Vì vậy, thông qua nguồn tài liệu sưu tầm được, tác giả mong muốn đóng góp một cách nhìn nhận chân thực, khách quan về đời sống sinh hoạt cùng những câu chuyện chốn hậu cung của các phi t
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
HÀ NỘI – 2018
Trang 2KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học
Th.S Nguyễn Văn Nam
HÀ NỘI – 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành nhất đến các thầy cô khoa Lịch
Sử, trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội 2 đã cung cấp kiến thức cho em trong suốt những năm tháng em học tập tại trường Đặc biệt là thầy Nguyễn Văn Nam đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và nhắc nhở em cố gắng hoàn thành thật tốt bài khóa luận tốt nghiệp này Cảm ơn thầy Trần Anh Đức đã giúp đỡ em sửa bản khóa luận sơ khảo khi còn rất nhiều thiếu sót, để em hoàn thành đề tài khóa luận của mình
Đồng thời, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình, bạn bè của em
đã tạo mọi điều kiện hỗ trợ, luôn khích lệ, thúc giục, động viên để em chuyên tâm cố gắng hoàn thành bài khóa luận của mình
Hà Nội, ngày 8 tháng 5 năm 2018
Sinh viên
Đỗ Thị Phương
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan những nội dung mà em trình bày trong khóa luận này
là kết quả nghiên cứu của bản thân em dưới sự hướng dẫn của thầy giáo Thạc
sĩ Nguyễn Văn Nam Những nội dung này không trùng lặp với kết quả nghiên cứu của các tác giả khác
Em xin chịu trách nhiệm về kết quả nghiên cứu của cá nhân mình trong khóa luận này
Hà Nội, ngày 8 tháng 5 năm 2018
Sinh viên
Đỗ Thị Phương
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục tiêu, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 4
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 5
6 Những đóng góp của đề tài nghiên cứu 6
7 Bố cục nghiên cứu 7
NỘI DUNG Error! Bookmark not defined CHƯƠNG 1: NGUỒN GỐC XUẤT THÂN, CÁCH THỨC TUYỂN PHI VÀ ĐỊA VỊ CỦA PHI TẦN TRIỀU NGUYỄN (1802-1858) 8
1.1 Nguồn gốc xuất thân 8
1.1.1 Thân thế quyền quý 8
1.1.2 Thân thế bình dân 13
1.2 Cách thức tuyển phi 14
1.2.1 Do các quan tiến dâng 14
1.2.2 Do vua tự chọn lựa 16
1.3 Địa vị phi tần 18
1.3.1 Bậc cao nhất 18
1.3.2 Bậc thứ 2 trở xuống 20
CHƯƠNG 2 SINH HOẠT CỦA PHI TẦN TRIỀU NGUYỄN (1802-1858) 24
2.1 Sinh hoạt thường nhật 24
2.1.1 Nơi ở 24
2.1.2 Trang phục 26
2.1.3 Chuyện phòng the 28
2.2 Sinh hoạt trong các dịp lễ tết 30
2.2.1 Tết Nguyên Đán và Tết Đoan Ngọ 30
Trang 62.2.2 Lễ Sách Phong Hoàng Quý Phi và Phi Tần 32
2.3 Mâu thuẫn phi tần 34
2.3.1 Mâu thuẫn do địa vị, quyền lợi 34
2.3.2 Mâu thuẫn do không được vua sủng ái 35
2.4 Ban thưởng và trừng phạt phi tần 38
2.4.1 Ban thưởng phi tần 38
2.4.2 Trừng phạt phi tần 40
2.5 Nhận xét đời sống phi tần trong Tử Cấm Thành triều Nguyễn (1802- 1858) 42
KẾT LUẬN 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO 49 PHỤ LỤC
MỘT SỐ PHI TẦN TIÊU BIỂU DƯỚI TRIỀU NGUYỄN (1802-1858)
1 Thừa Thiên Cao Hoàng Hậu
2 Nghi Thiên Chương Hoàng Hậu
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Mỗi triều đại phong kiến dù phương Đông hay phương Tây đều tổn tại cùng những biến cố, thăng trầm của lịch sử Bên cạnh những vấn đề chính trị, những chính sách đối ngoại đối nội là các vấn đề nội tại mà ẩn chứa trong đó còn đầy rẫy những câu chuyện phức tạp hơn: chuyện hậu cung Là một đất nước với hàng nghìn năm chế độ phong kiến thống trị, trải qua biết bao nhiêu triều đại từ sau khi Ngô Quyền đập tan quân Nam Hán, đến năm 1945 vua Bảo Đại thoái vị trao ấn kiếm, kết thúc sự tồn tại của chế độ phong kiến ở Việt Nam, những câu chuyện hậu cung đằng sau những công việc chính sự của triều đình luôn là những vấn đề phức tạp và làm “đau đầu” các vị vua nước ta Triều Nguyễn là triệu đại phong kiến cuối cùng ở Việt Nam, vấn đề hậu cung có thể nói đến đây là hồi kết cô đọng và nhiều điều thú vị, mới mẻ
Nhà Nguyễn từ khi mới thành lập năm 1802 tồn tại được 143 năm, trải qua 13 đời vua là: Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Dục Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc, Hàm Nghi, Đồng Khánh, Thành Thái, Duy Tân, Khải Định, Bảo Đại Mỗi ông vua lại có rất nhiều cung phi, mĩ nữ hầu hạ Người có được địa vị cao hơn, người được sủng ái nhiều hơn,… và bởi thế cho nên câu chuyện hậu cung cùng những mâu thuẫn “đàn bà” luôn thực sự rắc rối và khó giải quyết Đời sống của các phi tần, hoàng hậu trong cung ngoài những mâu thuẫn là điểm nổi bật thì còn rất nhiều điểm thú vị, ví như cách ăn mặc, sinh hoạt, chuyện phòng the,… song các nghiên cứu trước thường chưa thực sự đi sâu vào những sinh hoạt cụ thể từ cách ăn mặc đến công việc của họ, chỉ dùng đôi dòng để nhắc đến chân dung, sinh hoạt và vai trò của cung tần Vì vậy, thông qua nguồn tài liệu sưu tầm được, tác giả mong muốn đóng góp một cách nhìn nhận chân thực, khách quan về đời sống sinh hoạt cùng những câu chuyện chốn hậu cung của các phi tần triều Nguyễn (từ năm 1802 đến năm 1858)
Trang 8Với tất cả những lí do trên, người viết đã lựa chọn vấn đề “Đời sống của phi tần triều Nguyễn (1802–1858) làm đề tài khóa luận của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đời sống của các phi tần trong Tử Cấm Thành là một đề tài khá quen thuộc và được nhắc đến rất nhiều như những câu chuyện vô cùng hấp dẫn và lôi cuốn, thu hút được sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu lịch sử
Trước hết, Đại Nam Thực Lục là bộ biên niên sử Việt Nam viết về
triều đại các chúa Nguyễn và các vua nhà Nguyễn, ghi chép các sự kiện từ khi chúa Nguyễn Hoàng trấn thủ Thuận Hóa (1558) đến đời vua Khải Định (1925) do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn từ năm 1821 Tác phẩm gồm
2 phần tiền biên và chính biên Phần chính biên ghi chép các sự kiện lịch sử
từ khi Nguyễn Ánh làm chúa (1778) đến đời Đồng Khánh (1887), và sau này được viết thêm đến đời vua Khải Định (1925)
Tác phẩm Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ do Viện sử học biên
soạn vào giữa thế kỉ XIX, là cuốn sách thuộc thể loại hội điển, ghi chép về những điển pháp, quy chuẩn và các dữ kiện liên quan đến tổ chức và hoạt động của Việt Nam dưới triều Nguyễn
Quốc sử quán triều Nguyễn trong tác phẩm Đại Nam Liệt Truyện ghi
chép rất cụ thể về các bà hoàng hậu, phi tần, các hoàng tử, công chúa và các quan lại, tướng sĩ có công với triều đình Bộ sách này gồm có 4 tập, mỗi tập đều ghi chép về các đời hoàng hậu, hoàng tử, công chúa và các quan lại, các tập 1,2,3 đều giành ra những quyển đầu để ghi chép về các bà hoàng hậu triều Nguyễn từ thời tiên tổ
Tác phẩm Quốc Triều Chánh Biên Toát Yếu (1908) do Quốc sử quán
triều Nguyễn biên soạn ghi chép theo kiểu biên niên về cuộc đời mỗi vị vua Nguyễn từ đời Thế Tổ Gia Long Sách là một kho kiến thức cung cấp khá đầy
đủ về chặng đường các vua trị vì, với những sự kiện lịch sử xác thực gắn với các mốc thời gian cụ thể
Trang 9Bộ gia phả: Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả của Hội đồng trị sự Nguyễn
Phúc Tộc do nhà xuất bản Thuận Hóa – Huế xuất bản năm 1995 là quyển gia phả ghi chép về dòng họ Nguyễn Phúc từ đầu thế kỉ X đến giữa thế kỉ XX với một niềm biết ơn và tự hào về những công lao oanh liệt của tổ tiên từ lúc thịnh cho đến luc suy, bao gồm đầy đủ các lĩnh vực từ thân thế, sự nghiệp cho đến các vấn đề ngoại giao, chính trị hay vợ con, anh em Về các phi tần, gia phả cũng ghi rất rõ ràng các bà phi, bà tần của các đời vua; những bà nào tìm hiểu được nhiều thì ghi đủ cả tên tuổi, gốc gác, cho đến chức vụ, sinh nở,…;
có những bà vì hình ảnh và ảnh hưởng trong cung quá mờ nhạt, nên nhiều bà không được ghi chép nhiều trong gia phả bởi không thể thu thập được thông tin gì
Ngoài ra, đời sống phi tần triều Nguyễn cũng được đề cập khá nhiều
trong các cuốn Kể chuyện các vương phi, công chúa, nữ cung triều Nguyễn do
tôn Thất Bình biên soạn, xuất bản tại NXB Đà Nẵng (1996); các tác phẩm
Chuyện các bà trong cung Nguyễn (NXB Thuận Hóa – Huế năm 1996), Chuyện nội cung các vua (NXB Thuận Hóa – Huế năm 1999), Chuyện nội
biên soạn; Truyện kể về các vương phi hoàng hậu nhà Nguyễn do Thi Long
biên soạn (xuất bản tại Đà Nẵng năm 2010); Phạm Minh Thảo biên soạn cuốn
Chuyện các bà hoàng trong lịch sử Việt Nam (NXB Thanh Niên); cuốn sách Những phương thuốc bí truyền làm đẹp cung phi do Lương Tú Vân và Lương
Tú Mẫn biên soạn, Lưỡng Kim Thành với tác phẩm Chuyện các bà hoàng bà
chúa triều Nguyễn (NXB Thuận Hóa), Trần Thùy Mai với tác phẩm Chuyện
của các phi tần được miêu tả khá chi tiết, cụ thể, song đó chỉ là những tác phẩm mang yếu tố lịch sử có phần dựng chuyện cho hấp dẫn, không phải là
các tác phẩm lịch sử chính cống
Trang 10Như vậy, đời sống phi tần triều Nguyễn là một mảng đề tài hấp dẫn, thú
vị, được nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu tuy nhiên các tác phẩm hầu như không đi tìm hiểu chuyên sâu về vấn đề này, thường gộp với việc tìm hiểu các vấn đề khác khiến đề tài chưa được đem ra nghiên cứu kĩ Các thông sử, chính
sử cũng không ghi chép riêng về các bà phi tần mà chỉ nói đôi dòng về tiểu sử hoặc đề cập sơ sài cùng với các chủ đề, nhân vật khác Do đó, trên cơ sở kế thừa của những nhà nghiên cứu đi trước, tác giả đi sâu tìm hiểu, phân tính, đánh giá về đời sống phi tần của triều Nguyễn giai đoạn từ năm 1802 đến năm
1858
3 Mục tiêu, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở tìm hiểu về hậu cung nhà Nguyễn từ năm 1802 đến năm
1858, đề tài cung cấp kiến thức về đời sống phi tần triều Nguyễn trong chặng đường từ thời vua Gia Long lên ngôi cho đến năm 1858 ở các phương diện từ thân thế, địa vị cho đến nếp sống sinh hoạt của các phi tần trong nội cung triều Nguyễn, qua đó nhằm mục đích giúp người đọc thấy được những đặc điểm nổi bật của phi tần triều Nguyễn trong giai đoạn này
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện các mục tiêu trên, đề tài tập trung vào một số nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:
- Tìm hiểu về thân thế, tiểu sử của các phi tần để làm rõ địa vị các bà khi làm vợ vua
- Tìm hiểu về nếp sống thường nhật cũng như sinh hoạt trong các dịp
lễ tết của các phi tần để thấy được đời sống của các bà vợ vua trong trốn nội cung đầy rắc rối Thông qua đó nhận xét, đánh giá, rút ra những đặc điểm về đời sống của các phi tần triều Nguyễn (1802-1858)
3.3 Phạm vi nghiên cứu
Trang 11- Về mặt không gian, tác giả nghiên cứu chung về đời sống các phi tần dưới triều đại nhà Nguyễn, do vậy không gian không bó hẹp ở địa phương nào Tuy nhiên hầu như các bà vợ vua đều có quê ở miền Nam
- Về mặt thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu trong giai đoạn từ
1802 khi vua Gia Long lên ngôi cho đến năm 1858 Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tư liệu
Để hoàn thành công trình nghiên cứu, tác giả đã sử dụng các bộ thông
sử, chính sử và các công trình nghiên cứu chuyên khảo có liên quan
Các bộ thông sử gồm có: Khâm Định Đại Nam hội điển sự lệ của Nội Các triều Nguyễn, Đại Nam Thực Lục của Quốc sử Quán triều Nguyễn, Quốc
Triều Chánh Biên Toát Yếu cuả Quốc sử Quán triều Nguyễn, Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả của Hội đồng trị sự Nguyễn Phúc Tộc,… Những bộ sử này được
sử dụng làm cơ sở cho việc nghiên cứu đối chiếu với các loại tài liệu khác, xác minh độ chính xác của tài liệu Tác giả sử dụng làm nguồn tư liệu chính
để hoàn thành bài khóa luận của mình
Để bổ sung nguồn tư liệu nghiên cứu, tác giả còn sử dụng thêm một số
Nguyễn do tôn Thất Bình biên soạn; các tác phẩm: Chuyện các bà trong cung
Đắc Xuân biên soạn; Truyện kể về các vương phi hoàng hậu nhà Nguyễn do Thi Long biên soạn, Phạm Minh Thảo với tác phẩm Chuyện các bà hoàng
trong lịch sử Việt Nam, tác phẩm Chuyện các bà hoàng bà chúa triều Nguyễn
của Lưỡng Kim Thành,… cùng một số tác phẩm khác
Trang 12Mỗi nguồn tài liệu đều cung cấp những khía cạnh khác nhau của đề tài nghiên cứu, tuy nhiên các tài liệu này lại chưa nghiên cứu về đời sống phi tần một cách toàn diện, chi tiết về đời sống phi tần triều Nguyễn
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả đã sử dụng các phương pháp lịch sử, phương pháp luận và phương pháp logic để tìm hiểu về đời sống phi tần triều Nguyễn từ 1802 đến 1858 Phương pháp lịch sử giúp khôi phục lại một cách tương đối hệ thống, toàn diện về đời sống phi tần triều Nguyễn từ
1802 đến 1858 Trên cơ sở những dữ liệu đã khôi phục, phương pháp logic giúp khái quát, nhận xét, đánh giá về đời sống phi tần
Ngoài ra, tác giả còn sử dụng các phương pháp khác như phân tích, so sánh, thống kê, khái quát để làm sáng tỏ vấn đề đồng thời cũng để nhận xét và kết luận vấn đề
5 Những đóng góp của đề tài nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu về đời sống phi tần trong Tử Cấm Thành nhà Nguyễn vừa có ý nghĩa lí luận vừa có ý nghĩa thực tiễn
- Về mặt lí luận, đề tài nghiên cứu sẽ góp phần làm sáng tỏ những vấn
đề trong chốn hậu cung, trình bày được thân thế, địa vị, sinh hoạt từ
đó rút ra đặc điểm đời sống phi tần nhà Nguyễn giai đoạn 1802 đến
1858
- Về mặt thực tiễn, trên cơ sở tìm hiểu về thân thế, địa vị, sinh hoạt, ban thưởng – trừng phạt phi tần và đưa ra những nhận xét về đời sống phi tần với những nguồn tư liệu và cách đánh giá khách quan
Vì vậy đề tài sẽ là nguồn tài liệu tham khảo thêm để nghiên cứu giảng dạy về lịch sử Việt Nam cận đại nói chung và lịch sử triều Nguyễn nói riêng
Trang 14CHƯƠNG 1:
NGUỒN GỐC XUẤT THÂN, CÁCH THỨC TUYỂN PHI VÀ ĐỊA VỊ
CỦA PHI TẦN TRIỀU NGUYỄN (1802-1858) 1.1 Nguồn gốc xuất thân
1.1.1 Thân thế quyền quý
Phi tần mang danh phận thứ thiếp đứng dưới người vợ chính là Hoàng hậu hay Vương phi, họ có trách nhiệm trông nom, cất đặt và thừa hành các công việc nội cung Phi tần trong xã hội phong kiến là một tập đoàn người đặc biệt, là một tập thể những người đàn bà là vợ của một người đàn ông quyền lực nhất thiên hạ, được sự sủng ái của đế vương, giữ sự cân bằng quyền lực giữa các thế lực trong triều và mối hòa hiếu giữa các nước láng giềng, có ảnh hưởng lớn đến cục diện chính trị của đất nước Phi tần mang nhiều danh phận với địa vị cao thấp khác nhau ở từng quốc gia và triều đại
Chịu ảnh hưởng sâu sắc của giáo điều Nho giáo với những tư tưởng như “tam thê tứ thiếp”, “tam nữ viết gian” (ba chữ “nữ” kết thành một chữ
“gian” để bêu rếu người phụ nữ), tư tưởng “trọng nam” khiến xã hội có thứ bậc và tôn ti trật tự rất rõ ràng, nghiễm nhiên người phụ nữ phải phụ thuộc vào người đàn ông Điều đó lí giải tại sao mỗi vị vua của mỗi triều đại phong kiến Việt Nam ngoài nắm trong tay binh quyền pháp trị thì đều có xung quanh mình rất nhiều vợ Các bà ấy là Hoàng hậu và các phi tần
So với các vị vua Trung Quốc với số lượng phi tần thê thiếp cung nữ có tới cả nghìn người, các vị vua triều Nguyễn thì ít hơn, nhưng nhìn chung từ thời vua Gia Long đến vua Tự Đức số phi tần cũng rất nhiều Ngoài các bà chính thất thì tam cung lục viện của vua còn có cả hàng trăm phi tần khác là khuê nữ của quan lại triều đình tiến dâng, do các quan tự nguyện dâng con gái – những xuất thân hết sức quyền quý, và vì vậy, không muốn tổn thương hòa khí, ổn đinh chính trị nội quốc nên các vua vẫn chấp nhận việc nạp phi
Trang 15Vua Gia Long là một điển hình sâu sắc, là vị vua có nhiều vợ đứng thứ
3 trong lịch sử nhà Nguyễn Vua chính thức có 21 bà vợ trong đó có 3 người được sử sách nhắc đến nhiều nhất là: Một là Đệ nhất phi (Quế phi) tên là Tống Thị Lan (sau được truy tôn là Thừa Thiên Cao Hoàng hậu), hai là Đệ nhị phi (Minh phi) tên gọi Trần Thị Đang (sau được truy tôn là Thuận Thiên Cao Hoàng hậu), ba là Đệ tam phi (Đức phi hay Thần phi) tên là Lê Thị Ngọc Bình Hầu hết đều là khuê nữ của các quan lại tiến cung, kết quả là hậu cung vua Gia Long ngày càng “chật chội” và gây rắc rối về sau cho vua: Theo ghi chép, vua chỉ cần lơ đễnh một bà vợ, ngay lập tức lập tức bà ta sẽ “kể tội” với phụ thân, và ông “nhạc phụ” này, nếu không nguyền rủa sự già yếu của vua
thì nhất định sẽ “tìm cách gieo rắc một cách khéo léo” với triều thần và gây
nên những lời bàn tán khiến vua trở thành trò cười trong mắt bàn dân thiên hạ Điều này được nhắc đến trong tâm sự của vua Gia Long về chốn hậu cung với
J.B Chaigneau (một triều thần gốc người Pháp) “ Thì ra ông không biết, vua
nói tiếp, rằng các phi, tần hầu hết đều là con gái các quan sao?” [13;
tr.39-40]
Thân thế quyền quý của vợ vua Gia Long phải kể đến Đệ nhất phi Tống Thị Lan là nữ tử của Qui Quốc Công Tống Phúc Khuông giữ chức Thái Bảo tước Quận Công, vị quan có nhiều công lớn trong việc phò vua và xây dựng
cờ đồ họ Nguyễn Đại Nam Liệt Truyện ghi lại về gốc quan lại nhà ông Tống Phúc Khuông: “Tiên tổ là người ở quý huyện tỉnh Thanh Hóa, lúc trước theo
Thái Tổ vào trấn miền Nam, nhận tịch ở phủ Thừa Thiên Cha là Thành, làm quan triều Thế Tông, làm đến Nội thủy Chưởng cơ kiêm Cung bộ, Chưởng sử
sự, tặng Chưởng doanh, Quận công, tên thụy là Đôn Trực […] Năm Canh
Tý (1780) Thế Tổ lên ngôi Vương, bàn công những người giúp đỡ, cho ông làm Ngoại tả Chưởng doanh kiêm Chưởng sử sự […] Năm Gia Long thứ 3, tặng là Suy trung trực vận công thần, đặc tiến khai phủ, Phụ quốc thượng
Trang 16tướng quân, Thượng trụ quốc thái bảo, Quốc công, tên thụy là Trung Ý, đưa
về táng ở Long Hồ […]
Họ Tống, khi ban đầu dựng nước là họ có danh vọng, đời đời làm quan sang, tới đến đời ông là Trung hưng dực đới công thần, thanh danh Phước lộc ở nhà, cùng với nước cùng vui, không những là có tiếng thích lý, cũng rực rỡ về mặt công nghiệp nữa Con là Phước lương từng làm đến quan Chưởng Phủ, phong là hầu, có truyện chép riêng” [16; tr.96-97]
Đệ nhị phi Trần Thị Đang cũng xuất thân danh giá ngang tầm, bà là con gái thứ của Thọ Quốc công Trần Hưng Đạt (1746 - 1810) và Thọ Quốc phu nhân Lê thị Gia tộc bà vốn gốc Thanh Hóa, tiên tổ là Trần Phúc Tư buổi đầu năm 1558 theo chúa Tiên Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa lập nghiệp, định cư
ở huyện Hương Trà, phủ Thừa Thiên Đại Nam liệt truyện cũng cho hay “ Thế
tổ yên ủi hỏi han kĩ lắm, bổ cho ông vào viện Hàn Lâm, rồi chuyển làm Lễ bộ tham tri Năm Canh Thân, sung làm chức bảo phó cho Hoàng tử Năm Gia Long thứ 1 (1802) triệu về Kinh Khi thiên hạ đã định, việc bàn lễ xét văn, chế tác buổi đầu, ông cùng với Lễ bộ là Đặng Đức Siêu biên chép từng điều tâu lên để thi hành, rồi bổ làm Lễ bộ hữu tham tri” [16; tr.98]
Đệ tam phi Lê Thị Ngọc Bình không ai khác chính là con gái vua Lê
Hiển Tông, câu ca dao “con vua mà lấy hai chồng làm vua” chính là nói đến
công chúa Ngọc Bình Trước khi lấy vua Gia Long, bà đã là Hoàng hậu nhà Tây Sơn với tư cách là chính thất của Cảnh Thịnh Đế Nguyễn Quang Toản
Vua Minh Mạng là vị vua có nhiều phi tần và đông con nhất trong số
13 vua triều Nguyễn Ông có tới hàng trăm bà phi Vợ ông phần lớn là con gái miền Nam, rất nhiều bà là con nhà quyền quý, khuê nữ của các quan lại, danh tướng
Bà Hồ Thị Hoa là Tá Thiên Nhân Hoàng Hậu, người vợ đầu tiên của vua Minh Mạng, bà cũng xuất thân là con của Phúc Quốc Công Hồ Văn Bôi Ông Hồ Văn Bôi người ở Bình An trấn Biên Hòa Năm Gia Long thứ 1 thăng
Trang 17làm Vệ úy Tả nhất Thị trung, mùa đông năm ấy thăng làm Khâm sai Thuộc nội chưởng cơ Năm thứ 7 (Minh Mạng), tặng là Nghiêm uy Tướng quân
Thượng hộ quân Thống chế [16; tr.100] Cũng theo Đại Nam liệt truyện thì
vào năm 1806, vua Gia Long và Thuận Thiên Cao Hoàng Hậu muốn tuyển con gái trong hàng các công thần để đưa vào cung hầu Hoàng tử Đảm, bà Hồ Thị Hoa là người được chọn
Vương phi được sủng ái nhất là Hiền phi Ngô Thị Chính Bà Ngô Thị Chánh là trưởng nữ của Chưởng cơ Ngô Văn Sở, nguyên là tướng của nhà Tây Sơn, sau về theo Nguyễn Ánh, lập được nhiều chiến công nên rất được Nguyễn Ánh tin dùng
Gia phi Phạm Thị Tuyết người làng Tuy Viễn, tỉnh Bình Định, cũng là con của ông Phạm Văn Chẩn (được truy phong Quang Lộc Tự Thiếu Khanh) Thục tần Nguyễn Thị Bửu, người Bình Chương, Gia định; cũng xuất thân là con quan tư không Nguyễn Khắc Thiệu Bà Hòa tấn Nguyễn Thị Khuê còn húy là Bích Chi, người Phú Lộc, Gia Định, là con gái của Chưởng Cơ Nguyễn Văn Thanh trấn thủ tỉnh Quảng ên, Ngoài các bà trên, vua Minh Mạng còn rất nhiều vợ với xuất thân vô cùng danh giá khác
Vua Thiệu Trị là vị vua thứ ba của triều Nguyễn, con của vua Minh Mạng Ông có nhiều vợ, các bà hầu hết cũng xuất phát từ những “lầu son”,
“gác tía” hết sức danh gia vọng tộc
Hoàng hậu của vua Thiệu Trị là Nghi Thiên Chương Hoàng Hậu Phạm Thị Hằng, người làng Tân Hòa – Gia Định, con ngài Đức Quốc Công Phạm Đăng Hưng Ông Phạm Đăng Hưng tên tự là Hiệt Củ, là một quan thần trung thành với vua Thiệu Trị, buổi đầu trung hưng, ông được (vua Gia Long) bổ làm phủ lễ sinh, sung vài viện Cống sĩ, lại thiên làm Tham luận vệ Phấn vũ Năm Kỷ Mùi thăng lại bộ tham tri Năm thứ 5 (Thiệu Trị) ông được giữ chức
Lại bộ Lễ thượng thư Khi ông ốm sắp mất, “Thánh Tổ đau thương lắm, cho
Trang 18nhiều gấm lụa và tiền, sai quan sửa việc tang; tặng là Vinh lộc đại phu, Trụ Quốc, hiệp biện đại học sĩ, thụy là trung nhã” [16; tr.101,103-104]
Lệnh phi Nguyễn Thị Nhiệm, người An Giang, con của Kinh môn Quận công Nguyễn Văn Nhân Ông Nguyễn Văn Nhân người quê Vĩnh ên,
An Giang Năm Đinh Tỵ, ông lĩnh chức Tào vận theo Tôn Thất Hội giữ Gia Định Năm Kỷ Mùi ông giữ chức Chưởng cơ Gia Long năm thứ nhất, được thăng Chưởng chấn vũ quân, tước Quận công Từ khi Gia Long lên ngôi, ông nhiều lần dâng sớ với các điều rất có lợi cho dân, vua Gia Long khen rất nhiều Năm 1808 ông được phong chức Tổng trấn Gia Định [16; tr.136-137]
Hay như Lương phi Vũ Thị Viên, người huyện Hương Trà (tỉnh Thừa Thiên), con gái của Phó vệ úy Vũ Hữu Linh; bà Đoan tần Trương Thị Hận người Tống Sơn, con gái của Vệ úy Minh Đức Hầu Trương Văn Minh; Đức tần Nguyễn Thị Huyền, là người gốc tỉnh Thừa Thiên, con của Khoái Châu quận công Nguyễn Đức Xuyên,…
Dưới thời vua Tự Đức không có hoàng hậu mà chỉ có chức cao nhất là Hoàng Quý Phi Lệ Thiên Anh hoàng hậu Vũ Thị Duyên, là con của Thái Tử Thái Bảo, Đông Các Đại Học Sĩ, kiêm quản Quốc Tử Giám sự vụ Vũ Xuân Cẩn Ngoài ra ông còn một số bà vợ khác, điển hình như Thiện phi Nguyễn Thị Cẩm, thứ nữ của Hải An Kinh lược Đại thần kiêm Định An Tổng đốc Nguyễn Đình Tân; Học phi Nguyễn Thị Hương người gốc tỉnh Vĩnh Long, cha là Nghiêm Oai tướng quân Nguyễn Văn Tuấn, xuất thân danh giá; Lễ tần Nguyễn Nhược Thị Bích, nguyên là Lục giai Tiệp dư, khi mất được Thái hoàng thái hậu Từ Dụ truy tặng hiệu Lễ tần, bà là con gái của Nguyễn Nhược Sơn, quan Bố chính tỉnh Thanh Hóa nổi tiếng về tài văn chương và học thức trong triều đại nhà Nguyễn
Những điều kể trên là minh chứng cho thấy các bà hoàng phi của các đời vua Nguyễn từ thời Gia Long cho đến Tự Đức hầu hết đều xuất thân với thân thế quyền quý, danh giá, là nữ tử của các quan thần, danh tướng thân cận
Trang 19với vua Dù muốn hay không vua cũng sẽ nạp thêm họ làm phi bỡi lẽ nó sẽ làm hạn chế những vấn đề trong nội bộ triều chính, mặt khác lại thấy được lòng trung thành của các quan thần được cung tiến con lên vua
1.1.2 Thân thế bình dân
Các phi tần từ thời Gia Long đến Tự Đức không hẳn tất cả ai cũng vào cung với xuất thân quyền quý, có những bà vợ vua tiến cung với thân thế hết sức bình thường, dân dã; theo tác giả đó có lẽ một phần là bởi sự để ý của nhà vua với người con gái có nhan sắc, phẩm hạnh này
Sách Truyện kể về các vương phi hoàng hậu của Thi Long viết “Ngoài
các bà Phi, Tần và các bà vợ chính thức hoặc vợ hai, vợ ba…của Vua, hầu hết họ là con các quan đại thần trong triều tiến cung để hầu hạ Vua, còn lại thì phần lớn chiếm 90% các người đàn bà khác trong cung là những người con gái dân dã bị các quan lại địa phương theo lệnh của triều đình tuyển vào
để phục dịch mọi công việc trong cung cấm Họa hoằn lắm mới có một vài người được Vua chiếu cố nhờ nhan sắc của mình.” [7; tr.123-124]
Như vậy có thể thấy được, “một vài người được Vua chiếu cố” trở
thành vợ vua với xuất thân vốn dĩ rất bình dị thôn quê, cũng vì bị ép đi phục dịch nội cung mà vô tình lại trở thành vợ vua Và đó là những trường hợp rất
“họa hoằn” như sử sách nói
Dưới thời Gia Long đến Tự Đức có lẽ cũng có một hai trường hợp đặc biệt này Song tìm hiểu trong một số tài liệu, quan trọng nhất là Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả cũng không ghi chép được nhiều về lai lịch xuất thân của tất cả các bà, ngoại trừ một số phi tần có địa vị cao vì cha của mình có chức tước cao trong triều, còn lại đại đa số là không biết được lai lịch xuất thân của các phi tần khác Vì vậy việc tìm hiểu về lai lịch xuất thân có bình dân hay không của các bà cũng khá khó khăn
Tác giả đưa ra một số trường hợp dưới các đời vua triều Nguyễn không trong phạm vi nghiên cứu để làm dẫn chứng Thời vua Khải Định có bà Từ
Trang 20Cung xuất thân trong gia đình bình dân Bà tên húy là Hoàng Thị Cúc, cha là ông Hoàng Trọng Tích, từng đỗ tú tài và làm tri huyện Hòa Đa (Bình Định), song ông Tích mất từ khi bà Cúc còn rất nhỏ; anh trai của bà là ông Hoàng Trọng Khanh lại ham mê cờ bạc, sinh ra nợ nần, bà bị anh trai bán cho những nơi quyền quý, cuối cùng vào cung làm hầu gái cho trưởng nữ của vua Đồng Khánh Tại đây bà đã tiếp xúc với ông Phụng Hóa Công Nguyễn Phúc Bửu Đảo, sau này chính là vua Khải Định Lúc đó, ông đã có vợ chính là bà Trương Như Thị Tịnh, song hai người không có con Năm 1913 bà Cúc có mang với ông Phụng Hóa Công Cuối năm 1913 bà hạ sinh Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy tức vua Bảo Đại sau này Năm 1916 ông Phụng Hóa Công lên ngôi vua, bà được phong làm Huệ Phi Sau này vua Bảo Đại kế vị, bà trở thành Hoàng Thái Hậu cuối cùng của Việt Nam Như vậy ở trường hợp bà Từ Cung, một xuất thân rất bình dân và thậm trí còn có phần éo le, song bà Từ Cung từ một cung nữ bỗng trở thành Hoàng hậu [29]
Sách Chuyện các bà trong cung Nguyễn cho hay, có lần vua Thành
Thái cải trang thành một thư sinh rất mực nho nhã lên Kim Long chơi, dạo
xuống bến đò Bỗng thấy cô lái đò xinh đẹp “khoảng chừng hai mươi, đang
khép nép trong chiếc áo vá vai, với đôi má ửng hồng rất có duyên” và thế là
sau một cuộc trò chuyện trêu đùa qua lại, cô gái lái đò dung dị dân dã đã là vợ vua Ngài cầm chèo đưa đò xuôi về kinh thành, đậu ở bến Phu Văn Lâu [13; tr.76-77]
Sự việc vợ vua xuất thân từ thân tế bình dân không nhiều, đa phần chỉ trong những trường hợp hết sức ngẫu nhiên như của vua Thành Thái, còn đại
đa số vợ vua là các nữ tử khuê các của các quan lại trong triều, hoặc không cũng là những con nhà Nho có học, đức tính thục, thận, hiền, trinh; nết na xinh đẹp
1.2 Cách thức tuyển phi
1.2.1 Do các quan tiến dâng
Trang 21Như đã nêu ở trên, hầu hết các phi tần vợ vua đều là trưởng nữ hay thứ
nữ của các quan lại trong triều, các khuê nữ đài các xuất thân từ chốn “lầu son”, “gác tía”, nhờ chức tước của phụ thân mà được tiến vào nội cung làm
vợ của vua Theo điển lễ của triều Nguyễn, phàm là con gái của các quan trong triều sẽ được vinh dự tiến cung làm phi tần để “nâng khăn sửa túi” cho hoàng đế và tùy theo tước phẩm của người cha, cô được tuyển vào cấp bậc cao hay thấp
Nhà vua dù không con trẻ “mặc dầu tuổi tác của tôi” theo lời của chính
Vua Gia Long thì việc nạp phi vẫn cứ phải diễn ra, và tiếp diễn như vậy, nội cung toàn “đàn bà” luôn đầy rẫy những ganh ghét, đố kị, rắc rối mà chính vua Gia Long cũng cảm thấy “đau đầu” Nếu họ không phải là các nữ tử của quan lại trong cung được cha cung dâng, nếu họ đơn thuần chỉ là những người vợ xuất thân hết sức bình dị thì có lẽ nhà vua sẽ không phải “đau đầu” vì những
hoàn cảnh khó xử như vậy được “Đây này, cách đây không lâu, một ông đòi
dâng con gái cho tôi, mặc dầu tuổi tác của tôi, [ ] Ở đây, là một vinh dự khi một ông quan được có một cô con gái tiến vào nội cung và đối với tôi, đó là một đảm bảo về lòng trung thành của ông ta.” [13; tr.39-40]
Các phi tần được dâng vào cung vua với những cấp bậc khác nhau từ
đó mà sau này được truy tôn với nhưng danh vị khác nhau Ví dụ như Lệnh phi Nguyễn Thị Nhiệm, người An Giang, con của Kinh môn Quận công Nguyễn Văn Nhân, tiến cung cùng lúc với bà Nghi Thiên hoàng hậu (con ngài
Lễ bộ thương thư Phạm Đăng Hưng); chức tước của cha bà Lệnh phi lớn hơn của cha bà Nghi Thiên, nên ban đầu bà Lệnh phi ở trên bà Nghi Thiên Nhưng
về sau Nghi Thiên hoàng hậu sinh được 1 hoàng tử và 3 công chúa liên tiếp, còn bà Lệnh phi chỉ sinh được một công chúa là Nguyễn Phúc Nhàn Yên nên
bà Nghi Thiên được phong Quý phi, đứng đầu Nhất giai, tiếp quản hậu cung,
ở trên bà Lệnh phi
Trang 22Bởi được tiến cử con gái mình làm vợ vua là một niềm “vinh dự” nên rất nhiều quan lại trong triều đình dâng ái nữ của mình cho vua Từ thời Gia Long đến Tự Đức sử sách không thể ghi hết được có tổng cộng bao nhiêu bà phi tần là con quan được tiến cung, bởi thực sự mỗi vị vua có đến hàng chục, hàng trăm bà vợ Song chúng ta có thể nhắc đến danh tính một số bà tiêu biểu
và quen thuộc như: Minh phi Trần Thị Đang (Thuận Thiên Cao Hoàng Hậu) năm 1775 được tuyển vào cung hầu cận vì con nhà danh giá, Hiền phi Ngô Thị Chính con của tướng Ngô Văn Sở được tiến dâng vào cung làm thiếp thái
tử Đảm năm 1806, Gia phi Phạm Thị Tuyết, Thục tần Nguyễn Thị Bửu năm Giáp Tuất (1814) được nạp vào cung hầu thế tử Đảm,…và rất nhiều phi tần khác
Những thân thế “cành vàng lá ngọc” được quan lại tiến cung càng khẳng định một hoàng cung với đầy đủ những con người sang trọng, quyền quý Những phi tần làm rạng danh cả dòng họ nhưng không phải tất cả đều mong muốn, ước ao sống một cuộc sống nhung lụa như vậy Bởi khi vào cung làm phi tần đồng nghĩa với việc đánh đổi tất cả thanh xuân và tự do của mình Được vua yêu thương sẽ là một ân huệ lớn, còn không sẽ cô độc đến hết đời
1.2.2 Do vua tự chọn lựa
Một cách thức tuyển phi nữa phải kể đến ở đây là phi tần tiến cung do được chính vua vô tình gặp gỡ và chọn lựa, tuy nhiên khả năng này cũng không nhiều Việc tìm vợ của các vị vua đầu triều Nguyễn đôi khi cũng rất thú vị
Dưới thời vua Gia Long có những sự kiện chính vua đi “hỏi vợ” cho mình Đầu tiên là việc vua Nguyễn Ánh tự đem phẩm vật đến cưới bà Tống Thị Lan về làm vợ Truyện kể là năm Giáp Ngọ (1774), chúa Trịnh lấy danh nghĩa “Phù Nguyễn diệt Trương” xua quân chiếm Phú Xuân, chúa Nguyễn Phúc Thuần được quần thần phò tá chạy vào Gia Định Thân phụ bà Lan là ông Tống Phúc Khuông cùng gia đình chạy theo chúa Nguyễn vào Nam Tại
Trang 23đây năm bà 18 tuổi, Nguyễn Ánh nghe tiếng bà vốn xinh đẹp đoan trang, tính tình thuần hậu, ôn hòa nên tự đem lễ vật đến cưới bà về rồi tấn phong làm bà
sủng ái
Đặc biệt, đời vua Gia Long dân gian truyền tai nhau câu ca dao để ghi lại sự trớ trêu lịch sử:
“ Ở đâu có số lạ lùng
Con vua mà lấy hai chồng làm vua”
Câu ca dao này nhắc đến một nhân vật với các vai trò là Công chúa – Hoàng hậu – Đức phi: Lê Thị Ngọc Bình Ngọc Bình công chúa là con út của vua Lê Hiển Tông, em của Ngọc Hân công chúa (vợ Vua Quang Trung) Tháng 6 năm Tân Dậu (1801) Nguyễn Ánh đem quân tiến ra Phú Xuân tấn công kinh đô của Vua Cảnh Thịnh Nguyễn Quang Toản, quân của Vua Cảnh Thịnh tan tác Ngọc Bình công chúa lúc bấy giờ là Hoàng hậu Vua Cảnh Thịnh cùng một số cung phi thể nữ không chạy kịp đành ở lại trong cung
Trong Truyện kể các vương phi hoàng hậu nhà Nguyễn, Thi Long chép “Vào
nội cung, vua bắt gặp một người con gái tuyệt đẹp đang ngồi, xung quanh một
số cung nữ đang đứng hầu với gương mặt để lộ sự sở hãi tột độ Sắc đẹp của Hoàng hậu Cảnh Thịnh đã làm cho Nguyễn Ánh rung động, ông an ủi và đối
xử với bà rất ân cần, mặc cho quần thần can gián Ông quyết định lấy bà, ép
bà phải thành thân với mình” [7; tr.47]
Như vậy, xuất thân từ một công chúa của vua Lê, bà trở thành Hoàng hậu của vua nhà Nguyễn (Nguyễn Cảnh Thịnh), cuối cùng lại là vợ của vua Gia Long Câu chuyện nạp phi này của Vua Gia Long hẳn cho thấy bản thân vua cũng đã tự lựa chọn vợ của mình, dù rằng quan lại đã rất nhiều lần can giám
Vua Tự Đức cũng có một câu chuyện nạp phi rất ấn tượng Ông là người rất giỏi thơ văn, là ông vua hay chữ nhất triều Nguyễn Một hôm quan
Trang 24Phụ chính đại thần Lâm Duy Nghĩa dâng biểu tiến cử người con gái vừa có tài vừa có sắc để vua thử tài tên là Nguyễn Thị Bích, là con gái thứ tư của Bố chính sứ hộ lý tổng đốc Thanh Hóa Nguyễn Nhược Sơn, Vua ra cho bà đầu đề
“Tảo Mai”, chỉ trong phút chốc bà làm ngay một bài Đường luật dâng lên Vua ngự lãm Đọc thơ, vua rất khen và thưởng cho bà 20 đĩnh bạc rồi tuyển bà vào cung Bà Bích vốn tính tình đoan trang, ăn nói lễ phép nên rất được Vua yêu, năm Mậu Thìn (1868) được tấn phong là Tiệp Dư [7; tr.66-67]
Tóm lại, vợ vua thì có rất nhiều, hàng chục hàng vài trăm người không đếm xuể Đa phần họ là con của các quan lại được cha cho tiến cung làm phi tần, còn lại rất ít là những trường hợp do nhà vua tự tìm và chọn lựa
Bên trong Tử Cấm Thành là một thế giới đặc biệt, một Tây Lương Nữ Quốc, chỉ có độc nhất một người khác phái mà quyền uy bao trùm tất cả là nhà vua hẳn cuộc sống trong đó sẽ rất đặc biệt Cuộc sống của những người đàn bà vợ vua ở đây cứ quanh quẩn son phấn rồi lại hết ngày Buổi tối mới là lúc họ bộc lộ khao khát của mình, đó là được làm “vợ” của vua Thật đúng như người ta vẫn nói “thâm cung bí sử” khó mà khai thác tìm hiểu cho tường tận được
1.3 Địa vị phi tần
1.3.1 Bậc cao nhất
Với một tập thể cả ngàn người đủ mọi thành phần như trong trốn nội cung, việc tổ chức nhân sự cho có tôn ty trật tự cũng được các vua Nguyễn đặc biệt quan tâm Cho nên một triều đình bên ngoài tổ chức như thế nào thì bên trong cũng tổ chức như thế ấy Từ Hoàng quý phi trở xuống đều được xếp theo chức tước phẩm trật như một Nam quan Vì thế họ được gọi là những Nữ quan Theo lệ xưng hô trong nội cung nhà Nguyễn, phi tần từ Tiệp dư trở lên được gọi bằng "bà", từ Quý nhân trở xuống được gọi bằng "chị"
Trong nội cung, ba người đàn bà có địa vị cao nhất là Thái Hoàng Thái Hậu, Hoàng Thái Hậu và Hoàng Hậu, tức bà nội, mẹ đẻ và vợ chính thức của
Trang 25Vua Khi Vua Gia Long mới lên ngôi, công việc trong nước còn bề bộn, ngoài
“Tứ bất lập” trong đó có không lập ngôi Hoàng Hậu thì các Nữ quan chỉ có chức tước từ “Phi” trở xuống Vì vậy trong số những người vợ của vua, địa vị cao nhất là Hoàng quý phi
Ở các triều đại trước, Hoàng quý phi sống và sinh hoạt tại cung Khôn Thái, nằm trong khu vực Tử Cấm Thành gần cung của Càn Thành của vua ở Dưới thời Gia Long, cung này có tên là cung Khôn Đức Dưới thời trị vì của Vua Minh Mạng lại được đổi lại là cung Khôn Thái
Hoàng quý phi là người được xem như Tể Tướng - cánh tay phải của Hoàng Thái Hậu Bà nắm trong tay quyền quản lí sáu viện, chịu trách nhiệm mặt hậu cần về mọi lễ nghi, lễ lược, cúng kị trong cung Bởi vậy bà là người rất nhiều công việc, nếu có bất kể một sai sót sẽ gánh những tổn thất lớn vô cùng
Hoàng quý phi tuy về vật chất có một cuộc sống cung sướng, cảm tưởng như sống trong nhung lụa không thiếu thứ gì Thế nhưng không phải bà chỉ ăn rồi chơi, xung quanh có biết bao nhiêu cung nữ hầu hạ như ta tưởng Cuộc sống của bà là một chuỗi ngày dài lo âu Tuy là người cai quản cả lục viện nhưng xung quanh bà không biết bao nhiêu kẻ thù đang rình rập Mọi nhất cử nhất động của bà đều bị dòm ngó, chỉ cần một lỗi nhỏ thôi là sẽ bị truất quyền Trong cung, công việc rất nhiều, tuy được phân công cho người khác nhưng bà luôn luôn phải để mắt đến và đốc thúc, vì vậy ở đây bà ít có một cuộc sống thoải mái
Một ngày của Hoàng quý phi diễn ra với rất nhiều công việc bận rộn từ
4 giờ sáng cho đến 11 giờ đêm Tờ mờ sáng, bà thức dậy, vệ sinh trang điểm xong rồi đi kiểm tra các món điểm tâm dâng lên vua trước khi ngự thiện Sau
đó cùng với cung nữ đem điểm tâm lên dâng vua, sau đó bà đi kiểm tra công việc ở các cung vào 5 giờ sáng 6 giờ sáng bà về cung riêng điểm tâm và đi thỉnh an Hoàng thái hậu, 7 giờ sáng bà ngồi chính điện nghe hoàng tử, cung
Trang 26nữ, các phi tần thỉnh an 8 giờ sáng nghe các quan giám trình bày tình hình, 9 giờ sáng xử lí các đơn kiện giữa các phi tần, 11 giờ trưa đi thăm con và đón Hoáng đế hồi cung, 12 giờ trưa bà đi kiểm tra bữa trưa dâng lên Hoàn thượng
16 giờ đi thăm Hoàng thái hậu và kiểm tra các công việc trong cung, 18 giờ kiểm tra các món ăn của vua và nghe báo cáo tình hình của quan giám, 21 giờ kiểm tra đồ ăn đêm của Hoàng thượng, 23 giờ nghỉ ngơi [2; tr.52-54]
Như vậy ở phương diện vật chất thì quả thực bà được sự ưu đãi đặc biệt, được cung phụng đủ mọi thứ nhưng không được nhàn hạ, Hoàng quý phi phải thức khuya, dậy sớm, làm việc từ sáng đến tối để phục vụ cho vua và các công việc Từ công việc cho đến lời ăn tiếng nói đều phải hết sức thận trọng nếu không sẽ bị giáng chức
Sử sách triều Nguyễn còn ghi lại câu chuyện của bà Lệ Thiên Anh Hoàng Hậu, vợ của vua Tự Đức Bà được phong từ Cung Tần, rồi đến Cần Phi, Thuần Phi, Trung Phi và sau 20 năm phục vụ đắc lực bà mới được phong Hoàng Qúy Phi Thế mà đến năm 1882, vua Tự Đức đau ốm, chỉ vì một lỗi rất nhỏ là dâng cơm chiều cho Vua muộn vì bà quá nhiều công việc, mà bà bị giáng chức chỉ còn Trung Phi và bị tước quyền quản lý lục viện [7; tr.62-63]
1.3.2 Bậc thứ 2 trở xuống
Như đã đề cập, từ thời trị vì của vị vua đầu tiên của triều Nguyễn đã sắp đặt kết cấu thứ bậc các phi tần khá chặt chẽ Từ Hoàng quí phi trở xuống đều được xếp theo chức tước phẩm trật như một Nam quan Vì thế họ được gọi là những Nữ quan
Dưới Hoàng quý phi là hệ thống các thứ bậc khác Ở thời vua Nguyễn Ánh được chia làm 5 bậc và 6 chức tước danh xưng của các bà vợ vua
5 bậc bao gồm:
“Phi” thuộc cung giai bậc nhất và gồm 3 bậc xếp theo thứ tự cao thấp: Quý Phi, Minh Phi và Kính Phi
Trang 27“Tu” thuộc cung giai bậc hai, cũng có 3 bậc: Tu Nghi, Tu Dung và Tu Viên
“Tần” thuộc cung giai bậc ba, bao gồm 9 bậc: Quí, Hiền, Trang, Đức, Thục, Huệ, Lệ, An và Hòa Tần
“Chiêu” thuộc cung giai bậc bốn, có 3 bậc: Chiêu Nghi, Chiêu Dung và Chiêu Viên
“Sung” thuộc cung giai bậc năm, gồm 3 bậc: Sung Nghi, Sung Dung
dụ tổ chức lại mạng lưới Nữ quan trong cung
Người đứng đầu trong nội cung lúc đó là bà Hoàng thái hậu (mẹ đẻ vua), được xem như vị tổng chỉ huy tối cao, nắm giữ tất cả mọi quyền hành trong nội cung Hoàng quý phi vẫn là người chịu trách nhiệm hậu cần Từ Hoàng Quý Phi trở xuống có 9 bậc được quy định:
Bậc nhất: Quý phi, Hiền phi, Thận phi
Bậc nhì: Đức phi, Thục phi, Huệ phi
Bậc ba: Quý tần, Hiền tần, Trang tần
Bậc bốn: Thục tần, Huệ tần
Bậc năm: Lệ tần, An tần, Hòa tần
Bậc sáu: Tiệp dư
Bậc bảy: Quí nhân
Bậc tám: Mỹ nhân
Bậc chín: Tài nhân
Từ đó về sau, khi nói đến cung giai bậc nhất người ta gọi là Đệ Nhất Giai Phi, Đệ Nhị Hiền Phi, Đệ Tứ Thục Tần,…
Trang 28Ngoài ra còn một số người đẹp được tuyển vào cung nhưng chưa được xếp bậc nào hiện đang ở các viện, được gọi là “ Tài Nhân vị nhập giai” [13; tr.43-45]
Sang đến đời vua Thiệu Trị, chức vụ cấp bậc của các Nữ quan được đinh lại, bổ sung thêm một số chi tiết và làm rõ thêm một số nhiệm vụ các Nữ quan kiêm nhiệm Sáu bậc Nữ quan ở Lục Thượng, quản lí mọi việc vẫn là bậc đầu, thâu tóm mọi việc vẫn là bậc thứ, thừa hành mọi việc vẫn là bậc giữa Tùy sự quản ban là bậc á, Tòng sự Lĩnh ban là bậc thấp, Trưởng ban là bậc cuối, tất cả đều có lệ thuộc với nhau [7; tr.117-119]
Như vậy, các vua triều Nguyễn đã có sự tổ chức phân công quản lí một cách chặt chẽ, rõ ràng, phân công trách nhiệm của từng bộ phận, từng người một cách khá hoàn hảo
Tóm lại, hậu cung cũng giống như triều chính, có tổ chức các thứ bậc quan lại rất rõ rệt với những nhiệm vụ rất rõ ràng Địa vị cao nhất và nhiều việc nhất là Hoàng quý phi tức vợ chính thức của vua; dưới đó là cả một hệ thống các thứ bậc thấp hơn với những áp lực công việc ít hơn Tất cả tuy rõ ràng nhưng lại rất rắc rối, và chỉ cần một sắp đặt không hợp lý là có thể làm rối tung cả một hệ thống Song về thực tế, chốn hậu cung lại nổi bật với những rắc rối về sự ân sủng, quyền lợi hơn là mâu thuẫn về công việc như vậy
Trang 291.4 Tiểu kết chương 1
Ở Việt Nam, triều Nguyễn là triều đại phong kiến cuối cùng, vấn đề hậu cung ngoài những điểm tương đồng thì còn rất nhiều điểm đặc biệt và mới mẻ
Cũng giống như các triều đại phong kiến trước, đa phần phi tần triều Nguyễn đều có xuất thân hết sức danh giá, họ thường là nữ tử của các quan lại
có chức tước, địa vị trong triều đình Một số rất ít là những bà có xuất thân từ gia đình thường dân, tuy nhiên họ phải là con nhà hiền lương, sắc đẹp phải thực sự nổi trội để làm vua say đắm
Các bà vợ vua nhập cung cũng theo cách thức không có gì khác lạ, dựa theo chức tước của cha là quan lại của triều đình, họ được tiến dâng vào cung chỉ một số ít bà là do vua tự chọn lựa, trường hợp này cũng phải là những người thực sự xuất sắc cả về tài sắc lẫn đức độ
Trong Tử Cấm Thành, các bà phi tần được sắp xếp theo địa vị rất rõ ràng, qua mỗi đời vua cai trị lại có những thay đổi cho phù hợp và ngày càng chặt chẽ hơn Bởi vậy hậu cung xét trên khía cạnh chức tước địa vị thì rất quy
củ trật tự song nội tình lại có rất nhiều phức tạp
Trang 30CHƯƠNG 2 SINH HOẠT CỦA PHI TẦN TRIỀU NGUYỄN (1802-1858)
2.1 Sinh hoạt thường nhật
2.1.1 Nơi ở
Bởi vì mỗi ông vua đều có rất nhiều vợ, nội cung của vua là nơi cả hàng trăm bà phi tần vợ vua sinh sống, vì thế có Tam Cung và Lục Viện là nơi ở của những người vợ vua
Tam cung là ba cung lớn có kiến trúc bề thế lộng lẫy dành cho ba người phụ nữ có địa vị cao nhất trong chốn hậu cung là bà nội vua, mẹ đẻ vua và vợ chính của vua Bà nội của vua là người được vua vô cùng tôn kính, bà ở trong cung Nhâm Ngọ - cung điện được xây lần đầu tiên cho bà nội vua Minh Mạng với đầy đủ mọi tiện nghi Mẹ của vua là Hoàng Thái hậu, bà ở trong cung Trường Thọ, được Vua Gia Long xây dựng năm Quý Hợi (1803) Người thứ
ba trong nội cung nắm quyền quản lí lục viện là Hoàng quý phi
Hoàng qúy phi sống và sinh hoạt tại một cung riêng, đó là cung Khôn Thái, cung này nằm trong khu vực Tử Cấm Thành ngay bên sau điện Càn Thành chỗ vua ở Dưới triều Vua Gia Long cung này có tên là cung Khôn Đức Điện chính của cung Khôn Thái là điện Cao Minh Trung Chính xây theo
kiểu “trùng thiềm điệp ốc gồm chính tịch 7 gian, tiền và hậu tịch 9 gian; đông
và tây có hai hiên” [7; tr.108] Hiên ở phía đông của cung này là viện Tĩnh
Quan, một kiểu nhà hát chỉ dành riêng cho vua và người nội cung xem Sự trang hoàng và kiến trúc nội thất của cung Khôn Thái được Michel Đức Chaigneau miêu tả nhân khi ông còn nhỏ, được dịp diện kiến Hoàng hậu (vợ vua Gia Long) cho chúng ta hình dung về một bức tranh sinh động về cung điện của vợ vua Nó mang đặc điểm địa vị của người cai quản cả lục viện trong Tử Cấm Thành
“Phòng Hoàng hậu cũng rộng gần bằng phòng trước nhưng rất đẹp
nhờ vô số vật trang hoàng cũng như đồ đạc, đâu đâu cũng sáng chói và kiểu
Trang 31sa lộng lẫy, và không khí mà người ta thở ở đây tỏa ra một mùi hương hỗn hợp của tinh hương dịu dàng, của gỗ bạch đàn, của hoa và của khói thuốc lào ướp với một loại hoa nhỏ mà người ta gọi là “hoa ngâu” Mặc dầu trời đã tối nhưng người ta còn có thể phân biệt rõ ràng những vật nhỏ nhất ở trong chốn cao sang này, các bức mành mành treo ở cửa vào đã được vén lên Một cái bệ không cao lắm, nhưng bốn cạnh đều gắn đầy các đồ chạm trổ được thếp vàng trên một nền sơn đỏ, đặt trước cửa lớn trông ra một vườn cảnh Đó là đồ đạc duy nhất ở nơi đây được dùng làm ghế hay giường ngủ của bà chủ Các bà
mà Hoàng hậu cho phép ngồi trước mặt bà ta phải ngồi trên chiếu ở một bậc thấp hơn Mình được phủ toàn một thứ đoạn màu vàng thêu hoa, Hoàng hậu dựa tay một cách dịu dàng lên một chiếc gối vuông bao bọc bằng một thứ lụa màu vàng, có thêu hoa bằng vàng, và xung quanh bà có một số rất đông các
bà khác, răng đen nhánh, mặc áo lụa dài màu sắc khác nhau, những người này thì chít khăn, các người kia thì để tóc trần, tất cả đều đứng thẳng, chân không với một thái độ rất cung kính Toàn thể khung cảnh ấy tạo nên một cảnh tượng có vẻ thần diêu và oai nghiêm
Hoàng hậu không trẻ nhưng rất có duyên, phong thái của bà rất đáng kính, và thấy tôi vào, bà nở một nụ cười đầy khoan thứ (…)” [1; tr.45]
Ngoài ba cung lớn dành cho ba người đàn bà có uy quyền nhất trong chốn hậu cung, năm 1811 vua Gia Long cho xây điện Trinh Minh để làm nơi
ăn chốn ở cho các bà phi mà vua vô cùng sủng ái Cùng với điện Minh Trinh, trong Tử Cấm Thành còn có 6 viện khác nằm ở phía Tây của cung chính, nghĩa là ở bên phải điện Càn Thành Đầu tiên là viện Thuận Huy, được dùng làm chỗ ở của các bà vợ được phong bậc Tam, Tứ, Ngũ giai Tần, chẳng hạn như Huệ Tần, Thục tần,…
Phía tây viện Thuận Huy là 5 viện còn lại, đó là viện Đoan Thuận, Đoan Huy, Đoan Trang, Đoan Tường, Đoan Hòa
Trang 32Từ Lục giai Tiệp dư đến Cửu giai Tài nhân chia nhau ở tại 3 viện ở phía Tây Bắc cung Khôn Thái: Đoan Tường, Đoan Thuận, Đoan Hòa
Các cung nhân chưa được sắc phong, thị nữ hầu hạ, thái giám thì chia nhau ở tại 2 viện: Đoan Huy và Đoan Trang Viện Đoan Trang còn là nơi dạy
lễ nghi cung đình cho các cung nhân mới nhập cung [7; tr.109]
Có thể thấy rằng, việc phân chia nơi ăn chốn ở đã rất rành mạch từ thời vua Gia Long, mỗi thứ bậc địa vị cao thấp sẽ ở các cung hay viện khác nhau Bao giờ người ở thứ bậc cao cũng có nơi ở thoải mái và kẻ hầu người hạ hơn
là những bà vợ vua có địa vị thấp hơn
2.1.2 Trang phục
Triều Nguyễn có những quy định khác biệt về trang phục cho các giai tầng trong xã hội, dựa trên các tiêu chí: chất liệu vải, màu sắc, cách may, họa tiết trang trí, thậm chí cả số lượng y phục dành cho từng hạng người cũng có những quy định rất chặt chẽ Các loại vải lụa dùng để may trang phục, mũ mão cho vua chúa, hoàng thân quốc thích đều là hàng cao cấp, do triều đình đặt mua ở Trung Hoa Các vua Gia Long và Minh Mạng thường sai sứ thần sang Trung Hoa mua gấm đoạn ở các vùng Nam Kinh, Giang Nam về để cung đốn cho nhu cầu trang phục của hoàng gia
Trang phục, áo quần của cung phi phải mặc theo đúng nghi thức quy định Không được mặc màu đen vì đó là màu xấu gợi sự tang tóc, màu trắng chỉ đựơc dùng làm áo lót khi mặc áo mớ ba, màu đỏ và màu lục được dùng nhiều nhất Màu vàng dành cho Vua, Hoàng Thái hậu và Hoàng hậu Sự phân biệt mũ áo Hoàng hậu và các cung giai rất rõ ràng, chi tiết
“Đại Nam hội điển sự lệ” ghi:
“Gia Long năm thứ 6 (1807), phụng soạn các hạng mũ áo kính tiến
Hoàng hậu dùng: mũ chín con rồng, cặp tóc bằng vàng 2 chiếc, mũ 9 con phượng, cặp tóc bằng vàng 1 chiếc, trâm con phượng 8 cái, áo sa sợi, màu vàng thêu rồng phượng, chim trĩ, chim loan 20 chiếc, áo bào bằng tơ đậu 8
Trang 33sợi, màu đỏ thêu rồng, phượng 1 chiếc, xiêm bằng tơ đậu 8 sợi, màu trắng thêu rồng phượng 1 chiếc
Lại ban thưởng mũ áo cho tả hữu cung tần: cung tần bậc nhì: mũ 5 con phượng, cặp tóc bằng vàng 1 chiếc, trâm hoa 10 chiếc, áo sa sợi tơ màu đỏ dệt đoàn loan (hoa bông tròn trong có hình chim loan) nhật bình 1 chiếc Xiêm bằng tơ đậu 8 sợi, màu trắng, dệt đoàn loan 1 chiếc
Cung tần bậc ba: mũ 3 con phượng, cặp tóc bằng vàng 1 cái, trâm hoa
8 cái Áo sa sợi to sắc tía chính, dệt đoàn phượng nhật bình 1 chiếc Xiêm bằng tơ đậu 8 sợi, màu trắng, dệt đoàn loan
Cung tần bậc bốn: mũ 1 con phượng, cặp tóc bằng vàng 1 chiếc, trâm hoa 8 cái, áo sa sợi to sắc tía nhạt, dệt đoàn loan nhật bình 1 chiếc Xiêm bằng tơ đậu 8 sợi, màu trắng, dệt chim loan 1 chiếc
Thiệu Trị năm thứ 6 (1846), châu phê: cung tần bậc nhất, bậc nhì mũ phượng bằng vàng, đều 3 bác sơn Duy bậc nhất 8 con phượng, bậc nhì 7 con phượng, bậc ba trên búi tóc có trâm con phượng, bậc tứ giai bậc ngũ giai trên búi tóc không có trâm như thế để cho phân biệt” [22; tr.235]
Trên áo mão của các vua hậu triều Nguyễn thường đính vàng bạc, trân
châu, kim cương để tăng thêm giá trị và uy nghi Cũng theo sách Khâm định
Ðại Nam hội điển sự lệ, trên mũ của hoàng hậu có 9 con rồng, 9 con phượng
bằng vàng tốt, 9 miếng bồn khoan bằng bạc, 4 cái trâm bằng bạc có gắn 198 hạt trân châu và 231 hạt pha lê Khăn bịt trán thì làm bằng đoạn bát ti (vải đoạn dệt từ tơ xe 8 sợi) màu thiên thanh, bên trong lót lĩnh đại tào màu vàng, trang sức 4 cái khuyên vàng tốt và 4 sợi dây tơ Trên áo của cung giai hình chim phượng đã được giản lược so với vua và hoàng ậu, những con rồng, phượng được cách điệu thành chim loan, số đồ trân bảo đính kèm cũng ít hơn
Tất cả áo mũ, xiêm y, hài ủng của vua hậu cho đến phi tần, cung giai, tùy theo thứ bậc mà đính vàng bạc, trân châu nhiều hay ít nhưng cái nào cũng
có