1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Chiến lược lâm nghiệp quốc gia giai đoạn 2006 2020 VN

66 126 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 812,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các ưu tiên phát triển nguồn nhân lực được phân tích cụ thể trong Phần 3, có thể tóm tắt như sau: • Trước hết, làm thế nào để duy trì số lượng và chất lượng học sinh, sinh viên thi vào

Trang 1

ETSP – Dự án Hỗ trợ Phổ cập và Đào tạo phục vụ Lâm nghiệp và Nông nghiệp vùng cao

218 Đội Cấn, Hòm thư GPO 81, Hà Nội, Việt Nam; Điện thoại: +84 4 832 98 33, Fax: +84 4 832 98 34 E-mail: etsp.office@hn.vnn.vn

Web site ETSP: http://www.etsp.org.vn, Web site Helvetas Vietnam: http://www.helvetas.org.vn

Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

Cục Lâm nghiệp Chương trình Hỗ trợ ngành lâm nghiệp và Đối tác (FSSP)

Và khuyến nghị cho Chiến lược Lâm nghiệp

Quốc gia giai đoạn 2006-2020

Trang 2

Lời cảm ơn

Nghiên cứu này do hai tư vấn là ông Đoàn Diễm1 và ông Edwin Shanks2 cùng ông Nguyễn Thế Bách3, điều phối viên Dự án Hỗ trợ Đào tạo và Phổ cập (ETSP, http://www.etsp.org.vn ) thực hiện

Xin trân trọng cảm ơn các cá nhân đã tham gia vào nghiên cứu của chúng tôi, bao gồm các thành viên Ban Tư vấn với đại diện của Cục Lâm nghiệp, Vụ Tổ chức Cán bộ, Vụ Khoa học Công nghệ, Trung tâm Khuyến Nông Quốc gia của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Viện Khoa học Lâm nghiệp, Viện Điều tra Quy hoạch rừng, Trường Cán bộ Quản lý Trung ương 1 và TrườngĐại học Lâm nghiệp Xuân Mai

Chúng tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới đại diện Trung tâm Khuyến nông lâm các tỉnh, các trường đại học, trung cấp lâm nghiệp, các trung tâm nghiên cứu đã tiếp đoàn nghiên cứu và đóng góp nhiều thông tin quí báu cho nghiên cứu này (danh sách tên các cơ quan được đưa vào phần giới thiệu)

Chúng tôi cũng xin đặc biệt cảm ơn ông Pierre-Yves Suter (cố vấn trưởng dự án ETSP) đã hướng dẫn và hỗ trợ trong suốt tiến trình nghiên cứu Đồng thời xin cảm sơn hai chị Nguyễn Kim Phương và Lê Thu Thuỷ, nhân viên văn phòng dự án ETSP đã tích cực giúp đỡ trong các chuyến đi khảo sát thực tế

1 Email: doandiem@hn.vnn.vn

2 Email: edwin@fpt.vn

3 Email: the.bach@socialforestry.org.vn

Trang 3

Mục lục

Lời cảm ơn i

Mục lục ii

Tóm tắt báo cáo iv

1 Giới thiệu 1

1.1 Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu 1

1.2 Thành viên tham gia và công việc khảo sát thực tế 2

1.3 Giới thiệu về công tác nghiên cứu, đào tạo và phổ cập lâm nghiệp ở Việt Nam 3

1.4 Các bên tham gia và phương pháp phân tích 4

1.5 Nội dung báo cáo 5

2 Phân tích hiện trạng: Các khuynh hướng phát triển ngành và thách thức đối với nghiên cứu, đào tạo và phổ cập 7

2.1 Mục tiêu chiến lược của ngành 7

2.2 Hội nhập toàn cầu và các ưu tiên quốc gia 7

2.3 Chuyên ngành sản xuất 8

2.3.1 Tăng trưởng nhanh trong ngành chế biến gỗ 9

2.3.2 Định hướng tương lai cho trồng rừng kinh tế 10

2.3.3 Các làng nghề sản xuất và chế biến lâm sản 11

2.4 Bảo vệ rừng, đồng quản lý và chia sẻ lợi ích 11

2.4.1 Hệ thống quản lý rừng đa tác dụng đối với khu vực rừng phòng hộ 12

2.4.2 Sự tham gia của địa phương vào bảo tồn đa dạng sinh học 13

2.4.3 Dịch vụ môi trường 14

3 Ưu tiên phát triển nguồn nhân lực 15

3.1 Hiện trạng và các thách thức chính trong phát triển nguồn nhân lực 15

3.2 Khuyến khích học sinh, sinh viên thi vào ngành lâm nghiệp 16

3.3 Nâng cao kiến thức và kỹ năng cho các cán bộ đương nhiệm 17

3.4 Đào tạo lao động lâm nghiệp 18

3.5 Nâng cao số lượng và năng lực cán bộ khuyến lâm cơ sở 19

3.6 Nâng cao năng lực cán bộ trong nghiên cứu, giáo dục và đào tạo lâm nghiệp 20

4 Phân tích mối liên kết và mạng lưới nghiên cứu, đào tạo và phổ cập 22

4.1 Nhận xét chung 22

4.1.1 Kế thừa các mối liên kết chính thức và không chính thức 22

4.1.2 Yếu tố cung và cầu trong cung cấp dịch vụ nghiên cứu, đào tạo và phổ cập 23

4.1.3 Mô hình tăng cường đa dạng hoá dịch vụ cấp cơ sở 23

4.2 Điểm mạnh và điểm yếu chính của hệ thống 25

4.2.1 Liên kết bên trong của hệ thống giáo dục và đào tạo 25

4.2.2 Mối liên kết giữa nghiên cứu lâm nghiệp với các lĩnh vực khác của hệ thống 26

4.2.3 Liên kết với các trường đào tạo và hệ thống khuyến nông lâm tỉnh 27

4.2.4 Liên kết với chuyên ngành sản xuất và chế biến 28

4.2.5 Liên kết với các Lâm trường Quốc doanh và các Ban quản lý rừng 28

4.3 Các trở ngại về thể chế 29

4.3.1 Đầu tư trong khoa học, công nghệ và đào tạo 29

4.3.2 Cản trở trong lập kế hoạch và tài chính 30

5 Giải pháp và khuyến nghị 32

5.1 Tầm nhìn và chiến lược chung 32

5.1.1 Mục tiêu của các tiểu chương trình 32

5.2 Các biện pháp để tăng cường mối liên kết, sự phù hợp và hiệu quả của nghiên cứu, đào tạo và phổ cập lâm nghiệp 34

5.2.1 Thúc đẩy hoạt động kiểu mạng lưới thực tế 34

5.2.2 Thúc đẩy quan hệ đối tác về thể chế 36

5.2.3 Tăng cường cách tiếp cận “theo nhu cầu” trong nghiên cứu lâm nghiệp 38

Trang 4

5.2.4 Tăng cường hệ thống giáo dục và đào tạo 39

5.2.5 Xây dựng năng lực khuyến lâm 40

5.2.6 Tài chính và định mức chi phí 42

Phụ lục 1 Mô tả hệ thống nghiên cứu, giáo dục, đào tạo và phổ cập 44

Phụ lục 2 Câu hỏi hướng dẫn thảo luận trong khảo sát thực tế 50

Phụ lục 3 Bản tham chiếu nhiệm vụ của Đợt nghiên cứu về Nghiên cứu, khuyến lâm, giáo dục và đào tạo lâm nghiệp (bản cuối 10.06.2004) 52

Phụ lục 4 Ví dụ về sự thay đổi trong ngành nghề lâm nghiệp truyền thống 56

Trang 5

Tóm tắt báo cáo

Nghiên cứu này cung cấp cơ sở phân tích để xây dựng định hướng và chiến lược phát triển

trong tương lai cho Nghiên cứu, Đào tạo và Phổ cập (RETE) lâm nghiệp của Việt Nam Đây

là một trong những hoạt động và kết quả chính của kế hoạch hoạt động năm 2004 (Hoạt động phối hợp D1) của Chương trình Hỗ trợ ngành và Đối tác (FSSP) do dự án ETSP trực thuộc Cục Lâm nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn hỗ trợ

Mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

1 Thực hiện phân tích hiện trạng và đánh giá nhu cầu về nghiên cứu, đào tạo và phổ cập trong ngành lâm nghiệp cùng với các bên liên quan và các nhà cung cấp dịch vụ chính ở

cấp quốc gia, vùng và tỉnh;

2 Đưa ra khuyến nghị về các bước tiếp theo nhằm tăng cường bổ sung và kết hợp giữa nghiên cứu, đào tạo và phổ cập, nâng cao sự phối kết hợp giữa các cơ quan thực hiện các chức năng trên;

3 Cung cấp thông tin đầu vào cho xây dựng Chiến lược Lâm nghiệp Quốc gia mới cho giai đoạn 2006 - 2020, đặc biệt chú trọng tới ưu tiên phát triển nguồn nhân lực

Phân tích hiện trạng và Đánh giá nhu cầu được đưa vào Phần 2 bắt đầu bằng việc làm nổi bật

các khuynh hướng phát triển chính trong ngành lâm nghiệp và những thách thức đối với Chiến lược Lâm nghiệp Quốc gia mới (2006-2020) Phần này cũng đánh giá tác động của các thách thức này đối với hệ thống nghiên cứu, đào tạo và phổ cập lâm nghiệp Thực chất, đây không phải là phân tích tổng thể toàn diện cho ngành lâm nghiệp mà chỉ xác định các vấn đề trực tiếp liên quan tới phát triển nguồn nhân lực chú trọng vào kiến thức và kỹ năng chuyên môn cần thiết cho các nhà lập kế hoạch, quản lý, cán bộ kỹ thuật, cán bộ nghiên cứu, đào tạo lâm nghiệp và những người làm nghề rừng vv trong thời gian tới Các ưu tiên phát triển

nguồn nhân lực được phân tích cụ thể trong Phần 3, có thể tóm tắt như sau:

• Trước hết, làm thế nào để duy trì số lượng và chất lượng học sinh, sinh viên thi vào ngành ở các cấp đào tạo khác nhau đặc biệt cho lĩnh vực sản xuất lâm nghiệp và bảo vệ rừng;

• Thứ hai, làm thế nào để nâng cao kiến thức và kỹ năng cho một số lượng lớn cán bộ chuyên môn hiện tại ở các địa phương và các cơ quan khác nhau đặc biệt là cán bộ của Cục kiểm lâm, các lâm trường quốc doanh và các đơn vị hành chính địa phương;

• Thứ ba, làm thế nào để đào tạo nghề có hiệu quả cho một số lượng lớn người làm nghề rừng (chủ yếu là nông dân chưa qua đào tạo) để đạt được mục tiêu mà nghị quyết của Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đặt ra là 25% công nhân được đào tạo vào năm 2010 và 50% vào năm 2020;

• Thứ tư, làm thế nào để nâng cao số lượng và năng lực của cán bộ khuyến lâm cơ sở đặc biệt ở những vùng cao nơi người dân sống phụ thuộc vào rừng (huyện và xã);

• Thứ năm, làm thế nào để nâng trình độ chuyên môn, kỹ năng và năng lực cán bộ nghiên cứu, đào tạo lâm nghiệp để họ có thể hỗ trợ tốt vấn đề trênvà nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo

Phần 4 phân tích điểm mạnh, điểm yếu của các mối liên kết hiện tại (cả dọc và ngang) giữa

các nhà cung cấp dịch vụ và các nhóm khách hàng tiếp nhận các dịch vụ nghiên cứu, đào tạo

và phổ cập lâm nghiệp Khi đánh giá các yếu tố “cung” và “cầu” trong việc cung cấp các dịch

Trang 6

vụ này, có xem xét cả khía cạnh (thể chế) chính thức và không chính thức của các mối liên kết trong hệ thống Trên cơ sở này, Phần 4 cũng đánh giá khung điều hành trong Chiến lược Lâm nghiệp Quốc gia hiện tại (2001-2010) và xác định một số trở ngại về thể chế ảnh hưởng tới mức độ phối kết hợp hiệu quả của các cơ quan nghiên cứu, đào tạo và phổ cập Đặc biệt,

đã xác định được một số trở ngại về đầu tư, tài chính và đề xuất giải pháp cho các khó khăn này

Cuối cùng, Phần 5 đưa ra các đề xuất cho tầm nhìn tương lai và các định hướng chiến lược

chính cho hệ thống nghiên cứu, đào tạo và phổ cập trong Chiến lược Lâm nghiệp Quốc gia mới và một số khuyến nghị cụ thể nhằm cải thiện mối liên kết, lồng ghép và bổ sung giữa các mảng trong lâm nghiệp Những đề xuất này được trình bày theo hướng xây dựng một chương trình phối kết hợp các hoạt động mà có thể được FSSP và/hoặc các dự án lâm nghiệp

chấp nhận và hỗ trợ tài chính để thực hiện

Đề xuất tầm nhìn dài hạn như sau:

Tầm nhìn 2020 cho nghiên cứu, đào tạo và phổ cập: Nâng cao chất lượng, hiệu

quả nghiên cứu, đào tạo và phổ cập lâm nghiệp theo nhu cầu thị trường, phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao cho ngành lâm nghiệp và kết hợp chặt chẽ các hoạt động khoa học công nghệ, đào tạo, phổ cập với sản xuất kinh doanh lâm nghiệp để có thể thực hiện các mục tiêu phát triển quốc gia (công nghiệp hoá, hiện đại hoá ngành) và Chiến lược Lâm nghiệp Quốc gia giai đoạn 2006-2020 Đặc biệt chú trọng vào sự đóng góp trực tiếp và gián tiếp của ngành lâm nghiệp đối với nền kinh tế quốc dân, bảo vệ môi trường và cải thiện mức sống cho người dân

sống phụ thuộc vào rừng

Các ưu tiên chiến lược của các chuyên ngành nghiên cứu, đào tạo và phổ cập như sau:

Tiểu chương trình nghiên cứu:

• Hoàn thành Chiến lược Nghiên cứu Lâm nghiệp cho giai đoạn 2006-2020 dựa vào Chiến lược Lâm nghiệp Quốc gia quốc gia giai đoạn 2006-2020

• Tập trung hơn vào các dự án nghiên cứu “theo nhu cầu” có thể hỗ trợ nông dân tham gia quản lý và bảo vệ rừng nhằm giúp họ tự tạo thu nhập từ sản xuất và việc làm từ ngành lâm nghiệp

• Nghiên cứu thêm về quản lý rừng tự nhiên và rừng trồng bền vững, chú trọng vào trồng rừng công nghiệp các loài cây thương mại năng suất cao phục vụ cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa Tăng cường đầu tư công nghệ nhằm đảm bảo tới năm 2020 cung cấp 90%

gỗ cho thị trường nội địa và 80% cho xuất khẩu

• Cải tiến công nghệ và trang thiết bị chế biến, hỗ trợ các cơ sở công nghiệp và doanh nghiệp chế biến nhỏ tìm thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước, tăng cường những lợi thế cạnh tranh của công nghiệp rừng trong hội nhập quốc tế

• Tăng cường năng lực và trang thiết bị nghiên cứu, áp dụng các cách tiếp cận nghiên cứu mới có thể lồng ghép tốt hơn với đào tạo, phổ cập và phát triển nguồn nhân lực để thực hiện có hiệu quả các chương trình phát triển của ngành

• Hướng các viện nghiên cứu, cơ quan khuyến lâm và các trường đào tạo thiết lập liên kết với các tổ chức sản xuất và kinh doanh lâm nghiệp

Trang 7

• Xác định cơ sở khoa học để xây dựng các chính sách có tính đột phá trong ngành lâm nghiệp (xã hội hoá nghề rừng, xây dựng lâm phận quốc gia ổn định, giá trị môi trường của rừng vv)

• Tăng cường hợp tác quốc tế để nâng cao năng lực cho cán bộ nghiên cứu và chuyển giao công nghệ nhất là trong lĩnh vực trồng rừng cao sản

Tiểu chương trình khuyến lâm:

• Cung cấp cho nông dân và cộng đồng sống phụ thuộc vào rừng các kiến thức và kỹ năng chuyên môn cần thiết về nông lâm nghiệp để họ có thể tự lập kế hoạch kinh doanh, áp dụng các công nghệ tiên tiến nhằm tăng năng suất và chất lượng rừng, bảo vệ sinh thái và môi trường, nâng cao mức sống của người dân phụ thuộc rừng

• Đưa ra các biện pháp khuyến lâm cụ thể cho các cộng đồng (xã, thôn bản, nhóm người) sống trong các vùng rừng lớn và phụ thuộc vào rừng thông qua quản lý rừng cộng đồng, lâm nghiệp trang trại và phát triển thị trường

• Xã hội hoá các hoạt động khuyến lâm và khuyến nông

• Tăng cường số lượng và năng lực cho cán bộ khuyến lâm cấp cơ sở, khuyến lâm tình nguyện một cách có hệ thống để hỗ trợ nông dân đặc biệt những nhóm sống phụ thuộc vào rừng

• Cải thiện phương pháp khuyến lâm, phát triển và cập nhật chương trình đào tạo, tập trung hơn vào các khoá đào tạo ngắn hạn mà nông dân có thể theo học và tiếp thu được; đào tạo theo modun phải được chuẩn hoá Nội dung khuyến lâm cần hướng vào các hoạt động trồng rừng, quản lý rừng tự nhiên, chế biến, thương mại lâm sản và nông lâm kết hợp

• Liên kết các cơ quan khuyến lâm, các trung tâm nghiên cứu và nông dân với các đơn vị sản xuất và kinh doanh lâm nghiệp

• Điều phối và phổ biến rộng rãi hơn nữa các phương pháp, tài liệu, vật liệu đào tạo và khuyến nông lâm đã được các cơ quan nghiên cứu, đào tạo, phổ cập và các dự án khác nhau xây dựng, phát triển

• Tạo sự liên kết chặt chẽ giũa các các nhà quản lý, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp, cán

bộ khuyến nông và người sản xuất.Có kế hoạch đào tạo nghề và đào tạo nâng cao cho các làng nghề chế biến gỗ và làm hàng thủ công mỹ nghệ để duy trì và nâng cao chất lưọng hàng hoá đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường trong nước và quốc tế

• Có kế hoạch đào tạo nghề và đào tạo nâng cao cho các làng nghề chế biến gỗ và làm hàng thủ công mỹ nghệ để duy trì và nâng cao chất lưọng hàng hoá đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường trong nước và quốc tế

Tiểu chương trình giáo dục và đào tạo:

• Đổi mới toàn diện hệ thống đào tạo cả về cơ cấu hệ thống ,chương trình, nội dung , phương pháp giảng dạy và cơ chế quản lý để nâng cao chất lượng đào tạo Chú trọng đào tạo ngắn hạn (theo modun) cho nông dân và công nhân của các doanh nghiệp và làng nghề, đào tạo lại, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ đương chức Đặc biệt cần có chính sách khuyến khích đối với cán bộ làm việc ở vùng sâu vùng xa

• Nâng cao số lượng người làm nghề rừng được đào tạo của ngành lên 25% vào năm

2010 và 50% vào năm 2020 bằng chuyển giao dịch vụ đào tạo có chất lượng cao theo

Trang 8

nhu cầu của thị trường và tập trung hơn vào các khoá ngắn hạn (với mức tăng 80% hàng năm)

• Đào tạo chính quy mới bình quân 10.000 người / năm (trên đại học:160, đại học 1650 , cao đẳng: 900, trung học:1900 và dạy nghề: 5100)

• Đẩy mạnh xã hội hoá công tác đào tạo

• Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ quản lý và giảng dạy đáp ứng yêu cầu của ngành trong tiến trình hội nhập quốc tế Khuyến khích các cán bộ tự học tập và nghiên cứu, tích lũy kinh nghiệm thực tế, học ngoại ngữ và tin học

• Làm rõ và tăng cường chức năng và nhiệm vụ của các cơ quan giáo dục và đào tạo khác nhau về đối tượng đào tạo chính, chương trình chuẩn hóa và cung cấp dịch vụ đào tạo thường xuyên và theo hợp đồng

• Tăng cường mối liên kết giữa các trường đào tạo lâm nghiệp với các cơ quan đào tạo và

hệ thống khuyến nông lâm cấp tỉnh, huyện và xã

• Tăng cường hợp tác quốc tế về giáo dục đào tạo , tiếp cận với các chuẩn mực đào tạo tiên tiến của thế giới và phấn đấu để tới năm 2015 có một số cơ sở giáo dục và đào tạo lâm nghiệp đạt mức chuẩn quốc tế

Các khuyến nghị chính để cải thiện mối liên kết, lồng ghép và bổ sung lẫn nhau giữa các chuyên ngành nghiên cứu, đào tạo và phổ cập như sau:

1 Thiết lập một mạng lưới mạnh hơn giữa các cơ quan nghiên cứu, đào tạo và phổ cập nhằm tập trung vào hoàn thành chức năng và nhiệm vụ thực tế liên quan tới thực thi

Chiến lược Lâm nghiệp Quốc gia và mang lại lợi ích rõ ràng cho các tổ chức tham gia

2 Khuyến khích thiết lập “quan hệ đối tác về thể chế” và “quan hệ đối tác song phương” tích cực hơn giữa các cơ quan nghiên cứu, đào tạo với các cơ sở sản xuất, bảo vệ và chế biến lâm nghiệp

3 Khuyến khích thành lập các “phòng nghiên cứu và phát triển” và các “trung tâm dịch vụ đào tạo” chuyên sâu trực thuộc các cơ quan nghiên cứu, đào tạo và phổ cập nhưng không được dẫn tới việc phân tán về tổ chức

4 Xây dựng chính sách và cơ chế khuyến khích các cơ quan, tổ chức tư nhân và kinh tế xã hội tham gia tích cực hơn nữa vào nghiên cứu, đào tạo và xã hội hoá công tác nghiên cứu, đào tạo và khuyến nông lâm

5 Đối với hệ thống nghiên cứu lâm nghiệp - thiết lập cơ chế và hướng dẫn rõ ràng để đảm bảo các định hướng chiến lược và nội dung nghiên cứu được phát triển dựa trên những đánh giá thống nhất về nhu cầu và kết quả nghiên cứu được theo dõi và phổ biến một

cách có hiệu quả

6 Đối với hệ thống đào tạo- cần làm rõ và tăng cường chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức, cơ quan đào tạo lâm nghiệp đối với các nhóm đối tượng đào tạo chính, cập nhật và chuẩn hoá chương trình đào tạo, cung cấp đào tạo thường xuyên và đào tạo dịch vụ theo hợp đồng

7 Tập trung phát triển các hệ thống đào tạo nghề và các khoá học theo modun do các cơ quan tổ chức nghiên cứu, đào tạo và phổ cập phối hợp xây dựng để có thể sử dụng cho nhiều loại hình đào tạo, đây là điểm cần tập trung để cập nhật chương trình đào tạo trên toàn quốc

Trang 9

8 Đối với hệ thống phổ cập – cần tăng cường đội ngũ và năng lực khuyến lâm ở các cấp đặc biệt cần nâng cao số lượng và kỹ năng của cán bộ khuyến lâm làm việc ở vùng cao nơi người dân sống phụ thuộc vào rừng

9 Về lâu dài, cần chuyển hướng đào tạo vừa học vừa làm và đào tạo khuyến nông lâm, tăng cường sử dụng công nghệ thông tin hiện đại, truyền thông đại chúng và phát triển hệ thống đào tạo từ xa để đáp ứng yêu cầu thực tế

10 Chỉnh sửa và cập nhật hệ thống định mức cho công tác nghiên cứu, đào tạo và phổ cập

để phản ánh đúng những ưu tiên hiện nay của ngành, mức chi phí thường xuyên cho nhiều loại công việc khác nhau và đặc biệt để khuyến khích tốt cho những người làm việc ở những vùng rừng sâu vùng xa

Trang 10

1 Giới thiệu

1.1 Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu này nhằm cung cấp cơ sở phân tích để xây dựng định hướng và chiến lược phát

triển trong tương lai cho Nghiên cứu, Đào tạo và Phổ cập (RETE) trong ngành lâm nghiệp

của Việt Nam Nghiên cứu này là một trong những hoạt động và kết quả chính của kế hoạch hành động năm 2004 (Hoạt động phối hợp D1) của Chương trình Hỗ trợ ngành và Đối tác (FSSP) do dự án ETSP trực thuộc Cục Lâm nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

hỗ trợ

Mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

1 Tiến hành phân tích hiện trạng và đánh giá nhu cầu về nghiên cứu, đào tạo và phổ cập trong ngành lâm nghiệp cùng với các bên liên quan và các nhà cung cấp dịch vụ chính ở

cấp quốc gia, vùng và tỉnh;

2 Đưa ra khuyến nghị về các bước tiếp theo nhằm tăng cường bổ xung và kết hợp giữa ba mảng nghiên cứu, đào tạo và phổ cập và cải tiến sự phối kết hợp giữa các cơ quan thực hiện các chức năng trên;

3 Cung cấp thông tin đầu vào để xây dựng Chiến lược Lâm nghiệp Quốc gia mới giai đoạn

2006 - 2020, đặc biệt chú trọng tới ưu tiên phát triển nguồn nhân lực

Đầu tiên, cần lưu ý rằng báo cáo này tập trung vào xác định các vấn đề và cơ hội mang tính chiến lược chứ không không đi sâu vào các yêu cầu cụ thể của từng mảng nghiên cứu, đào tạo và phổ cập Các tác giả cũng giả định rằng bạn đọc cũng có hiểu biết về tổ chức, chính sách và các chương trình của ngành lâm nghiệp Việt Nam Như vậy, để giữ cho báo cáo không bị dài quá, chúng tôi không trình bày nhiều thông tin cơ sở trong báo cáo chính Có thể xem thêm thông tin ở các tài liệu tham khảo và cơ cấu hệ thống các cơ quan nghiên cứu, đào tạo và phổ cập trong phụ lục 1

Báo cáo này cũng chú ý đến các điều khoản và định hướng mới trong Luật bảo vệ và phát

triển rừng đã được Quốc hội thông qua vào tháng 12/20044 Báo cáo này còn tham khảo Nghị định số 565 về Khuyến nông và Khuyến ngư có hiệu lực từ tháng Tư năm 2005, đây là

cơ sở cho các hoạt động trong tương lai của hệ thống khuyến nông Việt Nam Ngoài ra có thể tham khảo dự thảo Chiến lược Nghiên cứu Lâm nghiệp Việt Nam6 đang được xây dựng và

Dự thảo tổ chức lại hệ thống nghiên cứu khoa học và công nghệ của Bộ NN&PTNT 7 Các tài liệu này cung cấp thông tin cụ thể hơn về hiện trạng và định hướng tương lai cho hệ thống nghiên cứu lâm nghiệp

4 Lệnh số 25/2005/L-CTN (ngày14/12/2004) của Chủ tịch nước ban hành Luật Bảo vệ và phát triển rừng

5 Nghị định số 56/2005/ND-CP (ngày 26/4/2005) của Chính phủ về Khuyến Nông và Khuyến Ngư

6 Bộ NN&PTNT (2004 Chiến lược Nghiên cứu lâm nghiệp Việt Nam tới năm 2020 (dự thảo)

7 Bộ NN&PTNT (2004), Bản đệ trình lên Thủ tướng chính phủ đề xuất tổ chức lại hệ thống nghiên cứu và công nghệ của Bộ NN&PTNT

Trang 11

1.2 Thành viên tham gia và công việc khảo sát thực tế

Chúng tôi đã cố gắng áp dụng phương pháp thảo luận trong tất cả các bước thực hiện, báo cáo này tổng hợp tất cả ý kiến, đề xuất của nhiều người thuộc nhiều cơ quan nghiên cứu, đào tạo

và phổ cập ở nhiều cấp trong toàn quốc

Ý tưởng nghiên cứu và Bản tham chiếu nhiệm vụ của tư vấn đã được chia sẻ và thảo luận ngay từ đầu với các đối tác của FSSP và được Tiểu ban chuyên môn (TEC) phê duyệt vào tháng 1/2004 Phạm vi và mục tiêu nghiên cứu sau đó được điều chỉnh với sự tham gia của Nhóm Tư vấn gồm đại diện của các Cục, Vụ chính của Bộ NN&PTNT và các cơ quan chủ chốt cấp quốc gia hoạt động trong các lĩnh vực nghiên cứu, đào tạo và phổ cập, bao gồm:

• Cục Lâm nghiệp

• Vụ Tổ chức Cán bộ

• Vụ Khoa học Công nghệ

• Trung tâm Khuyến nông Quốc gia

• Viện Khoa học Lâm nghiệp

• Viện Điều tra Quy hoạch rừng

Để thực hiện nghiên cứu, chúng tôi đã đi khảo sát thực tế ở cả hai miền Nam Bắc, gặp gỡ lãnh đạo và cán bộ của nhiều cơ quan, tổ chức làm việc trong các lĩnh vực nghiên cứu, đào tạo và phổ cập (bộ câu hỏi hướng dẫn để thảo luận được trình bày trong Phụ lục 2) Các cơ quan này gồm:

• Trung tâm Khuyến Nông Lâm Lạng Sơn

• Trung tâm Khuyến Nông Lâm Quảng Ninh

• Trung tâm Khuyến Nông Lâm Đồng Nai

• Trường Cán bộ quản lý Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn số 1 (Hà Nội)

• Trường Cán bộ quản lý Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn số 2 (TP Hồ Chí Minh)

• Phân viện phía Nam Viện Khoa học Lâm nghiệp (TP Hồ Chí Minh)

• Phân viện phía Nam Viện Điều tra Quy hoạch rừng (TP Hồ Chí Minh)

• Trường Trung học Lâm nghiệp Trung ương số 1 (Quảng Ninh)

• Trường Trung học Lâm nghiệp Trung ương số 2 (Đồng Nai)

• Trường Công nhân Kỹ thuật Lâm nghiệp TW số 1 (Lạng Sơn)

• Trường Công nhân Kỹ thuật Lâm nghiệp TW số 3 (Bình Dương)

• Trường Công nhân chế biến gỗ Trung ương (Hà Nam)

• Trường Đại học Lâm nghiệp Xuân Mai

• Họp chung với thành viên của khoa Nông Lâm của các trường đại học Tây nguyên, Thủ Đức và Huế và Trường Đại học lâm nghiệp ở Hà Nội

Trang 12

• Các cuộc họp ở Hà Nội với đại diện các nhà tài trợ/các tổ chức phi chính phủ và dự

án liên quan trong Phạm vi Kết quả 8 của Chương trình FSSP và tiếp tục gặp các Cục, Vụ của Bộ NN&PTNT

Phần khảo sát hiện trường của nghiên cứu chủ yếu là đi thăm các trường trung cấp, dạy nghề

và các phân viện nghiên cứu vì nhìn chung trong các nghiên cứu trước đây ít có các cuộc đối thoại với các đơn vị nghiên cứu, đào tạo và phổ cập lâm nghiệp này

Đối với khuyến nông lâm, trái lại trong những năm gần đây đã có một vài khảo sát với nông dân và các cộng đồng địa phương, bao gồm: (i) một cuộc điều tra chi tiết về nhu cầu khuyến nông cho các nhóm nghèo do Tổ công tác Khuyến nông của các tổ chức Phi chính phủ thực hiện8; (ii) điều tra nhu cầu của nông dân do Dự án cải cách hành chính công của Bộ NN&PTNT thực hiện9; và (iii) Đánh giá nghèo đói có sự tham gia thực hiện ở 7 khu vực nằm trong khuôn khổ đánh giá Nghèo đói ở Việt Nam năm 200210 Các nghiên cứu trên cung cấp những phân tích sâu sắc về nhu cầu khuyến nông và đào tạo, các hướng ưu tiên Các kết quả

đó cũng là cơ sở cho nghiên cứu này

Tất cả các cuộc gặp gỡ và thảo luận được tổ chức phục vụ nghiên cứu này đều rất hữu ích và

có kết quả tốt Chúng tôi hy vọng báo cáo này có thể ghi lại chính xác các ý kiến, gợi ý của các đại biểu và phản ánh các quan điểm đồng thuận một cách mạch lạc, chặt chẽ

Đồng thời, báo cáo cũng phản ánh các bình luận và ý kiến đặc biệt của các tác giả đối với các giải pháp chiến lược dài hạn để cải thiện chất lượng và tính hiệu quả của công tác nghiên cứu, đào tạo lâm nghiệp và dịch vụ khuyến lâm Tuy nhiên, những giải pháp này được đưa ra như

là “giải pháp để thảo luận” nhằm tìm ra cách đi đúng nhất mà chưa phải là kết luận và khuyến nghị chắc chắn cuối cùng

1.3 Giới thiệu về công tác nghiên cứu, đào tạo và phổ cập lâm nghiệp ở Việt Nam

Dưới đây là một số khái niệm trong nghiên cứu, đào tạo và phổ cập sử dụng trong nghiên cứu này:

Nghiên cứu Các nghiên cứu do Viện Khoa học Lâm nghiệp, Viện Điều tra Quy hoạch

rừng, các phân viện chuyên ngành và các trường đại học thực hiện chủ yếu là nghiên cứu

ứng dụng nhưng cũng bao gồm những yếu tố của nghiên cứu cơ bản Nghiên cứu ứng

dụng thường tập trung vào phát triển các công nghệ trong lâm nghiệp (ví dụ: nhân giống

và hệ thống lâm sinh), các phương pháp quy hoạch sử dụng đất và nghiên cứu về thực hiện chính sách và về kinh tế xã hội v.v Một kiểu nghiên cứu khác thường được các cơ quan

đào tạo lâm nghiệp thực hiện là xây dựng các khu trình diễn và vườn thực nghiệm phục

vụ cả hai mục đích là đào tạo và thử nghiệm các giống cây, kỹ thuật trực tiếp trên hiện trường

8 Tổ công tác NGO 2005 Dịch vụ khuyến nông cho người nghèo: các vấn đề về giới và dân tộc thiểu số trong khuyến nông Tiểu nhóm NGO về khuyến nông cho người nghèo

9 Dự án cải cách hành chính 2002 Nghiên cứu nhu cầu của nông dân Dự án cải cách hành chính

(VIE/98/004), Bộ NN&PTNT, Hà Nội

10 Xem báo cáo đánh giá nghèo đói của các tỉnh Hà Giang, Nghệ An, Quảng Trị, Dak Lak, Bến Tre, Lào Cai, Ninh Thuận, Hải Dưon và Hà Tây (do Tổ công tác Giảm nghèo xuất bản năm 2003)

Trang 13

Đào tạo chính quy. Thuật ngữ này nói tới các chương trình đào tạo tập trung từ một

năm trở lên với: (i) Bằng tốt nghiệp hệ dạy nghề do các trường công nhân kỹ thuật lâm

nghiệp trực thuộc Bộ NN&PTNT và các trường công nhân kỹ thuật Nông Lâm tỉnh cấp;

(ii) Bằng tốt nghiệp hệ trung học chuyên nghiệp do các trường Trung học Lâm nghiệp Trung ương cấp; (iii) Bằng tốt nghiệp Cao đẳng và Đại học do các trường Đại học Lâm nghiệp, Cao đẳng Nông Lâm trực thuộc các trường đại học khu vực cấp; và (iv) Bằng sau

đại học (thạc sĩ và tiến sĩ) do trường Đại học Lâm nghiệp và Viện Khoa học Lâm nghiệp

cấp Theo quy định các trường đào tạo bậc cao có thể cấp bằng cho các cấp đào tạo thấp hơn ví dụ trường cao đẳng có thể cấp các văn bằng, chứng chỉ tốt nghiệp trung học THCN, bằng nghề, chứng chỉ nghề Ngoài ra thuật ngữ này còn nói tới các chương trình đào tạo vừa học vừa làm, đào tạo liên thông nhằm nâng cao trình độ cho cán bộ các tỉnh, huyện và

Đào tạo không chính quy Bao gồm: (i) Các khoá đào tạo nghề ngắn hạn hỗ trợ

trực tiếp cho các cơ sở đào tạo thông qua Sở LĐTBXH (thông tư 65 ngày 2/7/2004) ; (ii)

các khóa bồi dưỡng ngắn hạn được Bộ cấp thông qua nguồn kinh phí bồi dưỡng cán bộ

công chức (thí dụ giao cho Trường Cán bộ quản lý hoặc các cơ sở đào tạo khác thực hiện);

và (iii) các khoá học không chính quy do các dự án, chương trình phát triển và các cơ

quan khác đào tạo cho các nhà quản lý lâm nghiệp, cán bộ khuyến nông lâm và nông dân v.v

Phổ cập: Đối với hệ thống khuyến nông lâm nhà nước, phổ cập thường kết hợp giữa: (i)

mô hình trình diễn cho nông dân; (ii) đào tạo cán bộ khuyến nông lâm/nông dân; (iii)

thành lập các nhóm nông dân sở thích hoặc câu lạc bộ khuyến nông lâm; các hoạt động

này thường có (iv) hỗ trợ vật tư đầu vào Các phương pháp và cách tiếp cận khuyến nông

lâm ‘từ nông dân tới nông dân’ hoặc ‘do nông dân thực hiện’ thường được các dự án

quốc tế hoặc của các tổ chức phi chính phủ khuyến khích áp dụng

Nhiều tổ chức nghiên cứu, đào tạo và phổ cập cũng như các dự án phát triển khuyến khích

các phương pháp có sự liên thông giữa các mảng này Có thể kể tới cách tiếp cận học tại hiện

trường (FFS), được du nhập thông qua Chương trình Quản lý Dịch hại Tổng hợp (IPM),

nhằm lồng ghép phổ cập với đào tạo và nghiên cứu ứng dụng trực tiếp do người dân và kỹ thuật viên cùng làm Gần đây, một số cách tiếp cận mới được áp dụng trong ngành lâm

nghiệp ví dụ học quản lý rừng tại hiện trường, Phát triển công nghệ có sự tham gia (PTD) và Phân tích và phát triển thị trường (MAD) Các dạng hoạt động phối hợp nghiên

cứu hiện trường và phổ cập này đang được thực hiện trong các hoạt động phát triển nông thôn với sự tham gia của nông dân làm nghề rừng và cộng đồng địa phương

1.4 Các bên tham gia và phương pháp phân tích

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp Phân tích mạng lưới xã hội và thể chế 11 nhằm xem xét quan hệ tương tác và sự kết nối giữa các bên tham gia khác nhau trong nghiên cứu, đào tạo và phổ cập lâm nghiệp (xem Hình 1 và Phần 3) Hình 1 cho thấy, bên cạnh các cơ quan chính hoạt động trong nghiên cứu, đào tạo và khuyến lâm (được kê trong Phụ lục 1) có một loạt các bên liên quan khác tham gia vào các hoạt động này Các bên liên quan có thể được phân loại

tổng thể thành 2 nhóm Nhóm thứ nhất là các nhà cung cấp dịch vụ (ví dụ các cơ quan

11 Davies, Rick 2003 Triển vọng của mạng lưới trong Đánh giá các can thiệp phát triển Báo cáo dùng cho

Hội nghị về các định hướng mới trong Đánh giá tác động cho Phát triển, EDAIS, 11/2003

Trang 14

nghiên cứu, đào tạo và phổ cập lâm nghiệp) và nhóm còn lại là các nhóm khách hàng của

nghiên cứu, đào tạo và khuyến lâm (bao gồm các cơ quan hành chính địa phương, các cơ sở sản xuất lâm nghiệp, các lâm trường quốc doanh, cán bộ khuyến nông lâm cơ sở, công nghiệp rừng và doanh nghiệp lâm nghiệp, các trang trại lâm nghiệp và các hộ nông dân làm nghề rừng v.v)

Việc phân loại này không phải là cứng nhắc vì một số bên liên quan (ví dụ như Trung tâm Khuyến Nông tỉnh và các Trạm Khuyến Nông huyện) vừa là bên “cung cấp dịch vụ” vừa là

‘khách hàng” của hệ thống nghiên cứu, đào tạo và phổ cập Tương tự, các dự án phát triển do các tổ chức quốc tế và phi chính phủ tài trợ vừa phải cần các dịch vụ của các tổ chức nghiên cứu và đào tạo lại vừa hỗ trợ chuyển giao các dịch vụ này tới cơ sở Tuy nhiên, khung phân

loại này giúp chúng tôi phân tích các điểm mạnh và điểm yếu của các mối liên kết ngang giữa các nhà cung cấp dịch vụ nghiên cứu, đào tạo và phổ cập với nhau và các mối liên kết

dọc giữa các nhà cung cấp dịch vụ với các nhóm khách hàng nhận dịch vụ nghiên cứu, đào

tạo và phổ cập

1.5 Nội dung báo cáo

Sau phần giới thiệu, báo cáo được chia làm 3 phần chính Phân tích hiện trạng và Đánh giá

nhu cầu bắt đầu Phần 2 bằng việc làm rõ các khuynh hướng phát triển chính trong ngành lâm

nghiệp và những thử thách đối với Chiến lược Lâm nghiệp Quốc gia mới (2006-2020) Phần này cũng đánh giá tác động của các thách thức này đối với hệ thống nghiên cứu, đào tạo và phổ cập trong lâm nghiệp Thực chất đây không phải là phân tích toàn diện về ngành lâm nghiệp mà mục tiêu chỉ nhằm xác định các vấn đề trực tiếp liên quan tới phát triển nguồn nhân lực, chú ý đến kiến thức và kỹ năng chuyên môn mà các nhà lập kế hoạch, quản lý, cán

bộ kỹ thuật, cán bộ nghiên cứu, đào tạo lâm nghiệp và các nhà sản xuất rừng cần phải có

trong thời gian tới Các ưu tiên phát triển nguồn nhân lực được phân tích cụ thể trong Phần 3

Phần 4 phân tích các điểm mạnh và điểm yếu của các mối liên kết hiện tại (cả dọc và ngang)

giữa các nhà cung cấp dịch vụ và các nhóm khách hàng nhận dịch vụ nghiên cứu, đào tạo và phổ cập lâm nghiệp Phần phân tích này xem xét cả khía cạnh thể chế (chính thức) và không chính thức của các mối liên kết trong hệ thống như đánh giá các yếu tố của “cầu” và “cung” của việc cung cấp các dịch vụ này Trên cơ sở này Phần 3 cũng đánh giá khung điều hành trong Chiến lược Lâm nghiệp Quốc gia hiện tại (2002-2010), và xác định một số rào cản về mặt thể chế có ảnh hưởng tới mức độ phối kết hợp một cách hiệu quả của các cơ quan nghiên cứu, đào tạo và phổ cập Đặc biệt, đã xác định được một số cản trở về đầu tư và tài chính và

đề xuất giải pháp cho các khó khăn

Cuối cùng, Phần 5 đưa ra các đề xuất về tầm nhìn tương lai và các định hướng chiến lược

chính cho hệ thống nghiên cứu, đào tạo và phổ cập trong Chiến lược Lâm nghiệp Quốc gia mới và một số khuyến nghị cụ thể nhằm cải thiện mối liên kết, lồng ghép và bổ sung về tổ chức giữa các mảng trong lâm nghiệp Những đề xuất này đưa ra nhằm xây dựng một chương trình phối kết hợp các hoạt động có thể được FSSP và/hoặc các dự án lâm nghiệp chấp nhận

và hỗ trợ tài chính để thực hiện

Trang 15

Hình 1 Biểu đồ tổng quan về “Các nhà cung cấp dịch vụ” và “Các nhóm khách hàng” trong nghiên cứu, đào tạo và phổ cập

Lâm trường quốc doanh

và các BQL rừng

Cán bộ khuyến nông lâm

cơ sở

Công ty, công nghiệp rừng

Nông hộ/

doanh nghiệp nhỏ

Nhà sản xuất lâm nghiệp

Các cộng đồng sống phụ thuộc vào rừng CÁC NHÓM KHÁCH HÀNG Nghiên cứu, đào tạo và phổ cập

• Trung tâm khuyến

nông quốc gia

• Các cục khác của

Bộ NN&PTNT

Giáo dục và đào tạo

• Trường cán bộ quản lý (2)

• Đại học lâm nghiệp (1)

• Các trường ĐH Thái nguyên, Huế, Tây nguyên, Thủ Đức

• Trường trung học lâm nghiệp (3)

Khác

• Các tổ chức quốc

tế (ví dụ: ICRAF, RECOFTC)

Các nhà tài trợ và các tổ chức phí chính phủ

• Các trung tâm nghiên

cứu của tỉnh

• Các trường cao đẳng nông lâm

thuộc Bộ NN&PTNT (4)

• Các trường nông lâm tỉnh và

các cơ quan đào tạo khác

• Trung tâm khuyến nông tỉnh

• Trạm khuyến nông huyện

Các cơ quan làm khuyến nông khác

• Uỷ ban Nhân dân

Trang 16

2 Phân tích hiện trạng: Các khuynh hướng phát triển

ngành và thách thức đối với nghiên cứu, đào tạo và phổ cập

2.1 Mục tiêu chiến lược của ngành

Ngành lâm nghiệp Việt Nam có 3 mục tiêu chiến lược chung:

• Mục tiêu phát triển kinh tế, tập trung vào thúc đẩy phát triển rừng kinh tế như trang trại

rừng, trồng rừng công nghiệp, phát triển các hệ thống canh tác nông lâm kết hợp, phát triển các doanh nghiệp chế biến gỗ và lâm sản khác một cách có hiệu quả

• Mục tiêu bảo vệ môi trường, tập trung vào các biện pháp, cách thức bảo vệ các khu vực

có rừng tự nhiên để tăng độ che phủ của rừng ở những khu vực này thông qua tái sinh

tự nhiên và phủ xanh đất trống đồi trọcvà gia tăng các dịch vụ môi trường thông qua bảo tồn nguồn đa dạng sinh học, phòng hộ đầu nguồn, ven biển và các vùng đô thị, thị trường khí thải CO2, du lịch sinh thái vv;

• Mục tiêu phát triển xã hội, tập trung vào đáp ứng các nhu cầu cơ bản của nông hộ góp

phần giảm nghèo thông qua giao đất giao rừng cho hộ và cộng đồng, lâm nghiệp cộng đồng, cung cấp dịch vụ khuyến lâm, tạo công ăn việc làm từ trồng rừng công nghiệp, quản lý bảo vệ rừng tự nhiên và nông lâm kết hợp vv;

Trong giai đoạn phát triển kinh tế xã hội hiện nay ở Việt Nam, có thể nói rằng ngành lâm nghiệp phải đối mặt với nhiều thử thách để xây dựng hệ thống hành chính lâm nghiệp và các dịch vụ hỗ trợ kỹ thuật hiện đại, năng động và hiệu quả, có thể kết hợp được cả mục tiêu môi trường, kinh tế và xã hội trong vài thập kỷ tới

Không phải chỉ có Việt Nam mới ở trong tình thế này – vì ngành lâm nghiệp ở nhiều nước khác trên thế giới cũng gặp các thách thức tương tự khi hội nhập vào thế giới hiện đại Đây là các thách thức của hội nhập toàn cầu và những thay đổi trong môi trường thương mại quốc tế,

sự chú ý ngày càng tăng của các chính phủ và các nhà tài trợ tới bảo tồn đa dạng sinh học, nhu cầu áp dụng những phương thức quản lý rừng mới có thể kết hợp được các mục tiêu phát triển lớn hơn của ngành và các thay đổi trong diện mạo của các cơ quan của ngành lâm nghiệp

2.2 Hội nhập toàn cầu và các ưu tiên quốc gia

Hội nhập toàn cầu đồng nghĩa với các cơ hội kinh tế và rủi ro mới cho các nhà sản xuất, chế biến, xuất khẩu lâm sản Có một nhu cầu cấp thiết đối với ngành là phải xây dựng năng lực để

hỗ trợ tiến trình này một cách hiệu quả Chính phủ nhận thấy rằng cần nâng cao phần đóng góp kinh tế và tính hiệu quả của ngành vì hiện nay đóng góp này bị coi là thấp Việc này có thể làm thông qua phát triển công nghệ, đầu tư cho công nghiệp sản xuất và chế biến lâm sản

để tăng sức cạnh tranh của các ngành này

Đồng thời, tầm quan trọng của tài nguyên rừng Việt Nam đối với bảo tồn đa dạng sinh học đang được quốc tế nhìn nhận ngày càng tăng Có thể lấy tạm hai ví dụ – Việt Nam có 5 trong

số 25 loài linh trưởng bị đe doạ tuyệt chủng nhất, Việt nam gần đây được đăng ký là điểm nóng thứ 10 trên toàn thế giới về các loài cây lá kim (trong đó có 3 loài phát hiện trong 5 năm

Trang 17

trở lại đây)12 Vị trí địa lý của Việt nam trải dài từ miền cận nhiệt đới tới nhiệt đới, nằm lọt trong điểm nóng Inđô-Miến điện về đa dạng sinh học, điều này có nghĩa là đa dạng sinh học

ở Việt Nam là rất cao Tuy nhiên, tính đa dạng này đang bị đe doạ Bảo tồn nguồn tài nguyên thông qua quản lý tốt hơn nữa các khu bảo tồn thiên nhiên và phát triển các phương thức đồng quản lý rừng với người dân địa phương là đặc biệt quan trọng đối với quốc gia và quốc

tế

Đối với giai đoạn phát triển đô thị và công nghiệp nhanh chóng ở Việt Nam, các vấn đề về chất lượng môi trường và sự phá huỷ môi trường đang trở nên nóng bỏng Vai trò quan trọng ngày càng tăng của ngành lâm nghiệp trong việc cung cấp “dịch vụ’ bảo vệ và cải thiện môi trường đã vượt qua phương thức quản lý rừng truyền thống về phòng hộ đầu nguồn (ví dụ, thông qua các ngành học mới, lâm nghiệp đô thị, ổn định môi trường quanh các khu vực công nghiệp, và giảm thiên tai vùng duyên hải)

Một khía cạnh quan trọng của hội nhập toàn cầu là yêu cầu kết nối các công cụ chính sách

khu vực và quốc tế với chính sách và chiến lược của ngành, áp dụng có hiệu quả các chính

sách này thông qua các phương thức quản lý rừng ưu việt hơn Ở đây có thể nói tới các thỏa thuận và hiệp ước về thương mại và đa dạng sinh học đã được chính phủ ký kết Ví dụ, Việt Nam đã ký hai thoả thuận quốc tế về quản lý đa dạng sinh học: thoả thuận thứ nhất là Công ước về Đa dạng Sinh học (1994) và thoả thuận thứ hai là Công ước về Buôn bán các loài động vật hoang dã quí hiếm (1995) vv Các thảo luận quốc tế xung quanh những công ước này đề cập tới rất nhiều cách tiếp cận mới trong luật thương mại và công ước bảo tồn đa dạng sinh học, kể cả cách thức lôi cuốn các cộng đồng địa phương tham gia quản lý bền vững các khu bảo tồn thiên nhiên và thoả thuận xuyên biên giới về quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên

Tương tự, hiện đang có nhiều tranh luận quốc tế về buôn bán lâm sản ví dụ của Tổ chức buôn bán gỗ quốc tế ( ITTO), Khu vực Mậu dịch Tự do châu Á (AFTA), WTO về các vấn

đề gỗ và chứng chỉ rừng, các tiêu chuẩn quản lý rừng và sản xuất bền vững Tuy nhiên, sự hiểu biết về nội dung và tác động của các công cụ chính sách quốc tế về thương mại và đa dạng sinh học vẫn còn hạn chế đối với nhiều cán bộ nghiên cứu và giảng dạy lâm nghiệp cũng như đối với các nhà lập kế hoạch, quản lý rừng ở cấp trung ương và tỉnh Một trong số những cản trở chính vẫn tồn tại là kỹ năng sử dụng tiếng Anh của các cán bộ lâm nghiệp yếu dẫn tới việc hạn chế tiếp cận trực tiếp với các nguồn thông tin bên ngoài, hạn chế giao tiếp

và đàm phán với các đối tác nước ngoài ở các khu vực khác nhau trên thế giới

12 Nguyễn Tiến Hiệp, Phan Kế Lộc, Nguyễn Đức Tố Lưu, P.I Thomas A Farjon, L Averyanov & J Regalado

2004 Cây có quả hình nón ở Việt nam: Tổng kết tình hình bảo tồn 2004 Fauna & Flora International, Chương

trình Việt Nam, Hà Nội

Trang 18

nhập và và việc làm không thường xuyên từ việc thu hái, vận chuyển, chế biến và/hoặc buôn bán lâm sản cho thị trường địa phương hoặc cho các doanh nghiệp Đây là phần “kinh tế tiềm ẩn” quan trọng vẫn chưa được lượng hoá và nhận rõ đầy đủ trong các số liệu thống kê chính thức về đầu ra của ngành lâm nghiệp

Mô hình tăng trưởng của kinh tế lâm nghiệp trong những năm gần đây thể hiện rõ nét một bức tranh đối lập Một mặt, lĩnh vực chế biễn gỗ có những bước phát triển nhanh chóng ở cả hai cấp: doanh nghiệp vừa và nhỏ, và các doanh nghiệp công nghiệp Mặt khác, chuyên ngành sản xuất (rừng trồng kinh tế) lại trì trệ, tăng trưởng thấp trong nhiều năm Ngành lâm nghiệp không thể đáp ứng yêu cầu ngày càng tăng về gỗ và các lâm sản khác cho tiêu dùng nội địa và xuất khẩu Ví dụ, từ 80 đến 90% gỗ dùng cho xuất khẩu hiện nay là phải nhập khẩu, khiến ngành này nằm trong tình trạng bị động, khó khăn Đáp ứng nhu cầu gỗ cho xuất khẩu và tiêu dùng trong nước là một nhiệm vụ đầy thách thức của ngành, có tác động to lớn tới công tác nghiên cứu, đào tạo và khuyến lâm trong tương lai

2.3.1 Tăng trưởng nhanh trong ngành chế biến gỗ

Có được mức tăng trưởng nhanh như vậy là do nhu cầu của cả thị trường trong nước và xuất khẩu Uớc tính kim ngạch xuất khẩu của ngành chế biến gố đạt 567 triệu đô la Mỹ năm 2003

và 1.12 tỷ đô la Mỹ trong năm 2004 Những bước phát triển này đã được xây dựng dựa vào các kỹ năng của lực lượng lao động Việt nam trong các ngành thủ công và chất lượng sản phẩm có thể cạnh tranh được trên thị trường quốc tế Sự phát triển này góp phần đáng kể tạo công ăn việc làm cho số lượng lớn công nhân lâm nghiệp đặc biệt ở các tỉnh phía Nam Nhu cầu thị trường về đào tạo nghề chế biến gỗ cho người lao động, các doanh nghiệp và cơ sở công nghiệp cũng rất cao

Đã có những chính sách thể chế hỗ trợ chuyên ngành chế biến gố tiếp tục tăng trưởng13 Chỉ thị số 19 đặt ra chỉ tiêu tăng trưởng của xuất khẩu sản phẩm gỗ tới năm 2010 đạt 2 tỷ đô la

Mỹ Chỉ thị này ưu tiên cao cho tăng cường số lượng và chất lượng đào tạo công nhân, cán bộ

kỹ thuật, kết hợp với mở rộng, nâng cấp năng lực và trang thiết bị của các Trường đào tạo lâm nghiệp có nhiệm vụ cung cấp các đào tạo này Cũng cần có nghiên cứu và phát triển nhằm tăng cường sản xuất và sử dụng các nguồn gỗ nội địa; mở rộng sử dụng các loại vật liệu khác (như ván ép và nhựa composit), cải thiện công nghệ chế biến để bảo đảm cân đối giữa phát triển công nghiệp và sản xuất bền vững

Chế biến gố phần nhiều phát triển ở khu vực ngoại ô của các đô thị ở phía Nam Ở khu vực nông thôn, việc hỗ trợ phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ và doanh nghiệp gia đình tham gia chế biến gỗ đặc biệt là các làng nghề , cũng có thể đóng vai trò quan trọng nhằm thúc đẩy tạo công văn việc làm và thu nhập trong tương lai – một khi vốn ban đầu, đào tạo kỹ năng, nguồn cung cấp vật liệu thô bền vững và thị trường tiêu thụ đã sẵn sàng Trong khi đó, các sản phẩm trồng tại địa phương (như mây, tre) là nguồn vật liệu thô quan trọng cho công nghiệp chế biến và là nguồn thu nhập có tiềm năng ngày càng tăng cho nông dân ở một số khu vực

Một cản trở lớn trong phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ và doanh nghiệp gia đình là không có các cơ sở dịch vụ tại chỗ có trách nhiệm hỗ trợ nông dân phân tích thị trường, quảng cáo sản phẩm, phát triển công nghệ và sản phẩm Dịch vụ khuyến nông lâm đã coi hỗ trợ phát triển thị trường là một mục tiêu của họ – nhưng phần lớn cán bộ khuyến nông lâm lại

13 Chỉ thị số 19/2004/CT-TTg (ngày 1/6/2004) của Thủ tướng Chính phủ về một số giải pháp phát triển công nghiệp chế biến và xuất khẩu gỗ

Trang 19

có rất ít kiến thức và kỹ năng về mặt này Đây là mảng rất quan trọng, cần phối hợp với các ban ngành cấp tỉnh như Sở Thương mại, Sở Công nghiệp, Sở Giáo dục và Đào tạo để xây dựng năng lực thực hiện các dịch vụ khuyến nông lâm trong tương lai Gần đây, luật pháp đã

có khung chính sách tốt hơn để cung cấp dịch vụ đào tạo và tư vấn cho các cơ sở công nghiệp nông thôn14 cũng như một chương trình mới về đào tạo nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ15 Nghị định 56 ngày 26/4/2005 của Chính phủ về khuyến nông , khuyến ngư tạo điều kiện thuận lợi cho công tác khuyến nông lâm trong tương lai về các mặt mục tiêu, nguyên tắc, tổ chức và nội dung hoạt động Khuyến nông lâm xuất phát từ nhu cầu và liên kết gữa 4 nhà là các nguyên tắc chủ đạo cho các hoạt động này Nghị định mới 56 về Khuyến nông cũng nhấn mạnh hơn tới việc cung cấp dịch vụ hỗ trợ kỹ thuật, tư vấn cho các doanh nghiệp nông thôn vừa và nhỏ xây dựng các dự án đầu tư để phát triển nông nghiệp, ngư nghiệp và nghề thủ công nông thôn16 Thách thức của vấn đề này là nâng cao năng lực chuyên môn, kỹ năng kỹ thuật và kinh tế của các tổ chức và cán bộ khuyến nông địa phương

để họ có thể phục vụ tốt các nhà sản xuất cũng như kết nối các nhà sản xuất với thị trường mang lại các sản phẩm phù hợp cho người tiêu dùng và lợi nhuận cho người sản xuất17

2.3.2 Định hướng tương lai cho trồng rừng kinh tế

Thực tế có sự không tương xứng giữa ngành sản xuất và ngành chế biến Nhu cầu gỗ cao hơn rất nhiều so với nguồn cung trong nước – với 80 tới 90% gỗ cần cho công nghiệp chế biến xuất khẩu hiện đang phải nhập khẩu Việc phụ thuộc vào gỗ nhập nội một phần là do cấm khai thác gỗ từ rừng tự nhiên Nhưng cũng do chất lượng và năng suât thấp của cả rừng tự nhiên và rừng trồng, trong đó nhiều diện tích trực thuộc các lâm trường quốc doanh Diện tích rừng trồng tăng lên trong những năm gần đây, nhưng phần lớn lại trồng các loài cây ít giá trị với mục đích chính là chỉ để che phủ đất trống đồi trọc

Với sự quan tâm liên tục của Chính phủ và Bộ NN&PTNT trong đổi mới và phát triển Lâm trường quốc doanh, cần có sự hỗ trợ kỹ thuật lớn hơn cho các Lâm trường quốc doanh để phát triển các hệ thống sản xuất lâm nghiệp có hiệu quả kinh tế.Tuy nhiên, như được đề cập

trong phần dưới đây (phần 3.2.5), các mối liên kết giữa các cơ quan nghiên cứu, đào tạo, phổ

cập với các lâm trường quốc doanh hiện đang là một trong các mối liên kết yếu nhất của hệ

thống nghiên cứu, đào tạo và phổ cập Tuy nhiên cũng cần phải nói là các lâm trường quốc

doanh hiện tại còn thiếu cả năng lực và động lực để tiếp nhận công nghệ mới cũng như các tiến bộ kỹ thuật mới

Trước đây, đầu tư nước ngoài trực tiếp (FDI) và đầu tư của khu vực tư nhân trong trồng rừng còn hạn chế, mặc dù có một vài tín hiệu cho thấy tình hình đang thay đổi cùng với nhu cầu gia tăng của công nghiệp chế biến Luật Bảo vệ và Phát triển rừng mới cung cấp cơ sở thuận lợi hơn cho hướng đầu tư này với những điều khoản mạnh hơn về cho nông dân làm nghề rừng, các tổ chức kinh tế trong nước, người Việt Nam ở nước ngoài và các tổ chức kinh tế nước ngoài18 thuê rừng sản xuất Tuy nhiên, tiềm năng tương lai để phát triển rừng trồng vẫn chưa chắc chắn vì một số lý do

Trang 20

Ở một số vùng của Việt Nam có cơ hội để đầu tư vào rừng trồng công nghiệp, có thể kể tới các ‘chương trình hợp đồng trồng rừng’ với nông hộ Tuy nhiên, các cơ hội này còn tuỳ thuộc mỗi vùng và thường gắn với những khu vực có cơ sở hạ tầng tốt kể cả việc tiếp cận được với trang thiết bị chế biến Những cản trở chính là ở những khu vực dễ tiếp cận lại thiếu đất, và thu nhập từ rừng trồng (với giống và công nghệ hiện tại) hầu như không thể so sánh với các cây trồng nông nghiệp và các ngành công nghiệp nông thôn khác Với sức ép về tài nguyên đất, Việt Nam khó có thể cạnh tranh với các nước khác về sản xuất nguyên liệu thô ở quy mô lớn Giải pháp tốt hơn có thể là tập trung vào sản xuất các loài có giá trị kinh tế cao

Đặc biệt ở vùng cao, có tiềm năng để đầu tư vào sản xuất những loài cây gỗ có giá trị cao - kể

cả nhiều loài cây bản địa - có khả năng mang lại thu nhập và lợi ích lâu dài cho doanh nghiệp

và nông dân địa phương Tuy nhiên, thực tế đang tồn tại mâu thuẫn giữa việc trồng rừng cây bản địa có giá trị kinh tế cao nhưng cần chu kỳ dài, trong khi phần đông những người thực hiện là người nghèo cần thu nhập ngay Ngoài ra, việc phát triển rừng trồng từ nhiều năm nay phải đương đầu với tình trạng thiếu vốn đầu tư, thiếu chính sách khuyến khích tài chính để sản xuất giống và phát triển kỹ thuật lâm sinh phù hợp cho các loài cây bản địa có giá trị cao

Để giải quyết các vấn đề này, trong những năm sắp tới cần tập trung nỗ lực trong nghiên cứu

và phát triển để đưa ra các hệ thống quản lý và sản xuất lâm nghiệp có hiệu quả kinh tế Trước hết nên tập trung vào các rừng trồng có chất lượng cao và cải thiện năng suất của rừng

tự nhiên để lấy gỗ và lâm sản ngoài gỗ Lựa chọn và phát triển các loài cây tùy thuộc vào nhu cầu thị trường trung hạn và dài hạn là cần thiết và được hỗ trợ bằng cách phát triển và cấp chứng chỉ về sản xuất giống và nhân giống cũng như cấp chứng chỉ rừng

2.3.3 Các làng nghề sản xuất và chế biến lâm sản

Trong nhiều thế kỷ qua, các làng nghề thủ công và sản xuất truyền thống (cây trồng, nguyên liệu hoặc sản phẩm chế biến) là một bộ phận quan trọng trong kinh tế nông thôn Việt Nam Những làng nghề thủ công thường gắn với những nguồn tài nguyên thiên nhiên, sự phát triển

kỹ năng và kinh tế nhất định trong vùng Theo truyền thống, các nhà sản xuất và cung cấp nông thôn thường liên kết chặt chẽ với các phường hội chế biến và bán lẻ thành thị Khái niệm làng nghề hiện vẫn đang được sử dụng rộng rãi Điều này tương tự với tình hình ở một

số vùng của Trung Quốc nơi sự phát triển nhành của ngành nghề nông thôn đóng vai trò lớn trong tăng trưởng kinh tế nông thôn những năm gần đây

Bằng chứng cho thấy trong khi một số lâm sản liên quan đến ngành nghề nông thôn và làng nghề không có thị trường (ví dụ các vật liệu xây dựng truyền thống như lá cọ hầu như đã bị thay thế bằng các vật liệu xây dựng hiện đại được ưa chuộng hơn) thì các làng sản xuất khác đang tích cực tìm cơ hội thị trường mới cả trong nước lẫn xuất khẩu Phụ lục 4 đưa ra hai ví

dụ đối lập về sự xuống dốc và sự thích nghi tốt ngành nghề nông thôn Ví dụ này cũng cho thấy giá trị văn hoá cao trong kiến thức của cộng đồng và sự phát triển kinh tế của những làng nghề Có kiến nghị cho rằng cần thực hiện một chương trình nghiên cứu chuyên sâu để tìm hiểu thêm về hiện trạng và các cơ hội tương lại của những ngành nghề thủ công có liên quan tới lâm sản này

2.4 Bảo vệ rừng, đồng quản lý và chia sẻ lợi ích

Với bản chất và sự phân bố tài nguyên rừng ở Việt Nam, sẽ luôn luôn có những diện tích lớn rừng phòng hộ ở vùng cao và các khu rừng đặc dụng có giá trị cao cần được quản lý như “tài sản công” bằng quan hệ đối tác và các thoả thuận đồng quản lý với các cộng đồng địa phương sống phụ thuộc vào nguồn tài nguyên rừng này (Hộp 1) Một thách thức quan trọng khác nữa

Trang 21

đối với Chiến lược Lâm nghiệp Quốc gia, công tác nghiên cứu, đào tạo và khuyến lâm là làm thế nào để quản lý những khu vực này một cách bền vững trong tương lai Đây là cách duy trì chức năng phòng hộ của những khu vực rừng này và tối đa hoá lợi ích của người dân và kinh

tế địa phương

2.4.1 Hệ thống quản lý rừng đa tác dụng đối với khu vực rừng phòng hộ

Trong thập kỷ trước, các chương trình trồng rừng của chính phủ (chương trình 327 và 661) đã thành công trong việc tái thiết lập và mở rộng diện tích che phủ của rừng phòng hộ ở nhiều vùng trên toàn quốc Tuy nhiên, để tiếp tục thành quả này trong tương lai, cần quản lý nguồn tài nguyên rừng năng động hơn nữa Những phương thức quản lý rừng trước đây dựa vào nguyên tắc bảo vệ rừng đơn giản – như đóng cửa rừng tự nhiên nhằm tăng diện tích che phủ rừng, kèm theo đó là hệ thống bao cấp tài chính cho người dân địa phương để phục hồi và bảo vệ những khu vực này với rất ít quyền sử dụng sản phẩm Lý do để chuyển từ ‘bảo vệ rừng cơ bản’ sang ‘hệ thống quản lý rừng đa tác dụng’ được trình bày dưới đây:

• Thứ nhất, đối với khía cạnh phòng hộ – cần quản lý năng động hơn để tăng cường và duy

trì chức năng phòng hộ lâu dài của những khu vực này Có một khái niệm sai tương đối phổ biến là không và không nên quản lý rừng phòng hộ một cách năng động Quản lý năng động cần được đưa vào để duy trì sự tái sinh và lợi ích môi trường của rừng phòng hộ19

19 Có một ví dụ hay ở khu vực phòng hộ đầu nguồn do lâm trường quản lý thuộc tỉnh Yên Bái Khu vực rừng phòng hộ này có khoảng 30,000 ha rừng thông trồng , phần lớn đã tới kỳ thu hoạch Cần tích cực quản lý khu vực này để tiến hành tỉa thưa nhằm hạn chế cháy rừng và xúc tiến tái sinh hỗn hợp các loài phù hợp tiếp tục che phủ rừng và mang lại lợi ích cho lâm trường và người dân địa phương

Hộp 1 Các cộng đồng “sống phụ thuộc vào rừng” ở vùng cao

Các cộng đồng sống phụ thuộc vào rừng ở vùng cao bao gồm:

• Các xã và thôn bản nghèo ở vùng sâu, vùng cao, khu vực biên giới không có cơ hội phát triển công nghiệp thương mại lại có nhiều diện tích đất được chính thức xếp vào khu vực rừng phòng hộ và rừng đặc dụng

• Những diện tích rừng sản xuất do các Lâm trường quốc doanh là chủ sở hữu nhưng

sử dụng không có hiệu quả nên giao cho các cộng đồng bản địa hoặc các thành

phần kinh tế khác có năng lực theo hình thức đồng quản lý hoặc liên doanh liên

kết

• Xã và thôn bản nằm ở ranh giới hoặc trong khu vực rừng đặc dụng, vườn quốc gia

và khu bảo tồn thiên nhiên có giá trị đa dạng sinh học cao, không được giao đất

giao rừng và bị cấm hoặc hạn chế trong sử dụng các sản phẩm rừng

Điểm nổi bật của những khu vực dân sống phụ thuộc rừng vùng cao là nằm trong những địa bàn nghèo nhất của đất nước tính về mức độ nghèo đói, và có nhiều nhóm dân tộc ít người Ví dụ 2,362 xã được đưa vào Chương trình 135 chiếm 23% tổng số 10,500 xã trên toàn quốc nhưng chiếm tới 50% tổng diện tích đất của cả nước, trong đó xấp xỉ 66% được xếp chính thức là đất lâm nghiệp Rất nhiều trong số các xã nghèo vùng cao này, có

tỉ trọng đất lâm nghiệp chiếm tới trên 70% và được coi là rừng phòng hộ Tình trạng

tương tự cũng xảy ra ở các xã vùng duyên hải có nhiều diện tích rừng ven biển hoặc rừng ngập mặn

Trang 22

• Thứ hai, đối với khía cạnh sản xuất – tăng cường đưa lợi ích vật chất và kinh tế tới người

dân địa phương sẽ khích lệ họ bảo vệ rừng tích cực hơn Nếu như lợi ích chỉ dành cho người ngoài (Lâm trường quốc doanh, công ty tư nhân, các cơ quan nhà nước v.v) trong khi họ bị hạn chế sử dụng các sản phẩm rừng cho đời sống của họ sẽ khiến công tác bảo vệ rừng không

có hiệu quả

Luật Bảo vệ và Phát triển rừng mới cung cấp cơ sở thuận lợi để đưa các hình thức “đồng quản lý” những khu vực này giữa các cộng đồng sống phụ thuộc rừng và chính quyền địa phương

Có thể thấy điều này trong các điều khoản liên quan tới việc giao rừng cho các cộng đồng dân

cư 20 và quyền sử dụng trong rừng phòng hộ21 kết hợp với các thoả thuận hưởng lợi22 Đã có nhiều kinh nghiệm quý báu từ các dự án thử nghiệm về Lâm nghiệp Cộng đồng (chẳng hạn từ công việc của Tổ Công tác Lâm nghiệp cộng đồng quốc gia của Bộ NN&PTNT) và các phương pháp phù hợp về quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp và giao đất giao rừng23, và rõ ràng có các điều kiện để áp dụng các cách tiếp cận mới này rộng hơn trong tương lai

Tuy nhiên điều này đòi hỏi nỗ lực lớn để điều phối công tác nghiên cứu, đào tạo và phổ cập

để hỗ trợ cải thiện chất lượng, năng suất của các nguồn tài nguyên rừng và phát triển các hệ thống quản lý có hiệu quả Cần xây dựng trên cơ sở lợi thế của các diện tích rừng vùng cao, đặc biệt đối với: (i) bảo tồn và sản xuất các loài cây có giá trị mà không thể trồng ở các địa phương khác; (ii) phát triển, sản xuất, chế biến và tiêu thụ lâm sản ngoài gỗ; và (iii) các hệ thống sự dụng đất tổng hợp kết hợp cả nông, lâm nghiệp và chăn nuôi ở những nơi có môi trường và kinh tế phù hợp Cần đảm bảo đầu tư thích đáng vào nghiên cứu và khuyến lâm cho những chủ đề này cũng như nâng cao số lượng và năng lực của cán bộ khuyến lâm ở những khu vực này

2.4.2 Sự tham gia của địa phương vào bảo tồn đa dạng sinh học

Cả ở trong nước lẫn ngoài nước mọi người đang ngày càng hiểu là cần phát triển các cách tiếp cận bền vững hơn trong bảo tồn đa dạng sinh học và quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên với sự tham gia của các cộng đồng dân cư sống quanh khu vực đó Về lâu dài, sự tham gia của các cộng đồng địa phương có thể là biện pháp ít tốn kém mà lại hiệu quả nhất để bảo vệ

đa dạng sinh học và tài nguyên rừng Đó cũng là một cách để người dân địa phương đa dạng hoá các cơ hội sinh kế do đó mang lại động lực kinh tế cho bảo tồn đa dạng sinh học

Đặc biệt đối với rừng đặc dụng ở Việt Nam, một số dự án và tỉnh bắt đầu phát triển cách thức khuyến khích sự tham gia của địa phương, tạo công ăn việc làm tại chỗ gắn với việc thiết lập

và quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên nhằm bảo tồn đa dạng sinh học24 Điều này có thể làm thông qua các hoạt động trực tiếp liên quan tới bảo tồn (chẳng hạn Các nhóm giám sát đa dạng sinh học từ cộng đồng) hoặc các hoạt động liên quan tới vườn quốc gia (như các dịch vụ

du lịch) Một lần nữa, đây là lĩnh vực mà nghiên cứu bảo tồn đa dạng sinh học và quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên cần kết nối chặt chẽ hơn nữa với khuyến nông lâm và đào tạo

20 Chương II / Phần 3 / Điều 29 & 30 của Luận Bảo vệ và Phát triển rừng

21 Chương IV / Phần 1 / Điều 47

22

Quyết định 178/2001/QĐ-TTg ngày 12/11/2001 do Thủ tướng ban hành về Quyền lợi và nghĩa vụ của hộ và

cá nhân được giao, khoán rừng và đất lâm nghiệp

23 Sở NN&PTNT, Dak Lak (2003) Kết quả giao đất lâm nghiệp tại Đắc Lắc Dự án nghiên cứu về đánh giá

Phương pháp Giao đất lâm nghiệp, Sở NN&PTNT

24 FFI (2004) Phát triển cộng đồng trong bảo tồn đa dạng sinh học: các vấn đề và ưu tiên chính , Báo cáo của

Tổ chức Động Thực vật Quốc tế Trong: Kỷ yếu Hội nghị quốc gia về Phát triển kinh tế xã hội cho các xã nghèo; Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Chương trình đối tác Hỗ trợ các xã nghèo (PAC), Hà Nội, tháng 11/2004

Trang 23

Trên thế giới, ngày càng có nhiều sự quan tâm tới việc xem xét ‘phí tổn’ và ‘chi trả’ để duy trì các dịch vụ môi trường này Điều này đã được ngầm công nhận trong việc chuyển giao ngân sách tài chính từ ngân sách nhà nước sang Chương trình 661, Chương trình 135 để phát triển kinh tế xã hội cho các xã nghèo Tuy nhiên, trừ các hợp đồng khoán bảo vệ rừng với các

hộ, hiện chưa thiết lập được một cơ chế để bù đắp đầy đủ hơn cho các cộng đồng sống phụ thuộc vào rừng ở vùng cao đối với những dịch vụ môi trường mà họ có thể cung cấp cho xã hội và kinh tế quốc gia Đây là một chủ đề quan trọng cho các nghiên cứu của ngành trong tương lai

Trang 24

3 Ưu tiên phát triển nguồn nhân lực

Các phần trên đây cho thấy một số thách thức chính mà ngành lâm nghiệp phải đương đầu trong những năm tới để đạt được các mục tiêu kết hợp về môi trường, xã hội và phát triển kinh tế Phần này hướng vào hiện trạng nguồn nhân lực của ngành và xác định các vấn đề cơ bản liên quan tới tương lai phát triển của nguồn lực này

3.1 Hiện trạng và các thách thức chính trong phát triển nguồn nhân lực

Theo số liệu của Bộ NN&PTNT, cả nước có khoảng 330.000 cán bộ công nhân viên làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn25&26 Trong đó có 80.000 người làm trong lĩnh vực lâm nghiệp với khoảng 50% số này được đào tạo và có kỹ năng, bao gồm: (i) cán bộ hành chính nhà nước (ở các cấp quốc gia, tỉnh và huyện); (ii) cán bộ của Cục Kiểm lâm và các Chi cục ở các tỉnh (tới cấp xã cả nước có khoảng 8,000 nhân viên kiểm lâm); (iii) cán bộ công nhân viên của hơn 400 Lâm trường quốc doanh (có 29,000 người làm việc chính thức, ngoài ra còn có nông dân làm rừng, hợp động lao động và lao động theo thời vụ); (iv) nhân viên ở các cơ quan tổ chức khác (Trung tâm nghiên cứu, các tổ chức đào tạo, trường đại học, vườn quốc gia v.v) Theo số liệu do trường đại học Lâm nghiệp thu thập được, khoảng 20% sinh viên tốt nghiệp (cán bộ kỹ thuật) đang làm việc cho các cơ quan nhà nước, 56% làm trong các lâm trường, và 24% làm cho các tổ chức, cơ quan khác Bên cạnh

đó, có khoảng 700,000 lao động đang làm việc trong khoảng 1,200 cơ sở chế biến gỗ trên toàn quốc

Nguồn nhân lực này đã đóng góp tích cực và giữ vai trò quyết định trong sự phát triển của ngành lâm nghiệp từ nhiều năm qua Tuy nhiên, có thể nói rằng ở thời điểm này ngành lâm nghiệp đang có khó khăn về nguồn nhân lực Năm thách thức lớn đối với hệ thống phát triển nguồn nhân lực trong tương lai là:

• Trước hết, làm thế nào để duy trì đủ số lượng và chất lượng sinh viên thi vào ngành lâm nghiệp ở các cấp đào tạo khác nhau đặc biệt cho lĩnh vực sản xuất và bảo vệ rừng;

• Thứ hai,làm thế nào để nâng cấp kiến thức và kỹ năng cho một số lượng lớn cán bộ chuyên môn hiện tại ở các địa phương và trong các cơ quan ban ngành khác nhau đặc biệt là cán bộ của Cục kiểm lâm, lâm trường quốc doanh và các đơn vị hành chính địa phương

• Thứ ba, làm thế nào để đào tạo nghề có hiệu quả cho một số lượng lớn công nhân lâm nghiệp (chủ yếu là nông dân không qua đào tạo) để đạt được mục tiêu đặt ra của Nghị quyết của BCHTƯ Đảng cộng sản Việt nam là có 25% công nhân được đào tạo năm

2010 và tới năm 2020 là 50%;

• Thứ tư, làm thế nào để nâng cao số lượng và năng lực của cán bộ khuyến lâm cơ sở đặc biệt ở những khu vực vùng cao, vùng sâu vùng xa mà người dân sống phụ thuộc vào rừng ( huyện và xã );

25 Vụ Tổ chức Cán bộ (2004) Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong ngành lâm nghiệp 2006-2010 Báo

cáo trình bày tại Hội thảo về xây dựng kế hoạch phát triển lâm nghiệp và chương trình 5 triệu ha rừng giai đoạn

Trang 25

• Thứ năm, làm thế nào để nâng cấp trình độ chuyên môn, kỹ năng và năng lực cán bộ

nghiên cứu, đào tạo lâm nghiệp để họ có thể hỗ trợ thoả đáng cho các nỗ lực này và

nâng cao chất lượng đào tạo

Điều lo ngại đối với Bộ NN&PTNT là số lượng và chất lượng của cán bộ lâm nghiệp làm

việc ở cấp cơ sở rất hạn chế, không theo kịp sự phát triển mới trong ngành Ở cấp tỉnh, cán bộ

lâm nghiệp ít và phân bổ rải rác Đặc biệt cấp huyện thiếu cán bộ lâm nghiệp và cán bộ

khuyến lâm.Hầu hết các xã chưa có cán bộ lâm nghiêp và cán bộ khuyến lâm, đây là vấn đề

nóng bỏng cần giải quyết

3.2 Khuyến khích học sinh, sinh viên thi vào ngành lâm nghiệp

Số liệu tuyển sinh gần đây của hệ thống đào tạo lâm nghiệp các cấp và dự báo trong thời kỳ

tới được trình bày trong Bảng 1 và 2 dưới đây

Bảng 1 Thực hiện kế hoạch đào tạo của các trường, cơ sở đào tạo lâm nghiệp trực

thuộc Bộ NN&PTNT giai đoạn 2000 - 2004 (nguồn:Vụ TCCB, 2004)

2001 200 2003 2004

Số TT Cấp đào tạo

Tốt nghiệpTuyển mớiTốt nghiệpTuyển mớiTốt nghiệpTuyển mớiTốt nghiệpTuyển mới

Bảng 2 Kế hoạch tuyển sinh mới của các cơ sở đào tạo lâm nghiệp trực thuộc Bộ

NN&PTNT ; Giai đoạn 2005-2010 (nguồn:Vụ TCCB, 2004)

Trang 26

Khuynh hướng học tập và xin việc chịu ảnh hưởng từ quan niệm của người dân về tương lai nghề nghiệp và tiền đồ kinh tế Trong những thời kỳ trước, lâm nghiệp là một trong số những ngành phát triển ở Việt nam, được coi là một nghề ổn định, được coi trọng Tình hình này đã thay đổi trong những năm gần đây Các trường đại học, trung cấp và dạy nghề lâm nghiệp đều khó tuyển được những sinh viên giỏi Có hiện tượng này là vì các nghề khác nhìn chung hứa hẹn các cơ hội nghề nghiệp tốt hơn cho giới trẻ Với việc đô thị hoá và hiện đại hoá ngày càng tăng, ngày càng có ít sinh viên tốt nghiệp muốn sống và làm việc ở các vùng rừng sâu,

xa

Vụ TCCB của Bộ NN&PTNT nhận thấy rằng ít sinh viên giỏi muốn vào ngành là một điều đáng lo ngại Tuy nhiên, cũng cần thấy sự khác biệt giữa các chuyên ngành Chuyên ngành khó nhất có rất ít sinh viên quan tâm và đăng ký dự tuyển là sản xuất lâm nghiệp (lâm sinh và quản lý rừng) và các khoá khuyến nông lâm, Trong khi đó, nhu cầu đào tạo kế toán, lái xe và

ở mức độ nhất định là chế biến gỗ đang gia tăng

Phải nói rằng đào tạo lâm nghiệp tiếp tục tạo các cơ hội nghề nghiệp quan trọng cho sinh viên

là con em của các hộ nghèo khu vực nông thôn và miền núi cũng như sinh viên thuộc các dân tộc ít người Sinh viên từ các gia đình thuộc diện chính sách nghèo được bao cấp học phí Điều này được phản ánh trong số liệu tuyển sinh, và thực tế là nhiều sinh viên từ khu vực nông thôn phía Bắc sau khi được đào tạo trong hệ thống đào tạo lâm nghiệp đã tìm được việc trong các doanh nghiệp chế biến ở các vùng khác của đất nước Bộ NN&PTNT đã xác định nhu cầu cần tiến hành nghiên cứu về chính sách thích hợp để tăng cường đầu tư vào đào tạo lâm nghiệp và các các môn học có liên quan, phù hợp với nhu cầu đặc biệt của sinh viên khu vực nông thôn xa xôi

Sẽ không có giải pháp tức thì nào để giải quyết các khó khăn này đối với việc tuyển dụng sinh viên Tình hình này cũng phần nào phản ánh khuynh hướng quốc tế, vì ở rất nhiều nước, nhu cầu bằng cấp và chuyên môn về nông nghiệp và lâm nghiệp cũng giảm trong những năm gần đây27 Có một giải pháp là mở rộng phạm vi đào tạo chính quy - không chỉ đào tạo cán bộ chuyên về lâm nghiệp hoặc nông nghiệp mà trang bị cho sinh viên tốt nghiệp rộng hơn về quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, phát triển kinh tế xã hội và kỹ năng chuyên môn

3.3 Nâng cao kiến thức và kỹ năng cho các cán bộ đương nhiệm

Đây là thách thức lớn thứ hai trong phát triển nguồn nhân lực của ngành Như đã nêu trong các phần trước, có nhiều khía cạnh trong thực tế lâm nghiệp hiện đại trong đó cần phải đào tạo lại các cán bộ hiện đang công tác ở cấp cơ sở, bao gồm một số lượng lớn cán bộ công tác

ở các chi cục Kiểm lâm, các lâm trường quốc doanh và cán bộ ở các cấp cơ sở của hệ thống hành chính Họ có rât ít cơ hội để được đào tạo, nâng cấp kiến thức và kỹ năng chuyên môn cũng như kỹ năng quản lý Đây là nhiệm vụ to lớn cần được coi là thành phần trọng tâm cho phát triển nguồn nhân lực trong Chiến lược Lâm nghiệp Quốc gia mới giai đoạn 2006 - 2020

Trong những năm gần đây, Bộ NN&PTNT đã chú ý tăng cường mở các khoá đào tạo vừa học vừa làm ngắn hạn (tổ chức ở các trung tâm đào tạo hoặc ở các địa phương) do hai trường Cán

bộ Quản lý (số 1 và 2) chịu trách nhiệm, đã thành lập các nhóm nghiên cứu để phát triển các

mô đun đào tạo mới, phát triển các phân khoa để đào tạo ngắn hạn về khuyến nông lâm Đã

có các trung tâm đào tạo cho cán bộ kiểm lâm do trường Trung học Lâm nghiệp 2 (Đồng Nai)

và trường Cán bộ Quản lý số 1(Hà Nội) thành lập Các trường Trung cấp Lâm nghiệp và các

27 Ví dụ, ở Anh, gần đây số trường đại học đào tạo sinh viên và nghiên cứu sinh lâm nghiệp giảm từ 4 xuống còn

1, đồng thời số lượng các tổ chức có cung cấp đào tạo kỹ năng chuyên môn lâm nghiệp cũng giảm

Trang 27

trường Dạy nghề cũng đã tăng cường năng lực đào tạo để có thể mở các khoá đào tạo nghề ngắn hạn cho ngành chế biến và khuyến nông lâm

Hệ thống đào tạo ngắn hạn và đào tạo nghề theo mođun đang được công nhận là có hiệu quả hơn, cần được áp dụng rộng rãi hơn nữa để đáp ứng yêu cầu đào tạo vừa học vừa làm Tuy nhiên, năng lực đào tạo hiện tại không đủ đáp ứng nhu cầu, cần phát triển phương pháp đào tạo vừa học vừa làm toàn diện và có hệ thống hơn Để hỗ trợ việc này cần có một số đầu tư quan trọng và giải quyết các khó khăn tài chính (xem phần 3.3 dưới đây) Các khó khăn bao gồm các hạn chế về ngân sách do Vụ Tổ chức cán bộ phân bổ cho đào tạo ngắn hạn của các trường đào tạo, chi phí lớn cho xây dựng giáo trình đào tạo vừa học vừa làm /ngắn hạn có chất lượng cao, phù hợp với các yêu cầu đào tạo của các đối tượng học viên khác nhau

3.4 Đào tạo lao động lâm nghiệp

Trong lực lượng lao động nông thôn Việt Nam, khoảng 79.6% lao động nông thôn vẫn đang tiếp tục lao động trong ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp, 7.4% làm các ngành nghề nông thôn, 11.5% làm các dịch vụ khác nhau Tuy nhiên, có một sự chuyển đổi đáng kể trong định hướng lao động nông nghiệp trong những năm gần đây vì nhiều nông hộ đã chuyển từ sản xuất tự cung tự cấp sang hệ thống sản xuất thương mại, tương tác nhiều hơn với thị trường28 Ví dụ, kết quả điều tra mức sống hộ gia đình của Việt Nam cho thấy 70% sản phẩm nông nghiệp được thương mại hoá trong năm 2003 trong khi năm 1993 con số này chỉ là 48% (xem bảng 3)

Tuy nhiên, chất lượng lao động khu vực nông thôn vẫn thấp, ước tính trên 90% lực lượng lao động chưa được đào tạo Vì vậy yêu cầu cấp thiết là tăng cường đào tạo nghề để đảm bảo mức

độ kiến thức và kỹ năng chuyên môn cần thiết nhằm đạt mục tiêu quốc gia là tới năm 2010, 25% lao động được đào tạo và đạt 50% vào năm 2020 Bộ NN&PTNT nhận thấy rằng sự nghiệp hiện đại hoá và công nghiệp hoá nông thôn phụ thuộc nhiều vào nỗ lực đào tạo nghề và khuyến nông lâm nhằm đưa công nghệ sản xuất và chế biến tới người nông dân để họ có thể chủ động tự lựa chọn và ra quyết định về hướng phát triển kinh tế hộ

Bảng 3 Thương mại hoá trong nông nghiệp Việt Nam

Phần sản phẩm được bán Tất cả các sản phẩm nông nghiệp

Toàn quốc

Miền núi phía Bắc

Đồng bằng sông Cửu Long

Duyên hải phía Bắc

Duyên hải phía Nam

28 ADB (2005) Thúc đẩy thị trường cho các xã nghèo Tài liệu thảo luận, Chương trình nghiên cứu Thúc đẩy thị trường cho các xã nghèo, ADB, Hà Nội

Trang 28

Đây là thử thách to lớn đối với các trường đào tạo và hệ thống khuyến nông lâm – đặc biệt để người nghèo khu vực nông thôn và vùng sâu vùng xa có khả năng tiếp cận và chi trả cho đào tạo nghề và dịch vụ khuyến nông lâm

Nhiều nghiên cứu cho thấy nhu cầu đào tạo nghề và đào tạo kỹ năng của người dân ở những vùng này ngày càng cao Nhưng hiện họ vẫn chưa tiếp cận được với dịch vụ đào tạo và chất lượng đào tạo còn rất hạn chế Đối với vùng dân tộc ít người, ngôn ngữ là một rào cản lớn vì hầu hết các khóa đào tạo, tập huấn và tài liệu đều sử dụng tiếng phổ thông Phụ nữ đóng góp vào sản xuất nông nghiệp nhiều nhưng ở nhiều vùng họ lại ít được tham gia đào tạo Việc này

có thể có tác động bất lợi lên việc phổ biến, áp dụng và nhân rộng công nghệ Kết hợp với các yếu tố khác như khó khăn về ngân sách, hạn chế về số lượng và kỹ năng của cán bộ khuyến lâm/ nông cơ sở làm cho việc thiết kế và cung cấp các chương trình đào tạo và khuyến nông/ lâm có hiệu quả cho khu vực nông thôn và vùng sâu vùng xa, càng trở nên khó khăn hơn

Kế hoạch Hành động quốc gia Giáo dục cho mọi người29 được chính phủ phê duyệt năm

2003 cũng đưa ra khung cải thiện giáo dục phi chính quy kể cả xoá mù chữ và dạy nghề cho người lớn Gần đây, có sự phát triển mạnh mẽ trong việc cải thiện đào tạo nghề đặt biệt cho khu vực doanh nghiệp Tuy nhiên để có thể tiếp cận hệ thống đào tạo chính quy cần có bằng phổ thông cơ sở và biết tiếng phổ thông, vì vậy thực chất vẫn như vùng cấm đối với phần lớn người nghèo ở các vùng cao đặc biệt là các dân tộc ít người Các chương trình sắp tới cần xem xét đưa vào các đổi mới và các cách tiếp cận phù hợp cho đào tạo phi chính quy và đào tạo kỹ năng dựa vào cộng đồng, không yêu cầu bằng cấp và gắn với các cơ hội tạo thu nhập quy mô nhỏ cho người dân vùng cao

3.5 Nâng cao số lượng và năng lực cán bộ khuyến lâm cơ sở

Trong thập kỷ trước, hệ thống khuyến nông/lâm ở Việt Nam được phát triển rộng khắp từ cấp trung ương tới địa phương, năng lực cán bộ khuyến nông liên tục được củng cố, các phương pháp khuyến nông được tăng cường và cải tiến30 Sự phát triển của công tác khuyến nông cả

về nguồn nhân lực và tổ chức đã đóng góp vào tiến trình hiện đại hoá nông nghiệp Tuy nhiên, cũng có một số điểm yếu được thừa nhận tồn tại trong các cơ quan khuyến nông như: (i) hệ thống khuyến nông phát triển tự do ở cấp cơ sở, không có một hướng dẫn thống nhất nào; (ii) ở một số tỉnh, các trạm khuyến nông huyện được hợp nhất với các phòng nông nghiệp kiêm cả hai nhiệm vụ ‘quản lý nhà nước’ và ‘hoạt động khuyến nông’ và cách làm này là không phù hợp (ã được khắc phục bằng Nghị định 56 của chính phủ về khuyến nông

và khuyến ngư) và (iii) thiếu nguồn nhân lực làm việc tại cấp cơ sở

Nâng cao năng lực khuyến lâm/ nông là một yêu cầu cấp thiết - đặc biệt đối với quản lý những diện tích rừng lớn vùng cao (ví dụ làm việc với các cộng đồng sống phụ thuộc vào rừng) Tuy nhiên hệ thống khuyến lâm hiện tại không thể thực hiện được nhiệm vụ này vì thiếu cả về tổ chức (hệ thống khuyến lâm cơ sở) và số lượng cán bộ khuyến lâm có kỹ năng phù hợp ở cấp huyện và xã Nhiều trạm khuyến nông lâm huyện và xã không có cán bộ khuyến lâm, số lượng cán bộ lâm nghiệp ở Trung tâm Khuyến nông lâm tỉnh cũng rất rất ít, chỉ một hai người Điều đó đã dẫn đến việc đánh giá thấp các hoạt động khuyến lâm kể cả phân bổ ngân sách thấp

29 Nghị định 872/2003/CP-KG (ngày 2//7/2003) về Kế hoạch Hành động quốc gia Giáo dục cho mọi người (EFA) 2003 – 2015

30 Tong Khiem 2004 Tổ chức và hoạt động của hệ thống khuyến nông ở Việt Nam Báo cáo trình bày tại hội

thảo chia sẻ kinh nghiệm khuyến nông Bộ NN&PTNT, Thái Nguyên, 16-17/12/2004

Trang 29

Một trở ngại nữa ở cấp tỉnh và dưới tỉnh là phân công trách nhiệm hiện tại giữa các hoạt động khuyến lâm (thuộc Trung tâm khuyến nông) và các hoạt động phát triển rừng và trách nhiệm thực hiện Chương trình 661 (thuộc Chi cục Lâm nghiệp) và hoạt động bảo vệ rừng (thuộc Chi cục Kiểm lâm) dẫn tới việc phân tán trong các hoạt động hỗ trợ lâm nghiệp cấp cơ sở

Nghị định 56 mới ban hành đã giải quyết nhiều vướng mắc về mặt tổ chức của hệ thống khuyến nông (xem phụ lục 1) Đặc biệt, Nghị định cung cấp cơ sở cho việc nâng cao tính đa dạng và xã hội hoá của hệ thống thông qua sự tham gia của nhiều tổ chức nhà nước và tư nhân ngoài các cơ quan khuyến nông trực thuộc Bộ NN&PTNT và Sở NN&PTNT các tỉnh Nghị định mới cũng nhằm củng cố mạng lưới khuyến nông cơ sở bằng cách quy định mỗi xã

ít nhất có một nhân viên làm công tác khuyến nông và/hoặc khuyến ngư, các thôn cũng có cộng tác viên khuyến nông khuyến ngư Tuy nhiên, Nghị định này không giải quyết các hạn chế cụ thể của năng lực “khuyến lâm” như đã nêu ở trên (xem phần 4.2.3)

3.6 Nâng cao năng lực cán bộ trong nghiên cứu, giáo dục và đào tạo lâm nghiệp

Hiện nay, Đảng, Quốc hội và Chính phủ rất chú ý tới việc làm thế nào để cải thiện chất lượng

hệ thống giáo dục ở Việt Nam, đây là một vấn đề xã hội quan trọng Điểm yếu trong chất lượng của hệ thống đào tạo hiện tại bị quy là do nội dung, phương pháp đào tạo lạc hậu cũng nhưvấn đề tài chính Cần xem xét vấn đề này ảnh hưởng tới đào tạo lâm nghiệp như thế nào

Hệ thống nghiên cứu lâm nghiệp – được nhận định đã có tương đối đủ về số lượng cán bộ

nghiên cứu nhưng lại vẫn thiếu hụt nhiều về chất lượng (năng lực nghiên cứu)31 Tuy vậy, hệ thống nghiên cứu lâm nghiệp hiện nay còn có nhiều khoảng trống, ví dụ nghiên cứu cơ bản

về động thực vật rừng, thuỷ văn rừng, sinh thái rừng vv Ngay cả đối với các lĩnh vực nghiên cứu tương đối có hiệu quả như chọn tạo giống, kỹ thuật lâm sinh cũng còn thiếu nhiều cán bộ, nhất là cán bộ đầu đàn cho các lĩnh vực chuyên sâu Sự hẫng hụt và thiếu đồng bộ trong đội ngũ cán bộ nghiên cứu đang là một thách thức lớn Nội dung và phương pháp nghiên cứu thường không có tính hệ thống để mở rộng các kết quả nghiên cứu trước đó, hoặc không mang tính liên ngành để giải quyết toàn diện những vấn đề hóc búa trong các hệ thống quản

lý và sản xuất lâm nghiệp Với việc chuyển đổi sang cơ chế thị trường và sự thay đổi trong phương thức quản lý lâm nghiệp quốc gia và quốc tế, cán bộ nghiên cứu không được đào tạo những kiến thức và kỹ năng có liên quan dẫn tới một số kết quả nghiên cứu không có hiệu quả Một vấn đề quan trọng khác là làm thế nào để giữ cán bộ nghiên cứu có năng lực và làm thế nào thu hút cán bộ nghiên cứu trẻ, có năng lực làm việc trong ngành lâm nghiệp

Đối với Hệ thống đào tạo – nhu cầu cấp bách là nâng cao kỹ năng của cán bộ đào tạo và

giảng dạy ngành lâm nghiệp, tiếp tục những nỗ lực đã có để cải tiến nội dung và phương pháp đào tạo32 Đào tạo đại học của các trường thường không đáp ứng yêu cầu của ngành – đặc biệt là kỹ năng chuyên môn và kỹ năng phân tích môi trường và kinh tế xã hội Hệ thống đào tạo thiếu hợp tác chặt chẽ với nghiên cứu, thiếu sự phối hợp giữa đào tạo với việc làm, giữa đào tạo kỹ thuật viên và cán bộ quản lý, thiếu sự phối kết hợp giữa các trường đại học, cao đẳng, trung học và dạy nghề

Kèm theo đó là sự thay đổi ranh giới chuyên môn và ngành học, thay đổi thái độ và phương pháp làm việc Ví dụ, trên thế giới có sự chuyển đổi từ các ngành truyền thống như ‘lâm nghiệp’ và ‘nông học’ sang các cách tiếp cận toàn diện hơn đối với quản lý tài nguyên thiên

31 Phạm Văn Mạch (2004) Một số định hướng về khoa học công nghệ lâm nghiệp (2006 - 2010) Báo cáo trình

bày trong Hội thảo xây dựng kế hoạch phát triển lâm nghiệp và Chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng giai

đoạn 2006-2010, Hà Nội,12/2004

32 Vụ Tổ chức cán bộ (như ở trên)

Trang 30

nhiên và quản lý môi trường Đồng thời cần chú ý hơn tới phát triển xã hội và các vấn đề quản lý, đây là những vấn đề cần được phối hợp thực sự với nghiên cứu, giáo dục và đào tạo lâm nghiệp

Trang 31

4 Phân tích mối liên kết và mạng lưới nghiên cứu, đào tạo

và phổ cập

Phần này phân tích những điểm mạnh và điểm yếu chính trong mối liên kết hiện tại giữa các lĩnh vực nghiên cứu, đào tạo và phổ cập lâm nghiệp, giữa các Nhà cung cấp dịch vụ và các nhóm Khách hàng nhận dịch vụ nghiên cứu, đào tạo và phổ cập (xem phần 1.4 & và hình 1) Phân tích này dựa trên kết quả thảo luận với các bên liên quan, có đối chiếu giữa các quan điểm và ý kiến Phần đầu là những thảo luận ngắn về tầm quan trọng của các loại hình liên kết chính thức và không chính thức, các yếu tố cung cầu trong việc chuyển giao các dịch vụ nghiên cứu, đào tạo

và phổ cập Phần cuối xác định một số thách thức về thể chế liên quan đến đầu tư và tài chính có ảnh hưởng đến các mối liên kết này

4.1.1 Kế thừa các mối liên kết chính thức và không chính thức

Hình 1 cho thấy có nhiều bên liên quan trong ngành Có thể suy luận rằng mối liên kết hiện tại giữa các bên tham gia này rất đa dạng Nói tới điểm này cần xem xét cả mối liên kết thể chế

“chính thức” và mối liên kết “không chính thức” giữa các bên tham gia Bởi vì thực tế có nhiều

-có thể nói là phần lớn các mối liên kết hiện tại được xây dựng từ các mối quan hệ không chính thức giữa các cá nhân làm việc ở những cơ quan khác nhau chứ không phải từ các cơ chế phối hợp mang tính chính thức, thể chế

Ví dụ, nhiều mối liên kết ngang giữa nghiên cứu, đào tạo và phổ cập dựa trên các mối quan tâm

chung và mối liên hệ giữa các cá nhân làm việc trong các cơ quan này (đó là mạng lưới không

chính thức giữa các nhà khoa học với cán bộ giảng dạy) Tương tự, mối liên kết dọc giữa các

Nhà cung cấp dịch vụ và các nhóm Khách hàng nhận dịch vụ nghiên cứu, đào tạo và phổ cập (ví

dụ như khu vực kinh tế tư nhân) phần lớn dựa vào các mối quan hệ tin cậy và công việc có lợi cho cả hai bên cũng như các mối quan hệ cá nhân lâu dài

Một đặc điểm cơ bản của các dạng liên kết không chính thức là theo yêu cầu thực tế Các mối liên kết này có thể dẫn tới hoặc không dẫn tới các quan hệ đối tác hay các thoả thuận hợp đồng chính thức hơn Thực tế này có ảnh hưởng quan trọng đối với chính sách và chiến lược trong tương lai Để có được sự phối hợp tốt hơn giữa các chuyên ngành nghiên cứu, đào tạo và phổ cập cần phải nhận thức và kế thừa các cơ chế phối hợp chính thức và không chính thức trong tương lai.và cần “thể chế hoá” các mối liên kết này để phát huy tốt hiệu quả, tạo điều kiện cho các liên kết này phát triển đúng hướng, hạn chế sự tuỳ tiện và cơ hội

Trang 32

4.1.2 Yếu tố cung và cầu trong cung cấp dịch vụ nghiên cứu, đào tạo và phổ cập

Cách phân tích mạng lưới thể chế này cũng có ích để đánh giá các yếu tố ‘cung’ và ‘cầu’ trong chuyển giao dịch vụ nghiên cứu, đào tạo và phổ cập Một trong những kết luận và khuyến nghị chính của nghiên cứu này là nghiên cứu, đào tạo và khuyến lâm cần phải theo nhu cầu Tuy nhiên, ‘theo nhu cầu’ có thể được định nghĩa và hiểu theo nhiều cách khác nhau dẫn tới những ảnh hưởng khác nhau trong chính sách và chiến lược tương lai cũng như các ưu tiên phân bổ ngân sách trong nguồn vốn có hạn của Nhà nước

Có thể xác định 3 loại nhu cầu lớn có liên quan tới phần phân tích này:

Nhu cầu thị trường: Các nhà cung cấp dịch vụ nghiên cứu, đào tạo vẫn chủ yếu phụ thuộc vào

“dòng ngân sách cơ bản” của Bộ NN&PTNT để thực hiện các hoạt động nòng cốt Đồng thời, gần đây phần lớn các cơ quan này rất tích cực phát triển các mối quan hệ tạo thu nhập và dịch vụ liên quan đến kinh tế thị trường Hiện nay, khuynh hướng các nhà cung cấp dịch vụ nghiên cứu, đào tạo và phổ cập ngày càng tham gia vào các “dịch vụ hợp đồng” (với các cơ sở công nghiệp

và doanh nghiệp lâm nghiệp tư nhân, với các dự án phát triển, với chính quyền các tỉnh v.v) cho thấy có sự đáp ứng nhu cầu thị trường Đây là một cách làm tăng tính phù hợp và bền vững của

hệ thống trong tương lai, đặc biệt là đối với chuyên ngành chế biến gỗ và tư vấn kỹ thuật

Nhu cầu xã hội: Đồng thời – nhìn tổng thể toàn ngành – ‘theo nhu cầu’ có thể được hiểu là “là

những nơi mà điểm yếu hoặc thiếu hụt của toàn hệ thống nằm ở đó” Gần đây, ví dụ, có một thiếu hụt lớn trong việc tư vấn và đào tạo vừa học vừa làm cho các lâm trường quốc doanh để hỗ trợ họ đổi mới và tổ chức lại Tương tự, có nhu cầu lớn để lồng ghép tốt hơn nữa nghiên cứu, phổ cập và đào tạo để tập trung vào tình hình và nhu cầu phát triển của các cộng đồng sống phụ thuộc vào rừng và nông dân nghèo ở vùng sâu vùng xa Trong thời gian ngắn và trung hạn, không thể mong đợi cơ chế thị trường đáp ứng những nhu cầu này, rất có thể nguồn ngân sách hạn hẹp của nhà nước phải tập trung hơn nữa vào giải quyết các vấn đề này trong tương lai

Nhu cầu thể chế: Để thúc đẩy mạnh hơn nữa quan hệ phối hợp giữa các cơ quan nghiên cứu,

đào tạo và phổ cập trong tương lai, cần tập trung vào các khía cạnh mà nhiều bên liên quan khác nhau có nhu cầu và lý giải được Như một chuyên gia đào tạo, khi được hỏi về nhu cầu thiết lập

“mạng lưới” giữa các tổ chức nghiên cứu, đào tạo và phổ cập đã phát biểu rõ :

“Một mạng lưới tốt hơn là rất quan trọng nhưng câu hỏi là làm thế nào để có được mạng lưới đó? Chúng ta nên tránh việc tạo mạng lưới chỉ để cho có Chỉ thiết lập liên kết hành chính thôi thì không có tác dụng gì, bởi vì phải có sự liên hệ với thực tế cơ

sở Cần mang lại lợi ích cho các đối tác như đáp ứng yêu cầu kiến thức cũng như cải thiện tình hình kinh tế cho các tổ chức tham gia mạng lưới Tổ chức mạng lưới thì cần phải mềm dẻo nhưng ích lợi thì phải rõ ràng”

4.1.3 Mô hình tăng cường đa dạng hoá dịch vụ cấp cơ sở

Như đã nêu trên, tất cả các trung tâm nghiên cứu và đào tạo đang tham gia tích cực vào các hoạt động khác nhau và cung cấp dịch vụ cho nhiều khách hàng khác nhau (xem hộp 2) Thực tế này một phần liên quan tới nhu cầu bổ sung ngân sách Cho nên, ví dụ, các trường đào tạo Lâm nghiệp thường có một số nguồn ngân sách bổ sung cho nguồn ngân sách của nhà nước, bao gồm từ:

• Ngân sách nhà nước phân bổ từ Bộ NN&PTNT cho các hoạt động đào tạo chính quy thường xuyên theo chức năng nhiệm vụ;

Trang 33

• Cung cấp dịch vụ đào tạo cho Trung tâm Khuyến nông Trung ương;

• Cung cấp dịch vụ đào tạo cho các tỉnh (Sở NN&PTNT và các Trung tâm khuyến nông tỉnh);

• Hợp đồng cung cấp dịch vụ đào tạo với các tổ chức khác (ví dụ các doanh nghiệp và dự án);

• Các loại đào tạo khác cho thu nhập cao hơn (ví dụ: đào tạo lái xe);

• Các loại hợp đồng dịch vụ kỹ thuật khác (ví dụ: điều tra và thiết kế);

• Các hoạt động thương mại (ví dụ: sản xuất cây giống và bán sản phẩm từ rừng trình diễn)

để có phần lãi quay trở về phục vụ các hoạt động phát triển trường

Những người hoạt động trong các lĩnh vực nghiên cứu, đào tạo và phổ cập lâm nghiệp đều thừa nhận rằng hiện trạng này có thể mang lại cả ảnh hưởng tích cực lẫn tiêu cực Mặt tích cực là đa dạng hoá các mối liên kết – đặc biệt là các liên kết với các cơ quan sản xuất và chế biến – đây là hướng cơ bản để cán bộ nghiên cứu và đào tạo thu được kiến thức và kinh nghiệm thực tế và đưa trở lại đưa vào chương trình giảng dạy Sự đa dạng thể chế kiểu này có thể được coi là điểm mạnh trong điều kiện văn hoá và xã hội Việt Nam

Mặt khác, sự đa dạng hoạt động của từng tổ chức có thể dẫn đến tình trạng chồng chéo về vai trò

và trách nhiệm, liên kết không hiệu quả giữa các cơ quan, và các cơ quan có thể đi chệch hướng

so với chức năng và nhiệm vụ chính của mình Ví dụ, các trường đào tạo lâm nghiệp có xu hướng tập trung đào tạo các khoá học mang lại thu nhập cao (ví dụ đào tạo lái xe) có thể dẫn tới việc không chú ý tới chất lượng và nội dung của nhiệm vụ giảng dạy chính là quản lý rừng, lâm sinh, nông lâm kết hợp v.v Tương tự, nhiều trường đã phát triển các khoá ngắn hạn/vừa học vừa

Hộp 2 Một số ví dụ về đa dạng hoá các dịch vụ nghiên cứu, đào tạo

và phổ cập

• Trường Cán bộ quản lý số 2 (ở TP Hồ Chí Minh) gần đây đã thành lập Trung tâm tư vấn

và Chuyển giao Kỹ thuật, và một trung tâm đào tạo cán bộ Kiểm lâm như yêu cầu của Bộ NN&PTNT Dịch vụ tư vấn và đào tạo ngắn hạn được xem là cách thức rất tốt để nâng cao kỹ năng cho cán bộ, giúp họ có kiến thức thực tế và có thu nhập cho trường Trường yêu cầu cán bộ của trường mỗi năm ít nhất có 15 ngày hoạt động thực tế để nâng cao

năng lực và kiến thức

• Trường Trung học lâm nghiệp số 2 (ở Đồng Nai) liên kết chặt chẽ với chính quyền tỉnh

và tăng cường đào tạo ngắn hạn trong những năm gần đây Trường hoạt động ở cả “3 góc của hệ thống nghiên cứu, đào tạo và phổ cập”, vừa đào tạo, vừa nghiên cứu và làm mô hình trình diễn ở trại rừng trực thuộc trường, cung cấp các dịch vụ khuyến nông lâm

thông qua sản xuất và bán cây giống kèm theo các dịch vụ kỹ thuật cho nông dân lâm

nghiệp

• Trường Công nhân Chế biến Gỗ trung ương (ở Hà Nam) đặc biệt tham gia tích cực vào phát triển các mối liên kết với các doanh nghiệp chế biến nhỏ và các cơ sở công nghiệp chế biến thông qua cung cấp các khóa đào tạo ngắn hạn Ví dụ, đào tạo 200 công nhân cho hai nhà máy sản xuất Ván nhân tạo ở Gia lai và Thái nguyên

• Phân viện phía Nam của Viện Khoa học Lâm nghiệp (TP Hồ Chí Minh) ngoài nhiệm vụ nghiên cứu chính còn cung cấp một số dịch vụ như quản lý 1,500 ha đất rừng, 2 xưởng chế biến, vườn ươm thương mại sản xuất hàng triệu cây con một năm, cung cấp tư vấn cho các dự án đầu tư và cung cấp một số khoá học ngắn hạn

Ngày đăng: 03/10/2018, 11:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w