Để đáp ứng nhu cầu quản lý nhà nước về đất đai, tạo điều kiện chuyển dịch cơ cấu các loại đất một cách hợp lý, Chính phủ đã giao cho BTNMT - cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện chức năng q
Trang 1KHOA QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI & BẤT ĐỘNG SẢN
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
: : : : :
TRẦN THỊ DIỄM TRANG
05124137 DH05QL 2005– 2009 Quản Lý Đất Đai
-TP Hồ Chí Minh, tháng 07 năm 2009-
Trang 2BỘ MÔN QUY HOẠCH
TRẦN THỊ DIỄM TRANG
“THỐNG KÊ ĐẤT ĐAI VÀ XÂY DỰNG BẢN ĐỒ
HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT THỊ XÃ TÂN AN
NĂM 2008”
Giáo viên hướng dẫn: Ths NGUYỄN DU
(Địa chỉ cơ quan: Trường Đại Học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh)
(Ký tên: ………)
- Tháng 07 năm 2009 -
Trang 3sản, Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh
Đề tài: “Thống kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất Thị xã Tân An năm 2008”
Giáo viên hướng dẫn: ThS NGUYỄN DU, Bộ môn Quy hoạch, Khoa Quản lý
Đất đai & Bất động sản, Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh
Nội dung tóm tắt của báo cáo:
Đất đai là nguồn tài nguyên có giới hạn, nên vấn đề hàng đầu của mỗi quốc gia hiện nay là cần có một chiến lược quản lý, sử dụng và bảo vệ nguồn tài nguyên này một cách có hiệu quả và hợp lý nhất Nhà nước muốn quản lý tốt đất đai cần phải nắm chắt quỹ đất đai hiện có, phân phối nhu cầu sử dụng đất một cách hợp lý, tiết kiệm và
có hiệu quả cao Muốn thực hiện được điều này, cần thống kê lại toàn bộ quỹ đất đai hiện có để có chính sách, chiến lược phù hợp trong việc sử dụng và khai thác nguồn tài nguyên này một cách có hiệu quả hơn
Thị xã Tân An là trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh Long An, là cửa ngõ kinh tế của các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long với Thành phố Hồ Chí Minh Trong những năm gần đây với sự phát triển kinh tế nhanh chóng, thị xã Tân An đã có những thay đổi về nhiều mặt, trong đó có sự thay đổi về cơ cấu sử dụng đất và những vấn đề
có liên quan đến đất đai
Đề tài được thực hiện dựa trên các văn bản pháp luật hiện hành, các khái niệm cũng như các vấn đề có liên quan đến thống kê đất đai ở nước ta, bằng các phương pháp nghiên cứu chủ đạo như phương pháp thống kê, bản đồ, chuyên gia,
Đề tài đã thu thập và tổng hợp được số liệu thống kê tương đối đầy đủ, phân tích đánh giá tình hình hiện trạng sử dụng đất, thể hiện rõ tình hình biến động, phân tích nguyên nhân biến động trong sử dụng, quản lý đất theo đơn vị hành chính cấp xã, cũng như đánh giá được việc thực hiện kế hoạch sử dụng đất, làm căn cứ lập quy hoạch sử dụng đất
kỳ tiếp theo cho thị xã Nhìn chung, tổng quỹ đất đã sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn của thị xã Tân An có sự phát triển so với năm 2007, như chuyển đổi từ đất sản xuất nông nghiệp sang đất sản xuất kinh doanh, đất ở,… Như vậy, tổng quỹ đất trên địa bàn thị xã cơ bản đã được khai thác và sử dụng ngày càng hợp lý và
có hiệu quả hơn Đã chứng minh việc quản lý sử dụng đất từng bước đi vào nề nếp góp phần thúc đẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng của thị xã Tân An nói riêng và tỉnh Long An nói chung
Trang 4Để đạt được kết quả như ngày hôm nay em xin thành thật gửi lời cảm ơn đến: cha
mẹ, thầy cô, bạn bè đã giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập
- Cảm ơn cha mẹ đã nuôi dạy em khôn lớn, là chỗ dựa tinh thần to lớn để em vững vàng bước đi trên con đường học vấn
- Cảm ơn thầy cô đã dạy dỗ em, giúp em có thêm những kiến thức, và đó là hành trang mà chúng em mang theo suốt cả cuộc đời
- Cảm ơn thầy Nguyễn Du đã cho em những lời góp ý tận tình, giúp em hoàn thành đề tài tốt nghiệp một cách trọn vẹn
- Cảm ơn bạn bè cùng em học tập, chia sẻ cùng nhau tất cả những buồn vui của thời sinh viên
- Cảm ơn các cô chú anh chị trong sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Long An đã cho em những kinh nghiệm ban đầu về công việc thực tế, đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình thực tập để hoàn thành đề tài
Em xin chân thành cảm ơn
Trang 5ĐẶT VẤN ĐỀ Trang 1
II.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, kinh tế - xã hội của thị
II.1.3 Thực trạng phát triển kinh tế xã hội của thị xã Tân An 17
II.2 Công tác quản lý đất đai trên địa bàn thị xã Tân An 22
II.3 Thống kê đất đai trên địa bàn thị xã Tân An năm 2008 23
II.3.2 So sánh với các lần thống kê, kiểm kê đất đai giai đoạn 2000-2008 31
II.4 Xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất thị xã Tân An 2008 42
II.5 Những vấn đề rút ra qua công tác thống kê đất đai 44
II.5.2 Đánh giá về kết quả thực hiện thống kê đất đai 2008 44
II.6 Định hướng phát triển kinh tế xã hội năm 2009-2010 và giai đoạn
Trang 6Bảng 2.1: Diện tích đất đai phân theo cấp huyện của tỉnh Long An năm 2008
Bảng 2.2: Diện tích, cơ cấu nhóm đất nông nghiệp năm 2008
Bảng 2.3: Phân bố đất nông nghiệp theo đơn vị hành chính cấp xã
Bảng 2.4: Diện tích, cơ cấu nhóm đất phi nông nghiệp năm 2008
Bảng 2.5: Phân bố đất phi nông nghiệp theo đơn vị hành chính cấp xã
Bảng 2.6: Hiện trạng sử dụng đất theo đối tượng sử dụng và quản lý
Bảng 2.7: Biến động đất đai giai đoạn 2000 – 2008
Bảng 2.8: So sánh chỉ tiêu phân loại theo đối tượng sử dụng và quản lý đất đai giai đoạn 2000-2008
Bảng 2.9: Biến động diện tích theo đối tượng sử dụng, quản lý năm 2008 so với 2007 Bảng 2.10: So sánh với chỉ tiêu kế hoạch sử dụng đất năm 2008
Bảng 2.11: So sánh giữa phương án quy hoạch sử dụng đất (thời kỳ 1998-2010) và phương án điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất thị xã Tân An đến năm 2010
Bảng 2.12: Dự báo nhu cầu sử dụng đất đến năm 2010-2020
Biểu 2.1: Diện tích đất tự nhiên phân theo xã phường của thị xã Tân An năm 2008 Biểu 2.2: Biến động đất đai qua giai đoạn 2000 - 2008
Trang 7BTNMT: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Trang 8ĐẶT VẤN ĐỀ
Đất đai là sản phẩm của tự nhiên, có trước lao động Trong quá trình lao động, con người tác động vào đất đai để tạo ra các sản phẩm cần thiết phục vụ cho con người, vì vậy đất đai vừa là sản phẩm của tự nhiên, đồng thời vừa là sản phẩm lao động của con người
Đất đai giữ vai trò đặc biệt quan trọng, là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá,
là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa xã hội, an ninh và quốc phòng
Do đất đai là nguồn tài nguyên có giới hạn nên vấn đề hàng đầu của mỗi quốc gia hiện nay là cần có một chiến lược quản lý, sử dụng và bảo vệ nguồn tài nguyên này một cách có hiệu quả và hợp lý nhất
Để đáp ứng nhu cầu quản lý nhà nước về đất đai, tạo điều kiện chuyển dịch cơ cấu các loại đất một cách hợp lý, Chính phủ đã giao cho BTNMT - cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về đất đai - tổ chức thực hiện công tác thống kê đất đai định kỳ hàng năm và kiểm kê đất đai định kỳ năm năm một lần
Nhà nước muốn quản lý tốt đất đai cần phải nắm chắt quỹ đất đai hiện có, cần thấy được vai trò của HTSDĐ từ đó có KHSDĐ cân đối và phân phối nhu cầu sử dụng đất một cách hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả cao Muốn thực hiện được điều này, các
cơ quan quản lý nhà nước về đất đai cần thống kê lại toàn bộ quỹ đất đai hiện có, cũng như đánh giá sự tăng, giảm diện tích đất đai theo mục đích sử dụng, phân tích nguyên nhân dẫn đến các loại biến động đất đai Thông qua đó các nhà quản lý sẽ có chính sách, chiến lược phù hợp trong việc cân đối quỹ đất hiện có của từng địa phương, sử dụng và khai thác nguồn tài nguyên này một cách có hiệu quả hơn, đó cũng chính là cơ
sở để đánh giá việc thực hiện KHSDĐ hàng năm, từ đó sẽ rút ra được những ưu khuyết điểm của quá trình sử dụng đất, làm cơ sở khoa học cho công tác xây dựng QH-KHSDĐ trong tương lai
Thị xã Tân An là trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh Long An, là cửa ngõ kinh tế của các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long với Thành phố Hồ Chí Minh, đó
là thế mạnh góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Long An nói chung
và thị xã nói riêng Trong những năm gần đây với sự phát triển kinh tế nhanh chóng, thị xã Tân An đã có những thay đổi về nhiều mặt, trong đó có sự thay đổi về cơ cấu sử dụng đất và những vấn đề có liên quan đến đất đai
Xuất phát từ tình hình thực tế đó, với sự thống nhất của phòng Đăng ký đất đai thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Long An, cùng với sự phân công giúp đỡ của giáo viên khoa Quản lý đất đai và Bất động sản, trường Đại học Nông Lâm thành phố
Hồ Chí Minh, đặc biệt là với sự hướng dẫn tận tình của thầy Nguyễn Du tôi đã được
nhận và tiến hành thực hiện đề tài “Thống kê đất đai và xây dựng Bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2008 trên địa bàn thị xã Tân An, tỉnh Long An”
Trang 9Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá tình hình biến động đất đai theo mục đích sử dụng và theo đối tượng
sử dụng trong phạm vi không gian và thời gian Xác định các nguyên nhân dẫn đến biến động đất đai
- Đánh giá HTSDĐ và kiểm tra việc thực hiện QH-KHSDĐ, làm căn cứ để lập QH-KHSDĐ kỳ tiếp theo
- Xây dựng tài liệu điều tra cơ bản về tài nguyên đất phục vụ cho việc xác định nhu cầu sử dụng đất
- Phục vụ cho nhu cầu sử dụng dữ liệu về đất đai cho quản lý nhà nước, các hoạt động kinh tế xã hội khác cũng như cho kiểm kê đất đai và xây dựng phương án QHSDĐ kỳ tiếp theo
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng của đề tài là các loại hình sử dụng đất, đất đai, đối tượng sử dụng đất và công tác quản lý đất đai trên địa bàn thị xã Tân An
- Đề tài thực hiện việc thống kê đất đai trên phạm vi ranh giới hành chính thị xã Tân An, tỉnh Long An trong giai đoạn 2000-2008
Trang 10PHẦN 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU I.1 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
I.1.1 Cơ sở pháp lý:
- Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1992
- Luật đất đai 2003
- Nghị định 181/2004/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn thi hành luật đất đai
- Thông tư 08/2007/TT-BTNMT hướng dẫn thực hiện thống kê, kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất
- Quyết định 22/2007/QĐ-BTNMT ban hành quy định về thành lập bản đồ hiện trạng
a).Đất đai và hệ thống phân loại đất đai:
- Đất đai là một vùng không gian được xác định, trong đó bao gồm đặc trưng về thổ quyển trong vùng không gian đó, đặc trưng về thạch quyển, thủy quyển, khí quyển, sinh quyển,… trong vùng không gian đó Đất đai còn đặc trưng cho yếu tố quản trị, hoạt động của con người từ quá khứ đến hiện tại và kỳ vọng cho tương lai
- Quỹ đất đai của một quốc gia, một vùng hay một địa phương là toàn bộ diện tích đất đai nằm trong một phạm vi ranh giới của quốc gia, vùng hay địa phương đó Quỹ đất đai hình thành một cách khách quan gắn liền với quá trình hình thành đất, với lịch sử ra đời trong quá trình sử dụng đất của con người Quỹ đất đai cũng được phân
bố một cách tự nhiên gắn liền với phân bố các vùng lãnh thổ Mặt khác trong quá trình
sử dụng đất, do những nhu cầu sử dụng khác nhau, quỹ đất đai cũng được hình thành bởi con người nhằm điều chỉnh và bố trí lại đất đai theo mục đích sử dụng
- Theo đó, quỹ đất đai được phân thành các loại đất đai phù hợp với từng thời
kỳ phát triển kinh tế - xã hội, ban đầu chỉ là loại đất nông nghiệp nông thôn, sau đó hình thành các loại đất công nghiệp, thương mại, dịch vụ và các loại hình sử dụng đất chi tiết trong từng loại để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội
- Sự thay đổi cơ cấu quỹ đất đai trong tổng thể quỹ đất đai của một vùng, một lãnh thổ có ý nghĩa quan trọng, nói lên những xu thế phát triển của đất nước trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời thể hiện trình độ phát triển kinh tế - xã hội
và ứng dụng vào sản xuất
- Ở Việt Nam, trong các thời kỳ khác nhau thì người ta sử dụng các phương pháp, nguyên tắc phân loại quỹ đất đai quốc gia khác nhau Theo Ts Trần Thanh Hùng, có 2 nguyên tắc phân loại đất đai, đó là nguyên tắc hệ thống và nguyên tắc giống nhau:
+ Nguyên tắc hệ thống: tập trung nghiên cứu mối quan hệ qua lại giữa
các loại đất đai và những tính chất của hệ thống, như yếu tố cấu thành mang đặc tính chung của cả hệ thống Nguyên tắc hệ thống khẳng định chính mối quan hệ tương hỗ qua lại giữa các loại đất đai là cơ sở tồn tại của từng loại đất đai riêng biệt (chúng được
Trang 11hình thành bởi sự tương tác qua lại giữa các loại hình hoạt động kinh tế - xã hội của
con người) Ví dụ: đất giao thông nội đồng thuộc loại đất nông nghiệp, đường giao
thông nông thôn thuộc đất khu dân cư nông thôn, đường giao thông đô thị thuộc đất đô thị, đường giao thông liên xã, liên huyện và liên tỉnh là loại giao thông chuyên dùng
+ Nguyên tắc giống nhau: chỉ chú ý đến khía cạnh giống nhau về chức
năng nào đó của đất đai Ví dụ: đất có chức năng giao thông thì đó là loại đất chuyên
dùng giao thông, không phân biệt là đất nông nghiệp, khu dân cư nông thôn, đô thị hay chuyên dùng
- Cụ thể theo Luật đất đai 1993: quỹ đất đai quốc gia được phân loại theo nguyên tắc hệ thống dựa vào mục đích sử dụng chủ yếu phân thành các loại sau: đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất chuyên dùng, đất đô thị, đất khu dân cư nông thôn và đất chưa sử dụng Tuy nhiên, với nguyên tắc được đề ra trong Luật đất đai 1993 khi đưa vào thực tế cuộc sống thì gặp rất nhiều trở ngại trong công tác kiểm kê, thống kê đất đai bởi vì khái niệm loại đất là một phạm trù tương đối trừu tượng, loại đất theo luật đất đai vẫn chưa được cụ thể hóa bao gồm những loại hình chi tiết nào mà chính loại hình chi tiết phản ánh hiện trạng thực tế trên bề mặt mà những người đi kiểm kê gặp phải Do đó, các loại đất đai theo Luật 1993 được bổ sung bằng những nghiên cứu tiếp theo thay thế 5 loại đất theo bảng kiểm kê đất đai bao gồm các loại sau: đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất chuyên dùng, đất ở, và đất chưa sử dụng
- Ở đây, loại đất được đồng nhất với loại hình sử dụng đất (loại đất đai: là đất
đai được sử dụng cho một mục đích cụ thể nào đó, ví dụ như các loại đất nông nghiệp,
đất lâm nghiệp, đất công nghiệp, đất đô thị, đất khu dân cư nông thôn,…; loại hình sử dụng đất đai: là một thửa đất cụ thể được sử dụng một cách có hệ thống thường xuyên
cho một nhu cầu cụ thể của con người, phản ánh thực trạng kinh tế - xã hội diễn ra trên
bề mặt, nó nằm trong một hệ thống được gọi là loại đất đai, ví dụ như các loại hình đất xây dựng nhà ở, đất khuôn viên nhà ở, đất giao thông nội bộ,… nằm trong một ranh giới cụ thể được gọi chung là đất ở) Như vậy nguyên tắc hệ thống bị phá vỡ và được thay thế bằng nguyên tắc giống nhau
- Nguyên tắc giống nhau được cụ thể hóa trong Luật đất đai 2003, theo đó quỹ đất đai quốc gia phân thành 3 nhóm chính: nhóm đất nông nghiệp, nhóm đất phi nông nghiệp và nhóm đất chưa sử dụng Trong đó, nhóm đất nông nghiệp là tất cả các loại đất đai đóng vai trò là tư liệu sản xuất đặc biệt trong nông nghiệp, còn nhóm đất phi nông nghiệp là nhóm đất đóng vai trò cơ sở không gian Và 3 nhóm đất chính này chia làm 5 loại đất đai bao gồm: nhóm đất nông nghiệp (đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp), nhóm đất phi nông nghiệp (đất ở, đất chuyên dùng), và đất chưa sử dụng
- Hệ thống phân loại đất đai có ý nghĩa quyết định hiệu quả của thống kê đất đai
vì nó ảnh hưởng đến tính đầy đủ, tính kịp thời, tính chính xác của thống kê đất đai Theo từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội, hệ thống phân loại đất đai ở Việt Nam
có sự khác biệt nhau về nhóm đất, hình thức, nhưng xét về bản chất đều giống nhau
về tiêu chí phân loại, đó là phân loại theo mục đích sử dụng
b).Đối tượng sử dụng, quản lý đất đai:
- Người sử dụng, quản lý đất (còn gọi là đối tượng sử dụng, quản lý đất) là người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để sử dụng, đang sử dụng đất được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất, được Nhà nước giao đất để quản lý
Trang 12- Như vậy người sử dụng đất là người trực tiếp thực hiện quyền sử dụng đất của mình trên thửa đất đó Người sử dụng đất có thể là một cá nhân, hoặc tập hợp các cá nhân Còn người quản lý đất có thể không trực tiếp sử dụng thửa đất đó mà giao cho người khác sử dụng, hoặc là quản lý các loại đất mang tính chất công cộng (không có đối tượng sử dụng trực tiếp cụ thể) như đất giao thông, sông suối, kênh rạch, công viên Các đối tượng quản lý đất thông thường là các cơ quan Nhà nước như Ủy ban nhân dân cấp xã, cộng đồng dân cư, tổ chức,
- Theo Luật đất đai 2003, người sử dụng đất bao gồm:
+ Các tổ chức trong nước được Nhà nước giao đất, cho thuê đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất; tổ chức kinh tế nhận chuyển quyền sử dụng đất
+ Hộ gia đình, cá nhân trong nước được Nhà nước giao đất, cho thuê đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất
+ Cộng đồng dân cư được Nhà nước giao đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất
+ Cơ sở tôn giáo được Nhà nước giao đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất
+ Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao được Nhà nước Việt Nam cho thuê đất
+ Người Việt Nam định cư ở nước ngoài về đầu tư hoặc sống ổn định tại Việt Nam được Nhà nước Việt Nam giao đất, cho thuê đất, được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở
+Tổ chức cá nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam được Nhà nước Việt Nam cho thuê đất
c).Thống kê, kiểm kê đất đai:
- Thống kê: là môn học xã hội nghiên cứu mặt lượng trong mối liên hệ mật thiết với mặt chất của hiện tượng ( tự nhiên - kinh tế - xã hội )
- Thống kê đất đai: là việc Nhà nước tổng hợp, đánh giá trên hồ sơ địa chính về hiện trạng sử dụng đất tại thời điểm thống kê và tình hình biến động đất đai giữa hai lần kiểm kê Thống kê được tiến hành một năm một lần
- Kiểm kê đất đai: là việc Nhà nước tổng hợp, đánh giá trên hồ sơ địa chính và trên thực địa về hiện trạng sử dụng đất tại thời điểm kiểm kê và tình hình biến động giữa hai lần kiểm kê Kiểm kê đất đai được tiến hành năm năm một lần
- BĐHTSDĐ được thành lập trong các kỳ kiểm kê đất đai, lập QH-KHSDĐ và điều chỉnh QHSDĐ hoặc thực hiện trong các dự án có liên quan đến HTSDĐ
- Khoanh đất là đơn vị cơ bản của BĐHTSDĐ, được xác định trên thực địa và thể hiện trên bản đồ bằng một đường bao khép kín Trên BĐHTSDĐ tất cả các khoanh
Trang 13đất đều phải xác định được vị trí, hình thể, loại đất theo hiện trạng sử dụng của khoanh đất đó
- Loại đất trên BĐHTSDĐ được xác định theo mục đích sử dụng đất
- Đối với khoanh đất có nhiều mục đích sử dụng thì thể hiện mục đích sử dụng chính của khoanh đất
- Mục đích sử dụng đất được xác định tại thời điểm thành lập bản đồ Mục đích
sử dụng đất được phân loại và giải thích cách xác định theo Thông tư số BTNMT ngày 02 thánh 8 năm 2007 của BTNMT hướng dẫn thực hiện thống kê, kiểm
08/2007/TT-kê đất đai và xây dựng BĐHTSDĐ
2 Đặc điểm, yêu cầu của thống kê, kiểm kê đất đai:
a).Đặc điểm:
- Thống kê đất đai, kiểm kê đất đai là một bộ phận cấu thành của hệ thống thống kê ở Việt Nam chuyên đi sâu nghiên cứu, phân tích các mặt hoạt động của đời sống xã hội liên quan đến việc quản lý, sử dụng đất trong phạm vi cả nước, từng vùng, từng đơn vị hành chính các cấp Vì là một loại hình thống kê chuyên ngành quan trọng trong hệ thống thống kê của cả nước nên thống kê đất đai thể hiện các đặc thù chuyên ngành:
- Đặc điểm cơ bản nhất của thống kê đất đai là phải dựa trên cơ sở bản đồ Thống kê đất đai muốn chính xác phải dựa trên cơ sở đo đạc lập bản đồ để tính diện tích Thửa đất tuy có cố định về vị trí nhưng trong quá trình sử dụng do tác động của con người và thiên nhiên luôn có sự biến động về loại đất, chủ sử dụng, hình thể Vì vậy cần thường xuyên chỉnh lý bản đồ
- Thống kê đất đai, kiểm kê đất đai phải phản ánh đúng hiện trạng: tài liệu thống kê chỉ có giá trị sử dụng khi gắn liền với thời điểm tổng hợp số liệu, tức phản ánh đúng hiện trạng tại thời điểm thống kê, kiểm kê đất đai Do đó công tác thống kê, kiểm kê đất đai phải được thực hiện một cách thường xuyên, có định kỳ
- Kết quả thống kê, kiểm kê đất đai có ý nghĩa pháp lý chặt chẽ Số liệu thống
kê đất đai không chỉ đơn thuần là số liệu thống kê về tài nguyên đất mà còn là nguồn tài liệu phục vụ cho công tác quản lý đất đai và các nhiệm vụ khác trong xã hội Số liệu thống kê phải gắn liền với cơ sở pháp lý về quyền sử dụng đất đối với từng thửa đất cụ thể, công tác thống kê muốn chính xác phải dựa trên cơ sở đăng ký đất đai Kết quả đăng ký đất đai càng tốt và sự phối hợp thực hiện các nội dung nhiệm vụ quản lý đất càng đồng bộ thì giá trị pháp lý của số liệu thống kê đất càng nâng cao Do đó thống kê đất đai, kiểm kê đất đai phải thể hiện tính pháp lý thông qua sự chuẩn hóa trong quy trình thực hiện, hệ thống chỉ tiêu phân loại đất và xác nhận của ủy ban nhân dân các cấp
- Các đặc điểm trên làm cho việc thực hiện công tác thống kê đất đai cần có nhiều lao động, vật tư, kỹ thuật, thời gian, kinh phí người làm công tác thống kê đất đai phải được đào tạo có trình độ chuyên môn kỹ thuật đầy đủ mới có thể thực hiện được Đặc điểm này đã quyết định chỉ có ngành địa chính mới có thể thực hiện được công tác thống kê đất đai một cách chính xác, khoa học và đầy đủ
b).Yêu cầu:
Để đạt được tính hiệu quả trong công tác thống kê thì số liệu thống kê cần thỏa mãn được các yêu cầu sau:
Trang 14- Số liệu thống kê phải chính xác: yêu cầu này đòi hỏi các số liệu điều tra thu thập được phải phản ánh trung thực tình hình khách quan, không trùng lắp, thiếu thừa, không tùy tiện thêm bớt Yêu cầu chính xác cũng đòi hỏi khi xác định chỉ tiêu loại đất đai và loại đối tượng sử dụng đất phải đúng với hướng dẫn quy định, đồng thời còn cần phải tính toán tổng hợp biểu mẫu chính xác làm căn cứ tin cậy cho việc phân tích thống kê và xây dựng kế hoạch
- Số liệu thống kê phải đầy đủ: thu thập tài liệu, số liệu đúng với nội dung quy định, không bỏ sót chỉ tiêu loại đất nào, chủ sử dụng nào, thửa đất nào Yêu cầu này cũng đòi hỏi phải tổng hợp đầy đủ các biểu mẫu theo qui định Có như vậy việc tổng hợp đất đai trong đơn vị mới đầy đủ, việc phân tích đánh giá mới sâu sắc, mới có căn
cứ, tránh những nhận định sai lầm, phiến diện
- Số liệu thống kê phải kịp thời: người làm thống kê đất đai phải điều tra, thu thập số liệu đúng thời điểm, tổng hợp và nộp các biểu mẫu đúng thời gian qui định Có như vậy số liệu mới phát huy tác dụng cao và có cơ sở để đề xuất các chủ trương, biện pháp đúng đắn phù hợp với thực tế khách quan
Ba yêu cầu trên đây đều quan trọng và luôn bổ sung cho nhau Tùy vào điều kiện cụ thể từng nơi từng lúc mà đề ra mức độ cụ thể cho từng yêu cầu để đạt được các mục tiêu của mỗi kỳ thống kê
c).Sự khác nhau giữa thống kê và kiểm kê đất đai:
- Về cơ bản kiểm kê và thống kê đều giống nhau về bản chất, đều dựa trên cơ sở tổng hợp, đánh giá trên hồ sơ địa chính và trên thực địa về HTSDĐ tại thời điểm thống
kê, kiểm kê và tình hình biến động đất đai giữa hai kỳ thống kê, kiểm kê nhưng điểm khác nhau căn bản là cơ sở lý luận
- Theo đó, thống kê đất đai: là công việc được tiến hành một năm một lần Thống kê đất đai là công việc thuộc điều tra không toàn bộ: chỉ điều tra mang tính tương đối, không đi vào điều tra chi tiết
- Kiểm kê đất đai: là công việc được tiến hành năm năm một lần Kiểm kê đất đai là công việc thuộc điều tra toàn bộ: mang tính chất điều tra chi tiết, vì vậy kiểm kê tốn rất nhiều thời gian và kinh phí rất lớn Kiểm kê đất đai có đặc điểm là phải dựa trên bản đồ địa chính Nguyên tắc của kiểm kê đất đai là kiểm kê theo hiện trạng, không kiểm kê theo quy hoạch
3 Sơ lược công tác thống kê, kiểm kê đất đai ở Việt Nam
a) Thời kỳ trước năm 1995
- Cuộc điều tra thống kê cơ bản về ruộng đất từ năm 1955 đến 1960 nhằm phục
vụ xây dựng kế hoạch 5 năm lần thứ nhất Lúc này tài liệu về ruộng đất ở nước ta rất ít nên nội dung điều tra bị hạn chế, chỉ điều tra đất nông nghiệp, việc điều tra thống kê đất cây lâu năm, đất đồng cỏ, ao hồ, đầm còn quá sơ lược
- Cuộc điều tra thống kê cơ bản lần thứ hai từ năm 1964 đến 1965 nhằm tạo cơ
sở cho ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và các ngành khác tiến hành quy hoạch sử dụng ruộng đất theo hướng ổn định, tránh tình trạng tranh chấp giữa các ngành Thời kỳ này ngành quản lý ruộng đất đã tiến hành đo đạc xong ở hầu hết các xã thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ và khu IV cũ (nay là vùng duyên hải Bắc Trung Bộ) Việc sử dụng bản
đồ địa chính ở các địa phương đã trở nên quen thuộc Do đó, Nhà nước đã quyết định tiến hành điều tra cơ bản toàn bộ diện tích ruộng đất theo địa giới hành chính
Trang 15- Cuộc điều tra cơ bản lần ba trên phạm vi toàn miền Bắc từ năm 1966 đến
1968 Trong giai đoạn này quyền sở hữu ruộng đất đã có nhiều biến động, sở hữu toàn dân ngày càng mở rộng, sở hữu tư nhân dần dần thu hẹp Do đó, có sự chuyển đổi lớn
về quyền sở hữu, ngày 10/06/1996 Thủ tướng Chính phủ ra chỉ thị 161/TTg về việc điều tra thống kê đất nông nghiệp
- Căn cứ vào yêu cầu của công tác kế hoạch hóa và tổ chức lại sản xuất nông lâm nghiệp ở các cấp, ngày 24/05/1977 Thường vụ hội đồng Chính phủ ra quyết định 169/CP về việc điều tra thống kê tình hình cơ bản trong cả nước Nội dung điều tra kỳ này toàn diện và đầy đủ hơn so với các cuộc điều tra trước đây
- Ngày 14/07/1993 Luật đất đai năm 1993 được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa IX, kỳ họp thứ ba thông qua Thống kê, kiểm kê đất đai
là một trong bảy nội dung quản lý Nhà nước về đất đai đã được khẳng định trong Luật đất đai 1993
- Từ năm 1979 đến 1994 Tổng cục quản lý ruộng đất đã tiến hành thống kê, kiểm kê năm năm một lần đi đôi với việc xây dựng BĐHTSDĐ
b) Thời kỳ sau năm 1995
- Năm 1995 là mốc rất quan trọng trong lịch sử thống kê kiểm kê đất đai Là năm thực hiện thống kê, kiểm kê đất đai lần đầu tiên trên phạm vi toàn quốc
- Ngày 20/02/1995 Tổng cục địa chính ban hành quyết định 27/QĐ-ĐC về việc ban hành các biểu mẫu thống kê đất đai, kèm theo Chỉ thị 382/CT-Đc về việc kiểm kê đất đai và xây dựng BĐHTSDĐ năm 1995 Hệ thống biểu mẫu kiểm kê năm 1995 các loại đất được phân vị ở mức độ 4 và mã số quy định từ 01 đến 60 Ngày 18/08/1999 Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị 24/1999/CT-TTg về tổng kiểm kê đất đai năm 2000
- Ngày 12/10/1999 Tổng cục Địa chính ra quyết định 507/1999/QĐ-TCĐC ban hành hệ thống biểu mẫu thống kê đất đai phục vụ công tác tổng kiểm kê đất đai năm
2000 và kèm theo hướng dẫn 1553/HD-TCĐC về việc hướng dẫn nghiệp vụ kiểm kê đất đai năm 2000 Hệ thống biểu mẫu kiểm kê đất đai năm 2000 về cơ bản là giống với
hệ thống biểu mẫu kiểm kê đất đai năm 1995 chỉ có bổ sung thêm một đối tượng sử dụng là tổ chức khác
- Ngày 15/07/2004 Thủ tướng Chính phủ ra chỉ thị 28/2004/CT-TTg về việc thực hiện thống kê, kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm
2005 Thông tư này đã thay đổi toàn bộ hệ thống biểu mẫu thống kê, kiểm kê đất đai,
mã số từng loại đất, các định nghĩa về loại đất, đối tượng sử dụng và quản lý đất
- Ngày 02/08/2007 BTNMT đã ban hành thông tư 08/2007/TT-BTNMT hướng dẫn thống kê, kiểm kê đất đai và xây dựng BĐHTSDĐ Thông tư này thay thế cho thông tư 28/2004/TT-BTNMT Trên cơ sở này, Trung tâm thông tin trực thuộc BTNMT đã tiến hành nâng cấp phần mềm TK05 1.2 SP4 lên phiên bản 2.0 để phục vụ công tác thống kê, kiểm kê đất đai theo quyết định số 1960/QĐ-BTNMT ngày 04/12/1997 của BTNMT
4 Vai trò và vị trí của công tác thống kê, kiểm kê đất đai trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai:
- Công tác thống kê, kiểm kê đất đai có vị trí quan trọng trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai
Trang 16- Như phần vai trò của đất đai đối với đời sống kinh tế - xã hội đã khẳng định đất đai là điều kiện tồn tại quan trọng bậc nhất của loài người Vì vậy, bất kỳ Nhà nước nào cũng muốn quản lý đất đai để hướng đất đai phục vụ theo yêu cầu của mình Để đạt được mục đích đó yêu cầu Nhà nước phải quản lý tốt đất đai Do yêu cầu quản lý Nhà nước về đất đai là vừa quản lý chặt chẽ về đất đai vừa đảm bảo cho đất đai được
sử dụng đầy đủ, hợp lý, mang lại hiệu quả cao, nên thống kê đất đai trước hết phải tổng hợp đầy đủ số liệu diện tích đất đai và phân tích phản ánh đúng HTSDĐ, cũng như phân tích đánh giá kết quả và hiệu quả sử dụng đất do sự tác động của luật đất đai
và hệ thống chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước Đây là số liệu mang tính pháp lý cao làm nguồn tài liệu cơ sở, làm căn cứ cho các hoạt động quản lý đất đai thông qua chức năng thể hiện hiện trạng và tình hình biến động nguồn tài nguyên quý giá này
- Phục vụ cho yêu cầu kế hoạch phát triển toàn bộ nền kinh tế quốc dân
- Đất đai có vai trò quan trọng liên quan đến mọi mặt hoạt động đời sống xã hội của đất nước, số liệu thống kê đất đai là cơ sở cần thiết cho việc phân bổ hợp lý các lực lượng sản xuất, là cơ sở của việc phân vùng và quy hoạch phân bố sử dụng đất đai
và xây dựng KHSDĐ Số liệu thống kê đất đai còn là căn cứ tính thuế sử dụng đất và phục vụ cho các ngành khác
- Số liệu thống kê đất đai còn làm cơ sở để dự báo chiến lược KHSDĐ trong tương lai thông qua việc phân tích tiềm năng đất đai hiện có và xu hướng biến động của các loại đất qua các năm thống kê mà từ đó có sự đánh giá, phân tích làm cơ sở định hướng việc sử dụng đất trong tương lai một cách có hiệu quả
5 Mối liên hệ của công tác thống kê, kiểm kê đất đai với các nội dung quản lý Nhà nước về đất đai khác:
- Ban hành văn bản quy phạm pháp luật đất đai: đây là cơ sở pháp lý cho các
nội dung khác thực hiện Bên cạnh đó việc ban hành các văn bản này cũng phải đảm bảo tính thống nhất về quy trình thực hiện của các nội dung quản lý đất đai Đối với nội dung thống kê, kiểm kê đất đai thì việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật tạo được sự thống nhất về số liệu, tài liệu, bản đồ cũng như quy trình thực hiện từ Trung ương đến địa phương, hệ thống bảng biểu, các tiêu chí phân loại đất, đối tượng
sử dụng, quản lý đất đai Ngược lại, trong quá trình thực hiện công tác thống kê, kiểm
kê đất đai sẽ là cơ sở để phát hiện ra những ưu nhược điểm đồng thời đề ra các biện pháp khắc phục những nhược điểm này, từ đó hoàn thiện hệ thống văn bản hướng dẫn thực hiện kiểm kê đất đai trong các kỳ tiếp theo
- Công tác lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính: việc lập và quản lý hồ sơ
địa giới hành chính có ý nghĩa quan trọng trong công tác quản lý đất đai, tránh sự quản
lý chồng chéo lên nhau giữa các đơn vị hành chính Phục vụ cho công tác kiểm kê, việc xác định rõ ranh giới hành chính là rất cần thiết nhằm tránh thống kê diện tích giữa các đơn vị hành chính bị thừa hay thiếu, dẫn đến tình trạng tổng diện tích không chính xác Đồng thời thông qua công tác kiểm kê cũng góp phần xác định chính xác diện tích quỹ đất đai trong ranh giới hành chính hiện hữu
- Công tác đo đạc, thành lập bản đồ địa chính: bản đồ địa chính và sổ dã ngoại
đi kèm là nguồn tài liệu cơ sở, quan trọng để xác định vị trí, hình thể, kích thước, loại đất, tên chủ sử dụng Từ nguồn tài liệu này sẽ làm cơ sở để thực hiện công tác thống
kê, kiểm kê đất đai một cách có hiệu quả, là cơ sở để cho chúng ta đi đối soát ngoài
Trang 17thực địa, tổng hợp diện tích theo từng loại đất, theo từng đối tượng sử dụng đúng theo yêu cầu của công tác thống kê, kiểm kê đất đai, đồng thời làm bản đồ nền để xây dựng BĐHTSDĐ và nhiều loại bản đồ khác Nhưng cũng thông qua công tác thống kê, kiểm
kê đất đai sẽ làm cơ sở để chỉnh lý, cập nhật biến động đất đai trên bản đồ địa chính, tăng độ chính xác cho bản đồ địa chính tại thời điểm thống kê, kiểm kê
- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất: đây là một nội dung rất quan trọng giúp cho
nhà quản lý đất đai có cái nhìn định hướng trong tương lai về việc sử dụng đất ở địa phương mình Dựa vào QH-KHSDĐ sẽ là cơ sở cho công tác giao thuê đất sau này Nhờ vào việc thống kê, kiểm kê đất đai sẽ biết được HTSDĐ, từ đó đánh giá được việc
sử dụng đất hiện tại của địa phương đã hợp lý chưa, có phù hợp với định hướng phát triển kinh tế xã hội của vùng hay không Trên cơ sở đó sẽ điều chỉnh, bố trí, sắp xếp lại việc sử dụng đất cho hợp lý, khoa học và có hiệu quả
- Giao đất, cho thuê đất, thu hồi, chuyển mục đích sử dụng đất: đối với công tác
kiểm kê đất đai các quyết định giao đất, cho thuê đất của các dự án trên địa bàn địa phương là cơ sở để xác định mục đích sử dụng đất, đối tượng sử dụng đất mặc dù các
dự án đó chưa triển khai ngoài thực địa tại thời điểm thực hiện công tác kiểm kê Đồng thời cũng là cơ sở để thực hiện việc chỉnh lý biến động liên quan đến việc chuyển mục đích sử dụng đất Thông qua công tác kiểm kê đất đai sẽ rà soát lại việc giao, cho thuê, thu hồi, chuyển mục đích sử dụng đất ở địa phương, giúp cho người quản lý đất đai nắm bắt được việc sử dụng đất ở địa phương mình
- Công tác cấp GCNQSDĐ: thông qua công tác thống kê, kiểm kê đất đai người quản lý, sử dụng đất sẽ rà soát lại tình hình cấp GCNQSDĐ ở địa phương, xác định được tổng số thửa theo đơn vị hành chính, làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch đăng
ký cấp giấy, nhất là đăng ký cấp giấy hàng loạt
Từ những phân tích trên có thể thấy công tác thống kê, kiểm kê đất đai có ý nghĩa quan trọng trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai, là nội dung không thể thiếu được trong việc quản lý Nhà nước về đất đai Giúp cho các nhà quản lý nắm chắt được quỹ đất đai của địa phương về số lượng, từ đó đề ra những chính sách, những biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng sử dụng đất ở địa phương mình
I.1.3 Cơ sở thực tiễn:
Hiện trạng sử dụng đất phản ánh phương thức khai thác nguồn tài nguyên đất đai của một vùng trong một thời điểm cụ thể Nó chịu sự chi phối của điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội của vùng đó
Ngày nay với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thị trường, tốc độ đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ trên địa bàn thị xã Tân An nói riêng và tỉnh Long An nói chung, nhu cầu sử dụng đất của các ngành ngày càng nhiều hơn, đòi hỏi Nhà nước phải quản lý đất đai một cách hiệu quả hơn, cũng như quản lý chặt chẽ quỹ đất đai hiện có
Thực tế công tác thống kê đất đai ở tỉnh Long An hiện nay vẫn còn nhiều thiếu sót, do chưa cập nhật biến động kịp thời cũng như thiếu những điều kiện vật chất, kỹ thuật, trình độ của đội ngũ cán bộ địa chính vẫn còn thấp
Những vấn đề trên đã đặt ra sự cần thiết của công tác thống kê, kiểm kê đất đai trên địa bàn thị xã Tân An Nhằm có được một số liệu chính xác về HTSDĐ trên địa bàn thị xã Tân An và tỉnh Long An để có thể làm tài liệu hữu ích phục vụ cho các hoạt động kinh tế xã hội của tỉnh
Trang 18I 2 Khái quát địa bàn nghiên cứu:
Tân An là thị xã nhỏ trực thuộc tỉnh của Long An, là trung tâm của tỉnh Long
An, thị xã vừa nằm trên trục phát triển của địa bàn kinh tế trọng điểm phía Nam, vừa là cửa ngõ kinh tế của các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, có trục giao thông chính thủy,
bộ chạy qua trung tâm là Quốc lộ 1A, Quốc lộ 62 và sông Vàm Cỏ Tây
Thị xã Tân An chính thức được nâng cấp từ thị xã lên đô thị loại III ( thành phố) vào ngày 19 tháng 4 năm 2007
Thị xã có 9 phường (1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, Tân Khánh, Khánh Hậu) và 5 xã (Hướng Thọ Phú, An Vĩnh Ngãi, Lợi Bình Nhơn, Bình Tâm, Nhơn Thạnh Trung) với tổng diện tích tự nhiên là 8194.94 ha (chỉ chiếm khoảng 1.82% so với diện tích tự nhiên của toàn tỉnh Long An), trong đó các phường 1, 2, 3 là khu trung tâm
Tân An sẽ trở thành đô thị loại II vào năm 2020 với các tính chất: trung tâm hành chính của tỉnh, trung tâm dịch vụ của vùng và các khu công nghiệp của Long An,
là một trong các trung tâm của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
Với vị trí địa lý như trên tạo cho thị xã Tân An có lợi thế so sánh tương đối về địa lý kinh tế, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Long An nói chung và Thị xã Tân An nói riêng
I.3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu:
I.3.1 Nội dung nghiên cứu:
- Đánh giá các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và tình hình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn thị xã Tân An
- Đánh giá công tác quản lý đất đai trên địa bàn thị xã Tân An
- Đánh giá HTSDĐ theo đơn vị hành chính, theo mục đích sử dụng, theo đối tượng quản lý và sử dụng đất
- Xác định các nguyên nhân dẫn đến biến động đất đai
- Xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất
- Đánh giá việc thực hiện kế hoạch sử dụng đất chu kỳ trước
I.3.2 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp thống kê: là phương pháp xử lý tính toán, dùng để thống kê, kiểm
kê, phân tích HTSDĐ, biến động đất đai,… mục đích của phương pháp thống kê là nhằm phân nhóm toàn bộ các đối tượng điều tra có cùng một chỉ tiêu, phân tích tương quan giữa các yếu tố
- Phương pháp bản đồ: là phương pháp thể hiện các kết quả nghiên cứu thông qua
không gian đồ họa được thể hiện qua hệ thống bản đồ
- Phương pháp chuyên gia: trong quá trình thực hiện nghiên cứu nhất thiết phải có
sự tham gia đóng góp ý kiến của những người có am hiểu về ngành, lĩnh vực mà mình đang nghiên cứu
- Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp khác như so sánh, điều tra thực địa, và
phương pháp kết hợp các kết quả thu được từ các phương pháp trên để hoàn thiện kết quả nghiên cứu
- Kết quả thống kê đất đai có được là thông qua một quá trình nhập, xử lý, tổng hợp
và xuất ra từ phần mềm TK05 v2.0 phiên bản cấp tỉnh
Trang 19Giới thiệu về phần mềm TK05:
Ngày 02 tháng 08 năm 2007, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Thông
tư số 08/2007/TT-BTNMT về việc hướng dẫn thực hiện thống kê, kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất thay thế cho Thông tư số 28/2004/TT-BTNMT Trên cơ sở thông tư này, Trung tâm Thông tin trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường tiến hành nâng cấp phần mềm TK05 1.2 SP4 lên phiên bản 2.0 để phục vụ công tác thống kê, kiểm kê đất đai theo quyết định số 1960/QĐ-BTNMT ngày 4 tháng
12 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Sau khi phát hành bản TK05 v2.0 Personal và tổng hợp ý kiến đóng góp của các địa phương trong hai đợt tập huấn tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, Trung tâm Thông tin tiếp tục phát hành bản TK05 v2.0 Service Pack 1 để sửa lại một số lỗi của TK05 v2.0
Hình 1: Phần mềm TK05 version 2.0 Service Pack 1
Trong phần mềm TK05 version 2.0 Service Pack 1, hệ thống mẫu biểu theo mới được thiết lập sẵn theo Thông tư 08/2007/TT-BTNMT, hỗ trợ đầy đủ việc tổng hợp số liệu theo đơn vị hành chính các cấp, cập nhật số liệu biến động cũng như trợ giúp người dùng trong việc thiết kế mẫu biểu và in báo cáo cho phù hợp khi hệ thống chạy trên nền các hệ điều hành khác nhau
Giao diện hoàn toàn mới, thêm các chức năng thống kê hiện trạng số liệu mẫu biểu và cải tiến một số chức năng thêm tiện dụng như :
- Chức năng xuất các biểu đã tổng hợp ra dạng văn bản in ấn (khuôn dạng DOC) của phần mềm Microsoft Word, dạng bảng tính điện tử (khuôn dạng XLS) của phần mềm Microsoft Excel với hệ thống công thức nội bộ trong một bảng tính (sheet) đã được thiết lập sẵn và chức năng xuất bộ số liệu ra file MDB
- Chức năng tự động phân biệt (tên đơn vị hành chính có chữ Phường thì là khu vực đô thị) khi người sử dụng nhập chính xác tên đơn vị hành chính cấp Xã, Phường, Thị trấn
- Chức năng chuẩn hoá lại các font chữ trên giao diện của hệ thống,
Trang 20Hình 2: Giao diện làm việc của TK05 v2.0 SP1
Trang 21PHẦN 2: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU II.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, kinh tế xã hội của thị xã Tân An:
II.1.1 Điều kiện tự nhiên:
1 Vị trí địa lý:
Nằm trên quốc lộ 1A, cách Thành phố Hồ Chí Minh 47 km về phía Tây Nam và có tọa độ địa lý 106021’ đến 105046’ kinh độ Đông, 10020’ đến 10000’ vĩ độ Bắc Thị xã Tân An nằm bên hữu ngạn sông Vàm Cỏ Tây và có ranh giới với các đơn vị hành chính như sau: phía Bắc giáp huyện Thủ Thừa; phía Đông giáp huyện Tân Trụ và huyện Châu Thành; phía Tây và Tây Nam giáp tỉnh Tiền Giang
2 Địa hình địa mạo:
Địa hình Thị xã Tân An mang đặc điểm chung vùng đồng bằng Sông Cửu Long Nơi đây địa hình được bồi đắp liên tục và đều đặn dẫn đến sự hình thành đồng bằng có
bề mặt bằng phẳng và nằm ngang Độ cao tuyệt đối biến đổi từ 0,5- 2 m và trung bình
là 1-1,6 m
Hầu hết phần diện tích đất ở hiện hữu không bị ngập úng, rải rác có những điểm trũng dọc theo hai bên bờ sông rạch bị ngập nước về mùa mưa Nhìn chung địa hình thị xã tương đối thấp, dễ bị tác động khi triều cường hoặc khi lũ Đồng Tháp Mười tràn
về
3 Khí hậu thời tiết:
Thị xã Tân An nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, cận xích đạo, nên nhiệt
độ cao và ổn định Khí hậu chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 Nhiệt độ trung bình năm là 27,9 oC Độ ẩm tương đối ổn định trong năm với mức bình quân là 79,2% Lượng mưa trung bình là 1.532
mm, tập trung từ tháng 5 đến tháng 11 chiếm khoảng 91,7% tổng lượng mưa cả năm
4 Chế độ thủy văn:
Hệ thống sông ngòi, kênh rạch trên địa bàn thị xã khá chằng chịt mang sắc thái của vùng Đồng bằng Sông Cửu Long và chịu ảnh hưởng chế độ bán nhật triều của biển Đông Biên độ triều cực đại trong tháng từ 217- 235 cm, đỉnh triều cực đại tháng 12 là
150 cm Một chu kỳ triều khoảng 13-14 ngày Do gần cửa biển, biên độ triều lớn, đỉnh triều vào đầu mùa gió chướng nên sông rạch thường bị xâm nhập mặn
Về mùa lũ sông Vàm Cỏ Tây vừa chịu ảnh hưởng của thủy triều, vừa chịu ảnh hưởng của lũ ở vùng Đồng Tháp Mười tràn về Mùa khô từ tháng 2 đến tháng 6 nước sông Vàm Cỏ Tây bị nhiễm mặn Tháng 5 có độ mặn cao nhất 5,489g/lít, tháng 1 có
độ mặn 0,079g/l Độ pH trong nước sông Vàm Cỏ Tây từ tháng 6 đến tháng 8 khoảng 3,8 - 4,3 nên không thể sử dụng cho sản xuất và sinh hoạt
II.1.2 Tài nguyên:
Trang 22lúa-tầng phèn sâu ít độc hại với cây trồng); 3 nhóm đất trên được phân thành 7 loại đất, cụ thể như sau:
b) Nhóm đất phèn:
- Đất phèn tiềm tàng sâu (ký hiệu Sp2): có diện tích 45,26 ha chiếm 7,81% diện tích đất phèn, và chiếm 0,55% diện tích tự nhiên, loại đất này chỉ có ở xã Hướng Thọ Phú
- Đất phèn tiềm tàng rất sâu (ký hiệu Sp3): có diện tích 358,76 ha, chiếm 61,90% diện tích đất phèn và chiếm 4,38% diện tích tự nhiên, loại đất này phân bố ở
xã Hướng Thọ Phú 180,12 ha, xã Lợi Bình Nhơn 178,64 ha
- Đất phèn tiềm tàng rất sâu, mặn (ký hiệu Sp3M): diện tích 55,30 ha chiếm 9,54% diện tích đất phèn và chiếm 0,67% diện tích tự nhiên, phân bố ở xã Bình Tâm 40,83 ha, xã Nhơn Thạnh Trung: 11,30 ha, Phường 3 là 3,17 ha
- Đất phèn hoạt động sâu (ký hiệu Sj2): diện tích 120,23 ha, chiếm 20,75% diện tích nhóm đất phèn và chiếm 1,47% diện tích tự nhiên, phân bố ở xã Hướng Thọ Phú: 105,32 ha, Phường 5 là 14,91 ha
c) Nhóm đất xáo trộn (đất líp): diện tích 2800,03 ha, chiếm 34,18% diện tích tự
nhiên, phân bố ở khắp các xã phường thuộc thị xã như sau: Khánh Hậu và Tân Khánh: 320,80 ha; Phường 6: 296,11 ha; xã Lợi Bình Nhơn: 291,68 ha; Phường 3: 270,67 ha; Phường 4:261,25 ha; Phường 5: 258,88 ha; xã Hướng Thọ Phú: 242,5 ha; xã An Vĩnh Ngãi: 234,33 ha; xã Bình Tâm: 220,29 ha; xã Nhơn Thạnh Trung: 208,39 ha; Phường
2 : 142,01 ha và Phường 1 là 53,12 ha
Còn lại là sông rạch với diện tích 231,45 ha, chiếm 2,83% diện tích tự nhiên
Là một địa bàn hình thành khá lâu nên phần lớn diện tích đất tự nhiên của Thị xã Tân An được sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế xã hội Tuy là tỉnh lỵ của tỉnh Long An nhưng phần lớn diện tích đất tự nhiên được bố trí cho mục đích nông nghiệp (khoảng 65.95%) Diện tích đất chuyên dùng chiếm chưa đến 14.76% Tổng diện tích đất sử dụng cho đô thị chiếm khoảng 26% tổng diện tích tự nhiên Mức độ phát triển
đô thị trên địa bàn thị xã tương đối thấp, chưa đạt yêu cầu là trung tâm tỉnh lỵ
2 Tài nguyên nước:
Tài nguyên nước mặt ở Long An khá phong phú với sông chính là Vàm Cỏ Tây
và hệ thống kênh rạch dày đặc
Sông Vàm Cỏ Tây đoạn chảy qua Tân An có chiều dài 15,8 km, độ sâu trung bình 15 m, nguồn nước chủ yếu do sông Tiền tiếp sang qua kênh Hồng Ngự và kênh Cái Cỏ
Trang 23Kênh Bảo Định từ sông Vàm Cỏ Tây nối sông Tiền tại TP Mỹ Tho, đoạn chảy qua thị xã Tân An dài khoảng 8km
Rạch Chanh: nối thông từ kênh Nguyễn Tiếp tới sông Vàm Cỏ Tây, đoạn chảy qua thị xã Tân An dài khoảng 2,85km
Rạch Châu Phê: nối từ sông Vàm Cỏ Tây tới rạch Cái Tàu sông Nhật Tảo, đoạn chảy qua thị xã Tân An dài khoảng 4,15km
Ngoài ra còn có rạch Bình Tâm (4,1km) và rạch Cần Đốt (4,7km)
Nhìn chung nguồn nước mặt không thuận lợi cho sản xuất và sinh hoạt do bị nhiễm mặn, phèn và ô nhiễm chất thải Nước mưa 1.200-1.600 mm/năm là nguồn bổ sung quan trọng cho nguồn nước mặt.Tuy nhiên việc sử dụng nước mưa cần có biện pháp xây dựng phương tiện lưu trữ nước
Chất lượng nước ngầm ở Tân An được đánh giá là khá tốt, đủ tiêu chuẩn sử dụng cho nhu cầu sinh hoạt Kết quả phân tích một số mẫu nước ngầm ở thị xã cho thấy độ pH=5,3-7,8; C=8-200mg/l; lượng sắt tổng số Fe= 1.28- 41.8mg/l Theo số liệu khảo sát và tính toán của liên đoàn điạ chất thủy văn, trữ lượng nước ngầm của thị xã Tân
An là trên 133.000 m3/ngày đêm Riêng phường Khánh Hậu, thị xã Tân An có mỏ nước khoáng ở độ sâu 400m đang được công ty Lavie khai thác
3 Tài nguyên nhân văn:
Hình thành từ cuối thập niên thứ 17 từ nhiều nguồn nên cộng đồng dân cư thị xã Tân An có kiến thức, tay nghề, kinh nghiệm sản xuất và vốn văn hóa dân gian cũng đa dạng phong phú Tuy quy mô không lớn nhưng thị xã Tân An cũng khá nổi tiếng ở miền Nam với những nét độc đáo về cảnh sắc, về phong cách sinh hoạt, và là nơi hội
tụ văn hóa văn nghệ mang đậm nét bản sắc dân tộc Đây cũng là nơi có khá nhiều di tích lịch sử văn hóa như di tích kiến trúc văn hóa nghệ thuật lăng Nguyễn Huỳnh Đức,
di tích lịch sử cách mạng nhà thuốc Minh Xuân Đường, di tích lịch sử cách mạng nhà Tổng Thận và gần 100 ngôi đình chùa, miếu, thánh thất
4 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên:
a) Thuận lợi:
- Tiếp cận với TP Hồ Chí Minh - một trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của
cả nước, tạo điều kiện cho Thị xã Tân An tiếp thu tiến bộ khoa học kỹ thuật và liên kết
về nhiều mặt kinh tế, văn hóa, xã hội
- Thị xã Tân An là cửa ngõ của TP Hồ Chí Minh với các tỉnh Miền Tây, tác động trực tiếp lên các ngành dịch vụ của thị xã TP Hồ Chí Minh là nơi có nhu cầu tiêu thụ hàng hóa rất lớn nên tác động mạnh mẽ đến sản xuất và cung ứng hàng hóa nông sản, phát triển mạnh gia công và chế biến các mặt hàng công nghiệp tại thị xã Tân An
- Với khoảng 90% diện tích tự nhiên là đất phù sa và nhóm đất xáo trộn, cùng với các điều kiện về thời tiết, khí hậu thuận lợi tạo điều kiện đa dạng hóa cây trồng Thổ nhưỡng, tính chất cơ lý của đất không quá bất lợi cho xây dựng và phát triển đô thị
b).Hạn chế:
- Thị xã Tân An là cửa ngõ giao lưu kinh tế của Thành phố Hồ Chí Minh với các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long, đây sẽ là nơi giản nở phát triển công nghiệp của Thành phố Hồ Chí Minh, điều này có thể thúc đẩy phát triển kinh tế nhưng đồng thời
Trang 24có thể dẫn đến nguy cơ ô nhiễm môi trường cho thị xã Tân An nếu như không có sự quản lý chặt chẽ của nhà nước và các cơ quan có chức năng
- Địa hình thị xã tương đối thấp, dễ bị tác động khi triều cường hoặc khi lũ Đồng Tháp Mười tràn về
- Nằm ở miền Nam, khí hậu nóng ẩm là điều kiện thuận lợi cho dịch bệnh xuất hiện, phát triển và lây lan Do đó cần có những biện pháp phòng chống và ngăn chặn triệt để dịch bệnh cho người dân, cây trồng và vật nuôi
- Thị xã Tân An vẫn còn nhóm đất phèn, tuy nằm ở tầng sâu nhưng cần phải chú ý trong khai thác, xây dựng, tránh làm nhiễm phèn cho tầng canh tác cũng như cho nguồn nước
- Hệ thống sông ngòi, kênh rạch trên địa bàn thị xã khá chằng chịt, vào đầu mùa gió chướng thường bị xâm nhập mặn, không thể sử dụng cho sinh hoạt và sản xuất
II.1.3 Thực trạng phát triển kinh tế xã hội của thị xã Tân An:
1 Tăng trưởng kinh tế:
- Tăng trưởng kinh tế bình quân là 16%, đạt 100% kế hoạch đề ra
- Sản lượng lương thực: 45.504,9 tấn, kế hoạch trên 35.000 tấn, đạt 130%
- Giảm 361 hộ nghèo, kế hoạch 200 hộ; tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 3,05% (kế hoạch giảm còn dưới 4%)
- Cơ cấu kinh tế đã từng bước có sự chuyển dịch đúng hướng, phù hợp với tình hình thực tế của địa phương, đó là tăng tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng; thương mại - dịch vụ; giảm dần tỷ trọng ngành nông nghiệp Tỷ trọng giá trị sản xuất ngành công nghiệp – xây dựng tăng từ 50,47% năm 2005 lên 53,50% năm 2008; thương mại – dịch vụ tăng từ 40,35% năm 2005 lên 41.25% năm 2008; và tỷ trọng giá trị sản xuất ngành nông – lâm – ngư nghiệp giảm từ 9,18% xuống còn 5.25% vào năm 2008
a) Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp:
- Giá trị tổng sản lượng công nghiệp ước thực hiện năm 2008 là 2.270 tỷ đồng, tăng 22% so với cùng kỳ năm trước Công tác xúc tiến đầu tư được quan tâm, tiếp nhận nhiều nhà đầu tư trên địa bàn, góp phần tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm cho người lao động, cụ thể:
- Cụm công nghiệp Lợi Bình Nhơn đã thực hiện cơ bản phần hạ tầng kỹ thuật
và bàn giao đất cho nhà đầu tư Đã có 12 nhà đầu tư đưa vào hoạt động, quy mô khoảng 28.5 ha, thu hút trên 2.000 lao động
- Cụm công nghiệp Nhơn Thạnh Trung đang tiến hành bồi thường giải phóng mặt bằng khu tái định cư và chuẩn bị đầu tư các bước tiếp theo của dự án
- Cụm tiểu thủ công nghiệp Bình Tâm đã mời Cty Thành Tài đầu tư: đang chuẩn bị lập quy hoạch dự án
- Ngoài ra, tỉnh đã thành lập Trung tâm Khuyến công, tập huấn kỹ thuật công nghiệp cho các cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp; tạo điều kiện thuận lợi để tổng sản lượng công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp vượt kế hoạch đề ra trong năm
2008
b) Thương mại - dịch vụ:
- Tổng số hộ được cấp mới, thay đổi, bổ sung giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh tính từ đầu năm đến nay là 594 giấy, với tổng vốn đăng ký là 87 tỷ 500 triệu
Trang 25đồng, tăng 42% so với cùng kỳ, trong đó nhiều nhất là các ngành: thương nghiệp và dịch vụ sửa chữa, vận tải, kho bãi, thông tin liên lạc, khách sạn, nhà hàng, hoạt động liên quan đến kinh doanh tài sản và dịch vụ tư vấn
- Hoạt động thương mại tăng trưởng khá, các loại hình dịch vụ tiếp tục phát triển, đa dạng về số lượng và chất lượng, nhất là các lĩnh vực tín dụng, thông tin liên lạc đã được đưa vào hoạt động khai thác, đáp ứng tốt nhu cầu của người dân và các tổ chức kinh tế trên địa bàn
- Tình hình trật tự kinh doanh, vệ sinh môi trường khu vực chợ tiếp tục được củng cố và có chuyển biến khá tốt, đến nay các hộ tiểu thương khu vực chợ hoạt động bình thường
- Các chợ xã phường hoạt động ổn định, dần đáp ứng yêu cầu của nhân dân
c) Nông nghiệp:
- Diện tích sản xuất nông nghiệp giảm so với cùng kỳ năm trước; nguyên nhân
do dịch bệnh và tiến trình đô thị hoá thị xã
- Trồng trọt: diện tích lúa thu hoạch đạt 10.103ha, năng suất bình quân 45,04 tạ/ha, sản lượng vượt kế hoạch, đạt 110,9% Hệ thống giao thông thủy lợi nội đồng thường xuyên được kiểm tra, nạo vét, bảo đảm phục vụ sản xuất nông nghiệp
- Chăn nuôi: Thị xã tiếp tục triển khai điều tra đàn gia súc, gia cầm, dịch lở mồm long móng trên gia súc, bệnh tai xanh trên heo,… và chiến dịch tiêu độc khử trùng chuồng trại Đàn gia súc đã phục hồi và có chiều hướng gia tăng, đa số là chăn nuôi heo thịt, gà công nghiệp và bò sữa Tuy nhiên, do giá cả thức ăn gia súc tăng, giá thành sản phẩm chăn nuôi giảm, làm bất lợi không nhỏ cho cho hộ chăn nuôi
- Diện tích nuôi trồng thủy sản đạt 160.97ha, chủ yếu là nuôi cá hỗn hợp, ươm giống giảm so với cùng kỳ do tiến trình đô thị hoá và do nuôi trồng đạt hiệu quả thấp
- Kinh tế tập thể: thị xã tổ chức thí điểm mô hình sản xuất rau an toàn cho 6 tổ sản xuất trên địa bàn, đạt bình quân trên 30 triệu đồng/ha/năm, từ đó triển khai dự án xây dựng cánh đồng đạt giá trị tăng thêm 25 triệu đồng/ha/năm tại khu phố Giồng Dinh – Phường Khánh Hậu, bước đầu đạt kết quả khá Tuy nhiên, nhìn chung hiện nay chưa đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế, chưa đủ sức cạnh tranh với các thành phần kinh
tế khác, nhất là các tổ kinh tế hợp tác và hợp tác xã thuộc ngành nông nghiệp
2 Hệ thống cơ sở hạ tầng:
- Các trục giao thông chính của Thị xã Tân An là quốc lộ 1A, tuyến đường tránh thị xã, quốc lộ 62 Đây là 3 con đường giao thông huyết mạch, nối kết thị xã với các huyện trong tỉnh và các tỉnh trong vùng Ngoài ra sắp tới đường cao tốc TPHCM -Trung Lương sẽ đi vào hoạt động, tuyến đường này băng qua quốc lộ 62 cách trung tâm thị xã khoảng 4Km Trong nội ô thị xã các tuyến đường lớn cũng đang nâng cấp
và sửa chữa như: Hùng Vương, Nguyễn Đình Chiểu, Võ Văn Tần các tuyến đường giao thông nông thôn, hẻm từng bước được bê tông hoá Thị xã hỗ trợ các xã phường 5
tỷ đồng cho các công trình bê tông hóa các hẻm, lắp đặt điện chiếu sáng công cộng
- Thường xuyên duy tu, bảo dưỡng công viên, công trình cầu đường, trồng cây xanh, đầu tư hệ thống chiếu sáng công cộng, được quan tâm, từng bước làm thay đổi diện mạo thị xã Tổ chức việc thông cống ngầm các tuyến nội thị để hạn chế ngập nước mặt đường, giải quyết thoát nước tại một số đường của thị xã
3 Văn hóa xã hội:
Trang 26a) Giáo dục đào tạo:
Được sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của Thị Ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân thị xã và sự phối hợp chặt chẽ của các cấp các ngành từ thị xã đến cơ sở Sự nghiệp giáo dục và đào tạo ở thị xã Tân An đã từng bước thay đổi cả về chất và về lượng
Toàn thị xã có 28 trường mầm non – mẫu giáo với tổng số 184 lớp học; 3892 học sinh và 253 giáo viên Cấp tiểu học có 15 trường với 297 lớp học; 9812 học sinh
và 338 giáo viên Cấp trung học cơ sở có 8 trường với 205 lớp học; 9138 học sinh và
369 giáo viên Cấp trung học phổ thông có 5 trường với 135 lớp học; 5456 học sinh
và 231 giáo viên Cấp cao đẳng đại học có: 3 trường trung cấp dạy nghề; 2 trường cao đẳng và 1 trường đại học
Công tác giáo dục thường xuyên, bổ túc trung học phổ thông 353 học sinh, bậc trung học cơ sở 64 học sinh, kết quả tốt nghiệp đạt 100% Giữ vững kết quả xoá mù chữ và nâng tỉ lệ người biết chữ trong độ tuổi lên 98,61%
Thị xã luôn quan tâm đầu tư xây dựng mới, sửa chữa trường học trên địa bàn, mua sắm trang thiết bị dạy và học, cùng với việc nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên Trong năm, đưa vào hoạt động trường trung học cơ sở Lợi Bình Nhơn Tập trung đầu
tư xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia
b) Y tế - Dân số kế hoạch hóa gia đình:
Dân số thị xã là 165214 người, trong đó, dân số nội thị là 118107 người chiếm 71,5% và dân số nông thôn là 47107 người chiếm 28,5% dân số toàn thị xã Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 9,92‰ Mật độ dân số trung bình của thị xã là 2016 người/km2, mức tăng dân số trung bình hàng năm 0,98% Tổng số hộ là 35530 hộ, trong đó số hộ phi nông nghiệp là 26803 hộ, chiếm tỷ lệ 85%
Cùng với sự phát triển chung của tỉnh, đời sống nhân dân thị xã Tân An trong những năm qua đã được cải thiện Năm 2008, thu nhập bình quân trên đầu người của thị xã đạt 22.35 triệu đồng/năm Dân cư sống ở khu vực đô thị và ven các trục đường chính thường có mức thu nhập khá Dân cư sống ở nông thôn và các khu vực xa trục đường chính hiện thu nhập còn thấp, đời sống còn nghèo Mức thu nhập cũng không phân bố đồng đều giữa các vùng, đặc biệt là giữa khu vực nông thôn và thành thị; giữa các hộ sống ven các trục đường chính, gần các khu vực thương mại và những hộ sống
xa các yếu tố trên Tuy thu nhập và mức sống của các hộ gia đình ở thị xã Tân An là cao nhất so với các huyện còn lại trong tỉnh, nhưng nhìn chung so với các trung tâm đô thị khác thì vẫn ở mức thấp
Thực hiện tốt các chương trình mục tiêu quốc gia về y tế Công tác phòng chống dịch bệnh và khám chữa bệnh được quan tâm thường xuyên nên tình hình bệnh
ở người không có đột biến lớn, đặc biệt dịch bệnh sốt xuất huyết được kiềm chế, không có ca tử vong; dịch tiêu chảy cấp không có xảy ra trên địa bàn Triển khai tháng hành động vì chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm năm 2008, tăng cường kiểm tra an toàn vệ sinh thực phẩm, các cơ sở hành nghề y dược tư nhân, kịp thời xử lý vi phạm Y
tế cơ sở được củng cố, cơ sở vật chất, trang thiết bị được nâng cấp, 12/14 trạm y tế giữ vững đạt chuẩn quốc gia, hiện đang tiếp tục đầu tư hoàn chỉnh Trạm Y tế phường 7 và phường Tân Khánh, dự kiến đưa vào hoạt động trong quý I năm 2009
Tổ chức thực hiện chiến dịch truyền thông dân số lồng ghép cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản - kế hoạch hoá gia đình năm 2008 đạt yêu cầu
Trang 27c) Lao động - Thương binh và xã hội:
Lao động trong độ tuổi là 77.562 người chiếm tỷ lệ 63% dân số, Tổng số lao động tham gia trong các thành phần kinh tế: 53.127 lao động, trong đó lao động phi nông nghiệp 42.599 người, chiếm tỷ lệ 80,18% Xác nhận và giới thiệu việc làm đạt tỷ
lệ 113% Nghị quyết
Do tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra không quá nhanh nên lực lượng lao động ở thị xã đã phần nào có trình độ tay nghề khá, trình độ thâm canh trong nông nghiệp cao và có đủ việc làm thường xuyên Tuy nhiên với tốc độ đô thị hóa ngày càng diễn ra nhanh hơn, mạnh hơn thì một bộ phận khá lớn lao động nông nghiệp sẽ phải chuyển đổi nghề để đáp ứng nhu cầu phát triển là tất yếu Đây là thách thức lớn của thị xã trong những năm tới
Năm 2008, số hộ thoát nghèo đạt 180,5% kế hoạch, riêng xã Hướng Thọ Phú (xã nghèo trọng điểm) đã thoát nghèo 31 hộ, hiện còn 150 hộ, tỷ lệ 9,1% Cho vay vốn chương trình quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm 1 tỷ 645 triệu đồng, giải quyết việc làm cho
134 lao động và 17 lao động xuất khẩu Trong năm, UBND tỉnh ban hành tiêu chí hộ nghèo mới (540.000 đồng/người/tháng), thị xã đã chỉ đạo tổ chức, khảo sát hộ nghèo trên địa bàn Kết quả, có 2.454 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 7,8%
Thường xuyên quan tâm, thực hiện đúng, đủ chính sách ưu đãi người có công với Cách mạng, tổ chức thăm hỏi tặng quà cho gia đình chính sách nhân kỷ niệm các ngày lễ lớn Trợ cấp xã hội cho các đối tượng khó khăn, gia đình người nghèo đầy đủ, đúng quy định Tổ chức khám sức khỏe, các hoạt động văn hoá, vui chơi cho trẻ em, đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh khó khăn nhân các ngày lễ Tết, tháng hành động vì trẻ em,… cấp thẻ khám chữa bệnh miễn phí cho trẻ dưới 6 tuổi theo quy định
d) Văn hoá thông tin:
Thực hiện tốt công tác tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ chính trị ở địa phương, đặc biệt là tập trung tuyên truyền cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”
Tiếp tục thực hiện các tiêu chí xây dựng xã phường văn hóa tại xã An Vĩnh Ngãi và Phường 4, dự kiến đến năm 2010 đề nghị tỉnh phúc tra công nhận Phát động xây dựng phường văn hóa giai đoạn 2008 – 2012 tại phường Tân Khánh, phường Khánh Hậu Phong trào xây dựng đời sống văn hóa được nhân dân đồng tình hưởng ứng và phát triển rộng khắp, có 58/76 khu phố, ấp được công nhận danh hiệu văn hóa, đạt tỷ lệ 76,35% , có 4 ấp, khu phố văn hóa công nhận mới năm 2008; công tác quản lý nhà nước trên lĩnh vực văn hóa có tiến bộ và đi vào nề nếp
Hoàn chỉnh đề án đặt tên đường (đợt II) trên địa bàn thị xã, được HĐND tỉnh, HĐND thị xã quyết nghị và tiếp tục thực hiện các thủ tục tiếp theo
Các phong trào thể dục thể thao phát triển mạnh, nhất là phong trào bóng đá, văn nghệ, tạo không khí vui tươi sôi nổi, đáp ứng nhu cầu giải trí lành mạnh trong nhân dân
e) Công tác tôn giáo, dân tộc:
Các tổ chức tôn giáo hoạt động ổn định, tuân thủ luật đạo, luật pháp; công tác triển khai quán triệt, tuyên truyền chủ trương, pháp luật của Đảng và Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo được duy trì thường xuyên, hình thức tuyên truyền đa dạng và thiết thực, giúp các chức sắc, tín đồ tôn giáo nhận thức sâu sắc hơn về công tác tôn giáo
Trang 28trong tình hình mới, góp phần ổn định tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội
4 Công tác bảo vệ môi trường
Tuyên truyền, nhắc nhở các cơ sở sản xuất về vệ sinh môi trường, tổ chức kiểm tra định kỳ, đột xuất các đơn vị sản xuất kinh doanh có khả năng gây ô nhiễm, trong đó
đã phối hợp với Sở Tài nguyên – Môi trường kiểm tra một số đơn vị, cơ sở như: Cty Mienhua, Cụm công nghiệp Lợi Bình Nhơn, các hộ chăn nuôi tại xã Bình Tâm, lập biên bản các hành vi vi phạm và xử lý theo quy định và yêu cầu khắc phục ô nhiễm, quy định thời gian hoàn thành công tác xử lý Tiếp tục nhân rộng thực hiện dự án phân loại rác tại nguồn tại các phường trên địa bàn thị xã
5 Đánh giá chung về thực trạng phát triển kinh tế:
- Năm 2008, UBND thị xã đã tập trung chỉ đạo, điều hành tổ chức triển khai Nghị quyết của Hội đồng nhân dân thị xã bằng kế hoạch kinh tế - xã hội và đã triển khai thực hiện Đầu năm 2008, tình hình lạm phát, giá cả các loại hàng hóa, vật tư xây dựng tăng cao đã ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện một số lĩnh vực, nhưng UBND thị xã đã tập trung chỉ đạo, điều hành nên nhiều chỉ tiêu kinh tế - xã hội năm 2008 đạt và vượt
kế hoạch như:
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt kế hoạch năm; hoạt động công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, thương mại dịch vụ phát triển khá nhanh, sản xuất nông nghiệp đạt sản lượng lương thực cao, từng bước chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi
- Thu ngân sách khả năng vượt kế hoạch và quản lý chi ngân sách đảm bảo nguyên tắc, cân đối theo kế hoạch, tiết kiệm và chống lãng phí
- Tiến độ xây dựng cơ bản thực hiện đạt khá, các công trình chuyển tiếp các năm trước đã hoàn thành đưa vào sử dụng Tập trung khắc phục tốt hơn tình trạng ngập nước tại một số tuyến đường
- Công tác xây dựng đời sống văn hóa, công tác giảm nghèo, giới thiệu, giải quyết việc làm, công tác phổ cập giáo dục, công tác huy động học sinh năm học 2008 – 2009, thực hiện tốt công tác chăm sóc gia đình chính sách, công tác bảo trợ xã hội và
an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững; tiếp tục thực hiện chương trình
3 giảm và các yêu cầu phòng ngừa, tấn công các loại tội phạm
- Đặc biệt, đã có nhiều cố gắng trong công tác giải quyết tranh chấp đất đai, giải quyết các khiếu nại liên quan đến công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng theo trình
tự quy định
- Hệ thống giao thông thuận lợi cho việc mua nguyên liệu từ Đồng bằng Sông Cửu Long phục vụ công nghiệp chế biến và xuất khẩu Thị xã Tân An là địa bàn có sự phát triển thương mại- dịch vụ, công nghiệp với các tuyến giao thông của huyện đã nối kết các tuyến giao thông trong tỉnh, trên địa bàn có đường Quốc lộ 1A đi qua Đây là động lực thúc đẩy công nghiệp của Long An phát triển với hàng loạt các cơ sở có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn
Bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn những hạn chế, tồn tại như:
- Thị xã Tân An là khu trung tâm của Tỉnh Long An nhưng hệ thống hạ tầng cơ
sở chưa tương xứng với yêu cầu đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, kiến trúc đô thị còn thấp và quản lý chưa chặt chẽ, vệ sinh môi trường ở ngoại thành chưa đảm bảo
Trang 29- Chưa phát huy được lợi thế vị trí địa lý, chưa tạo được động lực mạnh mẽ cho việc thu hút vốn đầu tư, công nghệ, lao động cho quá trình phát triển
- Việc bố trí dân cư trong thời gian qua, phần lớn mang tính tự phát, nên bộ mặt thị xã còn thiếu nét văn minh đô thị
- Vốn đầu tư còn thiếu so với yêu cầu phát triển của thị xã theo lộ trình lên Thành phố Khối lượng xây dựng cơ bản khá lớn, nhưng do biến động giá vật liệu xây dựng, lúng túng trong việc xác định bù giá công trình làm chậm tiến độ thi công công trình Công tác giải phóng mặt bằng chưa đáp ứng yêu cầu do số lượng dự án giải phóng mặt bằng quá lớn, một số hộ chưa chấp hành giải tỏa, còn thắc mắc, khiếu nại, từ đó dẫn đến tiến độ thực hiện chậm
- Quản lý nhà nước trên lĩnh vực trật tự đô thị còn hạn chế so với tốc độ phát triển của thị xã, tình trạng ngập nước, lấn chiếm vỉa hè tuy có tập trung giải quyết những vẫn còn tồn tại, chưa giải quyết triệt để
- Tình trạng ô nhiễm môi trường do chất thải công nghiệp và do người dân chăn nuôi gia súc, gia cầm thải ra trên địa bàn thị xã vẫn chưa được khắc phục kịp thời
- Trên lĩnh vực văn hóa – xã hội một vài chỉ tiêu chưa đạt như: kế hoạch xây dựng trường chuẩn quốc gia, tỷ suất sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên trong năm có chiều hướng tăng; công tác vận động xã hội hóa trong hoạt động văn hóa thể dục thể thao chưa đạt hiệu quả cao Công tác quản lý nhà nước về tôn giáo vẫn còn hạn chế: một số xã phường chưa giải quyết kịp thời các vấn đề liên quan đến tôn giáo, vẫn còn nổi lên một số đối tượng hoạt động truyền đạo trái phép, lôi kéo các tín đồ vào đạo không theo hướng dẫn của chính quyền, còn tình trạng các hộ dân tranh chấp đất đai với các tổ chức tôn giáo trên địa bàn
- Công tác an ninh chưa đạt chỉ tiêu đề ra Tình hình vận chuyển, mua bán hàng lậu, hàng nhập khẩu trái phép vẫn còn diễn biến phức tạp
- Công tác giải quyết hồ sơ hành chính theo cơ chế “một cửa” thị xã, xã phường thực hiện cơ bản đảm bảo được nguyên tắc Tuy nhiên, từng lúc, từng nơi vẫn còn hạn chế như: thời gian giải quyết, thái độ phục vụ nhất là ở xã, phường
- Năng lực của lãnh đạo một số phòng ban, cán bộ công chức chưa đạt yêu cầu Việc xây dựng và áp dụng tiêu chuẩn quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:
2000 tiến độ chậm; còn một số lãnh đạo đơn vị chưa quan tâm đến công tác thi đua – khen thưởng, còn mang nặng hình thức, chất lượng không cao, chưa tạo được động lực thi đua trong cán bộ công chức
II.2 Công tác quản lý đất đai trên địa bàn thị xã Tân An:
Trong năm qua, công tác quản lý đất đai trên địa bàn thị xã Tân An đã đạt được một số kết quả như sau:
- Ngày 19/06/2006, Chính phủ ra nghị định 60/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính xã phường và thành lập phường mới thuộc thị xã Tân An, tỉnh Long An
Từ đó, công tác quản lý đất đai theo ranh giới hành chính trên địa bàn thị xã dần đi vào
ổn định Đến nay toàn thị xã có 8194,94ha và được phân bố theo 14 đơn vị hành chính trực thuộc bao gồm 9 phường và 5 xã Trong đó, có 3 phường mới được thành lập là phường 7, phường Khánh Hậu và phường Tân Khánh: