Không chỉ thành lập ra Phật học đường Lưỡng Xuyên vào năm 1934 để đào tạo tăng tài, hội còn xuất bản tạp chí Duy Tâm Phật học 5/7/1935 làm cơ quan ngôn luận, với nội dung phong phú đã t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ -
DƯƠNG THỊ HÒA
SỰ RA ĐỜI VÀ HOẠT ĐỘNG
CỦA HỘI LƯỠNG XUYÊN PHẬT HỌC
(1934 – 1942)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Hà Nội – 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ -
DƯƠNG THỊ HÒA
SỰ RA ĐỜI VÀ HOẠT ĐỘNG
CỦA HỘI LƯỠNG XUYÊN PHẬT HỌC
(1934 – 1942)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học
TS NINH THỊ SINH
Hà Nội - 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các Thầy giáo, Cô giáo trong Khoa Lịch sử, trường ĐHSP Hà Nội 2 đã dạy dỗ, chỉ bảo và truyền đạt kiến thức cho em trong suốt quá trình học tập và rèn luyện tại trường cũng như
trong thời gian thực hiện khóa luận tốt nghiệp này
Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn cô Ninh Thị Sinh đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu, thực hiện khóa luận tốt nghiệp
Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè và những người thân đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để cho em hoàn thành tốt khóa luận của mình
Trong thời gian thực hiện khóa luận tốt nghiệp, do thời gian có hạn và bước đầu làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học nên không thể tránh khỏi những thiếu xót, em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của của các Thầy, Cô giáo và các bạn sinh viên
Em xin chân thành cảm ơn!
Người thực hiện
Dương Thị Hòa
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận tốt nghiệp “Sự ra đời và hoạt động của Hội Lưỡng Xuyên Phật học (1934 – 1942)” được hoàn thành dưới sự hướng dẫn tận tình của cô giáo Ninh Thị Sinh
Em xin cam đoan khóa luận này là kết quả nghiên cứu của bản thân em, không trùng lặp với bất kì kết quả nghiên cứu của tác giả nào khác Những kết quả thu được là hoàn toàn chân thực Nếu sai em xin chịu trách nhiệm
Người thực hiện
Dương Thị Hòa
Trang 5KÝ HIỆU VÀ NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
1 HT : Hòa thượng
2 Nxb : Nhà xuất bản
3 tr : Trang
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 BỐI CẢNH LỊCH SỬ VÀ SỰ THÀNH LẬP HỘI LƯỠNG XUYÊN PHẬT HỌC 9
1.1 BỐI CẢNH LỊCH SỬ 9
1.1.1 Khái lược về phong trào chấn hưng Phật giáo ở Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX 9
1.1.1.1 Thực trạng Phật giáo Việt Nam giai đoạn thuộc Pháp 9
1.1.1.2 Ảnh hưởng của phong trào chấn hưng Phật giáo ở Châu Á 12
1.1.1.3 Vận động chấn hưng Phật giáo trên báo chí quốc ngữ trong thập niên 20 của thế kỷ XX 13
1.1.1.4 Sự ra đời và hoạt động của các hội Phật giáo 15
1.1.2 Sự phân hóa của hội Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học 21
1.2 SỰ THÀNH LẬP HỘI LƯỠNG XUYÊN 25
1.2.1 Hòa thượng Khánh Hòa và quá trình thành lập Hội Lưỡng Xuyên 25
1.2.1.1 Vài nét về Hòa thượng Khánh Hòa 25
1.2.1.2 Sự thành lập Hội Lưỡng Xuyên Phật học (1934) 29
1.2.2 Một số gương mặt tiêu biểu của Hội Lưỡng Xuyên 32
Tiểu kết chương 1 40
Chương 2.NHỮNG HOẠT ĐỘNG TIÊU BIỂU CỦA HỘI LƯỠNG XUYÊN PHẬT HỌC TRONG NHỮNG NĂM 1934 – 1942 34
2.1 KHAI TRƯỜNG PHẬT HỌC ĐỂ ĐÀO TẠO TĂNG TÀI 42
2.2 XUẤT BẢN TẠP CHÍ DUY TÂM ĐỂ TRUYỀN BÁ ĐẠO PHẬT 48
2.2.1 Giới thiệu tạp chí Duy Tâm 48
2.2.2 Một số vấn đề nổi bật trên tạp chí Duy Tâm 53
2.2.2.1 Vấn đề vũ trụ nhân sinh 53
Trang 72.2.2.2 Vấn đề Phật giáo Tổng hội 57
2.3 QUAN HỆ CỦA HỘI LƯỠNG XUYÊN VỚI CÁC HỘI PHẬT GIÁO KHÁC 62
Tiểu kết chương 2 64
KẾT LUẬN 66
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 69 PHỤ LỤC
Trang 8công cuộc chuyển mình này là “… đòn bẩy cho sự phát triển của Phật giáo
Việt Nam” Công cuộc chuyển mình lịch sử thường được biết đến đó chính là
“Phong trào Chấn hưng Phật giáo đầu thế kỷ XX”, được khởi đầu bằng sự ra
đời của nhiều tổ chức Phật học riêng lẻ khắp cả ba miền đất nước Như mọi hiện tượng và thực thể xã hội, những tổ chức Phật học đầu thế kỷ XX đó, tuy đều theo quy luật vô thường: khởi lên, tồn tại và rồi chấm dứt, nhưng tất thảy đều khởi xuất từ những nhu cầu xã hội và thời cuộc nhất định và hiển nhiên luôn mang những sứ mệnh và đóng vai trò lịch sử nhất định cho sự phát triển của tương lai đằng sau sự hiện hữu của chúng
Đầu thế kỷ XX, từ trong cuộc vận động chấn hưng Phật giáo, các hội Phật giáo lần lượt ra đời trên khắp ba kỳ Tuy mỗi hội đều đề ra phương thức hoạt động khác nhau, nhưng cùng hướng về mục tiêu chung là cải cách từ nội dung Phật học cho đến mô hình sinh hoạt, tu học Mục đích là chấn chỉnh tăng già, nâng cao trình độ Phật học cho tăng ni, phổ cập giáo lý đến các đồng bào Phật tử các giới
Trong số các hội Phật giáo ra đời và hoạt động tại Nam Kỳ, Hội Lưỡng Xuyên Phật học có một vai trò quan trọng Không chỉ thành lập ra Phật học đường Lưỡng Xuyên vào năm 1934 để đào tạo tăng tài, hội còn xuất bản tạp
chí Duy Tâm Phật học (5/7/1935) làm cơ quan ngôn luận, với nội dung phong
phú đã thực hiện vai trò tuyên truyền và phổ biến rộng rãi đạo Phật trong dân chúng Từ chùa Lưỡng Xuyên, nhiều thế hệ tăng sinh đã được đào tạo trong
số đó nhiều người trở thành những danh tăng, đóng góp lợi ích rất lớn cho đạo
Trang 92
pháp và cho dân tộc Đặc biệt vào năm 1947, Lưỡng Xuyên Phật học đường
đã mở ra một trang sử sáng đẹp, đáp lại lời kêu gọi của Tổ quốc lúc lâm nguy,
47 vị tăng sinh đang theo học tại đây đã gửi áo cà sa lại cửa chùa, lên đường tham gia kháng chiến và nhiều người trong số họ đã anh dũng hy sinh trên các chiến trường chống thực dân Pháp khắp Nam Kỳ để bảo vệ quê hương, đất nước Có thể nói, chùa Lưỡng Xuyên là một trong những trung tâm Phật giáo lớn ở Nam Kỳ, đóng góp xứng đáng cho sự nghiệp chấn hưng Phật giáo, chấn hưng quốc học nước nhà trong nửa đầu thế kỷ XX và là tiền đề cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam hình thành, phát triển sau này
Xuất phát từ vai trò và tầm quan trọng của Hội Lưỡng Xuyên Phật học
chúng tôi chọn đề tài “Sự ra đời và hoạt động của Hội Lƣỡng Xuyên Phật học (1934 – 1942)” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Hiện nay đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về Phật giáo Việt Nam thời kỳ chấn hưng đầu thế kỷ XX Trước hết cần phải kể tới các tác phẩm viết
về lịch sử Phật giáo Việt Nam Những công trình này đã đề cập ít nhiều đến
Hội Lưỡng Xuyên Phật học Trong số đó, trước hết cần phải kể tới cuốn “Việt
Nam Phật giáo sử lược” của Thiền sư Thích Mật Thể (1943) (Nhà sách Minh
Đức, Đà Nẵng) cũng đề cập ít nhiều tới phong trào chấn hưng Phật giáo đầu thế kỷ XX Nội dung cuốn sách được chia làm hai phần: Tự luận và Lịch sử Phần Tự luận chia làm bốn chương Trước hết là thuật qua lược sử đức Thủy
tổ Phật giáo và tình hình duyên cách Phật giáo ở Ấn Độ, rồi đến Phật giáo ở Trung Hoa; địa thế nước Việt Nam, nguồn gốc và tinh thần người Việt Nam v.v Về phần Lịch sử chia làm mười chương Bắt đầu khảo xét Phật giáo từ khi mới du nhập, lần lượt qua các triều đại cho đến hiện đại Để viết được cuốn sách này thì tác giả đã sử dụng rất nhiều tư liệu quý Về phương diện Phật học phần nhiều căn cứ vào quyển Việt Nam Thiền Uyển Tập Anh,
Trang 10Tác phẩm “Việt Nam Phật giáo sử luận”, tập 3 của Nguyễn Lang Tác
phẩm của Nguyễn Lang có ưu thế không chỉ đề cập tới phong trào chung trong cả nước mà còn nghiên cứu phong trào trong phạm vi từng kì Ở Nam
Kì ông lựa chọn trình bày 3 tổ chức Phật giáo, trong đó có Hội Lưỡng Xuyên Phật học Tuy nhiên, Nguyễn Lang mới chỉ mô tả khái lược về Hội Lưỡng Xuyên kể từ khi Hội thành lập đến lúc tan rã mà không đi tìm hiểu chi tiết cụ thể
Tác phẩm “Đạo Phật trong cộng đồng người Việt ở Nam Bộ - Việt
Nam từ thế kỷ XVII đến năm 1975” của Trần Hồng Liên do Nhà xuất bản
Khoa học Xã hội xuất bản năm 1995 đã tìm hiểu tiến trình phát triển của lịch
sử Phật giáo tại vùng đất mới, vai trò của đạo Phật trong đời sống văn hóa –
xã hội của người Việt tại đây, làm rõ được tính địa phương và tính dân tộc của Phật giáo Nam Bộ, từ đó cho thấy những đóng góp của Phật giáo Nam Bộ trong Phật giáo Việt Nam Không những thế, tác phẩm còn cho thấy mối quan
hệ của đạo Phật và các hình thức tín ngưỡng dân gian, cũng là góp phần tìm hiểu đặc trưng tộc người Việt ở Nam Bộ, góp phần tìm hiểu văn hóa Nam Bộ
và lịch sử khai phá vùng đất này Để hoàn thành được công trình này tác giả
đã dựa vào các nguồn tư liệu điều tra điền dã trong nhiều năm và nhận được
sự giúp đỡ của các nhà nghiên cứu tôn giáo, các tu sĩ và tín đồ Phật giáo, các cán bộ Dân tộc học, Khảo cổ học, Sử học Tác giả cũng đã đề cập đến các hội
Trang 114
Phật giáo trong thời kỳ chấn hưng như Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học Hội, Hội Lưỡng Xuyên Phật học, Hội Phật học Kiêm Tế và rất nhiều các tổ chức hội khác Đối với Hội Lưỡng Xuyên Phật học tác giả chỉ đề cập đến một số
vấn đề như sự đời của hội và tạp chí Duy Tâm Phật học Tuy nhiên tác giả đề
cập một cách rất khái lược Tác giả đã viết về Hội Lưỡng Xuyên trong khoảng gần 3 trang giấy
Tác phẩm “Tiểu sử Danh Tăng Việt Nam”, 2 tập do Thích Đồng Bổn
chủ biên cung cấp nhiều thông tin về các vị Danh Tăng trong giai đoạn chấn hưng Đối với mỗi vị danh tăng tác giả đều đề cập đến: pháp danh, tục tính, nơi sinh, hành trạng sự nghiệp tu hành, nơi tham học, hoằng đạo và nơi chùa trụ trì, ngày tháng năm thị tịch, tuổi thọ, hạ lạp, tháp hiệu, và trình bày tổng quát về sự nghiệp hoằng đạo, truyền đạo Trong số 100 vị danh tăng được tìm hiểu, tác phẩm cung cấp thông tin về nhiều vị Danh Tăng gắn liền với quá trình ra đời và hoạt động của Hội Lưỡng Xuyên như Hòa thượng (HT) Khánh Hòa, HT Huệ Quang, HT Khánh Anh, HT Pháp Hải
Nguyễn Đại Đồng từng công bố các bài giới thiệu về tạp chí Viên Âm, tạp chí Đuốc Tuệ, tạp chí Duy Tâm Phật học trên tạp chí Nghiên cứu Phật học
(2009) Cả ba bài viết này đã trình bày tổng quát về diện mạo, nội dung của các tạp chí Phật giáo này
Tác phẩm “Phật giáo Việt Nam từ khởi nguyên đến 1981” của Bồ Đề
Tân Thanh – Nguyễn Đại Đồng (Nxb Văn học, 2012) trình bày về Phật giáo
từ khởi nguyên đến năm 1981 là thời điểm thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam, được chia làm 12 chương ứng với các giai đoạn lịch sử phát triển của dân tộc Sách được viết dựa trên tư liệu lịch sử của Việt Nam qua các thời kỳ
và tư liệu lịch sử Phật giáo Việt Nam như cuốn Lược sử Phật giáo Việt Nam
Bên cạnh đó, một số bài viết trong sách được dịch từ tạp chí Hải Triều Âm của Hội Phật học Trung Quốc và một phần lấy từ các tạp chí Duy Tâm, Đuốc
Trang 125
Tuệ, Viên Âm Cuốn sách có đề cập Hội Lưỡng Xuyên Phật học nhưng rất
khái lược Trong mục viết về sự ra đời của các tổ chức Phật giáo, tác giả chỉ nhắc đến sự ra đời của hội sau khi Hội Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học tan rã với mục đích đào tạo tăng tài và hoằng dương chính pháp, cùng với đó là xuất
bản tạp chí Duy Tâm
Bên cạnh các tác phẩm nghiên cứu Phật giáo nói trên, cần phải kể tới các bài viết trên các tạp chí nghiên cứu chuyên ngành, kỷ yếu hội thảo khoa học cũng như các website của đạo Phật Đầu tiên phải kể đến bài viết “Báo xuân Phật giáo xưa” của Nguyễn Ngọc Phan (2012) đăng trên wesibe phattuvietnam.net Bài viết đã trình bày những giai phẩm xuân mà báo chí
Phật giáo giai đoạn đầu thế kỷ XX từng thể hiện, như Duy Tâm Phật học,
Đuốc Tuệ, Từ Bi Âm, Bát Nhã Âm,… Tác giả cho rằng báo chí Phật giáo trong
sự nghiệp xiển dương Phật pháp và chấn hưng Phật giáo luôn gắn liền với nhân sinh thời cuộc, bộc lộ những ưu tư trăn trở trước hoàn cảnh mất nước và
sự cùng khổ của đồng bào
Tác phẩm “Phật giáo Việt Nam thế kỷ XX nhân vật và sự kiện” của Lê
Tâm Đắc và Nguyễn Đại Đồng, do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia xuất bản năm 2013 Thông qua việc phân tích những nhân vật và sự kiện tiêu biểu, cuốn sách đã khái lược nên diễn trình phát triển cũng như những đóng góp của Phật giáo Việt Nam trong lịch sử dân tộc thế kỷ XX Tác giả viết sách chủ
yếu dựa vào nguồn tài liệu báo chí và đặc biệt là Khai hóa nhật báo Cuốn
sách là tài liệu tham khảo hữu ích đối với những nhà nghiên cứu, sinh viên và đông đảo bạn đọc quan tâm tìm hiểu về văn hóa Việt Nam nói chung và Phật giáo nói riêng
Gần đây, luận án “Văn học và Phật học trên báo chí Phật giáo Việt
Nam trước 1945” của Nguyễn Thị Thảo (Trường Đại học Khoa học xã hội và
Nhân Văn, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, 2013) đã tìm hiểu 2 khía cạnh
Trang 136
Văn học và Phật học trên báo chí Phật giáo trước năm 1945 Nguồn tư liệu mà tác giả sử dụng để thực hiện đề tài chủ yếu lấy từ các tạp chí của các hội Phật giáo đầu thế kỷ XX và từ các tư liệu lịch sử Phật giáo Việt Nam Trong đó tác
giả đã khai thác được nhiều bài viết trên các tạp chí như Từ Bi Âm của Hội Nam Kỳ Nghiên cứu Phật Học, Tiến Hóa của Hội Phật học Kiêm Tế, Duy
Tâm Phật học của Hội Lưỡng Xuyên, Viên Âm của Hội An Nam Phật học ở
Trung Kỳ, Đuốc Tuệ và Tiếng Chuông Sớm ở Bắc Kỳ… và rất nhiều các tạp chí Phật giáo khác Mặc dù có đề cấp đến Hội Lưỡng Xuyên và tạp chí Duy
Tâm của hội nhưng tác giả không đi sâu nghiên cứu mà chỉ khai thác ở khía
cạnh nhỏ để phục vụ đề tài của mình
Kỷ yếu Hội thảo “Hòa thượng Khánh Hòa với phong trào chấn hưng
Phật giáo ở Việt Nam và truyền thống Bến Tre” (tháng 10/2017) và kỷ yếu
hội thảo “Hòa thượng Khánh Hòa và phong trào chấn hưng Phật giáo ở Việt
Nam” (Viện hàn Lâm Khoa học xã hội Việt Nam phối hợp với Viện nghiên
cứu Phật học Việt Nam, tháng 5/2017) tập hợp các bài viết, đánh giá một cách khoa học và khách quan về công lao của HT Khánh Hòa đối với phong trào chấn hưng Phật giáo Trong đó có rất nhiều bài viết về Hội Lưỡng Xuyên Phật học về các khía cạnh như vai trò của HT Khánh Hòa đối với sự thành lập của
hội hay viết về nội dung của tạp chí Duy Tâm Tuy nhiên, chưa có một bài
viết nào hoàn chỉnh về Hội Lưỡng Xuyên từ khi ra đời, hoạt động và những đóng góp của hội đối với Phật giáo thế kỷ XX
Mặc dù đã có nhiều công trình đề cập đến Hội Lưỡng Xuyên Phật học, tuy nhiên, chưa có một công trình nào đi sâu nghiên cứu về Hội Lưỡng Xuyên Vì vậy việc nghiên cứu Hội lưỡng Xuyên mới chỉ dừng lại ở mức khái lược đại cương, cơ bản, chưa trình bày được một cách có hệ thống lo-gic, khoa học
Trang 14Để thực hiện mục đích trên, khóa luận có nhiệm vụ:
Thứ nhất: Trình bày được bối cảnh lịch sử và sự thành lập hội Lưỡng
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện dựa trên các nguồn tư liệu chính sau:
Thứ nhất, bộ sưu tập tạp chí Duy Tâm Tạp chí Duy Tâm là cơ quan
ngôn luận của hội xuất bản được 52 số, số đầu tiên ra ngày 1/10/1935 dày 53 trang Đây là nguồn tư liệu vô cùng quý giá giúp chúng tôi có thể khai thác những vấn đề liên quan đến đề tài mà mình đang nghiên cứu
Thứ hai là các sách, các bài báo trên các tạp chí chuyên ngành,…
Về phương pháp nghiên cứu: trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, người viết sử dụng kết hợp phương pháp lịch sử và phương pháp logic để thực hiện đề tài Ngoài
Trang 158
ra chúng tôi còn sử dụng một số phương pháp khác như phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh
5 Đóng góp của khóa luận
Nghiên cứu vấn đề này có đóng góp quan trọng về mặt khoa học cũng như có giá trị thực tiễn cao Về mặt khoa học, việc thực hiện đề tài sẽ góp phần làm sâu sắc và phong phú về phong trào chấn hưng Phật giáo ở Việt Nam, thông qua việc khôi phục sự ra đời và hoạt động của Hội Lưỡng Xuyên.Về mặt thực tiễn, khóa luận có những đóng góp về mặt tư liệu cho những ai quan tâm đến các Hội Phật giáo trong phong trào chấn hưng giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX Đặc biệt là Hội Lưỡng Xuyên Phật học (1934 – 1942)
Trang 169
Chương 1 BỐI CẢNH LỊCH SỬ VÀ SỰ THÀNH LẬP HỘI
LƯỠNG XUYÊN PHẬT HỌC 1.1 BỐI CẢNH LỊCH SỬ
1.1.1 Khái lược về phong trào chấn hưng Phật giáo ở Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX
1.1.1.1 Thực trạng Phật giáo Việt Nam giai đoạn thuộc Pháp
Nhà Nguyễn (1802 – 1945), triều đại phong kiến cuối cùng của chế độ phong kiến Việt Nam dựa vào Nho giáo để xây dựng nhà nước tập quyền, chuyên chế Thời kỳ này Nho giáo giữ vị trí độc tôn, và thậm chí có lúc Nho giáo đả kích cả Phật giáo Gia Long là người sáng lập ra triều Nguyễn lại dựa vào, đúng hơn là mang ơn những người theo đạo Công giáo Vua Gia Long còn cấm cả việc xây chùa mới, cấm tô tượng, đúc chuông, mở đàn chay,… Đến đời vua Tự Đức, ông không chỉ cấm việc xây chùa, đúc chuông, tô tượng
mà còn bắt tách hoạt động của nhà chùa ra khỏi hoạt động của triều đình Có
lẽ vì vậy, mà Phật giáo từ nhà Nguyễn trở đi Phật giáo trở nên suy vi
Đầu thế kỷ XX, sau khi bình định được Việt Nam, Pháp thực hiện chính sách nâng đỡ, tạo điều kiện cho đạo Công giáo phát triển Chính quyền Pháp vì muốn loại trừ ảnh hưởng của Phật giáo và Nho giáo, nên đã quyết tâm loại bỏ chữ Hán mà thay bằng chữ Pháp
Lúc bấy giờ, kinh sách Phật toàn là chữ Hán, do vậy dân chúng học tiếng Pháp hoặc ít học không đọc được kinh điển Từ đó, tín đồ không thấu hiểu giáo lý của Phật và đây là tiền đề khiến người dân cách xa dần đạo Phật, khiến đạo Phật ngày càng suy vi Đạo Phật đã suy đến mức toàn quốc không còn một ngôi trường Phật học nào cho người dân đến tham học
Thực dân Pháp đã cố tình loại trừ dần văn hóa dân tộc và thay vào đó là văn hóa của phương Tây Các khái niệm yêu nước, trung quân, đạo đức tôn
Trang 1710
giáo, phong tục tập quán, tín ngưỡng… đều bị phê phán là lạc hậu, lỗi thời Nói cách khác, đạo Phật thời kỳ này ngẫu nhiên trở thành một tôn giáo tiêu cực, mê tín dị đoan Người dân tôn kính Đức Phật như một bậc Thượng đế toàn năng có quyền ban phước giáng họa
Cụ thể chính sách đàn áp của chính quyền thực dân là kiểm tra đời sống sinh hoạt của tăng chúng trong chùa Những chùa nào muốn xây dựng, sửa chữa thì phải xin giấy phép và được chính quyền cấp giấy phép mới được xây cất Chúng còn hạn chế nhà chùa, không cho gây dựng hay mua bán đất đai, thậm chí còn không được phép nhận của cải của thập phương hỷ cúng Ngược lại, chúng dùng chính sách hủ hóa dân tộc ta bằng cách cho phép tự do hoạt động mê tín dị đoan, nhưng hạn chế con đường giáo dục văn hóa truyền thống của dân tộc Mục đích của chúng là làm cho dân ta ngu dốt để dễ bề sai khiến, không muốn cho dân tộc ta trở nên lớn mạnh và đạo Phật từ đó cũng bị đồng hóa với những tà thuyết ngoại đạo Ngoài ra, một số ngôi chùa lớn đã bị chính quyền Pháp phá hủy
Vào những năm đầu thế kỷ XX, một thực trạng đau lòng khiến các vị chức sắc Phật giáo, các cao tăng, những người có tâm huyết với đạo phải chú ý: đạo Phật ngày càng mất uy tín với quốc dân, quần chúng quay lưng với Phật giáo ngày càng đông
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện trạng này Trong đó, nguyên nhân chủ yếu là đa số tăng đồ ngày càng lơ là việc học, chỉ chuyên ứng phó, hành trì tín ngưỡng Phật giáo dân gian, chuyên làm những việc của thầy cúng, dẫn đến thực trạng “dốt và hư” không chuyên tu hành, chỉ tham lợi dưỡng Điều này đã bị báo chí thời đó phê phán rất gay gắt Cư sĩ Khánh Vân đã trực tiếp
lên án tình trạng này trên tạp chí Duy Tâm số 18 năm 1936: “Có kẻ mượn
Phật làm danh, cũng ngày đêm hai buổi công phu, thọ trì, nhập sóc vọng, cũng sám hối như ai, nhưng lại luyện bùa học ngải, luyện roi thần, khi lên
Trang 1811
ông, lúc gặp bà, gọi là cứu nhân độ thế, nhưng thực ra lợi dụng lòng mê muội của thiện nam, tín nữ, rộng túi tham vơ vét cho sạch sành sanh” [12, tr.17]
Cư sĩ Thanh Quang cũng nói về tình trạng này trên báo Đuốc Tuệ bằng
những lời lẽ gay gắt: “Đau đớn thay xứ ta, những hạng xuất gia vào chùa
phần nhiều chỉ học đặng vài bộ kinh, lo luyện hơi cho hay, tập nhịp tán cho già, nay lãnh đám này, mai lãnh đám kia; cũng tràng hạt, cũng cà sa, thử lật mặt trái của họ ra mà xem thì có khác nào người trần tục” [12, tr.17]
Trong khi Phật giáo suy vi, nhiều tôn giáo mới ra đời hoặc đi ra từ Phật giáo, từ tín ngưỡng dân gian, hoặc đi ra từ “Tam giáo” (Phật – Lão – Nho), trong đó có đạo Cao Đài do các ông Ngô Minh Chiêu (1878-1930), Lê Văn Trung (187 – 1934), Phạm Công Tắc (1893 – 1946)… thành lập năm 1926, Phật giáo Hòa Hảo do ông Huỳnh Phú Sổ (1920 – 1946) thành lập năm 1939
Sự phát triển của các tôn giáo đương thời đã tạo ra sức cạnh tranh mạnh mẽ đối với Phật giáo Đó cũng là động lực để thúc đẩy chấn hưng Phật giáo
Tình hình như nói trên đã tác động mạnh đến giới Phật giáo Nhiều chức sắc, trí thức tâm đạo lo ngại sự sa sút sẽ ảnh hưởng đến tiền đồ, vai trò của Phật giáo – một tôn giáo có cả ngàn năm lịch sử gắn với dân tộc Vì vậy cần phải chấn hưng đạo Phật bởi ngay cả trong thời Phật còn tại thế, tinh thần chấn hưng Phật giáo có thể được hiểu rõ trong đoạn văn sau mà chúng ta có thể tìm thấy rải rác nhiều nơi trong kinh tạng Nikaya (hay A-hàm) Đức Phật
dạy: “Hãy dựng đứng lại những gì bị quăng ngả xuống, hãy đem đèn sáng
vào nơi bóng tối cho những ai có mắt có thể thấy Cũng vậy, giáo pháp đã được đức Thế Tôn khéo thuyết giảng sơ thiện, trung thiện và hậu thiện” [15,
tr.46] Như vậy, muốn đi theo đường lối của đức Phật trong việc xiển dương giáo lý đạo Phật đến với đại đa số quần chúng nhân dân, thì việc trước tiên cần phải có đường hướng rõ ràng, kế hoạch bài bản, lâu dài thì mới mong dựng lại những gì đã bị lãng quên hay lụi tàn trước đó
Trang 1912
1.1.1.2 Ảnh hưởng của phong trào chấn hưng Phật giáo ở Châu Á
Ngoài nguyên nhân nội tại trong giới Phật giáo, cùng với đó là những nguyên nhân về chính trị - xã hội và tôn giáo trong nước thì phong trào chấn hưng Phật giáo ở Việt Nam cũng bị tác động và ảnh hưởng từ phong trào chấn hưng của Phật giáo quốc tế và đặc biệt là ở Châu Á
Ở Châu Á, phong trào chấn hưng Phật giáo diễn ra tại nhiều nước như Tích Lan, Ấn Độ, Trung Quốc,… nhằm khôi phục lại những giá trị của đạo Phật, chấn hưng Phật học Bắt đầu từ cư sĩ David Hewavitarane người Tích Lan và sau này xuất gia thành đại đức Dharmapala
Để đẩy mạnh việc chấn hưng Phật giáo, Dharmapala đã thành lập Hội
Đại Bồ đề Ấn Độ và xuất bản tạp chí Bồ Đề, bên cạnh đó Ngài còn thành lập
các trung tâm Phật học và tu viện Phật giáo Ngài thường hun đúc tinh thần chấn hưng Phật giáo của tín đồ Phật giáo Ấn Độ bằng những lời kêu gọi trong mỗi lần thuyết pháp ở Ấn Độ: “Phật giáo ở Ấn Độ đã bị truy phóng một thời gian dài 800 năm Ngày nay, họ đã và đang quay trở về Tổ quốc Tất cả chúng
ta hãy thức tỉnh siêu vượt chế độ, giai cấp và tín điều, với mục đích duy nhất của Hội Đại Bồ đề là đem giáo lý của Đấng Phật đà tặng mọi người dân Ấn Độ” [12, tr 16]
Năm 1908, đại đức Dharmapala đã viết thư liên lạc với cư sĩ Dương Nhân Sơn ở Trung Quốc để mời cộng tác và từ đó phong trào chấn hưng Phật giáo đã nhanh chóng lan rộng
Tại Trung Quốc, cư sĩ Dương Nhân Sơn đã đứng lên thiết lập Kỳ Hoàn Tịnh xá, triệu tập những học giả nghiên cứu Phật học bằng những Hán Văn, Anh văn và Pali Năm 1912, HT Thái Hư lập Phật học viện Vũ Xương và
xuất bản tạp chí Giác Xã năm 1918, sau đó đổi tên thành tạp chí Hải Triều
Âm,làm tiền đề cho nhiều Phật học viện ra đời Các hiệp hội Phật giáo như
Phật giáo Hơp Tiến, Phật giáo Tổng hội, Phật giáo Liên hiệp,… liên tiếp ra đời khắp mọi nơi
Trang 2013
Những hoạt động tích cực để chấn hưng Phật giáo tại các nước Tích Lan, Ấn Độ, Trung Quốc đã tác động đến các nước trong khu vực như Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, trong đó có Việt Nam Riêng nói đến phong trào chấn hưng Phật giáo ở Việt Nam chịu ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ từ phong trào chấn hưng Phật giáo ở Trung Quốc đặc biệt là những tư tưởng cải cách Phật giáo của HT Thái Hư
Trong Báo Hải Triều Âm phổ biến tư duy mới của các nhà sư Thái Hư Đại sư – lãnh tụ Phật giáo Trung Hoa nêu khẩu hiệu: “Cách mạng giáo lý,
cách mạng giáo chế, cách mạng giáo sản” [3, tr.206] Công cuộc chấn hưng
Phật giáo ở Trung Quốc đã đem lại sự phấn khởi nhất định đối với Phật giáo
Việt Nam và nói theo Giáo sư Trần Văn Giàu thì: Việc vận động chấn hưng
Phật giáo ở Việt Nam không phải là tiếng dội của vận động chấn hưng Phật giáo ở Trung Quốc nhưng hoạt động chấn hưng Phật giáo ở Trung Quốc có khuyến khích hoạt động chấn hưng Phật giáo Việt Nam [5, tr.18-21]
Do những nguyên nhân trên, Phật giáo Việt Nam buộc phải tự xét, rồi nhất trí và quyết tâm đẩy nhanh phong trào chấn hưng từ những năm 1920 trở
đi, vì thế mà giới tăng sĩ và trí thức trong nước mới có cơ hội đứng hô hào, phát động phong trào chấn hưng đạo Phật Trước hết là vận động chấn hưng trên báo chí quốc ngữ, và cũng từ đó báo chí Phật giáo mới có cơ hội ra đời và được phổ biến rộng rãi khắp nơi Cùng với đó là các tổ chức Phật giáo ra đời trên cả ba miền của đất nước và có những đóng góp quan trọng cho công cuộc chấn hưng đạo Phật đầu thế kỷ XX này
1.1.1.3 Vận động chấn hưng Phật giáo trên báo chí quốc ngữ trong thập niên 20 của thế kỷ XX
Trong tờ Đông Pháp thời báo xuất bản ở Sài Gòn, từ số 59 ra thứ sáu
ngày 5/10/1923 đến số 62 ra ngày 12/10/1923 đăng chuyên đề “Lược khảo cách tu trong Phật giáo” có nội dung tiến bộ của Viên Hoành.Từ tháng 1 năm
Trang 21Khác với Nguyễn Mục Tiên chỉ kêu gọi chấn hưng Phật giáo chung
chung mà không đề ra nội dung chấn hưng cụ thể, trên tờ Đông Pháp thời
báo, số 533, ngày 14/1/1927 Giáo thọ Thiện Chiếu đã ở chùa Linh Sơn (Sài
Gòn), một người có trình độ cả về Phật học lẫn tiếng Hán, tiếng Pháp đã viết
bài “Chấn hưng Phật giáo ở nước nhà” Sau khi giới thiệu lược sử Phật giáo
Việt Nam trước đây, nhà sư trẻ đã nêu ra những nguyên nhân cơ bản làm cho Phật giáo nước nhà suy vi
Hưởng ứng lời kêu gọi của Nguyễn Mục Tiên, sư Thiện Chiếu đã đề xuất chấn hưng Phật giáo theo ba cách sau: Lập Phật học báo quán để truyền
bá Phật lý, khi Phật lý được vãn hồi sẽ xóa bỏ những điều mê tín; lập Phật gia công học hội để đào tạo ra những bậc hoằng pháp mô phạm để truyền giáo về sau; dịch kinh Phật ra chữ quốc ngữ để cho Phật giáo nước ta sau này khỏi sợ
thất truyền Từ đó, ông đề nghị: “Xin các ngài trí thức nước ta ai có lòng
muốn chấn hưng Phật giáo nước nhà – đứng ra tổ chức một cái Hội “Chấn hưng Phật học” liên hiệp những người nào trong tăng đồ đã biết nghĩa vụ và trách nhiệm của mình thi hành ba cách trên” [2, tr.14-15]
Ở Bắc Kỳ, Tỳ kheo Tự Lai (Tâm Lai), trụ trì chùa Tiên Lữ (chùa Hang), làng An Thái, đồn điền Đồng Bẩm, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
là một nhân vật tiêu biểu trong công cuộc vận động chấn hưng đạo Phật
Trong một lần về Hải Phòng được đọc bài báo “Nên chấn hưng Phật giáo ở
Trang 2215
nước nhà” trên Đông Pháp thời báo của Giáo thọ Thiện Chiếu đã viết bài kêu
gọi chấn hưng Phật giáo
Trong số 1650, của tờ Khai hóa nhật báo ra ngày 28/1/1927, trong bài viết “Lại bàn việc chấn hưng Phật giáo”, sư Tâm Lai cho rằng “Chấn hưng
Phật giáo thì một ý có cái thủ tục thì hơi khác” và đưa ra chương trình bảy điểm gồm:
1 Lập giảng đàn trong các chùa để giảng kinh sách Phật giáo cho các nhà thiện tín;
2 Mượn các văn sĩ thông Hán học dịch kinh sách Phật giáo bằng chữ Hán ra quốc văn;
3 Mượn các nhà Pháp học dịch các kinh sách Phật giáo bằng chữ Pháp ra quốc ngữ;
4 Lập ra trong mỗi chùa một thư viện;
5 Lập ra bên cạnh mỗi chùa một nhà nuôi kẻ khó;
6 Lập ra bên cạnh mỗi chùa một nhà nuôi người tàn tật và nhà thuốc cho kẻ đau ốm;
7 Lập ra bên cạnh mỗi chùa một nhà nuôi trẻ mồ côi [2, tr.16] Bên cạnh đó, sư Tâm Lai cũng đề nghị với sư Thiện Chiếu nếu định thực hành thì hãy liên lạc với Ngài để kêu gọi tất cả các sơn môn trong cả nước để đồng tâm hiệp lực mà làm công việc đã định
1.1.1.4 Sự ra đời và hoạt động của các hội Phật giáo
a Sự ra đời và hoạt động của các hội Phật giáo Nam Kỳ
Từ năm 1920, mặc dù trong cả nước, tình hình Phật giáo không có gì tiến triển nhưng tại Nam Kỳ, rải rác ở khắp nơi, nhiều vị có tâm huyết vẫn duy trì các đạo tràng tu học Phật pháp và thuyết giảng tại các chùa lớn, như HT.Thích Từ Phong giảng dạy Phật pháp cho tăng sĩ tại chùa Giác Hải Hòa thượng còn tổ chức khắc bản in kinh và khuyến khích việc phiên dịch kinh
Trang 2316
Phật ra chữ Quốc ngữ Từ năm 1922, Hòa thượng đã cho xuất bản bộ Quy
Nguyên Trực Chỉ do chính mình phiên dịch ra Quốc ngữ HT Khánh Hòa
thuyết giảng Phật pháp cho chư tăng tại chùa Tiên Linh HT Huệ Quang giảng dạy Phật pháp tại chùa Long Hòa; HT Khánh Anh giảng tại chùa Long
An Cả hai đạo tràng đều có từ bốn mươi đến một trăm học tăng tham học Ngoài ra còn có HT Tâm Thông chùa Trường Thọ (Gò Vấp - Gia Định), HT Hoằng Nghĩa chùa Giác Viên (Chợ Lớn)… cũng thể hiện nhiệt huyết truyền
bá Phật pháp ngay tại trú xứ của chính các vị đó
Năm 1923, trong một buổi họp của đại diện các tổ đình tại chùa Long Hòa, Trà Vinh, HT Khánh Hòa đã khởi xướng thành lập tổ chức Lục Hòa Liên hiệp nhằm mục đích tạo điều kiện cho các vị có tâm huyết, lo lắng về sự suy đồi của Phật giáo Việt Nam có cơ hội gặp gỡ nhau để bàn bạc việc chấn hưng Phật giáo: chỉnh đốn tăng già, kiến lập Phật học đường, diễn dịch và xuất bản kinh sách Việt ngữ Các vị tổ sư tiền bối của phong trào này là HT Huệ Quang, Khánh Hòa và Khánh Anh
Năm 1926, sau khi nghe cư sĩ Huỳnh Thái Cửu trình bày lời thỉnh cầu,
đề nghị thành lập Hội Phật giáo để khởi xướng phong trào nghiên cứu giáo lý, chấn chỉnh Tăng già, HT Khánh Hòa đã đem chuyện này bàn với HT Huệ Quang, chủ trì chùa Long Hòa, Trà Vinh, đồng thời còn đề xuất chương trình chấn hưng gồm 4 điểm: Lập hội Phật giáo; Thỉnh ba tạng kinh điển dịch ra chữ Quốc ngữ; Lập trường Phật học để đào tạo tăng tài; Xuất bản tạp chí phổ biến giáo lý, kêu gọi tăng đồ thức tỉnh, chấn hưng quy củ thiền môn
Tuy nhiên, khi bắt tay vào thực hiện thì không đủ kinh phí và còn nhiều vấn đề phức tạp xảy ra, nên HT Khánh Hòa cũng chưa thể thực hiện mong ước của mình
Năm 1928, sau mùa an cư tại Quy Nhơn, HT Khánh Hòa trở về Nam
đề nghị khởi xướng phong trào chấn hưng Phật giáo ở Nam Kỳ và được sự
Trang 2417
ủng hộ của HT Huệ Quang và HT Khánh Anh Học hỏi kinh nghiệm từ tình hình Phật giáo thế giới, chư vị Hòa thượng đã đồng tâm hiệp lực, nhất trí khởi xướng phong trào chấn hưng Phật giáo Nam Kỳ, để từ đó tạo tiền đề chấn hưng Phật giáo, Chấn hưng Quốc học Việt Nam HT Khánh Hòa đã cùng ba
vị tăng sĩ Từ Nhẫn, Chơn Huệ và Thiện Niệm lo tổ chức việc xây dựng Thích học đường và Phật học Thư xã tại chùa Linh Sơn, Sài Gòn
Năm 1929, HT Khánh Hòa cho ấn hành tạp chí Pháp Âm, đó là tờ báo
Phật giáo đầu tiên bằng Quốc ngữ tại Việt Nam
Năm 1931, tại Sài Gòn, Hội Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học được thành lập, trụ sở đặt tại chùa Linh Sơn, Hội trưởng là HT Từ Phong Hội xuất bản
tạp chí Từ Bi Âm do HT Khánh Hòa làm chủ nhiệm Tuy nhiên, sau một thời
gian hoạt động vì sự bất hòa trong nội bộ nên hoạt động của hội bị ngưng trệ
Từ đó phát sinh ra hai hội Phật giáo khác nhau, một là Hội Lưỡng Xuyên Phật học tại Trà Vinh do HT Khánh Hòa và Huệ Quang lãnh đạo và một hội lấy tên là Phật học Kiêm Tế ở Rạch Giá, do HT Trí Thiền sáng lập, với sự cộng tác của sư Thiện Chiếu
Có thể kể thêm nhiều hội khác như: Hội Phật giáo Liên hữu do sư chủ trì chùa Bình An, tỉnh Long Xuyên thành lập (1932); Hội Phật giáo Tương Tế
do HT Lê Phước Chí thành lập ở Sóc Trăng (1934), trụ sở đặt tại chùa Thiên
Phước và đến năm 1936 xuất bản tạp chí Bồ Đề; Hội Thiên Thai Thiền giáo tông liên hữu ở Bà Rịa Vũng Tàu và xuất bản tạp chí Bát Nhã Âm… Những
hội này tuy không hoạt động sôi nổi nhưng cũng đã tạo được tiếng vang cho phong trào chấn hưng Phật giáo lúc bấy giờ
b Sự ra đời và hoạt động của các hội Phật giáo Trung Kỳ
Vào khoảng năm 1920, cũng như Nam Kỳ, các chùa ở Trung Kỳ đã có những Hòa thượng tâm huyết vẫn duy trì các đạo tràng tu học Phật pháp rất mạnh mẽ, như HT Tuệ Pháp là người uyên thâm giáo điển, thường giảng dạy
Trang 2518
kinh luân tại chùa Thiên Hưng (Bình Định) Ngoài ra còn có HT Thanh Thái chủ trì và hướng dẫn đạo tràng tại chùa Từ Hiếu (Huế); HT Đắc Ân tại chùa Quốc Ân (Huế); HT Tâm Tịnh tại chùa Tây Thiên (Huế); HT Phước Huệ tại chùa Thập Tháp (Bình Định)…
Từ Nam Kỳ, phong trào chấn hưng Phật giáo đã lan đến Trung Kỳ và
có thể nói, HT Giác Tiên là người khởi xướng phong trào chấn hưng Phật giáo tại Trung kỳ
Năm 1932, tại Huế, HT Giác Tiên đã tập họp các tăng sĩ và với sự cộng tác của cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám, Nguyễn Khoa Tân… thành lập Hội An Nam Phật học, trụ sở đặt tại chùa Trúc Lâm (nơi HT Trúc Lâm chủ trì) do cư sĩ Lê Đình Thám làm Hội trưởng, HT Giác Tiên làm Chứng minh Đạo sư và bắt đầu tổ chức thuyết pháp tại chùa Từ Quang Hội còn mở nhiều chi hội ở các tỉnh, quận, xã
Năm 1933, Hội đã mở trường An Nam Phật học tại chùa Trúc Lâm, về sau, trường được dời về chùa Báo Quốc
Năm 1934, Hội An Nam Phật học đã khuyến khích mở các Phật học đường Sơ đẳng tại các tỉnh Bên cạnh đó, Hội An Nam Phật học đã thỉnh Đại
Tạng kinh để làm tài liệu nghiên cứu và xuất bản tạp chí Viên Âm (1934) để
hoằng dương chính pháp Hội cò thành lập trường Bồ Đề và còn là nơi khởi xướng thành lập Gia đình Phật hóa Phổ đầu tiên (1940) là hình thức đầu tiên của tổ chức Gia đình Phật tử Việt Nam Năm 1935, hội đã tiếp tục mở Phât học đường tại chùa Báo Quốc để đào tạo Tăng tài
Sơn môn Huế và Hội An Nam Phật học rất chú trọng việc đào tạo tăng tài và chỉnh lý tăng giới Cho nên, ngoài việc thành lập các lớp Phật học cho tăng sĩ trẻ tại các chùa, hội đã đề ra một chương trình chỉnh lý tình trạng tăng
sĩ, gồm hai điểm:
Trang 26Năm 1935, Hội Đà Thành Phật học được thành lập tại Đà Nẵng và cơ
quan ngôn luận là tạp chí Tam Bảo xuất bản năm 1937 Bản ý và chủ đích hành động của hội Đà Thành Phật học, theo Tam Bảo số 1 là:
- Phò khởi tăng giới, nguyện cùng chư tôn Nam Bắc liên đoàn bảo tồn Tăng bảo
- Nguyện cùng chư tôn chấn chỉnh tôn phong, thi hành chung một điều
lệ và cần phải giữ giới hạnh đoan nghiêm
Năm 1935, tại Huế đã long trọng tổ chức Đại lễ Phật đản trong hai ngày mùng 7 và mùng 8 tháng 4 âm lịch Trong buổi lễ long trọng này bản nhạc
Mừng Phật đản (sau này được phổ biến dưới tên Trầm Hương Đốt) được vang
lên Đây là bản nhạc Phật giáo đầu tiên, được ghi theo ký âm phương Tây của nhạc sĩ Bửu Bác, ở giai đoạn nền tân nhạc Việt Nam còn phôi thai
Năm 1940, Đoàn Thanh niên Phật học Đức Dục được thành lập dưới sự hướng dẫn của bác sĩ Lê Đình Thám Một trong số những hoạt động tiêu biểu của Đoàn Phật học Đức Dục đó là tổ chức Phật học tùng thư, xuất bản sách
dành riêng cho tuổi trẻ Những tác phẩm Phật giáo sơ học (Đoàn Phật học Đức Dục soạn), Phật giáo và Đức Dục (Đinh Văn Vinh), Đời Vui (Ngọc Thừa), Nghĩa chữ cho (Nguyễn Hữu Quán), … được liên tục xuất bản
Trang 2720
c Sự ra đời và hoạt động của các hội Phật giáo Bắc Kỳ
Tại Bắc Kỳ, HT.Thanh Hanh đã duy trì việc giảng dạy Phật pháp tại chùa Vĩnh Nghiêm; chùa Bà Đá cũng duy trì được một đạo tràng lớn, mỗi năm có hàng trăm tăng sĩ an cư kiết hạ và học tập giáo điển HT Đỗ Văn Hỷ
thì in ấn kinh sách rất nhiều, kể cả những bộ kinh lớn như Đại Bảo tích
Năm 1927, sau cuộc hội ngộ giữa hai sư Thiện Chiếu và Tâm Lai về việc thành lập Tổng hội Phật giáo Việt Nam bất thành, phong trào Chấn hưng tại Bắc Kỳ tạm lắng xuống, nhưng ở Nam Kỳ, phong trào lại khởi lên khá mạnh mẽ Thông qua cửa ngõ tuyên truyền bằng phương tiện truyền thông báo chí, cộng với sự nhiệt tâm tinh cần của HT Khánh Hòa, sư Thiện Chiếu… phong trào chấn hưng Phật giáo đã lan ra Trung Kỳ và Bắc Kỳ, như
lời khẳng định trên tạp chí Tiếng chuông sớm: “Trước Từ bi âm ta chớ nên
quên hai cuốn Pháp âm và Phật giáo Tân Thanh niên làm quân tiên phong dọn đường đi trước Ông Đoàn Trung Còn, người có lòng với đạo phật thay! Một mình dịch theo sách Tây tra sang sách Ta, bao nhiêu là quyển nói về Phật giáo Ấy cũng nhờ những cái nhân duyên từ trước ấy, cho nên Trung kỳ, Bắc Kỳ lần lượt theo sau mà đứng lên hoằng tuyên Phật pháp…” [12, tr.27]
Năm 1934, tại Hà Nội Hội Phật giáo Bắc Kỳ được thành lập, do cư sĩ Nguyễn Năng Quốc làm Hội trưởng, tôn HT Thanh Hanh (Tổ Vĩnh Nghiêm)
làm Thiền gia Pháp chủ Hội xuất bản tuần báo Đuốc Tuệ (1935) để hoằng
dương chính pháp, đồng thời mở trường đào tạo tăng sinh ở chùa Quán Sứ, trường ni tại chùa Bồ Đề và chùa Bút Tháp Khóa học bắt đầu từ bốn năm sơ cấp lên ba năm trung cấp
Năm 1934, Hội Bắc Kỳ Cổ sơn môn được thành lập, do HT Đinh Xuân
Lạc đứmg đầu Cơ quan ngôn luận là tạp chí Tiếng Chuông Sớm (1935)
Năm 1940, Hội Phật giáo Bắc Kỳ qua nỗ lực của các nhà sư Quang Minh, Doãn Hài, và Thanh Tích phối hợp với Trường Viễn Đông Bác Cổ đã
Trang 2821
bắt đầu thực hiện bộ Đại Nam Phật điển tùng san Công trình này có ý nghĩa
lớn lao, góp phần bảo tồn văn hóa Phật giáo và giữ gìn văn hóa dân tộc Đến năm 1943, bộ này đã thực hiện theo lối in dập lại được 8 tập các tác phẩm
Phật giáo Việt Nam bằng chữ Nôm và chữ Hán: Chư kinh nhật tụng, Thụ giới
nghi phạm, Thiền uyển kế đăng lục, Pháp hoa đề cương, Bát nhã trực giải, Khóa Hư lục, Trần Triều dật tồn Phật điển lục và Lễ tụng hành trì yếu tập
Đây là những tài liệu tham khảo quý giá về các tác phẩm xưa của Phật giáo Việt Nam
Năm 1943, Hội Thanh Niên Phật tử Việt Nam thành lập, do bác sĩ Nguyễn Hữu Thuyết làm Hội trưởng Hội chủ trương lấy tinh thần từ bi cứu
độ và làm công tác xã hội
Có thể nói, từ năm 1934 đến năm 1945, Hội Phật giáo Bắc Kỳ đã tạo được nhiều thành tích to lớn, đồng thời sự có mặt đông đảo của giới trí thức làm cho hội thêm khởi sắc Các HT Tâm Băng, Tâm Lĩnh, Tâm Bác, Thọ Cầu, Tâm Bảo, Thanh Hoán…đầu là những người đã hoạt động đắc lực cho phong trào chấn hưng Phật giáo tại Bắc Kỳ lúc bấy giờ
1.1.2 Sự phân hóa của hội Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học
Sau sự phục hưng của Phật giáo ở Nam Kỳ, phong trào chấn hưng Phật giáo cũng được tiến hành trên cả nước Nhà sư Thiện Chiếu đã đi khắp nơi vận động, kêu gọi thành lập các hội Phật học Nam Bộ là nơi xuất phát hội Phật học đầu tiên trên cả nước Đó là “Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học Hội” còn được gọi là Hội nghiên cứu Phật học và Bảo Tồn Phật giáo tại Việt Nam (Association pour I’étude et la conservation du Bouddhisme en Cochinchine) Trụ sở đặt tại chùa Linh Sơn (Quận 1) [10, tr.63] Vì đây là trung tâm quan trọng về kinh tế và văn hóa của Nam Kỳ nên có nhiều thuận lợi trong việc đi lại; đặt quan hệ với các chùa; trong việc in ấn kinh sách, dịch kinh ra chữ
Trang 29Mục đích lớn nhất của việc thành lập Hội Nam Kỳ Nghiên cứu Phật
học mà Ngài hướng đến không khác ngoài việc là: “Lo sự sùng thượng Phật
giáo tại chùa Linh Sơn Lo sự tu bổ và hành động của ngôi pháp Bảo Phương, ngôi Duyệt kinh thất và mua kinh sách bằng chữ Lang sa và chữ Hán trữ trong pháp Bảo Phương Lo sự dịch ra chữ Quốc âm những kinh sách chữ Hán,… đặng cho người bổn quốc đặng tường đạo lí Lo lập tại chùa ấy một ngôi Thích học đường để dạy tăng đồ học đạo và lo tu bổ cách hành động ấy”
[15, tr 290]
Thời gian đầu, các thành viên của Hội Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học cũng đã chủ động đề xuất các chương trình đào tạo tăng tài Tiêu biểu như
HT Đạo Tế với bài viết Con đường tương lai của tăng già chủ chương là nên
mô phỏng theo chương trình của Thái Hư Đại sư về Chánh học loại, Tham học loại và Cửu học loại trong giáo dục tăng tài Bên cạnh đó, Hội Nam Kỳ
Trang 3023
Nghiên cứu Phật học còn chủ trương lập ra các kinh viện, lấy tiền học phí dạy tăng đồ để xuất bản sách, báo, làm sao hạ giá xuống cho rẻ, lưu hành cho nhiều, ai cũng có thể mua và xem được, ai cũng có thể tu tập được, ai cũng hiểu được giáo lý Như vậy sẽ không lo không có bậc chân tu, không có người đứng ra hoằng dương Phật pháp
Khi mới thành lập, hội nhận được sự ủng hộ nồng nhiệt của cả hai giới tăng già và cư sĩ ở Nam Kỳ Hội đã cất được một thư viện Phật học gọi là Pháp Bảo Phương, thỉnh được Tục Tạng Kinh và Đại Tạng Kinh cho thư viện này Hội cũng đã cất được một Phật học đường, gồm có sáu gian nhà ngói có trang bị đầy đủ để nhận học tăng nội trú
Tuy nhiên, không lâu sau đó ý nguyện lập Phật học đường Linh Sơn để đào tạo tăng tài của Ngài đã không được thực hiện hóa Nguyên nhân xuất phát từ những bất đồng chính kiến trong nội bộ của Hội Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học lúc bấy giờ Gần như trong suốt khoảng thời gian tồn tại của mình, hoạt động chủ yếu mà hội Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học hướng đến không phải là đào tạo tăng tài, mà chủ trương là dùng báo chí thúc đẩy sự nghiệp hoằng dương Phật pháp, phiên dịch kinh sách Phật học để mở mang kiến thức cho tăng đồ và xem đây là một trong những biện pháp hữu hiệu nhằm khắc phục tình trạng suy yếu của Phật giáo đương thời Trong một bài viết đăng
trên tạp chí Từ Bi Âm số 114, tác giả Vân Sơn cũng đã cho rằng: “Chớ lôi một
đôi ngôi Thích học đường, lưu học năm ba mươi tăng đồ, thì có đủ gì đâu, lại còn sợ sẽ hóa ra một đám người vô chức nghiệp nữa… Chi bằng lấy chữ Quốc văn ra mà làm món phổ thông đạo Phật là một điều tiện lợi hơn hết”
[15, tr.291]
Không những thế, các hoạt động mà hội triển khai thực hiện đều hướng đến việc khuếch trương danh dự cho hội và thường mang tính thời sự hơn là Phật sự Như trong quá trình hoạt động, hội đã tham gia giúp nhiều hội viên, nhiều chùa, nhiều Phật tử khỏi mất đất, khỏi sự lấn át của phú hào địa chủ sở tại
Trang 3124
Trước đó, năm 1929 sau khi thành lập Ban Tổ chức lâm thời, HT Khánh Hòa đã tiến hành lập thủ tục để trình nhà cầm quyền Pháp để Hội được
đi vào hoạt động chính thức Vì kẹt vấn đề phép tắc quá gay go,… nên Ban
Tổ chức lâm thời phải nhờ ông Commis Trần Nguyên Chấn xin phép Ông Chấn buộc HT Khánh Hòa phải thực hiện ba việc:
- Phải để Phạm Ngọc Vinh (con rể ông đang làm việc tại Ngân hàng
Pháp) làm chủ nhân sáng lập tạp chí Từ Bi Âm và Hội Phật học
- Phải làm tờ cam kết mượn chùa Linh Sơn và đất của ông để cất Thư
1934 ông commis Chấn chiếm hết cơ sở này kể cả chùa Linh Sơn
Trường Phật học tại chùa Linh Sơn năm đầu mới mở lớp dạy học bị ông Trần Nguyên Chấn cản trở nói với chánh phủ Pháp không cho dạy Kinh, Luật Phật, ông báo cáo với nhà cầm quyền Pháp cụ Khánh Hòa dạy lý thuyết Cộng sản, tuyên truyền Cộng sản, cụ bị thực dân Pháp tra hỏi sát hạch làm khó dễ luôn, vì thế trường Phật học phải đóng cửa Thế là bao nhiêu công sức, tài sản, trí tuệ của HT Khánh Hòa và các pháp hữu đầu tư cho việc trên gặt hái kết quả chẳng được bao nhiêu
Hội hoạt động được 2 năm thì bị chính quyền Pháp khống chế, kiểm soát gắt gao và sự bất đồng quan điểm trong việc triển khai các hoạt động chấn hưng Phật giáo của hội và đặc biệt là Hội Nam Kì Nghiên cứu Phật học
Trang 3225
bị Phó Hội trưởng thứ nhì commis Trần Nguyên Chấn thao túng, không thực hiện mở các Thích học đường như tôn chỉ đã đề ra, tháng 11 năm 1933 HT
Khánh Hòa từ chức Phó hội trưởng thứ nhất và Chủ nhiệm Từ Bi Âm khi nó
vừa tròn số 45 để về Trà Vinh tiếp tục sự nghiệp đạo pháp của mình
Chính vì sự phân hóa của Hội Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học mà HT Khánh Hòa đã tìm cho mình một hướng đi mới và năm 1934, Ngài đã cùng với những cộng sự của mình là HT Huệ Quang và HT Khánh Anh thành lập Hội Lưỡng Xuyên Phật học tiến hành mở trường đào tạo tăng tài, tiếp tục con đường chấn hưng Phật giáo
1.2 SỰ THÀNH LẬP HỘI LƢỠNG XUYÊN
1.2.1 Hòa thƣợng Khánh Hòa và quá trình thành lập Hội Lƣỡng Xuyên
1.2.1.1 Vài nét về Hòa thượng Khánh Hòa
Đầu thế kỷ XX, ở Nam Kỳ có nhiều vị danh tăng tinh thông Phật học, trong đó có HT Khánh Hòa, người con ưu tú của quê hương Bến Tre Nói về thân thế, sự nghiệp của Ngài, có nhiều sử liệu ghi chép khác nhau Có tài liệu cho rằng Ngài thế danh Lê Văn Hiệp, húy Như Trí, hiệu Khánh Hòa, sinh năm 1878 (Mậu dần) [16, tr.117] Quê quán tại thôn Phú Lễ, tổng Bảo Trị,
huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre Tuy nhiên, theo cuốn “Tiểu sử danh tăng Việt
Nam thế kỷ XX” thì Ngài thế danh Lê Khánh Hòa, pháp danh Như Trí, pháp
hiệu là Khánh Hòa sinh năm 1877, xuất thân trong gia đình trung lưu, có nề nếp Nho học, từ nhỏ đã có tiếng thông minh và nết hạnh [1, tr.173] Là người anh cả trong gia đình, sau Ngài còn có hai em, một trai một gái Người em trai
kế cũng xuất gia tu học sau này, người em gái đã mất lúc còn nhỏ Năm 19 tuổi, Ngài đến chùa Long Phước, quận Ba Tri, xin xuất gia học đạo Sau thời gian đi tham học khắp nơi, Ngài trở về chủ trì chùa Tuyên Linh, tỉnh Bến Tre [1, tr.173]
Trang 3326
Ở mỗi người con Phật, khi đã quyết tâm từ bỏ mọi vinh hoa phú quý của thế gian, tự nguyện chọn cho mình cuộc hành trình đi ngược dòng sanh
tử, “một bát cơm ngàn nhà, thân chơi muôn dặm xa, mắt xanh xem trần thế,
mây trắng hỏi đường qua” (Như Hạnh dịch) Chọn con đường xuất thế là xuất
phát từ ý chí thiêng liêng: “Thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sinh” Với tâm nguyện cao cả:“Phù xuất gia giả, phát túc siêu phương, tâm hình dị tục,
thiệu Long thánh chủng, chấn nhiếp ma quân, dựng báo tứ ân, bạt tế tam hữu” [16, tr.14] Nhưng nếu không may sinh nhằm thời chứng kiến cảnh Phật
giáo suy vi, đứng bên bờ vực chờ ngày tàn lụi, thiền sư Khánh Hòa vô cùng đau đớn, xót xa
Năm 1916, sau mười năm trụ trì, trải nghiệm tu hành ở chùa Tuyên Linh, với trình độ thâm đạt Phật pháp và độ tuổi “tứ thập bất nhi hoặc”, Ngài luôn trăn trở trước hiện trạng mê tín, tản mạn, thiếu sự liên kết giữa các chùa chiền, các tổ đình tông phái và không khỏi lo lắng trước nguy cơ suy đồi sụp
đổ của ngôi nhà Phật giáo Việt Nam thời đó và cũng bởi sự ảnh hưởng của phong trào chấn hưng Phật giáo ở Trung Hoa càng thôi thúc Ngài cùng các vị tâm huyết phải khẩn chương chấn hưng Phật giáo nước nhà
Để thực hiện tâm nguyện trên, Ngài đã du hành khắp các Tổ đình ở Nam Kỳ để kêu gọi sự hợp tác, đồng tình của các bậc tôn túc và thức tỉnh đông đảo tăng ni, cư sĩ Phật tử về tính cấp thiết của việc chấn hưng Phật giáo Ngài đã liên kết được nhiều vị cao tăng đồng tình tâm huyết, tiêu biểu nhất là các vị: Huệ Quang, Pháp Hải, Khánh Anh và một vị tăng trẻ vốn là người tân học xuất gia, đó là sư Thiện Chiếu
Năm 1920, HT Khánh Hòa họp cùng chư Tôn túc các Tổ đình lập Hội Lục Hòa liên xã, nhằm mục đích tạo điều kiện cho “Chư sơn thiền đức” gặp nhau trong những ngày Kỵ Tổ để bàn bạc củng cố đoàn kết nội bộ Tăng đồ để tiến tới mục đích là thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam toàn quốc làm
Trang 3427
nòng cốt đẩy mạnh phong trào chấn hưng Phật giáo cả nước, nhanh chóng khắc phục tình trạng như HT Khánh Hòa đã nhận xét: “Phật pháp suy đồi, tăng đồ thất học và không đoàn kết” cho nên muốn chấn hưng Phật giáo phải
thực hành ba việc: “Chỉnh đốn Tăng già; Kiến lập Phật học đường và Diễn
dịch, xuất bản Kinh sách Việt ngữ” [16, tr.80]
Là cánh chim đầu đàn, luôn tiên phong cho sự nghiệp giáo dục, đào tạo tăng tài tại miền Nam vì mục đích chấn hưng Phật giáo Năm 1923, nhân lễ giỗ tổ tại chùa Long Hòa, tỉnh Trà Vinh, HT Khánh Hòa đã vận động chư tôn thiền đức khắp các miền từ Tiền Giang đến Hậu Giang về dự lễ giỗ tổ, và nhân đó họp bàn việc chấn hưng Phật giáo Tuy nhiên, ngọn lửa chấn hưng lúc đó chỉ mới được bắt đầu Đến năm 1926, cư sĩ Huỳnh Thái Cửu mượn cớ thỉnh chư tăng đến tư gia tổ chức đại lễ cầu siêu cho cha mẹ sau mùa an cư Trong bài tác bạch cúng dường của mình, ông tha thiết cầu xin chư tăng đồng lòng đứng lên chấn hưng Phật giáo, mạnh dạn lập hội chỉnh đốn tăng già, đưa Phật pháp ra khỏi cửa thiền môn Tiếp nhận lời thỉnh cầu đó, HT Khánh Hòa, người có công đầu tiên trong việc tiên phong làm những cuộc cách mạng Chấn hưng Phật giáo, đã bàn với HT Long Hòa ở Trà Vinh, đề xuất chương trình chấn hưng bao gồm bốn điểm:
1 Lập hội Phật giáo
2 Thỉnh ba tạng kinh điển dịch ra chữ quốc ngữ
3 Lập trường Phật học đào tạo tăng tài
4 Xuất bản tạp chí phổ biến giáo lý, kêu gọi tăng đồ thức tỉnh, chấn
hưng
5 quy củ thiền môn [16, tr.16]
Năm 1927, HT Khánh Hòa cử sư Thiện Chiếu ra Bắc để bàn bạc, phối hợp mở rộng cuộc vận động ra cả nước Tuy nhiên, chưa đủ thuận duyên, gặp
Trang 3528
nhiều trắc trở nên cuộc vận động không thành, sư Thiện Chiếu lại phải quay
về Sài Gòn
Trong giai đoạn đầu của cuộc chấn hưng chỉ có số ít chùa hưởng ứng;
khi được hỏi về tình tranh này, ngài Khánh Hòa đã nói: “Ở đời bao giờ vàng
bạc cũng ít, ngói đá lúc nào cũng nhiều Chúng ta dù ít nhưng cố gắng sẽ thành công” Với tinh thần ấy, tháng Giêng năm Kỷ Tỵ - 1929, HT Khánh
Hòa đích thân đi vận động hầu hết các chùa lớn ở Nam Kỳ để thành lập
trường Phật học và Hội Nam Kỳ Phật học, ra báo “Từ Bi Âm”, dành hẳn một
chùa cho Hội để lập Pháp Bảo Phương thờ Tam Tạng Kinh
Năm 1929, Pháp Âm là tạp chí Phật học ra đời đầu tiên trong cả nước
do HT Khánh Hòa chủ biên, bằng tiếng Việt, nội dung kêu gọi tăng ni đoàn kết để chấn hưng Phật giáo, học quốc ngữ, dịch Hán ra Việt, giải quyết nạn thất học trong tăng già
Năm 1933, HT Khánh Hòa thành lập Liên đoàn học xã để đào tạo tăng tài và hoằng dương chánh pháp có tính liên hoàn và liên tục ngày đêm, mỗi chùa đài thọ ba tháng, sau đó vì kinh tế khó khăn nên bị gián đoạn và tan rã
Năm 1934, Hội Lưỡng Xuyên Phật học ra đời, mở Phật học đường,
xuất bản tạp chí Duy Tâm Phật học để làm cơ sở hoằng pháp, tổ chức các
khóa học tại chùa Long Hòa, Thiên Phước, Viên Giác do HT Khánh Hòa làm Đốc học, trực tiếp giảng dạy cho Liên đoàn Học xã cùng với sự bảo trợ ủng
hộ nhiệt tình của thiền sư Pháp Hải
Năm 1943, lúc tuổi cao sức yếu HT Khánh Hòa lui về chùa Vĩnh Bửu – Bến Tre, tổ chức Phật học đường đầu tiên cho ni giới ở Nam Kỳ Dịch, in kinh Hán ra chữ Việt cho tăng ni tu hành thuận lợi, đã để lại nhiều công đức lớn lao cho Phật giáo và các thế hệ tăng ni tiếp sau
Ngày 19 tháng 6 năm 1947, HT Khánh Hòa viên tịch tại chùa Tuyên Linh tỉnh Bến Tre, thọ 70 tuổi và trải 50 năm tu hành thuần thành nghiêm mật
Trang 361.2.1.2 Sự thành lập Hội Lưỡng Xuyên Phật học (1934)
Nghị lực kiên trì, tâm nguyện đọ sức với chướng duyên, Hội Nam Kỳ Nghiên cứu Phật học vừa “bén rễ” trên vùng đất Linh Sơn – Sài Gòn thì gặp phải nhiều chướng duyên phá hoại Cho nên sau gần 3 năm hoạt động HT Khánh Hòa đành phải “chia tay đứa con tinh thần”, Ngài về vùng đất Sông Chín Rồng tiếp tục sự nghiệp độ tăng Năm 1933, Ngài đã về chùa Long Hòa
tổ chức Phật học đường lưu động, lấy tên là Liên Đoàn Phật học xã, với mục đích đào tạo tăng tài và hoằng dương chính pháp Khoảng năm mươi vị học tăng được thu nhận vào Liên Đoàn và lớp học lớp học đầu được khai giảng tại chùa Long Hòa, do các vị Huệ Quang, Khánh Anh và Pháp Hải giảng dạy Tuy nhiên, do không tán thành cách thức hoạt động của Liên Đoàn nên commis Trần Nguyên Chấn đã có đơn phản ánh gửi chính quyền đương thời Mặc dù thực dân Pháp vẫn cho phép Liên Đoàn tiếp tục hoạt động nhưng các
chùa đã tham gia ký tên tán thành trước đây đều từ chối vì cho rằng: “Tốn của
lo Phật sự mà bị ông Chấn đầu cáo này nọ, thành thử nửa chừng phải giải tán” [15, tr.292] Bên cạnh đó, là do thiếu tài chính nên lớp Phật học này bị
tan rã, tổ chức này hoạt động được ba tháng từ tháng 3 đến tháng 6 thì ngừng hoạt động
Sự tan rã của Liên Đoàn Phật học xã, HT Khánh Hòa thấy rằng cần phải thành lập một hội Phật học có đông đảo hội viên đóng góp tài chính
Trang 3730
thường trực mới có thể duy trì được một Phật học đường Chính vì vậy mà Ngài tiếp tục đứng ra vận động các tăng ni, Phật tử cùng chung chí hướng chấn hưng thành lập một tổ chức Phật giáo mới ở Trà Vinh Kết quả là ngày 13/8/1934, Hội Lưỡng Xuyên Phật học chính thức thành lập, được Thống đốc Nam Kỳ là Pegès phê chuẩn Nghị định số 2286, cho phép thành lập tại chùa Long Phước [15, tr.292], thuộc làng Long Đức (nay là thị xã Trà Vinh) Lúc này sư Pháp Hải trụ trì lo việc hoằng dương đạo pháp Ba vị cao tăng Khánh Hòa, Khánh Anh và Huệ Quang đã đổi tên ngôi chùa Long Phước thành chùa Lưỡng Xuyên để xúc tiến việc thành lập Lưỡng Xuyên Phật học hội và Lưỡng Xuyên Phật học đường
Ban đầu, một bản điều lệ của ban “Cai quản tạm thời” được công bố ngày 1/3/1934; ông Huỳnh Thái Cửu đứng ra làm trưởng ban [8, tr.585] Sau khi Hội chính thức được thành lập thì cơ cấu tổ chức của Hội được chia làm
ba ban Ban quản lí gồm Hội trưởng Lê Văn Xuyến (pháp danh An Lạc), Hội phó là Phạm Văn Liêu, Thủ quỹ là Thái Phước, Thư ký là Phạm Văn Luông, Pháp sư học đường là Võ Khánh Anh, Đốc học sư là Lê Khánh Hòa, hai kiểm soát là Nguyễn Văn Khỏe, Sơn Sau Ban chỉ huy gồm Chánh Tổng lí là Nguyễn Huệ Quang, Phó Tổng lí là Lê Diệu Pháp và Cố vấn hành chính của Hội là Lê Tâm Quang Ban Danh dự gồm Hội trưởng là ông Robert Dufour Chủ tịch hạt Trà Vinh; Hội phó Danh dự và các hạng hội viên như: sáng lập, trường trợ, tán trợ HT Từ Phong chùa Giác Hải (Chợ Lớn) được mời làm Chứng minh Đạo sư Đến ngày 5/7/1935, Toàn quyền Đông Dương là René
Robin ký Nghị định số N604-S cho phép xuất bản tạp chí Duy Tâm Phật học làm cơ quan tuyên truyền của Hội mỗi tháng ra bốn kỳ, số đầu tiên được ấn
hành vào ngày 1/10/1935 [15, tr.292] Chủ nhiệm tòa soạn là HT Huệ Quang, Chủ bút là HT Khánh Hòa và Quản lý là Nguyễn Văn Khỏe
Trang 3831
Nói về Hội Lưỡng Xuyên Phật học, đầu tiên có tên gọi là Tiền Giang Phật học (do HT Khánh Hòa đặt tên), sau đó HT Khánh Anh đổi là Hậu Giang Phật học, thấy vậy HT Huệ Quang thống nhất với các bậc cao tăng đổi tên chính thức là Lưỡng Xuyên Phật học Từ đó cái tên Lưỡng Xuyên Phật học nổi tiếng khắp nơi và được xem như chiếc nôi Phật giáo Nam Kỳ [16, tr.119]
Hội lấy tên là “Lưỡng Xuyên” vì ý nghĩa đặc biệt của nó là “hai con sông”, đó là các sông Tiền Giang và Hậu Giang Đây là hai con sông quan trọng ở Nam Kỳ đều chảy về địa phận tỉnh Trà Vinh Lưỡng Xuyên còn có căn nguyên là Hằng Hà và Ấn hằng, chảy qua xứ Phật [21]
Với nghĩa này, ba vị cao tăng muốn tuyên cáo rằng, từ nay chùa Lưỡng Xuyên là trung tâm gánh vác trọng trách hoằng dương đạo pháp toàn xứ Nam
Kỳ Với sứ mạng đó, Lưỡng Xuyên đã trở thành địa chỉ thu hút nhiều vị danh tăng, nhiều danh nho, nhiều thân hào nhân sĩ tên tuổi khắp các tỉnh Nam Kỳ tìm về chung vai vào sự nghiệp chấn hưng Phật giáo, chấn hưng quốc học trước hiểm họa bành trướng của các tôn giáo, văn hóa Phương Tây [21]
Hội Lưỡng Xuyên Phật học ra đời có ba mục đích:
Thứ nhất, đó là xuất bản tạp chí Duy Tâm Phật học, với thành phần,
gồm: Chứng minh HT Từ phong, HT Khánh Hòa; chủ nhiệm HT Huệ Quang, quản lý Bác sĩ Nguyễn Văn Khỏe, Trần Văn Giác Mục đích của tạp
chí Duy Tâm Phật học là phổ biến giáo lý Phật giáo, dịch kinh, nghiên cứu
văn hóa Phật giáo
Thứ hai, lập thư viện Phật giáo: Phật tử Trà Vinh cúng một bộ Đại tạng kinh và rất nhiều sách nghiên cứu, tham khảo Đông thời Hội Lưỡng Xuyên Phật học còn lập một tủ kinh sách ấn tống cho tăng ni, cư sĩ tu học
Thứ ba, mở trường Phật học Lưỡng Xuyên Phật học hội khai giảng trường Lưỡng Xuyên Phật học, Sư phạm học đường bên cạnh chùa Long
Trang 3932
Phước Ban giảng huấn có HT Huệ Quang (chùa Long Hòa), HT Từ Phong (chùa Giác Hải), HT An Lạc (chùa Vĩnh Tràng) và HT Khánh Anh (chùa Phước Hậu) [15, tr 119]
Hội Lưỡng Xuyên Phật học phát triển ra mấy tỉnh đồng bằng sông Cửu Long (có Bắc tông Việt Nam và Nam tông Khmer tham gia) Hội còn phát triển lên tận Campuchia – nơi có nhiều Việt kiều sinh sống
Như vậy, có thể nói rằng HT Khánh Hòa là người có công lớn trong phong trào chấn hưng Phật giáo Nam Kỳ nửa đầu thế kỷ XX, với vai trò là người gánh vác trọng trách, kêu gọi mọi người hãy cùng chung tay thành lập Hội Lưỡng Xuyên Phật học, với mục đích đào tạo tăng tài, vững chãi về kiến thức Phật học lẫn thế học để họ tham gia vào các công tác Phật sự
Ngày nay, khi nhắc đến HT Khánh Hòa, ai cũng nghĩ đến phong trào chấn hưng phật giáo và khi nói đến phong trào chấn hưng Phật giáo ai cũng nhớ về Hội Lưỡng Xuyên Phật học Chính nơi đây đã gắn liền với tên tuổi và
sự nghiệp của Ngài Cũng từ Phật học đường Lưỡng Xuyên này đào tạo biết bao thế hệ tăng tài cùng thời với Ngài như: HT Huệ Quang, Khánh Anh,…
và các thế hệ sau này như: HT Thiện Hoa, Thiện Hòa, Trí Tịnh, Hành Trụ,…là những bậc tòng lâm thạnh trụ, đứng ra chống đỡ cho ngôi nhà Phật pháp vượt qua bao sóng gió để phát triển bền vững đến hôm nay
1.2.2 Một số gương mặt tiêu biểu của Hội Lưỡng Xuyên
Công gây dựng nên Hội Lưỡng Xuyên Phật học không chỉ có HT Khánh Hòa, mà bên cạnh Ngài còn có những gương mặt tiêu biểu gồm những
vị cao tăng cùng chí hướng như HT Khánh Anh, HT Huệ Quang, HT Pháp Hải và cộng tác với họ có một số các vị cư sĩ mà họ chọn lựa trong giới nhiều đạo tâm nhất: Nguyễn Văn Khỏe, Trần Văn Giác, Phạm Văn Liêu, Huỳnh
Thái Cửu, Ngô Trung Tín và Phạm Văn Luông
Trang 4033
Hòa thượng Huệ Quang (1888 – 1956)
Theo cuốn “Tiểu sử danh tăng Việt Nam thế kỷ XX” ghi chép thì HT
Huệ Quang, thế danh Nguyễn Văn Ân sinh năm 1888 tại Ô Môn, tỉnh Cần Thơ, sau theo mẹ về Trà Vinh Năm 1902, Ngài xin xuất gia vào chùa Long Thành ở Trà Cú được HT Thiện Trí mến thương đặt pháp danh là Thiện Hải Ngoài giờ học Phật pháp, Ngài được Hòa thượng cho học thêm y học [1, tr.99]
Thấy chùa Long Hòa ở quận Tiểu Cần – Trà Vinh, hư hại và hoang phế, Ngài liền phát tâm trùng tu Dân chúng và tín đồ Phật tử ở Tiểu Cần vì thế mến đức Ngài, cử đại diện đến bạch Hòa thượng ở Trà Cú xin cho Ngài được về trụ trì chùa Long Hòa Hòa thượng nhận lời, thế là Ngài về Tiểu Cần Với đức độ sẵn có, và với vốn y học, Ngài đã nhiếp hóa được một số đông đồ chúng Giới trí thức ở địa phương rất mến phục Ngài, thường đến chùa để được cùng Ngài đàm luận
Năm 1919, Ngài đắc pháp với Hòa thượng Từ Vân, được pháp hiệu là Huệ Quang
Năm 1934, Ngài bàn với các HT Khánh Hòa, Chánh Tâm, Viên Giác
về Trà Vinh lập Liên Đoàn Phật học xã, để đào tạo tăng tài, làm nền tảng cho việc trùng hưng Phật pháp sau này Học tăng gia nhập Liên Đoàn tuần tự tu học tại các chùa Long Hòa (Trà Vinh), Thiên Phước (Trà Ôn) và Viên Giác (Bến Tre) Sau thấy sự di chuyển bất tiện, các vị Hòa thượng quyết định lập trường Phật học tại Trà Vinh
Tháng 8 năm 1934, Hội Lưỡng Xuyên Phật Học được phép thành lập Chánh hội trưởng là Ông Huỳnh Thái Cửu, HT Khánh Hòa làm Pháp sư Ngài lúc này đã 46 tuổi, làm giảng sư kiêm Tổng lý của hội
Trong những lần thuyết pháp giảng dạy, Ngài đã vạch rõ sự cần thiết phải thành lập Giáo hội, xuất bản tạp chí và kiến tạo Phật học đường, Ngài đã tiên liệu, đã lo lắng rất nhiều cho tương lai của nền Phật giáo Thống nhất