chuyển của VCĐ không chỉ chi phối đến nội dung, biện pháp quản lý sử dụngVCĐ, mà còn đòi hỏi việc quản lý, sử dụng VCĐ phải luôn gắn liền với việcquản lý, sử dụng TSCĐ của doanh nghiệp.+
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi
Các số liệu kết quả nêu trong luận văn là trung thực xuất phát từ tình hình thực
tế của đơn vị thực tập
Hà Nội, ngày 16 tháng 5 năm 2015
Sinh viên
Trang 2Mục lục
Trang 3DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ROAE : Tỷ suất sinh lời kinh tế của tài sản
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế thị trường, vốn là yếu tố cơ bản cho các doanh nghiệp sản
xuất kinh doanh Vốn vừa là cơ sở, vừa là phương tiện cho quá trình hoạt động
sản xuất của doanh nghiệp Bằng việc sử dụng lượng vốn của mình, doanh
nghiệp tiến hành thực hiện mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, mở rộng quy mô và
đưa doanh nghiệp phát triển Tuy nhiên, lượng vốn của mỗi doanh nghiệp là có
hạn Vì thế, để có thể tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh
như hiện nay, doanh nghiệp cần quản trị vốn của mình sao cho đạt hiệu quả cao
Quản trị vốn có hiệu quả là phải bảo toàn lượng vốn bỏ ra và làm cho đồng vốn
không ngừng sinh sôi nảy nở nhưng vẫn dựa trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc
tài chính tín dụng và quy định của luật pháp Quản trị vốn kinh doanh hiệu quả
sẽ giúp doanh nghiệp giữ vững và nâng cao vị trí của mình trên thị trường Vì
vậy, có thể nói nâng cao quản trị vốn kinh doanh đang là một vấn đề bức xúc đặt
ra đối với mỗi doanh nghiệp
Nhận thức được tầm quan trọng của việc tăng cường quản trị vốn kinh doanh,
qua thời gian thực tập tại công ty Cổ phần LILAMA 3, được sự hướng dẫn
nhiệt tình của PGS.TS.NGND Nguyễn Đăng Nam và tập thể cán bộ công nhân
viên của công ty, vận dụng những lý luận đã được học vào thực tiễn em mạnh
dạn đi sâu nghiên cứu vấn đề trên qua luận văn tốt nghiệp với đề tài: “Các giải
pháp chủ yếu nhằm tăng cường quản trị vốn kinh doanh tại công ty cổ phần
LILAMA 3”
Đối tượng nghiên cứu: Vốn kinh doanh và tình hình quản trị vốn kinh doanh tại
công ty cổ phần LILAMA 3
Trang 6Mục đích nghiên cứu: Qua đề tài này, chúng ta có thể thấy cách đánh giá tìnhhình quản trị vốn kinh doanh; ưu nhược điểm của việc quản trị vốn tại công ty
cổ phần LILAMA 3 từ đó rút ra giải pháp tăng cường quản trị vốn kinh doanhtại công ty
3 Phạm vi nghiên cứu:
Về mặt không gian nghiên cứu: công ty cổ phần LILAMA 3
Về mặt thời gian nghiên cứu: trong các năm 2013, 2014 và định hướng cho cácnăm tiếp theo
4 Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng kết hợpphương pháp tổng hợp, phân tích số liệu, phương pháp thống kê, toán kinh tế…
5 Kết cấu đề tài:
Đề tài được kết cấu theo 3 chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về vốn kinh doanh và quản trị vốn kinh doanh của doanh nghiệp.
Chương 2: Thực trạng quản trị vốn kinh doanh tại công ty cổ phần LILAMA
3 trong thời gian qua.
Chương 3: Các giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường quản trị vốn kinh doanh tại công ty cổ phần LILAMA 3
Do những hạn chế về trình độ và thời gian nghiên cứu nên luận văn không tránhkhỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được sự góp ý tận tình của thầy cô để
đề tài được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 7CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN KINH DOANH VÀ QUẢN TRỊ
VỐN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP
1.1 Vốn kinh doanh và nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm, thành phần và đặc trưng của vốn kinh doanh
Khái niệm
đặc điểm cơ bản :
VCĐ tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp
Trong quá trình sản xuất kinh doanh VCĐ được luân chuyển dần từng Để tiếnhành hoạt động sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp đều phải có các yếu tố cơbản là tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động Trong điều kiện nềnkinh tế thị trường, để có được các yếu tố đó, các doanh nghiệp phải bỏ ra một sốvốn tiền tệ nhất định, phù hợp với quy mô và điều kiện kinh doanh của doanhnghiệp Số vốn tiền tệ ứng trước để đầu tư mua sắm, hình thành tài sản cần thiếtcho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được gọi là vốn kinhdoanh của doanh nghiệp
Như vậy, có thể nói vốn kinh doanh của doanh nghiệp là toàn bộ số tiền ứng trước mà doanh nghiệp bỏ ra để đầu tư hình thành các tài sản cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nói cách khác, đó là biểu
hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị các tài sản mà doanh nghiệp đã đầu tư và sửdụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích thu lợi nhuận
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn kinh doanh của doanh nghiệp khôngngừng vận động, chuyển đổi hình thái biểu hiện Từ hình thái vốn tiền tệ banđầu sang hình thái vốn vật tư, hàng hóa và cuối cùng trở về hình thái vốn tiền tệ.Quá trình này được diễn ra liên tục, thường xuyên lặp lại sau mỗi chu kỳ kinhdoanh và được gọi là quá trình tuần hoàn, chu chuyển vốn kinh doanh của doanhnghiệp Tuy nhiên, quá trình này diễn ra nhanh hay chậm lại phụ thuộc rất lớn
Trang 8vào các đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của từng ngành kinh doanh, vào trình độ tổchức sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, VKD không chỉ là điều kiện tiên quyếtđối với sự ra đời của doanh nghiệp mà còn được coi là một loại hàng hóa đặcbiệt
Thành phần của vốn kinh doanh
- Căn cứ vào vai trò và đặc điểm luân chuyển của vốn kinh doanh khi tham gia vào quá trình sản xuất của doanh nghiệp:
Vốn kinh doanh gồm hai bộ phận chính là vốn cố định (VCĐ) và vốn lưuđộng (VLĐ)
+ Vốn cố định: Vốn cố định của doanh nghiệp là toàn bộ số tiền ứng trước mà
doanh nghiệp bỏ ra để đầu tư hình thành nên các TSCĐ dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nói cách khác, VCĐ là biểu hiện bằng
tiền của các TSCĐ trong doanh nghiệp
Tài sản cố định của doanh nghiệp là những tư liệu lao động chủ yếu có giá trịlớn, có thời gian sử dụng lâu dài trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp Theo quy định hiện hành ở nước ta, các tư liệu lao động được coi làTSCĐ phải có giá trị từ 30 triệu đồng và thời gian sử dụng từ 1 năm trở lên Các
tư liệu lao động không đủ các tiêu chuẩn trên được gọi là các công cụ lao độngnhỏ, được mua bằng nguồn vốn lưu động của doanh nghiệp
Đặc điểm luân chuyển của VCĐ luôn bị chi phối bởi các đặc điểm kinhtế- kỹ thuật của TSCĐ trong doanh nghiệp Do TSCĐ của doanh nghiệpđược sử dụng trong nhiều năm, tùy hình thái vật chất và đặc tính sử dụngban đầu không thay đổi nhưng giá trị của nó lại bị hao mòn và được chuyểndịch dần từng phần vào giá trị của sản phẩm sản xuất ra nên VCĐ cũng cónhững phần vào giá trị sản phẩm
Sau nhiều chu kỳ kinh doanh VCĐ mới hoàn thành một vòng luân chuyển.VCĐ là một bộ phận quan trọng của vốn kinh doanh Những đặc điểm luân
Trang 9chuyển của VCĐ không chỉ chi phối đến nội dung, biện pháp quản lý sử dụngVCĐ, mà còn đòi hỏi việc quản lý, sử dụng VCĐ phải luôn gắn liền với việcquản lý, sử dụng TSCĐ của doanh nghiệp.
+ Vốn lưu động: Vốn lưu động là toàn bộ số tiền ứng trước mà doanh nghiệp
bỏ ra để đầu tư hình thành nên các TSLĐ thường xuyên cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nói cách khác VLĐ là biểu hiện bằng
tiền của các TSLĐ trong doanh nghiệp
TSLĐ trong doanh nghiệp bao gồm TSLĐ sản xuất và TSLĐ lưu thông.TSLĐ sản xuất bao gồm các loại như nguyên vật liệu chính và phụ, nhiên liệu,phụ tùng thay thế đang trong quá trình dự trữ sản xuất và các loại sản phẩm, bánthành phẩm dở dang đang trong quá trình sản xuất TSLĐ lưu thông bao gồmcác loại TSLĐ đang nằm trong lưu thông như thành phẩm trong kho chờ tiêuthụ, các khoản phải thu, vốn bằng tiền
Trong quá trình tham gia vào hoạt động kinh doanh, do VLĐ là biểu hiệnbằng tiền của TSLĐ nên đặc điểm vận động của TSLĐ quyết định đến đặc điểmluân chuyển của VLĐ Do bị chi phối bởi các đặc điểm của TSLĐ nên VLĐ cócác đặc điểm sau:
VLĐ trong quá trình chu chuyển luôn thay đổi hình thái biểu hiện
Kết thúc mỗi chu kỳ kinh doanh, giá trị của VLĐ được chuyển dịch toàn
bộ vào giá trị sản phẩm hàng hóa, dịch vụ sản xuất ra và được bù đắp lại khidoanh nghiệp thu được tiền bán sản phẩm hàng hóa, dịch vụ
VLĐ hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ kinh doanh
Như vậy có thể thấy, tại một thời điểm nhất định VLĐ của doanh nghiệp đượcphân bổ ở khắp các giai đoạn của quá trình kinh doanh và tồn tại dưới nhiềuhình thái khác nhau trong các giai đoạn mà vốn đi qua Do đó muốn quá trình táisản xuất của doanh nghiệp được diễn ra liên tục thì doanh nghiệp phải có đủ vốnlưu động đầu tư vào các hình thái khác nhau đó đảm bảo cho các hình thái cóđược mức tồn tại hợp lý và đồng bộ với nhau Điều này giúp cho sự chuyển hóa
Trang 10hình thái của vốn trong quá trình luân chuyển được thuận lợi.
- Căn cứ vào kết quả của hoạt động đầu tư:
Theo tiêu thức này thì VKD của doanh nghiệp bao gồm VKD đầu tư vào TSLĐ,TSCĐ và TSTC của doanh nghiệp
+ VKD đầu tư vào TSLĐ là số vốn đầu tư để hình thành các tài sản lưu độngphục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, bao gồm các tàisản như tiền, các khoản phải thu, hàng tồn kho và các loại TSLĐ khác của doanhnghiệp
+ VKD đầu tư vào TSCĐ là số vốn đầu tư để hình thành các TSCĐ hữu hình và
vô hình như nhà xưởng máy móc thiết bị sản xuất, dung cụ quản lý, các khoảnchi phí để mua bằng phát minh sáng chế, nhãn hiệu của sản phẩm độc quyền…+ VKD đầu tư vào TSTC là số vốn doanh nghiệp đầu tư vào các TSTC như cổphiếu, trái phiếu, kỳ phiếu và các giấy tờ có giá khác
Mỗi loại tài sản đầu tư của doanh nghiệp có thời hạn sử dụng, đặc điểm thanhkhoản khác nhau, điều này ảnh hưởng đến việc dịch chuyển các giá trị của tàisản vào hoạt động sản xuất kinh doanh, ảnh hưởng chu kỳ luân chuyển VKD Vìvậy việc nghiên cứu các thành phần của VKD dựa trên sự phân chia theo kết quảcủa hoạt động đầu tư giúp cho doanh nghiệp có một cơ cấu đầu tư hợp lý phùhợp với điều kiện thực tế của doanh nghiệp cũng như những yêu cầu của đặcđiểm ngành nghề kinh doanh
Đặc trưng của vốn kinh doanh
Để quản lý và sử dụng vốn kinh doanh trong doanh nghiệp một cách hợp lý vàhiệu quả đòi hỏi nhà quản trị cần nhận thức đúng đắn và đầy đủ các đặc trưngcủa vốn kinh doanh trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Vốnkinh doanh trong doanh nghiệp có các đặc trưng cơ bản sau:
Thứ nhất: Vốn kinh doanh được biểu hiện bằng một lượng giá trị thực tế của
các tài sản hữu hình và vô hình dùng để sản xuất ra một lượng giá trị thực cácsản phẩm khác Vốn chính là biểu hiện về mặt giá trị của các loại tài sản như:
Trang 11máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, hàng hoá, bằng phát minh sáng chế, lợi thếkinh doanh trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Do đó,không thể có vốn mà không có tài sản hoặc ngược lại Song chỉ những tài sản cógiá trị và giá trị sử dụng phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp mới được coi là vốn.
Thứ hai: Vốn kinh doanh phải vận động sinh lời, đạt được mục tiêu kinh doanh
của doanh nghiệp Ban đầu vốn được biểu hiện bằng một lượng tiền nhất địnhnhưng để tiền trở thành vốn thì chúng ta phải đưa chúng vào hoạt động sản xuấtkinh doanh Trong quá trình vận động vốn kinh doanh tồn tại dưới nhiều hìnhthái vật chất khác nhau và trở về hình thái biểu hiện ban đầu sau một vòng tuầnhoàn
Thứ ba: Vốn kinh doanh phải được tập trung tích tụ thành một lượng nhất định
mới có thể phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh Điều này đòi hỏi doanhnghiệp phải biết tận dụng và khai thác mọi nguồn vốn có thể huy động để đầu tưvào hoạt động kinh doanh của mình
Thứ tư: Vốn kinh doanh có giá trị về mặt thời gian Nhất là trong nền kinh tế thị
trường như hiện nay thì điều này thể hiện rất rõ, vốn của doanh nghiệp luôn chịuảnh hưởng của các nhân tố như lạm phát, sự biến động của giá cả, tiến bộ khoahọc kỹ thuật nên giá trị của vốn kinh doanh tại các thời điểm khác nhau làkhác nhau
Thứ năm: Vốn kinh doanh phải gắn với chủ sở hữu Mỗi loại vốn bao giờ cũng
gắn với một chủ sở hữu nhất định Người sử dụng vốn chưa chắc đã là người sởhữu vốn do có sự tách biệt giữa quyền sở hữu vốn và quyền sử dụng vốn Điềunày đòi hỏi mỗi người sử dụng vốn phải có trách nhiệm với đồng vốn mình nắmgiữ và sử dụng
Thứ sáu: Vốn kinh doanh được coi là một hàng hóa đặc biệt, tức là vốn kinh
doanh cũng có sự thống nhất giữa hai thuộc tính là giá trị và giá trị sử dụng
1.1.2 Nguồn hình thành vốn kinh doanh trong doanh nghiệp
Trang 12Vốn kinh doanh của doanh nghiệp được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau,ứng với mỗi nguồn thường có những ưu nhược điểm nhất định Nhà tài chínhphải xem xét để đưa ra quyết định lựa chọn những nguồn thích hợp, có chi phíthấp nhưng vẫn đảm bảo mức độ an toàn cần thiết cho doanh nghiệp Để có thểlựa chọn hình thức huy động nguồn vốn phù hợp, đồng thời tổ chức sử dụng vốnkinh doanh được hiệu quả thì các nhà quản trị tài chính doanh nghiệp phải nhìnnhận nguồn vốn theo nhiều tiêu thức khác nhau.
Căn cứ vào quan hệ sở hữu vốn có thể chia nguồn vốn kinh doanh thành hai loại: Vốn chủ sở hữu và nợ phải trả.
TÀI SẢN
NỢ PHẢI TRẢ VỐN CHỦ SỞ HỮU
- Vốn chủ sở hữu (VCSH) là phần vốn thuộc quyền sở hữu của chủ doanh
nghiệp, bao gồm vốn chủ sở hữu bỏ ra và phần bổ sung từ kết quả hoạt động kinh doanh.
Vốn chủ sở hữu = Giá trị tổng tài sản - Nợ phải trả
Vốn chủ sở hữu có ưu điểm: đây là nguồn vốn dài hạn, công ty có thể dùngnguồn này đầu tư vào các dự án mạo hiểm với tỷ suất sinh lời cao, thêm vào đócông ty không phải hoàn trả vốn gốc theo kỳ hạn cố định giúp công ty có thể sửdụng vốn linh hoạt trong kinh doanh mà không phải chịu gánh nặng nợ nần Tuynhiên việc sử dụng vốn chủ sở hữu đòi hỏi chi phí sử dụng vốn cao do tỷ suấtsinh lời đòi hỏi của nhà đầu tư lớn, bên cạnh đó việc huy động tăng vốn chủđồng nghĩa với việc các cổ đông hiện hành phải phân chia quyền quản lý, kiểmsoát, phân chia lợi nhuận cao cho các cổ đông mới Việc sử dụng vốn chủ sởhữu, công ty sẽ không được hưởng ‘‘tấm lá chắn thuế’’, đây cũng là điểm bất lợicho công ty
- Nợ phải trả (NPT) là thể hiện bằng tiền những nghĩa vụ mà doanh nghiệp có
Trang 13trách nhiệm phải thanh toán cho các tác nhân kinh tế khác như: Nợ vay, các khoản phải trả cho người bán, cho Nhà nước, cho người lao động trong doanh nghiệp…
Nợ phải trả có đặc điểm là có thời gian đáo hạn, công ty phải trả tiền lãi khi đếnhạn do đó doanh nghiệp phải luôn chịu gánh nặng nợ nần và lo lắng khả năng trả
nợ của mình, nếu công ty sử dụng nguồn vốn này không hiệu quả làm tăng thêmrủi ro tài chính cho công ty Tuy nhiên việc sử dụng nợ cũng có những mặt tíchcực, đó là lãi vay được xác định trước và được trừ vào thu nhập chịu thuế do đónếu công ty làm ăn có triển vọng tốt thì sẽ khuếch đại tỷ suất lợi nhuận vốn chủ
sở hữu mà không phải chia sẻ quyền kiểm soát và quyền phân chia lợi nhuậncao
Cách phân loại này giúp cho doanh nghiệp thấy được cơ cấu nguồn vốn dướigóc độ mức độ tự chủ tài chính Để đảm bảo cho hoạt động kinh doanh đạt hiệuquả cao, thông thường một doanh nghiệp phải phối hợp cả hai nguồn: Vốn chủ
sở hữu và Nợ phải trả Sự kết hợp giữa hai nguồn này phụ thuộc vào đặc điểmcủa ngành mà doanh nghiệp hoạt động, tùy thuộc vào quyết định của người quản
lý trên cơ sở xem xét tình hình kinh doanh và tài chính của doanh nghiệp Mặtkhác từ cách phân loại này cũng giúp doanh nghiệp đảm bảo được cơ cấu nguồnvốn tối ưu để tăng cường hiệu quả sử dụng vốn của mình
Căn cứ vào thời gian huy động và sử dụng vốn thì nguồn vốn được chia thành nguồn vốn thường xuyên và nguồn vốn tạm thời.
- N gu ồn
vốn tạm thời: Là các nguồn vốn có tính chất ngắn hạn (dưới 1 năm) doanh
nghiệp có thể sử dụng để đáp ứng các yêu cầu có tính chất tạm thời phát sinh
Tài sản lưu động Nợ ngắn hạn Nguồn vốn tạm thời
Tài sản cố định
Nợ dài hạn
Nguồn vốn thường xuyên Vốn chủ sở hữu
Trang 14trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Nguồn vốn tạm thời thường bao gồm vay ngắn hạn ngân hàng và các tổ chức tíndụng, các nợ ngắn hạn khác
- Nguồn vốn thường xuyên: Là tổng thể nguồn vốn có tính chất ổn định mà
doanh nghiệp có thể sử dụng vào hoạt động kinh doanh Nguồn vốn này thường
được sử dụng để mua sắm, hình thành TSCĐ và một bộ phận TSLĐ thường
xuyên cần thiết cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Nguồn vốn thường xuyên của doanh nghiệp tại một thời điểm có thể được xácđịnh bằng công thức:
Nguồn vốn thường xuyên = Vốn chủ sở hữu + Nợ dài hạn
Hoặc:
Nguồn vốn thường xuyên = Giá trị tổng tài sản - Nợ ngắn hạn
Việc phân loại này giúp cho nhà quản lý xem xét huy động các nguồn vốn phùhợp với thời gian sử dụng của các yếu tố cần thiết cho quá trình kinh doanh
Căn cứ vào phạm vi huy động vốn của doanh nghiệp có thể chia thành nguồn vốn bên trong và nguồn vốn bên ngoài.
Việc phân loại này chủ yếu để xem xét việc huy động nguồn vốn của một doanhnghiệp đang hoạt động
- Nguồn vốn bên trong: Là nguồn vốn có thể huy động được vào đầu tư từ
chính hoạt động của bản thân doanh nghiệp tạo ra.
Nguồn vốn bên trong giúp cho doanh nghiệp phát huy được tính tự chủ trongviệc sử dụng vốn đồng thời thể hiện khả năng tự tài trợ của doanh nghiệp
Nguồn vốn bên trong của doanh nghiệp bao gồm: Lợi nhuận giữ lại để tái đầu
tư Đây là nguồn tăng thêm tài sản và nguồn vốn của công ty
Khi sử dụng nguồn vốn bên trong có những điểm lợi và bất lợi chủ yếu sau:
+ Những điểm lợi :
Chủ động đáp ứng nhu cầu vốn của doanh nghiệp, nắm bắt kịp thời các thời
cơ trong kinh doanh
Trang 15 Tiết kiệm chi phí sử dụng vốn
Giữ quyền kiểm soát doanh nghiệp
Tránh áp lực phải thanh toán đúng kỳ hạn
+ Những điểm bất lợi :
Hiệu quả sử dụng thường không cao
Sự giới hạn về mặt quy mô nguồn vốn
- Nguồn vốn bên ngoài : Là nguồn vốn huy động từ bên ngoài doanh nghiệp để
đáp ứng nhu cầu về vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nguồn vốn bên ngoài bao gồm một số nguồn vốn chủ yếu sau :
+ Vay người thân (đối với doanh nghiệp tư nhân)
+ Vay ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính khác
+ Gọi góp vốn liên doanh liên kết
+ Tín dụng thương mại của nhà cung cấp
Từ các cách phân loại trên có thể thấy vốn kinh doanh trong doanh nghiệp đượchình thành từ nhiều nguồn khác nhau Việc quản lý và sử dụng vốn thế nào chohiệu quả nhất đó là một vấn đề không đơn giản đòi hỏi nhà quản trị phải có sựhiểu biết cần thiết về từng nguồn Từ đó đề ra các giải pháp chủ động trong việckhai thác các nguồn vốn khác nhau để đáp ứng cho nhu cầu sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp được diễn ra thường xuyên, liên tục
Trang 161.2 Quản trị vốn kinh doanh của doanh nghiệp
1.2.1 Khái niệm và mục tiêu quản trị vốn kinh doanh
1.2.1.1 Khái niệm quản trị vốn kinh doanh
Quản trị vốn kinh doanh là quá trình hoạch định, tổ chức thực hiện, điều chỉnh
và kiểm soát quá trình tạo lập, phân bổ và sử dụng vốn kinh doanh của doanhnghiệp nhằm đạt được mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp
Quản trị vốn kinh doanh bao gồm các hoạt động của nhà quản trị liên quan đếnviệc đầu tư, mua sắm, quản lý, sử dụng tài sản của doanh nghiệp nhằm đạt đượccác mục tiêu đề ra Nội dung quản trị vốn kinh doanh bao gồm quản trị vốn lưuđộng và quản trị vốn cố định
Quản trị vốn kinh doanh là một bộ phận, một nội dung quan trọng trong quản trịtài chính doanh nghiệp, có quan hệ chặt chẽ và ảnh hưởng tới tất cả các hoạtđộng quản trị tài chính của doanh nghiệp
1.2.1.2 Mục tiêu quản trị vốn kinh doanh
Quản trị vốn kinh doanh trước hết và quan trọng nhất là nhằm đạt dược mục tiêuhoạt động của doanh nghiệp đó là lợi nhuận trong kinh doanh và tối đa hóa giátrị cho chủ sở hữu Nhìn ở góc độ sản xuất kinh doanh thì tối đa hóa lợi nhuận làmục tiêu phù hợp, nhưng xét ở góc độ tài chính thì lợi ích đạt được cho chủ sởhữu phải là tối đa hóa giá trị, nghĩa là phải tính tới giá trị thời gian của tiền vàmức độ rủi ro của khoản đầu tư
Hoạt động quản trị vốn kinh doanh phải làm cho vốn kinh doanh được sử dụngtiết kiệm và hiệu quả nhất để vốn kinh doanh luôn sinh lời Trong quản trị vốnkinh doanh, các nhà quản trị luôn phải chú ý đến đặc điểm luân chuyển của từngloại vốn để xác định đúng đắn nhu cầu cần thiết phù hợp với quy mô, đặc điểmsản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và có biện pháp quản lý, sử dụng chúng
có hiệu quả nhất
Trang 171.2.2 Nội dung quản trị vốn kinh doanh
1.2.2.1 Tổ chức đảm bảo nguồn vốn kinh doanh
Bất kỳ một DN nào muốn tăng trưởng và phát triển đều cần có VKD VKD làyếu tố quan trọng hàng đầu trong chiến lược phát triển của DN, quyết định sựtồn tại và phát triển của từng DN Một DN muốn đứng vững trên thị trường thì
DN đó phải có một lượng vốn nhất định, lượng vốn đó không những đảm bảocho hoạt động SXKD của DN diễn ra liên tục mà còn phải dùng để cải tiến máymóc thiết bị, hiện đại hoá công nghệ Mục đích cuối cùng của DN là tìm kiếmlợi nhuận Lợi nhuận là khoản tiền chênh lệch giữa thu nhập và chi phí DN bỏ ra
để đạt được thu nhập đó từ hoạt động kinh doanh của DN đó đưa lại Trong nềnkinh tế thị trường các DN không chỉ tồn tại đơn thuần mà còn có sự cạnh tranhgay gắt với nhau Nếu thiếu vốn sẽ dẫn đến năng suất lao động thấp, thu nhậpthấp, DN sẽ càng tụt lùi vì vòng quay của vốn càng ngắn lại thì quy mô của DNcàng thu hẹp lại
Bên cạnh đó, mỗi DN có một lượng vốn tương đối thì DN sẽ chủ động hơn trongviệc lựa chọn những phần SXKD hợp lý, hiệu quả, đảm bảo an toàn tổ chức,hiệu quả sử dụng vốn nâng cao, huy động tài trợ dễ dàng, khả năng thanh toánđảm bảo, có đủ tiềm lực khắc phục khó khăn và một số rủi ro trong kinh doanh.VKD là yếu tố quyết định DN nên mở rộng hay thu hẹp phạm vi hoạt động củamình Khi VKD của DN gia tăng, thì DN sẽ mạnh dạn mở rộng phạm vi hoạtđộng vào các tiềm năng mà trước đó DN chưa có điều kiện thâm nhập và ngượclại khiVKD bị hạn chế thì DN nên tập trung vào một số hoạt động mà DN có lợithế trên thị trường
Trong DN, VKD là cơ sở để mua sắm các trang thiết bị, máy móc, nhà xưởng,tạo công ăn việc làm cho người lao động, tăng thu nhập cho người lao động.Ngoài ra, vốn còn được sử dụng trong quá trình tái sản xuất xã hội nhằm duy trìtiềm lực sẳn có và tạo tiềm lực lớn hơn cho SXKD, dịch vụ
Trang 181.2.2.2 Phân bổ vốn kinh doanh
Phân bổ VKD là hoạt động chủ quan có cân nhắc, tính toán của nhà đầu tư trongviệc bỏ vốn vào mục tiêu kinh doanh nào đó với hy vọng sẽ đưa lại hiệu quả knh
tế cao trong tương lai
(1) Căn cứ theo phạm vi phân bổ chia thành phân bổ vốn bên trong và phân
bổ vốn bên ngoài DN
Phân bổ vốn bên trong DN gồm phân bổ để đẩu tư xây dựng cơ bản và đầu tưVLĐ
+ Đầu tư xây dựng cơ bản là đầu tư nhằm tạo ra TSCĐ cho DN
+ Đầu tư VLĐ là khoản đầu tư để hình thành TSLĐ như nguyên vật liệu, bánthành phẩm, công cụ sản xuất nhỏ…
Phân bổ vốn bên ngoài DN là hình thức góp vốn liên doanh với DN khác, mua
cổ phiếu, trái phiếu của DN khác hoặc nhà nước
(2) Căn cứ theo mục tiêu đầu tư cụ thể của Doanh nghiệp
Phân bổ VKD cho việc tăng năng lực sản xuất của DN
Phân bổ VKD thay đổi thiêt bị công nghệ
Phân bổ VKD để mở rộng tiêu thụ sản phẩm, tăng năng lực cạnh tranh
Phân bổ VKD đầu tư tài chính ra bên ngoài
1.2.2.3 Quản trị vốn lưu động của doanh nghiệp
(1) Xác định nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp
Để hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra thường xuyên, liêntục đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lượng VLĐ cần thiết để đáp ứng yêu cầumua sắm vật tư dự trữ, bù đắp chênh lệch các khoản phải thu, phải trả giữadoanh nghiệp với khách hàng
Như vậy, Nhu cầu VLĐ thường xuyên cần thiết là số vốn lưu động tối thiểu cần
Trang 19thiết phải có để đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành bình thường.
Nhu cầu VLĐ = Vốn hàng tồn kho + Nợ phải thu – Nợ phải trả nhà cung cấp
Nhu cầu VLĐ của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố như: Quy môkinh doanh của doanh nghiệp; đặc điểm, tính chất ngành nghề kinh doanh; sựbiến động của giá cả vật tư, hàng hóa trên thị trường; trình độ tổ chức, quản lý
sử dụng VLĐ của doanh nghiệp; trình độ kỹ thuật - công nghệ sản xuất; cácchính sách của doanh nghiệp trong tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ… Việcxác định đúng đắn các nhân tố ảnh hưởng sẽ giúp doanh nghiệp xác định đúngnhu cầu VLĐ và có biện pháp quản trị VLĐ một cách tiết kiệm, có hiệu quả
Để xác định nhu cầu VLĐ của doanh nghiệp có thể sử dụng phương pháp trựctiếp và gián tiếp
- Phương pháp trực tiếp:
Nội dung phương pháp này là xác định nhu cầu vốn cho hàng tồn kho, cáckhoản phải thu, khoản phải trả nhà cung cấp rồi tập hợp lại thành tổng nhu cầuvốn lưu động của doanh nghiệp
Nhu cầu vốn tồn kho bao gồm: vốn hàng tồn kho trong khâu dự trữ sản xuất,khâu sản xuất và khâu lưu thông Cộng nhu cầu vốn tồn kho với khoản chênhlệch giữa các khoản phải thu, phải trả nhà cung cấp sẽ có tổng nhu cầu vốn lưuđộng của doanh nghiệp
- Phương pháp gián tiếp:
Phương pháp gián tiếp dựa vào phân tích tình hình thực tế sử dụng vốn lưu độngcủa doanh nghiệp năm báo cáo, sự thay đổi về quy mô kinh doanh và tốc độ luânchuyển vốn lưu động năm kế hoạch, hoặc sự biến động nhu cầu vốn lưu độngtheo doanh thu thực hiện năm báo cáo để xác định nhu cầu vốn lưu động củadoanh nghiệp năm kế hoạch Các phương pháp gián tiếp cụ thể như sau:
+ Phương pháp điều chỉnh theo tỷ lệ phần trăm nhu cầu VLĐ so với năm báo cáo
+ Phương pháp tổng mức luân chuyển vốn và tốc độ luân chuyển vốn năm kế
Trang 20+ Phương pháp dựa vào tỷ lệ phần trăm trên doanh thu
(2) Quản trị vốn tồn kho dự trữ
- Vốn tồn kho dự trữ và các nhân tố ảnh hưởng đến dự trữ vốn tồn kho
Tồn kho dự trữ là những tài sản mà doanh nghiệp dự trữ để đưa vào sản xuấthoặc bán ra sau này
Việc hình thành lượng hàng tồn kho đòi hỏi phải ứng trước một lượng tiền nhấtđịnh gọi là vốn tồn kho dự trữ Việc quản lý vốn tồn kho dự trữ là rất quantrọng, không phải vì nó thường chiếm tỷ trọng lớn trong số VLĐ của doanhnghiệp mà quan trọng hơn là giúp doanh nghiệp tránh được tình trạng vật tưhàng hóa ứ đọng, chậm luân chuyển, đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp diễn ra bình thường, góp phần đẩy nhanh tốc độ luânchuyển VLĐ
Quy mô vốn tồn kho dự trữ chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi mức tồn kho dự trữ củadoanh nghiệp Tuy nhiên, từng loại tồn kho dự trữ lại có các nhân tố ảnh hưởngkhác nhau Đối với tồn kho dự trữ nguyên vật liệu thường chịu ảnh hưởng bởiyếu tố quy mô sản xuất, khả năng cung ứng vật tư của thị trường, giá cả vật tưhàng hóa, khoảng cách vận chuyển từ nơi cung ứng đến doanh nghiệp Đối vớicác loại sản phẩm dở dang, bán thành phẩm thường chịu ảnh hưởng bởi các yếu
tố kỹ thuật, công nghệ sản xuất, thời gian chế tạo sản phẩm, trình độ tổ chức sảnxuất của doanh nghiệp Riêng đối với mức tồn kho thành phẩm, các nhân tố ảnhhưởng thường là số lượng sản phẩm tiêu thụ, sự phối hợp nhịp nhàng giữa khâusản xuất và khâu tiêu thụ, sức mua của thị trường… Nhận thức rõ các nhân tốảnh hưởng sẽ giúp cho doanh nghiệp có biện pháp quản lý phù hợp nhằm duy trìlượng tồn kho dự trữ hợp lý nhất
- Mô hình quản lý hàng tồn kho:
Mô hình quản lý hàng tồn kho dự trữ trên cơ sở tối thiểu hóa tổng chi phí tồnkho dự trữ gọi là mô hình tổng chi phí tối thiểu (EOQ)
Trang 21Hình 1.1: Mô hình tổng chi phí tối thiểu (EOQ)
Theo mô hình này người ta thường giả định số lượng hàng đặt mỗi lần là đềuđặn và bằng nhau Khi đó mức đặt hàng kinh tế QE sẽ bằng:
QE = √2 × c 2 ×Qn c 1
Trong đó:
QE: Mức đặt hàng kinh tế
c1: Chi phí lưu giữ, bảo quản đơn vị hàng tồn kho
c2: Chi phí một lần thực hiện hợp đồng cung ứng
Qn: Số lượng vật tư hàng hóa cần cung ứng trong năm
(3) Quản trị vốn bằng tiền
Vốn bằng tiền (gồm tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển) là một bộphận cấu thành tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp Đây là loại tài sản có tínhthanh khoản cao nhất và quyết định khả năng thanh toán của doanh nghiệp
Quản trị vốn bằng tiền của doanh nghiệp có yêu cầu cơ bản là vừa phải đảm bảo
sự an toàn tuyệt đối, đem lại khả năng sinh lời cao nhưng đồng thời cũng phảiđáp ứng kịp thời các nhu cầu thanh toán bằng tiền mặt Như vậy, khi có tiền mặtnhàn rỗi, doanh nghiệp có thể đầu tư vào chứng khoán ngắn hạn, cho vay haygửi vào ngân hàng để thu lợi nhuận Ngược lại, khi cần tiền mặt doanh nghiệp
có thể rút tiền gửi ngân hàng, bán chứng khoán hoặc đi vay ngắn hạn ngân hàng
Trang 22để có tiền mặt sử dụng.
Quản trị vốn bằng tiền trong doanh nghiệp gồm các nội dung chủ yếu:
- Xác định đúng đắn mức dự trữ tiền mặt hợp lý, tối thiểu để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu bằng tiền mặt của doanh nghiệp trong kỳ
Các phương pháp xác định mức dự trữ tiền mặt hợp lý của doanh nghiệp:
+ Căn cứ vào số liệu thống kê nhu cầu chi dùng tiền mặt bình quân một ngày
và số ngày dự trữ tiền mặt hợp lý
+ Mô hình chi phí tối thiểu (mô hình Baumol) trong quản trị tồn kho dự trữ.Quyết định tồn trữ tiền mặt mục tiêu của doanh nghiệp được dựa trên cơ sở xemxét sự đánh đổi giữa chi phí của việc giữ quá nhiều tiền mặt với chi phí giaodịch do giữ quá ít tiền mặt
- Quản lý chặt chẽ các khoản thu chi tiền mặt
Doanh nghiệp cần quản lý chặt chẽ các khoản thu chi tiền mặt để tránh bị mấtmát, lợi dụng Thực hiện nguyên tắc mọi khoản thu chi tiền mặt đều phải quaquỹ Phân định trách nhiệm trong quản lý tiền mặt giữa kế toán và thủ quỹ Việcxuất, nhập quỹ tiền mặt hàng ngày phải có chứng từ hợp thức và hợp pháp Phảithực hiện đối chiếu, kiểm tra tồn quỹ tiền mặt với sổ quỹ hàng ngày Theo dõi,quản lý chặt chẽ các khoản tiền tạm ứng, tiền đang trong quá trình thanh toán
- Chủ động lập và thực hiện kế hoạch lưu chuyển tiền tệ hàng năm
Doanh nghiệp phải có biện pháp đảm bảo cân đối thu chi tiền mặt và sử dụng cóhiệu quả nguồn tiền mặt tạm thời nhàn rỗi (đầu tư tài chính ngắn hạn) Thựchiện dự báo và quản lý có hiệu quả các dòng tiền nhập, xuất ngân quỹ trong từngthời kỳ để chủ động đáp ứng yêu cầu thanh toán nợ của doanh nghiệp khi đáohạn
(4) Quản trị các khoản phải thu
Khoản phải thu là số tiền khách hàng nợ doanh nghiệp do mua chịu hàng hóahoặc dịch vụ Trong kinh doanh hầu hết các doanh nghiệp đều có khoản nợ phảithu nhưng với quy mô, mức độ khác nhau Nếu các khoản phải thu quá lớn, tức
Trang 23số vốn của doanh nghiệp bị chiếm dụng cao, hoặc không kiểm soát nổi sẽ ảnhhưởng xấu đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Quản trị khoản phải thu cũng liên quan đến sự đánh đổi giữa lợi nhuận và rủi rotrong bán chịu hàng hóa, dịch vụ Nếu doanh nghiệp không bán chịu sẽ mất đi
cơ hội tiêu thụ sản phẩm, mất cơ hội tạo mối quan hệ với đối tác, từ đó mất đi cơhội thu lợi nhuận Nhưng nếu doanh nghiệp bán chịu hay bán chịu ở mức quánhiều thì doanh nghiệp có thể phải đối mặt với rủi ro phải thu khó đòi, thậm chíkhông thể đòi được Vì vậy, nếu khả năng sinh lời từ việc bán chịu lớn hơn rủi rothì doanh nghiệp có thể mở rộng việc bán chịu và ngược lại
Để quản trị các khoản phải thu doanh nghiệp cần chú trọng thực hiện các biệnpháp sau:
- Xác định chính sách bán chịu hợp lý đối với từng khách hàng.
Trước hết doanh nghiệp cần xác định đúng đắn các tiêu chuẩn hay giới hạn tốithiểu về mặt uy tín của khách hàng để doanh nghiệp có thể chấp nhận bán chịu
và áp dụng chính sách bán chịu nới lỏng hay thắt chặt Ngoài ra, doanh nghiệpcũng phải xác định đúng đắn các điều khoản bán chịu hàng hóa, dịch vụ baogồm việc xác định thời hạn bán chịu và tỷ lệ chiết khấu thanh toán Về nguyêntắc, doanh nghiệp chỉ có thể nới lỏng thời hạn bán chịu khi lợi nhuận tăng thêmnhờ doanh thu tiêu thụ lớn hơn chi phí tăng thêm cho quản trị các khoản phải thucủa doanh nghiệp Tương tự, trường hợp áp dụng chính sách bán hàng có chiếtkhấu thì chi phí tiết kiệm được trong quản lý các khoản phải thu phải lớn hơn lợinhuận doanh nghiệp dành trả cho khách hàng do giảm giá hàng bán chịu
- Phân tích uy tín tài chính của khách hàng mua chịu.
Để tránh tổn thất do các khoản nợ không có khả năng thu hồi doanh nghiệp cầnđánh giá khả năng tài chính và mức độ đáp ứng yêu cầu thanh toán của kháchhàng khi khoản nợ đến hạn thanh toán Việc đánh giá đó phải thực hiện qua cácbước:
+ Thu thập thông tin về khách hàng (ví dụ báo cáo tài chính của doanh
Trang 24nghiệp khách hàng; các kết quả xếp hạng tín nhiệm, xếp hạng tín dụng; cácthông tin liên quan khác,…)
+ Đánh giá uy tín của khách hàng theo các thông tin thu thập được
+ Lựa chọn quyết định nới lỏng hay thắt chặt bán chịu, thậm chí từ chối bánchịu
- Áp dụng các biện pháp quản lý và nâng cao hiệu quả thu hồi nợ:
+ Sử dụng kế toán thu hồi nợ chuyên nghiệp: Có bộ phận kế toán theo dõikhách hàng nợ; kiểm soát chặt chẽ nợ phải thu đối với từng khách hàng; xácđịnh hệ số nợ phải thu trên doanh thu hàng bán tối đa cho phép đối với từngkhách hàng mua chịu
+ Xác định trọng tâm quản lý và thu hồi nợ trong từng thời kỳ để có chínhsách thu hồi nợ thích hợp: Thực hiện các biện pháp thích hợp để thu hồi nợđến hạn, nợ quá hạn như gia hạn nợ, thỏa ước xử lý nợ, bán lại nợ, yêu cầu
sự tham gia của Tòa án kinh tế nếu khách hàng nợ chây ỳ hoặc mất khả năngthanh toán nợ
+ Thực hiện các biện pháp phòng ngừa rủi ro bán chịu như trích trước dựphòng nợ phải thu khó đòi; trích lập quỹ dự phòng tài chính
1.2.2.4 Quản trị vốn cố định của doanh nghiệp
Quản trị vốn cố định là một nội dung quan trọng trong quản trị vốn kinh doanhcủa các doanh nghiệp Điều đó không chỉ ở chỗ vốn cố định thường chiếm một
tỷ trọng lớn trong tổng số vốn kinh doanh của doanh nghiệp, có ý nghĩa quyếtđịnh tới năng lực sản xuất của doanh nghiệp mà còn do việc sử dụng vốn cốđịnh thường gắn liền với hoạt động đầu tư dài hạn, thu hồi vốn chậm và dễ gặprủi ro
(1) Lựa chọn quyết định đầu tư TSCĐ
Vì TSCĐ là những tài sản có giá trị lớn, thời gian sử dụng lâu dài nên nếu đầu tưTSCĐ mà không có tính toán hợp lý không phù hợp với tình hình sản xuất hiện
Trang 25tại của doanh nghiệp thì TSCĐ sẽ không được sử dụng gây lãng phí ứ đọng vốnkinh doanh Ví dụ như nếu lựa chọn đầu tư TSCĐ lớn nhưng chỉ phục vụ chosản xuất kinh doanh trong một thời gian ngắn, ít cần đến thì sẽ dẫn đến lãng phívốn ứ đọng vốn vì không trích được khấu hao để thu hồi vốn đầu tư.
Trong việc lựa chọn quyết định đầu tư TSCĐ phải đánh giá đúng giá trị củaTSCĐ tạo điều kiện phản ánh chính xác tình hình biến động của vốn cố định,quy mô vốn phải bảo toàn Điều chỉnh kịp thời giá trị của TSCĐ để tạo điều kiệntính đúng, tính đủ chi phí khấu hao, không để mất vốn cố định
(2) Lựa chọn phương pháp khấu hao và xác định mức khấu hao thích hợp.
Trong quản trị vốn cố định nội dung cần quan tâm đầu tiên là khấu hao TSCĐcủa doanh nghiệp Khấu hao TSCĐ xuất phát từ đặc điểm hao mòn của TSCĐtrong quá trình sử dụng Do nhiều nguyên nhân khác nhau mà TSCĐ trong quátrình sử dụng luôn bị hao mòn dưới 2 hình thức là hao mòn hữu hình và haomòn vô hình Về mặt kinh tế, hao mòn TSCĐ dù xảy ra dưới hình thức nào cũng
là sự tổn thất giá trị TSCĐ của doanh nghiệp Nhằm bù đắp các hao mòn TSCĐ
và thu hồi số vốn cố định đã đầu tư ban đầu để tái sản xuất giản đơn hoặc mởrộng TSCĐ, các doanh nghiệp tiến hành khấu hao TSCĐ
Khấu hao TSCĐ là việc phân bổ một cách có hệ thống giá trị phải thu hồi củaTSCĐ vào chi phí sản xuất kinh doanh trong suốt thời gian sử dụng hữu ích củaTSCĐ Về mặt kinh tế, khấu hao TSCĐ được coi là một khoản chi phí sản xuấtkinh doanh và được tính vào giá thành sản phẩm trong kỳ nhưng nó là khoản chiphí phân bổ nhằm thu hồi vốn đầu tư ứng trước để hình thành TSCĐ nên khôngtạo nên dòng tiền mặt chi ra Số tiền khấu hao thu hồi được tích lũy lại hìnhthành nên quỹ khấu hao TSCĐ của doanh nghiệp, doanh nghiệp có thể sử dụngquỹ này linh hoạt nhưng phải đảm bảo hoàn trả đúng hạn Về nguyên tắc, việckhấu hao phải đảm bảo phù hợp với mức độ hao mòn của TSCĐ và thu hồi đầy
đủ số vốn cố định đã đầu tư ban đầu vào TSCĐ để đảm bảo tính chính xác của
Trang 26Khấu hao TSCĐ trong doanh nghiệp có thể thực hiện theo nhiều phương phápkhác nhau, mỗi phương pháp có những ưu, nhược điểm và điều kiện áp dụngriêng Việc lựa chọn đúng phương pháp khấu hao TSCĐ là nội dung chủ yếu,quan trọng trong quản lý vốn cố định của doanh nghiệp Theo quy định hiệnhành ở nước ta có các phương pháp khấu hao sau:
+ Phương pháp khấu hao đường thẳng: Đây là phương pháp đơn giản và
được sử dụng phổ biến nhất Theo phương pháp này, mức khấu hao và tỷ lệkhấu hao hàng năm được tính bình quân trong suốt thời gian sử dụng hữu íchcủa TSCĐ Công thức xác định như sau:
Trong đó:
MKH: Mức khấu hao hàng năm
TKH: Tỷ lệ khấu hao hàng năm
NGKH: Nguyên giá TSCĐ phải khấu hao
T: Thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐ (năm)
Phương pháp khấu hao theo đường thẳng có ưu điểm là tính toán đơn giản, chiphí khấu hao được phân bổ vào giá thành sản phẩm ổn định nên không gây độtbiến về giá thành, cho phép doanh nghiệp dự kiến trước được thời hạn thu hồi
đủ vốn để đầu tư vào các TSCĐ Tuy nhiên phương pháp này không thật phùhợp với các loại TSCĐ hoạt động có tính chất thời vụ, không đều đặn giữa cácthời kỳ trong năm, do số vốn được thu hồi bình quân nên số vốn thu hồi chậm sẽ
Trang 27chịu ảnh hưởng bất lợi của hao mòn vô hình.
+ Phương pháp khấu hao nhanh:
Thực chất của phương pháp khấu hao nhanh là đẩy nhanh việc thu hồi vốntrong những năm đầu sử dụng TSCĐ Khấu hao nhanh có thể thực hiện theo 2phương pháp: Khấu hao theo số dư giảm dần và khấu hao theo tổng số thứ tựnăm sử dụng
Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần có điều chỉnh: Theo phương
pháp này mức khấu hao hàng năm được xác định bằng cách lấy giá trị cònlại của TSCĐ phải tính khấu hao nhân với tỷ lệ khấu hao nhanh, đến năm màmức khấu hao theo tỷ lệ khấu hao nhanh nhỏ hơn mức khấu hao theo đườngthẳng (tính bằng cách lấy giá trị còn lại của TSCĐ đầu năm đó chia cho sốnăm sử dụng hữu ích còn lại của TSCĐ) thì điều chỉnh mức khấu hao cácnăm còn lại bằng mức khấu hao theo đường thẳng Công thức tính toán nhưsau:
MKHt = GCt x TKHđ
Trong đó:
MKHt: Mức khấu hao theo tỷ lệ khấu hao nhanh năm t
GCt: Giá trị còn lại của TSCĐ ở đầu năm thứ t
TKHđ: Tỷ lệ khấu hao nhanh của TSCĐ
t: Thứ tự năm sử dụng TSCĐ (t=1→n)
Tỷ lệ khấu hao nhanh được xác định bằng cách lấy tỷ lệ khấu hao bình quânnhân với hệ số điều chỉnh khấu hao nhanh, hệ số điều chỉnh thường được xácđịnh là 1,5 nếu TSCĐ có thời hạn sử dụng từ 4 năm trở xuống; là 2,0 nếu TSCĐ
có thời hạn sử dụng từ trên 4 năm đến dưới 6 năm; là 2,5 nếu TSCĐ có thời hạn
sử dụng trên 6 năm
Phương pháp khấu hao theo tổng số thứ tự năm sử dụng:
Theo phương pháp này, mức khấu hao hàng năm được xác định bằng nguyên giáTSCĐ cần tính khấu hao nhân với tỷ lệ khấu hao của từng năm Công thức tính
Trang 28như sau:
MKHt = NGKH x TKHt
Trong đó:
MKHt: Mức khấu hao năm t
NGKH: Nguyên giá TSCĐ phải tính khấu hao
TKHt: Tỷ lệ khấu hao của năm thứ t cần tính khấu hao
Tỷ lệ khấu hao của năm cần tính khấu hao có thể tính theo 2 cách:
Cách 1: Lấy số năm sử dụng còn lại của TSCĐ cho đến khi hết thời gian sử
dụng chia cho tổng số thứ tự năm sử dụng
Cách 2: Áp dụng công thức sau: TKHt = 2(T −t+1) T (T +1)
Trong đó:
TKHt: Tỷ lệ khấu hao của năm cần tính khấu hao
T: Thời hạn sử dụng TSCĐ (năm)
t: Thời điểm (năm t) cần tính khấu hao
Phương pháp khấu hao nhanh có ưu điểm cơ bản là giúp cho doanh nghiệpnhanh chóng thu hồi vốn đầu tư, hạn chế ảnh hưởng của hao mòn vô hình, tạo láchắn thuế từ khấu hao cho doanh nghiệp Tuy nhiên nó cũng làm cho chi phíkinh doanh trong những năm đầu tăng cao, làm giảm lợi nhuận, ảnh hưởng đếncác chỉ tiêu tài chính, nhất là các chỉ tiêu về khả năng sinh lời, ảnh hưởng đếngiá trị công ty trên thị trường
+ Phương pháp khấu hao theo sản lượng: Theo phương pháp này mức khấu
hao hàng năm được xác định bằng cách lấy sản lượng dự kiến sản xuất hàngnăm nhân với mức trích khấu hao tính cho một đơn vị sản phẩm hoặc khốilượng công việc hoàn thành Công thức tính như sau:
MKHt = QSPt x MKHspTrong đó:
MKHt: Mức khấu hao TSCĐ ở năm t
Trang 29QSPt: Số lượng sản phẩm sản xuất trong năm t
MKHsp: Mức khấu hao đơn vị sản phẩm
Phương pháp này phù hợp với những TSCĐ hoạt động có tính chất thời vụ trongnăm và có liên quan trực tiếp đến việc sản xuất sản phẩm Do khấu hao đượctính theo khối lượng sản phẩm hoặc công việc thực tế thực hiện nên phản ánhhợp lý hơn mức độ hao mòn của TSCĐ vào giá trị sản phẩm Tuy nhiên, phươngpháp này đòi hỏi việc thống kê khối lượng sản phẩm, công việc do TSCĐ thựchiện trong kỳ phải được rõ ràng, đầy đủ
(3) Quản lý và sử dụng quỹ KH TSCĐ
Về mặt kinh tế khấu hao được coi là một khoản chi phí sản xuất kinh doanh vàđược tính vào giá thành sản phẩm trong kỳ tuy nhiên với mỗi loại chi phí kháckhấu hao là khoản chi phí được phân bổ nhằm thu lại vốn đầu tư ứng trước đểhình thành TSCĐ, vì thế không tạo nên dòng tiền mặt chi ra trong kỳ Số tiềnkhấu hao thu về được tích lũy hình thành lên quy khấu hao TSCĐ của doanhnghiệp Quỹ khấu hao này đung để tái sản xuất giản đơn hoặc tái sản xuất mởrộng Trong quá trình kinh doanh doanh nghiệp có quyền chủ động sử dụng sốtiền khấu hao một cách linh hoạt, hiệu quả nhưng phải đảm bảo hoàn trả đúnghạn Số tiền khấu hao này khi doanh nghiệp có nhu cầu đầu tư để tái sản xuấtgiản đơn hoặc mở rộng TSCĐ của doanh nghiệp
(4) Quản lý và sử dụng TSCĐ
Các TSCĐ của công ty đều phải giao cụ thể cho từng đơn vị, cá nhân chịu tráchnhiệm quản lý, sử dụng Việc giao nhận tài sản phải được người có thẩm quyềnchấp nhận và khi bàn giao thực tế phải có biên bản giao nhận tài sản Quản lý tàisản cần thực hiện thống nhất, có phân công, phân cấp rõ thẩm quyền, tráchnhiệm của từng đơn vị, cá nhân và trách nhiệm phối hợp giữa các đơn vị theoquy định của doanh nghiệp Thực hiện quản lý TSCĐ bằng phần mềm chuyêndụng và hạch toán đầy đủ theo chế độ kế toán
Phải đánh giá đúng giá trị của tài sản cố định trong doanh nghiệp.
Trang 30Thông thường người ta có thể đánh giá giá trị tài sản cố định theo nguyên giá,hoặc giá trị tài sản cố định theo giá trị còn lại hoặc theo giá trị của tài sản tương
tự có mặt trên thị trường Tùy thuộc vào khả năng đánh giá cũng như điều kiệncủa từng doanh nghiệp mà có thể lựa chọn các biện pháp đánh giá khác nhau.Tuy nhiên, mục tiêu hướng đến vẫn là nhằm phản ánh chính xác tình hình biếnđộng của vốn cố định, quy mô vốn phải bảo toàn, điều chỉnh kịp thời giá trị củatài sản cố định để tạo điều kiện tính đúng, tính đủ chi phí khấu hao, không đểmất vốn cố định
- Chú trọng đổi mới trang thiết bị, phương pháp công nghệ sản xuất.
Hao mòn vô hình chính là nguyên nhân dẫn đến các tài sản cố định trong doanhnghiệp nhanh chóng bị lạc hậu mặc dù có thể doanh nghiệp vừa mua tài sản đó
về sử dụng chưa được bao lâu Một khi các trang thiết bị, máy móc đã bị lạc hậu
sẽ dẫn đến năng suất lao động giảm sút, từ đó số lượng và chất lượng sản phẩm
có thể giảm, giá thành lại cao hơn so với mặt bằng chung, làm tăng chi phí, giảmlợi nhuận của doanh nghiệp Chính vì vậy, đòi hỏi các nhà quản trị phải nhạybén, đi tắt đón đầu công nghệ, bắt kịp với thời đại để không dẫn đến tình trạngphải nuối tiếc khi các tài sản cố định còn mới của mình lại phải ngừng sử dụnghoặc sử dụng không hiệu quả
- Thực hiện tốt chế độ bảo dưỡng, sửa chữa dự phòng tài sản cố định.
Trong quá trình sử dụng tài sản cố định, các yếu tố thuộc về tự nhiên cũng nhưcác yếu tố thuộc về trình độ kỹ thuật công nghệ, chất lượng nguyên liệu vật liệu,
… đã tác động đến mức độ hao mòn hữu hình của tài sản cố định Để cho tài sản
cố định có thể phát huy được tối đa công suất thiết kế thì doanh nghiệp phải tạolập một chế độ bảo dưỡng, bảo trì và sửa chữa thích hợp tránh trường hợp các tàisản cố định bị hư hỏng, hoạt động dưới công suất, từ đó làm giảm đi hiệu quảsản xuất của doanh nghiệp
- Doanh nghiệp phải chủ động thực hiện các biện pháp phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh.
Trang 31Hiệu suất sử dụng TSCĐ
=
Doanh thu thuần trong kỳNguyên giá TSCĐ bình quân trong kỳ
Để hạn chế tổn thất vốn cố định do các nguyên nhân khách quan, doanh nghiệp
có thể thực hiện một số biện pháp sau: Mua bảo hiểm tài sản, lập quỹ dự phòngtài chính, trích trước chi phí dự phòng giảm giá các khoản đầu tư tài chính
- Doanh nghiệp cũng có thể cho các tổ chức và cá nhân thuê hoạt động các tài sản thuộc quyền quản lý và sử dụng của mình
Mục đích của việc này là để nâng cao hiệu suất sử dụng, tăng thu nhập song phảitheo dõi, thu hồi tài sản cho thuê khi hết hạn Các tài sản cho thuê hoạt độngdoanh nghiệp vẫn phải trích khấu hao theo chế độ quy định
- Doanh nghiệp được nhượng bán các tài sản không cần dùng, lạc hậu về kỹ thuật.
Để thu hồi vốn sử dụng cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp có hiệu quả hơn, doanh nghiệp có quyền thanh lý những tài sản cố định
đã lạc hậu mà không thể nhượng bán được hoặc đã hư hỏng không có khả năngphục hồi
1.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá tình hình quản trị vốn kinh doanh của doanh nghiệp
1.2.3.1 Nhóm chỉ tiêu đánh giá tình hình quản trị vốn cố định
- Hiệu suất sử dụng TSCĐ: Chỉ tiêu này phản ánh 1 đồng TSCĐ sử dụng trong
kỳ có thể tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần Nguyên giá TSCĐ bình quânđược tính theo phương pháp bình quân giữa nguyên giá TSCĐ cuối kỳ và đầu
kỳ Công thức tính như sau:
- Hiệu suất sử dụng VCĐ: Chỉ tiêu này phản ánh 1 đồng VCĐ sử dụng trong
kỳ có thể tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần VCĐ là phần giá trị còn lại củanguyên giá TSCĐ VCĐ sử dụng trong kỳ bình quân được tính theo phươngpháp bình quân giữa cuối kỳ và đầu kỳ Công thức tính như sau:
Trang 32Tỷ suất lợi nhuận
Lợi nhuận trước thuế (hoặc sau thuế) x 100%
Số VCĐ bình quân trong kỳ
- Hệ số hao mòn TSCĐ: Chỉ tiêu này phản ánh mức độ hao mòn của TSCĐ,
qua đó cũng gián tiếp phản ánh năng lực còn lại của TSCĐ và số vốn cố địnhcòn phải tiếp tục thu hồi ở tại thời điểm đánh giá Hệ số này càng gần 1 chứng tỏTSCĐ đã gần hết hạn sử dụng, vốn cố định cũng sắp thu hồi hết Công thức tínhnhư sau:
- Hàm lượng VCĐ: là chỉ tiêu nghịch đảo với chỉ tiêu hiệu suất vốn cố định
phản ánh để tạo ra một đồng doanh thu thuần trong kỳ thì cần bao nhiêu đồngvốn cố định Hàm lượng VCĐ càng thấp thì hiệu suất sử dụng VCĐ càng cao vàngược lại Công thức tính như sau:
- Tỷ suất lợi nhuận vốn cố định: chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn cố định
bình quân được sử dụng trong kỳ thì có thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuậntrước thuế (hoặc lợi nhuận sau thuế) Công thức tính như sau:
1.2.3.2 Nhóm chỉ tiêu đánh giá tình hình quản trị vốn lưu động
Để đánh giá tình hình quản trị VLĐ của doanh nghiệp cần sử dụng các chỉ tiêusau đây:
- Tốc độ luân chuyển VLĐ: Tốc độ luân chuyển VLĐ phản ánh mức độ luân
chuyển VLĐ nhanh hay chậm và thường được phản ánh qua các chỉ tiêu số vòng
Trang 33Hàm lượng VLĐ = Doanh thu thuầnVLĐ bình quân
quay VLĐ và kỳ luân chuyển VLĐ
+ Số lần luân chuyển VLĐ (Số vòng quay VLĐ): Chỉ tiêu này phản ánh số
vòng quay VLĐ trong một thời kỳ nhất định, thường là 1 năm
Để đơn giản, tổng mức luân chuyển VLĐ thường được xác định bằng doanh thuthuần trong kỳ Số VLĐ bình quân được xác định theo phương pháp bình quân
số học
+ Kỳ luân chuyển VLĐ: Chỉ tiêu này phản ánh để thực hiện một vòng quay
VLĐ cần bao nhiêu ngày Kỳ luân chuyển càng ngắn thì VLĐ luân chuyển càngnhanh và ngược lại
Vòng quay VLĐ càng nhanh thì kỳ luân chuyển VLĐ càng được rút ngắn,chứng tỏ VLĐ càng được sử dụng có hiệu quả, doanh nghiệp có thể giảm bớtđược số VLĐ cần thiết
- Mức tiết kiệm VLĐ: Mức tiết kiệm VLĐ phản ánh số VLĐ tiết kiệm được do
tăng tốc độ luân chuyển VLĐ Nhờ tăng tốc độ luân chuyển VLĐ nên doanhnghiệp có thể rút ra khỏi một số VLĐ để dùng cho các hoạt động khác
¿
-
- Hàm lượng VLĐ: phản ánh để tạo ra một đồng doanh thu thuần thì có sự tham
gia của bao nhiêu đồng vốn VLĐ Hàm lượng VLĐ càng thấp thì VLĐ sử dụngcàng hiệu quả và ngược lại
Mức tiết kiệm
VLĐ
×
Mức luân chuyểnvốn bình quân 1ngày kỳ kế hoạch
Số ngày rút ngắn
kỳ luân chuyểnVLĐ
Trang 34Tỷ suất lợi nhuận VLĐ
Tỷ suất sinh lời kinh tế của tài sản
=
Lợi nhuận trước lãi vay và thuếTổng tài sản (hay VKD) bình quân
- Tỷ suất lợi nhuận VLĐ: chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng VLĐ sử dụng
trong kỳ tham gia sản xuất kinh doanh tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước(sau) thuế trong kỳ
1.2.3.3 Các chỉ tiêu đánh giá tình hình quản trị vốn kinh doanh
- Vòng quay tài sản (hay vòng quay toàn bộ vốn): chỉ tiêu này phản ánh tổng
quát hiệu suất sử dụng tài sản hay toàn bộ vốn hiện có của doanh nghiệp vàđược xác định bằng công thức sau:
- Tỷ suất sinh lời kinh tế của tài sản (BEP):
Tỷ suất sinh lời kinh tế của tài sản (BEP) hay còn gọi là tỷ suất lợi nhuận trước
lãi vay và thuế trên VKD Chỉ tiêu này cho phép đánh giá khả năng sinh lời của
một đồng VKD không tính đến ảnh hưởng của nguồn gốc của VKD và thuế thunhập doanh nghiệp
- Tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên VKD: chỉ tiêu này phản ánh mỗi đồng
VKD bình quân trong kỳ có khả năng sinh lời bao nhiêu đồng lợi nhuận sau khi
đã trang trải lãi tiền vay
Trang 35Tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên VKD
- Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên VKD (ROA): Chỉ tiêu này phản ánh mỗi
đồng vốn sử dụng trong kỳ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế Chỉ tiêunày còn được gọi là tỷ suất sinh lời ròng của tài sản
- Tỷ suất lợi nhuận VCSH (ROE): Chỉ tiêu này đo lường một mức lợi nhuận
sau thuế thu được trên mỗi đồng vốn của chủ sở hữu trong kỳ Đây là chỉ tiêuđược các nhà đầu tư rất quan tâm
1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản trị vốn kinh doanh của doanh nghiệp
Vốn kinh doanh của doanh nghiệp được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau,tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau và thường xuyên chuyển hóa lẫn nhau.Quá trình vận động đó chịu tác động của nhiều nhân tố, ảnh hưởng đến quản trịvốn của doanh nghiệp
1.2.4.1 Những nhân tố khách quan
- Cơ chế quản lý và các chính sách vĩ mô của Nhà nước: các chính sách của
Nhà nước rất quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhưchính sách thuế, chính sách ưu đãi đầu tư, chính sách khuyến khách đầu tư, chế
độ khấu hao TSCĐ đến chính sách cho vay, bảo hộ và khuyến khích nhậpkhẩu một số loại công nghệ nhất định đều có thể làm tăng hay giảm hiệu quảquản trị TSCĐ, TSLĐ của doanh nghiệp
- Lạm phát trong nền kinh tế: Lạm phát ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp thông qua giá cả đầu vào và đầu ra Khi giá của các yếu tố đầu
Trang 36vào tăng cao trong khi giá của đầu ra không tăng hoặc tăng với tốc độ khôngbằng tốc độ tăng của các yếu tố đầu vào thì với điều kiện các yếu tố khác khôngđổi thì sẽ làm cho lợi nhuận của doanh nghiệp bị giảm xuống từ đó làm cho tỷsuất lợi nhuận trên vốn kinh doanh sẽ giảm Ngoài ra lạm phát còn ảnh hưởngrất lớn đến công tác trích khấu hao Do khấu hao được tính trên giá trị sổ sáchtại lúc đem vào sử dụng nên giá trị khấu hao không đủ để đáp ứng nhu cầu táisản xuất TSCĐ mới.
- Lãi suất thị trường: Lãi suất thị trường ảnh hưởng rất lớn đến tình hình tài
chính của doanh nghiệp Lãi suất thị trường ảnh hưởng tới cơ hội đầu tư vốn, chiphí sử dụng vốn và cơ hội huy động vốn của doanh nghiệp
- Sự tiến bộ của khoa học công nghệ: Khoa học công nghệ có thể sẽ là cơ hội
khi doanh nghiệp chấp nhận đầu tư mạo hiểm tiếp cận kịp thời với tiến bộ khoahọc công nghệ, còn sẽ là nguy cơ nến doanh nghiệp không kịp thời đầu tư đổimới Sự tiến bộ của khoa học công nghệ làm tăng hao mòn vô hình của tài sản từ
đó góp phần làm mất vốn của doanh nghiệp Điều này khiến doanh nghiệp lâmvào tình trạng bị động khi mà đặc điểm của VCĐ là có thời gian hoàn vốn dài
- Đặc thù ngành kinh doanh: Ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp ảnh
hưởng đến cơ cấu vốn đầu tư và cơ cấu nguồn vốn cũng như vòng quay vốn Do
đó, việc so sánh các chỉ tiêu phản ánh tình hình quản trị vốn của doanh nghiệpvới chỉ tiêu trung bình ngành là cần thiết nhằm phát hiện những ưu điểm, hạnchế trong quản trị vốn
- Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường: một doanh nghiệp
nếu có sức cạnh tranh cao trên thị trường, khả năng tiêu thụ sản phẩm lớn thìcho dù trong điều kiện nền kinh tế như thế nào thì công ty đó cũng sẽ có doanhthu và có lợi nhuận, từ đó nâng cao tỷ suất lợi nhuận trên VKD cao
- Rủi ro bất thường trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp: như hỏa
hoạn, bão lụt, các biến động trong sản xuất và về thị trường làm cho tài sảncủa doanh nghiệp bị hư hại, khó hoặc không thể sửa chữa, dẫn đến vốn của
Trang 37doanh nghiệp bị mất mát Hậu quả nghiêm trọng hơn nữa là doanh nghiệp có thểlâm vào tình trạng phá sản.
1.2.4.2 Những nhân tố chủ quan
- Trình độ tổ chức bộ máy quản lý, tổ chức sản xuất: Đây là yếu tố chủ quan
có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tăng cường quản trị VKD Khi Bộ máy tổchức quản lý gọn nhẹ, ăn khớp hoạt động một cách nhịp nhàng sẽ giúp chodoanh nghiệp quản trị vốn có hiệu quả, ngược lại thì nếu trình độ quản lý yếukém hoặc bị buông lỏng sẽ không bảo toàn được vốn Trong công tác này phảichú trọng đến quản trị vốn kinh doanh như : Xác định nhu cầu vốn, bố trí cơ cấuvốn, sử dụng vốn hợp lý đúng mục đích, tổ chức tốt công tác thu hồi nợ, tránhlãng phí
- Chu kỳ sản xuất kinh doanh: Khi chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp mà ngắn thì việc quay vòng vốn của doanh nghiệp sẽ nhanh hơn, doanhnghiệp nhanh chóng thu hồi vốn để đáp ứng cho chu kỳ hoạt động tiếp theo.Ngược lại, nếu chu kỳ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp kéo dài thì vốncủa doanh nghiệp sẽ bị ứ đọng, thời gian thu hồi vốn chậm đồng thời sẽ gây khókhăn cho doanh nghiệp trong việc thanh toán các khoản nợ đến hạn
- Trình độ tay nghề của người lao động: Trình độ người lao động có tác động
rất lớn đến mức độ sử dụng hiệu quả tài sản, năng suất lao động, chất lượng sảnphẩm, mức độ phế phẩm từ đó tác động đến khả năng tiêu thụ sản phẩm củadoanh nghiệp và lợi nhuận của doanh nghiệp
- Cơ chế khuyến khích và trách nhiệm vật chất trong doanh nghiệp: Đây
là nhân tố tác động đến thái độ và ý thức làm việc của người lao động Một khidoanh nghiệp có cơ chế khuyến khích vật chất, trách nhiệm cao, công bằng thì
sẽ thúc đẩy người lao động nâng cao ý thức làm việc và thường xuyên có nhữngcống hiến cho doanh nghiệp trong công việc Từ đó góp phần tăng cường quảntrị vốn trong doanh nghiệp
- Chi phí sử dụng vốn: Khi doanh nghiệp sử dụng bất cứ nguồn vốn nào đều
Trang 38phải chịu một chi phí sử dụng vốn nhất định Chi phí này sẽ ảnh hưởng đến lợinhuận của doanh nghiệp và tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu Như vậy khiquản trị vốn doanh nghiệp cũng cần xem xét chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ racho việc huy động này từ đó có biện pháp quản trị vốn cho hợp lý.
Trang 39CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ VỐN KINH DOANH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN LILAMA 3 TRONG THỜI GIAN QUA
2.1 Khái quát quá trình hình thành phát triển và đặc điểm hoạt động kinh
doanh của công ty
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển công ty cổ phần LILAMA 3
- Tên công ty bằng tiếng Việt: Công ty cổ phần LILAMA 3
- Tên công ty viết bằng tiếng nước ngoài:
- Tên công ty viết tắt: LILAMA 3
- Đại diện: Nguyễn Tiến Thành - Chức vụ: Tổng Giám đốc
- Trụ sở chính: Lô 24, KCN Quang Minh, Hà Nội, Việt Nam
Tổng giám đốc : Nguyễn Tiến Thành
Trụ sở : lô 24 + 25, Khu công nghiệp Quang Minh, huyện Mê Linh, thành phố
Hà Nội, Việt Nam
Tel: 04 3818 2554 Fax : (+84) 4 3818 2550
Công ty Cổ phần LILAMA 3 được thành lập ngày 1960 có những cột mốc pháttriển quan trọng như sau:
- Năm 1960 thành lập công trường lắp máy C1 Việt Trì
- Năm 1984 đổi tên thành Xí nghiệp lắp máy số 3 thuộc liên hiệp các xí nghiệplắp máy
- Năm 1995 Liên hiệp các xí nghiệp lắp máy đổi tên thành Tổng công ty Lắpmáy Việt Nam
Trang 40Xí nghiệp lắp máy số 3 đổi tên thành công ty Lắp máy và Xây dựng số 3
- Năm 2001 thành lập Xí nghiệp cơ khí và lắp máy với nhà máy có công suất
4500 tấn/năm
- Năm 2003 thành lập trung tâm tư vấn thiết kế
- Năm 2005 xây dựng nhà máy chế tạo cơ khí với công suất 6000 tấn/năm
Lilama 3 thực hiện các dự án với với vai trò Tổng thầu EPC
- Năm 2006 LILAMA 3 cổ phần hóa và đổi tên thành Công ty cổ phần LILAMA
3
Thành lập xí nghiệp LILAMA 3.4 với ngành nghề kinh doanh: kinh doanh vật
tư, thiết bị, vật liệu xây dựng, thi công xây dựng các công trình công nghiệp,giao thông, dân dụng…
- Năm 2007 Xây dựng nhà máy chế tạo cơ khí và đóng tàu công suất 15.800tấn/năm
- Năm 2008 LILAMA 3 chuyển trụ sở về Hà Nội
- Năm 2009 chính thức niêm yết cổ phiếu và giao dịch chứng khoán tại Sở giaodịch chứng khoán Hà Nội
Góp vốn thành lập công ty cổ phần LILAMA 3.4 chuyên kinh doanh vật liệuxây dựng, xăng dầu, chất đốt, chế tạo, lắp đặt các công trình dân dụng và côngnghiệp
Thành lập văn phòng đại diện tại Lào Cai
- Năm 2010 góp vốn thành lập công ty cổ phần LILAMA 3.3 với ngành nghềkinh doanh chính là chế tạo kết cấu thép thiết bị cơ khí tiêu chuẩn, phi tiêuchuẩn cho các công trình xây dựng công nghiệp , dân dụng và xuất khẩu
Liên doanh với công ty TNHH Dai Nippon Toryo (Nhật Bản) thành lập công tyTNHH LILAMA 3-DNT chuyên sản xuất và kinh doanh sơn
Hiện nay vốn điều lệ của công ty là 51.500.000.000 đồng, tổng số cổ phần là5.150.000 cổ phần với mệnh giá là 10.000đ/cổ phần trong đó: