Bộ Sách giáo khoa hóa học hiện nay có rất nhiều các tư liệu kèm theo cáchình ảnh sống động, phần nào đã đáp ứng được yêu cầu đổi mới trong dạy học.Tuy nhiên, cho đến nay việc gắn nội dun
Trang 1PHẦN 1: MỞ ĐẦU
I THÔNG TIN CHUNG VỀ ĐỀ TÀI
1 Tên đề tài: Sưu tầm, xây dựng và sử dụng hệ thống câu hỏi hoá học gắn với thực tiễn liên quan đến kiến thức chương oxi – lưu huỳnh và chương nitơ – photpho ở trường trung học phổ thông.
2 Chủ nhiệm đề tài: Bùi Thị Kim Cúc, Học vị Thạc sỹ
II NỘI DUNG KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI.
1 Tổng quan tình hình nghiên cứu và tính cấp thiết của đề tài
Bộ Sách giáo khoa hóa học hiện nay có rất nhiều các tư liệu kèm theo cáchình ảnh sống động, phần nào đã đáp ứng được yêu cầu đổi mới trong dạy học.Tuy nhiên, cho đến nay việc gắn nội dung kiến thức của bài học với nội dungliên quan đến thực tiễn còn rất hạn chế Nhiều bài tập hóa học còn xa rời thựctiễn cuộc sống và sản xuất, quá chú trọng đến việc tính toán phức tạp Để phầnnào đáp ứng nhu cầu đổi mới nội dung, phương pháp dạy học theo hướng gắnvới thực tiễn hiện nay, đã có một số sách tham khảo được xuất bản như:
(1) TS Đặng Thị Oanh (Chủ biên), Trần Trung Ninh, Đỗ Công Mỹ (2006), Câu
hỏi lý thuyết và bài tập thực tiễn trung học phổ thông, tập 1, nhà xuất bản giáo
dục
(2) PGS.TS Nguyễn Xuân Trường (2006), 385 câu hỏi và đáp về hóa học với
đời sống, nhà xuất bản giáo dục
(3) Nguyễn Xuân Trường (2008), Hóa học với thực tiễn đời sống, NXB Đại học
Quốc gia Hà nội
Bên cạnh đó, một số học viên cao học cũng đã nghiên cứu và bảo vệ luậnvăn theo hướng đề tài này như:
(4) Đỗ Công Mỹ (2005), Xây dựng, lựa chọn hệ thống câu hỏi lý thuyết và bài
tập thực tiễn môn hóa học Trung học phổ thông (phần hóa học đại cương và vô cơ), Luận văn thạc sĩ Giáo dục học, Đại học Sư phạm Hà Nội.
(5) Nguyễn Thị Thu Hằng (2007), Xây dựng, lựa chọn hệ thống bài tập hóa học
thực tiễn Trung học phổ thông (phần hóa học hữu cơ), Luận văn thạc sĩ Giáo
dục học, Đại học Sư phạm Hà Nội
(6) Ngô Thị Kim Tuyến (2004), Xây dựng hệ thống bài tập thực tiễn hóa học
lớp 11 Trung học phổ thông, Luận văn thạc sĩ Giáo dục học, Đại học Sư phạm
Hà Nội
Trang 2(7) Th.sỹ Nguyễn Văn Thắng, Dạy học hóa học gắn với thực tế bộ môn nhằm
tăng hứng thú cho học sinh, Trường THPT Bảo Thắng Tỉnh Lào Cai
8) SV Lê Huyền Trang (2012), Nâng cao hiệu quả dạy học môn hóa học bằng
việc giải thích các hiện tượng thực tiễn có liên quan đến bài học, Đại học Hoa
Lư, Ninh Bình
Nhìn chung các tác giả chỉ đưa ra các câu hỏi có liên quan đến thực tiễnhoặc đã đề cập đến việc vận dụng, lồng ghép các câu hỏi có liên quan đến thựctiễn nhưng còn đi theo hướng dàn chải, chưa trọng tâm, chưa phân loại các dạngcâu hỏi đó để giúp người đọc có cái nhìn tổng quát và rõ ràng nhất về vấn đềnày
Hoá học là một môn khoa học lý thuyết và thực nghiệm Việc dạy và học
phải gắn lý thuyết với thực hành, thực tiễn đời sống và sản xuất Sử dụng bài tậptrong các khâu của quá trình dạy học hóa học là rất cần thiết Việc sử dụng câuhỏi và bài tập có liên quan thực tiễn sẽ thường xuyên kích thích tính năng độngsáng tạo của học sinh (HS) Khi đó học sinh sẽ cảm thấy vai trò thiết thực củakhoa học hóa học với đời sống, sản xuất Sau khi giải môṭ bài tập hóa học(BTHH) mà HS có thể giải đáp được những tình huống có vấn đề nảy sinh trongđời sống, trong lao động sản xuất thì sẽ làm tăng lòng say mê học hỏi, phát triển
tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề Đó có thể là những bài tập có nhữngđiều kiện và yêu cầu thường gặp trong thực tiễn như: bài tập về cách sử dụnghóa chất; đồ dùng thí nghiệm; cách xử lí tai nạn do hóa chất; bảo vệ môi trường;sản xuất hóa học; xử lí và tận dụng các chất thải … Tăng cường sử dụng bài tậpthực tiễn trong dạy và học hóa học sẽ góp phần thực hiện nguyên lí giáo dục:học đi đôi với hành, giáo dục đi đôi với sản xuất, lí luận gắn liền với thực tiễn.Bằng những kiến thức hóa học, trước tiên HS có thể giải đáp những câu hỏi “tạisao” nảy sinh từ thực tiễn và hơn nữa là có thể đưa ra những giải pháp tối ưu chonhững tình huống có vấn đề nảy sinh từ chính thực tiễn đó Hiện nay trongchương trình SGK Hoá học 12 đã đưa ra chương 9 (Hoá học và vần đề phát triểnkinh tế, xã hội, môi trường) ở cuối sách Song thực tế giảng dạy chúng tôi thấyrằng những bài tập hoá học liên quan đến thực tiễn hoàn toàn có thể đưa vàolồng ghép ở mỗi bài dạy cho phù hợp Như vậy, không chỉ giúp HS lĩnh hội kiếnthức một cách chủ động, sáng tạo mà còn tăng thêm hứng thú cho HS đối với bộmôn, góp phần phát triển khả năng tư duy và hình thành thế giới quan cho HS Hàng năm, các kì thi THPT quốc gia, kỳ thi HS giỏi quốc gia và quốc tế,các chương trình trò chơi bổ ích trên các kênh truyền thông đều được tổ chức
Trang 3nhằm phát hiện và tìm kiếm những tài năng hóa học cho đất nước Trong đó cónhững câu hỏi hóa học về việc giải thích các hiện tượng trong tự nhiên, trongcuộc sống hàng ngày Các câu hỏi hóa học giải thích các hiện tượng trong tựnhiên và cuộc sống là phần không thể thiếu trong quá trình ôn tập bồi dưỡng đểnắm bắt tốt kiến thức hóa học vô cơ và cũng là một phần trong các đề thi đạihọc, đề thi HS giỏi tỉnh, HS giỏi quốc gia và quốc tế trong những năm gần đây.
Trên cơ sở đó chúng tôi chọn đề tài “Sưu tầm, xây dựng và sử dụng hệ thống
câu hỏi hoá học gắn với thực tiễn liên quan đến kiến thức chương oxi – lưu huỳnh và chương nitơ – photpho ở trường trung học phổ thông” nhằm góp
phần củng cố và nâng cao kiến thức hiểu biết về một số hiện tượng kì lạ, lý thú,những hiện tượng, sự vật kì bí đó dần tìm ra những lời giải đáp chính xác, đầysức thuyết phục cho HS
2 Mục tiêu của đề tài
Sưu tầm, xây dựng, phân loại và sử dụng hệ thống câu hỏi hoá học gắnvới thực tiễn liên quan đến kiến thức chương oxi – lưu huỳnh và chương nitơ –photpho ở trường trung học phổ thông giúp HS yêu thích và vận dụng kiến thứchóa học vào cuộc sống
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
- Các hiện tượng hóa học trong thực tiễn liên quan đến nội dung kiếnthức chương oxi – lưu huỳnh và chương nitơ – photpho ở trường THPT
- Cách vận dụng, lồng ghép việc giải thích các hiện tượng hóa học trongthực tiễn liên quan đến nội dung kiến thức chương oxi – lưu huỳnh và chươngnitơ – photpho ở trường THPT trong quá trình dạy học
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
Các nội dung kiến thức chương oxi – lưu huỳnh và chương nitơ –photpho có liên quan đến các hiện tượng hóa học trong thực tiễn
4 Phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
- Nghiên cứu về nội dung kiến thức cơ bản và nâng cao của oxi, lưuhuỳnh, nitơ, photpho và các hợp chất của chúng
- Nghiên cứu về bài tập, tác dụng và cách phân loại bài tập hóa học
- Nghiên cứu các hiện tượng hóa học trong thực tiễn liên quan đến kiếnthức chương oxi – lưu huỳnh và chương nitơ – photpho
Trang 4- Nghiên cứu cách vận dụng, lồng ghép việc giải thích các hiện tượng hóahọc trong thực tiễn liên quan đến kiến thức chương oxi – lưu huỳnh và chươngnitơ – photpho trong các tiết dạy ở trường THPT.
5 Đóng góp về mặt khoa học của đề tài.
- Tuyển chọn và xây dựng được một hệ thống câu hỏi hóa học gắn vớithực tiễn liên quan đến kiến thức chương oxi - lưu huỳnh và chương nitơ –
photpho, là định hướng ra đề của Bộ giáo dục trong các kì thi THPT quốc gia,
kỳ thi học sinh giỏi quốc gia hiện nay
- Đặc biệt, trong đề tài chúng tôi đã phân loại một cách có hệ thống cáccâu hỏi gắn với thực tiễn liên quan đến kiến thức chương oxi - lưu huỳnh vàchương nitơ – photpho ở trường THPT
- Đề xuất những biện pháp sử dụng hệ thống các câu hỏi gắn với thực tiễnliên quan đến kiến thức chương oxi - lưu huỳnh và chương nitơ - photpho trongdạy học hóa học ở trường THPT
Trang 5PHẦN 2: NỘI DUNGCHƯƠNG 1: CƠ SỞ THỰC TIỄN VÀ LÝ LUẬN.
1 CƠ SỞ THỰC TIỄN.
1.1 Thực trạng của việc sử dụng, lồng ghép các câu hỏi để giải thích một số hiện tượng hóa học trong thực tiễn liên quan đến nội dung kiến thức chương “oxi – lưu huỳnh” và chương “nitơ – photpho” trong quá trình dạy học ở trường THPT [13].
Chúng tôi xin cung cấp một số tư liệu từ nhiều nguồn và ở những thời điểmkhác nhau để chúng ta có một cái nhìn khách quan về thực trạng của việc dạy vàhọc ở một số trường THPT
Nguồn tư liệu trước đây: Tháng 12/2000 Vụ Trung học phổ thông tổchức hội nghị “Tập huấn phương pháp dạy học hóa học phổ thông” cho các SởGiáo dục & Đào tạo và đại diện GV dạy hóa học toàn quốc Ngoài những ưuđiểm đã đạt được, Vụ Trung học phổ thông có nhắc nhở một số tồn tại về phíathầy cô là:
Nhiều thầy cô còn lúng túng trong việc thực hiện đổi mới phương phápsoạn giảng Giáo án còn soạn theo 5 bước rời rạc, chưa thể hiện được sự liênquan thống nhất giữa các khâu trong tiến trình bài dạy Trong các bài soạn chưanêu rõ được yêu cầu cần đạt được về mặt kiến thức, tư tưởng, kĩ năng, tư duy.Các kĩ năng làm thí nghiệm, giải các bài toán, viết công thức, phương trình phảnứng ít được chú ý rèn luyện cho HS Thầy cô chưa tích cực suy nghĩ tạo ranhững cơ sở vật chất để nâng cao chất lượng giảng dạy Nhiều bài giảng còn cótính chất trừu tượng vì thiếu đồ dùng dạy học
Vụ trung học phổ thông cũng có nhận xét về việc học của HS là:
Kiến thức của HS còn hời hợt, thiếu vững chắc, chưa liên hệ với thực tếsinh động của sản xuất và đời sống Nhiều HS chưa nắm chắc các khái niệm hóahọc cơ bản, chưa hiểu được các hiện tượng hóa học thông thường xảy ra trongđời sống và sản xuất, HS chưa biết liên hệ với kiến thức đã học để giải thích HStiếp thu kiến thức ở lớp còn thụ động, ít suy nghĩ về bài học, thuộc bài một cáchmáy móc, nên còn lúng túng khi phải độc lập vận dụng kiến thức của mình Vềnhà HS học bài còn nặng về học thuộc lòng
Trong giảng dạy hóa học ở phổ thông, chủ yếu tập trung vào việc nắm kiếnthức hóa học mà hạn chế việc đánh giá kỹ năng tự học, kỹ năng làm việc khoahọc, kỹ năng thực hành…
Trang 6Về nội dung, còn ít các nội dung thực hành thí nghiệm, kiến thức gắn liềnvới thực tế cuộc sống, kỹ năng vận dụng kiến thức vào đời sống sản xuất Chưachú ý đánh giá năng lực thực hành, tổng hợp kiến thức, vận dụng kiến thức vàothực tiễn.
Năm học 2006 – 2007 áp dụng sách giáo khoa lớp 10 mới, có đưa thêm các
tư liệu về kiến thức thực tiễn nhưng là phần đọc thêm, không bắt buộc Nội dungchương trình còn khá nặng, cộng với đổi mới phương pháp dạy và học, kiểm tra
- đánh giá nên việc đưa thêm kiến thức hóa học gắn liền với cuộc sống còn hạnchế Đối với lớp 11, 12 vẫn học chương trình cũ nhưng bắt đầu áp dụng trắcnghiệm trong dạy học, kiểm tra nên thầy trò hầu như tập trung vào trắc nghiệm,các phương pháp giải toán một cách nhanh nhất Trong quá trình học, phần ứngdụng hầu như chỉ được GV nói đến một cách sơ sài hoặc GV để cho HS tự soạn
Nguồn tư liệu hiện nay: được thực hiện bằng phương pháp điều tra (kếtquả dựa trên 56 phiếu điều tra)
Bảng 1.1 Mức độ sử dụng BTHH gắn với thực tiễn trong dạy học của GV
Rất thườngxuyên
Thườngxuyên
Đôikhi
Không sửdụng
Bảng 1.2 Tình hình sử dụng dạng BTHH gắn với thực tiễn trong dạy học theo các mức độ nhận thức của HS.
Trang 7Rất thườngxuyên
Thườngxuyên
Đôikhi
Khôngsử dụngYêu cầu HS tái hiện kiến thức để trả
Yêu cầu HS vận dụng kiến thức để giải
thích được các sự kiện, hiện tượng của
câu hỏi lí thuyết
Yêu cầu HS vận dụng kiến thức hoá
học để giải thích những tình huống xảy
ra trong thực tiễn
Yêu cầu HS vận dụng kiến thức, kĩ
năng hoá học để giải quyết những tình
huống thực tiễn hoặc để nghiên cứu
khoa học nhỏ, đơn giản, đề ra kế hoạch
hành động cụ thể, viết báo cáo
*Nhận xét:
Đa số các GV đều có sử dụng BTHH gắn với thực tiễn trong dạy học,nhưng việc đưa dạng bài tập này vào trong dạy học chưa thường xuyên, tậptrung chủ yếu các hoạt động ngoại khóa
- Dạng bài tập đưa vào chủ yếu ở mức độ tái hiện kiến thức và vận dụngkiến thức để giải thích được các sự kiện, hiện tượng của câu hỏi lí thuyết (mức
độ 1 và 2) còn ở mức độ cao hơn thì ít sử dụng
- Các thầy cô giáo có đưa ra những lí do vì sao ít hoặc không sử dụng
BTHH gắn với thực tiễn trong dạy học hóa học Đó là:
+ Không có nhiều tài liệu : 13/56 chiếm 23,21%
+ Mất nhiều thời gian tìm kiếm tài liệu: 12/56 chiếm 21,43%
+ Trong các kì kiểm tra, kì thi không yêu cầu có nhiều câu hỏi có nội
Trang 8Mất nhiều thời gian, nếu HS chỉ làm dạng bài tập này thì không còn nhiều thời gian cho các dạng khác.
có nội dung thuần túy hóa học để có thể đáp ứng được yêu cầu của bài kiểm tra
- Thời gian dành cho tiết học không nhiều do đó GV không có cơ hội đưanhững kiến thức thực tế vào bài học
- Năng lực vận dụng kiến thức hoá học để giải thích những tình huống xảy
số hiện tượng hóa học trong thực tiễn liên quan đến nội dung bài học chưa đượcquan tâm đúng mức
1.2 Phân tích, đánh giá cấu trúc và nội dung hệ thống bài tập trong sách hóa học ở trường THPT
- Ưu điểm: Cấu trúc và hệ thống bài tập trong sách giáo khoa đã đảm bảo
tính hệ thống, tính khoa học, tính logic, tính chính xác và đầy đủ về nội dungkiến thức
2 TỔNG QUAN VỀ BÀI TẬP HÓA HỌC [10].
2.1 Khái niệm về bài tập hóa học.
Trang 9Bài tập hoá học là nhiệm vụ học tập mà GV đặt ra cho người học, buộc
người học phải vận dụng các kiến thức đã biết hoặc các kinh nghiệm thực tiễn,sử dụng các hành động trí tuệ hay hành động thực tiễn để giải quyết các nhiệm
vụ đó nhằm chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng một cách tích cực, hứng thú và sáng tạo
2.2 Vị trí của bài tập hóa học trong dạy học hóa học.
Trong quá trình dạy học hóa học ở trường phổ thông không thể thiếu bàitập hóa học Bài tập hóa học có một vị trí rất quan trọng, giữ một vai trò lớntrong việc thực hiện mục tiêu đào tạo
Bài tập hóa học được coi là một trong những phương pháp quan trọngnhất để nâng cao chất lượng khâu hoàn thiện kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo Nó vừa
là mục đích, vừa là nội dung, lại vừa là phương pháp dạy học hiệu nghiệm Nócung cấp cho HS kiến thức, con đường giành lấy kiến thức và cả hứng thú, say
mê nhận thức
Bài tập hóa học là một phương tiện có tầm quan trọng đặc biệt trong việcphát triển tư duy hóa học của HS Trong thực tiễn dạy học, tư duy hóa học đượchiểu là kỹ năng quan sát hiện tượng hóa học, phân tích một hiện tượng phức tạpthành những bộ phận thành phần, xác lập mối liên hệ định lượng và định tínhcủa các hiện tượng, đoán trước hệ quả lý thuyết và áp dụng kiến thức của mình.Trước khi giải bài tập, HS phải phân tích điều kiện của đề bài, tự xây dựng cáclập luận, thực hiện việc tính toán, khi cần thiết có thể tiến hành thí nghiệm, thựchiện phép đo Trong những điều kiện đó, tư duy logic, tư duy sáng tạo của HSđược phát triển, năng lực giải quyết vấn đề được nâng cao
Phát triển ở HS năng lực tư duy logic, biện chứng, khái quát, độc lậpthông minh và sáng tạo Cao hơn mức rèn luyện thông thường, HS phải biết vậndụng một cách linh hoạt sáng tạo để giải quyết bài tập trong những tình huốngmới, hoàn cảnh mới, biết đề xuất đánh giá theo ý kiến riêng của bản thân, biết đềxuất các giải pháp khác nhau khi phải xử lý một tình huống Thông qua đó, bàitập hóa học giúp phát hiện năng lực sáng tạo của HS để đánh giá, đồng thời pháthuy được năng lực sáng tạo cho bản thân
Trong quá trình dạy học, khâu kiểm tra, đánh giá và tự kiểm tra, đánh giáviệc nắm vững kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của HS có một ý nghĩa quan trọng.Một trong những biện pháp để kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS đó làlàm bài tập Thông qua việc giải bài tập của HS, GV biết được hiệu quả của việcsử dụng phương pháp cũng như đặc điểm nhận thức của từng HS để từ đó có kế
Trang 10hoạch, chiến lược cụ thể cũng như sự điều chỉnh về mặt phương pháp dạy họcsao cho hiệu quả dạy học đạt kết quả tốt.
Thực tế giảng dạy ở trường phổ thông cho thấy, bài tập hóa học đáp ứngyêu cầu là một công cụ dạy học có hiệu quả Nó có thể tham gia vào các giaiđoạn của các quá trình dạy học: Đặt vấn đề, giải quyết vấn đề, nghiên cứu tàiliệu mới, ôn tập củng cố, vận dụng kiến thức,
Bài tập hóa học là một hình thức củng cố, ôn tập hệ thống kiến thức mộtcách sinh động và hiệu quả Khi giải bài tập hóa học, HS phải nhớ lại kiến thức
đã học, phải đào sâu một khía cạch nào đó của kiến thức hoặc phải tổ hợp, huyđộng kiến thức để có thể giải quyết được yêu cầu của bài tập Tất cả các thao tác
tư duy đó đã góp phần củng cố, khắc sâu, mở rộng kiến thức cho HS
Bài tập hóa học là phương tiện nghiên cứu tài liệu mới khi trang bị kiếnthức cho HS nhằm đảm bảo cho HS lĩnh hội được kiến thức một cách sâu sắc vàvững chắc Việc nghiên cứu một kiến thức mới thường bắt đầu bằng việc nêuvấn đề Mỗi vấn đề xuất hiện khi nghiên cứu tài liệu mới cũng là một bài tập đốivới HS Giáo viên xây dựng các vấn đề dạy học bằng bài tập không những kíchthích được hứng thú cao cho HS đối với kiến thức mới sắp được học mà còncủng cố kiến thức đã có và xây dựng được mối liên quan giữa kiến thức cũ vàmới
2.3 Phân loại bài tập hóa học
Trên thực tế, khó có thể có được một tiêu chuẩn thống nhất nào về vấn đềphân loại bài tập hóa học Nói cách khác sự phân loại bài tập hóa học bao giờcũng mang tính tương đối Vì trong bất kỳ loại bài tập nào cũng chứa đựng mộtvài yếu tố của một hay nhiều loại khác Tuy nhiên, người ta có thể căn cứ vàonhững đặc điểm, dấu hiệu cơ bản để phân loại
- Dựa vào mức độ kiến thức:
+ Bài tập cơ bản
+ Bài tập nâng cao
- Dựa vào hình thái hoạt động của HS khi giải bài tập:
+ Bài tập lý thuyết
+ Bài tập thực nghiệm
- Dựa vào mục đích dạy học:
+ Bài tập ôn tập
+ Bài tập lý thuyết
+ Bài tập kiểm tra
Trang 11- Dựa vào cách HS trình bày lời giải của mình:
+ Bài tập trắc nghiệm tự luận
+ Bài tập trắc nghiệm khách quan
- Dựa vào tính chất của bài tập:
+ Bài tập định tính
+ Bài tập định lượng
- Dựa vào mức độ nhận thức của HS:
+ Bài tập ở mức độ tái hiện kiến thức
+ Bài tập ở mức độ hiểu
+ Bài tập ở mức độ vận dụng
+ Bài tập ở mức độ sáng tạo.
3 TỔNG QUAN VỀ BÀI TẬP HÓA HỌC GẮN VỚI THỰC TIỄN.
3.1 Khái niệm và phân loại về bài tập hóa học gắn với thực tiễn[12].
3.1.1 Khái niệm về bài tập hóa học gắn với thực tiễn
Bài tập hóa học gắn với thực tiễn là những bài tập hóa học có nội dung
(những điều kiện và yêu cầu) xuất phát từ thực tiễn Quan trọng nhất là các bàitập hóa học vận dụng kiến thức vào cuộc sống và sản xuất, góp phần giải quyếtmột số vấn đề đặt ra từ thực tiễn
3.1.2 Phân loại bài tập hóa học gắn với thực tiễn.
Giống như bài tập hoá học, bài tập hóa học gắn với thực tiễn cũng có nhiều
cơ sở để phân loại và với mỗi cơ sở đó người ta lại phân bài tập hoá học thànhnhững loại khác nhau Cụ thể như:
Dựa vào hình thái hoạt động của HS khi giải bài tập, có thể chia
thành:
+ Bài tập lý thuyết
+ Bài tập thực nghiệm
Dựa vào tính chất của bài tập, có thể chia thành:
+ Bài tập định tính: Bao gồm các bài tập về giải thích các hiện tượng, cáctình huống nảy sinh trong thực tiễn; lựa chọn hoá chất cần dùng cho phù hợp vớitình huống thực tiễn, nhận biết, tinh chế, đề ra phương hướng để cải tạo thựctiễn,…
+ Bài tập định lượng: Bao gồm dạng bài tập về tính lượng hoá chất cầndùng, pha chế dung dịch,…
+ Bài tập tổng hợp: Bao gồm cả kiến thức định tính lẫn định lượng
Trang 12 Dựa vào lĩnh vực thực tiễn được gắn với nội dung bài tập, có thể
chia thành :
+ Bài tập về sản xuất hoá học
+ Bài tập về các vấn đề trong đời sống, học tập và lao động sản xuất Baogồm các dạng bài tập về: Giải quyết các tình huống có vấn đề trong quá trìnhlàm thực hành, thí nghiệm như: Sử dụng dụng cụ thí nghiệm, sử dụng hoá chấthợp lí, xử lí tai nạn xảy ra, phòng chống độc hại, ô nhiễm trong khi làm thínghiệm…; Sử dụng và bảo quản các hoá chất, sản phẩm hoá học trong ăn uống,chữa bệnh, giặt giũ, tẩy rửa…
+ Bài tập có liên quan đến môi trường và vấn đề bảo vệ môi trường
Dựa vào mức độ nhận thức của HS Căn cứ vào chất lượng của quá
trình lĩnh hội và kết quả học tập, GS Nguyễn Ngọc Quang đã đưa ra 4 trình độlĩnh hội (4 mức độ) như sau:
+ Mức 1: Chỉ yêu cầu học sinh tái hiện kiến thức để trả lời câu hỏi líthuyết
+ Mức 2: Yêu cầu học sinh vận dụng kiến thức để giải thích được các sựkiện, hiện tượng của câu hỏi lí thuyết
+ Mức 3: Yêu cầu học sinh vận dụng kiến thức hoá học để giải thíchnhững tình huống xảy ra trong thực tiễn
+ Mức 4: Yêu cầu học sinh vận dụng kiến thức, kĩ năng hoá học để giảiquyết những tình huống thực tiễn hoặc để thực hiện một công trình nghiên cứukhoa học nhỏ, đơn giản, đề ra kế hoạch hành động cụ thể, viết báo cáo
Từng mức độ trên có thể được chia làm nhiều mức độ nhỏ hơn nữa để phùhợp với trình độ của HS đồng thời cũng thể hiện sự phân hoá HS trong cùng mộtbài, trong hệ thống bài tập hóa học gắn với thực tiễn
Trên đây là một số cách phân loại bài tập hóa học gắn với thực tiễn Tuynhiên, có nhiều bài tập hóa học gắn với thực tiễn lại là tổng hợp của rất nhiềuloại bài
3.2 Vai trò, chức năng của bài tập hóa học gắn với thực tiễn[12].
Trang 13sống xung quanh, ngành sản xuất hóa học, những vấn đề mang tính thời sự trongnước và quốc tế
3.2.2 Về kỹ năng:
- Rèn luyện và phát triển cho HS năng lực nhận thức, năng lực thích ứng,năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề, năng lực hợp tác và làm việc theonhóm
- Rèn luyện và phát triển các kỹ năng học tập như: kỹ năng thu thập thôngtin, vận dụng kiến thức để giải quyết các tình huống có vấn đề một cách linhhoạt, sáng tạo
- Rèn luyện các kỹ năng thực hành hóa học
- Bồi dưỡng và phát triển các thao tác tư duy như: quan sát, so sánh, phântích, suy đoán, tổng hợp,
3.2.3 Về giáo dục tư tưởng:
- Rèn cho HS tính kiên nhẫn, tự giác, chủ động, chính xác, sáng tạo tronghọc tập và quá trình giải quyết các vấn đề thực tiễn
- Thông qua nội dung các bài tập thực tiễn kích thích cho HS tính tích cực,trí tò mò, óc quan sát, sự hiểu biết, làm tăng hứng thú học tập môn hóa học Từ
đó tạo cho HS lòng say mê nghiên cứu khoa học và công nghệ giúp HS có địnhhướng nghề nghiệp trong tương lai
3.2.4 Về giáo dục kỹ thuật tổng hợp:
Bài tập hóa học gắn với thực tiễn còn cung cấp cho HS những số liệu lýthú của kỹ thuật, những số liệu mới về phát minh, về năng suất lao động, giúp
HS hòa nhập với sự phát triển của khoa học, kỹ thuật thời đại mình đang sống
3.3 Phân loại hệ thống câu hỏi hóa học gắn với thực tiễn liên quan đến kiến thức chương “oxi – lưu huỳnh” và chương “nitơ – photpho” ở trường THPT
3.3.1 Câu hỏi hóa học gắn với thực tiễn cuộc sống hàng ngày.
VD: Nitơ (N2) có thể phản ứng với nhiều kim loại nhưng tại sao trong vỏ Tráiđất, chúng ta lại không gặp hợp chất nitrua của kim loại?
- Hướng dẫn trả lời:
Nitơ là phi kim khá hoạt động, nhưng liên kết giữa 2 nguyên tử nitơ trongphân tử N2 là liên kết ba rất bền vững (N N ) Nên N2 phản ứng với nhiều kimloại tạo thành nitrua kim loại nhưng cần có nhiệt độ tương đối cao, trong điềukiện tự nhiên thì khó xảy ra phản ứng Mặt khác, nếu có phản ứng xảy ra thì sản
Trang 14phẩm tạo thành là nitrua kim loại dễ dàng tham gia phản ứng thủy phân với H2O
có trong môi trường tạo thành amoniac (NH3) và các hidroxit (M(OH)n) Do đóchúng ta không gặp hợp chất nitrua của kim loại trong vỏ Trái Đất
3.3.2 Câu hỏi hóa học gắn với thực tiễn nông nghiệp.
VD: Trong nông nghiệp, người ta có thể bón phân đạm amoni cùng với vôi bột
để khử chua cho đất được không? Tại sao?
Như vậy, vôi bột bón cho đất trong trường hợp này không còn tác dụng
bay đi Cho nên ta không thể bón đạm amoni cùng với vôi bột để khử chua chođất Muốn khử chua cho đất ta phải bón vôi bột trước, sau đó mới bón đạmamoni
3.3.3 Câu hỏi hóa học gắn với thực tiễn công nghiệp.
VD: Trong qúa trình sản xuất axit H2SO4, có một giai đoạn rất quan trọng là tinhchế hỗn hợp khí SO2 trước khi đem SO2 oxi hóa thành SO3 Điểm đặc biệt trongquá trình tinh chế này là việc tách “mù” axit H2SO4 Tại sao đang sản xuất axit
H2SO4 mà lại phải tách “mù” axit H2SO4?
- Hướng dẫn trả lời:
Mặc dù đang sản xuất axit H2SO4 nhưng trong giai đoạn tinh chế hỗn hợpkhí SO2 người ta lại phải tách “mù” axit H2SO4 Vì: “mù” axit H2SO4 tồn tại ởdạng giọt rất nhỏ không thể ngưng tụ thành giọt lớn tạo ra chất lỏng để theođường ống chảy vào nơi thu hồi được mà chúng bám vào các đường ống, ănmòn đường ống sau đó bay theo khí thải ra ngoài gây ô nhiễm môi trường, đồngthời làm hỏng chất xúc tác V2O5 của giai đoạn oxi hóa SO2 thành SO3 ngay sauđó
3.3.4 Câu hỏi hóa học gắn với thực tiễn khác
Trang 15VD: P trắng có độc tính rất cao, với 50 mg là liều lượng trung bình gây chết
người P trắng rất dễ bốc cháy P trắng được bảo quản bằng cách:
A Ngâm trong nước
B Ngâm trong canxi cacbua
C Đựng trong lọ thủy tinh sẫm mầu
D Ngâm trong ete
- Đáp án: A.
Trang 16CHƯƠNG 2: SƯU TẦM, XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG CÂU HỎI HOÁ HỌC GẮN VỚI THỰC TIỄN LIÊN QUAN ĐẾN KIẾN THỨC CHƯƠNG “OXI – LƯU HUỲNH” VÀ CHƯƠNG “NITƠ – PHOTPHO”
Oxi là nguyên tố phi kim có tính oxi hóa mạnh
a Tác dụng với nhiều kim loại (trừ Au, Pt, Ag): VD: 0
b Trong công nghiệp:
* Từ không khí: Chưng cất phân đoạn không khí lỏng
II Ozon (O 3 ).
II.1 Tính chất hóa học: O3 có tính oxi hóa rất mạnh, mạnh hơn O2
a Tác dụng với kim loại: tác dụng cả với kim loại Ag mà O2 không phản ứng
2Ag + O3 Ag2O + O2
b Tác dụng với dung dịch KI mà O 2 không phản ứng
O3 + 2KI + H2O 2KOH + O2 + I2
Trang 17(I2 làm hồ tinh bột chuyển thành màu xanh tím, nên phản ứng trên được dùng đểnhận biết O3).
II.2 Ứng dụng: O3 được dùng để làm sạch không khí, khử trùng y tế, tẩytrắng trong công nghiệp và bảo vệ sinh quyển khỏi bị ảnh hưởng của tia cực tímtừ Mặt trời chiếu xuống Trái đất
II.3 O 3 trong tự nhiên:
O3 được tạo thành từ khí O2 do sự phóng điện trong cơn giông
hv1
hoặc trong khí thải công nghiệp thì O3 lại bị phân hủy: hv2
I.3 Ứng dụng: 90% lượng S dùng điều chế H2SO4, còn lại để lưu hóa cao
su, sản xuất chất tẩy trắng bột giấy, dược phẩm, phẩm nhuộm, thuốc trừ sâu vàchất diệt nấm …
II.1 Tính chất vật lý: Ở điều kiện thường, hidrosunfua là chất khí, có mùi
trứng thối, rất độc, nặng hơn không khí và ít tan trong nước
II.2 Tính chất hóa học:
Trang 18a Tính axit yếu: Dung dịch axit sunfuhidric là axit rất yếu, 2 nấc, nên mang đầy
II.3 Trạng thái tự nhiên và điều chế:
- H2S có ở khí ga, xác chết của người và động thực vật, nước thải nhà máy, núilửa hoạt động,
- Điều chế: FeS + 2HCl → FeCl2 + H2S
III Lưu huỳnh đioxit (SO 2 )
III.1 Tính chất vật lý: Ở điều kiện thường, lưu huỳnh đioxit là chất khí
không màu, mùi hắc, rất độc, nặng hơn 2 lần không khí và tan nhiều trong nước
III.2 Tính chất hóa học:
a Lưu huỳnh đioxit là oxit axit: VD: SO2 + H2O H2SO3
b Lưu huỳnh đioxit vừa có tính khử, vừa có tính oxi hóa.
VD: S O4 2 Br0 22H O2 2H Br H S O1 26 4VD: S O4 2 2H S22 3S0 2H O2
III.3 Ứng dụng và điều chế:
a Trong phòng thí nghiệm: Na2SO3 + H2SO4 → Na2SO4 + SO2 + H2O
b Trong công nghiệp: S + O2 t0 SO2
hoặc: 4FeS2 + 11O2 t0 2Fe2O3 + 8SO2
IV Lưu huỳnh trioxit (SO 3 ).
IV.1 Tính chất hóa học:
a Lưu huỳnh trioxit là oxit axit: SO3 + 2NaOH → Na2SO4 + H2O
b Lưu huỳnh trioxit là chất oxi hoá mạnh.
IV.2 Ứng dụng và điều chế.
Trang 19Dung dịch axit H2SO4 làm quỳ tím hoá đỏ, tác dụng với kim loại đứngtrước hidro, với bazơ, oxit bazơ, với dung dịch muối của axit yếu hơn.
b Tính chất của dung dịch axit H 2 SO 4 đặc:
a Sản xuất SO 2 : từ S hoặc quặng pirit sắt S + O2 t0 SO2
4FeS2 + 11O2 t0 2Fe2O3 + 8SO2
VI Muối sunfat (SO 4 2- ).
Nhận biết ion sunfat: Dùng dung dịch chứa ion Ba2+:
2
4
SO + Ba2+ → BaSO4↓trắng
(Kết tủa BaSO4 không tan trong cả axit mạnh và kiềm)
1.2 Sơ lược kiến thức cơ bản về nitơ – photpho và hợp chất quan trọng của chúng.
1.2.1 Nitơ và hợp chất quan trọng của nitơ
Trang 20I.2 Ứng dụng và trạng thái tự nhiên:
- N2 dùng để sản xuất axit HNO3, phân đạm, làm môi trường trơ N2 lỏngdùng để bảo quản máu và các mẫu vật sinh học khác
- Trong tự nhiên nitơ tồn tại ở cả dạng tự do và hợp chất Đơn chất N2 tậptrung chủ yếu trong không khí (chiếm 78,16% thể tích của không khí)
Trang 21IV Axit nitric (HNO 3 ).
IV.1 Tính chất vật lý: Axit HNO3 là chất lỏng không màu, bốc khóimạnh trong không khí ẩm, tan vô hạn trong nước và kém bền, dễ bị phân hủy tạo
IV.3 Ứng dụng và sản xuất:
Axit HNO3 dùng để sản xuất phân đạm, thuốc nổ, dược phẩm,
a Trong phòng thí nghiệm: NaNO3(rắn)+ H2SO4đ
o
t
b Trong công nghiệp: Sản xuất HNO3 từ NH3 và không khí:
* Giai đoạn 1: Oxi hoá khí NH3 bằng O2 của không khí tạo thành NO:
850 900 C,Pt 0
* Giai đoạn 2: 2NO + O2 2NO2
* Giai đoạn 3: 4NO2 + O2 + 2H2O 4HNO3
độ axit HNO3 cao hơn người ta chưng cất với axit H2SO4 đậm đặc
V Muối nitrat (NO 3 - ).
V.1 Tính chất lý, hóa:
- Các muối nitrat đều tan tốt trong nước và kém bền bởi nhiệt
- Muối nitrat của ion kim loại đứng trước Magiê bị phân hủy thành muối nitrit
Trang 22- Muối nitrat của ion kim loại từ Magiê đến đồng bị phân hủy thành oxit tương
Sau đó: 2NO + O2 2NO2 nâu
1.2.2 Photpho và hợp chất quan trọng của photpho.
I Photpho (P).
I.1 Tính chất vật lý:
Tính độc, tính
bền
Rất độc, gây bỏng nặng khi rơi vào
da, dễ bốc cháy trong không khí
I.3 Ứng dụng: P dùng để sản xuất axit H3PO4, diêm, bom, đạn cháy,
I.4 Điều chế: Nung hỗn hợp quặng photphorit (apatit), than cốc, cát.
Ca3(PO4)2 + 3 SiO2 + 5C t o
5 CO + 2 Phơi + 3 CaSiO3
II Axit photphoric (H 3 PO 4 ).
II.1 Tính chất hóa học: Axit H3PO4 là axit yếu 3 nấc nên mang đầy đủ
tính chất chung của axit và có thể tạo ra 3 loại muối
II.2 Ứng dụng và sản xuất:
Sản xuất axit photphoric từ quặng photphorit hoặc apatit:
Ca3(PO4)2 + 3 H2SO4 đặc 2H3PO4 + 3CaSO4
III Muối photphat.
Trang 23III.1 Tính chất vật lý: Muối trung hoà và muối axit của ion kim loại
natri, kali và muối đihiđrophotphat của các kim loại đều tan, còn lại đều khôngtan hoặc ít tan
III.2 Nhận biết ion photphat: Dùng dung dịch AgNO3
I.2 Tác dụng: Phân đạm kích thích quá trình sinh trưởng, làm tăng tỉ lệ
protein thực vật, giúp cây trồng phát triển nhanh, cho nhiều hạt, củ, quả
I.3 Độ dinh dưỡng của phân đạm: Đánh giá theo tỉ lệ % N về khối
NaNO3; Ca(NO3)2; (NH2)2CO
axit tương ứng
Axit nitric tác dụngvới muối cacbonat
CO2 tác dụngvới NH3
Dạng ion mà cây
trồng đồng hoá
II Phân lân:
II.1 Khái niệm: Phân lân cung cấp photpho cho cây dưới dạng ion PO4 3-
II.2 Tác dụng: Phân lân thúc đẩy quá trình sinh hoá, trao đổi chất và
năng lượng của cây
II.3 Độ dinh dưỡng của phân lân: Đánh giá theo tỉ lệ % P2O5 về khốilượng
Thành phần
hoá học và
%P2O5
Ca(H2PO4)2 và CaSO4
14-20%
Ca(H2PO4)2 40-50%
Hỗn hợp phatphat
và silicat của canxi, magiê 12-14%
2H2SO4đ
Ca(H2PO4)2 + CaSO4
Trang 24Dạng ion mà
cây đồng hoá
2-III Phân kali:
III.1 Khái niệm: Phân kali cung cấp kali dưới dạng ion K+
III.2 Tác dụng: Phân kali tăng cường tạo ra đường, bột, xơ, dầu làm tăng
khả năng chống rét, chống bệnh và chịu hạn cho cây
III.3 Độ dinh dưỡng của phân kali: Đánh giá theo tỉ lệ % K2O về khốilượng
IV Phân hỗn hợp và phân phức hợp:
- Phân hỗn hợp chứa nitơ, photpho, kali gọi chung là phân NPK
2.1 Nguyên tắc lựa chọn câu hỏi hóa học gắn với thực tiễn.
- Câu hỏi hóa học gắn với thực tiễn phải phù hợp với mục tiêu và nội dunghọc tập
- Nội dung câu hỏi hóa học gắn với thực tiễn phải đảm bảo tính chính xác,tính khoa học và tính hiện đại
- Câu hỏi hóa học gắn với thực tiễn phải gần gũi với kinh nghiệm của HS.Nếu câu hỏi hóa học gắn với thực tiễn có nội dung gần gũi với kinh nghiệm, vớiđời sống và môi trường xung quanh thì sẽ tạo cho HS động cơ và hứng thú mạnhmẽ khi trả lời câu hỏi
- Câu hỏi hóa học gắn với thực tiễn phải đảm bảo tính logic, tính sư phạm
và tính hệ thống
2.2 Cách lựa chọn câu hỏi hóa học gắn với thực tiễn.
Khi lựa chọn câu hỏi hóa học gắn với thực tiễn GV cần lưu ý thực hiệntheo các bước sau:
* Bước 1:
+ Phân tích mục tiêu của chương, bài để định hướng lựa chọn câu hỏi
Trang 25+ Nghiên cứu kỹ nội dung sách giáo khoa, tài liệu tham khảo về kiến thức,
kỹ năng hóa học và các ứng dụng hóa học của các chất trong thực tiễn, tìm hiểucác công nghệ, nhà máy sản xuất có liên quan đến nội dung của bài
+ Nghiên cứu đặc điểm trình độ nhận thức, kinh nghiệm sống của HS đểlựa chọn câu hỏi hóa học gắn với thực tiễn cho phù hợp, tạo hứng thú cho HSkhi trả lời các câu hỏi thực tiễn đó
* Bước 3: Dự kiến thời điểm và phương pháp sử dụng câu hỏi này để đạt hiệu
quả cao nhất
* Bước 4: Chỉnh lý, hoàn thiện câu hỏi hóa học gắn với thực tiễn.
VD: Tại sao trong quá trình sản xuất axit H2SO4, người ta không dùng H2O màphải dùng dung dịch oleum để hấp thụ SO3? Để có dung dịch axit H2SO4 loãngngười ta phải làm thế nào?
- Dự kiến cách trả lời:
+ Trong quá trình sản xuất axit H2SO4 người ta không dùng trực tiếp H2O
mà dùng dung dịch oleum (dung dịch H2SO4 đặc có hòa tan SO3) để hấp thụ
SO3 Vì: nếu dùng H2O để hấp thụ SO3 ở nhiệt độ cao sẽ tạo ra “mù” axit H2SO4
(là những giọt axit H2SO4 rất nhỏ không thể ngưng tụ thành giọt lớn tạo ra chấtlỏng) Do đó “mù” axit H2SO4 sẽ theo dòng khí bay ra ngoài môi trường vừa làm
ô nhiễm môi trường, ăn mòn đường ống, vừa gây tổn thất axit H2SO4
SO3 (hơi) + H2O (hơi) H2SO4 (hơi, gọi là “mù” axit)
n SO3 + H2SO4 H2SO4.n SO3
+ Để có dung dịch axit H2SO4 loãng người ta lấy dung dịch oleum thuđược ở trên pha loãng bằng H2O
H2SO4.n SO3 + n H2O (n+1) H2SO4
- Dự kiến những sai lầm của HS:
+ HS có thể khó hiểu khái niệm “dung dịch oleum” và “mù” axit H2SO4
nên GV phải giải thích
+ HS viết được PTHH nhưng giải thích có thể không mạch lạc
Trang 26GV cần hướng dẫn cho HS biết cách trình bày ý nghĩ, cách lập luận vấn đề củamình một cách có khoa học.
+ Câu hỏi này nên sử dụng trong giờ củng cố, hoàn thiện, vận dụng kiếnthức, kỹ năng, kỹ xảo
3 MỘT SỐ NGUYÊN TẮC KHI XÂY DỰNG CÂU HỎI HÓA HỌC GẮN VỚI THỰC TIỄN[12].
3.1 Câu hỏi hóa học gắn với thực tiễn phải đảm bảo tính chính xác, tính
khoa học và tính hiện đại.
Trong một câu hỏi hóa học gắn với thực tiễn, bên cạnh nội dung hoá học
nó còn có những dữ liệu thực tiễn Khi xây dựng câu hỏi hóa học gắn với thựctiễn GV không thể tuỳ tiện thay đổi dữ liệu thực tiễn này Vì nếu thay đổi dữliệu thực tiễn đó sẽ làm cho câu hỏi phi thực tế, không đảm bảo tính chính xác,tính khoa học
Trong một số câu hỏi về sản xuất hoá học nên đưa vào các dây chuyềncông nghệ đang được sử dụng ở Việt Nam hoặc trên Thế giới, không nên đưacác công nghệ đã quá cũ và lạc hậu hiện không dùng hoặc ít dùng
3.2 Câu hỏi hóa học gắn với thực tiễn phải gần gũi với kinh nghiệm của học sinh.
Những vấn đề thực tiễn liên quan đến kiến thức hoá học có rất nhiều và rấtrộng Nếu câu hỏi hóa học gắn với thực tiễn có nội dung về những vấn đề gầngũi với kinh nghiệm, với đời sống và môi trường xung quanh HS thì sẽ tạo chocác em động cơ và hứng thú mạnh mẽ khi giải
HS vận dụng kinh nghiệm có được trong đời sống và kiến thức hoá học đãđược học trong nhà trường phổ thông để đưa ra câu trả lời của mình HS sẽ có sựháo hức chờ đợi thầy cô đưa ra đáp án đúng để khẳng định mình Trong trườnghợp này sẽ có một số khả năng xảy ra như sau:
- HS phân tích và giải thích đúng Đây sẽ là niềm vui rất lớn đối với HS
vì kinh nghiệm của mình là đúng theo khoa học hoá học
- HS phân tích và giải thích gần đúng hoặc đúng một phần nào đó Khi
đó HS sẽ cảm thấy tiếc nuối vì bản thân đã gần tìm ra câu trả lời đúng, từ đó
HS sẽ có động lực để quan sát thực tiễn và vận dụng kiến thức hoá học mộtcách linh hoạt hơn để giải thích các tình huống thực tiễn hoặc thay đổi việc làm
Trang 27theo thói quen chưa đúng khoa học của bản thân.
3.3 Câu hỏi hóa học gắn với thực tiễn phải dựa vào nội dung học tập.
Các câu hỏi hóa học gắn với thực tiễn cần có nội dung sát với chươngtrình mà HS được học Nếu câu hỏi hóa học gắn với thực tiễn có nội dung hoàntoàn mới về kiến thức hoá học thì sẽ không tạo được động lực cho HS để giảibài tập đó
3.4 Câu hỏi hóa học gắn với thực tiễn phải đảm bảo logic sư phạm.
Các tình huống thực tiễn thường phức tạp hơn những kiến thức hoá họcphổ thông trong chương trình, nên khi xây dựng câu hỏi hóa học gắn với thựctiễn cho HS phổ thông cần phải có bước xử lý sư phạm để làm đơn giản tìnhhuống thực tiễn Các yêu cầu giải câu hỏi hóa học gắn với thực tiễn cũng phảiphù hợp với trình độ, khả năng của HS Cụ thể:
- Với HS yếu hoặc trung bình nên sử dụng câu hỏi mức độ biết và hiểu(dựa trên mức độ nhận thức của HS)
- Với HS khá hoặc giỏi nên sử dụng câu hỏi mức độ vận dụng thấp và vậndụng cao
- Khi kiểm tra - đánh giá cần sử dụng các loại câu hỏi hóa học gắn vớithực tiễn ở các mức độ: biết, hiểu, vận dụng thấp để tạo điều kiện cho tất cả các
HS đều có thể trả lời được câu hỏi kiểm tra
3.5 Câu hỏi hóa học gắn với thực tiễn phải có tính hệ thống, logic.
Các câu hỏi hóa học gắn với thực tiễn trong chương trình cần phải sắp xếptheo chương, bài, theo mức độ phát triển của HS Trong mỗi chương, bài nên cótất cả các loại, dạng câu hỏi hóa học gắn với thực tiễn
Trong quá trình dạy học, thông qua kiểm tra, đánh giá, cần phải xây dựngnhững câu hỏi hóa học gắn với thực tiễn ở mức độ vừa và cao hơn một chút sovới mức độ nhận thức của HS để nâng dần trình độ, khả năng nhận thức của HS
4 CÁCH SỬ DỤNG CÂU HỎI HÓA HỌC GẮN VỚI THỰC TIỄN TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC Ở TRƯỜNG THPT [11].
Trong dạy học hoá học ở phổ thông, dựa vào mục đích lí luận dạy học,người ta phân thành 3 kiểu bài lên lớp:
- Nghiên cứu tài liệu mới
Trang 28- Củng cố, hoàn thiện, vận dụng kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo.
- Kiểm tra, đánh giá kiến thức
Ngoài ra, GV có thể tổ chức cho HS những buổi hoạt động ngoại khóanhằm tạo điều kiện cho mỗi HS có thể mở rộng, đào sâu kiến thức của môn học,phát triển những hứng thú, năng lực cá nhân
4.1 Sử dụng câu hỏi hóa học gắn với thực tiễn khi nghiên cứu tài liệu mới.
Câu hỏi hóa học gắn với thực tiễn được sử dụng trong nghiên cứu tài liệu
mới thường là những câu hỏi sử dụng các tình huống có vấn đề Với những kiếnthức đã có, người học thường chưa giải được hoặc mới chỉ giải được một phầncủa câu hỏi
Tuy nhiên, khi sử dụng GV cần chọn lựa một số câu hỏi hóa học gắn vớithực tiễn chủ yếu ở mức biết và hiểu và có nội dung gần gũi với kinh nghiệmsống của HS thì sẽ đem lại hiệu quả cao hơn
VD: Sau khi dạy xong phần “trạng thái tự nhiên của oxi” trong bài “oxi – ozon”,
giáo viên có thể đưa câu hỏi: “Vì sao ban đêm không nên để nhiều cây xanh
Qua đó HS có ý thức gắn kết những hiểu biết về khoa học hóa học với các
sự vật, hiện tượng trong đời sống hàng ngày
4.2 Sử dụng câu hỏi hóa học gắn với thực tiễn trong giờ củng cố, hoàn thiện, vận dụng kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo
Đối với tiết nghiên cứu tài liệu mới, kiến thức và kĩ năng mới được hìnhthành sẽ chưa vững chắc nếu không được củng cố, hoàn thiện ngay Việc củng
cố bằng cách nhắc đi nhắc lại nhiều lần một khái niệm, một tính chất cho đếnnay không được coi là củng cố có chất lượng Câu hỏi củng cố có thể đưa ra
Trang 29ngay sau bài học; giao bài về nhà; trong giờ luyện tập, ôn tập hoặc trong giờthực hành.
Giờ thực hành ở trường THPT hiện nay thường tiến hành theo phươngpháp chứng minh, do GV biểu diễn hoặc do HS tự làm dưới sự hướng dẫn của
GV bộ môn Sử dụng những câu hỏi có nội dung liên quan, không những giúpcho HS kiểm chứng lại lý thuyết mà còn rèn luyện cho HS các thao tác, kỹ năngtiến hành thí nghiệm an toàn, hiệu quả và thành công; biết phân tích những yếu
tố ảnh hưởng đến môi trường, tác động đến sức khỏe con người, từ đó lựa chọnbiện pháp xử lí
Câu hỏi hóa học gắn với thực tiễn được sử dụng cho kiểu bài này khônggiới hạn mức độ nhận thức của HS Câu hỏi hóa học gắn với thực tiễn đủ cácmức độ như: biết, hiểu, vận dụng thấp và vận dụng cao Các câu hỏi hóa học gắnvới thực tiễn không chỉ nhằm tái hiện kiến thức cho HS mà quan trọng hơn làcần giúp cho HS biết sử dụng linh hoạt, phối hợp các kiến thức với nhau mộtcách nhuần nhuyễn khi trả lời một câu hỏi hóa học gắn với thực tiễn Từ đó HSsẽ nhớ, hiểu các kiến thức đã học và bước đầu biết vận dụng kiến thức đượchọc để giải quyết tình huống thực tiễn
Câu hỏi hóa học gắn với thực tiễn không phải là quá khó nhưng vì HSphần lớn chưa quen sử dụng kiến thức hoá học để xử lý một vấn đề trong thựctiễn Vì vậy GV cần đưa dần các câu hỏi hóa học gắn với thực tiễn vào trong dạyhọc theo sự tăng dần cả về số lượng, mức độ khó và sự đa dạng của nội dungcâu hỏi
(H2SO4) và axit nitric (HNO3)? Đặc biệt trong nước mưa ở vùng thảo nguyêncách xa vùng công nghiệp vẫn có lẫn một ít axit HNO3 Giải thích?
- Hướng dẫn trả lời:
+ Trong nước mưa ở vùng công nghiệp thường có lẫn axit H2SO4 và axitHNO3 Vì: trong khí thải công nghiệp thường có nhiều khí SO2, NO2 Các khínày bị oxi hóa bởi O2 của không khí đồng thời kết hợp với hơi H2O tạo ra axit
H2SO4 và axit HNO3 Khi trời mưa, nước mưa sẽ kéo theo cả axit H2SO4 và axitHNO3 tạo ra ở trên tạo ra hiện tượng “mưa axit”
2 SO2 + O2 + 2H2O 2H2SO4
4 NO2 + O2 + 2H2O 4 HNO3
Trang 30+ Trong nước mưa ở vùng thảo nguyên cách xa vùng công nghiệp vẫn cólẫn một ít axit HNO3 Vì: ở vùng thảo nguyên thường có nhiều sấm xét Khi cósấm xét sẽ xảy ra phản ứng:
N2 + O2 TLD
2 NO
2 NO + O2 2 NO2
4 NO2 + O2 + 2H2O 4 HNO3
Khi trời mưa, nước mưa sẽ kéo theo axit HNO3
4.3 Sử dụng câu hỏi hóa học gắn với thực tiễn trong tiết kiểm tra, đánh giá.
Mục đích của việc kiểm tra, đánh giá là kiểm tra việc thực hiện mục tiêucủa môn học Khi đánh giá GV phải đối chiếu với mục tiêu của lớp, chương, bàinhằm thu được thông tin phản hồi giúp đánh giá kết quả học tập của HS đã đạtđược mục tiêu đề ra hay chưa Từ kết quả của kiểm tra, đánh giá, GV sẽ cónhững điều chỉnh thích hợp về nội dung, phương pháp dạy học nhằm thu đượckết quả tốt hơn, HS cũng sẽ có những điều chính thích hợp về phương pháp họctập để có kết quả cao hơn tức là nhớ, hiểu và vận dụng kiến thức tốt hơn Nộidung của kiểm tra, đánh giá cần chú ý cân đối tỉ lệ giữa sự nhớ, hiểu, vận dụngkiến thức tuỳ theo mức độ nhận thức của HS trong lớp có nâng dần tỉ trọng củacác câu hỏi hóa học gắn với thực tiễn yêu cầu sự hiểu và vận dụng kiến thức Vìthời gian kiểm tra là hữu hạn nên các GV cần chọn số lượng câu hỏi hóa học gắn
với thực tiễn cũng như độ khó phù hợp với trình độ của HS lớp đó
VD: Trong phòng thí nghiệm, tại sao khi điều chế H2S từ muối sunfua của kimloại người ta thường dùng axit HCl đặc mà không dùng axit H2SO4 đặc hay axitHNO3 đặc?
- Hướng dẫn trả lời:
Trong phòng thí nghiệm, H2S được điều chế từ muối sunfua của kim loại
và axit HCl đặc theo phương trình:
H2S + 3 H2SO4 đặc 4 SO2 + 4 H2O
H2S + 8 HNO3 đặc 8 NO2 + 4 H2O + H2SO4
Trang 315 CÁCH GIẢI QUYẾT CÂU HỎI HÓA HỌC GẮN VỚI THỰC TIỄN[11].
Các dạng câu hỏi hóa học gắn với thực tiễn khác nhau có cách giải quyết
cụ thể khác nhau Mặt khác, tùy theo mức độ nhận thức và kinh nghiệm sốngcủa HS mà các GV tự xây dựng cách giải quyết cụ thể Dưới đây là cách giảiquyết chung nhất các câu hỏi hóa học gắn với thực tiễn
* Bước 1: Đọc kỹ đề bài xem câu hỏi đề cập đến lĩnh vực nào trong thực tiễn
* Bước 2: Tìm hiểu kỹ lời văn của đề bài để tìm ra những điều kiện và yêu cầu
của câu hỏi
* Bước 3: Vận dụng sự hiểu biết thực tế và kinh nghiệm sống của bản thân để
phát hiện thêm những dữ kiện khác (dữ kiện tìm thêm) và yêu cầu tìm thêm
* Bước 4: Lựa chọn những kiến thức hóa học có liên quan để tìm ra mối liên hệ
logic giữa dữ kiện và yêu cầu Trong quá trình tìm tòi sẽ nảy sinh các bước trunggian Vì vậy dữ kiện và yêu cầu luôn được bổ sung Câu hỏi luôn được phát biểulại sao cho lần phát biểu sau đơn giản hơn lần phát biểu trước đến khi thực hiệnđược yêu cầu của câu hỏi Từ đó trình bày lời giải
* Bước 5: Rút ra những kinh nghiệm cho bản thân từ việc giải quyết câu hỏi hóa
học gắn với thực tiễn đó Từ đó có ý thức phổ biến và áp dụng kinh nghiệm vàothực tiễn
Tuy nhiên, không phải giải quyết câu hỏi hóa học gắn với thực tiễn nàocũng có đầy đủ các bước như trên
VD1: P trắng có độc tính rất cao, với 50 mg là liều lượng trung bình gây chết
người P trắng rất dễ bốc cháy P trắng được bảo quản bằng cách:
CÂU HỎI HOÁ HỌC
Những điều kiện Những yêu cầu
Dữ liệu ban
đầu Dữ liệu tìm thêm Yêu cầu ban đầu Yêu cầu tìm thêm
Phát biểu
lần 1
Phát biểu lần 2
Phát biểu lần n
Phát biểu lần 1
Phát biểu lần n
Phát biểu lần n
Trang 32A Ngâm trong nước
B Ngâm trong canxi cacbua
C Đựng trong lọ thủy tinh sẫm mầu
D Ngâm trong ete
Yêu cầu của câu hỏi: Lựa chọn phương án tối ưu
- Bước 3,4: Qúa trình tư duy khoa học: P trắng không tan trong nước nhưng tannhiều trong dung môi hữu cơ như: canxi cacbua và ete nên không thể ngâm
nên không để trong lọ thủy tinh sẫm mầu Vậy ta chọn đáp án A
- Bước 5: Từ việc trả lời câu hỏi trên HS được cung cấp kiến thức về P, kiếnthức về cách bảo quản hóa chất trong phòng thí nghiệm
VD2: Trong nông nghiệp, người ta có thể bón phân đạm amoni cùng với vôi bột
để khử chua cho đất được không? Tại sao?
Cách giải quyết:
- Bước 1: Câu hỏi đề cập đến vấn đề sử dụng phân đạm amoni với vôi bột Đây
là vấn đề có thể gặp khi làm vườn hoặc làm ruộng trong ngành nông nghiệp
- Bước 2: Dữ kiện câu hỏi cho: Bón phân đạm amoni cùng với vôi bột để khửchua cho đất
Yêu cầu của câu hỏi: Tìm hiểu xem việc làm trên có đúng không và đưa ralời giải thích hợp lý
- Bước 3,4: Qúa trình tư duy khoa học:
Trang 33chua cho đất Muốn khử chua cho đất ta phải bón vôi bột trước, sau đó mới bónđạm amoni
- Bước 5: Từ việc trả lời câu hỏi trên HS được cung cấp kiến thức về phân bón,kiến thức về khử chua cho đất và bón đạm cho cây trồng
Qua những câu hỏi hóa học có gắn với thực tiễn như trên sẽ rèn cho HSkhả năng vận dụng kiến thức đã học ở trường THPT để giải quyết các vấn đềtrong thực tiễn
6 HỆ THỐNG CÂU HỎI HÓA HỌC GẮN VỚI THỰC TIỄN LIÊN QUAN ĐẾN KIẾN THỨC CHƯƠNG “OXI – LƯU HUỲNH” VÀ CHƯƠNG “NITƠ – PHOTPHO” Ở TRƯỜNG THPT.
6.1 Câu hỏi hóa học gắn với thực tiễn cuộc sống hàng ngày.
Câu 1 Tầng ozon được ví như là “lá chắn” hay “áo giáp sắt” bảo vệ môi trường
sinh quyển khỏi bị hủy diệt bởi tia cực tím của Mặt trời chiếu xuống Trái đất.Nhưng hiện nay tầng ozon đang bị suy giảm, sự suy giảm tầng ozon của khíquyển có nguyên nhân chính là do:
A Nạn cháy rừng trên thế giới
B Chất CFC mà ngành công nghiệp lạnh thải vào khí quyển
C Trái đất nóng lên
D Khí CO2 do các nhà máy thải vào khí quyển
- Đáp án: B
- Vận dụng câu hỏi:
củng cố, hoàn thiện, vận dụng kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo hoặc trong giờ kiểmtra, đánh giá Câu hỏi này giúp HS biết được vai trò quan trọng của tầng ozonđối với môi trường sinh quyển và tác nhân phá hủy tầng ozon, từ đó có hànhđộng thiết thực để bảo vệ tầng ozon
Câu 2 Một chất có chứa nguyên tố oxi, dùng để làm sạch nước và có tác dụng
hỗ trợ trị bệnh cho bệnh nhân mắc bệnh lao Chất đó là:
A Cacbon dioxit B Oxi
C Ozon D Lưu huỳnh dioxit
- Đáp án: C
- Vận dụng câu hỏi:
Sau phần “ứng dụng của ozon” trong quá trình dạy bài “oxi – ozon” GV
có thể đặt câu hỏi này cho HS, giúp HS nhớ lâu hơn những ứng dụng của ozon
Trang 34Câu 3 Ở một số nhà máy nước, người ta dùng ozon (O3) để sát trùng nước máy.Người ta đã dựa vào tính chất nào của ozon?
A Ozon là chất khử
B Ozon không tác dụng với nước
C Ozon tan nhiều trong nước
D Ozon là chất oxi hóa mạnh
- Đáp án: D
- Vận dụng câu hỏi:
Không chỉ dừng lại ở mức độ biết mà câu hỏi còn yêu cầu HS phải hiểuđược tại sao O3 được dùng để sát trùng nước sinh hoạt Vì vậy, sau phần “ozon”trong bài “oxi – ozon” GV có thể đặt câu hỏi này cho HS để củng cố thêm kiếnthức về tính chất và ứng dụng của O3 trong đời sống hàng ngày
Câu 4 Sự hình thành tầng ozon (O3) ở tầng bình lưu của khí quyển là do:
A Tia tử ngoại của Mặt trời chuyển hóa các phân tử O2
B Sự phóng điện (sét) trong khí quyển
C Sự oxi hóa một số hợp chất hữu cơ trên mặt đất
D Tia tử ngoại của Mặt trời, sự phóng điện trong khí quyển và sự oxi hóamột số hợp chất hữu cơ
- Đáp án: D.
- Vận dụng câu hỏi:
Trong bài mới HS không được học về sự hình thành tầng ozon nên để cóthêm hiểu biết về kiến thức này GV cần bổ sung cho HS bằng cách đặt câu hỏitrên trong giờ củng cố, hoàn thiện, vận dụng kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo Thôngqua sự hiểu biết về kiến thức thực tế đó HS sẽ yêu thích học môn hóa học hơn
Câu 5 Hiện tượng “mưa axit” gây nên nhiều tác hại như: làm hư hại công trình
xây dựng và các kiến trúc di tích lịch sử; làm thực vật và thủy hải sản bị chết do
độ axit tăng, Trong các khí thải công nghiệp: CO2, CO, NOx, SO2, những khínào là nguyên nhân chính gây ra “mưa axit”?
A SO2 và NOx B CO2 và NOx
C CO và CO2 D CO2 và SO2
- Đáp án: A.
- Vận dụng câu hỏi:
Để HS có thêm hiểu biết về tác hại và nguyên nhân dẫn đến hiện tượng
“mưa axit” GV nên đặt câu hỏi này trong giờ củng cố, hoàn thiện, vận dụng kiếnthức, kỹ năng, kỹ xảo hoặc trong giờ kiểm tra, đánh giá
Trang 35Câu 6 Để tạo độ xốp cho một số loại bánh, ta có thể dùng muối nào sau đây?
0
t
NH HCO NH CO H O
Câu 7 Mùa hè, khi mất điện lưới quốc gia, nhiều gia đình phải sử dụng động cơ
điezen để phát điện, phục vụ nhu cầu thắp sáng, chạy tivi,.… Ta không nên chạyđộng cơ điezen trong phòng đóng kín các cửa, vì:
A Tiêu thụ nhiều khí O2 và sinh ra khí CO2 là một khí độc
B Tiêu thụ nhiều khí O2 và sinh ra khí CO là một khí độc
C Nhiều hiđrocacbon chưa cháy hết là những khí độc
D Tiêu thụ nhiều khí O2 và sinh ra khí SO2 là khí độc
- Đáp án: B
- Vận dụng câu hỏi:
kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, GV có thể đặt câu hỏi này để HS biết thêm về sự oxihóa không hoàn toàn hidrocacbon bởi khí O2 sinh ra khí CO rất độc CO (cacbonmonoxit) là khí có khả năng tạo liên kết bền với hemoglobin có trong hồng cầulàm cho hemoglobin sẽ không thể vận chuyển oxi đến các tế bào của cơ thể, gâythiếu oxi cho cơ thể và dẫn đến ngạt thở Vì vậy, không nên để máy phát điệnhoặc bếp than trong phòng kín
Câu 8 Chúng ta biết cây xanh có thể thực hiện quá trình quang hợp sinh ra khí
O2, khi để trong nhà nó còn có tác dụng trang trí cho căn nhà thêm sinh động.Vậy vì sao ban đêm không nên để nhiều cây xanh trong nhà?
- Hướng dẫn trả lời:
Ban ngày, dưới tác dụng của năng lượng ánh sáng mặt trời, cây xanh hấp
không có ánh sáng mặt trời nên cây xanh không thực hiện quá trình quang hợp
Trang 36mà ngược lại, nó thực hiện quá trình hô hấp Khi cây hô hấp, nó hấp thụ khí O2
và thải ra khí CO2, làm trong phòng thiếu khí O2 và tăng khí CO2 Con người sẽkhó thở, cảm thấy mệt, thậm chí là đau đầu do thiếu khí O2 Bởi vậy ban đêm takhông nên để nhiều cây xanh trong nhà
- Vận dụng câu hỏi:
thể đặt câu hỏi này cho HS, giúp HS hiểu rõ hơn trạng thái, cũng như chu trìnhcủa O2 trong tự nhiên; vai trò quan trọng của O2 đối với sự sống của con người,động vật và cây xanh
Câu 9 Để dập tắt một đám cháy thông thường, nhỏ, mới bùng phát người ta có
thể dùng biện pháp nào? Giải thích?
- Hướng dẫn trả lời:
Để dập tắt một đám cháy, tùy thuộc vào chất gây cháy người ta có thểdùng một số biện pháp sau:
* Dùng chăn ướt:
Dùng chăn nhúng vào nước sau đó chùm kín lên đám cháy Vì khi chùm
của không khí Mặt khác, chăn được thấm nước sẽ có tác dụng làm giảm nhiệt
độ của đám cháy Do đó đám cháy sẽ được dập tắt
Chú ý: Khi dập lửa, hai tay cầm chắc 2 góc tấm chăn, giơ cao lên phíatrước che mặt rồi nhanh chóng phủ kín đám cháy
* Dùng cát (gồm thùng đựng cát + xẻng xúc cát):
Cát có nhiệt độ nóng chảy trên 17000C, nhiệt độ sôi là 25900C nên có khảnăng thu nhiệt lớn Khi đưa cát vào đám cháy, một mặt cát hấp thụ nhiệt làm hạnhiệt độ của đám cháy, mặt khác cát phủ lên bề mặt ngăn cản đám cháy tiếp xúcvới O2 không khí do đó đám cháy sẽ được dập tắt
Cát là chất chữa cháy dễ kiếm, rẻ tiền và sử dụng chữa cháy rất đơn giản.Cát được dùng chữa cháy rất hiệu quả đối với các đám cháy chất lỏng như xăng,dầu, hóa chất lỏng… Vì ngoài tác dụng chữa cháy, cát còn có tác dụng bao vây,ngăn cách chất lỏng, không cho chất lỏng tràn ra xung quanh
* Bình CO 2:
Đây là chất chữa cháy tương đối thông dụng bởi tính thuận tiện, nó có thể
để trên tàu xe di chuyển trên đường, để ở trong các trung tâm thương mại, trongtrường học, bệnh viện,…
Trang 37Khi phun CO2 lỏng vào đám cháy chất lỏng phải phun phủ lên bề mặt đám
xuống chất lỏng làm cho chất lỏng nổi lên trên lại tiếp tục cháy
Chú ý không dùng CO2 để dập đám than và magie vì:
CO2 + C t 0
2 CO + Qlớn
CO2 + Mg t 0
MgO + CO + Qlớn
CO sinh ra là khí độc rất nguy hiểm cho con người
* Dùng nước: Khi phun nước vào đám cháy, nước sẽ làm giảm nhiệt độ đám
cháy xuống thấp hơn nhiệt độ bắt cháy do đó đám cháy được dập tắt Biện phápnày không áp dụng cho đám cháy có điện, đám cháy xăng, dầu, ga…
- Vận dụng câu hỏi:
Đây là câu hỏi có ý nghĩa thực tiễn, rất thiết thực đối với cuộc sống hàngngày Bởi vậy GV có thể đặt câu hỏi này trong buổi hoạt động ngoại khóa đểcủng cố và mở rộng thêm kiến thức về khả năng duy trì sự cháy của O2 và cáchdập tắt đám cháy Qua đó giúp HS biết được mối quan hệ mật thiết giữa hóa họcvới đời sống
Câu 10 Than đá được sử dụng nhiều trong các ngành công nghiệp luyện kim,
nhiệt điện, đun nấu, Khi chưa sử dụng đến người ta thường chất than đá thànhcác đống lớn Khi chất thành đống lớn than đá có thể tự bốc cháy Tại sao?
Câu 11 Hằng ngày, con người, động vật, vi khuẩn, các ngành công nghiệp,
nông nghiệp và giao thông vận tải đã tiêu tốn lượng lớn khí O2 trong không khícho nhu cầu hô hấp và sản xuất, nhưng tại sao lượng O2 trong không khí hầu nhưkhông đổi?
- Hướng dẫn trả lời:
Trang 38Không khí của Trái đất có khoảng 78% thể tích khí N2, 21% thể tích khí
O2 và 1% thể tích là các khí khác Trong đời sống, con người, động vật và vikhuẩn tiêu thụ khí O2 cho quá trình hô hấp Trong các ngành công nghiệp, nôngnghiệp và giao thông vận tải con người cũng sử dụng rất nhiều khí O2 nhưnghàm lượng khí O2 trong không khí hầu như không đổi, bởi vì: nó luôn luôn được
bù đắp một lượng khổng lồ từ việc quang hợp của cây xanh (ban ngày cây xanhhấp thụ khí CO2 và nhả khí O2)
- Vận dụng câu hỏi:
Câu hỏi này giúp HS thấy được vai trò đặc biệt quan trọng của cây xanhcũng như của khí O2 đối với sự sống, với các ngành công, nông nghiệp và giaothông vận tải Từ đó nâng cao ý thức trách nhiệm của HS về việc trồng và bảo
vệ cây xanh, bảo vệ môi trường không khí GV có thể đặt câu hỏi này trong giờkiểm tra, đánh giá
Câu 12 Vì sao sau cơn mưa giông, không khí trở nên trong lành hơn?
- Hướng dẫn trả lời:
Sau những cơn mưa không khí trong lành, sạch sẽ hơn, vì:
+ Nước mưa rửa sạch bụi bẩn có trong không khí
+ Trong cơn giông có sự phóng điện, giúp xảy ra phản ứng tạo thành ozon (O3)từ oxi (O2): 3O2 h 2O3
O3 sinh ra là chất khí màu xanh nhạt, mùi nồng, có tính oxi hóa mạnh nên
có tác dụng tẩy trắng và diệt khuẩn mạnh Các vi khuẩn có trong không khí bị O3
tiêu diệt nên không khí trở nên trong lành hơn
- Vận dụng câu hỏi:
Câu hỏi này có thể sử dụng trong bài “oxi – ozon” để HS biết và giải thíchđược hiện tượng tự nhiên rất quen thuộc trong đời sống dựa vào tính oxi hóamạnh của O3
Câu 13 Tại sao khi đi trong rừng thông hoặc dọc bờ biển chúng ta lại thấy
không khí trong lành, dễ chịu?
- Hướng dẫn trả lời:
Nhựa thông hoặc rong biển trôi dạt vào bờ bị O2 của không khí oxi hóatạo ra O3 O3 sinh ra với hàm lượng nhỏ (dưới 10-6 % theo thể tích) có tác dụngdiệt khuẩn nên không khí ở những nơi này trở nên trong lành, rất phù hợp cho
du khách nghỉ ngơi và thư giãn
- Vận dụng câu hỏi:
Trang 39HS biết O3 có tính oxi hóa mạnh nên có khả năng diệt trùng nhưng khôngbiết tại sao ở rừng thông hoặc bờ biển không khí lại trở nên trong lành Vì vậy
GV nên đặt ra câu hỏi này cho HS trong giờ củng cố, hoàn thiện, vận dụng kiến
giải thích hiện tượng thực tế thú vị này
Câu 14 Hãy giải thích tại sao ozon vừa là chất gây ô nhiễm không khí, vừa là
chất bảo vệ sinh quyển của chúng ta?
- Hướng dẫn trả lời:
O3 vừa là chất gây ô nhiễm không khí, vừa là chất bảo vệ sinh quyển Vì: + Tầng O3 đóng vai trò cực kì quan trọng, nó có tác dụng như “lá chắn”ngăn không cho tia cực tím từ Mặt trời chiếu xuống Trái đất Mặt khác, trongkhông khí với hàm lượng cực kỳ nhỏ (dưới 10-6 % theo thể tích) O3 có tác dụngdiệt khuẩn làm cho không khí trở lên trong lành hơn
+ Ở tầng thấp (trên mặt đất) với hàm lượng O3 cao hơn thì O3 là chất gây
ô nhiễm không khí Nó cùng những hợp chất nitơ oxit gây nên hiện tượng
“sương khói quang hóa” bao phủ bầu trời mùa hè trong những ngày không gió
“Sương khói quang hóa” gây đau cơ bắp, mũi, cuống họng, đó là nguồn gốc củabệnh khó thở
- Vận dụng câu hỏi:
tránh, bảo vệ sức khỏe
Câu 15 Vì sao khi sử dụng máy photocopy phải chú ý đến việc thông gió?
- Hướng dẫn trả lời:
Khi máy photocopy hoạt động sẽ xảy ra hiện tượng phóng điện cao áp nên
có thể sinh ra khí O3 Khí O3 sinh ra với nồng độ cao sẽ rất có hại cho sức khỏe,gây tổn hại cho đại não, gây đột biến, gây ung thư, Nếu có đường thông giótốt, khí O3 sinh ra sẽ phân tán ra xung quanh, làm nồng độ O3 giảm xuống, làmgiảm các tác hại trên
- Vận dụng câu hỏi:
đối với con người khi có nồng độ lớn, sự hoạt động của máy photocopy, sự lưuthông không khí Với lượng kiến thức đó, GV nên đặt câu hỏi trong giờ củng cố,hoàn thiện, vận dụng kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo
Trang 40Câu 16 Thế nào là hiện tượng thủng tầng ozon? Tác hại của hiện tượng này đối
với đời sống con người?
- Hướng dẫn trả lời:
Trên tầng cao của khí quyển, cách mặt đất gần 25 km có một lớp ozon dàygọi là tầng ozon Hiện nay người ta thấy có một số chỗ tầng ozon bị bào mòn,thậm chí có chỗ bị thủng, gọi là hiện tượng “thủng tầng ozon”
Tầng ozon bị thủng sẽ không còn tác dụng ngăn cản tia cực tím, nghĩa làtia cực tím sẽ chiếu trực tiếp từ Mặt trời xuống Trái đất gây tác hại, thậm chí cóthể hủy diệt động vật, thực vật và cả con người
- Vận dụng câu hỏi:
Khi dạy bài “oxi – ozon”, GV có thể nêu câu hỏi này cho HS và giải thích
rõ đây là vấn đề mang tính cấp thiết toàn cầu vì vậy mỗi HS cần có những hànhđộng cụ thể để chung tay góp phần bảo vệ tầng ozon
Câu 17 Tại sao khi đánh rơi nhiệt kế thủy ngân (Hg) không thể dùng chổi quét
ngay mà phải rắc bột lưu huỳnh (S) lên sau đó mới quét được?
- Hướng dẫn trả lời:
Thủy ngân (Hg) là chất lỏng, linh động và rất độc Khi rơi xuống đất nếudùng chổi quét Hg càng phân tán thành các hạt nhỏ hơn, càng khó khăn cho quátrình thu gom Vì vậy, khi đánh rơi nhiệt kế Hg ta không thể dùng chổi quét Hgđược mà phải dùng bột S rắc lên chỗ có Hg rơi Khi đó S tác dụng với Hg tạothành HgS là chất rắn và ta có thể dễ dàng thu gom nó
S + Hg HgS
- Vận dụng câu hỏi:
GV có thể đặt câu hỏi này trong giờ kiểm tra, đánh giá để khắc sâu thêmkiến thức “lưu huỳnh tác dụng với thủy ngân kim loại” và ứng dụng nổi bật củaphản ứng này trong đời sống
Câu 18 Tại sao khí hidrosunfua lại độc đối với con người và động vật?
- Hướng dẫn trả lời:
Khí hidrosunfua (H2S) độc đối với con người và động vật, vì: khi khí H2S
đi vào máu, H2S tác dụng với ion Fe2+ có trong hemoglobin của máu tạo thành
còn khả năng vận chuyển khí O2 đi nuôi cơ thể Thiếu khí O2 con người và độngvật sẽ bị suy hô hấp và có thể dẫn đến tử vong
H2S + Fe2+ (có trong hemoglobin) FeS + 2 H+
- Vận dụng câu hỏi: