Với khối lượng sáng tác đồ sộ cùng nhiều đóng góp nỗ lực, Ma Văn Kháng đã đượcnhận nhiều giải thưởng cao quý cho cả thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết như: Giải B Hội Nhà văn Việt Nam 1
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LÝ THỊ VÂN DƯƠNG
TIỂU THUYẾT CỦA MA VĂN KHÁNG DƯỚI
GÓC NHÌN THỂ LOẠI
(QUA BÓNG ĐÊM, BẾN BỜ, NGƯỜI THỢ MỘC VÀ TẤM VÁN THIÊN)
Ngành: Văn học Việt Nam
Mã ngành: 8.22.01.21
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Bích
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn: “Tiểu thuyết của Ma Văn Kháng dưới góc nhìn thể
loại (Qua Bóng đêm, Bến bờ, Người thợ mộc và tấm ván thiên)” là công trình
nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Thị Bích Các nội
dung nêu trong luận văn là kết quả làm việc của tôi và chưa được công bố trong bất
cứ một công trình nào khác
Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, khách quan Cácthông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2018
Tác giả luận văn
Lý Thị Vân Dương
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Bằng sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy
cô giáo khoa Ngữ văn, khoa Sau đại học, cán bộ phòng quản lý khoa học trường Đạihọc Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quátrình học tập, nghiên cứu tại trường
Đặc biệt, tôi xin trân trọng cảm ơn TS Nguyễn Thị Bích, người đã tận tình
hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Cuối cùng, tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới gia đình, người thân,đồng nghiệp cùng bạn bè đã động viên, quan tâm chia sẻ và tạo mọi điều kiện giúptôi hoàn thành tốt khoá học này
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2018
Tác giả luận văn
Lý Thị Vân Dương
Trang 5iii iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iv MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi tư liệu 9
5 Phương pháp nghiên cứu
9 6 Đóng góp mới của luận văn 10
7 Cấu trúc của luận văn 10
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 10
1.1 Khái quát về thể loại tiểu thuyết
10 1.1.1 Khái niệm tiểu thuyết 11
1.1.2 Đặc trưng thể loại tiểu thuyết
12 1.2 Nhà văn Ma Văn Kháng 21
1.2.1 Tiểu sử và cuộc đời 21
1.2.2 Hành trình sáng tác của nhà văn Ma Văn Kháng 21
1.2.3 Vị trí của Ma Văn Kháng trong văn xuôi Việt Nam đương đại 23
Chương 2: NHÂN VẬT VÀ NGƯỜI KỂ CHUYỆN TRONG TIỂU THUYẾT CỦA MA VĂN KHÁNG (QUA BÓNG ĐÊM, BẾN BỜ, NGƯỜI THỢ MỘC VÀ TẤM VÁN THIÊN) 26
2.1 Nhân vật trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng 26
2.1.1 Thế giới nhân vật 26
2.1.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 33
Trang 62.2 Người kể chuyện trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng 46 2.2.1 Người kể chuyện với điểm nhìn bên ngoài 47
Trang 72.2.2 Người kể chuyện với điểm nhìn bên trong 49
Chương 3: NGÔN NGỮ VÀ GIỌNG ĐIỆU TRẦN THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT CỦA MA VĂN KHÁNG (QUA BÓNG ĐÊM, BẾN BỜ, NGƯỜI THỢ MỘC VÀ TẤM VÁN THIÊN) 57
3.1 Ngôn ngữ trần thuật trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng 57
3.1.1 Ngôn ngữ dung dị, đời thường, giàu sức sống 57
3.1.2 Ngôn ngữ trữ tình, đậm chất thơ 68
3.2 Giọng điệu trần thuật trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng 71
3.2.1 Giọng điệu triết lý, triết luận 72
3.2.2 Giọng điệu thương cảm, trữ tình, thiết tha sâu lắng
74 3.2.3 Giọng điệu trào lộng, mỉa mai, châm biếm 78
3.2.4 Giọng điệu lạnh lùng, “vô âm sắc” 83
3.2.5 Giọng điệu đời thường, suồng sã, thông tục
86 KẾT LUẬN
90 TÀI LIỆU THAM KHẢO 93 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ĐNBN : Điểm nhìn bên ngoài
ĐNBT : Điểm nhìn bên trong
NKC : Người kể chuyện NT1
: Ngôi thứ nhất
NT2 : Ngôi thứ hai
NT3 : Ngôi thứ ba
Trang 91 Lý do chọn đề tài
MỞ ĐẦU
Trang 101.1 Trong loại hình tự sự, tiểu thuyết là một thể loại chiếm vị trí quan trọngđược coi là “cỗ máy cái” của nền văn học Tiểu thuyết là thể loại luôn luôn thay đổi,
biến hóa, “không hoàn kết”, bởi vì nó “tiếp xúc tối đa với cái đương đại chưa hoàn
thành” (M Bakhtin) Tiểu thuyết là một trong những dấu hiệu đánh dấu sự trưởng
thành của một nền văn học Tuy sinh sau đẻ muộn, tiểu thuyết Việt Nam cũng đãtrải qua một hành trình nhọc nhằn với những cuộc cách tân đầy ý thức của các nhàvăn đặc biệt là sau 1986 và đã trở thành thể loại trung tâm, có vị trí xứng đángtrong nền văn học dân tộc Tiểu thuyết đã và đang nỗ lực chuyển mình, đổi mớinhằm đáp ứng yêu cầu của thời đại, của đời sống văn học và của đông đảo độc giả.Nhìn chung, văn học
Việt Nam sau đổi mới đã chuyển dần từ tư duy sử thi sang tư duy tiểu thuyết;từ
cảm hứng lịch sử cộng đồng, dân tộc sang cảm hứng thế sự đời tư Đây là điều kiệnthuận lợi để tiểu thuyết tồn tại và phát triển Tiểu thuyết từ 1986 trở về sau là mộtthế giới sáng tạo mới mẻ, nó quan tâm nhiều hơn đến số phận cá nhân và khám pháchiều sâu thế giới nội tâm phức tạp của con người Đây là thể loại có khả năng miêu
tả cuộc sống bề bộn, phức tạp Đó cũng là nơi mà nhà văn có thể thể hiện các yếu tố
kỹ thuật, nghệ thuật cùng với không khí dân chủ của môi trường sáng tạo Tiểuthuyết giúp nhà văn ý thức sâu sắc hơn về tư cách một nghệ sĩ, vượt lên trên nhữngquy định, khuôn khổ truyền thống đã thành áp lực với ngòi bút của người viết lâunay Sự vận động của tiểu thuyết đã để lại dấu ấn sâu sắc trong quá trình đổi mới vănhọc Chính vì vậy, việc nghiên cứu tìm hiểu về thể loại tiểu thuyết mà đặc biệt là tiểuthuyết hiện đại thời kì đổi mới là một việc làm quan trọng và có ý nghĩa sâu sắc
1.2 Tiểu thuyết là một thể loại tự sự mang trong mình những nét đặc trưngriêng so với các thể loại khác về thi pháp như: kết cấu, cốt truyện, nhân vật, người kểchuyện (NKC), điểm nhìn, giọng điệu Vì vậy, nghiên cứu tiểu thuyết từ góc nhìn thểloại sẽ giúp chúng ta có một cái nhìn thấu đáo về phương thức xây dựng tác phẩm,
về những đặc sắc trong việc kể chuyện, những nội dung hiện thực được phản ánh vànhững nét riêng biệt của nhà văn Từ đó, có thể khẳng định những đóng góp của nhà
Trang 111.3 Trong nền văn học hiện đại Việt Nam, Ma Văn Kháng đã có nhiều đónggóp lớn, đặc biệt là với sự nghiệp đổi mới văn học nước nhà Nhà văn đã thổi vào
nền văn học Việt Nam sau 1975 một luồng gió mới với những sáng tác “nhìn thẳng
vào sự thật, nói rõ sự thật” Trong đời văn của mình, Ma Văn Kháng theo đuổi hai
mảng đề tài lớn là miền núi và thành thị Ông đã dâng cho đời 18 tiểu thuyết, hơn
200 truyện ngắn, hai tập bút ký phê bình và rất nhiều những bài báo, trả lời phỏngvấn, phát biểu hội thảo… Các tác phẩm của ông đã trở thành "tài sản" quý giá củavăn chương Việt Nam
Với khối lượng sáng tác đồ sộ cùng nhiều đóng góp nỗ lực, Ma Văn Kháng đã đượcnhận nhiều giải thưởng cao quý cho cả thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết như: Giải
B Hội Nhà văn Việt Nam 1986 (cho tiểu thuyết Mùa lá rụng trong vườn); Tặng
thưởng của Hội đồng văn xuôi Hội Nhà văn Việt Nam 1995 (cho tập truyện ngắn
Trăng soi sân nhỏ); Giải thưởng Văn học Đông Nam Á 1998; G iải t h ư ởng Nhà n ư ớc
về Văn học
- Nghệ thuật năm 2001; Giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội 2009 (tiểu thuyết Một
mình một ngựa); Giải th ư ởng Hồ Chí Mi n h về Văn học - Nghệ thuật năm 2012 cho
các tác phẩm Truyện ngắn chọn lọc, Mưa mùa hạ, Côi cút giữa cảnh đời, Gặp gỡ ở
La Pan Tẩn.
1.4 Hơn năm mươi năm cặm cụi với cây bút, hơn 80 năm cuộc đời, nhà văn
Ma Văn Kháng đã để lại tên tuổi và dấu ấn trên văn đàn như một cây bút văn xuôi
“lực lưỡng”, một đời văn cần mẫn, sáng tạo Chính vì thế, lâu nay đã có nhiều công
trình nghiên cứu về tiểu thuyết, truyện ngắn của ông
Với mong muốn đóng góp thêm tiếng nói và khẳng định những giá trị trongsáng tác của Ma Văn Kháng đặc biệt là ở thể loại tiểu thuyết, chúng tôi lựa chọn vấn
đề Tiểu thuyết của Ma Văn Kháng dưới góc nhìn thể loại (Qua Bóng đêm, Bến bờ,
Người thợ mộc và tấm ván thiên) để làm đề tài nghiên cứu khoa học của mình.
2 Lịch sử vấn đề
Như đã nói ở trên, trong nền văn xuôi hiện đại Việt Nam, Ma Văn Kháng lànhà văn có nhiều đóng góp lớn Vì thế, lâu nay đã có nhiều công trình nghiên cứu vềtiểu thuyết, truyện ngắn của ông đặc biệt là về tiểu thuyết sau 1975 Nhiều công
Trang 12trình nghiên cứu, phê bình của các nhà văn, nhà thơ và các nhà nghiên cứu như: Giáo
sư Phong Lê,
Trang 13Lã Nguyên, Tô Hoài, Trần Đăng Xuyền, Nguyễn Bích Thu, Mai Thị Nhung, NguyễnNgọc Thiện, Nguyễn Thị Bích đã được đăng tải trên nhiều sách báo và tạp chí
2.1 Những công trình nghiên cứu chung về tác phẩm của Ma Văn Kháng
Tác giả Minh Nhật trong bài viết “Nhà văn Ma Văn Kháng: Chắt chiu những vị
đời”, có trích dẫn nhận xét của GS Phong Lê về vẻ đẹp văn chương trong các tác
phẩm của Ma Văn Kháng: “Hàng trăm truyện ngắn, hàng chục tiểu thuyết trên một
hành trình dài, dẫu có lúc ngôn ngữ chính luận tràn lấn, nhưng vẫn không làm thay đổi, biến dạng tiếng nói nghệ thuật đích thực trong tác phẩm của Ma Văn Kháng Một tiếng nói nghệ thuật từ chính cuộc đời trần trụi, xù xì, thô nhám, đa sự cất lên;
và lắm khi tác giả cũng không cần phải đóng vai trò khách quan “để sự thật tự nó nói lên” theo kiểu Balzac, Tolstoi, mà cứ đàng hoàng cất lên tiếng nói riêng để khơi gợi ở bạn đọc sự đồng tình hay tranh luận” [62].
Tác giả Mai Thị Nhung, trong bài “Cái nhìn nghệ thuật của Ma Văn Kháng
trong tiểu thuyết thời kì đổi mới” [63], đã thống kê được hơn 40 bài báo và 5 công
trình nghiên cứu về tiểu thuyết của Ma Văn Kháng thời kì đổi mới đồng thời chỉ ra cáinhìn đa chiều đa diện vào chiều sâu nhân bản và khẳng định những đóng góp khôngnhỏ của Ma Văn Kháng vào sự vận động phát triển của Văn học Việt Nam Bài viết
“Nghệ thuật sử dụng thành ngữ tục ngữ của Ma Văn Kháng trong tiểu thuyết thời kỳ
đổi mới” [64], cho thấy những thành công của nhà văn trong việc sử dụng những
thành ngữ tục ngữ để phản ánh hiện thực cuộc sống và khắc họa tính cách nhân vật.Vốn từ ngữ phong phú đã góp phần làm nên “thương hiệu” Ma Văn Kháng
Tác giả Nguyễn Thị Bích, trong bài viết “Giọng điệu trần thuật của Ma Văn
Kháng trong truyện ngắn sau 1975”, đã chỉ ra một số giọng điệu trần thuật như
giọng khẳng định ngợi ca, giọng điệu trào lộng, châm biếm, mỉa mai, giọng điệu xót
xa thương cảm, giọng điệu suy ngẫm triết lí Từ đó khẳng định “Đọc truyện ngắn của
Ma Văn Kháng sau 1975 ta cảm nhận được những suy tư, trăn trở của một trái tim giàu yêu thương, giàu lòng trắc ẩn với cuộc đời và con người” [5].
Bên cạnh đó, một số luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ của các tác giả cũng
nghiên cứu về vấn đề này như: Nguyễn Thị Huệ (2000), Những dấu hiệu đổi mới
trong văn xuôi của Việt Nam từ 1980 đến 1986, Qua bốn tác giả: Nguyễn Minh
Trang 14Châu, Nguyễn
Trang 15Khải, Ma Văn Kháng, Nguyễn Mạnh Tuấn; Lê Thanh Ngọc (2004), Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Ma Văn Kháng sau 1975; Đỗ Phương Thảo (2006), Nghệ thuật tự sự trong sáng tác của Ma Văn Kháng; Lê Thanh Hùng (2006), Tiểu thuyết
Ma Văn Kháng thời kỳ đầu Đổi mới (Giai đoạn sáng tác 1980 - 1989); Đỗ Thị Thanh
Quỳnh (2006), Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng;
Lê Minh Chung (2007), Tiểu thuyết Ma Văn Kháng thời kỳ Đổi mới; Dương Thị Hồng Liên (2008), Nghệ thuật tiểu thuyết của Ma Văn Kháng thời kì đổi mới; Trần Thị Phi Nga (2008), Đặc trưng tiểu thuyết thế sự của Ma Văn Kháng; Nguyễn Thị Vân Anh (2011), Diễn biến của thời gian tự sự trong tiểu thuyết Ma Văn Kháng; Đỗ Thanh Hương (2011), Đặc sắc nghệ thuật tự sự trong văn xuôi của Ma Văn Kháng đầu thế
kỉ XXI; Nguyễn Thị Mai (2011), Tiểu thuyết Ma Văn Kháng thời kì đổi mới dưới góc nhìn tự sự; Nguyễn Thị Bích (2014), Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975 (Qua truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng);
Đoàn Tiến
Dũng (2016), Ngôn ngữ nghệ thuật trong văn xuôi của Ma Văn Kháng
Với số lượng đông đảo những công trình nghiên cứu, những bài báo, bài viết
về Ma Văn Kháng kể trên cho chúng tôi thấy được sức hấp dẫn và sự ảnh hưởng củanhà văn trong nền văn học nước nhà Chúng tôi cũng nhận thấy, các công trình trên
đã nghiên cứu về những khía cạnh như: những dấu hiệu đổi mới, nghệ thuật tự sự,nghệ thuật xây dựng nhân vật và ngôn ngữ nghệ thuật trong sáng tác của Ma VănKháng còn vấn đề nhìn nhận tiểu thuyết của ông từ góc nhìn thể loại vẫn ít nhiềuchưa được đề cập đến Vì vậy, chúng tôi mạnh dạn chọn hướng nghiên cứu tiểuthuyết của Ma Văn Kháng dưới góc nhìn thể loại trong đề tài của mình
2.2 Những công trình nghiên cứu về tiểu thuyết Bóng đêm, Bến bờ, Người thợ mộc và tấm ván thiên
Ngay từ khi ra mắt bạn đọc, ba tiểu thuyết Bóng đêm, Bến bờ, Người thợ
mộc
và tấm ván thiên đã nhận được rất nhiều sự quan tâm của bạn đọc và của các nhà
phê bình, nghiên cứu văn học
PGS.TS Nguyễn Ngọc Thiện với bài "Bóng đêm và nghệ thuật tự sự tổng hợp
mới của Ma Văn Kháng” [78], đã có những nhận xét xác đáng về tiểu thuyết Bóng
Trang 16đêm Một là, tiểu thuyết Bóng đêm thuộc loại tiểu thuyết luận đề Hai là,
tiểu thuyết Bóng đêm là sự huy động tổng hợp của một vốn sống phong phú,
những suy
Trang 17nghiệm tâm huyết được tích lũy trong nhiều năm của nhà văn Ma Văn Kháng về đềtài an ninh xã hội, về cuộc chiến cam go của cái Thiện chống lại cái Ác; của Ánh sángxua tan Bóng đêm Ba là, kết cấu của tiểu thuyết tập trung vào hai tuyến nhân vậtchính một bên là các cán bộ, chiến sĩ công an mưu lược, dũng cảm, khoan dung,nhân ái, xả thân vì nhiệm vụ được giao như ông Tầm, các trinh sát viên Trừng,Nhâm còn một bên là bọn tội phạm giết người, cướp của, hiếp dâm, buôn lậu matúy, lưu manh côn đồ như tên Thuyên, Kình, Phỉ… Bốn là, nhìn về tổng thể,
tiểu thuyết Bóng
đêm cho ta thấy được cái nhìn đa chiều, đa diện nghiêm nhặt mà hiền minh, gợi
mở và đối thoại, tranh luận của Ma Văn Kháng về mảng hiện thực an ninh xã hội.Nhà văn đã hé mở cho người đọc nhận ra tất cả sự phức tạp, rối rắm, oái oăm cùng
những ngẫu nhiên và bí ẩn khôn cùng của nó Đồng thời, với Bóng đêm, Ma Văn
Kháng đã thực hiện “một bước tổng hợp mới của nghệ thuật tự sự” và tác phẩm ghinhận những nỗ lực dẻo dai, bền bỉ, một thành tựu vượt trội, xứng đáng là tập đạithành của cây bút văn xuôi lão thực Ma Văn Kháng sau nhiều năm gắn bó tâmhuyết với đề tài an ninh xã hội
Tác giả Hà Linh trong bài “Nhà văn Ma Văn Kháng: Sống còn để mang thương
tích”, có viết: “Tôi đã đọc một mạch Bóng đêm, và run theo mạch xúc cảm của nhà văn Những chất liệu ngồn ngộn của đời sống mà ông kể từ những chuyến đi thực tế của 20 năm trước, vẫn còn nóng hổi hơi thở của đời sống đương đại Và chính nhà văn Ma Văn Kháng cũng bị dẫn dụ vào thế giới của riêng mình, trong thế giới của sự thăng hoa sáng tạo, ông đã khám phá ra chính mình, khám phá đời sống trong những tàng ẩn sâu kín của tâm linh, của nội cảm” [49].
Đỗ Thanh Hương với bài “Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết "Bóng đêm" của
Ma Văn Kháng”, đăng trên báo Văn nghệ công an online, http:/ / v n ca.cand.c o m v n ,
năm 2012, nhận xét: “với những đặc trưng riêng trong nghệ thuật xây dựng nhân
vật, nghệ thuật kể chuyện và ngôn ngữ, qua "Bóng đêm", Ma Văn Kháng đã thành công trong việc "thực hiện một bước tổng hợp mới của nghệ thuật tự sự" Nó thể hiện sự tìm tòi, sáng tạo không mệt mỏi của một nhà văn đã suốt đời gắn bó và nỗ lực đổi mới văn xuôi hiện đại Việt Nam”.
Trang 18Tác giả Bình Minh trong bài “Hành trình đi tìm cái thiện trong tiểu thuyết Bóng
đêm”, có viết: “Đọc tiểu thuyết Bóng đêm ta thấy một vốn sống phong phú và sự trải
Trang 19nghiệm được tích lũy trong nhiều năm cầm bút của Ma Văn Kháng về đề tài an ninh
xã hội, về cuộc chiến cam go của cái thiện chống lại cái ác; của ánh sáng xua tan bóng tối Bóng đêm đã tái hiện bức tranh về cuộc đời sinh động được kết hợp rất linh hoạt giữa bút pháp hiện thực với suy tưởng lãng mạn, đôi chỗ có đan cài những chi tiết “sex”, những chi tiết đẹp về tình yêu cũng là cách lựa chọn độc đáo của tác giả để tạo sức hấp dẫn cho tác phẩm.” [57]
Tác giả Đoàn Trọng Huy với bài “Vẻ đẹp bộ tiểu thuyết cặp đôi Bóng đêm và
Bến bờ của Ma Văn Kháng”, có nhận xét như sau: “Bóng đêm và Bến bờ là loại truyện hình sự nhưng khái quát lại là tiểu thuyết luận đề mới Nó hàm chứa những vấn đề về đạo đức, về triết lý nhân sinh, những thông điệp tinh thần mới” [30]
Nhà lí luận phê bình Nguyễn Hoà cho rằng: “Không thể viết được như Ma
văn Kháng nếu chỉ lấy tài liệu ở mấy bài báo Bóng đêm và Bến bờ là tiểu thuyết luận đề, Ma Văn Kháng là nhà văn có tiếp xúc nhiều với thực tiễn sinh động” (dẫn
theo [89, tr.4])
Ở một khía cạnh khác, nhà văn Phùng Thiên Tân nhận thấy: “Thông thường
các cuốn tiểu thuyết về đề tài hình sự mở đầu là những vụ án xảy ra, kết thúc là tìm
ra hung thủ hay tên biệt kích Ma Văn Kháng không viết thế Cách viết mới này là hướng dẫn cho các nhà văn trẻ trong ngành” (dẫn theo [89, tr.4]).
Ý kiến của Nhà thơ Hữu Việt: “Bóng đêm, thể hiện tinh thần nhập cuộc của
nhà văn Ma Văn Kháng Nó thể hiện sức viết dẻo dai bền bỉ của một cây bút tuổi đã cao và đã có nhiều thành tựu Ông đã đem chất thơ và các khát vọng vào tác phẩm của mình Hành động, chi tiết trong chuyện chỉ là bề nổi, phía sau tất cả là ý nghĩa nhân sinh của cuộc đời…” (dẫn theo [89, tr.4]).
Trong các công trình nghiên cứu, chúng tôi đã rà soát có hai luận văn thạc sĩ
nghiên cứu về cặp đôi tiểu thuyết này đó là Nguyễn Thị Hằng (2012), Nghệ thuật tự
sự trong hai tiểu thuyết Bóng đêm và Bến bờ của Ma Văn Kháng Luận văn đã đề cập
đến những thành công về nghệ thuật tự sự trong hai tác phẩm được ghi dấu trên baphương diện: nghệ thuật xây dựng nhân vật, nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ và nghệ
thuật sử dụng giọng điệu Đặng Hồng Vân (2013), Yếu tố trinh thám trong tiểu thuyết
Trang 20của Ma
Trang 21Văn Kháng qua tiểu thuyết Bóng đêm và Bến bờ đã đưa ra một cái nhìn khái lược về
văn học trinh thám, nhận diện yếu tố trinh thám trong tiểu thuyết Bóng đêm và Bến
bờ của Ma Văn Kháng nói riêng và tiểu thuyết của ông nói chung Luận văn cũng cho
thấy yếu tố trinh thám được thể hiện hết sức đa dạng qua đề tài, cốt truyện, ngônngữ, đặc biệt là hình tượng nhân vật trung tâm người chiến sĩ công an
Người thợ mộc và tấm ván thiên là tiểu thuyết được nhà văn viết trong
khoảng ba năm (từ 2012 tới 2014), tác phẩm được nhà xuất bản Trẻ phát hành năm
2015 Tác giả Lam Thu trong bài “Ma Văn Kháng ra mắt tiểu thuyết ở tuổi 79”, có
viết: “Người thợ mộc và tấm ván thiên kể câu chuyện với những nhân vật gắn với
hoàn cảnh, biến cố thời cuộc một cách hấp dẫn Bên cạnh đó, thông qua nhân vật Quang Tình, tiểu thuyết đưa ra một nhân sinh quan về cuộc đời, con người và sự hướng thiện” [86].
Trong bài “Khát vọng chân - thiện - mỹ trong Người thợ mộc và tấm ván thiên
của Ma Văn Kháng”, tác giả Mộc Miên đã bình luận một đoạn trong tác phẩm như
sau: “Và thật bất ngờ, nhân cách trí thức của thầy đã khiến những cái mầm thiên
lương còn sót lại trong con người Văn Chỉ dần dần mọc lên tươi tốt Có thể nói, trường đoạn Quang Tình thuyết phục được Văn Chỉ từ bỏ phép ứng xử lấy ác báo ác,
vì oan oan tương báo thì biết bao giờ cho hết nổi đây; (đó) là một trường đoạn hay
và là một bước chuyển tư tưởng nghệ thuật của cây đại bút này Nhân vật Quang Tình là một ẩn dụ thành công của nhân cách trí thức, của tư tưởng thẩm mỹ Ma Văn Kháng ” [56].
GS.TS.NGND Nguyễn Lân Dũng sau khi đọc Người thợ mộc và tấm ván thiên,
đã có những rung động và cảm nhận sâu sắc: “Tôi viết mấy dòng này với mong muốn
mọi bạn trẻ nên tìm đọc cuốn tiểu thuyết mà theo tôi là quá hay này Các bạn sẽ hiểu hơn xã hội chúng ta cả cái thành công và những sai lầm đáng tiếc, hiểu hơn về con người thật với cái tốt cái xấu đan xen Từ đó chúng ta tự hướng mình đến con đường nhân ái, tích cực, tự giác và tránh xa những cạm bẫy không khi nào hết được quanh ta ” [10].
Tác giả Ngọc Lợi trong bài “Đọc Người thợ mộc và tấm ván thiên của Ma Văn
Kháng: điều còn lại”, có nhận xét: “Đặt trong bối cảnh của những năm bao cấp cùng
Trang 22những chuyển biến xã hội đặc trưng, tiểu thuyết “Người thợ mộc và tấm ván thiên” của Nhà văn lão làng Ma Văn Kháng cuốn hút người đọc không hẳn về đề tài mà còn
Trang 23bởi lối viết đầy nội lực với nguồn tư liệu dồi dào ” [50].
Nguyễn Nữ Khánh Hương với luận văn thạc sĩ viết vào năm 2016, trường
ĐHSP Hà Nội 2: Đặc sắc nghệ thuật tự sự trong hai tiểu thuyết của Ma Văn Kháng
Một vùng đất hoang và những cuộc gặp gỡ; Người thợ mộc và tấm ván thiên, đã
đánh giá những đóng góp của nhà văn thông qua hai cuốn tiểu thuyết Một vùng đất
hoang và những cuộc gặp gỡ, Người thợ mộc và tấm ván thiên Với Người thợ mộc
và tấm ván thiên, tác giả luận văn nhận định đây là tiểu thuyết luận đề với tư tưởng
bao dung hướng thiện và đi vào phân tích một số đặc điểm về nhân vật, cốttruyện, nghệ thuật trần thuật
(người kể chuyện và điểm nhìn, giọng điệu triết lí)
Từ việc tìm hiểu các bài viết, công trình nghiên cứu sáng tác của Ma Văn
Kháng nói chung và ba tiểu thuyết Bóng đêm, Bến bờ, Người thợ mộc và tấm ván
thiên nói riêng, chúng tôi nhận thấy vấn đề: Tiểu thuyết của Ma Văn Kháng dưới góc nhìn thể loại (Qua Bóng đêm, Bến bờ, Người thợ mộc và tấm ván thiên) còn
nhiều bỏ ngỏ để chúng tôi tiến hành khảo sát, nghiên cứu
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu để hoàn thành luận văn: Tiểu thuyết của Ma
Văn Kháng dưới góc nhìn thể loại (Qua Bóng đêm, Bến bờ, Người thợ mộc và tấm ván thiên) với những mục đích sau:
- Đọc - hiểu và cảm thụ tiểu thuyết của Ma Văn Kháng thời kì đổi mới mộtcách sâu sắc, chỉ ra những nét đặc trưng nghệ thuật, những đóng góp của nhà văntrong tiến trình văn học Việt Nam
- Nhận rõ tài năng độc đáo của nhà văn từ việc chọn đề tài và nhữngphương thức phản ánh riêng khi ghi lại những vấn đề xã hội và khẳng định tên tuổicủa nhà văn trong nền văn học nói chung và trong sự phát triển của thể loại tiểuthuyết nói
riêng
- Dựa trên những đặc điểm của thể loại tiểu thuyết, chúng tôi khai thác ba
tiểu thuyết Bóng đêm, Bến bờ, Người thợ mộc và tấm ván thiên của Ma Văn Kháng
Trang 24trên phương diện góc nhìn thể loại Chúng tôi đi sâu vào khám phá những sáng tạocủa nhà văn và phát hiện những tác động của ba tiểu thuyết đến đời sống văn học.
Trang 253.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, chúng tôi cũng xác định nhiệm vụ nghiên cứu củaluận văn là:
- Khái quát những vấn đề lý luận chung về thể loại tiểu thuyết và đôi nét vềcuộc đời, hành trình sáng tác của Ma Văn Kháng
- Tìm hiểu nhân vật và người kể chuyện trong ba tiểu thuyết Bóng đêm, Bến
bờ, Người thợ mộc và tấm ván thiên của Ma Văn Kháng.
- Tìm hiểu ngôn ngữ và giọng điệu trong ba tiểu thuyết Bóng đêm, Bến bờ,
Người thợ mộc và tấm ván thiên của Ma Văn Kháng.
Từ đó, chúng tôi nhận định đánh giá về những thành công của tiểu thuyết MaVăn Kháng dưới góc nhìn thể loại
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi tư liệu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu những đặc trưng của thể loại tiểu thuyết trong ba
tiểu thuyết Bóng đêm, Bến bờ, Người thợ mộc và tấm ván thiên của Ma Văn Kháng
qua các yếu tố như: nhân vật và người kể chuyện, ngôn ngữ và giọng điệu
4.2 Phạm vi tư liệu
Đề tài khảo sát chủ yếu ba tiểu thuyết Bóng đêm, Bến bờ, Người thợ mộc
và tấm ván thiên, ngoài ra còn khảo sát các tiểu thuyết khác của nhà văn để đối
chiếu và so sánh như: Mùa l á r ụ ng trong v ư ờn (1985), Đám cưới không có giấy giá thú (1989), Ngược dòng nước lũ (1999).
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài Tiểu thuyết của Ma Văn Kháng dưới góc
nhìn thể loại (Qua Bóng đêm, Bến bờ, Người thợ mộc và tấm ván thiên), chúng tôi
vận dụng một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
5.1 Phương pháp thống kê - phân loại
Phương pháp này được áp dụng trong quá trình khảo sát văn liệu để từ đóđưa ra những kết luận khoa học về các phương diện của ba tác phẩm mà chúngtôi quan tâm
Trang 265.2 Phương pháp so sánh - đối chiếu
Đối chiếu, so sánh ba tiểu thuyết với những tác phẩm khác để chỉ ra nhữngsáng tạo mới và để có cái nhìn sâu hơn về đối tượng nghiên cứu
5.3 Phương pháp nghiên cứu theo đặc trưng thể loại
Phương pháp này giúp chúng tôi tìm ra những đặc trưng của thể loại tiểuthuyết thể hiện qua các tác phẩm mà đề tài nghiên cứu
5.4 Phương pháp phân tích - tổng hợp.
Vận dụng phương pháp này để chúng tôi đưa ra những khái quát trên cơ sởphân tích ngữ liệu cụ thể
6 Đóng góp mới của luận văn
- Khái quát những vấn đề lý luận chung về thể loại tiểu thuyết
- Tìm hiểu nhân vật và người kể chuyện, ngôn ngữ và giọng điệu tron g tiểu
thuyết của Ma Văn Kháng qua ba tiểu thuyết Bóng đêm, Bến bờ, Người thợ mộc
và tấm ván thiên từ đó cho thấy được sự vận động và đổi mới tư duy nghệ thuật
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Nội dung của luậnvăn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung
Chương 2: Nhân vật và người kể chuyện trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng
(Qua Bóng đêm, Bến bờ, Người thợ mộc và tấm ván thiên)
Chương 3: Ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật trong tiểu thuyết của Ma Văn Kháng
(Qua Bóng đêm, Bến bờ, Người thợ mộc và tấm ván thiên)
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
Trang 271.1 Khái quát về thể loại tiểu thuyết
Trang 281.1.1 Khái niệm tểu thuyết
Tiểu thuyết là thể loại lớn và chiếm vị trí quan trọng trong loại hình tự sự, đặcbiệt phát triển mạnh mẽ trong thời kì cận và hiện đại Đây là thể loại không bị giớihạn về dung lượng phản ánh hiện thực cả về không gian cũng như thời gian Nhữngnguyên lý của tiểu thuyết chi phối hầu hết các tác phẩm tự sự khác Tiểu thuyết được
coi là “cỗ máy cái” của nền văn học, là thể loại luôn luôn thay đổi, biến hóa, “không
hoàn kết”, bởi vì nó “tiếp xúc tối đa với cái đương đại chưa hoàn thành” (M.
Bakhtin)
Để đưa ra những định nghĩa có tính chất quy phạm cho thể loại tiểu thuyết làđiều không hề đơn giản
Belinsky cho rằng: "Tiểu thuyết là sử thi của đời tư" Ông chỉ ra khái quát
nhất về một dạng thức tự sự, trong đó sự trần thuật tập trung vào số phận củamột cá nhân trong quá trình hình thành và phát triển của nó Sự trần thuật ở đâyđược khai triển trong không gian và thời gian nghệ thuật đến mức đủ để truyền đ
ạt cơ cấu của nhân cách
Trong bài viết Bàn về tiểu thuyết, nhà văn Phạm Quỳnh cho rằng: “Tiểu thuyết
là một truyện viết bằng văn xuôi đặt ra để tả tình tự người ta, phong tục xã hội, hay
là những sự lạ tích kì, đủ làm cho người đọc có hứng thú Như vậy thời phạm vi của tiểu thuyết rộng lắm: phàm sách gì không phải là sách dạy học, sách lý luận, sách khảo cứu, sách thi ca thời là tiểu thuyết cả, mà tiểu thuyết có khi lại gồm được cả các lối kia, vì trong một bộ tiểu thuyết, cũng có chỗ nghị luận, chỗ khảo cứu, chỗ ngâm vịnh chỗ khuyên răn” [16, tr.204].
Theo giáo sư Phan Cự Đệ, tiểu thuyết “tự bản chất nó vốn không có tính quy
phạm Đó chính là hiện thân của sự uyển chuyển Đó là một thể loại luôn luôn đi tìm, luôn luôn nghiên cứu bản thân và luôn luôn soát lại tất cả những hình thức đã hình thành của mình Một thể loại như thế chỉ có thể là một thể loại được xây dựng trong khu vực tiếp xúc trực tiếp với hiện thực đang tiến triển” [14, tr.500]
Xác định nội hàm khái niệm tiểu thuyết sẽ giúp ta nhận được những đặc điểm
Trang 2921của thể loại văn học đặc biệt này Mỗi tác giả đưa ra quan niệm riêng về thể loại tiểuthuyết
Trang 30và đều thể hiện được những nét riêng của tiểu thuyết so với các thể loại khác.Chúng tôi đồng tình và dựa vào định nghĩa của nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử,
Nguyễn Khắc Phi trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học: “Tiểu thuyết là một “tác
phẩm tự sự cỡ lớn có khả năng phản ánh hiện thực đời sống ở mọi giới hạn của không gian và thời gian Tiểu thuyết có thể phản ánh số phận của nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục, đạo đức xã hội, miêu tả các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng” [25, tr.277] để nghiên cứu đề tài này.
1.1.2 Đặc trưng thể loại tểu
Trong tác phẩm văn học, nhân vật là một yếu tố chiếm vị trí rất quan trọng
Điều này đã được nhà văn Tô Hoài khẳng định: “Nhân vật là nơi duy nhất tập trung
hết thảy, giải quyết hết thảy trong một sáng tác” [34, tr.127] Nhân vật không chỉ là
nơi bộc lộ tư tưởng, chủ đề mà còn thể hiện giá trị của tác phẩm Sự thành bại củanhà văn, của tác phẩm phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố này Nghiên cứu nhân vật,chính là nghiên cứu cách nhà văn nhìn nhận, cắt nghĩa về con người như thế nào vàbằng cách nào trong văn chương của mình Nhân vật là người dẫn dắt người đọc đivào một thế giới riêng của đời sống trong một thời kì lịch sử nhất định Vì vậy, trongmỗi sáng tác văn học không thể thiếu nhân vật Về khái niệm nhân vật văn học, cácnhà nghiên cứu phê bình đã đưa ra những quan điểm khác nhau
Trong cuốn 150 thuật ngữ văn học, tác giả Lại Nguyên Ân đã xem xét nhân vật
trong mối tương quan với cá tính sáng tạo, phong cách nhà văn và trường phái văn
học: “Nhân vật văn học là một trong những khái niệm trung tâm để xem xét sáng
tác của một nhà văn, một khuynh hướng, trường phái hoặc dòng phong cách Nhân vật văn học là hình tượng nghệ thuật về con người, một trong những dấu hiệu về sự tồn tại toàn vẹn của con người trong nghệ thuật ngôn từ Bên cạnh con người, nhân
Trang 31gán cho những đặc điểm giống con người” [3, tr.235].
Trang 32Các tác giả trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học cho rằng: “Nhân vật văn
học là con người cụ thể được miêu tả trong các tác phẩm văn học Nhân vật văn học
có thể có tên riêng (Tấm Cám, chị Dậu, anh Pha), cũng có thể không có tên riêng như
“thằng bán tơ”, “một mụ nào” trong Truyện Kiều” [25, tr.162].
Theo cuốn Giáo trình Lý luận văn học, nhân vật văn học được quan niệm rộng
hơn: “Đó không chỉ là con người có tên hoặc không có tên, mà có thể là những sự
vật, loài vật khác nhau, ít nhiều mang bóng dáng tính cách của con người, được dùng như những phương thức khác nhau để biểu hiện con người Đó là nhân vật dế mèn, võ sĩ bọ ngựa, con mèo lười trong truyện thiếu nhi của Tô Hoài; là vầng trăng, bông hoa hồng trong thơ Bác v.v… Cũng có khi đó không phải là những con người, sự vật cụ thể mà chỉ là một hiện tượng về con người hoặc có liên quan đến con người, được thể hiện nổi bật trong tác phẩm” [12, tr.126].
Mỗi một quan niệm trên lại thể hiện một cách nhìn nhận riêng về nhân vậtvăn học Nhưng nhìn chung, có thể khẳng định nhân vật văn học là sản phẩm tinhthần của nhà văn, là nơi để nhà văn thể hiện những quan niệm nghệ thuật và lítưởng thẩm mĩ về con người Nhân vật văn học là một chỉnh thể vận động và có tínhcách Để xây dựng nhân vật thành công, nhà văn cần phải huy động toàn bộ tư cáchnghệ sĩ và năng lực tinh thần cá nhân của mình
Nhân vật văn học thường được xây dựng từ những nguyên mẫu ngoài đời, cókhi là từ những điển hình xã hội, nhưng nó được xây dựng qua trí tưởng tượng, sựsáng tạo và tài năng của người nghệ sĩ để phục vụ cho dụng ý nghệ thuật và mangphong cách riêng của từng nhà văn Vì vậy, khi tìm hiểu nhân vật văn học, cần lưu ý:Nhân vật văn học là một đơn vị nghệ thuật đầy tính ước lệ, không thể đồng nhất nóvới con người có thật trong đời sống
Nhân vật văn học tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau Có nhiều cách phânloại nhân vật văn học Dựa vào phương pháp sáng tác ta thấy nhân vật của chủnghĩa cổ điển khác nhân vật của chủ nghĩa lãng mạn và chủ nghĩa hiện thực Dựa vàochức năng nghệ thuật, nhân vật văn học chia ra thành nhân vật chính, nhân vật phụ,nhân vật trung tâm, nhân vật chính diện, phản diện Dựa vào thể loại văn học ta cónhân vật tự sự, trữ tình, kịch Dựa vào cấu trúc hình tượng chia ra thành nhân vật
Trang 3325chức năng, nhân
Trang 34vật loại hình, nhân vật tính cách, nhân vật tư tưởng Dựa vào thành phần và địa vị xãhội có thể chia thành nhân vật tri thức, bộ đội, công an, giáo viên, phụ nữ, trẻ em, tội
phạm
Như vậy, nhân vật văn học là một hình tượng nghệ thuật do nhà văn sángtạo nên Nhân vật văn học rất phong phú, nó có thể là loài vật, đồ vật… nhưng chủyếu là con người Sự thể hiện nhân vật cũng ở những hình thức rất đa dạng Dùnhân vật là thế giới loài người hay loài vật nó đều có vai trò rất quan trọng trongsáng tác của nhà văn, nó làm nên linh hồn của tác phẩm Nhân vật văn học thể hiệncách hiểu của nhà văn về con người theo một quan điểm nhất định, là nơi để nhàvăn gửi gắm, kí thác những tâm tư, ước vọng, cùng những vấn đề triết lí nhân sinh.Qua hệ thống nhân vật, người đọc thấy được tư tưởng nghệ thuật và phong cáchnghệ thuật của nhà văn Nhân vật văn học không chỉ là hình thức đơn thuần mà làmột sáng tạo nghệ thuật độc đáo gắn liền với ý đồ, tư tưởng của nhà văn về conngười, về thế giới Nghiên cứu tác phẩm văn chương cần phải tiếp nhận nhân vật đểchỉ ra cái mới trong ngòi bút nhà văn và thấy được những đóng góp riêng của nhàvăn đó
Nhân vật là yếu tố nghệ thuật quan trọng bậc nhất của thể loại tự sự trong đó
có tiểu thuyết Có thể khẳng định rằng không có nhân vật thì sẽ không có tiểu thuyết.Một tiểu thuyết hay là phải có nhân vật hay và độc đáo Những cách tân đổi mới vềnghệ thuật tiểu thuyết hầu như đều gắn với vấn đề thể hiện nhân vật Nhân vật chính
là quan niệm nghệ thuật về con người của nhà văn thể hiện trong tác phẩm, là nơitập trung thể hiện tư tưởng nghệ thuật của nhà văn
Nhân vật tiểu thuyết thuộc loại hình nhân vật tự sự Đó là những nhân vậtđược miêu tả tỉ mỉ, rõ nét, sinh động, đa chiều và đa dạng Nhân vật tiểu thuyết làkết quả của quá trình sáng tạo mang tính cá nhân của nhà văn Nhân vật tiểu thuyết
có thể bắt nguồn từ một nguyên mẫu ngoài đời và cũng có thể được hư cấu hoàn
toàn, nhưng nó đều là những “nhân vật sống” Nó không chỉ có các yếu tố ngoại
hình, ngôn ngữ, hành động… mà còn có đời sống nội tâm phong phú và bản thân
nhân vật luôn có sự vận động phát triển Nhân vật tiểu thuyết là “con người nếm
Trang 35trải”, cảm nhận, tư duy, chịu khổ đau và dằn vặt của cuộc đời Trong một chỉnh thể
thế giới nghệ thuật tác phẩm, tiểu thuyết có khả năng kể về nhiều số phận, nhiềucon người, đặt ra nhiều vấn đề nhân
Trang 36sinh Thế giới nhân vật là hệ thống các nhân vật được tổ chức tạo thành một chỉnhthể nghệ thuật, trong đó mỗi nhân vật là một yếu tố của chỉnh thể Thế giới nhân vậttiểu thuyết có thể rất đồ sộ Các nhân vật tiểu thuyết tạo nên một xã hội vô cùngphong phú, phức tạp với nhiều quan hệ, hành động, ý nghĩ, tư tưởng, giọng điệu…
Nó phong phú như chính cuộc sống vậy
Những đặc điểm của nhân vật tiểu thuyết ở trên đây sẽ giúp chúng tôi tìmhiểu rõ hơn về những sáng tác tiểu thuyết đương đại cũng như các nhân vật trongsáng tác của nhà văn Ma Văn Kháng
1.1.2.2 Người kể chuyện
Trong tác phẩm tự sự, NKC có một vai trò quan trọng Người kể chuyện là mộtcông cụ do nhà văn hư cấu nên để kể chuyện Người kể chuyện là một nhân vậtnhưng là một dạng nhân vật đặc biệt có chức năng tổ chức các nhân vật khác, tổchức kết cấu tác phẩm Giữa NKC và tác giả có mối liên hệ mật thiết với nhau Quanhân vật NKC có thể thấy được tư tưởng, quan niệm của tác giả nhưng không đượcđồng nhất NKC với bản thân tác giả
Các tác giả trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học quan niệm NKC là “hình
tượng ước lệ về người trần thuật trong tác phẩm văn học, chỉ xuất hiện khi nào câu chuyện được kể bởi một nhân vật cụ thể trong tác phẩm [25, tr.191] Người kể
chuyện có nhiệm vụ tổ chức kết cấu tác phẩm và môi giới, dẫn dắt người đọc tiếpcận thế giới nghệ thuật, thay mặt nhà văn bày tỏ quan điểm về con người, cuộc đời
Theo Pospelov, NKC có thể hiểu là “người môi giới giữa các hiện tượng được
miêu tả và người nghe (người đọc), là người cắt và cắt nghĩa các sự việc xảy ra” [69,
tr.196]) Theo W Keyser thì NKC: “Đó là một hình hài được sáng tạo ra, thuộc về
toàn bộ chỉnh thể tác phẩm văn học,… là vai mà tác giả bịa ra và chấp nhận” [69,
tr.196] Còn Tz Todorov lại quan niệm: “Người kể chuyện là một nhân tố chủ động
trong việc kiến tạo thế giới hư cấu Chính NKC là hiện thân của những khuynh hướng mang tính xét đoán và đánh giá” [69, tr.196].
Trong nghệ thuật trần thuật, NKC có thể kể ở ngôi thứ ba (NT3), ngôi thứ nhất(NT1), ngôi thứ hai (NT2)
- Người kể chuyện ở NT3: NKC không xuất hiện trực tiếp, không tham gia vào
Trang 37diễn biến của các sự kiện Người kể chuyện không thuộc vào thế giới của truyện kể
mà luôn đứng ở vị trí khách quan, tưởng như không liên quan tới câu chuyện nhưnglại đóng vai trò quan trọng trong tác phẩm, không chỉ là người dẫn chuyện, tổ chứccốt truyện mà còn giữ vai trò phân tích, bình giá làm rõ các mối quan hệ trong tácphẩm
- Người kể chuyện ở NT1 (người kể tường minh, người kể lộ diện): NKC hiệndiện như một nhân vật trong truyện, thường xuất hiện trực tiếp dưới hình thức
“tôi”
Người kể chuyện có thể thuộc vào thế giới nhân vật được miêu tả, trực tiếp thamgia vào diễn biến truyện nhưng nhiều khi cũng chỉ đóng vai trò là người chứng kiến,dẫn dắt câu chuyện
- Người kể chuyện ở NT2: Đây là dạng NKC đặc biệt, không phổ biến và rất ítđược sử dụng Ở dạng này, NKC rời bỏ vị trí trần thuật (ở NT1 hoặc NT3) để tham giađối thoại, tranh luận với độc giả, không còn khoảng cách trần thuật Độc giả bị kéocùng các nhân vật trực tiếp tham gia vào diễn biến câu chuyện Người kể chuyệnthuộc thế giới của nhân vật được miêu tả
Một trong những tiêu chí quan trọng hàng đầu để nhận diện NKC là điểm nhìn
kể chuyện Trong tác phẩm tự sự, tương quan giữa nhà văn và chủ thể trần thuậthay giữa điểm nhìn của người trần thuật với những gì anh ta kể là điều đặc biệt quantrọng
Điểm nhìn trần thuật là một trong những yếu tố hàng đầu của sáng tạo nghệ thuật
Thuật ngữ “điểm nhìn” đã trở nên quen thuộc trong nghiên cứu văn học Điểm nhìn
là một khái niệm đã được đề cập khá sớm, đặc biệt ở Anh và Mĩ Theo M.H
Abrahams (Từ điển thuật ngữ văn học, A Glossary of Literature terms), điểm nhìn chỉ
ra “những cách thức mà một câu chuyện được kể đến, một hay nhiều phương thức
được thiết lập bởi tác giả bằng ý nghĩa mà độc giả được giới thiệu với những cá tính, đối thoại, những hành động, sự sắp đặt và những sự kiện mà trần thuật cấu thành trong một tác phẩm hư cấu” [91, tr 274] Còn Trần Đình Sử trong cuốn giáo
trình Dẫn luận thi pháp học (NXB Giáo dục, 2004) cho rằng: “Điểm nhìn mang tính ẩn
dụ, bao gồm mọi nhận thức, đánh giá, quan sát, cảm thụ của chủ thể đối với thế giới.
Trang 38Nó là các vị trí dùng để quan sát, cảm nhận đánh giá bao gồm cả khoảng cách giữa chủ thể và khách thể, cả phương diện vật lí, tâm lí, văn hoá” [68, tr.149] Các tác giả
Từ điển thuật ngữ văn học cũng quan niệm về giá trị của điểm nhìn trong sáng tạo
nghệ thuật: “Không thể có nghệ thuật
Trang 39nếu không có điểm nhìn, bởi nó thể hiện sự chú ý, quan tâm và đặc điểm của chủ thể trong việc tạo ra cái nhìn nghệ thuật Giá trị của sáng tạo nghệ thuật một phần không nhỏ là do đem lại cho người thưởng thức một cái nhìn mới đối với cuộc sống.
Sự thay đổi nghệ thuật bắt đầu từ đổi thay điểm nhìn” [25, tr.113].
Tóm lại, có thể hiểu điểm nhìn là phương thức phát ngôn, trình bày, miêu tảphù hợp với cách nhìn, cách cảm thụ thế giới của người trần thuật Nó là vị trí dùng
để quan sát, cảm nhận, đánh giá Lí thuyết tự sự học tạm chia ba kiểu nhìn (gắn với
ba kiểu điểm nhìn) phổ biến ở NKC:
- Thứ nhất, nhìn “từ đằng sau” gắn với điểm nhìn toàn tri, khi NKC có vai tròtoàn năng với cái nhìn thông suốt tất
cả
- Thứ hai, nhìn “từ bên trong” gắn với điểm nhìn bên trong (ĐNBT), khi NKC lànhân vật Người kể chuyện hạn chế điểm nhìn tự sự của mình vào điểm nhìn củanhân vật NKC theo ĐNBT thường có hai dạng cơ bản:
+ Dạng thứ nhất, NKC xưng tôi, tự thú nhận, bộc bạch về mình, kể về nhữngtâm trạng, cảm giác mà mình đã nếm trải
+ Dạng thứ hai, NKC đứng ở ngôi thứ ba từ bên ngoài nhưng lại tựa vào điểmnhìn nhân vật để kể Do vậy mà khoảng cách giữa NKC và nhân vật bị thu hẹp
- Thứ ba, nhìn “từ bên ngoài” gắn với điểm nhìn bên ngoài (ĐNBN): NKC theoĐNBN hoàn toàn xa lạ với thế giới mà anh ta kể, anh ta chỉ có thể kể về những hànhđộng, lời nói thể hiện ra bên ngoài nhân vật chứ không có khả năng am hiểu nội tâmcủa họ
Sự phân biệt ở trên hoàn toàn mang tính tương đối vì hầu như không có tácphẩm nào chỉ sử dụng một điểm nhìn mà các điểm nhìn thường xuyên được dịchchuyển, sử dụng linh hoạt, phối hợp với nhau phục vụ cho ý đồ sáng tạo của ngườinghệ sĩ Qua việc tìm hiểu lý thuyết về NKC và điểm nhìn ở trên, chúng tôi tiếp thu
và phân chia NKC trong ba tiểu thuyết Bóng đêm, Bến bờ, Người thợ mộc và tấm ván
thiên thành NKC với ĐNBT và NKC với ĐNBN.
1.1.2.3 Ngôn ngữ và giọng
điệu.
*Ngôn ngữ nghệ thuật
Trang 40Nhà văn M.Gorki đã khẳng định rằng "ngôn ngữ nghệ thuật là yếu tố thứ nhất