Đối với đề tài "Hoạt động của người Việt tại Thái Lan" đã được các học giả nghiên cứu ở những khía cạnh khác nhau Cuốn sách do Viện sử học xuất bản “Hoạt động cách mạng của Người Việt ở
Trang 3Em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo ở khoa Lịch sử - Trường Đại học
Sư phạm Hà Nội 2 đã tận tình giảng dạy, góp ý cho em trong suốt quá trình học tập và rèn luyện
Xin cảm ơn sự động viên, cổ vũ của bạn bè và gia đình em
Hà Nội, ngày 05 tháng 05 năm 2018 Sinh viên
Nguyễn Thị Hương
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan những nội dung em đã trình bày trong khóa luận này là kết quả nghiên cứu của bản thân em dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Thị Tuyết Nhung Những nội dung này không trùng lặp với kết quả nghiên cứu của tác giả nào khác
Em xin chịu trách nhiệm về kết quả nghiên cứu của cá nhân mình trong khóa luận này
Hà Nội, ngày 05 tháng 05 năm 2018
Sinh viên
Nguyễn Thị Hương
Trang 5
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 1
LỜI CAM ĐOAN 4
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Phạm vi nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 4
5 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 5
4 Đóng góp của đề tài 5
5 Bố cục của khóa luận 6
NỘI DUNG 7
CHƯƠNG 1: QUÁ TRÌNH DI CƯ CỦA NGƯỜI VIỆT ĐẾN THÁI LAN TỪ NĂM 1884 ĐẾN NĂM 1946 7
1.1 Những nhân tố tác động tới quá trình di cư của người Việt đến Thái Lan 7
1.1.1 Điều kiện địa lý – dân cư - văn hóa 7
1.1.2 Tình hình Việt Nam và Thái Lan cuối thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX 9
1.2 Quá trình di cư của người Việt đến Thái Lan 14
1.2.1 Thời kỳ Nguyễn Ánh chạy sang cầu cứu vua Xiêm từ năm 1784 đến năm 1787 15
1.2.2 Thời kỳ Pháp thuộc 17
CHƯƠNG 2: HOẠT ĐỘNG KINH TẾ - CHÍNH TRỊ - 21
VĂN HÓA - XÃ HỘI CỦA NGƯỜI VIỆT Ở THÁI LAN 21
TỪ NĂM 1884 ĐẾN NĂM 1946 21
2.1 Trên lĩnh vực kinh tế 21
2.2 Trên lĩnh vực chính trị 24
2.2.1 Hoạt động cách mạng của những người Việt ở Thái Lan 25
Trang 62.2.2 Hoạt động cách mạng của Phan Bội Châu 29
2.2.3 Hoạt động của cách mạng của Đặng Thúc Hứa 32
2.2.4 Hoạt động của cách mạng của Nguyễn Ái Quốc (1928-1929) 38
2.3 Trên lĩnh vực văn hóa - xã hội 44
2.4 Nhận xét về hoạt động của người Việt tại Thái lan giai đoạn 1884 – 1946 48
2.4.1 Về quá trình di cư của người Việt ở Thái Lan 48
2.4.2 Về hoạt động của người Việt ở Thái Lan 49
KẾT LUẬN 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO 54
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong tiến trình phát triển của lịch sử loài người luôn có một hiện tượng xảy ra
và gần như đã trở thành quy luật, đó là sự di cư của các cộng đồng người ra ngoài lãnh thổ mà mình sinh sống Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện tượng trên như
sự biến động về chính trị, sự khó khăn về kinh tế, chiến tranh tôn giáo chính điều
đó đã làm cho quá trình di cư của người Việt ra ngoài lãnh thổ ngày một đông Nếu lịch sử đã chứng kiến sự di cư của người Anh đến vùng Bắc Mỹ giàu có hay sự di
cư của người Do Thái tránh nạn diệt chủng thì lịch sử cũng chứng kiến việc cộng đồng người Việt di cư ra nước ngoài Cộng đồng người Việt ở nước ngoài có khoảng 2.7 triệu người sinh sống ở trên gần 90 quốc gia và vùng lãnh thổ trên khắp thế giới1, 98% trong số đó tập trung ở 21 nước tại Bắc Mỹ, Châu Âu, Đông Nam
Á, Đông Bắc Á và châu Đại Dương
Mặc dù sống xa tổ quốc nhưng người Việt vẫn nuôi dưỡng, phát huy tinh thần yêu nước, giữ gìn truyền thống văn hóa và hướng về cội nguồn bằng những đóng góp về tinh thần, vật chất và cả xương máu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc Đặc biệt trong những năm gần đây nhiều người Việt đã đóng góp tích cực cho sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước góp phần vào việc phát triển kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục và đào tạo
Chính vì lẽ đó mà hiện nay Đảng và Nhà nước ta coi cộng đồng người Việt Nam
ở nước ngoài là một bộ phận khăng khít không thể tách rời và là nguồn lực to lớn của dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Bộ chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã coi công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị, của toàn dân Do đó mà đòi hỏi Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân, các ngành các cấp và toàn thể nhân dân ta cần coi đây là nhiệm vụ quan trọng nhằm phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc
1 Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, số 36 NQ/TW, “ Nghị quyết của bộ chính trị về công
tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài”, Hà Nội, 2004
Trang 8Trong các cộng đồng người Việt sống ở nước ngoài thì cộng đồng người Việt ở Thái Lan là những cộng đồng người Việt có lịch sử sớm và đông đảo nhất, lại sống gần gũi, có những thuận lợi trong việc đóng góp sức lực, trí tuệ, tiền của cho sự nghiệp giải phóng dân tộc không chỉ cho Việt Nam mà còn cả cho nước sở tại.Trong những năm tháng các nước Đông Dương bị thực dân thống trị ,cộng đồng người Việt ở Thái Lan không chỉ là nơi gặp gỡ, nuôi dưỡng các cán bộ cách mạng Việt Nam mà còn là nơi khởi nguồn cách mạng, xây dựng những tổ chức yêu nước,
hỗ trợ, giúp đỡ cho phong trào cách mạng các nước Đông Dương
Trong những năm tháng chống thực dân Pháp và quân phiệt Nhật ở Đông Dương, người Việt ở Thái đã có những hoạt động rất tích cực, đóng góp một phần sức lực của mình vào công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc Vì vậy, nghiên cứu đề tài "Hoạt động của người Việt tại Thái Lan (1884 – 1946) có ý nghĩa khoa học và thực tiễn, giúp hiểu rõ hơn những hoạt động kinh tế, chính trị - xã hội của người Việt ở Thái Lan
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Hoạt động của người Việt tại Thái Lan đã có những đóng góp to lớn đối với phong trào yêu nước Việt Nam Những đóng góp của kiều bào ở Thái Lan cho đến nay đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu đi sâu tìm hiểu Đối với đề tài "Hoạt động của người Việt tại Thái Lan" đã được các học giả nghiên cứu ở những khía cạnh khác nhau
Cuốn sách do Viện sử học xuất bản “Hoạt động cách mạng của Người Việt ở Thái Lan” đã trình bày một cách khá rõ ràng, mạch lạc về hoạt động, vai trò cách mạng của người Việt ở Thái theo từng giai đoạn khác nhau, trình bày cụ thể về những đóng góp của người Việt cho cách mạng trong và ngoài nước
Cuốn sách “Người Việt Thái Lan trong mối quan hệ Việt Nam – Thái Lan” của Trịnh Diệu Thìn và Thanyathip Sripana (NXB khoa học xã hội Hà Nội – 2006) đã tìm hiểu một cách khá đầy đủ về quá trình nhập cư của cộng đồng người Việt Nam vào Thái Lan, phong trào yêu nước của cộng đồng người Việt tại Thái Lan giai
Trang 9đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Chủ trương đường lối, chính sách của chính phủ Thái Lan đối với cộng đồng người Việt ở Thái Lan và người Việt hồi hương Cuốn sách "Cuộc vận động cứu quốc của Người Việt ở Thái Lan" của Lê Mạnh Trinh (NXB Sự Thật Hà Nội – 1961) cũng tiếp tục giới thiệu người Việt trong mối quan hệ Thái Lan - Việt Nam, quá trình nhập cư của cộng đồng người Việt và Thái Lan và phong trào yêu nước của cộng đồng Người Việt Thái Lan giai đoạn cuối thế
kỷ XIX đầu thế XX
Cuốn "Người Việt ở Thái Lan - Campuchia - Lào" của Nguyễn Quốc Lộc (NXB Văn Nghệ - 2006) viết về Người Việt ở Thái Lan và viết về quá trình nhập cư của động cộng đồng người Việt ở Thái Lan
Trên đây là những công trình nghiên cứu của các nhà khoa học về người Việt ở Thái Lan và những hoạt động của người Việt hướng về cách mạng trong nước và cách mạng Đông Dương Có thể nói, những cuốn sách này là tài liệu quan trọng để chúng tôi tham khảo và hoàn chỉnh khóa luận của mình
Ngoài ra phải kể đến rất nhiều bài báo, tạp chí, tư liệu của các tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu vai trò của Người Việt ở Thái Lan Những trang web trên mạng internet, những hồi ký của các nhân vật đương thời cũng là kho tài liệu quý báu để chúng tôi tham khảo
Các bài viết, tạp chí đều đã đề cập đến những khía cạnh khác nhau về hoạt động cách mạng của người Việt tại Thái Lan Song việc nghiên cứu hoạt động cụ thể như phát triển kinh tế, văn hóa, chinh trị thì còn chưa đi sâu tìm hiểu toàn diện Do vậy, chúng tôi xin mạnh dạn đi sâu tìm hiểu vấn đề này, mong muốn làm rõ hơn hoạt động của người Việt tại Thái Lan (1884 – 1946)
3 Phạm vi nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu
3.1 Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian nghiên cứu hoạt động của người Việt tại Thái Lan, chúng tôi chọn mốc 1884 là vì là năm gắn liền với hiệp ước Patơnốt mốc đánh dấu nhà Nguyễn chính thức thừa nhận sự thống trị của Thực dân Pháp, lúc này trong nước diễn ra nhiều biến động chính trị lớn, cũng là lúc người Việt đi lánh nạn sang Thái
Trang 10Lan đông nhất, sau này cũng chính bộ phận này đã làm tiền đề, cơ sở cho việc thành lập các căn cứ cách mạng tại vùng Đông Bắc Thái Lan, đóng góp một phần sức lực vào cuộc giải phóng dân tộc
Trong khi đó, mốc kết thúc là năm 1946, cũng là mốc đánh dấu người Việt từ Lào sang Thái Lan để tránh sự đàn áp và khủng bố của Thực dân Pháp, cũng như xây dựng hoài bão cứu nước, số người Việt di cư giai đoạn này cũng là nòng cốt cho phong trào yêu nước của người Việt ở Thái Lan sau này
Không gian là các hoạt động kinh tế-chính trị-văn hóa-xã hội của người Việt trên đất nước Thái lan giai đoạn 1884-1946
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là "Hoạt động của người Việt ở Thái Lan (1884–1946)"
4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
4.1 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sử dụng những phương pháp sau: Phương pháp lịch sử, tức là phải dựa vào các tư liệu lịch sử, các sự kiện lịch
sử, trên cơ sở đó xử lý, lựa chọn trình bày và rút ra kết luận
Kết hợp chặt chẽ phương pháp lịch sử với phương pháp logic trong quá trình
xử lý và trình bày, đánh giá các sự kiện lịch sử
Trong xử lý tài liệu chúng tôi xử dụng phương pháp tổng hợp, so sánh thẩm định đối chiếu giữa các nguồn tư liệu
4.2 Nguồn tư liệu
Khóa luận được nghiên cứu chủ yếu dựa trên các nguồn tư liệu sau:
Nguồn tư liệu trong nước qua các hồi kí, các tạp chí, các bài viết, các đề tài nghiên cứu, các sách tham khảo của những nhà nghiên cứu Việt Nam viết về hoạt động, vai trò của người Việt tại Thái Lan đối với cách mạng trong nước và cách mạng Đông Dương, đặc biệt các công trình nghiên cứu của các sử gia Việt Nam và Thái tại Viện Khoa học Xã hội Việt Nam - Viện nghiên cứu Đông Nam Á, các tài liệu của đại sứ quán Thái Lan, các văn kiện Đảng Cộng sản Việt Nam
Trang 115 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
5.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để làm sáng tỏ mục đích nghiên cứu trên cần tập trung giải quyết các nhiệm vụ
cơ bản sau:
Tìm hiểu được những yếu tố tác động tới quá trình di cư của người Việt đến Thái Lan như: điều kiện địa lý – dân cư - văn hóa, đồng thời phân tích rõ tình hình Việt Nam cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, tình hình Thái Lan cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX và quá trình di cư của người Việt đến Thái Lan
Làm rõ được các hoạt động kinh tế - chính trị - xã hội của người Việt ở Thái Lan
từ năm 1884 đến năm 1946 Trong hoạt động chính trị cần làm nổi bật lên vai trò của người Việt đối với cách mạng trong nước và đối với cách mạng của nước sở tại Bên cạnh đó, cần đánh giá, nhận xét về vai trò của một số nhà yêu nước như Phan
Bộ Châu, Đặng Thúc Hứa, Nguyễn Ái Quốc
Đưa ra được những nhận xét khách quan về các hoạt động kinh tế - văn hóa, chính trị của người Việt tại Thái Lan giai đoạn 1884 – 1946
4 Đóng góp của đề tài
Giải quyết được các nhiệm vụ đặt ra, khóa luận có thể có những đóng góp sau: Đưa ra cái nhìn khái quát và có hệ thống về quá trình di cư cững như các hoạt động kinh tế - văn hóa, chính trị, những đóng góp tích cực của người Việt trên đất Thái Lan đối với cách mạng Việt Nam giai đoạn 1884 -1946
Bổ sung tư liệu cho việc nghiên cứu, giảng dạy về hoạt động của người Việt tại Thái Lan giai đoạn 1884 – 1946 trên tất cả các lĩnh vực đời sống cũng như hoạt động cách mạng, hoạt động yêu nước
Trang 125 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, khóa luận được bố trí thành 2 chương: Chương 1: Quá trình di cư của người Việt đến Thái Lan từ năm 1884 đến năm 1946 Chương 2: Hoạt động kinh tế - chính trị - xã hội của người Việt ở Thái Lan từ năm
1884 đến năm 1946
Trang 13NỘI DUNG CHƯƠNG 1 QUÁ TRÌNH DI CƯ CỦA NGƯỜI VIỆT ĐẾN THÁI LAN
TỪ NĂM 1884 ĐẾN NĂM 1946
1.1 Những nhân tố tác động tới quá trình di cư của người Việt đến Thái Lan
Quá trình nhập cư của cộng đồng người Việt vào vương quốc Xiêm trước đây là quá trình diễn ra lâu dài với nhiều đợt nhập cư khác nhau Nhìn chung quá trình nhập cư của cộng đồng người Việt diễn ra liên tục suốt từ giữa thế kỉ XVIII,
kể từ thời vương triều Ayuthaya, đến vương triều Thôn Buri
Vào thế kỉ XIX, quá trình di cư của người Việt đến Thái Lan ngày một đông Quá trình đó kéo dài cho đến những năm 40 của thế kỉ XX Người Việt đã chọn Thái Lan làm điểm dừng chân khi di cư, khi hoạt động cách mạng, lúc này Thái Lan
có những nhân tố vô cùng thuận lợi, đã tác động đến quá trình di cư của người Việt lúc bấy giờ
1.1.1 Điều kiện địa lý – dân cư - văn hóa
Thái Lan là quốc gia Đông Nam Á, phía bắc giáp Lào và Myanma, phía đông giáp Lào và Campuchia, phía nam giáp vịnh Thái Lan và Malaysia, phía tây giáp Myanma và biển Andaman Lãnh hải Thái Lan phía đông nam giáp với lãnh hải Việt Nam ở vịnh Thái Lan, phía tây nam giáp với lãnh hải Indonesia và Ấn
Độ ở biển Andaman Thái Lan có đất rộng (513.115 km2, đứng thứ 3 trong khu vực sau Indonesia và Myanmar), người đông ( khoảng 67 triệu người2, đứng thứ 4 sau Indonesia, Philippine và Việt Nam) Khoảng 75% dân số là dân tộc Thái, 14% là người gốc Hoa và 3% là người Mã Lai, phần còn lại là những nhóm dân tộc thiểu số như Môn, Khmer và các bộ tộc khác Có khoảng 2,2 triệu người nhập cư hợp pháp
và bất hợp pháp ở Thái Lan Ngôn ngữ chính thức là tiếng Thái
Thái Lan cũng từng được gọi là Xiêm (Siam), đây là tên gọi chính thức của
nước này đến ngày 23 tháng 6 năm 1939 khi nó được đổi thành Thái Lan Từ năm
1945 đến ngày 11 tháng 5 năm 1949, tên Thái Lan lại được đổi lại thành Xiêm Sau
2 Theo điều tra dân số năm 2000
Trang 14đó nó được đổi lại thành Thái Lan như ngày nay Tuy tên nước trước đây là Xiêm
và ngày nay là Thái Lan nhưng người Thái Lan vẫn quen gọi đất nước mình là “ Pra-thết Thay” (tức “Đất nước của người Thay”) Họ sẽ cảm thấy không thoải mái lắm nếu vì lý do phát âm mà gọi họ là người Tai hay người Tay Bởi vì “Tai” theo ngôn ngữ của họ có nghĩa là chết hoặc “Tay” thì không có nghĩa gì cả trong khi đó
“ Thay” có nghĩa là tự do
Về địa lý, Thái Lan rất gần Việt Nam Từ thành phố Hồ Chí Minh đến thủ đô Bangkok của Thái Lan đi đường biển 1.180 km, còn đường hàng không dài 865 km với 1h10’ bay Con đường bộ tuyến Đông – Tây nối Việt Nam với Lào, Thái Lan và Myanmar dài 1.500 km Khởi hành vào buổi sáng ở Việt Nam, buổi chiều đã đến đất Thái Lan
Bên cạnh vị trí địa lí gần, Thái Lan cũng có một nền văn minh nông nghiệp lúa nước từ rất lâu đời, nhiều đặc điểm tương đồng với Việt Nam ta Họ là cư dân trồng lúa nước, có nhiều kinh nghiệm với hệ thống thủy lợi phong phú và hoàn hảo Chính phương thức canh tác lúa nước đã tạo cho họ một lối sống truyền thống mà vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay Trải qua bao đời tới những biến động lịch sử văn hóa khác nhau nhưng người Thái ở nông thôn Thái Lan vẫn có cuộc sống gia đình theo kiểu gia đình hạt nhân mở rộng Tức là các thành viên trong gia đình gồm ông
bà, cha mẹ, con cái, chú bác, cô dì, cháu chắt cùng sống trong một ngôi nhà lớn hoặc nhiều nhà quây quần bên nhau Nhiều gia đình khác nhau thì lại sống quần tụ trong một cộng đồng làng xã Người nông dân Thái Lan sống trong gia đình của mình với nếp sống và nếp nghĩa giản dị, nhân từ và khoan dung
Người nông dân Thái Lan sống trong những ngôi nhà sàn giản dị được làm bằng tre, bằng gỗ với những mái được lợp bằng lá cọ, bằng ngói, gỗ và sau này còn lập bằng những tấm tôn gấp nếp Hầu như ngôi nhà nào cũng chỉ có một gian lớn nhưng trong đó được bố trí sắp đặt rất hợp lý, gọn gàng đáp ứng được mọi nhu cầu
về ăn, ở của các thành viên trong gia đình Người nông dân Thái Lan rất thích ở nhà sàn vì họ cho rằng nhà sàn là loại nhà thoáng mát, tránh được lũ lụt và thú dữ Khoảng không gian dưới sàn nhà được gọi là gầm sàn, thường là cao hơn đầu người
Trang 15lớn Ở đây ban đêm nhốt gia xúc, ban ngày được quét dọn sạch sẽ để làm nơi đan lát, quay tơ, kéo sợi, giã gạo, khâu vá và thậm chí còn là nơi tốt nhất để lưng vào mỗi buổi trưa Có thể nói nhà ở của người nông dân Thái Lan rất giống với các ngôi nhà sàn của một số dân tộc thiểu số phía Bắc nước ta, tạo nên sự gần gũi nhất định khi người Việt di cư sang Thái Lan
Không những vậy, Phật giáo còn ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc sống cũng như văn hóa, tín ngưỡng của người Thái Lan Chẳng thế mà ngày nay Thái Lan được ưu
ái gọi bằng cái tên “Xứ sở chùa vàng” Một trong những yếu tố tương đồng giống người Việt Nam, làm nên tính thân thiện, sẵn sàng thiện chí, hào hiệp, nồng hậu và vui vẻ khi giúp đỡ những người Việt di cư sang đây
Bên cạnh đó, vào cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX hầu hết các nước Đông Nam Á đều trở thành thuộc địa của các nước thực dân phương Tây, trong đó có Việt Nam nhưng riêng Thái Lan thì không Với những chính sách ngoại giao mềm dẻo
và tiếp thu tư tưởng tiến bộ mà Thái Lan đã giữ vững được độc lập, thoát khỏi âm mưu của các nước thực dân phương Tây Đây cũng là một trong những yếu tố quan trọng khiến người dân Việt Nam chọn Thái Lan làm điểm đến khi di cư cũng như khi hoạt động cách mạng
Chính vì vậy, bằng nhiều yếu tố khách quan như: sự thuận lợi trong vị trí địa
lý, bằng nhiều nét tương đồng trong lối sống văn hóa, tín ngưỡng, Thái Lan đã trở thành địa bàn cư trú cũng như hoạt động cách mạng tích cực của các lớp người Việt Nam di cư sang sinh sống hay làm cách mạng
1.1.2 Tình hình Việt Nam và Thái Lan cuối thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX 1.1.2.1 Tình hình Việt Nam
Thế kỉ XIX là thế kỉ mang đầy biến động lịch sử, cả trên thế giới cũng như Việt Nam Những năm cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX, chủ nghĩa tư bản phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ Đây là thời kì chủ nghĩa tư bản từ giai đoạn tự do cạnh tranh chuyển dần sang giai đoạn độc quyền, tức chủ nghĩa đế quốc Nhu cầu về thị trường, nguyên, nhiên vật liệu cũng như thuộc địa ngày càng tăng cao Trước nhu cầu đó, các nước thực dân phương Tây đã tiến hành hàng loạt các cuộc chiến xâm
Trang 16lược, bành trướng, tìm kiếm thuộc địa Trong số đó, khu vực Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng không thể tránh khỏi nguy cơ bị biến thành thuộc địa của các nước thực dân phương Tây
Năm 1802, nhà Nguyễn được thành lập Trong nửa thế kỉ thống trị, trên một đất nước vừa trải qua nhiều biến động lớn, nhà Nguyễn đã ra sức củng cố quyền thống trị, phục hồi kinh tế, chấn chỉnh văn hóa Tuy nhiên, trong điều kiện giai đoạn suy tàn của chế độ phong kiến Việt Nam, với tư tưởng thủ cựu, nhà Nguyễn đã không tạo ra cơ sở cho một bước phát triển mới Từ thế kỉ XVIII đến giữa thế kỉ thứ XIX, chế độ phong kiến Việt Nam đã bước vào giai đoạn khủng hoảng, những mâu thuẫn xã hội nảy sinh, biểu hiện bằng những cuộc bạo loạn và khởi nghĩa nông dân bùng phát trên phạm vi cả nước Giữa lúc đó các nước phương Tây trên con đường phát triển tư bản chủ nghĩa ráo riết bành trướng thế lực sang phương Đông Sau một thời gian điều tra, tìm hiểu, tư bản Pháp đã tìm cách thực hiện âm mưu xâm lược Việt Nam thông qua hoạt động một số giáo sĩ trong hội truyền giáo nước ngoài của Pháp Bằng nhiều thủ đoạn, thực dân Pháp đã thiết lập những cơ sở chính trị xã hội đầu tiên trên đất nước ta, dọn đường cho cuộc chiến tranh xâm lược sắp tới
Giữa lúc này, triều đình nhà Nguyễn lại ra chính sách cấm đạo hà khắc Dưới thời Gia Long trị vì đạo Thiên chúa được truyền bá trên đất nước ta vì ông mang ơn Giám mục Bá Đa Lộc, Tuy nhiên, Gia Long vẫn thấy nguy cơ về mất chủ quyền mỗi khi cơ hội đến với phương Tây thông qua con đường bảo vệ đạo Thiên chúa nên ông căn dặn người kế vị (Minh Mạng) không nên đối xử phân biệt giữa các đạo Nho, Phật, Thiên chúa giáo Việc khủng bố tôn giáo sẽ là nguyên nhân dẫn đến các biến động xã hội và gây ra thù oán trong nhân dân, đôi khi làm sụp đổ cả ngôi vua Nhưng đến thời vua Minh Mạng thì lại thi hành chính sách cấm Đạo Năm 1832,
Minh Mạng ra dụ: “Cái thuyết thiên đường, tóm lại chỉ là chuyện hoang đường,
không có bằng chứng Hơn nữa nếu không kính thần minh, không thờ tiên tổ thì rất trái với chính đạo Những việc trái luân lý, hại phong hóa, điều ấy kể ra còn nhiều, thực đã phạm đến pháp luật Đạo ấy quy là tà đạo hơn đạo nào hết” [9, tr.235]
Trang 17Vua lệnh cho các quan sở tại, hễ có người truyền đạo đến chỗ mình thì lấy cớ mời về kinh để dịch kinh sách, nhiều nơi vua còn bắt mọi người phải bỏ đạo, ai bắt
được giáo sĩ thì được trọng thưởng “Minh Mạng cho là các Giáo sĩ xúi dân làm
loạn nên đem linh mục Marchand xử lăng trì và từ đó việc bắt bớ giáo dân và giáo
sĩ ngày càng gay gắt” [10, tr.103]
Duới thời Thiệu Trị thì vẫn thực hiện chính sách cấm đạo, nhưng hòa hoãn hơn nhiều so với thời Minh Mạng Vua cho thả một số giáo sĩ bị bắt giam từ trước Nhưng chớ trêu thay dưới thời Thiệu Trị xảy ra vụ đụng độ liên quan đến truyền giáo và việc tàu Pháp bắn chìm tàu An Nam nên Thiệu Trị vô cùng tức giận, lại ra lệnh truyền việc cấm đạo như trước
Dưới triều Tự Đức lệnh cấm đạo vẫn được ban hành cùng những biến động trong cung đình và xã hội đã làm cho thế nước rã rời, suy yếu Lấy cớ bảo vệ giáo sĩ
và giáo dân bị sát hại, liên quân Pháp – Tây Ban Nha đem quân tấn công vào Đà Nẵng (1858) có một số giáo sĩ và giáo dân làm nội ứng, tình hình sát đạo trở nên phổ biến và khốc liệt hơn, nhất là sau khi triều đình cho thực hiện lệnh “phân tháp giáo dân” năm 1861 Một cuộc chiến tranh mang tính trả thù của người nắm quyền lực đối với những làng theo đạo và giáo dân không vũ khí tự vệ vô cùng dã man chưa từng thấy trong lịch sử nước ta Triều đình Huế tưởng đó là giải pháp sáng suốt và hiệu quả nhằm tiêu diệt giáo dân và giáo xứ thì không ngờ sau đó thế nước lại rã rời hơn, Pháp cho quân đánh chiếm Gia Định buộc triều đình Huế ký hiệp ước năm 1862, chấp nhận cho các giáo sĩ được truyền giáo và quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân
Chính sách cấm đạo của các vua Nguyễn là một trong những nguyên nhân để liên quân Pháp - Tây Ban Nha đánh vào Đà Nẵng (1858) và cũng là một trong những nguyên nhân đưa đến sự thất bại của triều đình Tự Đức trong cuộc chiến chống Pháp vào thế kỷ XIX Chính sách đối với Thiên chúa giáo có liên quan trực tiếp đến chủ quyền và vận mệnh dân tộc là một sai lầm của triều Nguyễn để cả dân tộc phải trả giá bằng máu xương và sự sỉ nhục, đây cũng là một trong những lí do lớn khiến đã đẩy nhiều người Việt Nam rời bỏ quê hương đi sang cư trú ở các nước
Trang 18láng giềng, là bài học muôn thuở để các thế hệ Việt Nam tìm cho mình một chính sách tôn giáo đúng đắn, phù hợp trong từng giai đoạn lịch sử và bối cảnh chính trị trong nước và bối cảnh quốc tế” 3
Giữa thế kỷ XIX, Pháp mới có điều kiện tập trung lực lượng, tổ chức cuộc tấn công đánh chiếm Việt Nam Ngày 1 - 1 – 1858, liên quân Pháp - Tây Ban Nha
nổ súng đánh vào cửa biển Đà Nẵng mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược
Do thiếu đường lối chỉ đạo đúng đắn và quyết tâm kháng chiến của triều đình nhà Nguyễn cuối cùng Việt Nam đã rơi vào tay thực dân Pháp Hiệp ước ngày
6 - 6- 1884 (hiệp ước Pa-tơ-nốt) là hiệp ước cuối cùng đánh dấu sự đầu hàng hoàn toàn của triều đình phong kiến nước ta trước thế lực xâm lăng, kết thúc giai đoạn tồn tại của nhà nước phong kiến Việt Nam Độc lập Trái ngược với thái độ của triều đình Huế, ngay từ đầu nhân dân Việt Nam đã đứng dậy chiến đấu chống pháp, cuộc chiến tranh nhân dân bền bỉ, dẻo dai, đều khắp với tinh thần dũng cảm vô song đã khiến thực dân Pháp phải chịu nhiều tổn thất Phải mất hơn 26 năm thực dân Pháp mới hoàn thành được cuộc chiến tranh xâm lược và còn phải mất thêm 11 năm nữa
để tiến hành cuộc bình định quân sự mới, tạm thời thiết lập nền thống trị trên toàn cõi Việt Nam
Cuối thế kỷ XIX, ngọn cờ phong kiến đã tỏ ra lỗi thời, tiêu biểu đó là phong trào Cần Vương thất bại Giữa lúc đó, trào lưu tư tưởng dân chủ tư sản bắt đầu dội vào Việt Nam qua Nhật Bản, Trung Quốc và Pháp Đang trong lúc bế tắc về tư tưởng các sĩ phu yêu nước Việt Nam thời đó đã hồ hởi đón nhận những ảnh hưởng của trào lưu tư tưởng mới, họ cổ súy cho "văn minh tân học" mở cuộc vận động đổi mới trên nhiều lĩnh vực kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa Tuy nhiên, do tầm nhìn hạn chế và có những trở lực không thể vượt qua cuối cùng cuộc vận động yêu nước của các sĩ phu đầu thế kỷ XX đã thất bại Những cố gắng đáng khâm phục của họ đã tạo ra được một cuộc vận động theo khuynh hướng dân chủ tư sản chứ chưa có khả năng làm bùng nổ một cuộc cách mạng tư sản thực sự ở nước ta
3 CHÍNH SÁCH CỦA TRIỀU NGUYỄN ĐỐI VỚI THIÊN CHÚA GIÁO, PGS.TS Đỗ Bang Trường Đại học Khoa học Huế (VNH3.TB1.75)
Trang 19Như vậy, tình hình Việt Nam cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX đã dẫn đến làn sóng di cư của người Việt đến Thái Lan: do chính sách cấm đạo, chiến tranh, nghèo đói tạo ra một làn sóng di cư lớn trong nước, tác động không tốt tới tình hình xã hội cũng như chính trị lúc bấy giờ Chính trong bối cảnh lịch sử đó, Nguyễn Tất Thành đã ra đi tìm đường cứu nước, những hoạt động của Người trong thời kỳ này
là cơ sở quan trọng để người xác định con đường cứu nước đúng đắn cho cách mạng Việt Nam
1.1.2.2 Tình hình Thái Lan
Vào giữa thế kỷ XIX, cũng như các nước Đông Nam Á Vương quốc Xiêm4đứng trước sự đe dọa xâm nhập của thực dân phương Tây nhất là Anh và Pháp Các triều đại Rama được thiết lập năm 1752 theo đuổi chính sách đóng cửa, ngăn cản thương nhân là giáo sĩ phương Tây vào Xiêm Đến thời vua Mông - Kút (Ra- ma IV trị vì từ năm 1851 đến năm 1868) chủ trương mở cửa buôn bán với bên ngoài, lợi dụng sự kiềm chế lẫn nhau giữa các nước tư bản để bảo vệ nền độc lập của đất nước
Vua Ra - ma IV là vua Xiêm đầu tiên giỏi tiếng Anh, tiếng Latinh, nghiên cứu và tiếp thu nền văn minh phương Tây, tiếp xúc với các nhà truyền giáo Âu Mĩ
và đặc biệt chú ý đường lối đối ngoại của vương quốc nên tư tưởng của ông là tư tưởng mở cửa giao lưu với văn minh phương Tây, khác hoàn toàn so với các vị vua triều Nguyễn của Việt Nam
Năm 1868, Chu-la-long-con lên ngôi (Ra-ma V trị vì từ năm 1868 đến năm 1910) là người uyên bác, tiếp thu văn hóa phương Tây kết nối chính sách cải cách của vua cha, ông ra lệnh xóa bỏ hoàn toàn chế độ nô lệ vì nợ, giải phóng người lao động để họ được tự do sinh sống làm ăn đồng thời giảm nhẹ thuế Năm 1892, Ra-
ma V tiến hành hàng loạt cải cách theo khuôn mẫu các nước phương Tây về hành chính, tài chính, quân sự, giáo dục tạo cho nước Xiêm một bộ mặt mới phát triển theo hướng tư bản chủ nghĩa Ra-ma V đặc biệt quan tâm đến hoạt động ngoại giao Nhờ chính sách ngoại giao mềm dẻo "cây tre" nước Xiêm vừa lợi dụng vị trí nước
4 Từ năm 1939, nước Xiêm đổi tên thành Thái Lan
Trang 20đệm giữa hai thế lực đế quốc Anh - Pháp, vừa cắt nhượng một số vùng đất phụ thuộc (vốn là lãnh thổ của Campuchia, Lào và Mã Lai) để giữ gìn chủ quyền đất nước Nhờ vậy, Xiêm không bị biến thành thuộc địa như các nước trong khu vực
mà vẫn giữ được độc lập, mặc dù chịu nhiều lệ thuộc về chính trị - kinh tế vào Anh
và Pháp
Như vậy, từ nửa sau thế kỉ XIX, các nước Đông Nam Á đều trở thành thuộc địa của các nước thực dân phương Tây trong đó có Việt Nam.Tuy nhiên, Xiêm là nước duy nhất giữ được độc lập nhưng cũng bị lệ thuộc về nhiều mặt
Với những tư tưởng tiến bộ của mình, thêm nữa Xiêm là nước không mất độc lập nên các đời Vua Xiêm, đặc biệt là Rama V đã tạo những điều kiện thuận lợi cho người Việt di cư sang Thái Lan ngày một đông Với hiệp ước Pháp – Xiêm năm
1893 cho phép những người thuộc quyền cai trị của Pháp ở Đông Dương được tự do
đi lại trong phạm vi 25km từ biên giới vào nội địa Xiêm Họ được tự do buôn bán
mà không phải nộp bất kì khoản thuế nào cho chính phủ Xiêm, bên cạnh đó thì luật pháp của Xiêm lúc này cũng chưa hà khắc, với quy định cho bất cứ người ngoại kiều nào, chỉ cần đóng thuế cư trú hàng năm 4 bath thì được tự do đi lại, làm ăn, buôn bán… Chính những quy định đó đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho những người Việt di cư sang Thái Lan cũng như hoạt động buôn bán của họ tại đây
1.2 Quá trình di cư của người Việt đến Thái Lan
Trong tiến trình lịch sử phát triển của loài người luôn có một hiện tượng xảy
ra và gần như đã trở thành quy luật, đó là sự di cư của các cộng đồng người ra ngoài lãnh thổ mà mình sinh sống Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện tượng trên như sự biến động về chính trị, sự khó khăn về kinh tế, chiến tranh… Nếu lịch sử đã chứng kiến sự di cư của người Anh đến vùng Bắc Mỹ giàu có hay sự di cư của người dân
Do Thái tránh họa diệt chủng thì lịch sử cũng chứng kiến việc cộng đồng người Việt di cư ra nước ngoài
Cho đến nay, cộng đồng người Việt ở nước ngoài khoảng hơn 2.7 triệu người sinh sống trên gần 90 quốc gia ở năm châu lục Mặc dù sống xa tổ quốc nhưng Người Việt vẫn nuôi dưỡng, phát huy tinh thần yêu nước, giữ gìn truyền thống, văn
Trang 21hóa và hướng về cội nguồn bằng những đóng góp về tinh thần, vật chất và cả xương máu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc Đặc biệt, trong những năm gần đây nhiều Người Việt đã đóng góp tích cực cho sự phát triển của đất nước
Trong các cộng đồng người Việt sống ở nước ngoài thì cộng đồng người Việt
ở Thái Lan có lịch sử sớm và đông đảo nhất, lại gần gũi, có những thuận lợi trong việc đóng góp sức lực và trí tuệ, tiền của cho sự nghiệp giải phóng dân tộc
Có thể nói, quá trình di cư của người Việt vào vương quốc Xiêm trước đây
là một quá trình lâu dài và liên tục xuyên suốt từ thời kỳ vương triều Ayutthaya (khoảng từ giữa thế kỷ XVII) đến những năm 40 của thế kỷ XX Càng về sau thì quá trình di cư này lại càng đông và quy mô ngày càng lớn, có thể tóm tắt thành 2 giai đoạn chính như sau:
1.2.1 Thời kỳ Nguyễn Ánh chạy sang cầu cứu vua Xiêm từ năm 1784 đến năm
1787
Do biến động chính trị cuối thế kỉ XVIII, do tranh chấp quyền lực giữa nhà Tây Sơn và quân Nguyễn Ánh Cuộc tranh chấp dai dẳng và quyết liệt này đã ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống chính trị, kinh tế - xã hội của Việt Nam ở thế kỷ XVIII
Theo tác giả Trần Đình Lưu trong cuốn “Người Việt Lào – Thái với quê hương” có nhắc đến một thời kì trước đó người Việt đã có mặt rất sớm là vào khoảng cuối thế kỷ XVII, khi đó Thái Lan gọi là Xiêm Vào cuối thời kỳ vương triều Ayutthaya, trước khi bị Myanmar xâm lược (1767), ngoài kinh thành Ayutthaya đã có một số ít người Việt buôn bán ở đây cùng với người Hoa và người
Ấn Có thể nói người Việt có mặt trên đất Thái Lan từ rất sớm nhưng chỉ đến cuối thế kỷ XVIII khi Nguyễn Ánh bị quân đội Tây Sơn đánh bật khỏi thành Sài Gòn – Gia Định (2/1784) – đây là lần thứ 5 Nguyễn Ánh bị thất bại tại vùng đấy này Đám
tàn quân hộ giá Nguyễn Ánh phải chạy thục mạng xuống Hậu Giang rồi sang Campuchia nhưng bị quân Tây Sơn truy lùng ráo riết Lúc này Nguyễn Ánh không còn cách lựa chọn nào khác đành phải cầu cứu chính quyền Bangkok Vì theo Nguyễn Ánh, Xiêm là nơi có thể tạm thời nương náu tốt nhất vì nó không quá gần
Trang 22Gia Định để quân Tây Sơn có thể truy quét cũng không quá xa để khi quân đủ mạnh
có thể tiến vào Gia Định để đánh quân Tây Sơn giành lại giang sơn
Trong thư tịch cổ Việt Nam và Biên niên sử Hoàng gia Thái Lan đều có ghi chép lại một sự kiện với thời gian và địa điểm có liên quan đến số người Việt đến
Bangkok vào lúc này “Năm 1776, Tôn Thất Xuân và Mạc Thiên Tứ thua quân Tây
Sơn đã chạy qua Bangkok cầu cứu triều đình Xiêm Vua Xiêm lúc ấy là Tasksin, sử Việt Nam gọi là Trịnh Quốc Anh, cho trú ngụ với hàng trăm người Việt Biên niên
sử Thái gọi Tôn Thất Xuân là “Ong Txieng Txun” và gọi Mạc Thiên Tứ là
“RatxaxetkhiYuon” Năm 1780 do nghi ngờ có âm mưu cướp ngôi, vua Xiêm đã giết hại Tôn Thất Xuân và 53 người Việt Mạc Thiên Tứ đã tự tử khi con trai là Mạc
Tử Duyên bị vua Xiêm sai người giết chết…” [4,tr.14 – 15]
Mùa Xuân năm Giáp Dần (3/1784), Nguyễn Ánh sang Xiêm và được vua Xiêm là Rama I tiếp đón Sau khi đến Bangkok vài tuần, Nguyễn Ánh đã cho đón gia quyến cùng đám quan nhân còn ở ngoài vịnh Xiêm vào Bangkok Đại nam Thực
lục ghi chép “Chúa Nguyễn Ánh thua quân Tây Sơn chạy qua Vọng Các với 200
quân, xin trú ở Long Kỳ, Xiêm gọi là Đồng Khoai, ngoại thành Vọng Các Sai người
đi rước quốc mẫu và xung quyến về hành tại… năm ghe thuyền lục quân và thủy quân của Nguyễn Ánh đã được vua Xiêm là Rama I thuận cho cư trú” [4, tr.15]
Biên niên sử Thái gọi Nguyễn Ánh là “Ong Txieng Txu” (Ong Chiang Sue) viết
“Vua Xiêm cho Ong Txieng Txu ở phía nam bản “Tốn – Xăm – Rông”
Đến giữa năm 1787 , được tin mật báo quân Tây Sơn vừa rút khỏi Gia Định, Nguyễn Ánh đã chớp ngay cơ hội, bí mật cùng gia quyến và quan quân rời Bangkok
về nước (8/1787) Nhưng khi chuẩn bị khởi hành thì với nhiều lí do khác nhau nên nhiều binh lính của Nguyễn Ánh đã lựa chọn ở lại Thái Lan Trước sự kiện này thì lịch sử có nhiều sự lí giải khác nhau như: Có lẽ họ ở lại vì bị chúa Nguyễn bỏ rơi hay cũng vì bản thân họ đã mất lòng tin nơi người lãnh đạo của mình Và từ đó họ trở thành những kiều dân Việt Nam đầu tiên trên đất Xiêm
Trang 23Năm 1786 – 1787, tướng Nguyễn Huân Đức5 đưa 5000 quân băng qua Lào sang Bangkok nhằm hợp quân với Nguyễn Ánh để đánh lại Tây Sơn nhưng lúc đó quân Nguyễn Ánh đã khởi hành về nước trước đó, mục đích hợp quân không thành, vua Rama I ngỏ ý mời Nguyễn Huân Đức về phục vụ quân đội Xiêm nhưng ông từ chối Cuối cùng cũng giống như quân của Nguyễn Ánh, trước khi khởi hành về Gia Định thì 5000 quân của Nguyễn Huân Đức cũng có hơn 2/3 xin ở lại đất Xiêm
“Vua Xiêm thỏa thuận cho Nguyễn Huân Đức trở về Việt Nam nhưng với điều kiện
là phải cho binh lính của ông ta ở lại Xiêm nếu có nguyện vọng Cuối cùng 2/3 số binh lính đã xin ở lại đất Thái, với ngàn người trong khu Saphan Han Cộng với quân trước đó thì tổng số người Việt Nam trên đất Xiêm lúc đó lên tới khoảng 3-4 nghìn và sống tập trung ở vùng Sảm Xển (Bangkok), Surin và Arrnya Orathet ” [4,
tr.16]
Đến đầu thế kỉ XIX, năm 1835 đã có hơn 2000 người Việt sang Thái cư trú ở
vùng Sảm Xển Thư tịch cổ Việt Nam có ghi chép rõ ràng như sau: “… đạo binh
của Xiêm sang cứu viện Lê Văn Khôi đã đem về Xiêm một chiếc thuyền đi biển và hơn 2000 người già trẻ gái trai về cho ở xứ Điên Xiển, gần thành Vọng Các” [14,
tr.124]
Thêm vào đó cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX với phong trào sát đạo và cấm đạo của các vị vua triều Nguyễn như Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức cộng với việc xâm lược của thực dân Pháp cũng là một trong những nguyên nhân gây ra đợt chuyển cư lớn của người Việt sang Thái Lan Sau khi chuyển sư sang, những bà con Người Việt này thướng sống tập trung chủ yếu tạo ba vùng chính đó là: tỉnh Chantabun ở phía Nam, khu Đông Bắc và phía Bắc Người Thái thường gọi những người này với cái tên “Duôn càu” nghĩa là người Việt Nam cũ
1.2.2 Thời kỳ Pháp thuộc
Trong giai đoạn 2 này có thể chia làm 2 đợt di cư rõ ràng như sau:
Đợt thứ nhất: Vào những năm cuối thế kỉ XIX, khi phong trào yêu nước dưới
ngọn cờ Cần Vương thất bại cộng thêm sự trị vì yếu kém, không hiệu quả của triều
5 Một số sách viết là Nguyễn Huỳnh Đức
Trang 24đình phong kiến nhà Nguyễn đã khiến cho thực dân Pháp dễ dàng xâm chiếm nước
ta Sau hòa ước Patơnốt, triều đình Nguyễn chính thức thừa nhận sự “bảo hộ” của thực dân Pháp đối với Việt Nam Tuy nhiên, không phải sự khuất phục của chính quyền triều đình cũng đồng nghĩa với việc khuất phục của nhân dân trong nước Nhân dân vẫn một lòng “ nồng nàn yêu nước”, vẫn quyết tâm chiến đấu chống Pháp
Để tránh sự đàn áp, khủng bố, truy lùng trong nước một loạt người Việt Nam
đã vượt Trường Sơn sang Lào rồi chuyển sang Xiêm cư trú và trong hoàn cảnh đặc biệt ấy Thái Lan đã trở thành địa bàn quan trọng của những người yêu nước Việt Nam Ra đi với nỗi đau mất nước, nỗi hận kẻ thù và hoài bão cứu nước Đây cũng là
bộ phận nòng cốt cho phong trào yêu nước của Việt Nam sau này “Trong thời kỳ
thực dân Pháp xâm lược, Việt Nam đã có hàng ngàn gia đình ở miền Trung Việt Nam chạy loạn sang các tỉnh Đông Bắc Thái Lan như Nọng Khai, Nakhon Phanom, Ubon Ratchathani… Có 2 làng người Việt ở gần Lào là Tha He và Tha Bo cũng vượt qua sông Mekong đến Nong Khai ( Thái Lan) tránh nạn Còn từ các tỉnh miền nam Việt Nam thì có ước chừng 5000 đến 8000 người ra đi bằng đường biển đổ bộ vào các tỉnh Trat, Chantaburi, Rayong, Cholburi Prachinburi… ở miền Nam và Trung Thái Lan” [4, tr.17] Tổng số người tị nạn sang đất Thái Lan hồi cuối thế kỷ
XIX tới khoảng 30 ngàn người và người Thái gọi họ là những người “kiều cư” tiếng Thái gọi là “tàng đáo”
Đợt thứ 2: là do hoàn cảnh lịch sử đất nước có nhiều biến động lớn
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, nhiều người Việt phải rời bỏ quê hương do chính sách cai trị thực dân, do chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp Trong số đó, có nhiều người là lực lượng của các nghĩa quân chống Pháp, tham gia phong trào yêu nước nhưng thất bại rồi tìm cách sang Lào, sang Xiêm để tránh bị khủng bố, trả thù, xây dựng lực lượng để tiếp tục nuôi chí hướng
Vào những năm 30 - 40 của thế kỉ XX, phong trào cách mạng 1930 – 1931 dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam mà đỉnh cao là Xô Viết Nghệ Tĩnh
bị thực dân Pháp dìm trong biển máu, mở màn cho những cuộc di cư lớn lần thứ ba
Trang 25của người Việt sang đất Thái Chủ yếu trong đợt di cư lần này là những người thuộc hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh Theo thông báo mật số 2243 của viện mật thám Pháp
cho biết: “Trong các năm 1930 – 1931, có khoảng hơn 100 người Việt Nam thuộc
hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh đã rời quê hương sang Xiêm để tránh khỏi sự khủng
bố - Số đông bọn chạy trốn này đều đến Lạc Hòn và được Cụ Ba, ông Phương và Cai Hải giúp đỡ Nhóm này được ông Quyên- anh cả của Nho Khoan giúp đỡ và bố trí cho ở Bản Mai Một cuộc lạc quyên được tổ chức trong các Hội viên Hội Thân ái
để lấy tiền cho nhóm mới đến này[12]
Đặc biệt là thời kỳ thực dân Pháp trở lại xâm chiếm Đông Dương lần thứ II, đây là đợt nhập cư đông nhất của người Việt Nam từ Lào sang Thái Lan
Ngày 19/8/1945 cuộc tổng khởi nghĩa của Việt Nam thành công ở Hà Nội thì ngày 23/8/1945 nhân dân Viên Chăn cũng giành được chính quyền từ tay Nhật và lần lượt ở các tỉnh khác, chính quyền thuộc về tay nhân dân
Với dã tâm xâm lược của thực dân Pháp, núp dưới bóng quân đồng minh quay trở lại xâm chiếm Đông Dương Tại Lào với sự giúp đỡ của quân đội Anh, thực dân Pháp mở các cuộc tấn công vào các thành phố lớn như Savannakhet, Thà - khẹt, Viêng Chăn thực dân Pháp đã vấp phải sự đánh trả quyết liệt của lực lượng vũ trang Lào cùng với lực lượng vũ trang của Người Việt Giải Phóng Quân gây thiệt hại đáng kể cho quân Pháp trên tất cả các tỉnh Nhưng với sự so sánh lực lượng vũ trang giữa thực dân Pháp và người Việt giải phóng quân, Trung ương chỉ thị cho các lực lượng vũ trang tạm rút về nước hay lánh nạn sang Thái Lan, thu xếp cho bà con người Việt lánh nạn sang sông Savannakhet rồi Viêng Chăn tạm rơi vào tay thực dân Pháp, gần 6 vạn Người Việt ở Lào nghe theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Chí Minh "Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu làm nô lệ" đã sang Thái Lan với hai bàn tay trắng, họ để lại trên đất Lào tài sản, nhà cửa, vườn tược với biết bao công sức mà gần nửa thế kỷ họ tạo dựng lên
Đây là đợt nhập cư đông nhất của người Việt sang đất Thái Lan Cùng với bốn vạn Người Việt sinh sống trến đất Thái Lan từ trước, nay đã lên đến gần 10 vạn
người “Tháng ba năm 1946, thực dân Pháp dựa vào đế quốc Anh, chiếm lại tỉnh
Trang 26Pắc – xế (Hạ - Lào) thuộc vĩ tuyến 16, rồi lần lượt tấn công chiếm các đô thị vằn-na-khẹt, Thà khẹt rồi Viên Chăn Quân đội giải phòng Lào, sát cánh cùng với dân quân tự vệ người Việt Nam hình thành “Lào – Việt liên quân” cùng nhau chiến đấu bảo vệ nền độc lập của dân tộc Lào vừa mới giành lại được với quyết tâm “thà chết không làm nô lệ một lần nữa” Khi tình thế bất lợi, họ lại cùng nhau lánh nạn sang Thái Lan Riêng Việt kiều ở Lào sang Thái Lan lần này tới trên 5 vạn người”
Sa-[15, tr.17]
Tóm lại, người Việt nhập cư vào Thái Lan gần hai thế kỷ qua có thể phân làm 3 loại :
1 Người Việt Nam nhập cư vào Thái Lan thời Nguyễn Ánh sang cầu cứu Xiêm
và giai đoạn đầu của nhà Nguyễn đã trở thành người Thái gốc Việt, con cháu họ trở thành người Thái gốc Thái
2 Người Việt Nam nhập cư vào Thái từ thời kỳ Pháp thuộc, chưa vào quốc tịch Thái gọi là người “Duôn tàng đạo” ( Việt ngoại kiều)
3 Những người Việt Nam tản cư từ Lào sang Thái Lan năn 1946 sau khi thực dân Pháp tiến hành xâm lược Đông Dương lần thứ hai gọi là người “Duôn-ộp-pha-dốp” (Việt tản cư) Người Việt tản cư bị hạn chế đi lại, nghề nghiệp Những năm gần đây chính quyền Thái Lan đang dần dần cấp thẻ ngoại kiều cho lớp người này
và công nhận con, cháu họ có quốc tịch Thái
Trong đợt di cư này người Việt di cư sang đất Thái Lan gặp rất nhiều khó khăn, gian nan và thử thách nhưng trong sự đùm bọc của cộng đồng người Việt cũ
và sự che trở của nhân dân Thái, những và Đảng viên và quần chúng mới sang đã dần ổn định cuộc sống và từng bước xây dựng cơ sở cách mạng Từ đó hình thành nên một tổ chức cách mạng của người Việt dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam trên vùng Đông Bắc Thái Lan Có thể nói lần di cư này tuy người Việt chịu nhiều gian khổ nhất, nhưng là thời kì mà phong trào đoàn kết yêu nước trong nội bộ người Việt được sâu rộng và mạnh mẽ nhất và họ nhận được sự đồng tỉnh, ủng hộ của nhân dân Thái Lan trong phong trào yêu nước của Người Việt tại nước ngoài
Trang 27CHƯƠNG 2: HOẠT ĐỘNG KINH TẾ - CHÍNH TRỊ - VĂN HÓA - XÃ HỘI CỦA NGƯỜI VIỆT Ở THÁI LAN
TỪ NĂM 1884 ĐẾN NĂM 1946
Ngay sau khi đặt chân đến đất Thái Lan, người Việt Nam đã nhanh chóng, cố gắng hòa nhập với người dân bản địa, dẫu còn nhiều khó khăn, thử thách nhưng với tinh thần cần cù, chịu khó, vượt qua mọi hoàn cảnh, người Việt đã ngày một phát triển, trở thành một cộng đồng đoàn kết, từng bước phát triển cả về kinh tế - văn hóa
và xã hội, đặc biệt là chính trị Người Việt ở Thái Lan có truyền thống cách mạng, tinh thần yêu nước cao và đã có những đóng góp to lớn về cho tổ quốc Trong suốt quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, cộng đồng Người Việt ở đây đã đóng một vai trò to lớn, làm chỗ dựa cho các nhà yêu nước Việt Nam được tiếp tục hoạt động cách mạng, làm cơ sở liên lạc với cách mạng trong và ngoài nước
2.1 Trên lĩnh vực kinh tế
Với bản tính cần cù, chịu khó, những lớp người Việt đầu tiên khi đặt chân lên đất Thái Lan đã nhanh chóng tập trung phát triển kinh tế, vì kinh tế là điều kiện cần và đủ để người Việt có thể sinh sống trên một vùng đất mới
Đối với những người Việt sang Thái Lan lâu đời (Từ khi Nguyễn Ánh bị Tây Sơn đánh bại, sang Thái lan cầu viện), đã được nhập quốc tịch Thái Lan, người Thái Lan gọi chung là Người Việt Nam cũ, nhưng người này sống tập trung ở 3 nơi: Sam-xen (ở ngay thủ đô Băng-cốc), Chan-ta-bun (thuộc phía Đông Nam Thái Lan, gần vịnh Thái lan) và tập trung đông ở vùng Đông Bắc Thái Lanđặc biệt là tỉnh Sakhôn Nakhon Đây là những khu vực cư trú đông nhất của người Việt khi lánh nạn sang đất Thái
Khi mới đến, họ vẫn phải dựa vào nhân dân bản địa để sinh sống nhưng bằng tính cần cù, lương thiện, người Việt đã nhanh chóng hòa nhập Họ phần lớn làm nghề tự do như buôn bán,thầy thuốc, thầy kiện, có nhiều người làm quan, có quan
hệ hôn nhân với quý tộc người Thái Lan Tuy rằng sang Thái Lan đã lâu, đến nay ước gần 200 năm nhưng họ vẫn biết tiếng Việt Nam và đọc chữ quốc ngữ rất thạo
Trang 28Đối với đồng bào trong nước mới sang họ rất có cảm tình (thường gọi là Chu) Mỗi phong trào cứu quốc trong nước và những người chính trị Việt Nam lưu vong sang Thái Lan luôn luôn được họ đồng tình, ủng hộ
Người Việt làm nhiều nghề để sinh sống Bà con nghề nông thường làm vườn quanh các thị trấn, nhiều người xin vỡ đất hoang, cùng nhau lập thành làng, xóm như bản Mày, bản Vạt Pà, bản Bốc, bản Tôn Phựng Các làng Người Việt được chính phủ Xiêm cho phép bầu ra lý trưởng của mình Bà con làm nghề thủ công thường ở các thị trấn, họ làm nghề thợ may, thợ cắt tóc, thợ mộc, thợ nề Phụ
nữ làm nghề buôn bán nhỏ Người Việt sang Thái Lan là những người lao động cần
cù, lương thiện, họ đã gây được thiện cảm với nhân dân sở tại
Đặc biệt là những lớp người sinh sống ở vùng Đông Bắc Thái Lan, họ sống
tập trung và đông nhất tại tỉnh Sakhôn Nakhon “Sakhôn Nakhon là một tỉnh nằm
vùng đông bắc Thái Lan Cách Băng Cốc khoảng 600 km, dân số khoảng 1.097.625 người tiếp giáp với tỉnh Noong Khai, Nakhon Phanôm và Múcđahán Sakhôn Nakhon là một tỉnh không có đường biên giới chung với Lào ” [8, tr.60] Ở Sakhôn
Nakhon có hai thế hệ Người Việt chính là thế hệ Người Việt sang Thái Lan từ trước Chiến tranh thế giới thứ nhất “Duôn kau” và thế hệ Người Việt sau năm 1945 –
1946 “Duôn mày” (Trước đây người Thái thường gọi Việt Nam là “Duôn”) Người Thái gọi người Việt Nam sinh sống trên đất Thái là (khôn Thày chứa sải chao Việt Nam) nghĩa là người Thái gốc Việt hay (Duôn ộp – pa – dốp) là người Việt di cư Người Việt sống tập trung chủ yếu ở 4 khu vực trong tỉnh Sakhôn Nakhon:Xã Tha-
he, huyện Mương, Thị xã Sakon, Huyện Sạ Vàng, Huyện Phangkhon
Tha-he nằm cách trung tâm tỉnh Sakhôn khoảng 20km Đây là nơi cộng đồng người Việt sinh sống lâu đời và đông đảo nhất Người Việt ở Tha-he chỉ làm nông
nghiệp, đánh cá hay kinh doanh, buôn bán nhỏ.“Có một nghề nổi tiếng nhất vùng
Đông Bắc của bà con ở Tha-he là chế biến thịt chó xuất khẩu Thịt chó ở đây được làm theo dạng xúc xích, rồi đem phơi khô hoặc chế biến thành thịt chó khô để xuất khẩu sang các nước như Trung Quốc, Hàn Quốc Nhưng hiện nay chính phủ Thái
Trang 29Lan cũng đã hạn chế rất nhiều nghề kinh doanh này bởi vì liên quan đến vấn đề vệ sinh và môi trường…).” [8, tr.61]
Người Việt ở huyện Mương (thị xã Sakon): Lúc đầu sang đến đất Thái hầu hết
bà con người Việt phải dựa vào nhân dân Thái và bà con Người Việt sống lâu đời ởđây Họ đến Nakhon Phanom và sau đó tìm đường đến thị xã Sakôn hiện nay (vì
họ cho rằng ở đây thóc gạo rẻ) lúc đó ở Sakon cũng chỉ có trên 300 người Việt sinh sống
Khoảng 2 - 3 tháng đầu, người Việt tản cư phải sống dựa vào bà con người Thái sau đó chính phủ Thái đã cho họ vay tiền và giúp đỡ về quần áo, chăn màn Ban đầu, người Việt phải làm tất cả mọi công việc như làm ruộng, gánh hàng thuê, mua hàng cũ đồi hàng mới, gánh nước, chặt củi Nói chung là đủ thứ nghề để kiếm sống Một thời gian sau, những tổ chức của kiều bào được lập ra, những người có khả năng thì đi dạy học hoặc tuyên truyền Khoảng 3 năm sau thì cuộc sống của bà con bắt đầu ổn định
Có lẽ từ những giai đoạn cực khổ này mà bà con Người Việt ở Sakon Nakhon đã biết cách tiết kiệm và chịu khó làm ăn để có cuộc sống khá giả như ngày hôm nay Hiện nay bà con Người Việt ở thị xã Sakôn hầu hết là buôn bán và làm các nghề kinh doanh Ở chợ Thết sakan (Tạ lạt Thết-sa-kan), một trong những chợ lớn nhất tại tỉnh Sakon Nakhon thì có đến 80% Người Việt đang làm ăn buôn bán kinh doanh
Đối với những người Việt Nam sang Thái Lan từ sau thời kỳ Pháp thuộc chưa vào quốc tịch Thái Lan hàng năm chỉ cần đóng một thứ thuế cư trú Nhờ bản tính cần cù lao động phần lớn người Người Việt ở Thái Lan làm ăn đều có cơ sở ổn định
trừ một số rất ít làm nghề buôn bán đi khắp nước Thái Lan “…Những người nông
dân nhất là người làm vườn, lập thành xóm ở chung quanh các thị trấn; có thể nói gần hết các thị trấn ở phía Đông Bắc phần lớn rau, thịt là do Người Việt cung cấp cho các thành phố Những người làm thợ : cắt tóc, thợ may, thợ nề, thợ mộc phần nhiều ở thành phố có những xưởng thợ mộc tập trung thành hàng năm, ba chục thợ Hầu hết các chùa triền, công sở và hàng ngàn cầu công lớn, nhỏ dọc đường cái lớn
Trang 30tỏa ra các đường liên huyện thuộc Xứ Đông Bắc, là do bàn tay của người thợ Việt Nam xây dựng Rải rác trong làng, bên cạnh các chùa chiền đồ sộ, hầu hết mộ chi đến ngôi tháp nhỏ xinh xắn của tư gia cũng do bàn tay khéo léo của người Người Việt xây lên…”[15,tr.15]
Người Việt không những chăm lo làm ăn mà họ còn hướng dẫn cho những bạn
bè kết nghĩa người Thái Lan làm các nghề thủ công đặc biệt là trồng thuốc lá Với những kinh nghiệm tích lũy nhiều năm, người Việt đã mang thuốc lá đến với đất nước Thái Lan như một cây trồng cho thu hoạch khá cao và ổn định, giúp đời sống của chính mình cũng như bà con ở đó được ổn định và ngày càng phát triển
“…Đầu tiên một gia đình Người Việt (người Quảng Bình) xin một khoảng đất nhỏ
để trồng thuốc lá Do sức cần cù và kinh nghiệm, gia đình ấy đã thu hoạch nhiều vụ thuốc lá tốt và rất ngon Việc đó đã khuyến khích những người Thái Lan trong làng
ra học tập kinh nghiệm trồng thuốc của gia đình này, rồi dần dần người ở mới là có bãi bồi xung quanh đó cũng bắt chước, diện tích trồng thuốc ngày càng mở rộng Thuốc lá Bản-pheng sản xuất ngày một nhiều và trở thành một thứ thuốc lá non có tiếng khắp nước Thái Lan Mỗi năm đến mùa hái thuốc lá hàng ngàn người khắp nơi tập trung đến trên bộ, dưới thuyền kẻ mua người bán tấp nập như ngày hội mùa lớn Nhân dân xung quanh vùng ấy mỗi năm thu hoạch hàng chục triệu đồng tiền Thái Lan.” [ 15, tr16]
Tóm lại, với bản chất cần cù, bàn tay khéo léo, Người Việt đã xây dựng được một cuộc sống ổn định và gây được nhiều tình cảm sâu sắc đối với người Thái Lan, tạo tiền đề cơ sở vững chắc cho các hoạt động chính trị, yêu nước, góp phần đóng góp không nhỏ trong công cuộc cứu nước của dân tộc
2.2 Trên lĩnh vực chính trị
Người Việt ở Thái Lan có truyền thống cách mạng và tinh thần yêu nước cao Các hoạt động cách mạng của người Việt ở Thái Lan gắn liền với mọi giai đoạn đấu tranh của dân tộc từ khi đế quốc Pháp xâm lược, thống trị nước ta cho đến ngày nay, và đã có những đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng Việt Nam
và Đông Dương
Trang 31Từ cuối thế kỷ XIX đến năm 1930, tức là khi có Đảng Cộng sản ra đời ở Việt Nam cũng như ở Xiêm, người Việt tại Thái Lan đóng một vai trò tích cực, làm cơ
sở cho các nhà yêu nước Việt Nam hoạt động Kể từ sau khi phong trào Cần Vương
bị thất bại, qua phong trào Đông Du, Việt Nam Quang phục Hội, đến khi có Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội, người Việt ở Thái Lan đều có những hoạt động cách mạng, gắn liền với sự nghiệp giải phóng dân tộc
Một đặc điểm quan trọng của thời kỳ này: Trong hai năm 1928 – 1929, Hồ Chủ tịch đến Thái Lan, đã trực tiếp chỉ đạo cán bộ cách mạng trong Người Việt và đưa ra nhiều ý kiến lớn, hướng dẫn cuộc vận động cách mạng của Người Việt ở Thái Lan phát triển thêm một bước quan trọng
2.2.1 Hoạt động cách mạng của những người Việt ở Thái Lan
Khi nói đến Người Việt ở Thái Lan chúng ta chỉ nên nhận đó là một tổ chức cách mạng ở hải ngoại đông đảo gồm đủ mọi thành phần xã hội, giai cấp, tôn giáo
Họ đã hoạt động cách mạng tùy theo thời kỳ, hoàn cảnh mà thay đổi chiến lược, chiến thuật, chủ trương đường lối, nhiều khi đến cả căn bản chủ nghĩa nữa
`Mặc dù phải di cư sang Thái Lan nhưng cộng đồng người Việt ở đây không lúc nào nguôi nhớ về tổ quốc, lòng yêu nước luôn trực trào trong tim, khi có cơ hội
là luôn luôn hướng về tổ quốc Trong những năm tháng khó khăn, gian khổ nhất của cách mạng Việt Nam, cộng đồng người Việt ở Thái Lan đã đóng góp không nhỏ cho sự nghiệp giải phóng dân tộc
Trong những năm tháng ấy, cộng đồng người Việt ở Thái Lan đã có những hoạt động tích cực cho công cuộc giải phóng đất nước, mặc dù phải sống trong cảnh khó khăn Luôn luôn giúp đỡ các nhà hoạt động cách mạng Việt Nam khi lánh nạn hay hoạt động, xây dựng căn cứ tại Thái Lan Điển hình khi Nguyễn Ái Quốc đến Xiêm, mặc dù không biết Bác là ai nhưng chỉ cần biết Bác là người Việt Nam thì họ
sẵn sàng giúp đỡ hết mình “… Kiều bào ta ở Thái Lan đều thường yêu giúp đỡ
nhau và luôn luôn hướng về tổ quốc Tôi xin kể vài chuyện Cách đây hơn 30 năm, tôi cùng đi với Bác đến Xiêm Đến đâu, hai bác cháu cũng được kiều bào tiếp đã
Trang 32vồn vã, nhường áo sẻ cơm Cố nhiên, họ không biết Bác là ai, chỉ biết là người Việt Nam mới đến đất này, thì họ sẵn sàng giúp đỡ…” [ 16]
Không những vậy, người Việt trên đất Thái Lan còn thành lập hội “Ái hữu” nhằm mục đích: Đoàn kết – đoàn kết giữa Người Việt với nhau và đoàn kết giữa người Việt với người Xiêm, nhắc nhủ kiều bào yêu tổ quốc và giúp kiều bào học chữ quốc ngữ Đặc biệt, kiều bào ta ở Thái Lan vô cùng tin tưởng vào cách mạng Việt Nam, vô cùng tin tưởng vào đoàn thể, hết mình ủng hộ cả người và của cho
cách mạng Ví dụ “… cụ L bán thịt lợn có vốn liếng khá, đã nói với cán bộ: “Vợ
chồng tôi xin gửi mấy đứa con, nhờ đoàn thể dạy dỗ để mai sau chúng nó tham gia chống Tây cứu nước Chúng tôi cũng xin giao cả gia tài tùy ý đoàn thể sử dụng Từ nay, vợ chồng tôi tự coi mình như người làm tài chính cho đoàn thể…” ” [16]
Có kiều bào quyên cả nhà, cả vườn cho hội làm trụ sở, mình đi nơi khác làm nhà ở, có nhiều người quyên ruộng đất cho hội, rồi tự tay mình và động viên kiều bào khác cày cấy gặt hái cho hội để tiêu dùng vào công việc chung như : làm nhà trường, in sách báo và nuôi dạy các em thiếu nhi Chẳng những vậy mà sinh ra, lớn lên trên đất khách, quê người, các em thiếu nhi Việt Nam cũng có tinh thần yêu nước nồng nàn, dũng cảm Có lẽ do sống trong tinh thần cách mạng, các em cũng
trưởng thành hơn các em cùng trang lứa “… Các em thiếu nhi Việt Nam ở Thái Lan
cũng ngoan lắm Một hôm, một cán bộ ta bị mật thám Tây đuổi bắt Anh ấy chạy vào một nhà kiều bào Sau mấy phút, mật thám Tây cũng vào theo Người lớn đi vắng hết, chỉ có một em gái khoảng 9, 10 tuổi ở nhà; khi thấy bọn chó săn Tây nhớn nhác chạy vào, em G liền lấy nón úp vào đầu anh cán bộ, vứt một dây thừng vào tay anh và nói một cách giận dữ: “Chú không đi bắt trâu, cứ ngồi ỳ ở nhà, mẹ về
mẹ chửi cho mà xem!” Thế là anh cán bộ ung dung “đi bắt trâu” Còn bọn chó săn Tây thì cụt hứng Phải nói thêm rằng, em bé G vốn không quen biết anh cán bộ ấy…” [16]
Như vậy, cho đến năm 1925người Việt ở Thái tuy có lòng yêu nước, căm thù giặc Pháp, nhưng chưa được tổ chức chặt chẽ, còn rời rạc, tỉnh nào, bản nào mới chỉ biết mình, chưa có sự liên kết với nhau