Xung đột văn hóa trong thơ Nôm trào phúng Nguyễn KhuyếnXung đột văn hóa trong thơ Nôm trào phúng Nguyễn KhuyếnXung đột văn hóa trong thơ Nôm trào phúng Nguyễn KhuyếnXung đột văn hóa trong thơ Nôm trào phúng Nguyễn KhuyếnXung đột văn hóa trong thơ Nôm trào phúng Nguyễn KhuyếnXung đột văn hóa trong thơ Nôm trào phúng Nguyễn KhuyếnXung đột văn hóa trong thơ Nôm trào phúng Nguyễn KhuyếnXung đột văn hóa trong thơ Nôm trào phúng Nguyễn KhuyếnXung đột văn hóa trong thơ Nôm trào phúng Nguyễn KhuyếnXung đột văn hóa trong thơ Nôm trào phúng Nguyễn KhuyếnXung đột văn hóa trong thơ Nôm trào phúng Nguyễn KhuyếnXung đột văn hóa trong thơ Nôm trào phúng Nguyễn Khuyến
Trang 1Thái Nguyên - 2018
Trang 2Người hướng dẫn khoa học: PGS-TS Vũ Thanh
Thái Nguyên – 2018
Trang 3trích dẫn đều có nguồn gốc rõ ràng Các kết quả nghiên cứu trong luận văn đều trung thực và chưa từng được công bố ở bất kỳ công trình nào khác
Thái Nguyên, tháng 04 năm 2018
Tác giả luận văn
Mai Thị Hoàn
Trang 4Giám hiệu, Khoa Sau đại học, Khoa Báo chí – Truyền thông và Văn học, Trường Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên và các Thầy, Cô giáo đã trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ trong suốt quá trình học tập
Đặc biệt, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giảng viên hướng dẫn PGS.TS Vũ Thanh đã luôn tận tình hướng dẫn, chỉ bảo trong suốt thời gian tác giả nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, người thân, bạn bè đã giúp
đỡ, động viên, tạo điều kiện để tác giả hoàn thành luận văn
Thái Nguyên, tháng 04 năm 2018
Tác giả luận văn
Mai Thị Hoàn
Trang 51 Lý do chọn đề tài 1
1.1 Lý do khoa học 1
1.2 Lí do thực tiễn 2
2 Lịch sử vấn đề 3
2.1 Lịch sử nghiên cứu thơ Nôm trào phúng Nguyễn Khuyến 3
2.2 Nghiên cứu xung đột văn hóa trong thơ Nôm trào phúng Nguyễn Khuyến 6
3 Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu 7
3.1 Đối tượng nghiên cứu 7
3.2 Mục tiêu nghiên cứu 7
4 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu 7
4.1 Nhiệm vụ nghiên cứu 7
4.2 Phương pháp nghiên cứu 7
4.2.1 Phương pháp liên ngành 7
4.2.2 Phương pháp phân tích – tổng hợp 8
4.2.3 Phương pháp tiếp cận thi pháp học 8
4.2.4 Phương pháp loại hình 8
5 Phạm vi nghiên cứu 8
5.1 Phạm vi nội dung 8
5.2 Phạm vi tư liệu 8
6 Đóng góp của luận văn 9
7 Cấu trúc của luận văn 9
Chương 1 10
XUNG ĐỘT VĂN HÓA GIAI ĐOẠN NỬA CUỐI THẾ KỶ XIX VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA VĂN HỌC TRÀO PHÚNG 10
1.1 Khái niệm 10
1.1.1 Khái niệm trào phúng, tự trào và văn học trào phúng 10
Trang 61.2 Sự hình thành và phát triển xung đột văn hóa trong văn học trào phúng Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX 15
1.2.1 Vấn đề xung đột văn hóa giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX 15 1.2.2 Vấn đề xung đột văn hóa trong văn học trào phúng 21
1.3 Văn học trào phúng và vai trò của văn học trào phúng trong sự phát triển văn học dân tộc 23 1.4 Tiểu kết Chương 1 27 Chương 2 29 NỘI DUNG XUNG ĐỘT VĂT HÓA TRONG THƠ NÔM TRÀO PHÚNG NGUYỄN KHUYẾN 29 2.1 Xung đột giữa văn hóa phương Đông và phương Tây 29
2.1.1 Giữa tinh thần yêu nước, gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc với văn hóa ngoại lai của kẻ xâm lược 29 2.1.2 Giữa phong tục, tập quán và lối sống mới trong xã hội thực dân phong kiến 34
2.2 Sự đối lập giữa truyền thống khoa cử, học vấn lâu đời của dân tộc với thực trạng xã hội đương thời 42
2.2.1 Truyền thống học vấn rực rỡ 42 2.2.2 Thực trạng của các trường thi và danh vị tiến sĩ mới Sự xuống cấp của Đạo học 43 2.2.3 Xung đột giữa tầng lớp nho sĩ yêu nước và những kẻ khoác áo nhà nho làm tay sai, bù nhìn cho kẻ thù 46
2.3 Xung đột văn hóa dẫn đến những mâu thuẫn trong bản thân nhà thơ 51
2.3.1 Giữa học vấn, tài năng, khát vọng và hiện thực xã hội 51 2.3.2 Hình tượng “con người thừa” và cảm giác cô độc, bất lực của nhà thơ trước những biến động xã hội 54
Trang 7NGHỆ THUẬT THỂ BIỂU HIỆN XUNG ĐỘT VĂN HÓA QUA THƠ NÔM
NGUYỄN KHUYẾN 64
3.1 Khai thác triệt để các mâu thuẫn, xung đột của đối tượng trào phúng từ góc độ văn hóa 64
3.2 Khai thác xung đột nội tâm, đối lập bản thân với thực trạng xã hội 71
3.3 Các phương thức nghệ thuật trào phúng khác thể hiện xung đột văn hóa - xã hội 76
3.3.1 Khai thác thế mạnh của thể loại và ngôn ngữ thơ Nôm Đường luật 76
3.3.2 Xây dựng các biểu tượng mang tính xung đột, đối lập 86
3.4 Tiểu kết Chương 3 91
KẾT LUẬN 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
Trang 8tế, chính trị, quân sự…, trong đó do sự du nhập của văn hóa phương Tây tạo ra
một xã hội “nửa ta, nửa tây” với những biểu hiện lố lăng, kệch cỡm của một nền văn minh “rởm” Các giá trị văn hóa truyền thống có nguy cơ bị chối bỏ
thay vào đó là sự đua đòi chạy theo phương Tây của một bộ phận người dân Với những diễn biến trên nền văn hóa dân tộc có quá nhiều chuyển biến phức tạp, có sự đấu tranh giữa văn hóa Đông và Tây, và với mục đích thống trị của mình, thực dân Pháp sẽ cố lái theo hướng có lợi cho họ vì vậy văn hóa phương Tây dần lấn át Nhưng một bộ phận những trí thức, người dân yêu nước sẽ không chấp nhận thực tại, từ đó tạo nên xung đột văn hóa Đông và Tây Đó sẽ
là nguồn cảm hứng bất tận cho các nhà nho yêu nước trung vua, thông qua tác phẩm văn học của mình sẽ nói lên tiếng nói lên án, tố cáo và thể hiện niềm yêu mến, trân trọng và tiếc nuối những gía trị văn hóa truyền thống, thầm kín bộc
lộ lòng yêu nước
Trong tiến trình của văn học Việt Nam, văn học trào phúng phát triển gắn với lịch sử văn hóa và văn học dân tộc Cảm hứng trào phúng đã xuất hiện khá sớm trong các sáng tác dân gian nhưng phải đến giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX văn học trào phúng mới phát triển thành dòng rộng lớn với các tác gia tiêu biểu như Trần Tế Xương, Nguyễn Khuyến,… Mảng thơ ca trào phúng đặc biệt
là thơ Nôm trào phúng góp một phần quan trọng làm phong phú đời sống văn hóa tinh thần Thông qua tiếng cười trào lộng các nhà nho lên án những bất
Trang 9công suy thoái của xã hội, nhằm thức tỉnh con người và toàn xã hội đẩy lùi cái xấu và thúc đẩy cái tốt
Nguyễn Khuyến là nhà thơ lớn của giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX, một tài năng nghệ thuật có những đóng góp to lớn cho nền văn học dân tộc, những đóng góp đó có ý nghĩa sâu sắc và rất đáng trân trọng Làm nên giá trị thơ văn của ông là toàn bộ những sáng tác chữ Hán và chữ Nôm, trữ tình cũng như trào phúng Nhưng có thể nói, làm nên nét phong cách và hồn thơ đặc sắc của Nguyễn Khuyến chính là mảng thơ Nôm Thơ Nôm của Nguyễn Khuyến có sức hấp dẫn lớn đối với bạn đọc Thơ chữ Nôm của ông bao gồm cả những bài thơ trữ tình lẫn trào phúng, là những bài thơ đã bộc lộ được tấm lòng, tâm tư tình cảm, những nỗi niềm trăn trở, thái độ của ông trước thời cuộc cũng như thể hiện được nét phong cách riêng của mình Với những vần thơ Nôm, Nguyễn Khuyến đã tái hiện một hình ảnh thu nhỏ của xã hội Việt Nam đang trên hành trình bị văn hóa phương Tây lấn át
Ý thức được giá trị thơ Nôm Nguyễn Khuyến nói chung, thơ Nôm trào phúng Nguyễn Khuyến nói riêng và mong muốn nghiên cứu mảng thơ Nôm
này trong ảnh hưởng tác động của văn hóa, người viết đã chọn đề tài Xung đột
văn hóa trong thơ Nôm trào phúng Nguyễn Khuyến để có cơ hội được tiếp cận
thơ Nôm trào phúng Tam nguyên Yên Đổ với kiến thức tổng hợp liên ngành văn hóa và văn học Việc tìm hiểu xung đột văn hóa trong thơ Nôm trào phúng Nguyễn Khuyến là mong muốn chân thành của người viết nhằm phần nào bày
tỏ niềm tri ân trước nhà thơ lớn của văn học dân tộc, đồng thời hướng đến cơ hội tìm hiểu một tác giả quen thuộc với những phát hiện từ góc nhìn văn hóa
1.2 Lí do thực tiễn
Nghiên cứu, tìm hiểu tác phẩm văn học ở góc nhìn văn hóa là một hướng tiếp cận còn tương đối mới mẻ với đội ngũ giáo viên làm công tác giảng dạy tại
Trang 10các trường THPT vì vậy chúng tôi chọn đề tài này với mong muốn thực hành, làm quen với một cách khai thác tác phẩm văn học
Đó là những lí do chúng tôi chọn đề tài Xung đột văn hóa trong thơ Nôm
trào phúng Nguyễn Khuyến cho luận văn cao học của mình
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Lịch sử nghiên cứu thơ Nôm trào phúng Nguyễn Khuyến
Nguyễn Khuyến là một trong những cây đại thụ của nền văn học nước nhà Vì vậy, thơ ông luôn là đề tài hấp dẫn đối với các nhà nghiên cứu văn học Trong suốt 100 năm qua, chúng tôi nhận thấy có rất nhiều công trình nghiên cứu, các bài viết tập trung tìm hiểu tương đối đầy đủ giá trị thơ văn Nguyễn Khuyến Và sau đây chúng tôi xin trình bày khái quát về lịch sử nghiên cứu thơ văn Nguyễn Khuyến nói chung, thơ Nôm trào phúng nói riêng Thơ văn
Nguyễn Khuyến được đăng tải đầu tiên là trên tạp chí Nam Phong, đăng trong mục Thơ ca Yên Đổ nhưng phải đợi đến gần hai chục năm sau thì các công
trình văn học sử trên đường hành trình mới tìm đến Nguyễn Khuyến Dương
Quảng Hàm trong cuốn sách Việt Nam văn học sử yếu (Nha học chính Đông
Pháp xuất bản, Hà Nội, 1943) đã khẳng định giá trị nổi bật ở mảng thơ trào phúng trong đó phải kể đến thơ Nôm và xếp Nguyễn Khuyến vào hàng ngũ các nhà thơ trào phúng nổi tiếng.[9]
Cuốn: Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam gồm 3 tập của nhóm Lê Qúy
Đôn, Nxb Xây dựng, năm 1957 là cuốn sách văn học sử đầu tiên của chế độ mới đã dành 20 trang để nghiên cứu về Nguyễn Khuyến, do Lê Trí Viễn viết,
đề cập chủ yếu đến phần thơ Nôm và tư cách trào phúng của ông.[6]
Đến năm 1958 Văn Tân cho ra đời cuốn Văn học trào phúng Việt Nam,
Nxb Văn Sử Địa, tác giả đã dành một phần lớn số trang đánh giá về ý nghĩa và giá trị trào phúng của thơ văn Nguyễn Khuyến ở cả hai phương diện nội dung
và nghệ thuật Người viết đặc biệt nhấn mạnh: “Thơ văn trào phúng của
Trang 11Nguyễn Khuyến cũng như thơ văn của Nguyễn Khuyến nói chung có nhiều hiện thực tính, nhiều nhân dân tính Về nội dung, thứ thơ văn đó mang nặng những tư tưởng yêu nước, yêu nhân dân, yêu lao động, thù ghét quân cướp nước và bọn quan lại làm tay sai cho chúng”.[32 , tr 159-160]
Trong cuốn Giáo trình lịch sử văn học Việt Nam (1978) tập IVA của tập
thể giáo sư trường Đại học Sư phạm Hà Nội, khi viết về Nguyễn Khuyến, Lê Hoài Nam nhận định: “Nguyễn Khuyến nổi tiếng là nhà thơ châm biếm Nội dung châm biếm của thơ văn ông bao giờ cũng có một ý nghĩa xã hội và chính trị phong phú Động cơ châm biếm của ông xuất phát không phải từ sự bất mãn
về quyền lợi cá nhân mà là từ lòng yêu nước nồng nàn Cho nên đối tượng đả kích thường tập trung xung quanh những người, những việc gì có liên quan đến việc nước hay việc thực dân Pháp đặt quyền thống trị trên đất nước ta” [48, tr 127]
Bài Nguyễn Khuyến trong bối cảnh văn hóa xã hội Việt Nam cuối thế kỉ
XIX – đầu thế kỉ XX của tác giả Trần Quốc Vượng (Theo Thi hào Nguyễn Khuyến đời và thơ) khi viết về Nguyễn Khuyến có đưa ra những day dứt trong
nội tâm, và Nguyễn Khuyến giải tỏa bằng nhiều cách và từ đó ông đã trở thành một nhà thơ châm biếm lớn.[3]
Tác giả Lê Trí Viễn, trong cuốn Thơ văn Nguyễn Khuyến – Trần Tế
Xương đã nhận xét về thơ trào phúng của Nguyễn Khuyến: “Nó có tính cách là
những lời phê phán điềm đạm, bình tĩnh của một nhà nho tuổi tác, có đạo đức
và nhiều tình cảm Nụ cười, do đó, bề ngoài chỉ nhẹ nhàng nhưng lai lắng vào
bề sâu và pha phách một tí thương hại”.[46]
Nhà thơ Xuân Diệu khi tìm hiểu phong cách thơ trào phúng Nguyễn Khuyến, đã có những tìm tòi khá kĩ càng Có thể nhận thấy ngôn ngữ thơ Nguyễn Khuyến nhẹ nhàng, vừa tự nhiên, vừa hiểm hóc cũng vừa độc đáo, đặc biệt là nghệ thuật tạo tiếng cười bằng cách vận dụng điệp thanh.[5]
Trang 12Trong Thi hào Nguyễn Khuyến đời và thơ do Nguyễn Huệ Chi chủ biên
các tác giả đã đề cập đến bút pháp trào phúng trong thơ Nguyễn Khuyến Công trình nghiên cứu còn cho thấy mối quan hệ đồng cảm giữa tác giả và đối tượng nghệ thuật, điều này đã làm cho thơ trào phúng Nguyễn Khuyến trở nên chân thực Qua đó nhà thơ cũng gửi gắm nỗi buồn thương và tâm sự sâu kín của mình.[3]
Trong bài nghiên cứu mở đầu cuốn sách Nguyễn Khuyến tác phẩm
(1984) do Nguyễn Văn Huyền sưu tầm, biên dịch và giới thiệu người viết đã đem đến cho bạn đọc sự hiểu biết tương đối hoàn chỉnh về toàn bộ cuộc đời và
sự nghiệp thơ ca của nhà thơ Ông đã khẳng định vị trí của Nguyễn Khuyến trong làng thơ trào phúng trung đại Việt Nam.[12]
Cuối năm 1998, cuốn sách Nguyễn Khuyến, về tác gia tác phẩm do Vũ
Thanh tuyển chọn và giới thiệu, Nxb Giáo dục, Hà Nội,1998, tập hợp một cách rộng rãi những bài viết và công trình khoa học tiêu biểu về cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Khuyễn từ xưa đến nay Trong cuốn sách này người biên
soạn khẳng định: “Nguyễn Khuyến - Về tác gia và tác phẩm chính là sự tập hợp
một cách rộng rãi những bài viết và công trình khoa học tiêu biểu về cuộc đời
và sự nghiệp của Nguyễn Khuyến từ xưa đến nay nhằm đem đến cho bạn đọc một bức tranh toàn cảnh những thành tựu trong việc nghiên cứu một trong những tác giả văn học lớn nhất cuối thế kỉ XIX Cuốn sách ra đời vào những năm cuối cùng của thế kỉ XX với mong muốn trở thành cơ sở cho những bước tiếp theo trong việc nghiên cứu sự nghiệp của một nhà thơ được cả dân tộc yêu mến.”[33, tr 28]
Trong tập sách trên có bài viết: Tâm trạng Nguyễn Khuyến qua thơ tự
trào Ở đó người viết đã đề cập trực tiếp đến hình tượng trào phúng được miêu
tả bằng cách nói phủ định để khẳng định và ngược lại Tác giả đã chỉ rõ sự biến đổi tâm trạng Nguyễn Khuyến trong thơ văn Từ thời điểm Nguyễn Khuyến lui
Trang 13về ở ẩn đã có sự thay đổi cách nhìn, cách cảm Tác giả bài viết cũng khẳng
định giá trị thơ Nôm trào phúng đặc biệt trong mảng tự trào thể hiện rõ nỗi lòng của một nhà nho yêu nước trước tình cảnh đất nước bị quân giặc chiếm đóng Có thể nói đây là bài viết trực tiếp đề cập đến mảng thơ tự trào của
Nguyễn Khuyến và có những nhận định thật sâu sắc về những vần thơ này
2.2 Nghiên cứu xung đột văn hóa trong thơ Nôm trào phúng Nguyễn Khuyến
Các công trình nghiên cứu đã được chỉ ra ở trên được xem là nguồn tư liệu quý báu mà người viết tham khảo trong quá trình thực hiện luận văn Tuy nhiên có thể nhận thấy rằng cho đến thời điểm này chưa có một công trình nghiên cứu nào tìm hiểu về thơ Nôm trào phúng Nguyễn Khuyến ở góc độ khai thác các xung đột văn hóa và từ việc phản ánh những xung đột văn hóa đó mà tìm hiểu những thay đổi trong bút pháp nghệ thuật phản ánh của ông Chỉ có một số công trình đã chỉ ra được mối quan hệ giữa sáng tác của Nguyễn
Khuyến và cội nguồn văn hóa dân tộc Gần đây trên tạp chí Giáo dục, số 318 tác giả Dương Thu Hằng – Hoàng Mai Quyên, (2013), có bài Giá trị văn hóa
truyền thống trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến Bài viết chỉ ra những giá trị văn
hóa truyền thống thể hiện trong toàn bộ những sáng tác thơ Nôm của Nguyễn Khuyến nhưng vẫn không lưu ý đến các xung đột văn hóa trong sáng tác của ông
Như vậy có thể nói rằng nghiên cứu xung đột văn hóa trong thơ Nôm trào phúng Nguyễn Khuyến là một vùng đất tương đối mới mẻ Điều đó tạo động lực mạnh mẽ thôi thúc người viết khám phá mảnh đất này Với góc nhìn
từ xung đột văn hóa, người viết hi vọng rằng chúng ta sẽ có được cái nhìn mới
về thơ Nôm trào phúng của Nguyễn Khuyến
Trang 143 Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là những vấn đề văn hóa được phản ánh qua văn học Cụ thể là xung đột văn hóa trong văn học Việt Nam cuối thế kỉ XIX qua thơ Nôm trào phúng Nguyễn Khuyến
3.2 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu, tìm hiểu xung đột văn hóa trong văn học Việt Nam cuối thế
kỉ XIX giúp chúng ta nhận thấy mâu thuẫn giữa văn hóa Đông – Tây, từ đó là
sự thay đổi của tất cả mọi tầng lớp trong xã hội trước sự phôi pha của những giá trị đạo đức văn hóa truyền thống tốt đẹp qua tác phẩm thơ Nôm trào phúng đặc sắc của Nguyễn Khuyến
4 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu thơ Nôm trào phúng Nguyễn Khuyến từ góc độ phản ánh những xung đột văn hóa trong thời đại của mình
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn chúng tôi sử dụng một
số phương pháp:
4.2.1 Phương pháp liên ngành
Người viết sử dụng phương pháp này để tìm hiểu khái niệm và biểu hiện xung đột văn hóa của các ngành khoa học như: triết học, nghệ thuật, xã hội học, tâm lí học, văn hóa học… để soi chiếu vào văn học từ đó thấy được mâu thuẫn, xung đột được nhìn từ góc độ văn hóa
Trang 154.2.2 Phương pháp phân tích – tổng hợp
Phương pháp này giúp chúng tôi tìm hiểu các bài thơ làm sáng tỏ xung đột văn hóa từ đó chỉ ra được những đổi mới của Nguyễn Khuyến ở phương diện nội dung và nghệ thuật
4.2.3 Phương pháp tiếp cận thi pháp học
Phương pháp này người viết tìm hiểu các vấn đề của bộ môn thi pháp học như: không - thời gian nghệ thuật, cách khai thác mâu thuẫn – xung đột, ngôn ngữ, thủ pháp nghệ thuật… Từ đó giúp người viết thấy được cách tân nghệ thuật trong thơ Nôm trào phúng Nguyễn Khuyến
4.2.4 Phương pháp loại hình
Áp dụng những kiến thức lí luận về tác giả, đặc trưng thể loại, về nội dung đề tài, các phương diện nhân vật, ngôn ngữ…Chúng tôi chỉ ra những điểm khác biệt giữa Nguyễn Khuyến với các nhà thơ cùng thời Đồng thời thấy giá trị thơ văn của ông trong nền văn học Trung đại Việt Nam cả về nội dung
Trang 16Tác phẩm: Nguyễn Khuyến tác phẩm Nguyễn Văn Huyền sưu tầm, biên
dịch, giới thiệu, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1984
Sách nghiên cứu:
Nguyễn Khuyến - về tác gia, tác phẩm, Vũ Thanh tập hợp, biên soạn,
giới thiêu, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2007
Phong cách nghệ thuật Nguyễn Khuyến, chuyên luận của Biện Minh
Điền, Nxb Đại học Quốc gia, 2008
Và các tài liệu bổ trợ khác
6 Đóng góp của luận văn
Thông qua luận văn bạn đọc có thể nhận thấy cách tiếp cận, tìm hiểu, cảm nhận thơ Nôm trào phúng Nguyễn Khuyến ở góc nhìn văn hóa Thấy được những xung đột văn hóa biểu hiện trong nội dung và những tác động đến hình thức nghệ thuật thơ Nôm trào phúng Nguyễn Khuyến Đó là một đóng góp nhỏ của luận văn
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, hướng triển khai Nội dung của luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Xung đột văn hóa giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX và sự phát triển của văn học trào phúng
Chương 2: Nội dung xung đột văn hóa trong thơ Nôm trào phúng Nguyễn Khuyến
Chương 3: Nghệ thuật biểu hiện xung đột văn hóa qua thơ Nôm Nguyễn Khuyến
Trang 17Chương 1 XUNG ĐỘT VĂN HÓA GIAI ĐOẠN NỬA CUỐI THẾ KỶ XIX VÀ SỰ
PHÁT TRIỂN CỦA VĂN HỌC TRÀO PHÚNG 1.1 Khái niệm
1.1.1 Khái niệm trào phúng, tự trào và văn học trào phúng
1.1.1.1 Khái niệm trào phúng
Trong cuốn Từ điển Hán - Việt từ “trào phúng” là từ gốc Hán bao gồm
hai từ tố được giải nghĩa như sau: Trào nghĩa gốc là cười (cười nhạo), giễu (chế
giễu) Phúng nghĩa là nói bóng gió, nói ví “Trào phúng” có nghĩa là nói ví để cười nhạo, là châm biếm giễu cợt “Trào phúng” cũng có nghĩa mượn lời bóng
gió để tạo ra tiếng cười châm biếm, giễu cợt
Trào phúng là nói ví để cười nhạo, dùng lời nói có tác dụng gây cười nhằm châm biếm, phê phán Trào phúng luôn bao hàm cả hai yếu tố đan xen lẫn nhau: yếu tố tiếng cười, cái cười và yếu tố răn bảo, đấu tranh chống lại điều lỗi, cái xấu [49, tr.29]
1.1.1.2 Khái niệm tự trào
Cho đến hiện nay vẫn chưa có một khái niệm đầy đủ, rõ ràng và chính xác nào về tự trào Nhưng qua nghiên cứu và tìm hiểu có thể đưa ra cách hiểu
một cách khái quát chung nhất “Tự trào” được xem là một mảng của thơ ca
trào phúng Việt Nam, trong đó đối tượng trào phúng là chủ thể (Chủ thể ở đây
được hiểu là chính bản thân tác giả) Muốn hiểu được khái niệm “tự trào”,
trước hết chúng ta phải thông qua khái niệm trào phúng như đã nói ở trên Từ
đó, ta có thể suy rộng ra nghĩa của từ “tự trào”: Tự có thể hiểu là tự mình, tự chính bản thân mình Trào là cười (chế nhạo), giễu (chế giễu) Như vậy, “tự
trào” là tự cười mình, tự chế giễu mình Thơ tự trào là thơ làm ra để tự cười
mình mà đối tượng được cười nhạo trong thơ tự trào chính là chủ thể Nói cách
Trang 18khác, đối tượng cười nhạo trong bài thơ là chính tác giả Cũng có thể nói thơ
tự trào là thơ trào phúng mà trong đó đối tượng trào phúng chính là bản thân chủ thể trữ tình
1.1.1.3 Khái niệm văn học trào phúng
Trong Từ điển thuật ngữ văn học các tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử,
Trần Khắc Phi cho rằng: “Trào phúng theo nghĩa từ nguyên là dùng lời lẽ bóng bẩy, kín đáo để cười nhạo, mỉa mai kẻ khác, song trong lĩnh vực văn học, trào phúng gắn liền với phạm trù mĩ học cái hài với các cung bậc hài hước, châm biếm Văn học trào phúng bao hàm một lĩnh vực rộng lớn với những cung bậc khác nhau” [10, tr.363]
Văn học trào phúng được coi là “một loại hình đặc biệt của sáng tác văn học, gắn liền với phạm trù mĩ học cái hài, với các cung bậc tiếng cười, hài hước, châm biếm, đả kích…” Chính mối quan hệ nhân quả giữa cái hài và cái
bi sẽ tạo nên chiều sâu nhận thức trong cảm hứng trào phúng của tác phẩm văn học
Từ đó có thể hiểu thêm, thơ trào phúng là một loại hình đặc biệt của văn
học trào phúng, đó là “loại tác phẩm hợp nguyên các trạng thái trái ngược
nhau, những rung động cảm xúc sáng tạo, sự phê phán và tiếng cười Các trạng thái tâm lí này hòa trộn, thẩm thấu lẫn nhau triệt tiêu nhau tạo nên hiệu quả Katharsis nghệ thuật Và như vậy về mặt định vị thể loại, thơ trào phúng mang tính phức hợp pha trộn nhiều loại hình thể loại – vừa trữ tình vừa tự sự, vừa mang cả “chất kịch” Trong đó, tiếng cười là yếu tố cơ bản quyết định những loại hình (văn) thơ trào phúng khác” [22, tr.35]
1.1.2 Khái niệm văn hóa, xung đột văn hóa và xung đột văn hóa trong thơ trào phúng
1.1.2.1 Khái niệm văn hóa
Trang 19Thuật ngữ khoa học: văn hóa được bắt nguồn từ chữ Latinh “ Cultus” mà
nghĩa gốc gắn liền với gieo trồng, trau dồi, bồi dưỡng cây trồng, trồng người Con người sinh ra không phải tự nhiên mà có văn hóa, văn hóa có được nhờ quá trình tu dưỡng, đào tạo, giáo dục (Khái niệm văn hóa được hiểu theo nghĩa rộng)
Thuật ngữ văn hóa với nghĩa “canh tác tinh thần” được thịnh hành vào
thế kỉ XVII- XVIII bên cạnh nghĩa gốc là quản lí canh tác nông nghiệp Vào
thế kỉ XIX thuật ngữ “văn hóa” được các nhà nhân học phương Tây sử dụng
như một danh từ chính Những học giả này cho rằng văn hóa (văn minh) thế giới có thể phân loại từ trình độ thấp nhất đến trình độ cao nhất và văn hóa của
họ chiếm vị trí cao nhất Bởi vì họ cho rằng bản chất văn hóa hướng về trí lực
và sự vươn lên sự phát triển này tạo thành văn minh
Hai nhà nhân loại học Mỹ là Alfred Kroeber và Clyde Kluckhohn quan niệm văn hóa là loại hành vi rõ ràng và ám thị đã được đúc kết, truyền lại bằng biểu tượng và nó hình thành, thành quả độc đáo của nhân loại khác với các loại hình khác trong đó bao gồm cả đồ tạo tác do con người tạo ra Các học giả Mỹ cho rằng “văn hóa là tấm gương nhiều mặt phản chiếu đời sống và nếp sống của một cộng đồng dân tộc”, ở trung tâm của văn hóa quyển là hệ tư tưởng cũng được xem là hệ văn hóa [30, Dẫn theo tr 18]
Các học giả Việt Nam nghiên cứu về lĩnh vực văn hóa cũng đưa ra cách phân loại văn hóa
Theo Đại từ điển tiếng Việt thì văn hóa là những giá trị vật chất, tinh
thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử [52]
Phan Ngọc đưa ra định nghĩa văn hóa theo tinh thần thao tác luận khác biệt với định nghĩa trước đó: “Văn hóa là một quan hệ, nó là quan hệ giữa thế giới biểu tượng với thế giới thực tại Quan hệ ấy biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của một dân tộc người, một cá nhân so với một dân tộc người khác,
Trang 20một cá nhân khác Nét khu biệt các kiểu lựa chọn làm cho chúng khác nhau tạo thành nền văn hóa khác nhau đó là độ khúc xạ Tất cả mọi cái mà một dân tộc người tiếp thu hay sáng tạo riêng ở một lĩnh vực khác và rất khác độ khúc xạ ở một dân tộc khác” [27, tr.68]
Tuy nhiên, có thể coi định nghĩa văn hóa của UNESCO là toàn diện và sâu sắc hơn cả: “Trong ý nghĩa rộng nhất, văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và cảm xúc quy định tính cách của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và vật chất, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những tập tục tín ngưỡng” [27, tr.68]
Từ nhiều cách hiểu, cách định nghĩa khác nhau về văn hóa như vậy chúng ta có thể tạm quy định có hai loại định nghĩa về văn hóa: được hiểu theo nghĩa rộng văn hóa là lối sống, lối suy nghĩ, lối ứng xử… được hiểu theo nghĩa hẹp là văn hóa nghệ thuật, kĩ thuật, học vấn… Tùy từng trường hợp, hoàn cảnh chúng ta có thể có những cách hiểu, cách định nghĩa khác nhau về văn hóa Và trong luận văn này, người viết sử dụng định nghĩa văn hóa theo nghĩa hẹp: Văn hóa được hiểu đó là văn hóa phương Đông, văn hóa phương Tây, văn hóa nông nghiệp, văn hóa công nghiệp, văn hóa du mục…
1.1.2.2 Khái niệm xung đột
Xung đột hiểu theo nghĩa căn bản nhất là sự đối lập tranh chấp một cách
gay gắt và quyết liệt Theo Từ điển tiếng Việt của Hồ Ngọc Đức giải thích
“xung đột” là:
Đánh nhau, tranh chấp, chống đối lại một cách dữ dội
Chống đối nhau do sự trái ngược hoặc có mâu thuẫn gay gắt
Như vậy, xung đột là nói đến mâu thuẫn và khi mâu thuẫn đạt tới đỉnh điểm thì sẽ có thoái trào giải quyết mâu thuẫn Người ta có thể nói tới các loại
Trang 21xung đột như: xung đột sắc tộc, tôn giáo, quyền giành lợi ích, xung đột cũ- mới…
Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới thì cho rằng: “xung đột” là hệ quả
của sự căng thẳng mâu thuẫn ở bên trong cũng như bên ngoài, có thể đạt tới độ nguy kịch Xung đột biểu trưng cho khả năng chống đối từ cực mâu thuẫn này sang cực mâu thuẫn khác, đảo lộn khuynh hướng về phía tốt hay xấu: độc lập -
nô lệ, đau khổ - vui sướng, đau ốm- khỏe mạnh, chiến tranh - hòa bình, định kiến- sáng suốt, trả thù - tha thứ, ức chế - phấn đấu, tội lỗi – trong sáng [2]
Triết học Macxit lại coi mâu thuẫn là mối quan hệ giữa các yếu tố, khuynh hướng trái ngược nhau trong một đối tượng hoặc giữa các đối tượng trong cùng một hệ thống Và chỉ khi mâu thuẫn phát triển đến một trình độ nhất định mới biểu hiện ra bên ngoài dưới hình thức xung đột, có thể nói xung đột là
biểu hiện “bề ngoài” là hiện tượng của mâu thuẫn
Như vậy có thể nhận thấy, về bản chất, tất cả mọi xung đột xã hội đều bắt nguồn từ sự khác biệt, không thể dung hòa về mặt quyền lợi giữa các chủ thể Và ở mỗi lĩnh vực khác nhau mà khái niệm xung đột được hiểu theo nhiều cách khác nhau cho nên biểu hiện của xung đột hết sức đa dạng
1.1.2.3 Khái niệm xung đột văn hóa
Tiến sĩ Phạm Thái Việt của Học viện ngoại giao, trong công trình nghiên
cứu Lí luận văn hóa về xung đột văn hóa cho rằng: Trong vòng vài ba thế kỉ trở
lại đây thuật ngữ xung đột văn hóa đã sử dụng khá nhiều, phổ biến trong các nghiên cứu về quan hệ quốc tế, trong báo giới cũng như trong chính giới Tuy nhiên, khái niệm nội hàm của xung đột văn hóa chưa định hình một cách rõ
ràng bởi các thuật ngữ cấu thành như “xung đột”, “văn hóa” vẫn được luận giải
theo nhiều cách khác nhau Văn hóa theo nghĩa rộng là toàn bộ hiện thực mang tính người, với nghĩa đó có thể coi mọi xung đột xã hội đều được gọi là xung đột văn hóa hay đều nhuốm màu sắc văn hóa
Trang 22Liên quan đến “xung đột văn hóa” hay đụng độ văn hóa học giả Trung Quốc Guo Jiemin cho rằng “cái gọi là xung đột văn hóa nói khái quát lại chỉ là
sự mâu thuẫn gạt bỏ, phủ định lẫn nhau giữa các nền văn hóa khác nhau, thực chất là sự đụng độ giữa các đặc tính khác nhau của loài người Nhưng đụng độ
về văn hóa trong quan hệ quốc tế cần làm rõ sự khu biệt với nó với đụng độ văn hóa nói chung Bởi văn hóa là khái niệm vô cùng rộng, các loại hình đụng
độ dựa trên văn hóa là nhiều, từ góc độ địa lí có đụng độ văn hóa phương Đông – phương Tây, từ góc độ lịch sử có sự đụng độ văn hóa truyền thống và hiện đại, từ góc độ quốc gia có sự đụng độ văn hóa ngoại lai và bản địa, từ góc
độ phát triển xã hội có đụng độ văn hóa nông nghiệp với văn hóa công nghiệp Hơn thế nữa do khái niệm văn hóa và văn minh không hoàn toàn đồng nhất hàm nghĩa đụng độ văn minh và đụng độ văn hóa cũng không hoàn toàn giống nhau” [30, Dẫn theo tr 20]
Từ sự phức tạp và chưa rõ ràng của khái niệm “xung đột văn hóa” đã có
nhiều ý kiến khác nhau nhưng có thể phân thành hai quan điểm chính:
Thứ nhất, thừa nhận sự tồn tại của xung đột văn hóa như đối tượng có
nội dung độc lập
Thứ hai, coi xung đột văn hóa chỉ là một chiều cạnh của xung đột nói
chung Những người đi theo quan điểm sau cho rằng không nên chia tách xung đột văn hóa khỏi chỉnh thể xung đột nói đúng hơn không phải xung đột văn hóa
mà xung đột từ góc nhìn văn hóa
1.2 Sự hình thành và phát triển xung đột văn hóa trong văn học trào phúng Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX
1.2.1 Vấn đề xung đột văn hóa giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX
1.2.1.1 Cơ sở tư tưởng và xã hội của sự xung đột
Nho giáo còn gọi là đạo Nho hay đạo Khổng, là một trong những học thuyết triết học và chính trị xã hội lớn nhất trong lịch sử triết học của Trung
Trang 23Quốc Tư tưởng giáo dục của Nho giáo chứa đựng nhiều giá trị tích cực và đã
có những ảnh hưởng to lớn đến đời sống chính trị - xã hội không chỉ của Trung Quốc mà còn với rất nhiều nước Châu Á khác, trong đó có Việt Nam Hệ tư tưởng Nho giáo chính thống đã trải qua hàng ngàn năm tồn tại, góp phần hình thành nên tư tưởng của dân tộc
Nho giáo ở Việt Nam cũng để lại dấu ấn rất lớn trong quá trình giáo dục
và lịch sử dựng nước ở các triều đình phong kiến thời trung đại Nhờ Đạo Nho, người Việt Nam rất coi trọng sự học hành Văn Miếu được thành lập năm 1070
- Quốc Tử Giám lập năm 1076 có thể coi đây là trường đại học đầu tiên ở Việt Nam Nơi đây còn lưu giữ nhiều tấm bia ghi lại tên tuổi các nho sĩ đỗ đạt trong các kỳ thi khoa bảng Việt Nam cùng nhiều bài văn bia nêu lên triết lý giáo Một tầng lớp nho sĩ đông đảo có mặt ở khắp nông thôn và thành thị, nho sĩ được đề cao đến mức cao nhất Qua giáo dục và khoa cử Nho giáo thâm nhập vào xã hội ngày một sâu sắc hơn, tạo được truyền thống ham học, truyền thống tôn sư trọng đạo, truyền thống coi trọng người có học Từ đó các kiến thức học tập được tích lũy, có điều kiện để duy trì và phát triển Ngoài ra còn tạo cho con người biết đạo ăn ở, biết quan tâm đến người khác, biết sống có văn hóa
và đạo đức Tạo được cơ chế tuyển dụng người tài qua thi cử Bất kể xuất thân
ra sao dù là nông dân, người thợ, lính tráng chỉ cần học giỏi đỗ đạt thì có thể
ra làm quan giúp nước
Trong khi đó ở phương Tây thời kỳ này, chức tước chỉ được chuyển giao nội bộ trong các gia đình quý tộc, dân thường hầu như không thể có được
chức vị Từ đó tạo nên một tâm lý xã hội: "Không tham ruộng cả ao liền, tham
vì cái bút, cái nghiên anh đồ" Nhiều thanh niên, trai tráng lấy việc học tập, thi
cử làm mục tiêu cao nhất trong cuộc đời mình Xã hội nhờ vậy coi trọng sự học
tập và nhờ đó trình độ học vấn cũng được nâng cao Câu châm ngôn "Tiên học
Lễ, hậu học Văn" đã ghi khắc sâu đậm vào dân tộc Việt Nam suốt hàng ngàn
năm Chữ "Lễ" luôn nhắc nhở người dân rằng phải học sự lễ độ, thân ái, hòa
Trang 24thuận với mọi người, tôn trọng trật tự, lễ kính với người già và phải có trên
dưới rõ ràng Còn chữ "Văn" nhắc nhở con người phải học hành để thành người
tài đức Câu châm ngôn này được phổ biến ở khắp các trường học tại Việt Nam
từ xưa cho đến nay
Bên cạnh đó tư tưởng Nho giáo hun đúc tinh thần yêu nước, tinh thần quốc gia, dân tộc Với quan niệm và mục tiêu của giáo dục Nho giáo có nhiều yếu tố tiến bộ hướng con người tới những phẩm chất cao quý như nhân, nghĩa,
lễ, trí, tín Đó là những giá trị chuẩn mực của con người trong xã hội phong kiến Mục đích chính của giáo dục theo quan điểm của Nho giáo là nhằm đào tạo ra những con người lý tưởng, có sự hoàn thiện cả về đạo đức, nhân cách cũng như tri thức, lối sống Chính vì thế Nho giáo góp phần tạo ra những con người có lòng yêu nước sâu sắc được biểu hiện qua các thời kì lịch sử khác nhau: đó là lòng căm thù giặc khi đất nước có giặc ngoại xâm, lòng tự hào về truyền thống của dân tộc và ý thức bảo vệ giữ gìn nền độc lập chủ quyền đất nước trong thời bình
Tuy nhiên bên cạnh những mặt tích cực trên Nho giáo trong quá trình hình thành phát triển không tránh khỏi những mặt hạn chế Về nội dung học tập, Nho giáo chỉ quan tâm đến giáo dục trí và đức vì thế ảnh hưởng tới sự phát triển toàn diện của con người Những kiến thức về giới tự nhiên và về sản xuất vật chất không được Nho giáo đề cập, coi trọng Ở thời của Khổng Tử, khoa học kỹ thuật và nền sản xuất chưa phát triển Do vậy, người học tuy lĩnh hội đầy đủ tư tưởng Nho học về đạo đức, tinh thông cổ văn, nhưng các kiến thức
về khoa học tự nhiên, sản xuất thực tiễn thì lại dường như không có Khi tiếp xúc với nền văn minh phương Tây mạnh về khoa học kỹ thuật, nếu người xuất thân Nho học biết tiếp thu những kiến thức khoa học và sản xuất thì sẽ khắc
phục được mặt hạn chế, trở nên "Vừa có tài vừa có đức" Ngược lại nếu không
tiếp thu được những tinh hoa tri thức phương Tây mà chỉ bắt chước lối sống,
du nhập chủ nghĩa tiêu dùng của phương Tây sẽ dẫn đến việc phủ định các giá
Trang 25trị truyền thống, gây chia rẽ xã hội, xem thường Nho giáo vì cho rằng nó lỗi thời, không phù hợp với điều kiện xã hội hiện đại, do đó càng không thể khắc phục được hạn chế vốn có mà những giá trị đạo đức Nho học, đồng thời những giá trị văn hóa dân tộc cũng bị đánh mất Đạo đức suy đồi, văn hóa thui chột thì
xã hội hỗn loạn, xung đột nảy sinh Đó là bi kịch chung của những nước bị
"xâm lược", bị phương Tây hóa thiếu định hướng và thiếu chiều sâu như Việt
Nam Nho giáo Việt Nam thiếu sự vận động bên trong, thiếu sự phản tỉnh nên trì trệ Đaị đa số nhà nho Việt Nam chỉ đặt cho mình mục đích học là để đi thi, thi đỗ thì ra làm quan để lại tiếng thơm với muôn đời Khi đạt được mục đích như vậy thì xem như việc học tập đã kết thúc Ít người có chí cao xa, như học
để tham gia tranh luận những vấn đề học thuật, triết học, học để kinh bang tế thế hoặc để phát triển văn hoá, để bản thân đạt đến những tầm cao về tư tưởng
Vì học tập và tư duy như thế nên Nho giáo Việt Nam ít có cống hiến to lớn trong lĩnh vực học thuật có thể so sánh với các nước Nho giáo khác Hạn chế lớn nhất là tập quán sùng bái thánh hiền, giáo điều và máy móc của giới nho sĩ Việt Nam Trong khi đó bên cạnh Nho giáo còn có nhiều trường phái tư tưởng khác như Đạo gia, Mặc gia, Pháp gia Giữa các trường phái này luôn có sự tranh luận, phản bác lẫn nhau Điều này khiến sự phát triển của Nho giáo Việt Nam hạn chế Phương pháp tư duy của nó thiên về bảo thủ, giáo điều Vì vậy tầng lớp nho sĩ chịu sự ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo cho mình là trung tâm của vũ trụ, khép kín, ít giao thiệp với thế giới bên ngoài, cho thế giới bên
ngoài là man di mọi rợ, “bế quan tỏa cảng”, ức chế thương mại, áp chế các tư
tưởng tiến bộ đã dẫn đến sự lạc hậu, trì trệ, thủ cựu Chúng ta không thể chối
bỏ giá trị giáo dục sâu sắc của tư tưởng Nho giáo, tuy nhiên đạo đức của Khổng Tử trọng danh hơn thực, trọng xưa hơn nay và đã gạt ra ngoài nhiều giá trị đạo đức nhân loại phổ biến Chính vì vậy các nhà nho đứng trước các tư tưởng mới luôn bày tỏ thái độ hoặc phản kháng gay gắt hoặc chọn phương cách trốn tránh đối với hiện thực Mặt khác quan niệm về người quân tử và kẻ tiểu
Trang 26nhân của đạo Khổng cũng chứa đựng những hạn chế nhất định, trong đó ông loại tầng lớp người dân lao động nghèo ra khỏi hàng ngũ người quân tử
Cả hai mặt tiến bộ và hạn chế của Nho giáo đều để lại dấu ấn trên tầng lớp nho sĩ Những hạn chế trên của tư tưởng Nho giáo trong quá trình du nhập
và ảnh hưởng tới Việt Nam sẽ là cơ sở cho những xung đột văn hóa khi bối cảnh lịch sử xã hội có nhiều biến động trong giai đoạn cuối thế kỉ XIX
1.2.1.2 Các biểu hiện của xung đột văn hóa
Năm 1858, thực dân Pháp nổ tiếng súng đầu tiên tấn công vào nước ta với sức mạnh quân sự, cùng với những âm mưu thâm độc trong mưu đồ xâm lược và trước sự kháng cự yếu ớt của triều đình nhà Nguyễn, thực dân Pháp đã nhanh chóng chiếm được nước ta bằng hàng loạt những hiệp ước kí với nhà Nguyễn chính thức công nhận nền đô hộ của Pháp
Về kinh tế, do sự du nhập của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, kinh tế Việt Nam có sự biến đổi: Loại hình kinh tế nông thôn bị phá vỡ, hình thành nên những đô thị mới, những trung tâm kinh tế và tụ điểm cư dân mới Nhưng thực dân Pháp không du nhập một cách hoàn chỉnh phương thức tư bản chủ nghĩa vào nước ta, mà vẫn duy trì loại hình kinh tế phong kiến Chúng kết hợp hai phương thức bóc lột tư bản và phong kiến để thu lợi nhuận Chính vì thế, nước ta không thể phát triển lên chủ nghĩa tư bản một cách bình thường được, nền kinh tế Việt Nam bị kìm hãm trong vòng lạc hậu, phát triển trong sự phụ thuộc chặt chẽ vào kinh tế Pháp
Về chính trị, chúng tiếp tục thi hành chính sách chuyên chế với bộ máy đàn áp nặng nề Thực dân Pháp tiếp tục củng cố bộ máy chính quyền, tập trung toàn bộ quyền lực vào tay người Pháp Bên cạnh đó, chúng còn sử dụng giai cấp phong kiến Việt Nam làm công cụ đắc lực phục vụ những mục tiêu do chúng đặt ra Chúng bóp nghẹt tự do, dân chủ, thẳng tay đàn áp, khủng bố, dìm các cuộc khởi nghĩa của ta trong bể máu Ngoài ra chúng còn sử dụng chính
Trang 27sách “Chia để trị” một cách toàn diện với mục đích làm suy giảm sức mạnh
đoàn kết của dân tộc ta, ngăn chặn sức mạnh đấu tranh của nhân dân ta Chúng chia nước ta làm ba kỳ, mỗi kỳ đặt một chế độ cai trị riêng, nhập ba kỳ đó với nước Lào và nước Campuchia để lập ra Liên bang Đông Dương thuộc Pháp, thực hiện mục tiêu cao nhất là xóa tên nước ta trên bản đồ thế giới Chúng gây chia rẽ và thù hận giữa Bắc, Trung, Nam, giữa các tôn giáo, các dân tộc, các địa phương, thậm chí là giữa các dòng họ, giữa dân tộc Việt Nam với các dân tộc khác trên bán đảo Đông Dương
Về văn hóa - xã hội, chúng thi hành triệt để chính sách “ngu dân”, gây
tâm lý tự ti, khuyến khích các hoạt động mê tín dị đoan, kìm chế dân ta trong cảnh ngu dốt để dễ bề cai trị, bóc lột Mọi hoạt động yêu nước của nhân dân ta đều bị cấm đoán rất gắt gao Chúng xây dựng nhà tù nhiều hơn trường học Các trường học chủ yếu là những cơ sở đào tạo ra đội ngũ tay sai cho chính quyền thực dân và những công nhân lành nghề phục vụ cho chương trình khai thác thuộc địa Thực dân Pháp thờ ơ trước các tệ nạn xã hội như: cờ bạc, mại dâm…
Chúng còn gieo rắc tư tư tưởng sùng bái nước Pháp, coi nước Pháp là “Mẫu
quốc”, là người đi “khai hóa văn minh”, thường xuyên tổ chức các hoạt động
văn hóa – thể thao như hô hào thể dục, thể thao để lôi cuốn nhân dân ta đặc biệt
là tầng lớp thanh thiếu niên làm cho họ quên đi nỗi nhục mất nước Chúng tìm mọi cách bưng bít và ngăn chặn ảnh hưởng của nền văn hóa tiến bộ trên thế giới vào Việt Nam
Nước Việt Nam sau các cuộc bình định về quân sự, kinh tế của thưc dân Pháp đã có những biến chuyển sâu sắc trên tất cả các lĩnh vực: chính trị, kinh
tế, văn hóa, xã hội Việt Nam từ một xã hội phong kiến thuần tuý đã biến thành một xã hội thuộc địa Mặc dù thực dân còn duy trì một phần tính chất phong kiến, song khi đã thành nước thuộc địa thì tất cả các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và giai cấp ở Việt Nam đều bị đặt trong quỹ đạo chuyển động của
xã hội đó Từ đó Việt Nam đã hình thành những mâu thuẫn, xung đột đan xen
Trang 28nhau, song mâu thuẫn, xung đột cơ bản và chủ yếu nhất là mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp và tay sai phản động Trong đó xung đột văn hóa chỉ là một trong nhiều những xung đột ở giai đoạn lịch sử này nhưng là xung đột quan trọng nhất, phản ánh bản chất của các xung đột xã hội khác như
tư tưởng, tâm lý, chính trị, kinh tế, an ninh quốc phòng…
Biểu hiện của xung đột văn hóa rất phong phú và đa dạng, nhưng tồn tại chủ yếu với một số biểu hiện cụ thể sau:
Thứ nhất là xung đột giữa văn hóa phương Đông và phương Tây Trong
đó có xung đột giữa tinh thần yêu nước, gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc với văn hóa ngoại lai của kẻ xâm lược Đó là sự xung đột giữa hai hệ tư tưởng có nhiều khác biệt trên nhiều phương diện Biểu hiện cụ thể trong sự đối lập giữa văn hóa mới của bọn thực dân xâm lược với truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam Giữa việc bảo vệ, gìn giữ truyền thống văn hóa và chính sách “khai hóa văn minh” hủy diệt văn hóa dân tộc và khai thác thuộc địa phản động của
kẻ thù
Thứ hai là xung đột giữa phong tục, tập quán và lối sống mới trong xã hội thực dân phong kiến: Cụ thể là giữa phong tục, tập quán truyền thống với các biểu hiện của lối sống mới của kẻ xâm lược và bọn tay sai bán nước Giữa những kẻ rởm đời học đòi (bọn gái điếm, me Tây - những tầng lớp mới xuất hiện trong xã hội, bọn quan lại và các đối tượng suy đồi khác) với thuần phong
mỹ tục của dân tộc Biểu hiện cụ thể của các xung đột trên sẽ được người viết làm rõ trong Chương 2
1.2.2 Vấn đề xung đột văn hóa trong văn học trào phúng
Cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp lấy cớ triều đình nhà Nguyễn đã bắn giết các giáo sĩ và ngăn chặn thông thương nên đã chính thức xâm lược Việt Nam
Trang 29Thực dân Pháp phải mất gần 40 năm mới đặt ách thống trị trên đất nước
ta và non một thế kỷ nhân dân ta phải sống dưới sự cai trị của Pháp Trong điều kiện xã hội Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX thì sự kiện Pháp xâm lược Việt Nam là sự kiện quan trọng, nổi bật, chi phối các sự kiện khác và có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của văn học Tình hình thời sự chi phối toàn bộ đời sống văn học và làm thay đổi diện mạo văn học Văn học giai đoạn này ra đời trong hoàn cảnh lịch sử xã hội đặc biệt có nhiều biến cố trọng đại nên văn học gắn với chính trị và phục vụ cho cuộc đấu tranh chính trị Trước kia chưa có một giai đoạn nào mà sự chuyển biến về chủ đề và đề tài trong văn học lại nhanh chóng đến vậy Với yêu cầu phục vụ chính trị, văn học đã phản ánh những vấn đề trung tâm nóng hổi của thời đại: Cuộc đấu tranh của nhân ta chống thực dân Pháp Ðây là chủ đề chính của văn học thời kỳ này Văn học giai đoạn này đã thể hiện sâu sắc tình cảm yêu nước của nhân dân Do đó yếu
tố lãng mạn giữ vai trò quan trọng để đảm bảo cái nhìn vừa đúng hiện thực vừa phù hợp với nguyện vọng của nhân dân Có thể nói, văn thơ yêu nước phong phú về trữ tình nhưng không thiếu tự sự kể cả trào phúng, tính trữ tình là yếu tố căn bản của văn học yêu nước chống Pháp Với sự chuyển biến sâu sắc về đề tài, chủ đề văn học giai đoạn này cũng vận động và phân hóa theo nhiều khuynh hướng khác nhau:
Thứ nhất là khuynh hướng yêu nước chống Pháp Trải qua hàng chục thế kỷ chống ngoại xâm, từ buổi đầu dựng nước cho đến khi có văn học thành văn, nhân dân ta thể hiện lòng yêu nước mãnh liệt của mình.Và Yêu nước đã trở thành truyền thống lâu đời của dân tộc Ðến nửa cuối thế kỷ XIX, khi Pháp sang, truyền thống yêu nước của dân tộc lại có cơ hội bùng lên một cách mãnh liệt Văn học chống Pháp ra đời đã kế thừa một cách tốt đẹp truyền thống yêu nước trong lịch sử và và có những bước phát triển phù hợp với hoàn cảnh mới của lịch sử Văn thơ yêu nước đã vạch trần những luận điệu hèn nhát, bỉ ổi của
Trang 30triều đình, bọn vua quan vô trách nhiệm, bè lũ Việt gian bán nước thành những bản án đanh thép hoặc những trang châm biếm sắc sảo
Thứ hai là khuynh hướng hiện thực trào phúng có mối quan hệ chặt chẽ với khuynh hướng yêu nước chống Pháp Các nhà thơ, nhà văn này ban đầu sáng tác văn học yêu nước nhưng về sau khi phong trào kháng Pháp thất bại, Pháp chiếm toàn bộ đất nước ta, xã hội bộc lộ những chướng tai gai mắt, trước những biến động đó của xã hội các nhà thơ,nhà văn này đã dùng ngòi bút của mình để phơi bày những mặt trái của xã hội bằng khiếu hài hước nhạy bén của mình Họ đã lấy việc phơi bày, tố cáo làm phương tiện để nhằm mục đích kêu gọi tinh thần yêu nước và chiến đấu của nhân dân Khuynh hướng này đã phát triển thành một khuynh hướng độc lập, tuy số lượng tác giả không nhiều như khuynh hướng yêu nước chống Pháp nhưng cũng khá đa dạng, phát triển rộng khắp trong Nam ngoài Bắc Các tác giả tiêu biểu nhất của khuynh hướng này
là Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương Trong khuynh hướng hiện thực trào phúng vấn đề quan tâm hàng đầu trong các sáng tác của tác giả là phản ánh các xung đột trong xã hội trong đó mâu thuẫn xung đột căn bản nhất là xung đột văn hóa
Vì vậy xung đột văn hóa trong văn học trào phúng phát triển như một điều tất yếu thậm chí mang tính quy luật
1.3 Văn học trào phúng và vai trò của văn học trào phúng trong sự phát triển văn học dân tộc
Từ khái niệm văn học trào phúng đã tìm hiểu ở mục 1.1 và thông qua các
lí thuyết về văn học trào phúng của các nhà nghiên cứu có thể thống nhất cách chia giọng điệu tiếng cười trào phúng thành ba cấp độ cơ bản sau:
Tiếng cười hài hước: hóm nhẹ, “cái cười thánh nhân” minh triết hoặc
giải trí, chủ yếu là tự trào, đùa vui hoặc có phần chế giễu nhưng ở mức độ nhẹ của trào phúng
Trang 31Tiếng cười châm biếm (mỉa mai, giễu cợt, nhạo báng) thường là giễu cợt với mục đích phê phán Thơ châm biếm nhằm mục đích phơi bày hiện thực xã hội và thông qua đó giáo dục xã hội, giáo dục con người bằng nụ cười dí dỏm
mà sâu sắc, nụ cười đó bao hàm cả việc phê phán lẫn tinh thần xây dựng
Tiếng cười đả kích (phê phán, tố cáo thông qua tiếng cười) đây là loại đánh trực diện vào kẻ thù có sức công phá, sát phạt, đấu tranh gay gắt Thơ nhằm mục đích lột bỏ mặt nạ kẻ thù từ đó bật lên tiếng cười mãnh liệt, ẩn chứa hàm ý sâu xa
Như vậy, thơ trào phúng là một loại hình đặc biệt của văn học trào
phúng, đó là “loại tác phẩm hợp nguyên các trạng thái trái ngược nhau, những
rug động cảm xúc sáng tạo, sự phê phán và tiếng cười Trong đó, tiếng cười là yếu tố cơ bản quyết định những loại hình (văn) thơ trào phúng khác” [49,
tr.35]
Trong tiến trình phát triển của văn học Việt Nam từ văn học dân gian cho đến văn học viết với sự phát triển phong phú đa dạng về các bộ phận và khuynh hướng văn học trong đó văn học trào phúng cũng đóng góp vào sự phát triển của nền văn học nói riêng và lịch sử dân tộc nói chung Xã hội Việt Nam trong khoảng thời gian dài trải qua nhiều thăng trầm, biến đổi Chặng đường nghìn năm qua chất chứa nhiều mâu thuẫn như: mâu thuẫn giữa dân tộc và lực lượng ngoại xâm từ phong kiến phương Bắc cho đến thực dân phương Tây, mâu thuẫn giữa giai cấp phong kiến và tầng lớp nông dân, mâu thuẫn trong nội
bộ các tầng lớp thống trị, bị trị trong xã hội Cùng với đó là sự thay đổi vương triều, sự lung lay trong quan hệ phong kiến ở các lĩnh vực lễ giáo, đạo đức, do tác động của nền kinh tế hàng hóa bắt đầu phát triển khi thực dân Pháp xâm lược, các cuộc khởi nghĩa của nông dân rầm rộ kéo dài Đồng thời xã hội khi chịu sự tác động mạnh mẽ của các yếu tố bên ngoài sẽ còn diễn ra bao nhiêu nỗi đảo điên, trái ngược, giả dối, bất công hoặc do sức mạnh vạn năng của
Trang 32đồng tiền chế ngự… Những hiện tượng xã hội ấy là nguồn đề tài bất tận cho văn thơ trào phúng ra đời và phát triển, có chỗ đứng nhất định trong dòng chảy của văn học
Trước tiên có thể kể đến các tác phẩm trong kho tàng văn học dân gian
đã đặt nền móng cho văn học trào phúng phát triển, đó là những câu tục ngữ, ca dao hài hước hay câu chuyện tiếu lâm chính là sản phẩm đầu tiên Cùng với đó
là những mẩu chuyện ngụ ngôn sinh động, những tiếng cười lí trí giòn giã ở các truyện Trạng Quỳnh, Trạng Lợn về sau này
Khi văn học viết hình thành và phát triển, văn thơ trào phúng cũng có những sự chuyển biến nhất định cụ thể qua các giai đoạn sau: Từ thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XIX những hiện tượng xã hội được các nhà nho ghi lại nhanh chóng tiêu biểu như trong các sáng tác của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ,… Tuy nhiên vì chịu ảnh hưởng của lễ giáo phong kiến mà các nhà thơ chỉ đả kích, châm biếm một cách nhẹ nhàng, kín đáo không trực diện thẳng thắn Đặc biệt phải kể đến tiếng cười trong thơ Hồ Xuân Hương, bà chúa thơ Nôm không e ấp, ngượng ngùng mà dám phá vỡ mọi quy tắc của lễ giáo phong kiến, thậm chí còn vạch trần những gì linh thiêng, tôn quý nhất Tiếng cười ấy đã vượt ra ngoài công thức của văn chương cổ điển Ngoài ra thơ văn trào phúng ở chặng đường này còn đề cập đến việc châm biếm những nhân vật lịch sử nêu cao tinh thần yêu nước, bày tỏ thái độ căm thù giặc sâu sắc, mỉa mai, khinh ghét bọn gian tà Có thể nói đây là những nét nổi bật trong nền thơ văn trào phúng nước ta từ nửa đầu thế kỉ XIX trở về trước
Đến giai đoạn cuối thế kỉ XIX trở về sau thì diện mạo văn học trào phúng phát triển phong phú và đa dạng hơn So với văn học trào phúng giai đoạn trước thì giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX đã phát triển thành một dòng văn học lớn mạnh và trở thành một bộ phận không thể thiếu của khuynh hướng văn
Trang 33học phê phán hiện thực Chính sự phát triển của khuynh hướng văn học phê phán hiện thực là một điều tất yếu trong xã hội đang có quá nhiều biến động, khi cái mới theo gót chân của kẻ thù đang lấn át cái cũ và dần thay thế cái cũ, khó có thể được các nhà nho chấp nhận Đây chính là điều kiện tốt nhất cho văn học trào phúng phát triển và nở rộ, với lối tư duy phê phán Trong giai đoạn này đã xuất hiện những tác giả viết thơ trào phúng chuyên nghiệp như Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương, Nguyễn Thiện Kế, Kép Trà, Phan Điện Ngòi bút sắc sảo các tác giả đã xây dựng nên những điển hình nghệ thuật của văn học trào phúng như hình tượng ông Tiến sĩ, ông Cử, hình tượng những tên
quan vừa dốt vừa tham, hình tượng kẻ hỏng thi, kẻ thất tiết, “con người thừa”,
con người tha hóa…
Văn học trung đại Việt Nam, do sự quy định của quan niệm văn học Nho giáo nên hướng nhiều đến những vấn đề đạo lý, đề cao chức năng giáo huấn, không đặt ra nhiệm vụ văn học phản ánh hiện thực Thơ ca trữ tình trung đại cũng chủ yếu là hướng nội, ít cọ sát, giãi bày, giao tiếp Gắn với kiểu tư duy đó
là các hình tượng nghệ thuật mang tính ước lệ, có tính biểu tượng cao Nhà nho sáng tác để bộc bạch tâm sự, để ngâm ngợi, hoặc để phổ biến hạn hẹp trong một số bạn bè biết chữ nghĩa chứ không chú tâm nhiều vào việc mô tả sự thật khách quan, không nhằm tìm đến lớp bạn đọc phổ thông Bên cạnh đó sự xuất hiện của văn học trào phúng với lối tư duy hướng ngoại, giàu tính trí tuệ nhưng lại hướng nhiều về thực tại đời sống, kích thích đầu óc phân tích, mổ xẻ hiện thực, tìm kiếm các mâu thuẫn trào phúng, đôi khi là những xung đột gay gắt trong những sự việc, hiện tượng xác thực của cuộc đời Tiêu biểu các sáng tác của Nguyễn Khuyến và Trần Tế Xương, với lối viết mới mẻ, sẽ góp phần tạo nên những bức tranh giàu giá trị hiện thực trong giai đoạn văn học nửa cuối thế
kỉ XIX
Như vậy, đi theo dòng chảy của văn học Việt Nam có thể nhận thấy đã
có cả một nền thơ văn trào phúng phát triển không phải mới ngày một ngày hai
Trang 34mà đã trải qua hàng nghìn năm lịch sử Trong buổi sơ khai, văn học trào phúng thể hiện sự lạc quan, vui vẻ, yêu đời, tinh thần thực tế, khoa học căn bản của người dân lao động nghèo, đồng thời phê phán những thói hư tật xấu để góp phần cho cuộc đời thêm tươi đẹp Bên cạnh đó thơ văn trào phúng cũng tham gia vào cuộc đấu tranh giai cấp, vạch trần thủ đoạn cường quyền áp chế, bênh vực quyền sống của con người, đặc biệt là quyền lợi của người phụ nữ Còn đấu tranh để giữ gìn bản chất trong sáng của dân tộc Việt Nam, cự tuyệt những thói lai căng pha tạp không cần thiết, phản đối những gì trái với đạo lý của dân tộc Cho đến khi cả dân tộc phải sống trong những đêm dài nô lệ thì chính văn thơ trào phúng là ngọn lửa soi sáng nhất bên cạnh các dòng thơ văn yêu nước khác lật tẩy được bộ mặt xảo trá, bịp bợm của bọn cướp nước, bọn bán nước cầu vinh, chống đối lại chính sách ngu dân với mục đích thống trị, đồng thời đòi hỏi sự đổi mới để được dứt khoát từ bỏ quá khứ nặng nề Đã có những tiếng cười vang lên, cuốn hút, cho chúng ta thấy một cách sâu sắc hơn ý nghĩa của những vấn đề đã đặt ra trong hiện thực Cái cười nghịch ngợm có phần thách thức của Trạng Quỳnh, cái cười gay gắt dữ dội mà trong trẻo của Hồ Xuân Hương, cái cười ngông nghênh tinh quái, đùa bỡn mà ngậm ngùi của Trần Tế Xương, cái cười giòn giã và khinh bỉ của Nguyễn Thiện Kế Lại còn cái cười hài hước ngạo nghễ của Nghè Tân, cười ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ…Và thấm vào cõi lòng hơn cả là cái cười bẽ bàng và chua chát của Yên Đổ Tuy các tiếng cười là khác nhau và cũng có giá trị khác nhau nhưng tất cả đều hướng đến một mục đích chung cao nhất đó là sử dụng thơ văn trào phúng như một thứ vũ khí sắc bén hiệu quả đánh trực diện vào kẻ thù xâm lược, đồng thời bộc lộ mong muốn thay đổi cuộc sống theo hướng tích cực hơn
1.4 Tiểu kết Chương 1
Văn học trào phúng được coi là loại hình văn học đặc biệt ra đời trong một hoàn cảnh lịch sử có những đặc điểm riêng biệt Sự ra đời của văn học trào
Trang 35phúng đánh dấu sự phát triển của một xã hội mới với nhiều biến động, ghi lại một cách trung thực những sự kiện nổi bật của một giai đoạn văn học Vì vậy, văn học trào phúng mang những đặc điểm riêng về nội dung và nghệ thuật trong đó sự hài hước, sự châm biếm, thái độ phản kháng trước thực tại đóng vai trò quan trọng phân biệt thơ văn trào phúng với các loại hình, khuynh hướng văn học khác trong cùng thời kì
Thông qua Chương 1 có thể nhận thấy sự hình thành và phát triển mạnh
mẽ xung đột văn hóa trong văn học trào phúng Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX với những biểu hiện cơ bản Trong sự phát triển của văn học nói chung, văn hoc trào phúng có một vị trí đặc biệt, góp phần thay đổi tư duy
nghệ thuật của văn học dân tộc, chuyển dần từ văn dĩ tải đạo hướng tới văn học
phản ánh hiện thực đời sống
Chương 1 cũng đi tìm hiểu các khái niệm xung đột, khái niệm văn hóa
và xung đột văn hóa và cho thấy những vấn đề văn hóa đã có ảnh hưởng tác động tới văn học, đặc biệt giai đoạn văn học nửa cuối thế kỉ XIX là giai đoạn
có nhiều biến động trong đời sống xã hội Đây là cơ hội, điều kiện tốt để các nhà thơ, nhà văn phản ánh những xung đột văn hóa, từ đó bộc lộ thái độ phê phán thầm kín xong không kém phần quyết liệt Bối cảnh lịch sử - xã hội Việt Nam nửa cuối thế kỉ XIX, khi thực dân Pháp đã thiết lập được thể chế mới mới trên đất nước ta đã khiến nảy sinh nhiều mâu thuẫn trên mọi lĩnh vực của đời sống trong đó rõ rệt nhất là trên phương diện văn hóa Chính vì vậy, trong thời điểm lịch sử ấy thông qua các tác phẩm văn học của mình, Nguyễn Khuyến đã
vẽ phác họa một bức tranh xã hội Việt Nam buổi giao thời với nhiều nét vẽ chân thực phản ánh xã hội nhố nhăng, pha tạp, lai căng Trong Chương 2 người viết sẽ làm rõ hơn các biểu hiện của xung đột văn hóa trong nội dung thơ Nôm trào phúng Nguyễn Khuyến
Trang 36Chương 2 NỘI DUNG XUNG ĐỘT VĂT HÓA TRONG THƠ NÔM TRÀO PHÚNG
NGUYỄN KHUYẾN 2.1 Xung đột giữa văn hóa phương Đông và phương Tây
2.1.1 Giữa tinh thần yêu nước, gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc với văn hóa ngoại lai của kẻ xâm lược
Văn hoá phương Đông và phương Tây là hai trong số những nền văn hoá nổi bật của nhân loại Giữa chúng luôn chứa đựng nhiều quan niệm khác nhau Trước tiên cần làm rõ sự khác biệt giữa hai hệ tư tưởng trên bốn phương diện cơ bản
Thứ nhất về tín ngưỡng và tôn giáo: so sánh sự khác nhau về văn hóa
phương Đông và phương Tây không gì khác ngoài tín ngưỡng và tôn giáo, đó
là cái nôi, là xương sống của mọi nền văn hóa Phương Đông huyền bí với sự
đa dạng và phong phú về tín ngưỡng và tôn giáo, là vùng đất hứa của đức tin với nhiều tôn giáo, tín ngưỡng như Phật giáo, Hồi giáo, Ấn Độ giáo,… và các
hệ tư tưởng và tôn giáo như Đạo giáo, Nho giáo, các tín ngưỡng như tín ngưỡng thờ ông bà tổ tiên, tín ngưỡng dân gian, thờ mẫu Vì thế nền văn hóa của các nước phương Đông không thể tách biệt khỏi chùa chiền, đền miếu và đời sống tâm linh được truyền từ đời này sang đời khác Đó là bản chất góp phần làm nên sự phong phú đa dạng trong văn hóa lâu đời của phương Đông Trong khi đó phương Tây lại đơn giản hơn, Thiên chúa giáo chiếm vị thế chủ đạo trong phần lớn đời sống tinh thần của người dân, chốn linh thiêng của đức tin và lời răn bên cạnh một số tín ngưỡng và tôn giáo khác Sự khác nhau về văn hóa phương Đông và phương Tây đã tạo nên những sự khác biệt rõ ràng trong xã hội, từ suy nghĩ, hành động, cách sống và công việc của con người
Thứ hai về triết học: Triết học là một hình thái ý thức xã hội, là sự phản
ánh tồn tại của xã hội và đặc biệt sự tồn tại này ở xã hội phương Đông khác
Trang 37hẳn với phương Tây về cả điều kiện tự nhiên, địa lý dân số và hơn nữa phương thức sản xuất của phương Đông là phương thức sản xuất nhỏ còn phương Tây
là phương thức sản xuất tư bản do vậy mà cái phản ánh ý thức cũng khác: văn hoá phương Đông mang nặng tính chất cộng đồng còn phương Tây nghiêng về tính cá thể Do vậy có sự khác biệt căn bản giữa triết học phương Tây và phương Đông Ví dụ như trong vấn đề con người phương Đông cũng quan niệm khác phương Tây Ở Phương Đông người ta đặt trọng tâm nghiên cứu mối quan hệ người với người và đời sống tâm linh, ít quan tâm đến mặt sinh vật của con người, chỉ nghiên cứu mặt đạo đức thiện hay ác theo lập trường của giai cấp trống trị cho nên nghiên cứu con người không phải là để giải phóng con người mà là để cai trị con người, không thấy quan hệ giữa người với người trong lao động sản xuất Ở Phương Tây họ lại ít quan tâm đến mặt xã hội của con người, đề cao cái tự nhiên – mặt sinh vật trong con người, chú ý giải phóng con người về mặt nhận thức, ít chú ý đến nguyên nhân kinh tế – xã hội, cái gốc
để giải phóng con người
Thứ ba về chính trị: Phương Đông với chế độ quân chủ chuyên chế, vua
tự xưng là "Thiên tử" nắm quyền hành tuyệt đối về chính trị, quân sự và cả tôn
giáo Phương Tây với chế độ dân chủ, chính quyền thuộc về các công dân Đại hội công dân bầu và cử ra các cơ quan nhà nước, quyết định mọi công việc nhà nước (tính chất dân chủ rộng rãi) Thể chế dân chủ ở các quốc gia cổ đại phương Tây dựa trên sự bóc lột hà khắc với nô lệ cho nên chỉ là nền chuyên chính của chủ nô
Thứ tư về đạo đức: Phương Đông chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của tư tưởng
Nho giáo Với ba cương lĩnh cơ bản của Nho giáo (Tam cương) là: Đạo vua tôi (quân thần), Đạo cha con (phụ tử), Đạo vợ chồng (phu phụ)
Năm phép ứng xử luân lý và đạo đức (Ngũ thường ) Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín Hạt nhân tư tưởng Nho giáo là Nhân và Lễ Nho giáo coi chữ Nhân là
Trang 38đạo đức hoàn thiện nhất “Nhân dã, Nhân giả” (kẻ có nhân ấy, ấy là con người vậy) “nhân giả ái nhân” (người có nhân thì yêu con người) Trên cơ sở những
tư tưởng ấy đã hình thành mẫu người của Nho giáo là người quân tử mà lý tưởng sống được thể hiện tập trung trong một hệ thống quan niệm về tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ Trong khi đó ở phương Tây giai đoạn này chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của đạo đức tư bản Chủ nghĩa cá nhân tư sản là nguyên tắc cơ bản của đạo đức tư sản Quan hệ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa đã kích thích các nhà tư bản làm giàu và đã định hướng trong ý thức và hành vi đạo đức của
họ Họ coi việc làm giàu với mọi cách và mọi giá là hoạt động chính, là mục đích cao nhất của cuộc sống Ngoài những mặt tích cực, giai cấp tư sản đã để lại cho xã hội không ít những hậu quả tiêu cực như vấn đề công lý và nền đạo đức trong xã hội không được đảm bảo bình thường, con người trở nên ích kỷ, đạo lý trong xã hội ngày càng suy giảm
Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta mang theo một luồng tư tưởng mới hoàn toàn đối lập với tư tưởng phương Đông, xã hội Việt Nam đã có sự thay đổi dữ dội, làm đảo lộn mọi trật tự xã hội và đã có sự xung đột mạnh mẽ giữa hai hệ tư tưởng này trên các phương diện Biểu hiện cụ thể trong sự đối lập giữa văn hóa mới của bọn thực dân xâm lược với truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam
Vào những năm cuối thế kỉ XIX khi thực dân Pháp đặt ách đô hộ lên nước ta kéo theo cái gọi là nền văn minh khai hóa tức là thay đổi thể chế đã cũ của Việt Nam là chế độ phong kiến tồn tại lâu đời Đặc biệt là chính sách phản động của thực dân Pháp nhằm xóa bỏ nền văn hóa, khoa cử của người Việt để
dễ bề cai trị Về mặt văn hóa, chúng thi hành triệt để chính sách văn hóa nô dịch, gây tâm lý tự ti, vong bản, khuyến khích các hoạt động mê tín dị đoan, đồi phong bại tục, mọi hoạt động yêu nước của nhân dân ta đều bị cấm đoán Chúng tìm mọi cách bưng bít và ngăn chặn ảnh hưởng của nền văn hóa tiến bộ trên thế giới vào Việt Nam và thi hành chính sách ngu dân để dễ bề thống
Trang 39trị Kết quả là 90% dân ta bị mù chữ Đồng thời thực dân Pháp một mặt tìm mọi cách phá vỡ các truyền thống văn hóa Việt Nam, hạn chế sự ảnh hưởng từ văn hóa Trung Quốc, mặt khác duy trì những lạc hậu, hạn chế của chế độ cũ kết hợp với những cặn bã của văn minh phương Tây lố lăng, kệch cỡm… để
tạo nên một Việt Nam “nửa Tây, nửa Ta, nửa Tàu” Vì vậy, đã diễn ra một
cuộc giao tranh lúc âm thầm, lúc quyết liệt giữ hai nền văn hóa Đông và Tây theo hướng có lợi và ngày càng lấn át của văn hóa phương Tây Về giáo dục người Pháp đặc biệt quan tâm với mong muốn xây dựng ở đây một nền giáo dục thuộc địa hoàn toàn phụ thuộc vào Pháp, nhưng được nguỵ biện dưới chiêu
bài “khai hoá dân trí”, “mở mang tri thức” cho dân An Nam lạc hậu Chuyển
đổi một nền giáo dục truyền thống sang nền giáo dục của phương Tây Người Pháp thực thi chủ trương phát triển giáo dục để mở mang dân trí cho người bản địa không ngoài mục đích cai trị và khai thác nguồn lợi ở thuộc địa Đưa vào
sử dụng chữ Pháp và chữ latinh nhằm xóa bỏ chữ Nho cùng ảnh hưởng của tầng lớp sĩ phu yêu nước Ban hành quy chế và cải tổ lại hoàn toàn hệ thống giáo dục Với bản quy chế này chính quyền Pháp cấm các trường tư mở cửa nếu không được phép của chính quyền để hạn chế nền giáo dục dân tộc của Việt Nam và từng bước xóa bỏ nền giáo dục Nho học và truyền thống khoa cử của ta
Trước thực tế đó những người dân yêu nước của ta cố gắng tìm lại, gìn giữ các giá trị văn hóa truyền thống Bảo vệ, gìn giữ truyền thống văn hóa
trước chính sách “khai hóa văn minh” hủy diệt văn hóa dân tộc Chưa bao giờ
lòng yêu nước lại trỗi dậy mãnh liệt đến thế bởi hơn ai hết những người dân đất Việt hiểu rõ chỉ cần đánh mất cội nguồn văn hóa là đánh rơi cái tôi cá nhân, cao hơn là dân tộc vĩnh viễn trong đêm dài nô lệ Nguyễn Khuyến ngậm ngùi, nuối tiếc và thầm kín bộc lộ lòng yêu nước, mong muốn giữ lấy những bản sắc của dân tộc Việt Nam:
“Tháng chạp hai mươi bốn chợ Đồng,
Trang 40Năm nay chợ họp có đông không?
Dở trời mưa bụi còn hơi rét Nếm rượu tường đến được mấy ông?
Hàng quán người về nghe xao xác,
Nợ nần năm cũ hỏi lung tung
Dăm ba ngày nữa tin xuân tới, Pháo trúc nhà ai một tiếng đùng.”
(Chợ Đồng)
Xưa kia chợ Đồng có tên gọi là chợ Và, họp ba phiên vào cuối năm 24,
26, 30 tháng Chạp Bà con nô nức ra chợ sắm Tết Chợ Đồng họp ngay ở bên cạnh một ngôi đền ba gian lợp ngói Hàng năm vào ba phiên chợ Tết các bô lão coi việc tế tự trong làng ra ngồi ở tường đền để nếm rượu chọn thứ ngon để thờ thánh ba ngày Tết Hình ảnh về làng quê Việt Nam thật gần gũi và gắn bó với mỗi con người chúng ta, những hình ảnh đó tạo nên sự thân thuộc và những điều rất thiêng liêng và vô cùng đáng trân trọng, Nguyễn Khuyến đã tái hiện lại một bức tranh thiên nhiên làng quê thật sinh động, đó là một cuộc sống yên ả
và thái bình với những khung cảnh thân thương và đầy cảm xúc Thế nhưng khi giặc Pháp về đóng đồn ở làng Vị Hạ thì chợ Và cũng thôi không họp nữa
và tục họp chợ Đồng vào cuối năm cũng mất Khi hãng Phôngten của Pháp chiếm độc quyền rượu ở Đông Dương thì tục nếm rượu cũng không còn nữa Không gian văn hóa đó không còn hiện diện mà thay vào đó là sự pha tạp của văn hóa phương Tây Những niềm vui của buổi họp chợ, giờ đây chỉ còn lại những tiếng xao xác trống trải của buổi chợ tàn Cuộc sống của nhân dân nghèo khổ, mỗi năm cái đói lại hành hạ, họ rơi vào cảnh nợ nần quanh năm
Theo bước chân của quân xâm lược phương Tây, yếu tố tư bản chủ nghĩa cũng tràn vào nước ta, làm thay đổi diện mạo của xã hội phong kiến đã định