Được sự nhất trí của Ban Giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên cùng sự phân công của Ban Chủ nhiệm khoa Nông Học em đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của một
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Trồng trọt Khoa : Nông học Khóa : 2013 - 2017
Thái Nguyên - 2017
Trang 2KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy
Chuyên ngành: Trồng trọt
Lớp: K45 – Trồng trọt – N02
Khoa: Nông học
Khóa: 2013 - 2017
Giảng viên hướng dẫn: ThS Phạm thị Thu Huyền
ThS Nguyễn Thị Phương Oanh
Thái Nguyên - 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Quá trình học tập của mỗi sinh viên Thực tập tốt nghiệp là giai đoạn cuối cùng trong toàn bộ chương trình học tập và không thể thiếu được Đây là khoảng thời gian để mỗi sinh viên củng cố, hệ thống lại kiến thức, đồng thời giúp cho sinh viên có điều kiện vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn sản xuất, và đây cũng là dịp để sinh viên được làm quen với công việc nghiên cứu, sử dụng kiến thức mà mình đã học để khi ra trường trở thành một
kỹ sư có trình độ chuyên môn cao, có năng lực tốt đáp ứng được nhu cầu của sản xuất, góp phần vào sự phát triển nông thôn nói riêng, nền kinh tế của nước ta nói chung
Được sự nhất trí của Ban Giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên cùng sự phân công của Ban Chủ nhiệm khoa Nông Học em đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón hữu
cơ sinh học đến khả năng sinh trưởng và năng suất của giống đậu tương ĐT51
vụ Hè Thu năm 2016 tại Thái Nguyên”
Để hoàn thành đề tài này, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, em đã nhận được sự giúp đỡ của nhà trường, thầy cô và bạn bè Đặc biệt sự hướng dẫn tận tình sâu sắc của cô giáo hướng dẫn ThS Nguyễn Thị Phương Oanh đã trực tiếp hướng dẫn em trong quá trình làm đề tài cũng như hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình Xin cảm ơn những người thân trong gia đình, những người bạn đã động viên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập cũng như hoàn thành khóa luận này
Với trình độ và năng lực bản thân có hạn, mặc dù đã hết sức cố gắng song không tránh khỏi thiếu sót Vì vậy, em rất mong nhận được sự tham gia đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn để khóa luận này trở nên hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn
Thái Nguyên, tháng 05 năm 2017
Sinh viên Lục Thị Lanh
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
PHỤ LỤC BẢNG v
DANH MỤC VIẾT TẮT vi
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu, yêu cầu của đề tài 2
2.1 Mục tiêu 2
2.2 Yêu cầu 3
4 Ý nghĩa của đề tài 3
4.1 Ý nghĩa khoa học 3
4.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài 4
2.2 Tình hình sản xuất, nghiên cứu phân bón đậu tương trên thế giới 5
2.2.1 Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới 5
2.2.2 Một số nghiên cứu về phân bón cho đậu tương trên thế giới 8
2.3 Tình hình sản xuất và nghiên cứu đậu tương ở Việt Nam 11
2.3.1 Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam 11
2.3.2 Một số nghiên cứu về phân bón cho đậu tương ở Việt Nam 14
2.4 Tình hình sản xuất đậu tương ở Thái Nguyên 18
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
3.1 Đối tượng nghiên cứu 20
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 20
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 20
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 20
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu 20
3.2.2 Thời gian nghiên cứu 20
Trang 53.3 Nội dung 20
3.4 Phương pháp nghiên cứu 21
3.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 21
3.4.2 Phương pháp trồng và chăm sóc 21
3.5 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 22
3.5.1 Các chỉ tiêu về sinh trưởng và phát triển 22
3.5.2 Chỉ tiêu sinh lý 23
3.5.3 Các yếu tố cấu thành năng suất 24
3.5.4 Đánh giá khả năng chống chịu sâu bệnh hại 25
3.6 Phương pháp xử lý sô liệu 26
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27
4.1 Ảnh hưởng của một số loại phân bón hữu cơ sinh học đến các giai đoạn sinh trưởng của giống đậu tương ĐT51 27
4.1.1 Thời kỳ mọc 28
4.1.2 Thời kỳ phân cành 28
4.1.3 Thời kỳ ra hoa 29
4.1.4 Giai đoạn chắc xanh 30
4.1.5 Giai đoạn chín 31
4.2 Ảnh hưởng của các loại phân hữu cơ sinh học đến đặc điểm hình thái của giống đậu tương ĐT51 32
4.2.2 Chiều cao đóng quả 33
4.2.4 Đường kính thân 34
4.3 Ảnh hưởng của các loại phân hữu cơ sinh học đến một số chỉ tiêu sinh lý của giống đậu tương ĐT51 34
4.3.1 Chỉ số diện tích lá 36
4.3.2 Khả năng tích lũy vật chất khô 36
4.3.3 Tỷ lệ chất khô 37
4.4 Ảnh hưởng của các loại phân hữu cơ sinh học đến khả năng hình thành nốt sần của giống đậu tương ĐT51 37
Trang 64.5 Ảnh hưởng của các loại phân hữu sinh học đến mức độ nhiễm sâu bệnh và khả năng
chống đổ của giống đậu tương ĐT51 39
4.5.1 Sâu bệnh hại 39
4.5.2 Khả năng chống đổ 40
4.6 Ảnh hưởng của các loại phân hữu cơ sinh học đến yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống đậu tượng ĐT51 41
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 45
5.1 Kết luận 45
5.2 Đề nghị 45
Trang 7PHỤ LỤC BẢNG
Bảng 2.1: Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới 5 Bảng 2.2: Diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương ở 4 quốc gia đứng đầu thế giới 6 Bảng 2.3 Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam 5 năm gần đây 13 Bảng 2.4: Tình hình sản xuất đậu tương ở Thái Nguyên trong những năm gần đây 18
Bảng 4.1: Tình hình thời tiết khí hậu vụ Hè Thu năm 2016 tại Thái Nguyên Error!
Bookmark not defined
Bảng 4.2: Kết quả theo dõi các giai đoạn sinh trưởng của giống đậu tương ĐT51 vụ
Hè Thu 2016 28 Bảng 4.3: Ảnh hưởng của các loại phân hữu cơ sinh học đến một số đặc điểm hình thái của giống đậu tương ĐT51 vụ Hè Thu 2016 32 Bảng 4.4: Chỉ số diện tích lá và khả năng tích lũy vật chất khô của giống đậu tương ĐT51 vụ Hè Thu năm 2016 tại Thái Nguyên 35 Bảng 4.5: Ảnh hưởng của các loại phân bón hữu cơ sinh học đến khả năng hình thành nốt sần của giống đậu tương ĐT51 vụ Hè Thu 2016 Thái Nguyên 38 Bảng 4.6.1: Mức độ nhiễm sâu bệnh hại của giống đậu tương ĐT51 vụ Hè Thu năm
2016 tại Thái Nguyên 39 Bảng 4.6.2: Khả năng chống đổ của giống đậu tương ĐT51 vụ Hè Thu 2016 Thái Nguyên 41 Bảng 4.7: Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống đậu tương ĐT51
vụ Hè Thu 2016 tại Thái Nguyên 41
Trang 8DANH MỤC VIẾT TẮT
CV: Hệ số biến động DT: Diện tích
NS: Năng suất SL: Sản lượng LSD05: Sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa CSDTL: Chỉ số diện tích lá
KNTLVCK: Khả năng tích lũy vật chất khô P1000 hạt: Khối lượng 1000 hạt
NSLT: Năng suất lý thuyết NSTT: Năng suất thực thu CT: Công thức
Đ/C: Đối chứng
Trang 9Phần 1
MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Cây đậu tương (Glycine max(L)Merrill) còn gọi là cây đậu nành là một
loại cây trồng có từ lâu đời được xem là loại “cây kỳ lạ”, “vàng mọc từ đất”,
“cây thần diệu”, “cây đỗ Thần”… sở dĩ cây đậu tương được đánh giá như vậy chủ yếu là do giá trị kinh tế của nó
Các phân tích sinh hóa cho thấy rằng hạt đậu tương chứa từ 38 - 45% Protein, 18 - 22% Lipit, nhiều vitamin và khoáng chất Hiện nay đậu tương đang cung cấp 10 - 20% nhu cầu dinh dưỡng đạm cho người và 50% thức ăn gia súc trên toàn thế giới với sản lượng 245 triệu tấn/năm (năm 2002) (Hội thảo đậu tương quốc gia, 2003) [10] Protein đậu tương có giá trị cao không những về hàm lượng lớn mà nó còn đầy đủ và cân đối các loại axit amin, đặc biệt là các loại axit amin không thay thế như: Xystin, Lizin, Valin, Izovalin, Leuxin, Methionin, Triptophan có vai trò quan trọng đối với sự tăng trưởng của cơ thể trẻ em và gia súc Ngoài ra trong hạt đậu tương còn chứa nhiều loại vitamin như vitamin PP, A, C, E, D, K, đặc biệt là vitamin B1 và B2 (Phạm Văn Thiều, 2006) [20]
Đậu tương có khả năng tích lũy đạm của khí trời để làm giàu đạm cho đất nhờ vào sự cộng sinh vi khuẩn nốt sần ở bộ rễ trong điều kiện thuận lợi,
các vi khuẩn nốt sần Rhizolium Japonicum có thể tích lũy được một lượng
đạm tương đương từ 20 - 25kg Urê/ha Bởi vậy trồng đậu tương có tác dụng cải tạo đất tốt lên và bổ sung nhiều dinh dưỡng hơn cho đất
Nhờ những ưu điểm nổi bật trên mà cây đậu tương đã trở thành một trong những cây trồng quan trọng trong sản xuất nông nghiệp và trong đời sống xã hội nhiều nước trên thế giới Hạt đậu tương là mặt hàng xuất khẩu đem lại nguồn thu đáng kể cho nhiều quốc gia Nhiều nước đã tập trung
Trang 10nghiên cứu và sản xuất đậu tương với số lượng lớn như Mỹ, Brazil, Achentina
Ở Việt Nam diện tích và sản lượng đậu tương trong những năm gần đây liên tục tăng Đến nay cây đậu tương đã trở thành cây trồng chính trong cơ cấu cây trồng của nhiều vùng sản xuất ở nước ta
Thái Nguyên là tỉnh thuộc trung du miền núi phía Bắc với tổng diện tích đất tự nhiên 353318,91 ha; trong đó diện tích đất dùng để sản xuất nông nghiệp chiếm trên 30% (Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên, 2013) [4] Đậu tương là một trong nhóm cây trồng hàng năm được tỉnh quan tâm chỉ đạo sản xuất Vì đậu tương là cây trồng ngắn ngày, có giá trị kinh tế, giá trị dinh dưỡng cao; không quá kén đất; có thể gieo trồng cả 3 vụ; có khả năng cải tạo đất Tuy nhiên trong những năm gần đây diện tích trồng đậu tương trong tỉnh luôn giảm ( Năm 2005 diện tích là 3389ha; năm 2010 là 1567ha; năm 2011 là 1039ha; năm 2012 là 1418ha; năm 2013 là 1309ha; đến năm 2014 diện tích trồng đậu tương của tỉnh chỉ còn hơn 1,2 nghìn ha) (Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên, 2014) [5] không đủ đậu tương cung cấp cho ngay cả thị trường trong tỉnh
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón hữu cơ sinh học đến khả năng sinh trưởng và năng suất của giống đậu tương ĐT51 vụ Hè Thu năm
2016 tại Thái Nguyên”
2 Mục tiêu, yêu cầu của đề tài
2.1 Mục tiêu
Xác định được loại phân bón hữu cơ sinh học phù hợp với sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống đậu tương ĐT51 vụ Hè Thu tại Thái Nguyên
Trang 112.2 Yêu cầu
- Xác định loại phân bón hữu cơ sinh học có ảnh hưởng tốt đến khả năng sinh trưởng của giống đậu tương ĐT51 vụ Hè Thu năm 2016 tại Thái Nguyên
- Xác định lọai phân bón hữu cơ sinh học có ảnh hưởng tốt đến một số chỉ tiêu sinh lý của giống đậu tương ĐT51 vụ Hè Thu năm 2016 tại Thái Nguyên
- Xác định loại phân bón hữu cơ sinh học có ảnh hưởng tốt đến khả năng chống chịu của giống đậu tương ĐT51 vụ Hè Thu năm 2016 tại Thái Nguyên
- Xác định loại phân bón hữu cơ sinh học có ảnh hưởng tốt đến các yếu
tố cấu thành năng suất của giống đậu tương ĐT51 vụ Hè Thu năm 2016 tại Thái Nguyên
4 Ý nghĩa của đề tài
4.1 Ý nghĩa khoa học
- Kết quả nghiên cứu của đề tài là nguồn tài liệu phục vụ cho nghiên cứu và học tập
4.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả của đề tài là cơ sở để xác định biện pháp kỹ thuật phù hợp
cho giống đậu tương ĐT51 tại Thái Nguyên
Trang 12
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài
Để có đủ nguồn lương thực, thực phẩm chất lượng nuôi sống người dân trong bối cảnh khí hậu, môi trường sinh thái có nhiều biến đổi, người nông dân phải tiến hành một nền thâm canh hiện đại Nền sản xuất này đòi hỏi phải dựa trên việc áp dụng một cách khoa học các yếu tố giống, nước, phân bón và
kỹ thuật chăm sóc, đồng thời phải bảo vệ được nguồn tài nguyên thiên nhiên, tránh ô nhiễm môi trường
Nước ta đã có nhiều hướng đầu tư nghiên cứu phát triển cây đậu tương như: Nghiên cứu về giống nhằm chọn tạo và nhập nội các loại giống mới phù hợp với điều kiện nước ta Nghiên cứu các biện pháp thâm canh, các chế độ phân bón thích hợp cho từng giống, từng vùng đã đem lại những hiệu quả nhất định Để góp phần làm tăng năng suất đậu tương, đáp ứng nhu cầu trong nước và hướng tới xuất khẩu Bên cạnh việc nghiên cứu về giống, thời vụ thì nghiên cứu về phân bón lót là yếu tố quan trọng không thể thiếu trong nghiên cứu biện pháp kỹ thuật nhằm tăng năng suất đậu tương
Bón lót nhằm cung cấp chất dinh dưỡng cho sự sinh trưởng ban đầu của cây đậu tương Phân dùng bón lót là những loại phân mà cây đậu tương không thể hấp thu ngay từ khi còn nhỏ, mà cần có một thời gian phân giải trong đất thành các chất dễ hấp thu Phân dùng bón lót chủ yếu là phân hữu cơ Phần lớn là phân chuồng đã ủ hoai mục và phân hữu cơ chế biến Ngoài việc cung cấp chất dinh dưỡng, phân hữu cơ còn làm cho đất tơi xốp, giúp tăng cường hoạt động cho hệ sinh vật có lợi ích trong đất, để phát huy tác dụng này cần bón lót sớm, trước hoặc ngay khi chuẩn bị gieo trồng
Việc chọn được loại phân hữu cơ bón lót thích hợp sẽ giúp cây sinh
trưởng phát triển tốt, tăng năng suất tốt hơn
Trang 132.2 Tình hình sản xuất, nghiên cứu phân bón đậu tương trên thế giới
2.2.1 Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới
Cây đậu tương giữ vai trò quan trọng trong các cây lấy dầu của thế giới, tiếp sau đó là lạc, hướng dương, cải dầu, lanh, dừa và cọ, trên toàn bộ cây lấy dầu trên thế giới đậu tương tăng từ 32% năm 1965 tới 50% năm 1980 Ngược lại sản lượng của cây lạc lại giảm xuống từ 18% xuống còn 11% trong cùng thời kỳ (Ngô Thế Dân và cs, 1999) [6], đồng thời đậu tương cũng là cây đứng thứ tư trong các cây làm lương thực, thực phẩm (sau lúa mì, lúc nước và ngô) (Chu Văn Tiệp, 1981) [19] Hiện nay đậu tương được trồng ở 78 nước trên thế giới, trong đó trồng tập trung nhiều nhất ở các nước Châu Mỹ (chiếm tới 73%), tiếp theo là các nước thuộc khu vực Châu Á với 23,15% (Lê Độ Hoàng
và cs, 1977) [11] Tình hình sản xuất đậu tương của thế giới trong những năm gần đây được thể hiện qua bảng 2.1
Bảng 2.1 Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới
(ha)
Năng Suất (tạ/ha)
Sản Lượng (tấn)
(Nguồn: FAOSTAT Browse Data,2016) [26]
Diện tích: Trong những năm gần đây diện tích trồng đậu tương có xu hướng tăng lên Từ năm 2010 - 2014, trong 5 năm diện tích trồng đậu tương tăng lên khoảng 14,93 triệu ha tăng 14,51% so với năm 2010 Diện tích trồng đậu tương của thế giới cao nhất đạt 117,72 triệu ha vào năm 2014
Trang 14Năng suất: Năng suất đậu tương của thế giới những năm gần đây tương đối ổn định dao động từ 22,93 tạ/ha đến 26,2 tạ/ha Năm 2012, năng suất đậu tương là thấp nhất 22,93 tạ/ha Năm 2014, năng suất đậu tương tăng cao nhất
là 26,2 tạ/ha
Sản lượng: Sản lượng đậu tương của thế giới trong những năm gần đây
đã có sự biến động nhưng biến động không đáng kể Trong 5 năm trở lại đây
2010 - 2014 sản lượng đậu tương tăng 43,53 tấn tương đương với 16,43% Năm 2014 sản lượng đậu tương lớn nhất đạt 308,44 triệu tấn
Hiện nay khoảng 90 - 95 % sản lượng đậu tương trên thế giới tập trung ở 4 quốc gia là: Mỹ, Brazil, Trung Quốc và Achentina(Phạm Văn Thiều, 2006) [20] Sản lượng của các nước này chiếm khoản 90 - 95% sản lượng đậu tương của toàn thế giới và được thể hiện rõ ở bảng 2.2 dưới đây
Bảng 2.2 Diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương ở 4 quốc gia đứng đầu
thế giới
Tên nước
Diện tích (triệu/ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (triệu tấn)
Diện tích (triệu/ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (triệu tấn)
Trang 15Mỹ là nước sản xuất, tiêu thụ và nhập khẩu đậu tương lớn nhất thế giới Mỹ coi đậu tương là sản phẩm chiến lược trong ngành nông nghiệp nên
đã liên tục mở rộng diện tích trồng đậu tương bằng cách thay thế các cây trồng khác bằng đậu tương Để đạt lợi nhuận cao nhất, các nhà sản xuất đậu tương ở Mỹ đã đầu tư mạnh và nghiên cứu mở rộng thị trường Đến nay, Mỹ
đã hỗ trợ trên 18 chương trình và mở rộng thị trường tại 70 nước, nghiên cứu giảm giá thành phẩm, nâng cao chất lượng hạt và tạo nhiều sản phẩm mới từ đậu tương Hiệp hội đậu tương Hoa Kỳ ASA được thành lập từ năm 1920 và
có 52000 hội viên tham gia Hiện nay, ở Mỹ cây đậu tương đang đứng thứ 3
về diện tích sau lúa mì và ngô đứng thứ hai về giá trị kinh tế Đậu tương đối với Mỹ được coi là mặt hàng có giá trị chiến lược trong xuất khẩu và thu ngoại tệ
Tiếp sau Mỹ phải kể đến Brazil là nước đứng thứ hai trên thế giới về diện tích và sản lượng đậu tương Năm 2014, về diện tích chiếm khoảng 25,71%, sản lượng chiếm khoảng 28,13% so với sản lượng đậu tương của thế giới Đậu tương
ở Brazil hầu hết được dùng làm bột và ép dầu Chính phủ Brazil khuyến khích đẩy mạnh công nghiệp chế biến trong nước và xuất khẩu khô dầu, bột đậu Có được kết quả trên là do Brazil đã sử dụng những giống chống chịu sâu bệnh, giống chuyển gen, ứng dụng khoa học kỹ thuật của thế giới
Xếp sau Brazil là nước láng giềng Agrentina và Trung Quốc Trước đây, Trung Quốc đứng ở vị trí thứ 3 sau Mỹ và Brazil nhưng từ năm 1999 trở lại đây Agrentina đã vượt qua Trung Quốc cả về diện tích, năng suất và sản lượng Năm 2014, diện tích đậu tương của Achentina là 19,25 triệu ha, trong khi đó Trung Quốc là 6,73 triệu ha Năng suất đậu tương của Achentina đạt 27,74 tạ/ha còn Trung Quốc chỉ là 18,13 tạ/ha
Ngoài 4 nước nói trên thì Pháp, Úc, Ấn Độ, Nhật Bản cũng là những nước sản xuất đậu tương lâu đời
Trang 16Tại Nhật Bản cây đậu tương tuy đã được đưa vào khoảng 200 năm trước và sau công nguyên, nhưng phải đến năm 1960 cây đậu tương mới được chú ý phát triển Diện tích trồng đậu tương của Nhật Bản năm 1960 là 340 ngàn ha, năng suất 78,5 tạ/ha cao nhất thế giới, năm 1997 diện tích đạt tới 832 ngàn ha (Nguyễn Văn Luật(1979) [14]
Đậu tương là cây trồng được chú ý phát triển khá mạnh ở Ấn Độ Năm 1997 Ấn Độ có diện tích đậu tương là 5,1 triệu ha, năng suất 10,5 tạ/ha, sản lượng 5,35 triệu tấn Trong những năm gần đây Ấn Độ đã áp dụng giống mới và kỹ thuật thâm canh nên năng suất bình quân đã tăng gấp 2,5 lần đạt 26,7 tạ/ha
Diện tích, năng suất và sản lượng Châu Á còn thấp, chỉ mới đáp ứng được 50% nhu cầu tiêu dùng của châu lục, do vậy hàng năm các nước Châu Á như: Trung Quốc, Nhật Bản, Indonexia, Malaixia phải nhập khẩu một lượng lớn đậu tương từ Mỹ, Braxin, Achentina…
Một số nước Đông Âu cũng có nhu cầu nhập khẩu đậu tương lớn chủ yếu từ Mỹ và Braxin như: Hà Lan nhập 5,06 triệu tấn; Đức nhập 3,9 triệu tấn; Tây Ban Nha nhập trên 3 triệu tấn (Ngô Thế Dân, 1999) [6]
2.2.2 Một số nghiên cứu về phân bón cho đậu tương trên thế giới
Hiện nay, đậu tương đang được trồng ở trên 100 nước trên thế giới, nó
là cây trồng có giá trị nhiều mặt như: dinh dưỡng, thương mại Nhu cầu đậu tương trên thế giới không ngừng tăng, song sản lượng đậu tương lại không đáp ứng được nhu cầu đó Để tăng sản lượng đậu tương không chỉ mở rộng diện tích
mà mà cần phải nghiên cứu các phương pháp làm tăng năng suất “phá vỡ rào cản năng suất của đậu tương” Vì thế, trong điều kiện diện tích gieo trồng có hạn, để đáp ứng được nhu cầu đậu tương đòi hòi các nhà khoa học nghiên cứu chọn tạo
ra những giống đậu tương mới có năng suất cao, ổn định, phẩm chất tốt Đồng
Trang 17thời, áp dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác thích hợp Trong đó, phân bón lót
là một yếu tố rất quan trọng
Năm 1970, ở Nam Phi người ta đã sản xuất phân hữu cơ lân tự nhiên nghiền mịn và amonium cacbonat Theo Lê Văn Tri (2003) [23] Trung Quốc được xem là nước có truyền thống sử dụng phân hữu cơ lâu đời nhất với các nguồn phân chủ yếu là phân chuồng, rơm rạ, phân xanh, khô dầu tương, tương đương 9,8 triệu tấn NPK nguyên chất/năm Năm 1982, ở Mỹ đã sản xuất được khoảng 100 triệu tấn/năm từ bùn cống, mùn cưa, vôi và đá phosphate, ở Đài Loan thì phân hữu cơ bắt đầu sản xuất từ năm 1986 từ than bùn, mùn cưa và lân tự nhiên (Juang, 1996) [27]
Trong những năm qua, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã có nhiều hướng dẫn giúp bà con nông dân tại các địa phương sử dụng WEHG như là một biện pháp kỹ thuật mới sử dụng trong sản xuất nông nghiệp (1997), được Cục trồng trọt hướng dẫn sử dụng như một biện pháp sản xuất
an toàn theo hướng VietGAP trên các sản phẩm như rau, quả, chè để hạn chế hàm lượng nitrat và dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong các loại sản phẩm trên nhằm tạo ra những sản phẩm đảm bảo an toàn thực phẩm và vệ sinh môi trường Năm 2011, phân sinh học WEHG đã được Cục Trồng trọt, Bộ NN&PTNT công nhận là tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất lúa theo VietGAP (Nguyễn Thanh Hải, 2013) [8]
Phân hữu cơ sinh học là một sản phẩm sinh học Sự ra đời của nó xuất phát từ việc phát minh và ứng dụng phân vi sinh vật trong sản xuất nông nghiệp
Phân vi sinh vật được nghiên cứu và sản xuất đầu tiên tại Đức 1896 bởi Noble Hiltner và được đặt tên là Nitragin Nitragin là loại phân chế tạo bởi vi khuẩn Rhizobium (vi khuẩn Rhizobium do một nhà khoa học người Hà Lan phân lập trong nốt sần rễ cây bộ đậu năm 1888 và được FrankB (người Đức)
Trang 18đặt tên vào năm 1889) dùng để bón cho các loài cây họ đậu Sau đó, việc sản xuất loại phân này được phát triển rộng sang các nước khác như ở Mỹ(1896), Canada (1905), Nga (1907), Thụy Điển (1914) với các tên gọi khác nhau như: Nitrobacterin (Anh), Campen (Hà Lan), A Bactenit (Hungari), Afoit (Italia) Từ đó, đã có nhiều công trình nghiên cứu nhằm ứng dụng và mở rộng sản xuất các loại phân bón vi sinh cố định nitơ mà thành phần còn được phối thêm một số vi sinh vật có ích khác như các vi khuẩn, xạ khuẩn cố định nitơ sống tự do, các xạ khuẩn có khả năng phân giải cellulose, một số chủng vi sinh vật có khả năng chuyển hóa phospho và kali ở dạng khó hòa tan thành dạng dễ hòa tan cho cây trồng dễ sử dụng
Sở nghiên cứu khoa học Đông Bắc Trung Quốc năm 1955 đã cho sản xuất phân vi sinh vật chuyển hóa phospho bón cho lúa nước, lúa mì, khoai tây, đậu tương, lạc kết quả thu được đều cho năng suất cao hơn (Lê Văn Tri, 2001) [22]
Nhiều sản phẩm được tạo ra từ các quy trình nêu trên đã được thử khảo nghiệm trên diện rộng và được Bộ Nông nghiệp & PTNT công nhận và cho đăng ký trong danh mục các loại phân bón được phép sử dụng tại Việt Nam như: Phân VSV Lân hữu cơ Sông Gianh, Phân VSV cố định nitơ cho cây họ đậu, Phân lân hữu cơ vi sinh KOMIX, Phân bón sinh tổng hợp BIOMIX, Phân lân vi sinh HUMIX, Phân vi sinh Phytohoocmon, HUDAVIL, Tùy theo công nghệ sản xuất phân bón vi sinh vật thể chứa sinh khối từ 1 chủng hay nhiều chủng vi sinh vật đã tuyển chọn sản phẩm có thế được sản xuất ở dạng bột hoặc lỏng (Nguyễn Hữu Tề) [18]
Năm 1980, GS.TS Teruo Higa - Đại học Ryu Kyus – Okinawa – Nhật Bản đã phát minh ra chế phẩm EM Chế phẩm này có chứa khoảng 80 loài vi sinh vật có nguồn gốc tự nhiên: Vi khuẩn lactic, nấm men, nấm mốc, (Trần Thị Thanh, 2001) [17] Chế phẩm này được ứng dụng rộng rãi ở nhiều quốc
Trang 19gia trên thế giới và thu được những kết quả đáng kể, đặc biệt những nước thuộc Châu Á Ở Nhật bản người ta xử lý EM trên cà chua, khoai tây và thu được 500 quả cà chua/cây, 10kg củ khoai tây/cây Tại Thái Lan, nhờ sử dụng
EM mà những vùng đất bạc màu không trồng được cải bắp 2 vụ đã trồng được cải bắp 2 vụ, năng suất cao hơn rõ rệt, đất đai màu mỡ hơn (Vũ Hữu Trường Điền, 1998) [7]
Theo nghiên cứu của Myint C.C, (1993) [29] đã cho thấy: Nếu chỉ bón đơn độc EM cho ruộng lúa thì năng suất tăng từ 2 - 11% nhưng nếu bón kết hợp EM với các chất hữu cơ thì năng suất lúa tăng từ 17,0 - 41,5%
Tại Trung Quốc, khi nghiên cứu ảnh hưởng của EM trên đậu tương các tác giả Li Zhengao, Wo Shengchun và Yn Shen (1995) [28] cũng đã đưa ra kết luận rằng: EM có ảnh hưởng rõ rệt đến sự sinh trưởng phát triển, năng suất của đậu tương; việc bón kết hợp EM với các chất hữu cơ đã cho năng suất đậu tương tăng từ 13,7% so với chỉ bón phân hóa học
Như vậy, việc sản xuất phân vi sinh đã rất phổ biến ngay từ đầu thế kỉ
XX, nhưng việc nghiên cứu và sản xuất phân hữu cơ sinh học bằng cách phối trộn phân hữu cơ và phân vi sinh mới chỉ manh nha vào cuối thế kỉ XX (Võ Minh Kha, 2003) [12]
2.3 Tình hình sản xuất và nghiên cứu đậu tương ở Việt Nam
2.3.1 Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam
Việt Nam là một nước nông nghiệp có lịch sử trồng đậu tương lâu đời Một số tài liệu cho rằng cây đậu tương được đưa vào trồng nước ta từ thời vua Hùng và xác định rằng nhân dân ta trồng cây đậu tương trước cây đậu xanh và cây đậu đen (Ngô Thế Dân và cs, 1999) [6] Hiện nay cây đậu tương ở Việt Nam chiếm một vị trí rất quan trọng trong nền nông nghiệp Nhận thức được vai trò quan trọng của cây đậu tương trong việc phát triển kinh tế, nước ta đã và đang chú trọng vào sản xuất đậu tương, văn kiện Đại hội V của Đảng cộng sản
Trang 20Việt Nam (tập II trang 37) có ghi: “Đậu tương cần được phát triển mạnh mẽ để tăng nguồn đạm cho người, gia súc, đất đai và trở thành một loại hàng hoá xuất khẩu chủ lực ngày càng quan trọng”
Hiện tại cả nước đã hình thành 7 vùng sản xuất đậu tương Trong đó, diện tích trồng lớn nhất là trung du miền núi phía Bắc (chiếm 37,1% diện tích trồng cả nước), tiếp theo là vùng đồng bằng sông Hồng với diện tích 27,21% (Ngô Thế Dân và cs 1999) [6] Năng suất đậu tương cao nhất nước ta là vùng đồng bằng sông Cửu Long, bình quân 22,29 tạ/ ha trong vụ Đông Xuân và 29,71 tạ/ ha trong vụ mùa Vùng trung du và miền núi phía Bắc, nơi có diện tích đậu tương lớn nhất nước ta lại là vùng có năng suất thấp nhất, trên 10 tạ/
ha Theo nghiên cứu của Lê Quốc Hưng (2007) [9], nước ta có tiềm năng lớn
để mở rộng diện tích trồng đậu tương ở cả 3 vụ: Xuân, Hè và Đông với diện tích có thể đạt được là 1,5 triệu ha, trong đó miền núi phía Bắc khoảng 400 nghìn ha
Cây đậu tương có khả năng thích ứng rộng với nhiều vùng sinh thái khác nhau, đối với đất bạc màu và khô hạn thì cây đậu tương cho hiệu quả kinh tế cao nhất Đồng thời, nó cũng góp phần rất to lớn trong công tác chuyển dịch cơ cấu cây trồng trong sản xuất nông nghiệp, tạo thêm công ăn việc làm, góp phần cải tạo đất đai, cải tạo môi trường, sử dụng hợp lý đất đai, lao động, tiền vốn
Tuy nhiên sản xuất đậu tương ở nước ta chưa được đầu tư cao, năng suất còn thấp hơn nhiều so với thế giới Nhưng khi đánh giá về tốc độ phát triển sản xuất đậu tương thì Việt Nam cũng là nước có tốc độ phát triển nhanh so với các nước khác trên thế giới Diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương ở Việt Nam những năm gần đây được thể hiện qua bảng 2.3
Trang 21Bảng 2.3 Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam 5 năm gần đây
Năm Diện tích (ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (tấn)
(Nguồn FAOSTAR Browse Data, 2016) [26]
Diện tích: Diện tích đậu tương giảm dần qua các năm từ 2010 - 2014
Từ 197,800 ha năm 2010 còn 109,351 ha năm 2014, giảm 88,449 ha tương ứng với 44,7%
Năng suất: Năng suất có sự giảm nhẹ qua các năm, năng xuất đậu tương vẫn ở mức còn thấp so với bình quân thế giới cụ thể là thấp hơn 10,4 tạ/ha Nguyên nhân chính dẫn đến năng xuất đậu tương tương đối thấp là:
- Trình độ canh tác còn hạn chế
- Do quen làm với cách làm cũ, khó tiếp thu những kỹ thuật mới
- Do người dân còn thiếu thông tin
- Do thiếu sự quan tâm của cán bộ cũng như Đảng và nhà nước
- Do trồng quen giống địa phương mà các giống mới chọn tạo cho năng suất cao hơn thì không trồng
- Chưa quy hoạch được vùng sản xuất đậu tương và chưa xác định được giống phù hợp cho từng vùng sinh thái
- Diện tích đất trồng đậu tương tập trung ở miền núi, cơ sở vật chất còn nghèo nàn
Hiện nay, cả nước đã hình thành 6 vùng sản xuất đậu tương: vùng Đông Nam Bộ có diện tích lớn nhất (26,2% diện tích đậu tương cả nước), miền núi Bắc Bộ 24,7%, đồng bằng sông Hồng 17,5%, đồng bằng sông Cửu
Trang 22Long 12,4% (Ngô Thế Dân và cs, 1999) [6] Tổng diện tích 4 vùng này chiếm 80% diện tích trồng đậu tương cả nước, còn lại là đồng bằng ven biển miền Trung và Tây Nguyên Đậu tương được trồng ở vụ Xuân chiếm 14,2% diện tích, vụ Hè là 2,68%, vụ Hè Thu 31,3%, vụ Thu Đông 22,1% và vụ Đông Xuân 29,7% (Ngô Thế Dân và cs, 1999) [6]
Tuỳ theo điều kiện sinh thái của từng vùng mà đậu tương được gieo trồng trong các vụ chính khác nhau Ví dụ ở các tỉnh miền núi phía Bắc đậu tương được gieo trồng chính trong vụ Hè Thu, những năm gần đây đậu tương cũng được phát triển mạnh trong vụ Xuân
Sản lượng: Cùng với diện tích giảm qua các năm kéo theo sản lượng đậu tương của nước ta cũng giảm theo Cụ thể là năm 2010 sản lượng đậu tương là 298,600 tấn thì năm 2014 giảm xuống còn 156,549 tấn
Hiện nay cùng với nhịp độ tăng dân số và việc thay đổi tập quán tiêu dùng dầu thực vật thay mỡ động vật, thì nhu cầu dầu thực vật đặc biệt là dầu đậu tương sẽ tăng lên, như vậy sẽ tạo ra một cơ hội rất lớn cho việc phát triển sản xuất đậu tương trong nước
2.3.2 Một số nghiên cứu về phân bón cho đậu tương ở Việt Nam
Nhu cầu dinh dưỡng của cây trồng khác nhau thì khác nhau Khi được cung cấp đầy đủ dinh dưỡng cây trồng nói chung và cây đậu tương nói riêng
sẽ phát huy tốt tiềm năng năng suất Trong các biện pháp kỹ thuật thâm canh nâng cao năng suất cho đậu tương thì phân bón đóng vai trò hết sức quan trọng Vì vậy, ngoài việc xác định bộ giống thích hợp cho từng vùng, từng vụ sản xuất thì việc nghiên cứu, hoàn thiện quá trình bón phân nâng cao năng suất cho từng giống ở mỗi thời vụ và điều kiện đất đai khác nhau là hết sức cần thiết nhằm phát huy tiềm năng của giống ở mức cao nhất
Cây đậu tương cần một dinh dưỡng rất lớn, nhất là đạm Tuy nhiên trên
thực tế do có khả năng sống cộng sinh với vi khuẩn cố định đạm Rhizobium
Japonicum nên lượng phân bón cho đậu tương không nhiều, bởi nguồn đạm
Trang 23cộng sinh đáp ứng tới 40 - 60% nhu cầu đạm của cây Sau khi cây có 2 - 3 lá thật cây đậu tương có khả năng cố định đạm để cung cấp cho hoạt động sống của mình Nguồn đạm này được tăng dần khi cây có 3 lá kép (nốt sần bắt đầu hình thành) và đạt tối đa khi cây ra hoa, làm quả sau đó giảm dần
Để đạt được năng suất cao, phẩm chất tốt thì đậu tương cần được bón đầy đủ phân hữu cơ và các loại phân khoáng khác, vì nó chỉ có thể sinh trưởng và phát triển tốt khi được bón đầy đủ và cân đối các chất dinh dưỡng cần thiết (Phạm Văn Thiều, 2006) [20] Nghiên cứu về nhu cầu dinh dưỡng của đậu tương, tác giả Nguyễn Từ Xiêm và Thái Phiên (1999) [25] cho biết:
Để tạo ra 1 tấn hạt đậu tương cần cung cấp đầy đủ và cân đối các yếu tố dinh dưỡng đa lượng như N, P, K, Canxi và các yếu tố vi lượng như Mn, Zn, Cu,
B, Mo Lượng phân bón trong thực tế sản xuất phải tùy thuộc vào thời vụ, chân đất, cây trồng vụ trước, giống cụ thể mà bón thích hợp (Trần Thị Trường
và các cs, 2006) [21] Do vậy không thể có một công thức bón chung cho tất
cả các vụ, các vùng, các loại đất khác nhau
Ở Việt Nam, theo tính toán các chuyên gia trong lĩnh vực nông nghiệp thì hiệu suất sử dụng phân đạm chỉ đạt 30 - 45%, lâm 40 - 45%, kali 40 - 50% tùy theo chân đất, giống cây trồng thời vụ, phương pháp bón, loại phân,…đồng nghĩa với việc còn 1,77 triệu tấn urê; 2,07 triệu tấn lân supe và
344 nghìn tấn kali clorua bón vào đất cây chưa sử dụng được Điều này vừa gây thiệt hại về mặt kinh tế vừa gây ô nhiễm môi trường và nguy cơ mất an toàn trong thực phẩm (Lê Văn Khoa và cs, 2015) [13]
Theo Nguyễn Văn Bộ (2001) [2]: Nếu chỉ bón riêng đạm cho đậu tương thì năng suất đạt 1,4 tạ/ha Trong khi đó cũng lượng đạm như vậy trên nền có bón lân cho năng suất đạt 2,3 tạ/ha
Trang 24Các yếu tố đa lượng có thúc đẩy, hỗ trợ nhau trong việc cung cấp dinh dưỡng cho cây đậu tương, thiếu một trong các yếu tố này đều làm cho cây sinh trưởng, phát triển không bình thường, năng suất thấp
Theo Vũ Đình Chính (1998) [3] cho rằng: Bón kết hợp N, P, K trên đất bạc màu nghèo dinh dưỡng với mức 90kg P2O5/ha trên nền 40kg N/ha làm tăng số lượng nốt sần, số quả chắc/cây và năng suất hạt Theo tác giả thì trong điều kiện vụ hè thu trên đất bạc màu (Hiệp Hoà - Bắc Giang) bón cho giống đậu tương Xanh lơ Hà Bắc thích hợp nhất là 20kg N: 90kg P2O5: 90kg K2O
Tác giả Lê Đình Sơn (1988) [16] cho rằng: Lân và đạm có tác dụng thúc đẩy lẫn nhau trong việc làm tăng số các cành hoa quả, số quả/cây
Với công nghệ và kỹ thuật sản xuất phân bón như hiện nay, đặc biệt cả thế giới đang hướng tới nền nông nghiệp sinh thái, các nhà khoa học đã kết hợp hài hòa được tính tác dụng nhanh và hàm lượng dinh dưỡng cao của phân hóa học và cải tạo đất, giữ gìn độ phì nhiêu cho đất của phân hữu cơ và phân
vi sinh, đồng thời có thể sử dụng hợp lí các chất kích thích sinh trưởng cây trồng và nguyên tố vi lượng Vì vậy phân hữu cơ sinh học đã ra đời Đây là loại phân bón sử dụng quá trình lên men vi sinh vật để hoạt hóa than bùn (phân gia súc, gia cầm, rác thải hữu cơ…); rồi phối trộn với phân hóa học (đạm, lân, kali, các nguyên tố trung lượng, vi lượng) và cấy vào các chủng vi sinh vật hữu ích Ngoài ra, phân hữu cơ sinh học còn được bổ sung đầy đủ các nguyên tố và hoạt chất mà cây trồng cần hoặc đất thiếu; hàm lượng chất dinh dưỡng trong phân có thể được điều chỉnh hoặc thay thế một phần nào đó cho phù hợp với từng loại cây trồng trên mỗi vùng đất canh tác khác nhau
Tác dụng phân hữu cơ sinh học:
+ Cung cấp nguồn dinh dưỡng cho đất và cây trồng
+ Cung cấp nguồn vi sinh vật hữu ích cho cây trồng, cho đất để dần cải tạo đất
Trang 25+ Duy trì và tăng độ phì nhiêu cho đất
+ Cải thiện và nâng cao sức khỏe cây trồng
+ Nâng cao năng suất cây trồng và chất lượng nông sản
+ Góp phần bảo vệ môi trường sinh thái bền vững
Các xí nghiệp sản xuất phân hữu cơ sinh học được xây dựng ở nhiều nơi và đã cho ra nhiều sản phẩm khác nhau Đến năm 2004, nước ta có khoảng 11 loại phân hữu cơ sinh học được bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho phép sử dụng và lưu hành Trong 3 năm vừa qua bình quân mỗi năm lượng phân hữu cơ vi sinh sử dụng khoảng 200 nghìn tấn (Nguyễn Xuân Nguyên, Hoàng Đại Tuấn, 2004) [15]
Phân hữu cơ sinh học là chế phẩm của các vi sinh vật sống, do đó khả năng sống sót và thời gian tồn tại trên mức cơ chất có vai trò quan trọng Điều này phụ thuộc nhiều vào đặc tính của mỗi chủng thành phần, điều kiện sống (chất mang) Do đó mục tiêu quan trọng là kéo dài thời gian bảo quản của phân hữu cơ sinh học
Giữa cây trồng và vi sinh vật có mối quan hệ nhất định Có chủng vi sinh vật chỉ sống cộng sinh hay nội sinh với nốt hoặc một số cây Ví dụ Rhizobium Japonicum chỉ sống với cây đỗ tương, trong đó Rhizobium sp có thể tạo nốt sần
ở các cây lạc, cây đậu xanh, đậu đen… Vì vậy mỗi loại phân hữu cơ sinh học sản xuất ra chỉ phù hợp với một số đối tượng cây trồng nhất định
- Các yếu tố: dinh dưỡng pH thích hợp, nhiệt độ thuận lợi… có vai trò quan trọng trong sự phát triển của vi sinh vật Do đó, để phân hữu cơ sinh học được sử dụng rộng rãi, thì cần có các vi sinh vật có khả năng thích nghi rộng
- Sau khi bón phân hữu cơ sinh học người ta thấy mật độ vi sinh vật hữu ích tăng lên rõ rệt, sau đó giảm dần và ổn định trong quá trình cây trồng phát triển Sau thu hoạch, mật độ vi sinh vật này sẽ giảm dần và tiến tới cân bằng trong quần thể vi sinh vật đất Để đảm bảo hiệu lực của chúng các vi sinh vật hữu ích này cần bón cho những vụ tiếp theo
Trang 26- Ngoài ra, để sử dụng phân bón hữu cơ sinh học hiệu quả cũng cần lưu ý bón đúng liều lượng và bón đúng cách cho từng loại cây trồng
2.4 Tình hình sản xuất đậu tương ở Thái Nguyên
Thái Nguyên là một tỉnh miền núi Đông Bắc, có tổng diện tích đất tự nhiên là 650,288 ha Trong đó đất đồi núi là 520,000 ha chiếm 80% tổng diện tích đất tự nhiên Tỉnh Thái Nguyên có nhiều tiềm năng để trồng các loại cây công nghiệp ngắn ngày Đặc biệt là cây đậu tương, một cây trồng phù hợp với việc luân canh, xen canh lại có tác dụng cải tạo đất rất tốt Tuy nhiên diện tích trồng đậu tương ở Thái Nguyên còn rất thấp
Diện tích và sản lượng đậu tương của tỉnh Thái Nguyên trong những năm gần đây có xu hướng giảm nhẹ Năm 2010, diện tích trồng đậu tương của tỉnh là 1,6 nghìn ha, sau 5 năm diện tích giảm 25% còn 1,2 nghìn ha (năm 2014) Điều đó đã dẫn đến sản lượng giảm từ 2,3 nghìn tấn (năm 2010) xuống còn 2,0 nghìn tấn (năm 2014), song năm 2011 lại tăng lên 2,4 nghìn tấn Năng suất đậu tương của tỉnh Thái Nguyên trong 5 năm trở lại có sự biến động nhẹ,
từ năm 2010-2013 có xu thế tăng lên từ 14,8-15,3 tạ/ha nhưng năm 2014 lại đột ngột giảm xuống còn 14,2 tạ/ha Nhìn chung diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương ở Thái Nguyên vẫn còn thấp Muốn đưa diện tích và năng suất tăng cao cần đưa những giống mới có năng suất cao đồng thời cần áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật cao vào sản xuất
Bảng 2.4 Tình hình sản xuất đậu tương ở Thái Nguyên trong những năm gần
Trang 27(Nguồn: Chi cục thống kê tỉnh Thái nguyên)[5]
Qua bảng số liệu 2.3 ta thấy: Diện tích và sản lượng đậu tương của tỉnh Thái Nguyên trong những năm gần đây liên tục giảm
Về diện tích: Từ năm 2011 - 2015, diện tích trồng đậu tương của tỉnh giảm từ 181,1 nghìn ha xuống còn 100,8 nghìn ha giảm 80,3 nghìn ha (giảm 55,66%)
Về năng suất: Năng suất đậu tương của tỉnh Thái Nguyên giảm nhẹ qua các năm dao động từ 14,3 - 14,7 tạ/ha Thấp nhất là năm 2014 đạt 14,3 tạ/ha, cao nhất là năm 2011 đạt 14,7 ha Một trong những nguyên nhân dẫn đến năng suất thấp là do chưa áp dụng đúng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới, nhất là các biện pháp canh tác, trong đó có việc xác định đúng thời vụ trồng theo yêu cầu của từng giống đậu tương khác nhau trên những vùng đất khác nhau
Về sản lượng: Từ năm 2010 đến 2015 sản lượng đậu tương giảm đáng
kể từ 266,9 nghìn tấn xuống còn 146,4 nghìn tấn (giảm 54,85%) do diện tích trồng đậu tương qua các năm giảm mạnh
Nhìn chung diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương ở Thái Nguyên vẫn còn thấp Do vậy, muốn đưa diện tích và năng suất tăng cao ngoài việc xác định bộ giống đậu tương có khả năng sinh trưởng tốt phù hợp với điều kiện sinh thái của tỉnh còn cần phải nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật trồng đậu tương thích hợp, đặc biệt là xác định đúng thời vụ gieo trồng góp phần cải thiện quy trình thâm canh đậu tương nhằm góp phần chuyển dịch cơ cấu cây trồng của tỉnh đem lại hiệu quả kinh tế cao, cải tạo đất, tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân
Trang 28Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đề tài thực hiện từ tháng 6 đến tháng 11 năm 2016
- Đối tượng nghiên cứu : Giống đậu tương ĐT51
- Vật liệu nghiên cứu: Phân chuồng (đối chứng), phân hữu cơ sinh học Sông Gianh, phân hữu cơ sinh học Quế Lâm, phân hữu cơ sinh học NTT
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu
Phường Quang Vinh - thành phố Thái Nguyên - tỉnh Thái Nguyên
3.2.2 Thời gian nghiên cứu
Thí nghiệm tiến hành trong vụ Hè Thu năm 2016 ( từ tháng 7/2016 – tháng 11/2016)
- Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại phân hữu cơ sinh học đến các yếu
tố cấu thành năng suất và năng suất của giống đậu tương ĐT51
Trang 293.4 Phương pháp nghiên cứu
vệ
I CT1 CT2 CT3 CT4
Dải bảo
CT 1: Phân chuồng (đối chứng ) Lượng phân bón: 5000 kg/ha
CT 2: Phân hữu cơ sinh học Sông Gianh Lượng phân bón : 1000 kg/ha
CT 3: Phân hữu cơ sinh học Quế Lâm Lượng phân bón : 1000kg/ha CT4: Phân hữu cơ sinh học NTT Lượng phân bón : 1000kg/ha
Trang 30+ Xới phá váng tạo điều kiện cho đất tơi xốp khi cây 1 - 2 lá thật
+ Khi cây có 3 - 5 lá thật thì tiến hành bón thúc nốt lượng phân kết hợp vun gốc
+ Vun gốc lần 2 khi cây được 5 - 7 lá thật
+ Tưới tiêu nước: Trong quá trình sinh trưởng của cây nếu không có mưa cần phải tưới nước vào những giai đoạn cần thiết như trước giai đoạn ra hoa và phát triển hạt
+ Phòng trừ sâu bệnh: Theo dõi sâu bệnh, tiến hành phòng trừ khi cần thiết
- Thu hoạch: Khi có khoảng 95% số quả trên cây đã chín (vỏ quả có màu nâu hoặc đen)
3.5 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi
Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp theo dõi tuân theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 01-58: 2011/BNNPTNT về khảo nghiệm giá trị canh tác và sử dụng của giống đậu tương [1]
3.5.1 Các chỉ tiêu về sinh trưởng và phát triển
- Ngày gieo: 16/7/2016
- Ngày mọc: Khoảng 50% số cây/ô mọc 2 lá mầm xòe ngang trên mặt đất
Trang 31- Ngày phân cành: Tính khi có 50% số cây trong ô thí nghiệm ra cành đầu tiên dài > 2 cm
- Ngày ra hoa: Tính khi 50% số cây trong ô thí nghiệm có hoa đầu tiên
- Ngày chắc xanh: Tính khi có 50% số cây trên ô có quả đã vào chắc
- Ngày chín: Tính khi 90% số quả trên ô đã chín, khi mà vỏ quả chuyển sang màu nâu hoặc đen
- Chiều cao cây (cm): Đo từ vết 2 lá mầm đến đỉnh sinh trưởng của thân chính lúc thu hoạch, đo 10 cây mẫu/ô rồi tính trung bình
- Đường kính thân (cm): Đo ở giữa đốt đầu tiên trên thân chính lúc thu hoạch của 10 cây mẫu
- Số cành cấp 1 (cành): Đếm số cành mọc ra từ thân chính, đếm 10 cây mẫu/ô rồi tính trung bình
3.5.2 Chỉ tiêu sinh lý
- Chỉ số diện tích lá (m2 lá/m2 đất): Đánh giá ở 2 thời kỳ hoa rộ và chắc xanh + Phương pháp theo dõi: Nhổ 3 cây liên tiếp trên ô, chuẩn bị 1dm2 bìa cứng, lấy lá ở các tầng giữa, gốc và ngọn cây xếp cho kín 1dm2 bìa cứng rồi cân nhanh được khối lượng PA, sau đó cân toàn bộ khối lượng lá của 3 cây (PB)
CSDTL= PB x mật độ (m2 lá/m2 đất)
PA x 100 x 3 Trong đó:
PA: Khối lượng 1 dm2 lá (g)
PB: Khối lượng toàn bộ lá của 3 cây (g)
- Khả năng tích luỹ vật chất khô: Nghiên cứu vào 2 thời kỳ hoa rộ và chắc xanh
+ Phương pháp theo dõi: Đem sấy khô phần trên mặt đất của 3 cây/ô Sấy đến khi cân 3 lần không đổi được PK Tính khả năng tích lũy vật chất khô theo công thức:
Trang 32PK: Khối lượng khô của 3 cây
PT: Khối lượng tươi của 3 cây
- Khả năng hình thành nốt sần hữu hiệu: Nghiên cứu vào hai thời kỳ hoa
rộ và chắc xanh
+ Phương pháp: Tưới ẩm gốc dùng bay sắn lấy nguyên vẹn bộ rễ của 3 cây liên tiếp đem ngâm nước cho tơi đất, rửa sạch sau đó đếm số lượng nốt sần hữu hiệu (nốt sần hữu hiệu là nốt sần có đường kính ≥ 0,25mm, bên trong có dịch màu hồng), cân rồi tính trung bình
3.5.3 Các yếu tố cấu thành năng suất
- Số cây thu hoạch/ô: Đếm số cây thực tế/ ô khi thu hoạch
Mỗi ô thu hoạch 10 cây đo đếm các chỉ tiêu:
- Số quả/cây: Đếm số quả trên mỗi cây rồi tính trung bình
- Số quả chắc/cây: Đếm số quả chắc trên mỗi cây rồi tính trung bình
- Số quả 1 hạt/cây: Đếm số quả 1 hạt trên mỗi cây rồi tính trung bình
- Số quả 2 hạt/cây: Đếm số quả 1 hạt trên mỗi cây rồi tính trung bình
- Số quả 3 hạt/cây: Đếm số quả 1 hạt trên mỗi cây rồi tính trung bình
- Xác định số hạt chắc/quả theo công thức:
Hạt chắc/quả = Tổng số hạt/cây
Tổng số quả chắc/cây
Trang 33- Năng suất (kg/ô): Thu riêng từng ô của mỗi lần nhắc lại của các công thức, đập lấy hạt, phơi khô, làm sạch, cân khối lượng của từng ô rồi tính trung bình (NSTT)
- Khối lượng 1000 hạt (M1000) sau khi hạt được làm sạch, mỗi công thức đếm 3 mẫu, mỗi mẫu 1000 hạt để riêng rồi cân từng mẫu một được khối lượng M1, M2 và M3 rồi tính trung bình
- Năng suất lý thuyết (tạ/ha) (NSLT):
NSLT =
Số quả chắc/cây x số hạt chắc/quả x M1000 hạt x mật độ
(cây/m2)
(tạ/ha) 10.000
- Năng suất thực thu (tạ/ha) (NSTT): Từ năng suất/ô, cộng những cây
đã nhổ để theo dõi các chỉ tiêu Ta tính được NSTT quy ra tạ/ha
3.5.4 Đánh giá khả năng chống chịu sâu bệnh hại
- Sâu cuốn lá (Lamprosema Indicata Fab): Điều tra ít nhất 10 cây đại
diện theo phương pháp 5 điểm chéo góc
Sơ đồ điều tra:
Tỉ lệ hại (%) = Số lá bị cuốn x 100
Tổng số lá điều tra
- Sâu đục quả (Eitiella Zinekenella Treitschehe): Điều tra ít nhất 10 cây
đại diện theo phương pháp 5 điểm chéo góc
Sơ đồ điều tra:
Trang 34Tỉ lệ hại (%) = Số quả bị hại x 100
Tổng số quả điều tra
- Bệnh gỉ sắt (Phakopspora sojae): Được đánh giá theo QCVN
- Khả năng chống đổ: Đánh giá theo thang điểm từ (1 - 5):
• Điểm 1 : Không đổ (Hầu hết các cây đều đứng thẳng);
Theo dõi trước khi thu hoạch
3.6 Phương pháp xử lý sô liệu
- Số liệu thô được tính toán và xử lý trên Excel và IRRISTAT 5.0
Trang 35
Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Ảnh hưởng của một số loại phân bón hữu cơ sinh học đến các giai đoạn sinh trưởng của giống đậu tương ĐT51
Sinh trưởng, phát triển là kết quả hoạt động tổng hợp của các chức năng sinh lý trong cây Sinh trưởng và phát triển là hai mặt biến đổi về lượng, biến đổi về chất có mối quan hệ đan xen nhau, ảnh hưởng trực tiếp đến năng xuất và phẩm chất nông sản Sinh trưởng là cơ sở cho phát triển và quá trình phát triển lai tạo điều kiện cho sinh trưởng
Thời gian sinh trưởng của một giống cây trồng là tổng hợp độ dài của các thời kỳ sinh trưởng và phát triển Thời kỳ sinh trưởng và phát triển của một giống đều trải qua 2 quá trình sinh trưởng là sinh trưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực, mà mỗi giai đoạn này không những chịu ảnh hưởng của bản chất di truyền mà còn chịu sự tác động của điều kiện ngoại cảnh Thí nghiệm được tiến hành cùng một điều kiện ngoại cảnh nên sự tác động của điều kiện ngoại cảnh lên giống là như nhau, do vậy thời gian sinh trưởng là do giống quyết định, đây là cơ sở để ta phân loại giống ngắn ngày, trung ngày và dài ngày Từ đó giúp ta bố trí được thời vụ thích hợp cho từng giống trong cơ cấu cây trồng một cách hợp lý, phù hợp với điều kiện sinh thái của từng vùng
để có hiệu quả kinh tế cao
Kết quả theo dõi các giai đoạn sinh trưởng của giống đậu tương ĐT51 vụ Hè Thu 2016 được thể hiện qua bảng 4.1:
Trang 36Bảng 4.1 Kết quả theo dõi các giai đoạn sinh trưởng của giống đậu tương
Sự nảy mầm của hạt chịu nhiều ảnh hưởng của nhiều yếu tố nội tại trong cây như độ mẩy, tính nguyên vẹn, độ chín yếu tố di truyền và của yếu tố ngoại cảnh như độ ẩm, nhiệt độ, độ sâu gieo hạt, hàm lượng oxy trong đất Qua bảng 4.1 ta thấy ở cả 4 công thức phân bón hữu cơ sinh học đều có thời gian từ gieo đến mọc là 6 ngày Điều này cho thấy ở các mức bón phân hữu
cơ sinh học khác nhau không ảnh hưởng đến thời gian mọc mầm của đậu tương
4.1.2 Thời kỳ phân cành
Trong giai đoạn này, cây đậu tương đang hoàn thiện các cơ quan sinh trưởng như: rễ, thân, cành, lá Đồng thời, đây cũng là thời kỳ phân hóa mầm hoa, nó quyết định đến số cành trên cây, số hoa trên cây sau này Thời kỳ đầu giai đọan này cây đậu tương sinh trưởng chậm, trong khi đó bộ rễ lại phát
Trang 37triển nhanh cả về chiều sâu và chiều ngang, các nốt sần trên rễ được hình thành và phát triển, mở đầu cho hoạt động cố định đạm khi trời để cung cấp cho cây Ở thời kỳ này cây đậu tương thích hợp với nhiệt độ 22 - 270C, ẩm độ đất 70 - 80%, ẩm độ không khí 75 - 80% Nhiều kết quả thí nghiệm cho thấy: nhiệt độ 250C thì sự sinh trưởng của cây và nốt sần đạt tối đa, ở nhiệt độ thấp hơn nốt sần hình thành và hoạt động yếu, ẩm độ không đầy đủ, cây đậu tương
ít đốt, ít cành và ít lá Khả năng phân cành của đậu tương do đặc tính di truyền của giống quyết định là chính Ngoài ra, khả năng phân cành của đậu tương còn phụ thuộc vào điều kiện ngoại cảnh
Qua bảng 4.1 ta thấy thời gian từ gieo đến phân cành của các công thức
biến động 31 - 34 ngày, trong đó các công thức 2 (Sông Gianh), công thức 3
(Quế Lâm) phân cành muộn hơn công thức đối chứng (Phân chuồng) là 2 ngày, công thức 4 ( NTT) phân cành sớm hơn công thức đối chứng là 1 ngày
4.1.3 Thời kỳ ra hoa
Đây là một giai đoạn quan trọng đối với chu kỳ sống của đậu tương Nó ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất của cây đậu tương Giai đoạn này cây đậu tương bước vào thời kỳ sinh trưởng sinh thực, là giai đoạn phát triển của các
cơ quan sinh sản như: hoa, quả và hạt Tuy nhiên, cây đậu tương có đặc điểm khác cây trồng khác, đó là các cơ quan sinh dưỡng (rễ, thân, cành, lá) vẫn tiếp tục phát triển mạnh, cho nên giai đoạn này cây thường xảy ra các hiện tượng thiếu hụt về dinh dưỡng, ta phải cung cấp dinh dưỡng kịp thời cho cây bằng cách bón thúc đạm và kali cho cây đậu tương
Thời kỳ nở hoa của cây đậu tương thường kéo dài hơn các cây trồng khác, trung bình từ 3 - 4 tuần, thậm chí kéo dài đến 6 tuần tùy thuộc vào từng giống Giống chín sớm thì giai đoạn ra ngắn hơn giống chín muộn Điều kiện
Trang 38ngoại cảnh thuận lợi sẽ giúp cây sinh trưởng khỏe mạnh, quá trình phân hoá mầm hoa nhanh, hoa được thụ phấn tốt
Ở giai đoạn này, nhiệt độ thích hợp 25 - 280C, ẩm độ đất 80 - 90%, ẩm
độ không khí 75 - 80% Qua nghiên cứu, người ta cho thấy thời gian ra hoa rộ
là lúc chiều cao cây và diện tích lá gần như đạt cực đại, hoạt động của nốt sần tăng mạnh Đây là giai đoạn quyết định số hoa nở, số quả chắc trên cây, do đó ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất
Qua bảng 4.1 cho thấy: Thời gian từ khi gieo đến khi hoa rộ kéo dài
từ 36 - 39 ngày Trong đó ra hoa sớm nhất là công thức 1 (Phân chuồng) là
36 ngày Công thức 2 (Sông Gianh), công thức 3 (Quế Lâm) có thời gian gieo đến ra hoa rộ là 39 ngày muộn hơn công thức đối chứng (Phân chuồng) 3 ngày
4.1.4 Giai đoạn chắc xanh
Sau khi hoa nở và được thụ phấn thì quả đậu tương bắt đầu được hình thành, lúc này bắt đầu diễn ra quá trình tích lũy vật chất khô và hạt, lúc đầu quả và hạt lớn rất chậm, đến khi vỏ quả đạt kích thước tối đa thì hạt mới thực
sự lớn nhanh, các chất dinh dưỡng mới tập trung nhiều vào hạt Đây là thời kỳ quan trọng ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng hật đậu tương vì ở thời kỳ này hạt tăng mạnh về kích thước và khối lượng Vì vậy, giai đoạn này cần cung cấp đầy đủ dinh dưỡng cho đậu tương Giai đoạn này nếu gặp điều kiện ngoại cảnh bất lợi như: khô hạn, nhiệt độ quá cao hoặc quá thấp đều ảnh hưởng đến năng suất Nếu điều kiện ngoại cảnh phù hợp cho việc tích lũy vật chất khô vào hạt sẽ quyết định đến chất lượng hạt như: độ mẩy của hạt, khối lượng 1000 hạt, dẫn đến năng suất đậu tương cao và chất lượng tốt