanh thu: doanh thu hàng bán bị trả lại, khoản giảm giáhàng bán thực tế phát sinh trong kỳ (thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu hàng bán)phải được hạch toán chi tiết riêng trên các tài khoản, sổ kế toán liên quan

Việc hạch toán doanh thu bán hàng phải tôn trọng nguyên tắc chi phí vàdoanh thu của hoạt động sản xuất kinh doanh thực tế phát sinh phải phù hợp theoniên độ kế toán Riêng đối với sản phẩm, dịch vụ DN đã cung cấp cho khách hàng

và được khách hàng trả trước một lần cần hạch toán riêng thành khoản thu nhậntrước, sau đó sẽ tính toán kết chuyển số doanh thu tương ứng của từng kỳ vào khoảndoanh thu bán hàng

Tùy thuộc vào phương thức bán hàng mà doanh thu tiêu thụ còn cần được tổchức kế toán chi tiết thành:

- Doanh thu bán hàng thu tiền ngay

- Doanh thu bán hàng người mua chưa trả

- Doanh thu bán hàng trả góp

Trang 17

- Doanh thu bán hàng đại lý (ký gửi)

- Doanh thu nhận trước

Các DN có hoạt động xuất khẩu còn phải mở sổ chi tiết để theo dõi doanhthu hàng xuất khẩu

Trường hợp hàng bán còn phải chịu các loại thuế suất khác nhau, doanhnghiệp còn phải theo dõi chi tiết doanh thu theo từng loại thuế suất

Các chứng từ gốc liên quan đến hóa doanh thu thực tế phát sinh là các hóađơn bán hàng, hóa đơn giá trị gia tăng, bảng kê hàng bán lẻ Việc tổ chức các hóađơn chứng từ này cũng cần xuất phát từ yêu cầu thông tin chi tiết về doanh thutương ứng với chi phí để xác định kết quả Để tổ chức kế toán chi tiết doạnh thuphải:

Xây dựng hệ thống chứng từ kế toán: doanh nghiệp phải thực hiện đầy đủ cácchứng từ hóa đơn theo qui định Vận dụng tài khoản kế toán để kế toán chi tiếtdoanh thu: TK 511 “doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ” Để theo dõi chi tiếtdoanh thu, tài khoản này được mở thành các tài khoản cấp 2, cấp 3 tương ứng tùytheo yêu cầu quản trị của mỗi doanh nghiệp

* Tổ chức hệ thống sổ kế toán để thu nhập thông tin thực hiện về chi phí, doanh thu, phục vụ yêu cầu quản trị doanh nghiệp

Để thu nhập thông tin thực hiện về chi phí, doanh thu kết quả phục vụ yêucầu QTDN, KTQT cần sử dụng hệ thống các sổ kế toán chi tiết về chi phí, doanhthu

- Nội dung của sổ kế toán chi tiết chi phí phải đảm bảo theo dõi chi tiết từngkhoản mục chi phí, yếu tố chi phí kết hợp với việc nhận dạng chi phí biến đổi và chiphí cố định Phân tích được chi phí theo từng đối tượng tập hợp chi phí đã xác địnhphù hợp về yêu cầu cung cấp thông tin chi tiết về chi phí để vửa phục vụ yêu cầuquản lý chi phí đáp ứng yêu cầu xác định kết quả từng hoạt động, từng mặt hàng phù hợp với việc hạch toán ban đầu và theo yêu cầu của nhà QTDN

Trang 18

- Nội dung sổ chi tiết doanh thu, phải phán ánh được chi tiết doanh thu theoyêu cầu cung cấp thông tin phục vụ quản trị doanh thu đồng thời phải đảm bảo sựtương thích về đối tượng cần theo dõi chi tiết giữa doanh thu với chi phí để xác địnhkết quả chi tiết theo yêu cầu quản trị Thông thường sổ chi tiết doanh thu được mởcho từng loại sản phẩm.

* Tổ chức hệ thống báo các thực hiện

Để giúp các nhà quản trị thực hiện chức năng kiểm soát, các kế toán viênKTQT sử dụng các số liệu chi tiết về chi phí, doanh thu thực hiện trên các sổ kếtoán liên quan để soạn thảo các báo cáo thực hiện Trong đa số các báo cáo thựchiện, KTQT nên vừa trình bày các thông tin thực hiện, vừa trình bày những thôngtin về dự toán (kế hoạch) tương tứng để đảm bảo so sánh những kết quả thực tế đạtđược với dự toán, liệt kê tất cả những sự khác biệt giữa thực hiện với dự toán đểgiúp cho các nhà QTDN đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch (dự toán) Việc tổchức các báo cáo KTQT cần đảm bảo các yêu cầu:

- Các thông tin trên báo cáo phải được phân chia thành các chỉ tiêu phù hợpvới các tiêu chuẩn đánh giá thông tin trong mỗi tinh huống quyết định khác nhau;

- Các chỉ tiêu trong báo cáo có quan hệ chặt chẽ, loogic với nhau;

- Các số liệu thực tế, dự toán, định mức hoặc các mục tiêu định trước trongbáo cáo phải so sánh được với nhau để giúp các nhà QTDN sử dụng thông tin thựchiện chức năng kiểm soát các hoạt đông;

- Hình thức kết cấu các báo cáo cần đa dạng, linh hoạt tùy thuộc vào tiêuchuẩn đánh giá thông tin trong mẫu báo cáo phục vụ cho từng tình huống cụ thể;

- Các chỉ tiêu trong báo cáo thực hiện nên được phân bổ theo loại sản phẩm,mặt hàng theo khu vực, thời gian, bộ phận;

- Thông tin về chi phí trong các báo cáo kiểm soát KTQT cần phải phân tíchchi phí thành biến phí và định phí

1.2.3 Lập dự toán trong các doanh nghiệp sản xuất

1.2.3.1 Lập dự toán tiêu thụ trong các doanh nghiệp sản xuất

Trang 19

Quá trình sản xuất kinh doanh phải định hướng đầu ra cho sản phẩm Dovậy, dự toán tiêu thụ sản phẩm là dự toán quan trọng nhất và có tính quyết định đốivới các dự toán khác.Dự toán tiêu thụ quyết định dự toán sản xuất Dự toán tiêu thụđược lập dựa trên dự báo tiêu thụ Dự toán tiêu thụ bao gồm những thông tin vềchủng loại, số lượng hàng bán, giá bán và cơ cấu sản phẩm tiêu thụ.

Dự toán

doanh thu =

Dự toán sảnphẩm tiêu thụ X

Đơn giá bántheo dự toán

Để lập dự toán tiêu thụ phải dựa trên những cơ sở như: tình hình tiêu thụ các

kỳ kế toán trước, chu kỳ sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, chính sách giá cả sản phẩm,khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ, xu hướng phát triển kinh tế của ngành, cácchính sách chế độ của nhà nước, khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp kháctrên thị trường

Trên cơ sở mục tiêu theo từng thời kỳ của doanh nghiệp, dự toán tiêu thụphải được lập cụ thể theo từng vùng, theo từng bộ phận, từng sản phẩm Như vậy,

nó không đỡ nhà quản trị trong việc tổ chức thực hiện mà còn cho phép đánh giá kếtquả và thành tích của các vùng khi so sánh kết quả thực hiện và mục tiêu đạt được

1.2.3.2 Lập dự toán chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp sản xuất

- Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: để lập dự toán nguyên vật liệu

trực tiếp cần xác định: định mức tiêu hao nguyên liệu để sản xuất một sản phẩm;đơn giá xuất nguyên vật liệu; mức độ dự trữ nguyên vật liệu trực tiếp vào cuối kỳ

dự toán được tính toán trên cơ sở lý thuyết quản trị tồn kho

- Dự toán chi phí nhân công trực tiếp:dự toán chi phí nhân công trực tiếp

được xây dựng từ dự toán sản xuất Mục tiêu cơ bản của dự toán chi phí nhân côngtrực tiếp là duy trì lực lượng lao động để đáp ứng vừa đủ để đáp ứng yêu cầu sảnxuất, tránh tình trạng lãng phí sử dụng lao động Dự toán lao động còn là cơ sở đểdoanh nghiệp lập dự toán về đào tạo, tuyển dụng trong quá trình hoạt động sản xuất

Để lập dự toán chi phí này, doanh nghiệp phải dựa vào số lượng nhân công,quỹ lương, cách phân phối lương và nhiệm vụ của doanh nghiệp Khi lập dự toán

Trang 20

chi phí nhân công trực tiếp, doanh nghiệp cần xây dựng: định mức lao động để sảnxuất sản phẩm, tiền công cho từng giờ lao động hoặc từng sản phẩm nếu doanhnghiệp trả lương theo sản phẩm.

- Dự toán chi phí sản xuất chung: chi phí sản xuất chung là các chi phí liên

quan đến phục vụ và quản lý hoạt động sản xuất, phát sinh trong phân xưởng Chiphí sản xuất chung bao gồm cả yếu tố chi phí biến đổi và chi phí cố định Do vậy,

dự toán chi phí sản xuất chung phải tính đến cách ứng xử chi phí để xây dựng mứcphí dự toán hợp lý trong kỳ Dự toán chi phí sản xuất chung ở các doanh nghiệp sảnxuất thường được xem là một nhiệm vụ cơ bản nhằm giảm thấp chi phí và giá thànhsản phẩm

Dự toán biếnphí bán hàng

1.2.3.4 Lập dự toán chi phí quản lý doanh nghiệp

Dự toán chi phí quản lý doanh nghiệp thường phụ thuộc vào cơ cấu tổ chứccủa doanh nghiệp

Dự toán chi phí

Dự toán địnhphí QLDN +

Dự toán biếnphí QLDNĐối với định phí quản lý doanh nghiệp thường không thay đổi theo mức độhoạt động, việc lập dự toán định phí QLDN căn cứ vào dự báo các nội dung cụ thểcủa từng yếu tố chi phí để xác định chính xác định phí theo dự toán

1.2.3.5 Lập dự toán chi phí tài chính

Trang 21

Căn cứ vào tỷ suất lãi vay và số tiền vay Tuy nhiên, khoản này thường cốđịnh, nó chỉ biến động hàng năm theo mức vay vốn của doanh nghiệp.

1.2.3.6 Lập dự toán linh hoạt

Dự toán chi phí linh hoạt là dự toán chi phí được lập cho các quy mô hoạtđộng khác nhau giúp nhà quản trị có thể so sánh chi phí thực tế ở các mức hoạtđộng khác nhau, từ đó có thể đưa ra các quyết định về giá bán sản phẩm trong điềukiện các mức sản lượng khác nhau, đảm bảo công ty vẫn có lợi nhuận và có thể đưa

ra các mức giá có thể cạnh tranh được với đối thủ Đồng thời dự toán linh hoạt làcăn cứ để xác định kết quả kinh doanh chính xác hơn dự toán tĩnh Một dự toán tĩnhchỉ được lập ở một mức độ hoạt động và chọn mức độ kế hoạch làm gốc so sánh, vìvậy sự so sánh sẽ thiếu chính xác do so sánh chi phí ở mức độ hoạt động khác nhau

Để lập dự toán chi phí linh hoạt cần phải tiến hành các công việc sau:

+ Xác định phạm vi hoạt động trong kỳ kế hoạch

+ Phân tích các chi phí có thể sẽ phát sinh trong phạm vi phù hợp theo môhình ừng xử chi phí (khả biến, bất biến, hỗn hợp)

Biến phí đơn vị kế hoạch = Tổng biến phí kế hoạch

Mức hoạt động kế hoạch+ Lập kế hoạch linh hoạt điều chỉnh theo mức hoạt động thực tế

Tổng biến phí đã điều

Mức hoạtđộng thực tế X

Biến phí đơn

vị kế hoạchĐối với định phí thường không thay đổi khi lập kế hoạch kinh doanh do mứchoạt động thực tế vẫn nằm trong phạm vi điều chỉnh mà trong đó định phí chưa thayđổi

Dựa vào kế hoạch linh hoạt tính theo mức hoạt động thực tế, việc đánh giátình hình chi phí tại đơn vị có ý nghĩa thực tiễn hơn do chi phí thực tế và kế hoạchlinh hoạt đều dựa vào một mức hoạt động tương đương

1.2.3.7 Lập dự toán giá thành sản phẩm

Trang 22

Dự toán giá thành sản phẩm có vai trò quan trọng trong công tác quản trị Dựtoán giá thành có thể lập theo các phương pháp sau:

- Lập dự toán giá thành theo phương pháp toàn bộ: theo phương pháp này,

giá thành sản phẩm được tính theo công thức

- Lập dự toán giá thành theo phương pháp trực tiếp: giá thành sản phẩm

Trường hợp không thể phân loại ngay thành biến phí và định phí thì chi phínày sẽ được theo dõi riêng, đến cuối kỳ sẽ phân tích thành biến phí và định phí Kếtoán sẽ tổng hợp toàn bộ biến phí sản xuất để tính giá thành sản phẩm, lúc này giáthành đơn vị được xác định:

Giá thành đơn vị

Tổng biến phí sản xuấtSản lượng sản phẩm hoàn thành trong kỳPhương pháp trực tiếp đã loại trừ được hạn chế của phương pháp toàn bộtrong việc phân bổ chi phí chung cho đơn vị sản phẩm, phương pháp này được sử

Trang 23

dụng nhiều trong KTQT như: định giá sản phẩm, lập dự toán linh hoạt, lập báo cáothu nhập theo số dư đảm phí, ứng dụng trong phân tích mối quan hệ chi phí, khốilượng và lợi nhuận, xác định sản lượng hòa vốn

1.2.4 Kiểm tra và đánh giá tình hình thực hiện dự toán trong doanh nghiệp sản xuất

Trọng tâm của nội dung này là chuyển từ việc lập dự toán sang việc kiểm trađánh giá các kết quả thực tế trong mối quan hệ với kết quả kế hoạch hoặc dự án đãxây dựng thông qua việc lập và sử dụng các báo cáo kế toán nội bộ Các báo cáophải đảm bảo phục vụ tốt cho quản lý đơn vị theo mức độ phân cấp nhằm sử dụnghợp lý, tiết kiệm nguồn lực, đem lại hiệu quả cao nhất Tùy thuộc vào mức độ phâncấp quản lý và trách nhiệm, yêu cầu quản lý quá trình sản xuất kinh doanh ở cácđơn vị: có thể chỉ có trách nhiệm quản lý đối với chi phí phát sinh ở đơn vị khi đóđơn vị trở thành trung tâm chi phí hoặc có trách nhiệm quản lý kết quả SXKD thìđơn vị trở thành trung tâm lợi nhuận Với tư cách là trung tâm chi phí đơn vị phảilập các báo cáo kế toán phản ánh tình hình chi phí, bao gồm cả chi phí dự toán vàchi phí thực tế phát sinh theo yêu cầu phân tích, đánh giá tình hình thực hiện dựtoán chi phí, vạch ra những nguyên nhân chênh lệch so với dự toán và trách nhiệmcủa các bộ phận, cá nhân có liên quan Trong các DNSX, trung tâm chi phí thường

tổ chức gắn liền với các bộ phận, đơn vị thực hiện chức năng sản xuất kinh doanh

và có thể chia thành ba trung tâm: trung tâm cung ứng, trung tâm sản xuất, trungtâm tiêu thụ và trung tâm quản lý

- Đối với trung tâm cung ứng: báo cáo về tình hình cung ứng các yếu tố đầuvào như NVL chính, phụ, nhiên liệu ; giá thực tế mua vào, chi phí vận chuyển;chất lượng vật tư

- Đối với trung tâm sản xuất: báo cáo chi phí sản xuất bao gồm chi phiNVLTT, chi phí NCTT và chi phí SXC Báo cáo kết quả của trung tâm sản xuấtphải được lập chi tiết theo từng công đoạn sản xuất, từng phân xưởng sản xuất đểkiểm soát chi phí gắn với trách nhiệm quản lý của từng bộ phận

Trang 24

- Đối với trung tâm tiêu thụ: báo cáo về chi phí bán hàng của từng bộ phậntiêu thụ sản phẩm

- Đối với trung tâm quản lý: báo cáo về chi phí quản lý doanh nghiệp, kiểmsoát chi phí của từng phòng ban chức năng thuộc bộ phận quản lý doanh nghiệp

- Đối với trung tâm lợi nhuận: tương tự trung tâm chi phí, trước tiên lập cácbáo cáo phản ánh tình hình chi phí, sau đó xây dựng hệ thống báo cáo các dự toánsản lượng, doanh thu, chi phí đến dự toán kết quả kinh doanh

Các báo cáo này phải được tổ chức lập định kỳ ngắn theo khả năng và điềukiện cho phép của đơn vị Nội dung phân tích qua các báo cáo của trung tâm chi phíbao gồm:

- Phân tích tình hình thực hiện dự toán của đơn vị: Trên cơ sở số liệu báo

cáo tiến hành lập bảng so sánh chi phí thực tế với chi phí dự toán sau khi đã điềuchỉnh theo cùng sản lượng thực tế Số chênh lệch qua so sánh chỉ ra tình hình thựchiện dự toán chi phí theo từng khoản mục cũng như toàn bộ chi phí

- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự biến động của từng khoản mục chi phí: Các khoản mục chi phí bao gồm yếu tố lượng và yếu tố giá Bằng phương pháp

phân tích phù hợp sẽ xác định được ảnh hưởng của từng nhân tố Ảnh hưởng củatừng nhân tố sẽ chỉ ra trách nhiệm quản lý của các bộ phận liên quan

Việc đánh giá trách nhiệm quản lý của các bộ phận thuộc các trung tâm chiphí thông qua các báo cáo trách nhiệm của từng trung tâm chi phí phải đạt được cácmục tiêu như: đánh giá mức độ hoàn thành kế hoạch sản xuất trong liên hệ với kếhoạch tiêu thụ, đánh giá mức độ hoàn thành các định mức và dự toán chi phí, kiểmsoát chi phí trong mối quan hệ với doanh thu ước tính và mục đích gia tăng thuậnlợi và xác định các nguyên nhân chủ quan và khách quan đến tình hình thực hiệncác định mức dự toán chi phí

Các báo cáo của các bộ phận ở cấp quản lý còn thấp đòi hỏi mức độ càng chitiết Để đánh giá chính xác trách nhiệm của bộ phận quản lý đối với các chi phíthuộc phạm vi mình kiểm soát thì chi phí phải được phân thành chi phí và định phí

Trang 25

trong các báo cáo bộ phận do con người chi phí phát sinh tại bộ phận thì các bộphận còn gánh chịu phần định phí do cấp trên phân bổ, các chi phí này nằm ngoàitầm kiểm soát của các nhà quản lý thuộc bộ phận mà mình phụ trách.

1.2.5 Phân tích thông tin doanh thu, chi phí phục vụ cho việc ra quyết định

Từ những thông tin được thu thập, KTQT tiến hành phân tích các thông tinnày để tư vấn cho các nhà quản trị phương án kinh doanh cho doanh nghiệp

Phân tích mối quan hệ giữa chi phí - khối lượng - lợi nhuận (CVP): không

chỉ giúp doanh nghiệp đánh giá tổng quát quá trình kinh doanh và các nhân tố đãảnh hưởng đến tình hình thực hiện lợi nhuận mà còn là phương pháp phân tích dựatrên những dữ liệu mang tính dự báo phục vụ cho các quyết định quản trị trong việcđiều hành hoạt động hiện tại và hoạch định kế hoạch tương lai KTQT chi phí cầnphải giải thích những thay đổi của chi phí trong mối quan hệ chi phí – khối lượng –lợi nhuận để có cách nhìn tốt hơn về sự biến động của chi phí, cung cấp thong tinhữu ích cho các nhà quản trị để đề ra các quyết định về giá bán sản phẩm, lựa chọnkết cấu sản phẩm hay thay đổi mức sản lượng tiêu thụ để đạt được mức lãi mongmuốn

Nội dung phân tích CVP gồm:

- Phân tích điểm hòa vốn: Điểm hòa vốn là cơ sở giúp cho nhà quản trị xây

dựng kế hoạch và xác định các phương án kinh doanh một cách chủ động để đạtđược kết quả dự kiến trong những điều kiện nhất định về doanh thu, giá bán, chiphí… Trên cơ sở số liệu chi phí đã phân tích thành biến phí và định phí, ta thực hiệnmột số nội dung phân tích sau:

Tổng chi phí cố địnhĐiểm hòa vốn (đvsp) =

Giá bán đơn vị - Chi phí biến đổi đơn vịTrên cơ sở sản lượng hòa vốn kế toán xác định doanh thu hòa vốn, tỷ lệ hòa vốn

và xác định số dư an toàn

Mặc dầu điểm hòa vốn không phải là mục tiêu hoạt động của DN nhưng phântích điểm hòa vốn sẽ chỉ ra mức độ hoạt động cần thiết để tránh lỗ

Trang 26

Ứng dụng của mô hình phân tích chi phí - sản lượng - lợi nhuận cung cấp cácthông tin có giá trị liên quan đến cách ứng xử chi phí tại các mức tiêu thụ khácnhau, tập trung ở các nội dung sau:

- Phân tích mức sản lượng cần thiết để đạt mức lợi nhuận mong muốn

- Phân tích sự ảnh hưởng của thay đổi chi phí đến lợi nhuận

- Phân tích sự ảnh hưởng của kết cấu mặt hàng đối với sự thay đổi của lợinhuận

- Phân tích sự thay đổi của giá bán đến lợi nhuận

Những vấn đề cơ bản của phân tích mối quan hệ chi phí - sản lượng - lợinhuận:

- Số dư đảm phí: là phần chênh lệch giữa doanh thu với biến phí sản xuất kinhdoanh Chỉ tiêu số dư đảm phí có ý nghĩa trong việc vận dụng phân tích mối quan

hệ CVP Số dư đảm phí trước hết dùng để trang trải định phí, phần còn lại là lợinhuận thuần của doanh nghiệp Nó thể hiện phần đóng góp của bộ phận sản phẩmtạo nên lợi nhuận Bộ phận nào có số dư đảm phí lớn sẽ có khả năng đóng gópnhiều hơn và việc gia tăng lợi nhuận

- Tỷ lệ số dư đảm phí: là chỉ tiêu biểu hiện mối quan hệ bằng số tương đối quan

hệ tỷ lệ số dư đảm phí với doanh thu hoặc giữa phần đóng góp với đơn giá bán Khiđạt mức sản lượng trên điểm hòa vốn, doanh thu tăng lên lợi nhuận sẽ tăng một mứcbằng tích tỷ lệ số dư đảm phí với doanh thu

Tuy nhiên, các công cụ phân tích này có một số hạn chế vì nó dựa trêngiả thuyết kết cấu sản phẩm cố định, tồn kho không thay đổi, công suất máy mócthiết bị không thay đổi, giá trị đồng tiền ổn định…Vì vậy, tính khả thi và sự chínhxác khi ra quyết định dựa vào quan hệ CVP cần phải xem xét trong những điều kiệncần thiết Trong khi đó, các nhà quản trị lại phải thường xuyên đưa ra các quyếtđịnh phức tạp, khó khăn trước sự biến động của các thông tin phức tạp liên quanđến hoạt động SXKD Do đó, cần có một phương pháp khoa học tổng hợp, phântích và báo cáo ngắn gọn, nhanh chóng những thông tin cần thiết đảm bảo cho việc

Trang 27

ra quyết định của nhà quản trị chính xác hơn, đó chính là phương pháp phân tíchthông tin chi phí thích hợp cho việc ra quyết định.

Quyết định kinh doanh gắn liền với những hành động và KQKD trong tươnglai Khi lựa chọn quyết định kinh doanh, nhà quản trị phải xem xét nhiều mục tiêukhác nhau như cần đạt tới sự cực đại về lợi nhuận, cực đại về doạnh số, giảm thiểuchi phí, tăng chất lượng phục vụ, sự tồn tại, ổn định của doanh nghiệp Tuy nhiên,xét về mặt kinh tế thì tiêu chuẩn lựa chọn trong quyết định ngắn hạn là phương án

có thu nhập cao nhất hoặc chi phí thấp nhất, tạo ra sự gia tăng về lợi nhuận

Thông tin về chi phí và thu nhập là thông tin thích hợp cho việc ra quyết địnhngắn hạn thì phải đạt hai tiêu chuẩn cơ bản:

- Thông tin đó phải liên quan đến tương lai;

- Thông tin đó phải có sự khác biệt giữa các phương án đang xem xét và lựachọn

Các thông tin không thỏa mãn cả hai hoặc một trong hai tiêu chuẩn trên là cácthông tin không thích hợp đối với các quyết định ngắn hạn, cụ thể:

- Thông tin không liên quan đến tương lai, nói cách khác đó là nhứng thôngtin quá khứ: một khoản đã thu, hoặc đã chi trong quá khứ có liên quan tới tìnhhuống bạn đang xét, như phân tích ở nội dung trên, sẽ không thay đổi được cho dùquyết định như thế nào Chi phí chìm luôn tồn tại với mọi phương án, chúng luônbằng nhau và do đó khi so sánh những dòng chi phí các phương án đang xem xétlựa chọn, khoản chi phí này sẽ triệt tiêu nhau Vì vậy, chi phí chìm luôn là thông tinkhông thích hợp cho việc ra quyết định ngắn hạn;

- Thông tin không có sự khác biệt giữa các phương án đang xem xét và lựachọn Thông tin về chi phí, thu nhập đã phát sinh trong quá khứ luôn là thông tinkhông có tính chênh lệch, và không phải là thông tin thích hợp Còn những thôngtin về thu nhập và chi phí cho dù có liên quan đến tương lai song không có sự khácbiệt giữa các phương án đang xem xét thì chúng luôn triệt tiêu nhau khi so sánhdòng chi phí và dòng thu nhập của các phương án đó, cho nên những thông tin này

Trang 28

không có ý nghĩa trong so sánh Vì vậy, chúng là những thông tin không thích hợpcho việc ra quyết định ngắn hạn

Việc nhận diện thông tin thích hợp giúp cho nhà quản trị nhìn nhận nhanhchóng những vấn đề chủ yếu thông qua những thông tin đã chọn lọc nhưng vẫn đảmbảo tính khoa học, để có quyết định kịp thời, đúng đắn và hiệu quả

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Chương 1 của luận văn đã đi sâu tìm hiểu và giải quyết các vấn đề cơ bảnsau: khái niệm, bản chất của KTQT doanh thu, chi phí; các cách phân loại chi phítrong DNSX; tổ chức thu nhập thông tin, lập dự toán, kiểm tra và đánh giá tình hìnhthực hiện dự toán trong DNSX ; phân tích thông tin doanh thu, chi phí phục vụ choviệc ra quyết định

Đây là những cơ sở lý luận làm tiền đề cho việc phân tích, đánh giá thựctrạng và hoàn thiện KTQT doanh thu, chi phí tại Công ty Cổ phần sách & thiết bịtrường học Đà Nẵng Ngoài ra, những nghiên cứu trên còn góp phần quan trọng vàoviệc nhận thức thống nhất và đúng đắn hơn về KTQT cũng như KTQT doanh thu,chi phí tạo điều kiện bước đầu giúp các doanh nghiệp nghiên cứu vận dụng trongviệc tổ chức KTQT ở doanh nghiệp mình

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ DOANH THU,

CHI PHÍ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN SÁCH & THIẾT BỊ

TRƯỜNG HỌC ĐÀ NẴNG2.1 Tổng quan về Công ty Cổ phần sách và thiết bị trường học Đà Nẵng

2.1.1 Quá trình hành thành và phát triển của Công ty CP sách và thiết bị trường học Đà Nẵng

Trang 29

* Quá trình hình thành:

Công ty sách và thiết bị trường học Đà Nẵng là doanh nghiệp Nhà nướcđược thành lập theo Thông tư số 14/TT-TC ngày 10/06/1982 của Bộ Giáo dục vàĐào tạo, trực thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng Năm

2004 thực hiện chủ trương cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, công ty đã xâydựng phương án cổ phần hóa và ngày 24/02/2004 Uỷ Ban Nhân Dân Thành Phố(TP) Đà Nẵng ra Quyết định số 26/2004/QĐ-UB “Phê duyệt phương án cổ phầnhóa, chuyển Công ty sách và thiết bị trường học Đà nẵng thành Công ty cổ phầnsách và thiết bị trường học Đà Nẵng”

* Các giai đoạn phát triển của Công ty đến nay:

Giai đoạn từ năm 1986 trở về trước: Trong giai đoạn này, nền kinh tế mangtính chất kế hoạch hoá tập trung, các doanh nghiệp nhà nước được bao cấp trong kếhoạch và nguồn lực nên hiệu quả kinh tế chưa được xem trọng

Giai đoạn từ năm 1987 đến năm 1995: Giai đoạn từ năm 1987 đến đầu 1994,đây là giai đoạn Công ty làm quen với những quy luật của nền kinh tế thị trường.Khách hàng chủ yếu của công ty vẫn là các Trường học được chỉ định mua bằngnguồn kinh phí của Nhà nước Trong giai đoạn này nhà cung cấp và khách hàngCông ty chỉ có vài đơn vị Hoạt động bán lẻ chưa phát triển và không có hiệu quả.Cuối năm 1994 bằng quyết định táo bạo có tính bản lề tạo sự chuyển hướng là việcthành lập Xưởng in, thực hiện in sách cho các đối tác, sản lượng trang in đạt 972triệu trang in và bắt đầu mở các địa điểm bán lẻ, tạo nên thị trường mới và kháchhàng mới Ban lãnh đạo Công ty đã xây dựng được cơ sở vững chắc để tạo sức bậtcho giai đoạn tiếp theo Kết quả năm 1995 có sự gia tăng cách biệt so với nhữngnăm trước đó

Giai đoạn từ năm 1995 đến năm 2003: Với kết quả thu được từ hoạt độngsản xuất và đẩy mạnh bán lẻ Công ty đã có nguồn để bảo đảm thực hiện tích luỹ vàcải thiện thu nhập của người lao động Trong giai đoạn này cơ sở vật chất Công tykhông ngừng được đầu tư và phát triển về qui mô Số lượng lao động tăng mạnh từvài chục người lên trên hai trăm người Doanh số hàng năm trên 50 tỷ đồng

Trang 30

Nguồn vốn được tăng lên rất nhiều do Công ty bổ sung thêm từ quỹ đầu tư pháttriển sau thuế thu nhập doanh nghiệp Là doanh nghiệp nhà nước Hạng I liên tụctrong nhiều năm.

Giai đoạn từ năm 2004 đến nay: Thực hiện cổ phần hoá, Công ty chuyểnsang mô hình công ty cổ phần hoạt động theo Luật Doanh nghiệp Đây là bướcngoặc mới để Công ty thực hiện thay đổi phương thức quản trị, tận dụng khai thácnguồn lực về tài chính và lao động để tham gia sâu và rộng hơn vào thị trường pháthành sách và in ấn Tăng cường khả năng cạnh tranh và tăng thị phần tiêu thụ Mởrộng loại hình kinh doanh và đa dạng hoá các mặt hàng sản phẩm

2.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của công ty

Công ty cổ phần Sách và Thiết bị trường học Đà Nẵng hoạt động theo giấychứng nhận đăng ký kinh doanh số 0400465793 do Sở kế hoạch và Đầu tư TP ĐàNẵng cấp lần đầu ngày 24 tháng 05 năm 2004, đăng ký thay đổi lần thứ 3 ngày

25 tháng 5 năm 2009 Công ty có các chức năng và nhiệm vụ sau:

* Chức năng của Công ty

Kinh doanh sách giáo khoa, sách giáo viên, sách mở rộng và nâng cao kiếnthức, giấy, vở, thiết bị dạy và học, văn phòng phẩm, văn hoá phẩm, đồ thiết bị vănphòng; Sản xuất và cung ứng trang thết bị cho phòng thí nghiệm, dụng cụ nghenhìn, đồ chơi trẻ em, đồ chơi mẫu giáo, đồ dùng dạy học, thiết bị văn phòng, máy vitính, phần mềm vi tính dạy học, sản phẩm điện tử; In ấn sách giáo khoa, biểu mẫu,

hồ sơ sổ sách phục vụ ngành giáo dục và in bao bì giấy nhựa In gia công, tham giakhai thác các loại ấn phẩm khác; Cung cấp các loại hình dịch vụ: cho thuê vănphòng, mặt bằng kinh doanh, kho tàng, khách sạn nhà hàng, các loại hình vui chơigiải trí, thiết kế kỹ thuật tạo mẫu; Tư vấn cho ngành giáo dục về công tác sách vàthiết bị trường học, tham gia hỗ trợ chuyên môn và phát triển công tác sách, thiết bị,thư viện nhà trường…

* Nhiệm vụ của Công ty:

Trang 31

Tổ chức cung cấp kịp thời và khai thác nguồn thiết bị dồi dào, có tính khoahọc đưa vào phục vụ cho nhà trường nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy và họccủa thầy và trò; Tuyên truyền giới thiệu, thu thập thông tin thêm về sách, thiết bịtrường học ; Hướng dẫn, bồi dưỡng, kiểm tra đôn đốc về nghiệp vụ xây dựng, bảoquản sử dụng thư viện, tủ sách, phòng thí nghiệm ở các trường học; Liên kết với Sởgiáo dục và Đào tạo in ấn các loại sách, hồ sơ, biểu mẫu phục vụ nhu cầu dạy vàhọc; Quản lý và sử dụng nguồn vốn theo đúng chế độ, chính sách và đạt được hiệuquả kinh tế cao.

2.1.3 Đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh của Công ty

2.1.3.1 Đặc điểm mặt hàng kinh doanh và thị trường tiêu thụ

Công ty CP sách và thiết bị trường học Đà Nẵng kinh doanh các loại mặthàng sách và thiết bị trường học đặc thù phục vụ cho việc dạy và học của giáo viên

và học sinh trên địa bàn Miền Trung và Miền Nam, nhằm phục vụ ngày càng tốtcho sự nghiệp giáo dục và đào tạo, vì phát triển giáo dục là một trong những nhiệm

vụ quan trọng hàng đầu của chiến lược xây dựng và phát triển của đất nước Nhànước và toàn xã hội cùng chung sức chăm lo cho sự nghiệp giáo dục

* Các mặt hàng do Công ty cung cấp rất đa dạng và phong phú, bao gồm:+ Sách giáo khoa, sách tham khảo, giấy vở, đồ dùng học tập;

+ Trang thiết bị cho phòng thí nghiệm, trang thiết bị nghe nhìn và đồ dùnggiảng dạy của giáo viên;

+ Văn phòng phẩm, đồ lưu niệm, đồ chơi trẻ em;

+ Hiện Công ty thực hiện phân phối cho nhiều nhà xuất bản như: Nhà xuấtbản (NXB) Đà Nẵng, NXB giáo dục, NXB trẻ, NXB Kim Đồng, NXB Thanh Niên.Nguồn cung cấp thiết bị cho Công ty là Công ty giáo dục 1 Hà Nội, Công ty giáodục thiết bị 2 Sài Gòn

+ Ngoài ra Công ty còn tổ chức in ấn, sản xuất sản phẩm phục vụ cho nhucầu của khách hàng

* Công ty có thị trường tiêu thụ rộng khắp Miền Trung và Miền Nam thông

qua hệ thống bán buôn và hệ thống bán lẻ tại các nhà sách tự chọn

Trang 32

2.1.3.2 Đặc điểm tổ chức mạng lưới tiêu thụ

Mục tiêu hiện tại và tương lai của công ty là cung cấp kịp thời và khai thácnguồn sách và thiết bị dồi dào, có tính khoa học đưa vào phục vụ cho nhà trườngnhằm nâng cao chất lượng giảng dạy và học của thầy và trò; phục vụ tận tay người

tiêu dùng Để thực hiện được mục tiêu đề ra, ngoài Văn phòng Công ty CP sách

thiết bị trường học Đà Nẵng đặt tại 78 Bạch Đằng - Quận Hải Châu - Thành Phố ĐàNẵng thực hiện công tác quản lý và kinh doanh bán buôn Công ty còn bố trí một hệthống các nhà sách tự chọn bán lẻ nằm khắp các Quận TP Đà Nẵng:

1 Nhà sách Đà Nẵng: 76-78 Bạch Đằng - TP Đà Nẵng;

2 Nhà sách Đà Nẵng 3: số 409 Phan Chu Trinh - TP Đà Nẵng;

3 Nhà sách Hoà Khánh: 812 Tôn Đức Thắng - Q.Liên Chiểu - TP Đà Nẵng;

4 Nhà sách Cẩm Lệ: số 42 Ông Ích Đường - Quận Cẩm Lệ - TP Đà Nẵng;

5 Nhà sách Sông Hàn: số 44 Trần Quang Diệu – Q.Sơn Trà - TP Đà Nẵng;

6 Nhà Sách Sơn Trà: 250 Ngô Quyền - Quận Sơn Trà - TP Đà Nẵng

2.1.3.3 Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm

Hiện nay công ty đang áp dụng quy trình công nghệ in offset có thể đảmnhận in những sản phẩm phức tạp với số lượng và chất lượng cao

Một sản phẩm in được hoàn thành trải qua 3 giai đoạn:

- Giai đoạn trước khi in: giai đoạn này còn gọi là quá trình chế bản, gồm: chếtạo và khuôn in Sau khi nhận được đơn đặt hàng, bộ phận tạo mẫu tiến hành sắp

xếp chữ, thiết kế trang in → thiết kế mẫu Căn cứ mẫu đã được thết kế bộ phận làm phim chụp ép lên phim, nhân phim lên nhiều bản → chế tạo khuôn Từ chương bản tạo ra các bản kẽm → bình bản, phơi bản Cuối cùng bản kẽm chuyển qua bộ phận

in → in.

- Giai đoạn in: tiến hành in sản phẩm

- Giai đoạn sau khi in: đối với sản phẩm cần đánh số liên tục sau khi in xongchuyển sang bộ phận dập số, sau đó chuyển sang khâu cắt, xén, kiểm tra và nhậpkho Đối với sản phẩm khác (nhãn, thiệp, tạp chí, sách giáo khoa…) sau khi in xongchuyển sang khâu gia công: vạch, khâu, ép gáy, vô bìa

Trang 33

2.1.4 Đặc điểm tổ chức công tác quản lý tại công ty

Để quản lý và điều hành mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của Công tynhằm đạt hiệu quả kinh tế như mong muốn Công ty CP sách và thiết bị trường học

Đà Nẵng đã tổ chức bộ máy quản lý theo mô hình trực tuyến chức năng, phù hợpvới quy mô và đặc điểm SXKD của công ty

Với mô hình này, bộ máy quản lý của Công ty CP sách và thiết bị trường học

Đà Nẵng gọn gàng, tương đối khoa học, phù hợp với yêu cầu quản lý và điều hànhnhiệm vụ SXKD Ở đây có sự phân công nhiệm vụ, phân cấp chặt chẽ, rạch ròi,phân định nhiệm vụ cụ thể giữa Ban giám đốc, các phòng ban trong Công ty và cácđơn vị trực thuộc tạo nhiều thuận trong quá trình chỉ đạo thực hiện hoạt độngSXKD và quy trách nhiệm nếu sai sót Với cách tổ chức bộ máy quản lý như trên cóthể thấy tại công ty các hoạt động của các bộ phận đều chịu sự giám sát chặt chẽtheo quan hệ chức năng, đảm bảo sự điều hành và kiểm soát trực tiếp từ trên xuống,các thông tin được phản hồi nhanh chóng, chính xác, góp phần tạo môi trường kiểmsoát tốt Chức năng và nhiệm vụ của các bộ phận hợp thành cơ cấu tổ chức như sau:

Đại hội đồng cổ đông: Là cơ quan có thẩm quyền cao nhất của Công ty Có

các quyền sau: Thông qua sửa đổi, bổ sung Điều lệ, kế hoạch phát triển của Công

ty, thông qua báo cáo tài chính hàng năm, các báo cáo của ban kiểm soát, củaHĐQT và của các kiểm toán viên

Hội đồng quản trị: Hội đồng quản trị là cơ quan quản trị cao nhất của Công

ty, có đầy đủ quyền hạn để thay mặt Công ty quyết định các vấn đề liên quan đếnmục tiêu và lợi ích của Công ty, ngoại trừ các vấn đề thuộc quyền hạn của Đại hộiđồng Cổ đông, Hội đồng

Ban kiểm soát: Ban kiểm soát có nhiệm vụ kiểm tra tính hợp pháp, chính xác

và trung thực trong quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh, trong ghi chép sổ sách

kế toán, BCTC và việc chấp hành Điều lệ Công ty, Nghị quyết, Quyết định củaHĐQT, quyết định của Chủ Tịch HĐQT

Ban giám đốc: Ban giám đốc gồm Giám đốc và 2 Phó Giám đốc do Hội đồng

quản trị quyết định bổ nhiệm

Trang 34

Giám đốc: Là người lãnh đạo cao nhất của Công ty, có trách nhiệm tổ chức

điều hành mọi hoạt động của Công ty trước pháp luật, trước cơ quan quản lý cấptrên và trước toàn thể cán bộ công nhân viên Giúp việc cho Giám đốc còn có 2 PhóGiám đốc, 2 Phó giám đốc này có trách nhiệm tham mưu cho Giám đốc về kế hoạchsản xuất, kinh doanh, về công tác quản lý cán bộ, theo dõi hoạt động kinh doanh củacác đơn vị trực thuộc, theo dõi việc thực hiện kế hoạch Cụ thể như sau:

- Phó giám đốc kinh doanh: Chịu trách nhiệm về các công việc liên quan đến

các hoạt động kinh doanh sách và các sản phẩm khác, theo dõi hoạt động tại Nhàmáy in và Chi nhánh tại TP Hồ Chí Minh; Làm công tác chuyên môn: Hỗ trợ SởGiáo dục và Đào tạo Đà Nẵng trong việc đánh giá chất lượng các thư viện ở cáctrường học trong địa bàn Thành Phố

- Phó giám đốc hành chính: Theo dõi các công việc hành chính, nhân sự và

xây dựng cơ sở vật chất trong công ty

Nhà máy in: Thực hiện tốt nhiệm vụ sản xuất Công ty giao; quản lý chặt chẽ

lực lượng lao động làm việc tại Nhà máy in; bảo đảm sử dụng lao động một cáchhợp lý và có hiệu quả, phù hợp với công nghệ và dây chuyền sản xuất; thực hiện tổchức và giám sát nghiêm túc các quy định về quy trình kỹ thuật và an toàn lao động,định mức kinh tế kỹ thuật; sử dụng và bảo quản máy móc thiết bị, vệ sinh lao động,phòng cháy chữa cháy; sử dụng vật tư tiêu hao theo đúng định mức quy định, bảođảm lượng vật tư cần thiết cho hoạt động sản xuất nhưng không để ứ đọng gây lãngphí nguồn vốn

Chi nhánh Công ty tại Thành Phố Hồ Chí Minh: Kinh doanh mua bán các

loại sách, vở, giấy, văn phòng phẩm, văn hoá phẩm và dụng cụ dạy học; đượcCông ty thực hiện phân cấp quản lý tài chính, tổ chức hạch toán kế toán độc lập có

tư cách pháp nhân không đầy đủ

Phòng tổ chức-hành chính-dịch vụ: Có nhiệm vụ tham mưu cho Giám đốc

trong công tác tổ chức cán bộ, sắp xếp bố trí lao động hợp lý; tổ chức thực hiệnquản lý, giám sát dịch vụ cho thuê mặt bằng

Trang 35

Phòng Kế hoạch-tài chính: Là một bộ quan trọng trong Công ty thực hiện

các nhiệm vụ:

- Quản lý và sử dụng vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty;

- Xây dựng kế hoạch-tài chính, kế hoạch chi phí hàng năm và dài hạn;

- Phân tích tài chính, phân tích hiệu quả hoạt động của Công ty, thực hiệncung cấp đầy đủ các thông tin về hoạt động kinh tế tài chính, lập các báo cáo tàichính và báo cáo quản trị giúp cho ban giám đốc ra quyết định

- Tổ chức thực hiện hạch toán kế toán và theo dõi kiểm tra việc hạch toán kếtoán tại các đơn vị trực thuộc công ty, tuân thủ các chuẩn mực kế toán hiện hành

- Trên cơ sở kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các năm và kế hoạchcủa các phòng ban, bộ phận tổng hợp xây dựng kế hoạch tài chính cho toàn bộ hoạtđộng sản xuất kinh doanh của Công ty;

- Trên cơ sở kế hoạch tài chính hàng năm xây dựng các kế hoạch liên quannhư kế hoạch chi phí, kế hoạch tiền lương ;

- Kiểm tra và giám sát chặt chẽ nguồn vốn và tình hình sử dụng vốn tại côngty;

- Tổ chức phân công theo dõi doanh thu, mua hàng, công nợ, chi phí, vậttư cũng như vốn bằng tiền;

- Thực hiện đúng và đầy đủ các báo cáo cho các cơ quan chức năng;

- Thực hiện tính lương và thanh toán lương đúng đối tượng, đúng thời gian

và mức độ đóng góp của các thành viên các bộ phận trong Công ty

Đại hội đồng

cổ đông

Hội đồng quản trị

Nhà máy in

Phòng kế hoạch tài chính

Phòng TCHC dịch vụ

Phòng KD sách

CN Công Ty tại

TP Hồ Chí Minh

Trang 36

Hình 2.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý tại Công ty

Ghi chú: : Mối quan hệ trực tuyến

: Mối quan hệ chức năng

2.2 Thực trạng kế toán quản trị doanh thu, chi phí tại công ty CP sách

& thiết bị trường học Đà Nẵng

Thực tế có thể thấy được hệ thống KTQT vẫn còn ở mức độ thấp và công tácKTQT chưa được công ty quan tâm, tổ chức một cách khoa học

2.2.1 Tổ chức bộ máy kế toán tại công ty

Trang 37

Hình 2.2: Cơ cấu tổ chức bộ máy kế toán của công ty

Ghi chú: : Quan hệ trực tuyến

: Quan hệ chức năng

2.2.2 Phân loại chi phí sản xuất tại công ty

Hiện nay ở công ty CP sách & thiết bị trường học Đà Nẵng phân loại chi phítheo các tiêu thức sau:

2.2.2.1 Phân loại chi phí theo nội dung và tính chất

Xét theo tiêu thức này thì chi phí sản xuất của công ty được chia thành 5 yếutố: chi phí nguyên liệu, vật liệu; chi phí tiền lương và các khoản trích theo lương;chi phí khấu hao tài sản cố định; chi phí dịch vụ mua ngoài; các chi phí khác bằngtiền

+ Chi phí nguyên vật liệu chính: chi phí của các loại giấy, mực, kẽm, trong

đó giấy có các loại: Bãi bằng, Tân Mai, Couche…; mực cũng gồm nhiều loại như:mực đen Toyo, mực xanh Tân Bình, mực vàng Trung Quốc…

Kế toán công nợ

Kế toán tổng hợp

Kế toán kho

Thủ quỷ

Kế toán chi nhánh TP Hồ Chí

Minh

Trang 38

+ Chi phí vật liệu phụ: chi phí giẻ lau, giấy nhám, keo, chỉ, hóa chất …+ Chi phí bao bì: chi phí đóng thùng, đóng hàng, niềng…

+ Chi phí nhiên liệu: chi phí dầu nhờn, dầu hỏa, xăng…

+ Chi phí phụ tùng thay thế: gồm giá trị các loại bi, dây curoa, dao cắt báo…+ Chi phí CCDC bao gồm: giá trị các loại kiềm, búa…

+ Chi phí tiền lương và các khoản trích theo lương: bao gồm chi phí về tiềnlương, tiền ăn ca, tiền làm thêm giờ, các khoản trích theo lương (BHXH, BHYT,KPCĐ, BHTN) của công nhân bộ phận trực tiếp và gián tiếp sản xuất

+ Chi phí khấu hao TSCĐ: là các khoản trích khấu hao tất cả các TSCĐ sửdụng cho sản xuất kinh doanh của công ty

+ Chi phí dịch vụ mua ngoài: bao gồm chi phí sửa chữa MMTB, nhà xưởng,thuê trạm biến áp, chi phí dịch vụ điện thoại, điện nước…

+ Các chi phí khác bằng tiền: bao gồm các chi phí khác phát sinh nhưngchưa được hạch toán vào các khoản chi phí nói trên như tiền vận chuyển, bồi dưỡngđộc hại, chi phí khác thanh toán bằng tiền mặt

2.2.2.2 Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động

Theo tiêu thức này, chi phí sản xuất của Công ty chia thành chi phí trong sảnxuất và chi phí ngoài sản xuất Chi phí trong sản xuất gồm: chi phí nguyên vật liệutrực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung Chi phí ngoài sản xuấtgồm: chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp

- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: bao gồm chi phí NVL chính là giấy, mực

in đen, mực in màu, kẽm thuốc, kẽm màu, chi phí NVL phụ là su, hóa chất và vậtliệu phụ khác như dầu hỏa, chỉ khâu, hồ vô bìa…

- Chi phí nhân công trực tiếp: bao gồm các khoản tiền lương, tiền ăn ca, tiềnlàm thêm giờ, BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN của công nhân vận hành máy in, côngnhân ở các bộ phận phục vụ trực tiếp cho sản xuất in

Trang 39

- Chi phí sản xuất chung: bao gồm tiền lương nhân viên phân xưởng, chi phívật liệu, chi phí CCDC, chi phí khấu hao, các chi phí dịch vụ mua ngoài như điện,nước, điện thoại…

- Chi phí bán hàng: bao gồm chi phí đóng gói thành phẩm, chi phí vậnchuyển, chi phí tiền hoa hồng

- Chi phí quản lý doanh nghiệp: bao gồm chi phí tiền lương và các khoảntrích theo lương của bộ phận quản lý, chi phí văn phòng phẩm, CCDC, phí & lệ phí

và các chi phí khác bằng tiền như chi phí hội nghị, tiếp khách…

Nhìn chung, công tác phân loại chi phí tại công ty cổ phần sách & thiết bịtrường học Đà Nẵng chủ yếu phục vụ cho công tác báo cáo tài chính, chưa quan tâmđến phân loại chi phí phục vụ cho công tác quản trị DN, công tác phân tích chi phí

Vì vậy, để kiểm soát tốt chi phí, phát huy vai trò của thông tin kế toán phục vụ chonhu cầu của nhà quản trị, công ty cần tiến hành phân loại chi phí theo cách ứng xửchi phí

2.2.3 Kế toán chi tiết chi phí sản xuất, tính giá thành và doanh thu sản phẩm tại Công ty CP sách & thiết bị trường học Đà Nẵng

2.2.3.1 Kế toán chi tiết chi phí sản xuất

Đối tượng tính giá thành phải phù hợp với đối tượng tập hợp chi phí Chi phíphát sinh liên quan trực tiếp đến đối tượng nào thì được tập hợp trực tiếp cho đốitượng đó, những chi phí không thể tập hợp trực tiếp thì sẽ tập hợp gián tiếp và tiếnhành phân bổ theo những tiêu thức thích hợp thường là doanh thu từng sản phẩm.Đối tượng tập hợp chi phí từng loại sản phẩm, đối tượng tính giá thành từng loạisản phẩm

* Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (CPNVLTT)

Kế toán của công ty căn cứ vào chứng từ phát sinh để hạch toán trực tiếp vào

TK 621 “chi phí nguyên vật liệu trực tiếp”

Ngày đăng: 04/10/2018, 17:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w