1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Nghiên cứu công bố thông tin về quản lý rủi ro của các công ty thuộc ngành tài chính niêm yết ở việt nam (tt)

26 65 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 1,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay, tại Việt Nam chưa có nghiên cứu về CBTT về QLRR của các Công ty thuộc ngành tài chính nhằm giúp người đọc, nhà đầu tư có cái nhìn tổng quát hơn về vấn đề này, từ đó giúp nhà đầ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

VÕ HOÀNG TÙNG

NGHIÊN CỨU CÔNG BỐ THÔNG TIN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO CỦA CÁC CÔNG TY THUỘC NGÀNH TÀI CHÍNH NIÊM YẾT Ở VIỆT NAM

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN

Mã số: 60.34.03.01

Đà Nẵng - 2018

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ, ĐHĐN

Người hướng dẫn KH: PGS.TS NGUYỄN HỮU CƯỜNG

Phản biện 1: GS.TS TRƯƠNG BÁ THANH

Phản biện 2: PGS.TS VÕ VĂN NHỊ

Luận văn được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ Kế toán họp tại Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng vào ngày 27 tháng 01 năm 2018

Có thể tìm hiểu luận văn tại:

- Trung tâm Thông tin - Học liệu, Đại học Đà Nẵng

- Thư viện trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, các DN Việt Nam phải thường xuyên đối mặt với rủi ro ngày càng đa dạng và phức tạp Nếu rủi ro xảy ra đồng nghĩa với DN phải chịu tổn thất về giá trị hoặc mục tiêu đặt ra của họ bị ảnh hưởng Bên cạnh đó, khi mà mọi công

ty đều quan tâm đến việc gia tăng doanh số thì công tác QLRR có vai trò đặc biệt quan trọng, vì nó giúp giữ được những đồng tiền mà công ty kiếm được Rủi ro là điều tất yếu của hoạt động kinh doanh, lợi nhuận cao luôn song hành với rủi ro lớn Vì thế, đương đầu và QLRR là phần không thể thiếu của bất kỳ DN nào nếu muốn tạo ra lợi nhuận Do đó, việc QLRR trong DN là một vấn đề quan trọng mà

DN cần phải chú trọng quan tâm hàng đầu

Bên cạnh đó, hiện tại, các nghiên cứu liên quan đến QLRR và CBTT về QLRR chủ yếu là của các tác giả ngoài nước, tập trung chủ yếu ở các nước phát triển Phần lớn các nghiên cứu này tập trung nghiên cứu các đối tượng là các công ty thuộc nhóm ngành phi tài chính niêm yết Hiện nay, tại Việt Nam chưa có nghiên cứu về CBTT

về QLRR của các Công ty thuộc ngành tài chính nhằm giúp người đọc, nhà đầu tư có cái nhìn tổng quát hơn về vấn đề này, từ đó giúp nhà đầu tư và các bên liên quan có sự đánh giá trước khi ra quyết định

Với các lí do trên, luận văn đã được thực hiện với đề tài là:

“Nghiên cứu công bố thông tin về quản lý rủi ro của các Công ty thuộc ngành tài chính niêm yết ở Việt Nam”

2 Mục tiêu nghiên cứu

− Đánh giá thực trạng việc CBTT về QLRR của các DN thuộc nhóm ngành tài chính niêm yết ở Việt Nam thông qua đo lường mức

độ CBTT về QLRR

Trang 4

− Nhận diện các nhân tố nào ảnh hưởng đến mức độ CBTT về QLRR và xác định xem các nhân tố ảnh hưởng như thế nào đến mức

độ CBTT về QLRR

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu sẽ tiến hành đo lường mức độ CBTT về QLRR trên báo cáo tài chính (đã kiểm toán) hoặc báo cáo tài chính hợp nhất (đã kiểm toán) cho năm tài chính kết thúc ngày 31/12/2014, 31/12/2015

và 31/12/2016 của tất cả các công ty thuộc ngành tài chính niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) và Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM (HOSE)

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn đã vận dụng phương pháp phân tích nội dung để đo lường mức độ CBTT về QLRR và phương pháp phân tích hồi quy để xác định ảnh hưởng của các nhân tố đến mức độ CBTT về QLRR:

- Trên cơ sở thang đo mức độ CBTT về QLRR đã được xây dựng trên cơ sở các quy định về CBTT về QLRR có liên quan, luận văn đã đo lường mức độ CBTT về QLRR trên BCTC năm 2014,

2015 và 2016 của các DN thuộc ngành tài chính niêm yết ở Việt Nam CBTT về QLRR được đánh giá thông qua việc đo lường mức

độ tuân thủ đối với CBTT bắt buộc về QLRR và CBTT tùy ý về QLRR

- Ảnh hưởng của các nhân tố đến mức độ CBTT về QLRR được kiểm chứng thông qua phân tích hồi quy bằng các phương pháp phân tích hồi quy: Pooled OLS (Ordinary List Squares), FEM (Fix Effect Model) và REM (Random Effect Model)

Trang 5

Chương 3 Kết quả nghiên cứu

Chương 4 Hàm ý chính sách và kết luận

6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CÔNG

BỐ THÔNG TIN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO

1.1 CÔNG BỐ THÔNG TIN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO

1.1.1 Công bố thông tin

Theo Sổ tay CBTT dành cho công ty niêm yết của Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (2013): “Công bố thông tin được hiểu là phương thức để thực hiện quy trình minh bạch của DN nhằm đảm bảo các cổ đông và công chúng đầu tư có thể tiếp cận thông tin một cách công bằng và đồng thời”

“Tầm quan trọng của việc công bố thông tin của công ty bắt nguồn từ việc đó là một phương tiện giao tiếp giữa nhà quản lý với các nhà đầu tư bên ngoài và những người tham gia thị trường nói chung” (Hassan & Marston, 2010) Bên cạnh đó, “Công bố thông tin

có ý nghĩa quan trọng nhằm đảm bảo tính minh bạch của thị trường chứng khoán thông qua việc giảm thiểu tác động của sự bất đối xứng thông tin, từ đó đảm bảo hài hòa lợi ích của các bên” (Nguyễn Hữu Cường, 2015) Thông tin công bố đầy đủ, chi tiết, trung thực sẽ giảm mất cân đối thông tin, góp phần bảo vệ các nhà đầu tư và những cổ đông Vì vậy, tăng cường CBTT của công ty giúp giảm thiểu các vấn

đề này

CBTT bao gồm ba loại đó là CBTT bắt buộc, CBTT tự nguyện

và CBTT tùy ý

1.1.2 Yêu cầu về công bố thông tin

a Công bố thông tin theo quy định của chuẩn mực kế toán

Trang 6

b Công bố thông tin kế toán trong báo cáo tài chính

c Công bố thông tin đối với các doanh nghiệp niêm yết

1.1.3 Quản lý rủi ro

COSO định nghĩa quản lý rủi ro doanh nghiệp “là một quy trình được thiết lập bởi hội đồng quản trị, ban quản lý và các cán bộ có liên quan khác áp dụng trong quá trình xây dựng chiến lược doanh nghiệp thực hiện xác định những sự vụ có khả năng xảy ra gây ảnh hưởng đến doanh nghiệp đồng thời quản lý rủi ro trong phạm vi cho phép nhằm đưa ra mức độ đảm bảo trong việc đạt được mục tiêu của doanh nghiệp” Trong khi đó, rủi ro được định nghĩa là tập hợp của các khả năng có thể xảy ra của một sự việc nào đó cũng như hậu quả của nó

1.1.4 Công bố thông tin về quản lý rủi ro

Nội dung CBTT liên quan đến QLRR bao gồm:

- Nhận diện các loại rủi ro như: rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, thị trường bao gồm: biến động lãi suất, rủi ro tiền tệ, rủi ro giá cả hàng hóa, rủi ro liên quan đến chứng khoán phái sinh…

- Cách thức đo lường, đánh giá mức độ ảnh hưởng của các rủi

ro đến hoạt động sản xuất kinh doanh của DN hoặc mục tiêu của DN trong tương lai

- Chính sách, kỹ thuật, công cụ, biện pháp sử dụng để hạn chế, đối phó, giảm thiểu rủi ro của DN

1.2 YÊU CẦU VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN VỀ QUẢN LÝ RỦI

RO

1.3 ĐO LƯỜNG MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN VỀ QUẢN

LÝ RỦI RO

1.3.1 Đo lường bằng thang đo không trọng số

Trên cơ sở hệ thống các chỉ mục thông tin cần công bố đã được xây dựng, từng mục thông tin tương ứng trong BCTC được nghiên

Trang 7

cứu sẽ được gán giá trị bằng một (1) nếu thông tin đó được công bố, hoặc được gán giá trị bằng không (0) nếu thông tin đó không công

bố, hoặc gán giá trị không liên quan (NA) nếu thông tin đó chắc chắn không liên quan đến DN Việc đo lường CBTT theo phương pháp này chỉ dừng lại ở chừng mực ghi nhận có hay không việc thông tin được công bố và nhà nghiên cứu ngầm định tất cả các chỉ mục đều quan trọng như nhau

1.3.2 Đo lường bằng thang đo có trọng số

Ngược lại, các chỉ mục thông tin cần công bố đã xây dựng trong phương pháp đo lường bằng thang đo có trọng số được đánh giá có tính hữu ích và mức độ quan trọng khác nhau đối với người sử dụng

và do vậy được gán bởi các trọng số khác nhau khi đánh giá mức độ CBTT Chẳng hạn, nếu một mục thông tin không được công bố sẽ được gán giá trị bằng không (0), bằng (1) nếu là công bố định tính,

và bằng (2) nếu là công bố bao gồm cả định tính và định lượng

1.4 LÝ THUYẾT KHUNG VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN QUẢN LÝ RỦI RO

1.4.1 Lý thuyết đại diện (Agency Theory)

Lý thuyết đại diện cho rằng xung đột sẽ phát sinh khi có thông tin không đầy đủ và bất cân xứng giữa cổ đông/chủ sở hữu và nhà quản lý/ban giám đốc công ty Cả hai bên có lợi ích khác nhau và vấn đề này được giảm thiểu bằng cách sử dụng các cơ chế thích hợp

để có thể hạn chế sự phân hóa lợi ích giữa cổ đông/chủ sở hữu và nhà quản lý/ban giám đốc công ty, thông qua thiết lập những cơ chế đãi ngộ thích hợp cho các nhà quản lý/ban giám đốc, và thiết lập cơ chế giám sát hiệu quả để hạn chế những hành vi không bình thường,

tư lợi của nhà quản lý/ban giám đốc công ty

DN có mức độ rủi ro cao dẫn đến sự bất đối xứng thông tin cao giữa nhà quản lý với các nhà đầu tư (Deumes & Knechel, 2008) và

Trang 8

báo cáo rủi ro có thể làm giảm chi phí đại diện và sự không đối xứng thông tin giữa các nhà quản lý và các cổ đông (Watts & Zimmerman, 1983)

1.4.2 Lý thuyết tín hiệu (Signaling Theory)

Lý thuyết tín hiệu cho rằng do sự không đối xứng thông tin giữa bên trong DN và nhà đầu tư sẽ gây ra sự lựa chọn bất lợi cho nhà đầu

tư Các thông tin tốt được công bố bởi các nhà quản lý đến thị trường làm giảm bất đối xứng thông tin và được xem như là một tín hiệu tốt của thị trường Lý thuyết này ngụ ý rằng các DN có kết quả hoạt động tốt thường sử dụng thông tin tài chính như là một công cụ truyền tín hiệu đến thị trường

Lý thuyết tín hiệu giải thích hành vi của các nhà quản lý khi họ thể hiện khả năng xác định, đo lường và QLRR thông qua việc báo cáo nhiều thông tin về rủi ro hơn Do đó, họ có thể tạo sự khác biệt giữa mình với những nhà quản lý khác (Elshanididy, Fraser & Hussainey, 2013)

1.4.3 Lý thuyết chính trị (Political Theory)

Lý thuyết về ảnh hưởng của chính trị cho rằng các nhà quản lý nhà nước ra quyết định có liên quan đến lợi ích của công ty (chẳng hạn chính sách thuế, hạn chế độc quyền, cạnh tranh…) dựa trên thông tin được công bố bởi các công ty DN chịu chi phí chính trị cao

sẽ công bố nhiều thông tin hơn nhằm giảm thiểu gánh nặng của những chi phí này Vì vậy, các DN lớn hơn phải chịu chi phí chính trị cao hơn, dẫn đến mức độ CBTT cao hơn để hạn chế chi phí chính trị này

1.4.4 Lý thuyết chi phí sở hữu (Proprietary Cost Theory)

Theo lý thuyết chi phí sở hữu, chi phí sẽ phát sinh khi có sự suy giảm của dòng tiền trong tương lai do việc CBTT của DN Khi một

DN cung cấp một thông tin xấu sẽ tạo ra một chi phí vì các nhà đầu

Trang 9

tư sẽ giảm đầu tư vào DN vì không còn hấp dẫn họ, dòng tiền trong tương lai sẽ giảm Tuy nhiên, việc cung cấp thông tin xấu có thể ngăn cản được các đối thủ cạnh tranh gia nhập thị trường, dẫn đến dòng tiền trong tương lai có thể sẽ tăng lên Ngược lại, khi một DN cung cấp một thông tin tốt, các nhà đầu tư sẽ chú ý đến DN, dòng tiền trong tương lai có thể sẽ tăng lên Tuy nhiên, điều đó cũng làm cho các đối thủ cạnh tranh có thể gia nhập thị trường, dẫn đến dòng tiền trong tương lai có thể sẽ giảm xuống

Lý thuyết về chi phí sở hữu cho thấy rằng các công ty có thể CBTT về QLRR không hữu ích cho người dùng, vì các nhà quản lý nhận thấy việc công bố nhiều hơn không mang lại nhiều lợi ích hơn

so với các chi phí tiềm tàng của việc công bố (Amran, Bin & Hassan, 2009) Ngoài ra, theo Healy và Palepu (2001), các công ty có lợi nhuận cao có thể không muốn tiết lộ thông tin độc quyền của mình cho đối thủ cạnh tranh, vì nó có thể làm giảm vị thế cạnh tranh của

Lý thuyết tính kinh tế của thông tin cũng là một khuôn khổ lý thuyết phù hợp cho các phân tích thực nghiệm về việc CBTT nói chung và CBTT về QLRR nói riêng vì các DN CBTT nhằm giảm đi bất đối xứng thông tin giữa nhà quản lý và chủ sở hữu, giảm chi phí của các giao dịch mua bán cổ phiếu, giảm thiểu rủi ro ước tính của các nhà đầu tư, nhờ vào đó giảm chi phí vốn (Healy & Palepu, 2001)

Trang 10

Mặc dù, CBTT như vậy có nhiều lợi ích, nhưng các DN sẽ chỉ cung cấp thêm thông tin bổ sung nếu họ nhận thấy lợi ích của việc công bố

đó nhiều hơn các chi phí có liên quan đến việc công bố

1.5 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN VỀ QUẢN

LÝ RỦI RO

1.5.1 Quy mô doanh nghiệp

1.5.2 Tỷ suất nợ

1.5.3 Khả năng sinh lời

1.5.4 Khả năng thanh toán

1.5.5 Chủ thể kiểm toán

1.5.6 Đặc điểm hội đồng quản trị

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 2.1 THỰC TRẠNG NGÀNH TÀI CHÍNH TẠI VIỆT NAM

Theo báo cáo tổng quan thị trường tài chính (2016) của Ủy ban tài chính quốc gia, chúng ta có thể thấy được các DN thuộc ngành tài chính có tỷ lệ tăng trưởng tốt và đều có mức độ rủi ro nằm trong tầm kiểm soát được

2.2 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

Mục đích nghiên cứu của luận văn này là nhằm trả lời hai câu hỏi sau Một là, thực trạng CBTT về QLRR của các DN ngành tài chính niêm yết ở Việt Nam hiện nay như thế nào Và hai là, những nhân tố nào ảnh hưởng đến mức độ CBTT về QLRR của các DN ngành tài chính niêm yết ở Việt Nam

Trang 11

2.3 XÂY DỰNG CÁC GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU

2.3.1 Quy mô doanh nghiệp

H 1 - DN có quy mô càng lớn thì mức độ CBTT về QLRR càng cao

2.3.2 Tỷ lệ nợ

H 2 - Tỷ suất nợ của DN có ảnh hưởng đến mức độ CBTT về QLRR

2.3.3 Khả năng sinh lời

H 3 - DN có khả năng sinh lời càng cao thì mức độ CBTT về QLRR càng lớn

2.3.4 Khả năng thanh toán

H 4 - DN có khả năng thanh toán càng thấp thì mức độ CBTT về QLRR càng cao

2.3.5 Chủ thể kiểm toán

H 5 - DN được kiểm toán bởi các công ty kiểm toán độc lập có uy tín càng cao thì mức độ CBTT về QLRR càng lớn

2.3.6 Mức độ độc lập của thành viên hội đồng quản trị

H 6a – DN có tỷ lệ thành viên hội đồng quản trị không tham gia điều hành càng cao thì mức độ CBTT về QLRR càng cao

H 6b – DN có chủ tịch hội đồng quản trị không kiêm nhiệm giám đốc điều hành thì mức độ CBTT về QLRR cao hơn

2.4 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

2.4.1 Mô hình nghiên cứu

Trang 12

Trong đó:

− Biến phụ thuộc tương ứng với hai phương trình lần lượt là:

+ CBTTBBQLRR it: mức độ CBTT bắt buộc về QLRR trên BCTC năm t của DN i, và được đo lường bằng phương pháp phân tích nội dung;

+ CBTTTYQLRR it: mức độ CBTT tùy ý về QLRR trên BCTC

năm t của DN i, và được đo lường bằng phương pháp phân tích nội dung

− Biến độc lập gồm:

+ QM it: Quy mô của DN i ở thời điểm cuối năm tài chính t, được

đo lường bằng logarit cơ số 10 của tổng tài sản tại thời điểm cuối năm tài chính;

+ TSN it: Tỷ suất nợ của DN i ở thời điểm cuối năm tài chính t,

được đo lường bằng logarit cơ số 10 tỷ lệ tổng nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu tại thời điểm cuối năm tài chính;

+ KNSL it: Khả năng sinh lời của DN i ở thời điểm cuối năm tài

chính t, được đo lường bằng tỷ lệ lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu tại thời điểm cuối năm tài chính;

+ KNTT it: Khả năng thanh toán của DN i ở thời điểm cuối năm

tài chính t, được đo lường bằng logarit cơ số 10 tỷ lệ tài sản ngắn hạn trên nợ ngắn hạn tại thời điểm cuối năm tài chính;

+ CTKT it: Chủ thể kiểm toán đã thực hiện kiểm toán BCTC

của DN i cho năm tài chính t, được gán giá trị là 1 nếu thuộc big 4 và

0 nếu không thuộc big 4;

+ TLTVHĐQT it: Tỷ lệ thành viên HĐQT không tham gia điều

hành của DN i đến ngày lập BCTC năm t, được đo lường bằng tỷ lệ tổng thành viên HĐQT không tham gia điều hành trên tổng số thành viên HĐQT tại thời điểm cuối năm tài chính;

+ CTHĐQT it: Chủ tịch HĐQT kiêm nhiệm giám đốc điều hành

Trang 13

của DN i đến ngày lập BCTC năm t, được gán giá trị là 1 nếu không kiêm nhiệm và 0 nếu kiêm nhiệm

− β 1, β2, β3, β4, β5, β6, β7: là các hệ số hồi quy

và ε it là phần dư không quan sát của DN i ở thời điểm t

2.4.2 Phương pháp nghiên cứu

Để nhận diện các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ CBTT về QLRR, phân tích hồi quy với dữ liệu bảng được áp dụng với việc sử dụng 3 mô hình đó là:

(1) Mô hình Pooled OLS

(2) Mô hình FEM (Fixed Effects Model)

(3) Mô hình REM (Random Effects Model)

Sau đó, kiểm định Hausman được thực hiện để khẳng định sự phù hợp của mô hình FEM hay REM Sau khi xác định được mô hình phù hợp, luận văn thực hiện loại bỏ biến thừa ra khỏi mô hình

và ước lượng lại mô hình để đưa ra phương trình hồi quy cuối cùng

2.4.3 Đo lường biến phụ thuộc

a Lựa chọn các chỉ mục thông tin công bố

Mức độ CBTT về QLRR của các DN thuộc ngành tài chính niêm yết trong luận văn này được đánh giá trên cơ sở thang đo bao gồm hệ thống các chỉ mục CBTT được lựa chọn căn cứ theo Thông

tư 210/2009/TT-BTC Dựa vào Thông tư 210, thang đo mức độ CBTT bắt buộc về QLRR được xây dựng để đánh giá về mức độ tuân thủ của thông tin về QLRR được các DN công bố Sau khi đánh giá về mức độ tuân thủ của thông tin về QLRR mà DN công bố, thang đo mức độ CBTT tùy ý về QLRR được xây dựng nhằm đánh giá mức độ chi tiết của thông tin về QLRR mà các DN công bố

b Đo lường chỉ số công bố thông tin

Mức độ CBTT về QLRR được đo lường dựa trên công thức:

Ngày đăng: 02/10/2018, 15:14

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w