Qua đặt vấn đề trên, tác giả đã chọn đề tài: “Quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng” để phân tích những thành tựu và hạn chế của công t
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
LÊ THỊ THU HÒA
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN THANH KHÊ
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
Mã số: 60.34.04.10
Đà Nẵng - 2018
Trang 2Công trình được hoàn thành tại
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ, ĐHĐN
Người hướng dẫn KH: PGS.TS BÙI QUANG BÌNH
Phản biện 1: GS.TS VÕ XUÂN TIẾN
Phản biện 2: TS LÂM MINH CHÂU
Luận văn đã được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ Quản lý kinh tế họp tại Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng vào ngày 03 tháng 02 năm 2018
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
- Trung tâm Thông tin - Học liệu, Đại học Đà Nẵng
- Thư viện trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Hiện nay, không có lĩnh vực nào mà vấn đề quản lý nhà nước lại tác động trực tiếp, thường xuyên và nóng bỏng như VSATTP Đối với quận Thanh Khê, từ 2013 đến nay, có 3 vụ liên quan đến ngộ độc thực phẩm tại các cơ sở dịch vụ ăn uống, còn các vụ ngộ độc tại gia đình chưa có số liệu thống kê đầy đủ Có nhiều nguyên nhân được xác định, trong đó công tác quản lý của cơ quan chức năng, địa phương trên địa bàn quận có lúc có nơi chưa chặt chẽ
Qua đặt vấn đề trên, tác giả đã chọn đề tài: “Quản lý nhà nước
về vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng” để phân tích những thành tựu và hạn chế của công tác QLNN về
VSATTP trong kinh doanh dịch vụ ăn uống, thức ăn đường phố thuộc ngành y tế quản lý Từ đó đưa các giải pháp để nâng cao công tác đảm bảo ATTP nói chung và đảm bảo thực thi pháp luật VSATTP trên lĩnh vực kinh doanh dịch vụ ăn uống góp phần xây dựng thành phố Đà Nẵng thành “Thành phố môi trường”, thành phố “Đáng sống” trong tương lai
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu tổng quát
2.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận các vấn đề QLNN về VSATTP
- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về VSATTP
- Đề xuất giải pháp hoàn thiện QLNN về VSATTP
3 Câu hỏi nghiên cứu
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Những vấn đề lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước về VSATTP trên địa bàn quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng
Trang 44.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Nghiên cứu, đánh giá công tác QLNN về vệ
sinh ATTP trên địa bàn quận Thanh Khê
- Giới hạn về không gian: Việc thu thập dữ liệu thứ cấp về
công tác QLNN về VSATTP được tác giả tổng hợp trên phạm vi toàn quận Thanh Khê Nhưng đối với dữ liệu sơ cấp luận văn tiến hành điều tra khảo sát công tác quản lý Nhà nước về VSATTP tại các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống, thức ăn đường phố trên địa bàn 3 phường Vĩnh Trung, Thạc Gián, Xuân Hà
- Thời gian để tiến hành nghiên cứu : Các số liệu, tài liệu
thứ cấp được thu thập trong khoảng thời gian từ 2013 - 2016 Đối với các số liệu sơ cấp được tác giả thu thập từ tháng 10/2017 đến cuối tháng 11/2017
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp thu thập dữ liệu
a Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp
Là dữ liệu đã được công bố bởi các cơ quan, tổ chức Các dữ liệu thứ cấp đảm bảo độ tin cậy số liệu, nguồn cung cấp phải có cơ
sở khoa học và cơ sở pháp lý
b Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp
Luận văn sử dụng phương pháp phỏng vấn, phương pháp điều tra khảo sát để thu thập thông tin liên quan đến QLNN về VSATTP Thời gian điều tra, phỏng vấn được tiến hành từ tháng đầu tháng 10 đến cuối tháng 11/2017
+ Phương pháp phỏng vấn : Số lượng phỏng vấn 5 người + Phương pháp điều tra khảo sát
* Khảo sát về người tiêu dùng : 100 người
* Khảo sát cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ ăn uống, thức ăn
Trang 5đường phố chọn :150 người ở 150 cơ sở
* Khảo sát cán bộ làm công tác VSATTP: 10 người
* Thiết kế Phiếu khảo sát
5.2 Phương pháp phân tích dữ liệu: Luận văn chủ yếu sử
dụng phương pháp thống kê mô tả
5.3 Phương pháp tổng hợp thông tin: Các dữ liệu và thông
tin xử lý trên phầm mềm Excel…
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
7 Kết cấu của luận văn
Chương 1 : Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn quận Thanh Khê
Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước
về VSATTP trên địa bàn quận Thanh Khê
8 Tổng quan tài liệu nghiên cứu : Các văn bản pháp luật,
nghị định, đề án về đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm Bên cạnh đó
có các giáo trình về luật hành chính, giáo trình QLNN về kinh tế và các công trình nghiên cứu khoa học phục vụ nghiên cứu luận văn của tác giả
Trang 6đề về VSATTP
1.1.2 Vai trò quản lý nhà nước về VSATTP
Góp phần ngăn chặn thực phẩm bẩn gây thiệt hại về người và thiệt hại về kinh tế Thay đổi nhận thức, hành vi, tập quán, xây dựng
ý thức tự giác người sản xuất, kinh doanh, người tiêu dùng góp phần đảm bảo VSATTP
1.2 NỘI DUNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VSATTP
1.2.1 Tuyên truyền, phổ biến và tập huấn kiến thức về các quy định VSATTP
Hoạt động hình thức tuyên truyền, phổ biến, tập huấn kiến thức thông qua phương tiện đại chúng, mạng lưới truyền thanh, phát hành tờ rơi, tổ chức hội thi, tuyên truyền miệng, tổ chức hội nghị tập huấn kiến thức, cổ động trực quan bằng pano, áp phích, trên webside đồng thời cần sự phối hợp chặt chẽ các ban ngành đoàn thể, mặt trận để có tuyên truyền sâu rộng trong từng đối tượng của các tổ chức
1.2.2 Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về VSATTP
Bộ máy quản lý nhà nước về về sinh an toàn thực phẩm là UBND quận, phường Trong đó, Phòng Y tế với trách nhiệm là cơ
Trang 7quan tham mưu trong lĩnh vực VSATTP
- Năng lực của đội ngũ cán bộ, lãnh đạo : Là một trong yếu tố chính trong việc thúc đẩy và bảo đảm đối với VSATTP nói riêng
1.2.3 Cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều VSATTP và giấy cam kết đảm bảo VSATTP
Theo Điều 2 Thông tư 47/2014/TT-BYT quy định về trình tự, thủ tục cấp iấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện VSATTP
1.2.4 Công tác kiểm tra, thanh tra về VSATTP và công tác
xử lý vi phạm về VSATTP
a Công tác kiểm tra, thanh tra về VSATTP
Theo Thông tư 48/2015/TT-BYT ngày 01/12/2015 của Bộ Y
tế quy định hoạt động kiểm tra ATTP trong sản xuất kinh doanh thực phẩm thuộc phạm vi của Bộ Y tế quy định
b Công tác xử lý vi phạm về vệ sinh an toàn thực phẩm
Theo sự phân cấp thì cấp quận, huyện, xã, phường thực hiện
xử lý vi phạm theo các Điều 20, 21, 22, 24 của Nghị định 178/2013/NĐ-CP về xử lý vi phạm về các điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm trong hoạt động kinh doanh dịch vụ ăn uống, thức ăn đường phố
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI QLNN VỀ VSATTP 1.3.1 Các nhân tố vĩ mô
- Điều kiện tự nhiên và Điều kiện kinh tế - xã hội
1.3.2 Các nhân tố vi mô
a Các chính sách quản lý nhà nước về VSATTP
b Nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất đầu tư cho hoạt động quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm
c Nhận thức, thói quen tầm nhìn của người tiêu dùng
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trang 8CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN THANH KHÊ 2.1 ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN THANH KHÊ VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI QLNN VỀ VSATTP
2.1.1 Điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế - xã hội
a Đặc điểm điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý: Diện tích tự nhiên 9,44 km2; có chiều dài đường
bờ biển 4,287km
- Về khí hậu: Mỗi năm có 2 mùa rõ rệt là mùa khô
Hình 2.1 Bản đồ hành chính Quận Thanh Khê Đà Nẵng
b Đặc điểm điều kiện kinh tế, văn hóa - xã hội
- Điều kiện kinh tế: tăng trưởng kinh tế khá cao, tốc độ tăng trưởng bình quân là 13,08% Thu ngân sách năm sau cao hơn năm trước bình quân tăng 7,78%/năm
Bảng 2.1 Tăng trưởng kinh tế Quận Thanh Khê năm 2011-2015 Bảng 2.2 Tỷ trọng GRDP của Quận Thanh Khê năm 2011-2015
- Điều kiện văn hóa, xã hội : được quan tâm tổ chức thực hiện
đồng nhưng đến năm 2016 còn 90 triệu đồng
Trang 9Bảng 2.3 Kinh phí hỗ trợ quản lý VSATTP cấp quận
Nội dung chi
hoạt động quản lý ATTP
Thông tin giáo dục truyền thông
Nâng cao năng lực quản lý VSATTP
Phòng chống ngộ độc
Tổng cộng Năm/ nguồn
Bảng 2.4 Tổng hợp xét nghiệm toàn quận năm 2013-2016
Quan sát bảng 2.5 thấy rằng các cán bộ nhận xét nguồn lực chưa quan tâm đầu tư nhiều
Bảng 2.5 Đáng giá của cán bộ chuyên môn về bố trí nguồn lực
cho công tác quản lý NN VSATTP
Trang 10b Nhận thức, thói quen tầm nhìn của người tiêu dùng về VSATTP
Ngày nay, đời sống của người dân càng được nâng cao thì nhu cầu sinh hoạt, vui chơi, ăn uống thoải mái hơn
Điều này được đối chiếu quá trình tác giả tiến hành khảo sát
đối với 100 người tiêu dùng trên địa bàn Quận Qua câu hỏi : Mức độ thường xuyên sử dụng (đến) các cơ sở dịch vụ ăn uống hoặc kinh doanh thức ăn đường phố của Ông (bà) như thế nào?
Theo biểu đồ hình 2.2 quan sát, có 12 phiếu điều tra chiếm 12% cho rằng “thường xuyên đến cơ sở dịch vụ ăn uống, thức ăn đường phố”; có 78 phiếu điều tra chiếm 78% cho rằng “hầu như thường xuyên”; có 7 phiếu điều tra chiếm 7% người tiêu dùng lựa chọn là “không thường xuyên” và có 3 phiếu điều tra chiếm 3% cho rằng hầu như “không đến cơ sở dịch vụ ăn uống, TAĐP”
Hình 2.2 Biểu đồ mức độ đến các cơ sở DVAU, TAĐP
Một câu hỏi: Ông (bà) có tin rằng các cơ sở dịch vụ ăn uống hoặc kinh doanh thức ăn đường phố đảm bảo VSATTP không?
- Có 100 người tiêu dùng tham gia trả lời, cụ thể : có 14 phiếu điều tra chiếm 14% trường hợp chọn “có tin tưởng”; có 22 phiếu điều tra chiếm 22% lựa chọn “không tin tưởng”; có 64 phiếu điều tra chiếm 64% có ý kiến bản thân “không chắc chắn” Thể hiện qua biểu
đồ hình 2.3 như sau:
Hình 2.3 Biểu đồ mức độ tin tưởng sử dụng DVAU, TADDP
Tác giả, tìm hiểu những nguyên nhân cụ thể sau: Vì nó rẻ có
86 phiếu điều tra chiếm 100%; có 86 phiếu điều tra chiếm 100% cho
là “thuận tiện cho cá nhân khi đi mua”; có 46 phiếu điều tra chiếm 53,5% cho rằng “không thường xuyên ăn ngoài nên cũng không ảnh hưởng gì đến sức khỏe”
Trang 11Hình 2.4 Nguyên nhân của sự lựa chọn các cơ sở kinh doanh dịch
vụ ăn uống, thức ăn đường phố
2.2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ
VỆ SINH ATTP TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN THANH KHÊ
2.2.1 Thực trạng tuyên truyền, phổ biến và tập huấn kiến thức về các quy định VSATTP
Qua bảng 2.6 cho thấy công tác tuyên truyền phổ biến, truyền thông về công tác đảm bảo VSATTP đã được các cấp chính quyền của quận triển khai dưới nhiều hình thức tới người tiêu dùng, người sản xuất, kinh doanh Riêng lớp tập huấn kiến thức đối với các đối tượng làm việc ở các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống, thức ăn đường phố do Trung tâm y tế tổ chức và cấp giấy chứng nhận kiến thức, qua bảng 2.6 cho thấy tuyến phường đã hoàn thành nhiệm vụ chuyên môn là tập huấn đạt 80 đến 90 % đối tượng làm việc ở các cơ
sở KDDVAU và TAĐP
Tuy nhiên, quan sát bảng 2.6 này cũng cho ta thấy một số hoạt động tuyên truyền, phổ biến các quy định về VSATTP chưa được thường xuyên, bên cạnh đó công tác tuyên truyền chưa phân nhóm từng đối tượng để tuyên truyền, bởi các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống, nhất là thức ăn đường phố là những người có trình độ học vấn thấp, mức độ tiếp thu có hạn đỏi hỏi cách thức tuyền tuyền phù hợp với trình độ những đội tượng này
Bảng 2.6 Bảng tổng hợp công tác phổ biến, tuyên truyền, tập huấn
trên địa bàn quận Thanh Khê giai đoạn 2013 - 2016
Kết quả đánh giá báo cáo hàng năm về công tác đảm bảo vệ sinh ATTP của Quận đánh giá về ưu và tồn tại nêu trên cũng phù hợp, trùng khớp với kết quả thu thập từ phiếu điều tra khảo sát của tác giả Cụ thể :
Trang 12Điều tra 100 người tiêu dùng và 150 các đối tượng làm việc ở
các cơ sở kinh doanh DVAU, TAĐP được hỏi về “Mức độ cung cấp thông tin về VSATTP hiện nay?” Có 250 người trả lời phiếu Trong
đó, 31 phiếu điều tra cho rằng mức độ “thường xuyên” chiếm 12,4%,
nhưng có đến 219 người cho rằng “chưa thường xuyên”chiếm 87,6% Thể hiện qua biểu đồ hình 2.5
Hình 2.5 Biểu đồ mức độ cung cấp thông tin về VSATTP
Và theo kết quả điều tra của tác giả về “Những thông tin về quy định VSATTP theo ông (bà) có thiết thực không?” đối với 250
người tiêu dùng và đối tượng làm việc ở cơ sở KDDVAU và TAĐP
Có 108 người cho rằng “không thiết thực” chiếm 43,2%; 85 người cho rằng chỉ “mức bình thường” chiếm 34%, 22,8% còn lại cho rằng
“hiệu quả” Từ kết quả này cho thấy trong nhận thức trong đa số người được điều tra thì công tác tuyên truyền, phổ biến và tập huấn hiện nay còn chưa thiết thực Thể hiện qua biểu đồ hình 2.6 sau:
Hình 2.6 Biểu đồ mức độ thiết thực thông tin vệ sinh an toàn thực
phẩm được tiếp nhận
Với nội dung điều tra này, cho thấy các cán bộ làm công tác tham mưu ý thức rõ những tồn tại để từ đó khắc phục, đưa ra giải pháp nâng cao hơn nữa chất lượng công tác tuyên truyền, tập huấn từng bước đi vào chiều sâu
2.2.2 Thực trạng tổ chức bộ máy quản lý về vệ sinh an toàn thực phẩm quận Thanh Khê
a Chức năng, nhiệm vụ
Bộ máy QLNN về VSATTP của quận hoạt động khá tốt Tuy nhiên, là cơ quan tham mưu, hoạt động của phòng Y tế thực hiện nhiệm vụ trên tất cả các lĩnh vực của ngành y tế do đó nhiệm vụ đảm bảo VSATTP là nhiệm vụ khó khăn và nặng nề cho cơ quan này
Trang 13Hình 2.7 Sơ đồ bộ máy quản lý nhà nước về VSATTP
quận Thanh Khê
Tuyến phường, Trạm y tế là cơ quan tham mưu cho UBND phường về công tác VSATTP nên dẫn đến tình trạng quá tải công việc, không quản lý tốt các cơ sở dịch vụ ăn uống, thức ăn đường phố ngày càng tăng
b Mối quan hệ phối hợp trong bộ máy quản lý nhà nước về VSATTP
Theo báo cáo năm 2016 của UBND quận đánh giá chưa làm tốt công tác phối hợp giữa các thành viên trong BCĐ liên ngành liên quan trong công tác quản lý đặc biệt công tác kiểm tra
Qua tham khảo ý kiến cán bộ chuyên môn: Đánh giá về công tác phối hợp của các cơ quan chuyên môn, các cơ quan liên quan đến công tác quản lý nhà nước về VSATTP? (có 4 lựa chọn : chưa
tốt, khá tốt, tốt, rất tốt) Có 10 ý kiến trả lời cụ thể : 2 ý kiến đánh giá
“chưa tốt” chiếm , 5 ý kiến “khá tốt”, 3 ý kiến “tốt”, không có ý kiến nhận “rất tốt” Thể hiện qua biểu đồ hình 2.8
Hình 2.8 Biểu đồ đánh giá công tác phối hợp QLNN về VSATTP
UBND Quận
Phòng y tế
Quận
Trung tâm y tế (Đội y tế dự phòng)
Trang 14c Biên chế và trình độ năng lực chuyên môn
Từ 2015 đến nay Phòng Y tế khuyết Trưởng phòng, ngoài ra công tác bố trí cán bộ theo dõi VSATTTP chưa ổn định do cán bộ kiêm nhiệm nhiều công việc khác nhau gây nhiều bất cập.Bên cạnh
đó, cán bộ phụ trách VSATTP hiện nay hầu hết không được đào tạo chuyên ngành chủ yếu được đào tạo từ các ngành kinh tế, luật Theo
số liệu Phòng Y tế, Trung tâm Y tế quận tại bảng 2.7
Bảng 2.7 Số lượng cán bộ chuyên môn và trình độ chuyên môn
của cán bộ làm công tác Quản lý về VSATTP
Một câu hỏi tham khảo khác về đánh giá hiệu quả về công tác quản lý VSATTP như thế nào? Tác giả tổng hợp kết quả điều tra đối
với các đối tượng làm việc ở các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống, TAĐP và người tiêu dùng Thể hiện qua biểu đồ hình 2.9
Hình 2.9 Biểu đồ hiệu quả công tác QL NN về VSATTP quận
Thanh Khê
(Nguồn: điều tra khảo sát của tác giả)
Với kết quả trên, ta quan sát thấy tỷ lệ đánh giá về hiệu quả ở mức độ “cao” là 25% và “rất cao” chỉ 1% trong khi các tiêu chí còn lại đánh giá ở mức độ “thấp”, “rất thấp”, “trung bình” chiếm tỷ lệ tương đối cao điều này phản ánh công tác này chưa thực sự hiệu quả