Bởi vậy tôi chọn đề tài nghiên cứu về: Tự truyện văn học trường hợp Gia đình bé mọn của Dạ Ngân với mong muốn có những phát hiện mới mẻ về con người cá nhân nhà văn trong tác phẩm mang t
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
–––––––––––––––––––––––––
LƯỜNG THỊ DUNG
TỰ TRUYỆN VĂN HỌC TRƯỜNG HỢP
GIA ĐÌNH BÉ MỌN CỦA DẠ NGÂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
–––––––––––––––––––––––––
LƯỜNG THỊ DUNG
TỰ TRUYỆN VĂN HỌC TRƯỜNG HỢP
GIA ĐÌNH BÉ MỌN CỦA DẠ NGÂN
Ngành: Văn học Việt Nam
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này do chính bản thân tôi thực hiện Kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được sử dụng trong các công trình khoa học khác.Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về kết quả nghiên cứu của luận văn.
Thái Nguyên, ngày 27 tháng 4 năm 2018
Tác giả luận văn
Lường Thị Dung
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Bằng sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Nguyễn Đăng Điệp - Người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài của luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy, cô khoa Ngữ văn Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường.
Tôi xin cảm ơn tập thể lớp cao học K24 Bắc Kạn chuyên ngành Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã đóng góp ý kiến trong quá trình học tập và thực hiện luận văn.
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp và cơ quan đã quan tâm, động viên, chia sẻ và tạo mọi điều kiện để giúp tôi hoàn thành luận văn này.
Thái Nguyên, ngày 27 tháng 4 năm 2018
Tác giả luận văn
Lường Thị Dung
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .
11 4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu .
11 5 Phương pháp nghiên cứu .
11 6 Đóng góp của luận văn 12
7 Cấu trúc 12
NỘI DUNG 13
Chương 1 : MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ TỰ TRUYỆN VÀ QUÁ TRÌNH SÁNG TẠO CỦA DẠ NGÂN 13
1.1 Một số vấn đề về tự truyện
13 1.1.1 Khái niệm tự truyện .
13 1.1.2 Phân biệt tự truyện với hồi ký .
15 1.1.3 Sự nở rộ của tự truyện trong văn học Việt Nam đương đại
18 1.2 Quá trình sáng tạo của Dạ Ngân 19
1.2.1 Vài nét về nhà văn Dạ Ngân 19
1.2.2 Hành trình sáng tác 21
Trang 61.2.3 Sự ra đời của tiểu thuyết Gia đình bé mọn
Trang 72.1.1 Cái tôi trong sinh hoạt hằng ngày 29
2.1.2 Cái tôi trong mối quan hệ với chính nó 34
2.2 Cái tôi trong tình yêu và hạnh phúc gia đình 42
2.2.1 Cái tôi trong quan hệ với gia đình riêng 42
2.2.2 Cái tôi trong quan hệ với những người thân trong gia đình
50 2.3 Cái tôi với những dư chấn của chiến tranh 53
2.3.1 Dư chấn của chiến tranh đối với cuộc sống của con người 53
2.3.2 Dư chấn của chiến tranh đối với cuộc sống gia đình 55
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 58
Chương 3 : PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN CÁI TÔI TRONG GIA ĐÌNH BÉ MỌN CỦA DẠ NGÂN 59
3.1 Người kể chuyện 59
3.2 Ngôn ngữ 62
3.3 Giọng điệu 66
3.4 Không gian và thời gian nghệ thuật 69
3.4.1 Không gian nghệ thuật 69
3.4.2 Thời gian nghệ thuật
74 TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 80
KẾT LUẬN 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Nếu như văn học trước 1975 chỉ tập trung vào cuộc chiến liên quan
đến vận mệnh của dân tộc, không có chỗ cho cái tôi thì văn học sau 1975,
nhất là sau 1986 đã quan tâm tới mọi mặt, soi chiếu mọi ngõ ngách của đời sống đặc biệt là cái tôi cá nhân đã xuất hiện một cách trực diện Bên cạnh những nhà văn là nam giới thì văn học giai đoạn này còn góp phần không nhỏ của những nhà văn nữ như: Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Ấm, Y Ban, Phan Thị Vàng
Anh, Dạ Ngân…Trong đó, Dạ Ngân được độc giả chú ý đến từ truyện ngắn Con
chó và vụ ly hôn sau đó nữ nhà văn miệt vườn này đã cho in thành sách rất
nhiều tập truyện ngắn, ký, tản văn, truyện dài, truyện vừa, tểu thuyết, kịch bản phim… Dạ Ngân cũng là nhà văn vinh dự nhận được nhiều giải thưởng
cao quý: Giải nhì truyện ngắn tạp chí Văn nghệ Quân đội năm 1987; Giải nhì truyện ngắn báo Tuổi trẻ năm 1989; Giải ba truyện ngắn báo Sài Gòn
Giải phóng năm
1990; Giải khuyến khích Nxb Kim Đồng năm 2002; Giải thưởng Hội nhà văn Hà
Nội năm 2005; Giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam (2004, 2006) Như vậy, Dạ
Ngân chính là một trong số những nhà văn nữ trưởng thành sau 1975 có đóng góp không nhỏ trong sự đổi mới văn học đương đại Việt Nam.
1.2 Gia đình bé mọn (2005) là tác phẩm thành công của nữ nhà văn
được dịch sang tiếng Anh và tiếng Pháp, được bạn bè thế giới đón nhận Tác
phẩm đã giúp Dạ Ngân nhận giải thưởng Hội nhà văn Hà Nội (2005) và Hội
nhà văn Việt Nam (2006) Không phải ngẫu nhiên mà tác phẩm này có tới 5
lần tái bản ở Việt Nam, nó là “minh chứng đầy thuyết phục cho sức hấp dẫn mạnh mẽ của tác phẩm đối với công chúng, một lần nữa khẳng định chắc chắn
độ chín cũng như sức bền của ngòi bút Dạ Ngân” [21] Đây là tác phẩm xoay quanh số phận, cuộc đời của một người phụ nữ trong hành trình đấu tranh
Trang 9để đến với hạnh phúc Trong tác phẩm ta thấy có bóng dáng đời tư của nhà văn hay nói cách khác là mang yếu tố tự truyện Cuộc đời nhân vật nữ chính trong tác phẩm
Trang 10đã phản ánh một phần hiện thực cuộc đời nữ nhà văn Dạ Ngân Bởi vậy, có thể nói chính yếu tố tự truyện chân thực về bản thân đã đem lại giá trị lớn cho tác phẩm.
1.3 Qua quá trình khảo sát thực tế, tôi nhận thấy đã có nhiều công trình
nghiên cứu về tểu thuyết Gia đình bé mọn của Dạ Ngân, tuy nhiên mỗi công
trình có một hướng nghiên cứu, tiếp cận khác nhau Các công trình nghiên cứu
ấy sẽ là cơ sở để tôi đi sâu tm hiểu tự truyện Gia đình bé mọn của Dạ Ngân
một cách có hệ thống Bởi vậy tôi chọn đề tài nghiên cứu về: Tự truyện văn học
trường hợp Gia đình bé mọn của Dạ Ngân với mong muốn có những phát hiện
mới mẻ về con người cá nhân nhà văn trong tác phẩm mang tính tự truyện của mình cũng như đóng góp của Dạ Ngân trong văn xuôi Việt Nam đương đại.
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
2.1 Tình hình nghiên cứu về về tự truyện
2.1.1 Vài nét về tình hình nghiên cứu tự truyện trên thế giới
Lịch sử nghiên cứu tự truyện cho thấy, những tác phẩm tự truyện đầu tiên xuất hiện trong thời cận đại ở Tây Âu sau đó nó được nở rộ ở Châu Âu và Bắc Mỹ Sự bùng nổ của tự truyện lúc bấy giờ được coi là kết quả tất yếu vì con
người thời đại ngày càng quan tâm nhiều đến những phức tạp trong tâm hồn mỗi cá nhân và cácmối quan hệ của con người trong xã hội
Đến đầu thế kỉ XX, những nghiên cứu đầu tên về tự truyện đã xuất hiện Tiêu biểu là những chuyên khảo của Anna Robson Burr (1909); Wayne Shumaker (1926); Georges Gusdorf (1956)…[18]
Những năm 50 của thế kỉ XX, tự truyện chưa nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà phê bình nhưng nó cũng đã khẳng định được vị trí và vai trò của mình với tư cách là một thể loại độc lập bên cạnh các thể loại khác Lúc này, một số nhà nghiên cứu quan tâm đến thể loại này cũng đã cố gắng tm
ra những đặc điểm riêng biệt của nó Điển hình như tểu luận Những điều kiện và Giới hạn của tự truyện (Conditons et Limitesde Lautobiographie) của Georges
Trang 11Gusdorf - nhà phê bình người Pháp; Tự thú và tự truyện (Confessions and
Autobiographies) (1955) của Stephen Spender - nhà phê bình người Mỹ…[18]
Đến thập kỷ 70 của thế kỉ XX, tự truyện đã bắt đầu thu hút một số lượng lớn các nhà nghiên cứu phê bình: Tiêu biểu như James Olney - nhà nghiên cứu
người Mỹ trong Ý nghĩa của tự truyện (Metaphors of the Self: The Meaning of Autobiography) (1972) đã lưu ý về tính chất quy chiếu (reference) trong tự truyện Từ đó mà tự truyện đã thành thể loại văn học trung tâm với những nghiên cứu liên quan đến nhiều lĩnh vực như chính trị - xã hội - văn hóa và cũng vì vậy mà tự truyện đã được một số tác giả quan niệm: Tự truyện - với tư cách là một câu chuyện về một tầng nền văn hóa - xã hội đặc thù phản chiếu qua câu chuyện củanhững tính cách cá thể, cho phép người đọc tếp cận trực tếp với những trải nghiệm và góc nhìncủa các dân tộc, cộng đồng trong xã hội Đó là cách tếp cận của các tác giả như: James M.cox với
Tự truyện và Châu Mỹ (Autobiography and American culture) (1971); Patricia Meyer Spacks với Những câu chuyện của phụ nữ, những cái tôi phụ nữ (Womens Stories, Womens Selves) (1977) Trong đó, đặc biệt được chú ý là Hiệp ước tự thuật (Lepacte Autobiographique) (1975) của Philippe Lejeune - tác giả này đã đưa ra nhiều têu chí và hình thức cụ thể để phân biệt tự truyện với một số thể loại khác [18]
Khoảng cuối thập kỷ 70 - đầu thập kỷ 80 tự truyện đã có dấu hiệu kết thúc Tuy nhiên, từ giữa những thập kỷ 80 của thế kỷ XX cho đến những năm gần đây tự truyện vẫn đang phát triển Mặc
dù có nhiều loại hình giải trí hiện đại và tện lợi khác tấn công nhưng sự có mặt của tự truyện vẫngóp phần làm mới lên nền văn học, giúp văn học phần nào lấy lại được sự chú ý của đông đảo độc giả
Vì vậy, trong suốt thế kỉ qua, lý thuyết và phê bình về tự truyện trên thế
giới đã phát triển liên tục và có những ngã rẽ phức tạp Hiện nay, lĩnh vực
Trang 12nghiên cứu này vẫn còn hứa hẹn những khám phá mới mẻ, hấp dẫn, bởi vì đối
tượng nghiên cứu của thể loại này vẫn chưa dừng lại và còn tếp tục phát triển
2.1.2 Nghiên cứu tự truyện ở Việt Nam
Từ đầu thế kỉ XX, văn học Việt Nam phát triển cùng lúc nhiều thể loại và đạt được nhiều thành tựu thế nhưng gương mặt của thể loại vẫn chưa được xác định thật rõ
Tác giả Đỗ Đức Hiểu trong phần 3, Phê bình tự truyện trong công trình Thi pháp hiện đại cho rằng, về thể loại tự truyện, ngay những năm đầu thế kỉ này còn nhiều tranh luận Yếu tố tự truyện đã xuất hiện trong một số tác phẩm văn xuôi viết bằng chữ quốc ngữ, tuy nhiên chủ yếu vẫn là cái tôi hư cấu, độc giả chưa có những bằng chứng xác đáng cho những cái tôi ấy chính là tác giả Chẳng hạn như Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng khi xuất bản được định danh là tểuthuyết, nhưng nhiều công trình nghiên cứu về sau xếp tác phẩm này vào thể hồi ký (Đặc sắc hồi
ký Nguyên Hồng - Nguyễn Đăng Điệp; Một cuộc đời sáng tạo trong đau khổ - Vương Trí Nhàn) Đồng thời, tác giả cũng cho rằng, phải đến những năm 1930 - 1945, tự truyện mới chính thức cùng các thể loại khác làm nên một diện mạo mới cho văn học Việt Nam “Góp phần vào sự thành công của thể loại tự truyện chúng ta không thể không nói tới Phan Bội Châu niên biểu của Phan Bội Châu hay Tản Đà với Giấc mộng lớn Song đến mãi hơn mười năm sau, khi Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng, Sống nhờ của Mạnh Phú Tư…xuất hiện, thì sự nhận thức cho rằng tự truyện là một thể loại mới bắt đầu” [15]
Tự truyện là một thể loại không mới ở nước ngoài nhưng lại rất mới ở
nước ta, bởi vậy mà thể loại này đã và đang nhận được nhiều sự quan tâm của giới chuyên môn: Người nắm bắt được sự hình thành của thể loại tự truyện này đầu tên ở Việt Nam là Vũ Ngọc Phan Với ý thức nghiên cứu thể loại, Vũ Ngọc Phan là nhà nghiên cứu đầu tên phân tách tự truyện ra khỏi tểu thuyết bằng các têu chí: Tính xác thực của sự kiện; Điểm nhìn hồi cố và cái tôitác
Trang 13giả hiển hiện trực tếp trong tác phẩm Đây là một cách tếp cận hiện đại tuy
chưa thật đầy đủ và chưa thành hệ thống
Vũ Ngọc Phan cho rằng tự truyện là một nhóm loại tểu thuyết hấp dẫn và nhiều thử thách Các bài viết của ông về Dã tràng của Thiết Can, Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng, Sống nhờ của Mạnh Phú Tư có thể coi là những nghiên cứu đầu tên về tự truyện [33] Cho đến hiện nay, những vấn đề như: tự truyện là gì, văn học Việt Nam có tự truyện hay không, con đường phát triển của nó là như thế nào, những dấu hiệu của tự truyện trong các tác phẩm cụ thể… đã
và đang được giới nghiên cứu quan tâm Các nghiên cứu
được chia thành nhóm những vấn đề thể loại và nhóm quan tâm tới những tác phẩm tự truyện riêng biệt
Ở nhóm nghiên cứu vấn đề thể loại tự truyện có thể kể đến các công trình: Truyện tểu sử, một loại hình tự sự cần được khẳng định và phát triển của Trương Dĩnh năm 2000; Viết tự truyện, khinào và vì sao của Trần Văn Toàn năm 2003, đặc biệt, tác giả Đoàn Cầm Thi với hàng loạt bài viết đăng rải rác trên báo văn nghệ từ 2004 đến 2008; Tương lai tự truyện Việt Nam còn ở phía trước(2008), bài viết của Lê Tú Anh: Phan Bội Châu niên biểu (Phan Bội Châu) và Giấc mộng lớn (Tản Đà) - Những bước đi đầu tên của tự truyện Việt Nam (2010), của Đỗ Hải Ninh: Mối quan hệ giữa
tự truyện - tểu thuyết và một số dạng tự thuật trong văn học Việt Nam đương đại (2009)…Theo
đó, các tác giả cho rằng tự truyện là thể loại mới của văn học, bởi vậy mà thể loại này đã và đang nhận được nhiều sự quan tâm của giới chuyên môn:
Trong cuốn 150 thuật ngữ văn học do Lại Nguyên Ân (chủ biên) cho rằng: “Tự truyện là tác phẩm
tự sự thường được viết bằng văn xuôi trong đó tác giả tự kể và miêu tả cuộc đời của bản thân mình” [3, tr.28] Theo quan niệm này, một tác phẩm tự truyện là bức tranh của cái tôi thuần túy Tác giả, người kể chuyện và nhân vật chính là một, ngoài ra không có sự xuất hiện của cá nhân khác
Trang 14Còn Triệu Xuân, trong Tự truyện không hẳn là văn học viết: Nó là một thể văn viết ghi lại tư liệu
có thật nhằm thuật lại cuộc đời, sự nghiệp của một cá nhân, gia đình, dòng họ Tự truyện chỉ có thể là văn học khi nó được viết theo cái cách của văn học Thông qua số phận cá nhân ấy, gia đình ấy, phản ánh và biểu hiện tâm thế của cộng đồng, một dân tộc, một thời đại… Các cuốn nhưThép đã tôi thế đấy của N Ôxtrovski, Bộ ba tác phẩm: Thời thơ ấu, Kiếm sống, Những trường đạihọc của tôi của M Gorki, Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng, Cai của Vũ Bằng là tự truyện chính cống [38]
Tác giả Lê Tú Anh trong một bài phê bình có tên Tự truyện như một thể loại văn học có nói về tự truyện như sau: Theo tôi, tự truyện như một thể loại văn học hay một tác phẩm tự truyện ngoài việc cần có những điểm khá khả thủ để phân biệt ở một mức độ tương đối với hồi ký, nhật ký, tểu thuyết; cần phải đáp ứng được những yêu cầu để có thể phân biệt với một tự truyện chưa đạt đến trình độ tác phẩm văn học (cận văn học) [48] Và theo tác giả bài viết thì có một số yêu cầu cụ thể để nhận diện tự truyện như: Thứ nhất: Tự truyện thuộc hệ thống thể loại văn xuôi tự
sự, nghĩa là có yếu tố “sự” và thao tác tự sự (naratve) Các sự kiện phải được xâu chuỗi, kết nối, liên hệ…tạo thành cốt truyện, qua đó thấy được “hình hài” của một con người, một cuộc đời, một số phận…Thứ hai: Từ câu chuyện có thật của cái “tôi” người viết, tác phẩm tự truyện phải đạt tới cái “chúng ta” Nghĩa là, một tự truyện văn chương đích thực không phải chỉ là những câuchuyện vặt vãnh về cuộc đời của một cá nhân, tách rời những vấn đề lớn của xã hội, thời đại mà cái “tôi” ấy đã sống Thứ ba: Người viết tự truyện phải đảm bảo độ trung thực, đáng tn cậy của những sự thật được tết lộ và phải thể hiện chúng trong tnh thần nhân bản Thứ tư: Tác phẩm
tự truyện phải đảm bảo yếu tố kết cấu và ngôn từ có tính nghệ thuật [48]
Trang 15Ngoài các nhận định của giới chuyên môn thì tự truyện còn được nhiều tác giả chọn làm đề tài nghiên cứu trong các luận án tến sĩ và luận văn thạc sĩ Có thể điểm qua một số tác giả sau:Luận án tến sĩ của Đỗ Hải Ninh Khuynh hướng tự truyện trong tểu thuyết Việt Nam đương đại,
ở công trình nghiên cứu này tác giả khẳng định: Vấn đề tự truyện là vấn đề có ý nghĩa đối với vănhọc đương đại bởi nó gắn với cái tôi của tác giả - sự khẳng định cái tôi cá nhân mạnh mẽ trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tn, sự tương tác và dung nạp lẫn nhau giữa các thể loại Cùng với quá trình đổi mới, yếu tố tự truyện xuất hiện ngày càng nhiều thể hiện nhu cầu được bộc lộ cái tôi, ý thức phản tỉnh và khuynh hướng nhận thức lại thực tại của dòng văn học tự vấn [22] Cũng trong luận án của mình, tác giả đã lần lượt bày tỏ quan niệm của mình về các vấn đề xoay quanh tới tự truyện
Tác giả Bùi Thị Thu trong luận văn Thạc sĩ yếu tố tự truyện trong văn xuôi của Đoàn Lê cũng nhấn mạnh tới chất liệu sử dụng trong các tác phẩm mang tính tự truyện Theo tác giả, chất liệu đó chính là câu chuyện tác giả kể để thông qua đó nhà văn gửi gắm tư tưởng, tnh cảm của mình tớingười đọc [34] Trong luận văn Thạc sĩ Đặc điểm tự truyện và hồi ký của Tô Hoài, tác giả Nguyễn Thị Ái Vân cho rằng: Tác phẩm tự truyện thường có phương hướng lý giải cuộc sống đã qua (của tác giả) như một chỉnh thể, tạo ra những đường nét mạch lạc cho cuộc sống trải nghiệm của mình [31] Còn Bùi Thị Mát trong Luận văn Yếu tố tự truyện Một mình một ngựa của Ma Văn Kháng lại đề cao vai trò của yếu tố tự truyện trong tểu thuyết: Trong văn học Việt Nam vốn ít có truyền thống tác giả tự kể chuyện đời mình, nhìn chung cái tôi của nhà văn Việt khá kín đáo và không thích lộ diện nhưng trong khoảng vài thập kỉ trở lại đây, tự truyện trở thành một tố chất thể loại vừa mới mẻ, vừa mạnh mẽ, tự truyện trở thành một dòng chảy trong tểu thuyết [20] Tác giả Trần Thị Xuân Hợp trong Yếu tố tự truyện trong tểu thuyết của Nguyễn Khải thời kì đổi mới cũng khẳng định: Có thể thấy rằng tự truyện đã trở thành một dạng của thể loại văn học dù
nó xuất
Trang 16hiện muộn mằn hơn nhiều thể loại khác [17]… Gần đây nhất, trong luận văn Yếu tố tự truyện trong Sống mòn của Nam Cao, tác giả Phạm Thị Hà Ninh cũng đề cập tới mối quan hệ giữa tự truyện và tểu thuyết: nhà văn đã đem lại cho câu chuyện kể về đời mình những màu sắc của tểuthuyết trong sự kết hợp hài hòa với tự truyện [23].
Như vậy, điểm qua một số công trình trên cho thấy những nghiên cứu nói trên phần lớn đều nhìn nhận tự truyện là một thể loại hay tự truyện luôn gắn với tểu thuyết, thậm chí là tểu thuyết Dựa trên những cơ sở lí thuyết đó, tôi nghiên cứu Tự truyện trường hợp Gia đình bé mọncủa Dạ Ngân là tm hiểu các chi tết thuộc về con người cá nhân tác giả tham dự vào tác phẩm, chứ không khai thác tác phẩm trên phương diện thể loại
2.2 Nghiên cứu về Gia đình bé mọn của Dạ Ngân
Là một trong số những cây bút nữ trưởng thành sau 1975, Dạ Ngân được công chúng biết đến qua một loạt tác phẩm: Con chó và vụ ly hôn (Tập truyện
1990); Dạ Ngân- truyện ngắn chọn lọc (Tập truyện 1995); Truyện dài thiếu nhi Miệt vườn xa lắm (2003)…đặc biệt là cuốn tểu thuyết Gia đình bé mọn (2005) Dạ Ngân quan điểm: Văn chương là một nghề đặc biệt, nhất là khi người cầm bút lại là phụ nữ Qua những trải nghiệm về cuộc đời
và sáng tác văn học, nhà văn cho rằng con đường văn chương cho bà sự cô độc tối cao, niềm tn dai dẳng và có thể khóc cười thoải mái một mình [39]
Gia đình bé mọn có thể coi là đứa con mà Dạ Ngân đứt ruột sinh ra, nói như nhiều độc giả yêu mến tác phẩm, yêu mến Dạ Ngân đều đồng quan điểm rằng: từng chương, từng trang, từng chi tết của cuốn sách đều có thể quy chiếu hiện thực tác phẩm vào hiện thực cuộc sống Như tên gọi của tác phẩm cho biết, Gia đình bé mọn trước hết là cuốn tểu thuyết kể chuyện gia đình Đúng hơn là kể chuyện những gia đình của nhân vật trung tâm - nữ nhà văn tên Tiệp… Vượt lên trên tất cả những cái đó, bao giờ Tiệp cũng cho thấy một mẫu hình phụ nữ chủ động lèo lái con thuyền cuộc đời mình, một kiểu phụ nữ kiên
Trang 17nhẫn tới mức lì lợm để sống thật và sống đẹp với chính nhu cầu tnh thần của mình Và ở phương diện này, phải chăng Gia đình bé mọn chính là thiên tểu thuyết tếp tục cái mạch mà tểu thuyết cổ điển thế kỷ 19 rất hứng thú: khẳng định cá nhân, ca ngợi những con người dám đương đầu với tất cả để bảo vệ hạnh phúc, bảo vệ phẩm giá của mình? [24].
Trong bài giới thiệu tểu thuyết Gia đình bé mọn, Wayne Karlin (nhà văn Mỹ) giới thiệu nhân vật
nữ Tiệp trong tác phẩm chính là nhân vật đi cùng số phận đất nước.Từ một nữ du kích góp phần vào cuộc chiến tranh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc và một xã hội lý tưởng Đến tuổi trưởng thành lại đấu tranh cho giải phóng con người và tnh yêu cá nhân Hành trình Gia đình bé mọn của Tiệp trùng hợp với hành trình của đất nước từ đoạn chót của cuộc chiến Việt - Mỹ đến thế kỉ
21 [42]
Không chỉ là tác phẩm có ý nghĩa cho cuộc đời cũng như sự nghiệp sáng tác của Dạ Ngân, Gia đình bé mọn còn là tác phẩm văn học có giá trị to lớn đóng góp vào sự đổi mới của văn xuôi đương đại Việt Nam Bởi vậy mà ngay từ khi ra mắt công chúng tác phẩm đã nhận được sự yêu mến nồng nhiệt của đông đảo bạn đọc Minh chứng là đã có rất nhiều bài viết, bài luận án, luận văn nghiên cứu về tác phẩm Tài liệu trên Giáo án.Violet.vn có bài giới thiệu Dạ Ngân và tểu thuyết Gia đình bé mọn Tài liệu đề cập tới ý nghĩa nhan đề, đề tài, chủ đề, giá trị nội dung, nghệ thuật và cả thông điệp của tác phẩm
Tác giả luận văn Dương Thế Thuật trong Đặc điểm văn xuôi nghệ thuật Dạ Ngân cho rằng: Tiểu thuyết Gia đình bé mọn là một thành công lớn của chị, đã nhận được nhiều ý kiến phản hồi từ những người nghiên cứu Nhà phê bình Nguyễn Hoài Nam đã nhận định “Những phẩm chất làm nên thế mạnh ngòi bút của Dạ Ngân: sự cẩn trọng và tnh tế trong câu chữ, khả năng kết hợp nhuần nhuyễn giữa mỹ văn và ngôn ngữ đời thường của người Nam Bộ, sự sắc sảo trong phác họa nhân vật bằng vài chi tết đắt giá, nhanh gọn; và sau cùng là một cái nhìn cuộc đời - dù với
sự phê phán - nhưng vẫn luôn đôn hậu” Còn Hoàng
Trang 18Thị Quỳnh Nga đã nhận xét: “Ngoài những trang viết tnh tế và xúc động về cảm giác và sự giằng
xé, Gia đình bé mọn còn hấp dẫn người đọc bởi bức tranh xã hội thời bao cấp” [35]
Trên trang ᄉ http://doan.edu.vn/do-an/de-tai-bi-kich-hanh-phuc-cua-nguoi-ᄉᄉ doi-thuong-3997/ l ᄉại chú ý tới bi kịch hạnh phúc của người phụ nữ trong Gia đình bé mọn của
phu-nu-giua-Dạ Ngân, tác giả bài viết nhấn mạnh: Đặt vấn đề này trong toàn bộ tểu thuyết Gia đình bé mọn chúng tôi nhận thấy đây là nội dung có tính xuyên suốt cả tác phẩm, bên cạnh nhiều vấn đề rộng lớn hơn: Bức tranh xã hội Việt Nam thời bao cấp, sự sắp đặt của chiến tranh đối với số phận con người…đồng thời cuộc tnh bền bỉ sóng gió và dai dẳng của nhân vật chính cùng những giằng xé đau đớn trong nội tâm gia đình về hạnh phúc, về tnh yêu với tất thảy bi kịch đời thường nhất còn mang dáng dấp của những sự thực sâu kín trong đời tư nhà văn tạo nên sức hấp dẫn riêng đặc biệt cho thiên truyện[42] Bên cạnh đó, cái tên Dạ Ngân hay tểu thuyết Gia đình bé mọn còn được
nhắc đến trong một số luận văn khác như: Luận văn Người phụ nữ hiện đại qua cái nhìn của một
số nhà văn nữ của Trần Thúy An (2007); Đặng Thị Cúc (2014), Thế giới nghệ thuật truyện ngắn DạNgân; Đề tài gia đình trong văn học Việt Nam sau 1975- Tạp chí khoa học số 2B/2007…
Qua sự tổng hợp trên cho thấy đã có nhiều công trình nghiên cứu về tểu thuyết Gia đình bé mọn của Dạ Ngân, trong đó mỗi công trình có một hướng nghiên cứu, tếp cận khác nhau Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu ấy sẽ là cơ sở để tôi đi sâu tm hiểu Tự truyện Gia đình bé mọn của Dạ ngân một cách có hệ thống Với hướng tếp cận này, tôi hi vọng sẽ góp tếng nói của mình vào việc khẳng định tài năng, cống hiến của Dạ Ngân đối với nền văn học Việt Nam đương đại
Trang 193 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Yếu tố tự truyện trong tểu thuyết Gia đình bé mọn của Dạ Ngân
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Ngoài tểu thuyết Gia đình bé mọn chúng tôi còn tm hiểu thêm một số
sáng tác khác của Dạ Ngân và các nhà văn cùng thời để so sánh
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
- Làm nổi rõ yếu tố tự truyện trong Gia đình bé mọn
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu những vấn đề lý luận về tự truyện
- Khảo sát yếu tố tự truyện trong Gia đình bé mọn của Dạ Ngân
- So sánh yếu tố tự truyện trong Gia đình bé mọn và một số tác phẩm văn
học khác để làm nổi rõ sự độc đáo của nữ nhà văn Dạ Ngân
5 Phương pháp nghiên cứu
Trang 20Luận văn là sự kết hợp của nhiều phương pháp nghiên cứu, trong đó có các phương pháp cơ bảnsau:
- Phương pháp hệ thống Người viết có thể hệ thống được những đặc điểm nổi bật về phương diện nội dung và nghệ thuật trong Gia đình bé mọn của Dạ Ngân cũng như có cái nhìn và đánh giá riêng về nhà văn
- Phương pháp phân tích văn bản: Đây là phương pháp cơ bản, thường xuyên được sử dụng trong luận văn, góp phần tm hiểu rõ nét, cụ thể về nội dung và nghệ thuật tác phẩm, từ đó nổi bật những luận điểm cơ bản trong Gia đình bé mọn
- Phương pháp thống kê, so sánh: Luận văn tến hành tm hiểu văn bản trong nhiều phương diện.Trong một cái nhìn chung của cá nhân nhà văn và
Trang 21thời đại Sự nghiên cứu này đồng thời dựa trên sự so sánh Gia đình bé mọn của
Dạ Ngân với những tác phẩm khác
- Phương pháp tếp cận thi pháp học: Đây là con đường quan trọng để
người viết tm hiểu các phương thức thể hiện yếu tố tự truyện của tác giả như về ngôn ngữ, cáchtrần thuật, thời gian, không gian nghệ thuật, miêu tả diễn biến tâm lí…
- Phương pháp liên ngành: Vận dụng kiến thức của các ngành khác nhau như lịch sử, xã hội học, tâm lí học, dân tộc học…để cái nhìn nhìn toàn diện và sâu sắc hơn về yếu tố tự truyện trong tác phẩm
6 Đóng góp của luận văn
Chỉ ra được những biểu hiện của yếu tố tự truyện trong cuốn tểu thuyết
Gia đình bé mọn của Dạ Ngân
Từ đó, luận văn góp phần khẳng định diện mạo, vai trò, vị trí của Dạ Ngân trong sự vận động và phát triển tự truyện của nền văn học Việt Nam đương đại
7 Cấu trúc
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục Phần nội
dung được trình bày trong ba chương:
Chương 1 Một số vấn đề lí luận về tự truyện và quá trình sáng tạo của Dạ Ngân
Chương 2 Các phương diện của cái tôi trong Gia đình bé mọn của Dạ ngân
Chương 3 Phương thức biểu hiện cái tôi tron Gia đình bé mọn của Dạ Ngân
Trang 22NỘI DUNG Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ TỰ TRUYỆN VÀ QUÁ TRÌNH SÁNG TẠO CỦA DẠ NGÂN
1.1 Một số vấn đề về tự truyện
1.1.1 Khái niệm tự truyện
Tự truyện (autobiographique) là thuật ngữ văn học bắt nguồn từ tếng Pháp có nghĩa chỉ tác phẩm viết về chính cuộc đời mình Tuy vậy, trên những lập trường khác nhau có khá nhiều cách hiểu khác nhau về thuật ngữ này
Thứ nhất, theo các nhà từ điển học, thuật ngữ tự truyện được hiểu theo nhiều cách, tựu chung lại thì tự truyện được coi là một thể loại văn học trong đó tác giả tự kể về cuộc đời mình Tác phẩm tự truyện thường có thiên hướng lí giải cuộc sống đã qua của tác giả như một chỉnh thể, tạo nên những đường nét mạch lạc cho cuộc sống kinh nghiệm của mình Cụ thể như sau:Theo Từ điển tếng việt thì tự truyện là truyện tác giả viết về chính bản thân mình [25, tr.177].Theo Từ điển thuật ngữ văn học thì Tự truyện là tác phẩm văn học thuộc thể
loại tự sự do tác giả viết về cuộc đời mình… [25, tr.389]
Theo Từ điển văn học: Tự truyện thường là những câu chuyện viết bằng văn xuôi, kể lại dĩ vãng của chính tác giả…Tự truyện không phải là một tập hợp những kỷ niệm tản mạn, mà được bố trí như một truyện, một tểu thuyết… [11, tr.1905-1906]
Tác giả Lại Nguyên Ân trong 150 thuật ngữ văn học cũng cho rằng Tự truyện là tác phẩm văn học
tự sự, thường được viết bằng văn xuôi, trong đó tác giả tự kể và miêu tả cuộc đời của bản thân mình [3]
Theo Bách khoa toàn thư Wikipedia thì Tự truyện là những tác phẩm văn học thuộc thể loại tự
sự, thường được viết bằng văn xuôi trong đó tác giả tự kể lại và miêu tả cuộc đời mình trong tác phẩm
Trang 23Như vậy theo các nhà từ điển, thuật ngữ Tự truyện được hiểu là những tác phẩm văn xuôi, trong
đó tác giả tự viết về cuộc đời của chính mình Hầu hết các nhà từ điển học đều có điểm chung khi cho rằng tự truyện thể hiện chân dung và cuộc đời của tác giả Theo cách những khái niệm từđiển, tự truyện vừa có điểm của hồi kí, vừa mang đặc điểm của tểu thuyết tự thuật
Thứ hai, quan điểm của các nhà nghiên cứu văn học
Trang 24Tác giả Đặng Thị Hạnh dẫn định nghĩa tự truyện như sau Năm 1971 trong cuốn Tự thuật ở Pháp Philippe Lejeune định nghĩa nó như sau: Truyện kể mang tính nhìn lại dĩ vãng, mà một người có thật viết về cuộc sống của mình, khi người đó đặt trọng âm lên đời sống riêng, nhất là lên sự hình thành nhân cách [12, tr.36] Tác giả Phùng Xuân Tửu trong công trình Tiểu thuyết Pháp bên thềm thế kỷ XXI (2005) đều dẫn định nghĩa của tác giả người Pháp Philippe Lejeune
Có thể coi đây là những cơ sở đầu tên cho việc xác định tự truyện là gì Theo đó, tự truyện đượccoi là bức chân dung tự họa của tác giả, vì thế, tự truyện mang cái tôi cá nhâ thế kỷ XXI (2005) đều dẫn định nghĩa của tác giả người Pháp Philippe Lejeune Có thể coi đây là những cơ sở đầu tên cho việc xác định tự truyện là gì Theo đó, tự truyện được coi là bức chân dung tự họa của tác giả, vì thế, tự truyện mang cái tôi cá nhâ thế kỷ XXI (2005) đều dẫn định nghĩa của tác giả người Pháp Philippe Lejeune Có thể coi đây là những cơ sở đầu tên cho việc xác định tự truyện
là gì Theo đó, tự truyện được coi là bức chân dung tự họa của tác giả, vì thế, tự truyện mang cái tôi cá nhâ thế kỷ XXI (2005) đều dẫn định nghĩa của tác giả người Pháp Philippe Lejeune Có thể coi đây là những cơ sở đầu tên cho việc xác định tự truyện là gì Theo đó, tự truyện được coi là bức chân dung tự họa của tác giả, vì thế, tự truyện mang cái tôi cá nhâ thế kỷ XXI (2005) đều dẫnđịnh nghĩa của tác giả người Pháp Philippe Lejeune Có thể coi đây là những cơ sở đầu tên cho việc xác định tự truyện là gì Theo đó, tự truyện được coi là bức chân dung
tự1
717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717ng tự họa của tác giả, vì thế, tự truyện mang cáitôi cá
nhâ1
7171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717ng tự họa của tác giả, vì thế, tự truyện mang cái tôi cá
nhâ1
7171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717ng tự họa của tác giả, vì thế, tự truyện mang cái tôi cá
nhâ1
71717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171717171
Trang 2581818181818181818181818181818181818181818181818181818181818181818181818181818181818ng tự họa của tác giả, vì thế, tự truyện mang cái tôi cá nhâau Trong tự truyện có cả yếu
tố hồi ký và chân dung nhà văn
1.1.2 Phân biệt tự truyện với hồi ký
1.1.2.1 Hồi ký
Hồi ký không phải là một khái niệm mới trong văn học Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu văn học
đã giải thích khái niệm này căn cứ vào nhiều góc độ khác nhau như: căn cứ vào nội hàm nghĩa của từ hồi ký; căn cứ vào đặc trưng thể loại; căn cứ vào cách kể chuyện… Nhưng tựu chung lại, các nhà nghiên cứu có điểm tương đồng ở việc xác định hồi ký là tái hiện quá khứ gắn với người thật, việc thật, tác giả chính là người trong cuộc hoặc chứng kiến Dưới đây là các cách hiểu đó.Theo quan điểm của các nhà từ điển:
Theo tác giả Hoàng Phê thì hồi ký là thể ký, ghi lại những điều còn nhớ sau khi đã trải qua, đã chứng kiến sự việc [25, tr.459]
Trang 26Theo tài liệu [9] thì Hồi ký là một thể loại thuộc loại hình ký, kể lại những biến cố đã xảy ra trong quá khứ mà tác giả là người tham dự hoặc chứng kiến Và Xét về phương diện quan hệ giữa tác giả với sự kiện được ghi lại về tính chính xác của sự kiện, về góc độ và phương thức diễn đạt, hồi
ký có nhiều chỗ gần với nhật ký Còn về phương diện tư liệu, về tính xác thực và không có hư cấuthì hồi ký lại gần với văn xuôi lịch sử, tểu sử khoa học [9, tr.152]
Từ điển thuật ngữ văn học: Hồi ký là một thể loại thuộc loại hình ký, kể lại những biến cố đã xảy
ra trong quá khứ mà tác giả là người tham dự hoặc chứng kiến Họ cho rằng: Xét về phương diệnquan hệ giữa tác giả với sự kiện
được ghi lại về tính chính xác của sự kiện, về góc độ và phương thức diễn đạt, hồi ký có nhiều chỗ gần với nhật ký Còn về phương diện tư liệu, về tính xác thực và không có hư cấu thì hồi ký lại gần với văn xuôi lịch sử, tểu sử khoa học [11, tr.152]
Theo Từ điển văn học do Đỗ Đức Hiểu chủ biên, hệ thống: "Thuật ngữ chỉ một thể loại nằm trongnhóm thể tài ký Tác phẩm hồi ký là một thiên trần thuật từ ngôi tác giả, kể về những sự kiện có thực xảy ra trong quá khứ mà tác giả tham dự hoặc chứng kiến" [14, tr.648]
Nhìn nhận hồi ký theo quan niệm thể loại:Tác giả Lại Nguyên Ân trong
150 thuật ngữ văn học cho rằng: hồi ký là một thể thuộc thể tài ký Tác phẩm hồi ký là một thiên trần thuật từ ngôi tác giả, kể về những sự kiện có thực trong quá khứ mà tác giả tham dự hoặc chứng kiến [3, tr.154] Theo tài liệu các tác giả trong Lý luận văn học cho rằng hồi ký là thể loại ghi chép các sự kiện quá khứ đã trải qua do đó sự thực hiện, cũng là một hình thức văn học riêng[10, tr.286] Đồng thời, tác giả xác định: Hồi ký ghi lại những diễn biến của câu chuyện và nhân vật theo bước đi của thời gian qua hồi tưởng [10, tr.285] Tuy vậy, bản thân thể hồi ký có đời sống riêng, vận động thay đổi ở từng chặng
đường văn học, khiến cho các khái niệm, quy ước có tính quy phạm không lý giải hết sự đa dạng của nó Vì vậy, ranh giới giữa hồi ký với các loại hình gần
Trang 27nó cần phải xác định rõ ràng Đặc biệt, đặc trưng của hồi ký là một thể văn học luôn vận động, chuyển hóa không ngừng.
Tác giả của hồi ký ghi chép phần hiện thực mà tác giả chứng kiến hơn là dựa trên những ấn tượng và hồi ức riêng trực tếp của mình.Vì vậy hồi ký thường khó tránh khỏi tính phiến diện và
ít nhiều chủ quan về thông tn, tính không đầy đủ của sự kiện, song sự không đầy đủ của nó do
sự diễn đạt sinh động trực tếp của tác giả lại có giá trị như một tài liệu xác thực đáng tn cậy [8,
tr 127]
Nhóm tác giả trong Từ điển Văn học (bộ mới) cho rằng: Hồi ký gần nhật ký ở hình thức giãi bày, ởchỗ không dùng thủ pháp cốt truyện, ở cách kể thường theo thứ tự thời gian, ở việc chú ý đến các sự kiện mang tính tểu sử [24, tr.646-647]
Như vậy, qua việc đưa ra các cách hiểu về hồi kí của các nhà nghiên cứu, luận
văn xác định được đặc trưng của hồi ký, từ đó phân biệt hồi ký với tự truyện
1.1.2.1 Sự khác biệt giữa tự truyện và hồi ký
Xét về nội hàm hai khái niệm thì hai khái niệm hồi ký và tự truyện tương đối gần nhau nhưng không hoàn toàn trùng khít.Theo tác giả Đỗ Đức Hiểu thì: Hồi ký có thể chỉ ghi lại những sự kiện
về một thời kỳ lịch sử mà tác giả không phải là nhân vật chính; còn tự truyện kể chuyện của cái
“tôi” tác giả Tự truyện không phải một tập hợp những kỉ niệm tản mạn, mà được bố trí như mộttruyện, một tểu thuyết [14, tr.1906] Theo nhận định này thì chúng ta có phân biệt tự truyện và hồi ký như sau: Tự truyện là sự phân tích, mổ xẻ cái tôi và nó cũng là biểu hiện của cái tôi đạt tới trình độ cao Còn hồi ký là chứng kiến các sự kiện đã trải qua, cá nhân người viết chỉ là một phầnnhững chi tết trong đời sống
Như vậy, điểm chung giữa hồi ký và tự truyện đều đề cập đến những gì thuộc về quá khứ Tác giảcủa cả hai loại này đều hướng về dĩ vãng, đều có cảm hứng tổng kết và lý giải, đều được viết ra cho người khác đọc để bộc bạch cái tôi, chia sẻ kinh nghiệm cá nhân.Tuy vậy, xét về bản chất, tự truyện mang đặc trưng của truyện, giàu tính miêu tả, chú ý đến nghệ thuật kể, còn hồi ký
Trang 28mang đặc trưng của ký, nặng về tính sự kiện, tính xác thực Nếu như tự truyện xuất phát từ nhu cầu lý giải bản thân để lý giải quá trình hình thành nhân cách và thế giới nội tâm của mình trong
sự tương tác với thế giới bên ngoài, thì hồi ký chỉ xuất hiện khi người ta có cảm hứng hồi cố, có nhu cầu trục vớt quá khứ khi nó đòi được hiện diện trong hiện tại, thỏa mãn mong muốn xét lại lịch sử Vì vậy, trong tự truyện có cái tôi hiện tại, trong hồi ký không có Đặc biệt, hồi ký cần có độlùi thời gian hơn đủ cho ký ức sống lại, đong đầy một niềm tếc nuối, hiện thực bị khuất lấp đượctrình ra
1.1.3 Sự nở rộ của tự truyện trong văn học Việt Nam đương đại
Thế kỉ XIX, các nhà văn hiện thực viết về bản thân để phơi bày các mối quan hệ giữa con người với nhau và giữa con người với hoàn cảnh xã hội Ở thế kỉ XX, nhiều nhà văn thuật lại cuộc đời của chính mình để qua đó phản ánh số phận của dân tộc, cộng đồng và thời đại Như vậy, các phương diện của đời sống: đời tư, thế sự và sử thi đều có thể nằm trong tự truyện
Văn học thời trung đại có khuynh hướng thiên về cái vô ngã Đến thời kì
1930 - 1945, văn học nhắc nhiều đến cái tôi với những tác phẩm của Nguyên Hồng, Nam Cao, Kim Lân… Tuy nhiên, đến thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ, do yêu cầu của thời đại, văn học tập trung vào những vấn đề chung của thời đại Do vậy cái tôi cá nhân một lần nữa ít được nhắc đến trong văn học
Sau năm 1975 đặc biệt là sau năm 1986 đổi mới nền văn học cũng là một yêu cầu bức thiết Xuấtphát từ điều đó, văn xuôi Việt Nam những năm 80 xuất hiện nhiều tác phẩm viết về cái tôi cá nhân và gắn với nỗi khát khao tnh yêu đôi lứa Đây là chủ đề được khai thác rất hạn chế trong văn học Việt Nam từ trước đến nay do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân lịch sử Các tác giả Lê Lựu, Nhật Tuấn, Dạ Ngân, Ngô Thị Kim Cúc, Tạ Duy Anh, Ma Văn Kháng, Dương Hướng,
…đã thể hiện sự quan tâm đến hạnh phúc cá nhân, phản ánh những mặt
Trang 29riêng tư nhất, đời thường nhất của con người, không đặt vấn đề phải hi sinh hạnh phúc cá nhân cho sự nghiệp lớn lao nữa, mà đặt vấn đề: trong khi xây dựng sự nghiệp lớn lao kia, không nên
bỏ qua hạnh phúc cá nhân
Văn học Đồng bằng sông Cửu Long cũng cũng không nằm ngoài thông lệ đó Những cây bút như Sơn Nam, Nguyễn Quang Sáng, Lê Chí, Trang Thế Hy, đã thể hiện ró nét cái tôi cá nhân trong những sáng tác của mình Đặc biệt là sự xuất hiện của nhiều cây bút nữ có tài năng như Lý Lan,
Dạ Ngân, Song Hảo, Nguyễn Ngọc Tư, Đinh Thị Thu Vân,… đã đem đến một luồng sáng mới cho nền văn học khu vực Trong đó, có một số nhà văn, viết tác phẩm trở thành một hành trình tm kiếm chính mình, chăm chú vào bí ẩn của cái tôi, lật xới vấn đề muôn thuở cái tôi là gì? Bằng cách nào nắm bắt được cái tôi? Do vậy khuynh hướng tự truyện trong văn học đương đại đang dần trở nên gây chú ý
1.2 Quá trình sáng tạo của Dạ Ngân
1.2.1 Vài nét về nhà văn Dạ Ngân
Nữ văn sĩ Dạ Ngân tên thật là Lê Hồng Nga, sinh ngày 06 tháng 02 năm
1952 Tuổi thơ của nhà văn gắn bó vườn cổ Cao Lãnh sông Tiền
Dạ Ngân sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng (ba bà bị tù, án khổ sai Côn Đảorồi chết trong xà lim) Cô Tư, cô ruột của nhà văn, người đàn bà goá đã ở vậy đến già để chăm nuôi bầy cháu cho ba bà đi kháng chiến Có thể nói, đây là hai nhân vật mà tâm hồn và tính cách của họ ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến tư chất Dạ Ngân sau này Cũng giống như nhiều gia đình ở miền nam trong thời kháng chiến (trước là trả thù nhà, sau là trả nợ nước), gia đình của Dạ Ngân
có truyền thống yêu nước, cha hi sinh trong kháng chiến, còn tất cả các chị em gái của Dạ Ngân đều vào cứ tham gia đánh giặc
Nhà văn đã bộc bạch: Quê gốc tôi ở miệt vườn Cao Lãnh sông Tiền nhưng vì ông nội tôi thích thi thố nên đưa tất cả anh em giạt xuống tận Cần Thơ để phỉ chí nghề vườn Tôi là phụ nữ miệt vườn chính cống và tôi luôn tự hào về
Trang 30điều đó.Tuổi thơ tôi được bảo bọc bằng nghề vườn, cây vườn và nhà nội, trong đó vai trò quyết định thuộc cô tôi, người đàn bà goá đã ở vậy đến già để chăm nuôi bầy cháu cho ba tôi đi kháng chiến Cho đến khi ba tôi bị tù, án khổ sai Côn Đảo rồi chết trong xà lim thì tôi thuộc về cô tôi hoàn toàn, tâm hồn và tính cách ấy đã quyết định tư chất tôi Ở vào vùng hành lang giữa căn cứ kháng chiến tỉnh với căn cứ kháng chiến Khu Chín, gia đình tôi không có sự lựa chọn nào khác cho chị em gái nhà tôi: Tất cả phải đi vào Cứ tham gia đánh giặc, con đường của cha tôi Lý tưởng
đã được đơn giản hoá thành thù nhà rồi sau mới là nghĩa nước [4, tr.27]
Cuộc đời riêng của Dạ Ngân rất lận đận Cũng như bao phụ nữ khác sinh ra trong thời kỳ đất nước trải qua cuộc chiến tranh ác liệt Dạ Ngân phải chịu nhiều thiệt thòi mất mát không được học hành đến nơi đến chốn nhưng nhờ có ý chí kiên cường, giàu nghị lực Dạ Ngân đã vượt qua những khó khăn, trở ngại của cuộc sống để trở thành một nữ nhà văn tài năng
Năm 1978, truyện đầu tay của Dạ Ngân được tạp chí văn nghệ tỉnh in vào số tết Sau đó, Dạ Ngânđược chuyển sang Hội văn nghệ tỉnh từ bộ phận làm tn thuộc Sở văn hoá thông tn tỉnh Hậu Giang Đầu năm 1982, lần đầu một truyện ngắn của bà được in trên tuần báo Văn nghệ của Hội nhà văn Cũng trong thời gian đó, với việc tham dự sự kiện trại sáng tác của Hội văn nghệ tỉnh ở Vũng Tàu, cuộc đời và sáng tác của bà có những bước chuyển Ở trại sáng tác, bà đã gặp nhà văn Nguyễn Quang Thân - người chồng sau của bà Cuộc tnh này đã trải qua nhiều sóng gió của dư luận nhưng với tnh yêu mãnh liệt, sau hơn mười năm trời người Nam kẻ Bắc chỉ trao đổi qua thư từ, điện tín và thỉnh thoảng mới gặp nhưng cuối cùng họ vẫn đến được với nhau Bắt đầu từ trại sáng tác
đó, nghiệp văn và đời tư của bà luôn gắn bó với nhau để bà cho ra đời những tác phẩm: truyện ngắn Con chó và vụ ly hôn (1985) và nhiều đầu ᄉ sách,ᄉ kịch bản phim, nhiều tản văn, hàng nghìn kì thư Tư vấn gia đình với bút danh Dạ Hương Đặc biệt, tểu thuyết Miệt vườn xa lắm, Gia đình bé mọn, tên tuổi Dạ ngân trở nên gần gũi với độc giả cả nước
Trang 31Được kết nạp vào Hội nhà văn Việt Nam năm 1987, Dạ Ngân được tu nghiệp bốn năm ở Trường viết văn Nguyễn Du Từ đây, cuộc sống của bà có nhiều thay đổi và gắn bó với Hà Nội và người chồng thứ hai của bà.
1.2.2 Hành trình sáng tác
Dạ Ngân là một người có niềm say mê và có năng khiếu với văn học từ sớm Ngay những ngày tham gia kháng chiến, Dạ Ngân đã lén đọc Sông Đông êm đềm của Mikhain Sôlôkhôp Đây là cuốn sách bị xem là có vấn đề về chính trị thời bấy giờ Với một tâm hồn bay bổng, lãng mạn Dạ Ngân đã được tên đoán trước sau gì cũng sẽ theo nghiệp văn chương Và đúng như dự đoán, cả cuộc đời bà sau này đã coi văn chương như là hơi thở, là cuộc sống của bà
Năm 1978 truyện ngắn đầu tay của Dạ Ngân được ra đời và in trên tạp chí văn nghệ tỉnh số tết Đây là động lực giúp nhà văn vững tn hơn trên con đường sáng tác văn chương nhiều thử thách của mình
Năm 1982 một truyện ngắn nữa của Dạ Ngân được đăng trên tuần báo văn nghệ của Hội nhà văn Việt nam Nhờ vậy mà tháng tư năm ấy, Dạ Ngân được tham dự trại sáng tác của hội ở Vũng Tàu Tại đây, Dạ Ngân đã được gặp nhiều nhà văn tên tuổi trong đó có nhà văn Nguyễn Quang Thân - người chồng sau này của bà
Trong sự nghiệp sáng tác của mình, Dạ Ngân sáng tác về nhiều mảng đề tài khác nhau nhưng nổi bật nhất trong sáng tác của bà là đề tài chiến tranh và gia đình Về thể loại thì tểu thuyết và truyện ngắn là thể loại mang lại nhiều thành công cho Dạ Ngân Dạ Ngân đã từng tâm sự Tôi là tạng nhà văn cái gì không ngấm vào mình, không trải qua thì không thể viết sâu sắc [29, tr.103].Chúng ta có thể kể đến một số tác phẩm chính, têu biểu của bà như: Ở thể loại truyện ngắn, Dạ Ngân có những sáng tác sau:
- Quãng đời ấm áp - Tập truyện - NXB Phụ nữ 1986
- Con chó và vụ ly hôn - Tập truyện - NXB Hội nhà văn 1990
- Cõi nhà - tập truyện - NXB Thanh niên 1993
- Dạ Ngân truyện ngắn chọn lọc - NXB Văn học 1995
Trang 32- Dạ Ngân và Nguyễn Quang Thân - Tập truyện - NXB Phụ nữ 1997.
- Nhìn từ phía khác - Tập truyện - NXB Hà Nội 2002
- Tản mạn hồn quê - Tạp văn - NXB Phụ nữ 2007
- Nước nguồn xuôi mãi - Tập truyện - NXB Phụ nữ 2008
Ở thể loại tểu thuyết, Dạ Ngân có những sáng tác sau:
- Ngày của một đời - Tiểu thuyết - NXB Văn nghệ tp Hồ Chí Minh 1989
- Mẹ Mèo - Tiểu thuyết (cho thiếu nhi) - NXB Kim Đồng 1992
- Miệt vườn xa lắm - Truyện dài - NXB Kim Đồng 1992 (In lần thứ ba tính đến tháng 6/2006) Giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam 2004
- Gia đình bé mọn - Tiểu thuyết - NXB Phụ Nữ tháng 7/2005 (In lần thứ năm tính đến tháng 3/2008)
Sau Miệt vườn xa lắm, tểu thuyết Gia đình bé mọn là tác phẩm được xem là tác phẩm thành công nhất.Tác phẩm được nhận liền hai giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội năm 2005, và Hội nhà văn ᄉ Việt Nam n ᄉăm 2006 Không những thế, tểu thuyết Gia đình bé mọn trở thành cuốn tểu thuyết đầu tên ở Việt Nam được nhà xuất bản Curbstone Press dịch sang tếng Anh, xuất bản ở Mỹ với sự chuyển ngữ của bà Rosemary Nguyễn
Bên cạnh thành công của truyện ngắn và tểu thuyết, bà còn có những kịch bản phim như: Chuyến đi của mẹ - Kịch bản phim nhựa, sản xuất năm 1988; Chân trời nơi ấy - Kịch bản phim nhựa, 2 tập, sản xuất năm 1995
Như vậy, nhờ vào hành trình sáng tác không mệt mỏi và nhiều tâm huyết đã giúp nữ nhà văn miệt vườn vinh dự nhận được nhiều giải thưởng cao quý Điều đó chứng tỏ nữ nhà văn đã có những đóng góp không nhỏ cho nền văn học đương đại Việt nam
1.2.3 Sự ra đời của tểu thuyết Gia đình bé mọn
Gia đình bé mọn của Dạ Ngân là cuốn tểu thuyết thứ hai trong văn nghiệp của Dạ Ngân (sau Miệt vườn xa lắm) được nhận nhiều giải thưởng cao quý và
Trang 33được dịch ở nhiều nước Tác giả xuất thân từ miền Tây Nam Bộ, nhưng tác
phẩm được viết ở miền Bắc, là sự hồi tưởng lại quá khứ của nhân vật có nhiều
Trang 34điểm tương đồng với cuộc đời của nữ văn sĩ Tác phẩm xoáy sâu vào hiện thực của bối cảnh xã hội Việt Nam thời kì sau chiến tranh chống Mỹ (năm 1975).
Tác phẩm Gia đình bé mọn lấy bối cảnh không gian chính là xã hội Việt Nam những năm sau
1975 giải phóng hoàn toàn đất nước và nhân dân bước vào một thời kì bao cấp chật vật, đầy rẫy khó khăn, hà khắc, bủa vây lấy cuộc sống và tnh thần con người Nhân vật chính trong tác phảm
là nhà văn Mỹ Tiệp, vốn là người miền Tây có nhan sắc, cá tính, có khát vọng mãnh liệt trong tnhyêu và mưu cầu hạnh phúc Cuộc chiến tranh chống Mỹ ác liệt đã dàn xếp cuộc hôn nhân giữa côvới anh chồng Hai Tuyên, một người đàn ông chỉ biết với cương vị phó phòng tuyên truyền, có thể thao thao đứng lớp những bài giảng về: “thế nào là nếp sống mới, con người mới” Hơn thế, Tuyên còn là một con người lạnh lùng, vô tâm, tàn nhẫn với vợ con mình, coi công danh là mục đích phấn đấu và bắt vợ phải đồng hành với mình trên con đường chính trị “lên nữa, lên mãi” Mặc dù biết không được sự ủng hộ của gia đình nhưng Tiệp vẫn quyết tâm từ bỏ vỏ bọc hào nhoáng về mái ấm hạnh phúc bề ngoài để tm đến hạnh phúc thực sự mà trái tm mình mong muốn Đầu tên là tnh cảm bồng bột của Tiệp với anh nhà báo từ thành phố lớn, giống như một chú công giữa thị trấn tỉnh lẻ Thất bại, nhưng Tiệp vẫn không muốn tếp tục chung sống với Tuyên Gia đình của Tiệp với những ràng buộc về danh dự của gia tộc đã tm mọi cách ngăn cản nhưng Tiệp vẫn kiên quyết từ bỏ Tuyên Thế rồi cuộc gặp gỡ Đính - nhà văn người xứ Nghệ, sống
và viết tại Hà Nội đã khiến Tiệp rẽ sang một
hướng khác Mặc dù tnh cảm của họ lại gặp phải quá nhiều ngăn trở.Với hành trình trên mười năm năm khổ cực với bao đau buồn giằng xé tâm can giữa tnh mẫu tử, tnh gia tộc, Tiệp đã đến đích
Như vậy, Gia đình bé mọn tập trung vào bi kịch của người phụ nữ trong xã hội hiện đại giữa nhiều mối quan hệ trong gia đình, trong tnh yêu Qua đó, Dạ Ngân đặc biệt có ý thức đi sâu, lý giải, cắt nghĩa nguyên nhân sâu xa trong bi kịch mà họ phải chịu đựng Cùng với nguyên nhân chính là sự huỷ diệt của chiến tranh đối với tuổi thanh xuân, mà còn là tư tưởng hà khắc còn mang nặng trong trí óc con người Đồng thời, với tâm thế của một người trong cuộc, tác
Trang 35giả cho thấy nguyên nhân nằm ngay trong thái độ cam phận, nín nhịn của người phụ nữ Việt Nam suốt chiều dài đằng đẵng bi kịch họ gánh theo.
1.3 Quan niệm nghệ thuật của Dạ Ngân
1.3.1 Quan niệm về hiện thực và con người
* Quan niệm về hiện thực
Qua tm hiểu hành trình sáng tác của Dạ Ngân cho thấy bà là một cây bút đã gặt hái được khá nhiều thành công trong sự nghiệp sáng tác của mình Cho đến hiện nay, Dạ Ngân đã có một số lượng tác phẩm khá lớn với nhiều thể loại khác nhau Các tác phẩm ấy có một sức hút đáng kể đối với độc giả cũng như các nhà nghiên cứu phê bình văn học Một trong những nhân tố làm nên sức hút ấy trong sáng tác của Dạ Ngân là quan niệm về hiện thực
Hiện thực trong văn chương là hiện thực về cuộc sống Tuy nhiên, từ hiện thực trong cuộc sống đến hiện thực trong tác phẩm có một khoảng cách nhất định Chỉ nhà văn mới có thể kéo gần, thu hẹp được khoảng cách đó qua tác phẩm của mình Khi đó, tính chân thực ở tác phẩm đó càng đậm nét, càng sâu sắc.Vì vậy, quan niệm về hiện thực của nhà văn thường được trả lời cho câu hỏi đó là hiện thực gì, hiện thực đó được nhìn bằng phương pháp sáng tác nào? Dạ Ngân sáng tác chủ yếu dựa vào trải nghiệm của bản thân Từng tham gia chiến đấu trong những tháng năm chống Mĩ ác liệt, hiện thực mà nhà văn chứng kiến và trải qua trong những năm tháng hào hùng nhưng cũng không kém phần bi thương ấy đã in sâu trong lòng nhà văn nữ này Chiến tranhkết thúc nhưng hậu quả của nó khiến đất nước ta lại trải qua một thời kì khó khăn mới Dạ Ngân lại trải nghiệm với cuộc sống đầy khó khăn gian khổ trong những năm bao cấp Vì vậy, Dạ Ngân thể hiện sự cảm nhận rất rõ và thấu hiểu sâu sắc hiện thực của đất
nước trong những sáng tác của mình.Trong những sáng tác ấy, Dạ Ngân bổ sung những mảng hiện thực mới mà văn học trước 1975 còn né tránh như những mặt trái, mặt têu cực của hiện thực, cái xấu, cái ác trong đời sống Ở đó, hiện thực được nhìn nhận, phản ánh không giản đơn, xuôi chiều mà được phân
Trang 36tích, mổ xẻ ở một chiều sâu mới Càng ngày cảm hứng nhìn thẳng vào sự thật càng phát triển, trở thành dòng chủ đạo của văn xuôi đương đại Việt Nam Trong hành trình sáng tác, đề tàichiến tranh, gia đình nổi bật nhất trong sáng tác của Dạ Ngân bởi nó luôn thể hiện yếu tố hiện thực một cách rõ nét Đề tài chiến tranh được Dạ Ngân khai thác ngay từ những tác phẩm đầu tay Tuy nhiên, nhà văn không nặng về miêu tả hiện thực chiến tranh với những trận đánh ác liệt giữa ta với địch, về những chiến thuật dụng trong cuộc chiến này Ngòi bút của Dạ Ngân hướng
về cuộc sống tnh cảm, sinh hoạt của con người trong hoàn cảnh khốc liệt ấy trong Quãng đời ấm
áp, Đường dây một người Ở mảng đề tài gia đình, nữ văn sĩ đi vào phản ánh những hiện thực cuộc sống trong những gia đình Trong đó, có những người chỉ chạy theo vật chất, danh vọng mà quên đi những tnh cảm thiêng liêng cao đẹp nhất Đó là những đứa con hắt hủi khi mẹ già, trong Người của mỗi người Đó là hiện thực cuộc sống đầy nước mắt đắng cay của những người phụ nữ phải sống trong cảnh góa bụa trong Nhà không có đàn ông Đồng thời, Dạ Ngân cũng đi sâu vào phản ánh xung đột về tnh cảm, đạo đức của vợ chồng Đến Gia đình bé mọn, Dạ Ngân
đã dũng cảm rọi đèn vào những góc tối, khuất tất của cuộc sống, làm hiện rõ bức tranh xã hội đầy nhức nhối hiện nay [15, tr.318-319] Qua đó, Dạ Ngân đặt ra một vấn đề nóng bỏng về thực trạng của đời sống gia đình thời hậu chiến Các tác giả như Dương Hướng với Bến không chồng,
Lê Lựu với Thời xa vắng, Bảo Ninh với Nỗi buồn chiến tranh, Ma Văn Kháng với Mưa mùa hạ, Đám
cưới không có giấy giá thú …là những sáng tác sau năm 1975 đều thể hiện cách nhìn nhận của tác giả trước thực trạng của xã hội lúc bấy giờ khiến cuộc sống con người trở nên khốn khó Nhưng qua hành trình sáng tác của Dạ Ngân cho thấy, hiện thực đời sống không chỉ thu gọn trong những biến cố lịch sử và đời sống cộng đồng mà rộng hơn, sâu hơn, thực tế hơn, đó là cái thường nhật với bao mối quan hệ phức tạp Và bởi thế, cái nhìn thế sự - đời tư thực sự giữ vai trò cốt yếu trong cảm quan nghệ thuật của nhà văn
Trang 37* Quan niệm về con người
Trong văn học nói chung, con người là trung tâm, là đối tượng chủ yếu
mà các nhà văn, nhà thơ tập trung hướng đến Quan niệm nghệ thuật về con
người là khái niệm cơ bản nhằm thể hiện khả năng khám phá, sáng tạo trong lĩnh vực miêu tả, thể hiện con người của người nghệ sĩ nói riêng và thời đại văn học nói chung Theo Trần Đình Sử thì Quan niệm nghệ thuật về con người là một cách cắt nghĩa, lí giải tầm hiểu biết, tầm đánh giá, tầm trí tuệ, tầm nhìn, tầm cảm của nhà văn về con người được thể hiện trong tác phẩm của mình [27, tr.15] Nghĩa là, quan niệm nghệ thuật về con người sẽ đi vào phân tích, mổ xẻ đốitượng con người được thể hiện thành các nguyên tắc, phương tện, biện pháp trong các tác phẩm văn học, từ đó, thấy được giá trị và chiều sâu triết lí của tác phẩm Dạ Ngân cũng như nhiều nhà văn khác sáng tác sau năm 1975, có những chuyển đổi sâu sắc trong quan niệm nghệ thuật về con người Đó là từ con
người lịch sử, con người cộng đồng đến con người cá nhân “đầy những nỗi niềm nguồn cơn”, đầy phức tạp và bí ẩn Một số truyện ngắn của Dạ Ngân đã thể hiện quan niệm nghệ thuật mới
về con người, từ sau những năm đổi mới, như Thợ vẽ truyền thần, Trăng về, Một khúc sông, Nhìn từ phía khác, Câu chuyện nhiều năm, Má con Chị Liệt, Cái ban công trống…Trong đó, Dạ Ngân viết nhiều về người phụ nữ và đặt vấn đề nữ quyền lên trên hết trong hầu hết các sáng tác của mình Ở những hình tượng người phụ nữ đó luôn có những nét tính cách rất đặc biệt, đó là mạnh mẽ, gan góc không kém phần quyết liệt Nếu không là người phụ nữ dám sống vì hạnh phúc cá nhân như Đoan trong Con chó và vụ li hôn hay Tiệp trong Gia đình bé mọn thì cũng là những người đàn bà mạnh mẽ, làm chủ gia đình như những người phụ nữ trong Nhà không có đàn ông Ngoài ra, vấn đề tnh dục và hành trình tm đến tnh yêu đích thực của
người phụ nữ cũng là những vấn đề được đề cập không ít trong các tác phẩm của Dạ Ngân Tóm lại, người phụ nữ trong sáng tác của Dạ Ngân hiện lên là những người phụ nữ hiện đại, đầy bản lĩnh, kiên cường, chủ động vượt qua bao khó khăn, sóng gió
Trang 381.3.2 Quan niệm về văn chương
Dạ Ngân có được một niềm say mê văn học từ sớm và có quan niệm về văn chương rất nghiêm túc Tác giả quan niệm Văn chương, đó không chỉ là nghề như mọi nghề mà còn là con đường khổ ải cho những người đàn bà cầm bút Dù vậy, vẫn hơn, vì con đường ấy cho người ta sự cô độc tối cao, niềm tn dai dẳng và có thể khóc cười thoải mái một mình [39] và Văn chương hoàn toàn xứng đáng được coi như đạo, vì sứ mệnh giãi bày và cứu rỗi của nó Người viết phải chấp nhận cày xới mặt trái của xã hội loài người và mảnh đất tâm linh của kiếp người Có lẽ vì vậy mà tôi không dung hòa được với những gì nhè nhẹ, thoang thoáng, đèm đẹp Tận cùng, đó là phương châm sống, phương châm viết của tôi và tôi không lùi bước khi phải trả giá [39] Như vậy, theo Dạ Ngân, văn chương có sư mệnh “giãi bày và cứu rỗi”, bởi văn chương giúp conngười được thể hiện sâu sắc nhất những cảm xúc của bản thân và được là chính mình bởi vì con đường ấy cho người ta sự cô độc tối cao, niềm tn dai dẳng và có thể khóc cười thoải mái một mình
Dạ Ngân cũng để cho nhân vật trong tác phẩm của mình phát biểu quan niệm về văn chương Chẳng hạn như nhân vật nữ nhà văn Mỹ Tiệp trong Gia đình bé mọn cũng quan niệm Văn chương với nàng giống một thứ tín ngưỡng hơn là phương tện Qua tm hiểu hành trình sáng tác của Dạ Ngân càng thấy rõ quan niệm về văn chương của bà Dạ Ngân đã nêu lên những vấn
đề nóng bỏng của gia đình và xã hội Tác giả đã nhìn thẳng vào cuộc sống xã hội để phân tích những diễn biến tâm lý của con người
Đồng thời, Dạ Ngân coi tác phẩm văn chương là đứa con thai nghén mà bà rút ruột đẻ đau Nó giống với khoảnh khắc đứa con trong bụng mình òa ra, kết thúc tnh cảnh mang nặng đẻ đau và mình biết thế là nó đã được sinh xong và bắt đầu cuộc sống riêng giữa cõi đời này [27] Vì thế, tác phẩm văn chương đó càng thể hiện rõ chức năng và sứ mệnh của mình Theo Dạ Ngân,người viết văn là kẻ cô đơn giữa bầy đàn của mình Nhưng chính cuộc sống
Trang 39biết hy sinh vì văn chương ấy đã khiến cho tác giả quan niệm Sống tức là viết
được phân nửa điều mình muốn tuyên ngôn Nghĩa là phải sống với tất cả các cung bậc tnh cảm,với sự nhạy cảm của từng tế bào nguyên liệu sẽ sinh ra từ từng giây phút ấy [39]
Như vậy, Dạ Ngân viết văn chủ yếu dựa vào những trải nghiệm của cuộc đời Với tnh yêu đến mức “tín mộ” văn chương, qua các tác phẩm của bà, chúng ta thấy được những vấn đề nóng bỏng về thực trạng của đời sống gia đình, xã hội Việt Nam thời hậu chiến Đồng thời, nhà văn thểhiện sự cảm thông chân thành và tnh yêu thương sâu sắc với những con người trong cuộc sống thời hiện đại, nhất là những người phụ nữ
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Tự truyện là những tác phẩm văn học thuộc thể loại tự sự, trong đó tác giả tự kể lại và miêu tả cuộc đời mình trong tác phẩm Tâm điểm của tự truyện là cái tôi người kể chuyện trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách, trong sự tương tác của nó với thế giới bên ngoài.Trong văn học đương đại, tự truyện gắn với vấn đề cái tôi tác giả - sự khẳng định cái tôi cá nhân, sự bộc
lộ tnh cảm, sự trải nghiệm của bản thân nhà văn, là hành trình đi tm cái tôi của cá nhân
Dạ Ngân là một nhà văn của miệt vườn miền Tây Nam Bộ Trong hành trình sáng tác của nữ văn
sĩ luôn thể hiện quan điểm nghệ thuật về hiện thực, về con người và quan niệm về văn chương Một trong những thành công trong sáng tác của bà là tểu thuyết Gia đình bé mọn Đây là cuốn tểu thuyết mang đậm yếu tố tự truyện, qua đó, nhà văn bộc lộ con người cá nhân của mình Thông qua đó, tác giả đã đặt ra những vấn đề xã hội sâu sắc: cuộc sống hiện thực đầy rẫy những khó khăn do hậu quả của chiến tranh, nhưng con người vẫn ước mong về một cuộc sống được làchính mình, được sống với những khát vọng chính đáng của bản thân
Trang 40Chương 2
CÁC PHƯƠNG DIỆN CỦA CÁI TÔI TRONG
GIA ĐÌNH BÉ MỌN CỦA DẠ NGÂN
2.1 Cái tôi trong cuộc sống thường nhật
2.1.1 Cái tôi trong sinh hoạt hằng ngày
Trong sáng tác văn học nói chung và trong tểu thuyết nói riêng, không phải ai cũng thể hiện được cái tôi của mình trên trang viết Cái tôi gắn liền với cá tính sáng tạo của một người cầm bút.Điều đó đòi hỏi người viết phải thể hiện được cái riêng có giá trị thẩm mĩ cao, có khả năng đóng góp tích cực cho nền văn học chung
Nhắc đến nữ văn sĩ Dạ Ngân và tểu thuyết Gia đình bé mọn là độc giả nghĩ đến công cuộc tự cởi trói cam go của chính nhà văn với những giáo điều của gia đình, thành kiến của xã hội… Nhưng không chỉ có thế! Bởi hành trình đi tm tnh yêu, mục đích sống của chính mình - một cái bể cảm xúc không khi nào vơi của Dạ Ngân trong tác phẩm mới tạo nên cái tôi cá nhân đáng trân trọng!
Bà có ý thức cao độ về chất văn và cái tnh của bản thân mình Và bà hãnh diện, bà thách thức với cuộc đời đầy khó khăn, gian khổ, với người đời đầy thị phi Chính sự mãnh liệt khác thường trong cá tính nhân vật đã được bộc lộ bằng hình thức tự truyện và nhuốm màu “cá nhân hóa”,
“tâm lý hóa” cho tểu thuyết Gia đình bé mọn giàu không khí thời đại và chất đầy sự kiện Chính cái bể cảm xúc đã giúp Dạ Ngân khơi sâu được vào trong những bi kịch của những nhà văn trong
xã hội Việt Nam thời bao cấp - đó là nét đặc trưng và cũng là đóng góp của Dạ Ngân trong giai đoạn văn học Việt Nam thời hậu chiến Cái tôi như là một sự biểu hiện của yếu tố tự truyện trong Gia đình bé mọn của Dạ Ngân
Trong Gia đình bé mọn, Dạ Ngân đã mạnh dạn “bóc trần” cả thế giới, từ đó, hướng về cá nhân, hướng về con người với tất cả niềm say mê tm tòi, khám phá, khai thác triệt để nhằm hướng người đọc đến với cái cao cả, cái tốt