1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán thành phố hồ chí minh

119 242 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 1,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phương pháp nghiên cứu Phương pháp định tính: sử dụng phương pháp thống kê mô tả, so sánh để phân tích, đánh giá thực trạng hiệu quả tài chính và của các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả

Trang 1

TRẦN THẢO TRANG

NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN

Đà Nẵng - Năm 2018

Trang 2

TRẦN THẢO TRANG

NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

Trang 3

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được

ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Trần Thảo Trang

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Câu hỏi nghiên cứu 2

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

5 Phương pháp nghiên cứu 3

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3

7 Kết cấu của đề tài 4

8 Tổng quan tình hình nghiên cứu 5

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH 9

1.1 HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP 9

1.1.1 Khái niệm hiệu quả 9

1.1.2 Khái niệm tài chính doanh nghiệp 12

1.1.3 Khái niệm hiệu quả tài chính 14

1.1.4 Chỉ tiêu đo lường hiệu quả tài chính của doanh nghiệp 17

1.2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP 19

1.2.1 Nhân tố bên ngoài doanh nghiệp 19

1.2.2 Nhân tố bên trong doanh nghiệp 21

TÓM TẮT CHƯƠNG 1 26

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

2.1 DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU 27

2.1.1 Sở giao dịch chứng khoán Tp HCM 27

Trang 5

2.1.3 Dữ liệu cho nghiên cứu 30

2.2 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU: 31

2.3 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN SÀN CHỨNG KHOÁN TP HCM 32

2.4 THIẾT LẬP DẠNG HÀM NGHIÊN CỨU 34

2.5 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 35

2.5.1 Tính thanh khoản (LIQ) 35

2.5.2 Quy mô doanh nghiệp (SIZE) 35

2.5.3 Đòn bẩy tài chính (DFL) 36

2.5.4 Thời gian hoạt động (AGE) 36

2.5.5 Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GROWTH) 36

2.5.6 Lạm phát (INL) 37

2.5.7 Yếu tố kiểm soát ngành (INDUS1, INDUS2) 37

2.6 CÔNG CỤ XỬ LÝ THỐNG KÊ VÀ PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH DỮ LIỆU 38

2.6.1 Công cụ xử lý thống kê 38

2.6.2 Phương pháp phân tích dữ liệu 38

TÓM TẮT CHƯƠNG 2 40

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 41

3.1 THỐNG KÊ MÔ TẢ 41

3.1.1 Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu 41

3.1.2 Hệ số Tobin’s Q 45

3.1.3 Đòn bẩy tài chính 48

3.1.4 Tính thanh khoản 51

Trang 6

3.1.7 Tốc độ tăng trưởng kinh tế và lạm phát 59

3.2 KIỂM TRA SỰ TƯƠNG QUAN GIỮA CÁC BIẾN ĐỘC LẬP 60

3.3 KẾT QUẢ ƯỚC LƯỢNG CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN SÀN CHỨNG KHOÁN TP HCM GIAI ĐOẠN 2013 – 2015 61

3.3.1 Kết quả ước lượng các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) của các doanh nghiệp niêm yết tại sàn chứng khoán Tp HCM giai đoạn 2013 – 2015 61

3.3.2 Kết quả ước lượng các nhân tố ảnh hưởng đến hệ số Tobin’s Q của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán Tp HCM giai đoạn 2013 – 2015 63

3.4 PHÂN TÍCH KẾT QUẢ MÔ HÌNH ƯỚC LƯỢNG 66

3.4.1 Nhân tố tính thanh khoản (Liquidity) 66

3.4.2 Nhân tố quy mô doanh nghiệp (Size) 66

3.4.3 Nhân tố đòn bẩy tài chính (DFL) 67

3.4.4 Thời gian hoạt động của doanh nghiệp (Age) 68

TÓM TẮT CHƯƠNG 3 69

CHƯƠNG 4 HÀM Ý CHÍNH SÁCH 70

4.1 CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2011 - 2020 70

4.1.1 Quan điểm phát triển 70

4.1.2 Mục tiêu 70 4.2 HÀM Ý NÂNG CAO HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN TP HỒ CHÍ MINH 72

Trang 7

TP HCM 77 4.3.1 Thay đổi tư duy của nhà quản lý 77 4.3.2 Nâng cao khả năng thanh khoản của doanh nghiệp 78 4.4 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VỀ VIỆC HỖ TRỢ CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 79 TÓM TẮT CHƯƠNG 4 81

KẾT LUẬN 82 PHỤ LỤC

TÀI LIỆU THAM KHẢO

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI (BẢN SAO)

Trang 9

bảng

3.19

Kết quả ước lượng các nhân tố ảnh hưởng các nhân tố

ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu của

các các DN niêm yết trên sàn chứng khoán Tp HCM giai

đoạn 2013 – 2015

61

3.20

Kết quả ước lượng các nhân tố ảnh hưởng các nhân tố

ảnh hưởng đến hệ số Tobin’s Q của các các DN niêm yết

trên sàn chứng khoán Tp HCM giai đoạn 2013 – 2015

64

Trang 10

biểu đồ

Trang 11

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hiệu quả tài chính có vai trò quan trọng mang tính sống còn trong quá trình sản xuất và kinh doanh của DN vì đây là biểu trưng cho hiệu quả của việc huy động, sử dụng và quản lý vốn trong DN (Trương Bá Thanh và Trần Đình Khôi Nguyên, 2001) Đặc biệt, điều đó càng đúng trong bối cảnh Việt Nam hội nhập với thế giới tạo ra nhiều cơ hội kinh doanh bởi vì các DN trong nước không chỉ cạnh tranh với nhau mà còn cạnh tranh với các DN nước ngoài Thật vậy, muốn tồn tại, phát triển và khẳng định được vị trí của mình,

DN cần phải không ngừng tìm cách tối ưu hóa chi phí nhưng vẫn đảm bảo được nguồn đầu ra để có được lợi nhuận cao nhất và đem lại lợi ích cho người tiêu dùng và cộng đồng Để đạt được điều đó, DN luôn phải quan tâm đến hiệu quả tài chính vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh

Mặt khác, các DN niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam thường là các DN lớn nên việc phân tích hiệu quả tài chính của các DN này có vai trò quan trọng trong công tác quản trị Đó cũng là cơ sở để các nhà quản trị đưa

ra các quyết định ngắn hạn và dài hạn như quyết định đầu tư, tài trợ, phân phối cổ tức, phòng ngừa rủi ro tỷ giá trong hoạt động kinh doanh đối ngoại cũng như quyết định tiền lương, tiền thưởng nhằm đạt được mục tiêu đề ra là tối đa hóa giá trị cho chủ sở hữu DN Thông tin của DN nay được tiếp cận dễ dàng hơn để các nhà đầu tư đánh giá hiệu quả và tiềm năng phát triển cho mục đích đầu tư và chiến lược dài hạn của mình

Thực tế, có nhiều DN niêm yết lớn được loạt vào top các DN niêm yết kinh doanh hiệu quả nhất Châu Á như Vinamilk, PV Gas… nhưng từ đầu năm

2017 đến nay đã có 4 cổ phiếu bị hủy niêm yết bắt buộc do lợi nhuận sau thuế sau kiểm toán âm trong 3 năm liên tiếp và hàng chục cổ phiếu khác đang

Trang 12

đứng trước nguy cơ phải rời sàn Do đó, các DN niêm yết cần phải nâng cao hiệu quả tài chính DN để đảm bảo sự tồn tại và phát triển trên thị trường

Từ các phân tích trên, một câu hỏi đặt ra là các nhân tố nào thực sự ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của DN và các giải pháp khả thi nào có thể cải thiện hiệu qủa tài chính của DN Để trả hỏi câu hỏi này, tác giả đã chọn đề tài

“Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của các công

ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh”

2 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu gồm 2 mục tiêu chính:

Thứ nhất, tìm ra các nhân tố thật sự ảnh hưởng đến đến hiệu quả tài chính của các DN niêm yết trên thị trường chứng khoán Tp HCM giai đoạn

2013 – 2015 thông qua mô hình kinh tế lượng

Thứ hai, đề xuất một số giải pháp và kiến nghị cho cơ quan chức năng, cho chủ DN nhằm nâng cao hiệu quả tài chính của các DN niêm yết trên thị trường chứng khoán Tp HCM

3 Câu hỏi nghiên cứu

Thứ nhất, những nhân tố nào ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của các

DN niêm yết trên thị trường chứng khoán Tp HCM ?

Thứ hai, cần có những giải pháp nào để góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động tài chính của các DN niêm yết trên thị trường chứng khoán Tp HCM trong thời gian tới?

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Hiệu quả tài chính và các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của các DN niêm yết trên thị trường chứng khoán Tp.HCM Phạm vi nghiên cứu:

Phạm vi về thời gian: dữ liệu dùng trong nghiên cứu giới hạn trong năm

3 năm từ năm 2013 đến năm 2015

Trang 13

- Phạm vi về không gian: Nghiên cứu sử dụng số liệu dựa trên báo cáo tài chính của 60 DN được lựa chọn ngẫu nhiên trên Sàn giao dịch chứng khoán Tp.HCM vì vậy tổng số quan sát cho nghiên cứu này là 180 quan sát Đây là những DN có đủ điều kiện tham gia thị trường chứng khoán theo quy định của Ủy ban chứng khoán và có đầy đủ thông tin phục vụ nghiên cứu Tuy nhiên có 2 DN chỉ vừa niêm yết trên Sàn giao dịch chứng khoán Tp.HCM những năm gần đây nên sẽ bị loại ra khỏi nghiên cứu để đảm bảo tính chính xác của bộ dữ liệu (CTCP Tập đoàn Đầu tư Địa ốc No Va (NVL) niêm yết ngày 28.12.2016, CTCP Tổng DN Việt Thắng (TVT) 17.07.2017) Ngoài ra, nghiên cứu còn sử dụng các số liệu vĩ mô được thu thập từ báo cáo thường niên của Tổng Cục Thống kê Việt Nam

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp định tính: sử dụng phương pháp thống kê mô tả, so sánh để phân tích, đánh giá thực trạng hiệu quả tài chính và của các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của các DN niêm yết trên thị trường chứng khoán Tp HCM

Phương pháp định lượng: Trong nghiên cứu, tác giả sử dụng mô hình ảnh hưởng cố định (Fixed Effect Model – FEM) và tác động ngẫu nhiên (Random Effect Model – REM) Từ đó, kiểm định lựa chọn mô hình phù hợp

và tiến hành phân tích kết quả

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

6.1 Về mặt lý thuyết

Tổng quan và chọn lọc các lý thuyết về hiệu quả tài chính, các nghiên cứu trước về các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính để xây dựng mô hình lý thuyết các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính cho các DN niêm yết trên thị trường chứng khoán Tp.HCM

Trang 14

6.2 Về mặt thực tiễn

Thứ nhất, cùng với một số ít nghiên cứu về hiệu quả tài chính của DN ở các nước đang phát triển, đề tài nghiên cứu này đã đóng góp một bằng chứng thực nghiệm về vấn đề tương tự tại các DN niêm yết tại Việt Nam, một nước đang phát triển

Thứ hai, đề tài nghiên cứu kết hợp và chọn lọc từ các lý thuyết, các nghiên cứu trong và ngoài nước để xây dựng và kiểm định mô hình theo hướng đa chiều và hiệu quả nhất trong điều kiện tại Việt Nam Kết quả cho thấy có 4 nhân tố tác động đến hiệu quả tài chính của các DN niêm yết trên thị trường chứng khoán Tp Hồ Chí Minh tại Việt Nam Trong đó, bên cạnh kết quả nghiên cứu trước, đề tài nghiên cứu này đã bổ sung thêm các nhân tố liên quan đến yếu tố ngành và môi trường vĩ mô nhưng kết quả chưa tìm thấy mối tương quan nào với hiệu quả tài chính của DN

Thứ ba, kết quả nghiên cứu giúp các nhà hoạch định chính sách, các chủ

DN có một nguồn tham khảo đáng tin cậy về hiệu quả tài chính của các DN niêm yết tại Việt Nam Từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tài chính của các DN này

7 Kết cấu của đề tài

Kết cẩu của đề tài gồm: Phần mở đầu, 4 chương, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo

Phần mở đầu: trình bày tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu,

nêu ra các đối tượng nghiên cứu, tổng quan tình hình nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu về không gian và thời gian, phương pháp sử dụng để nghiên cứu,

ý nghĩa khoa học và tính thực tiễn của đề tài và giới thiệu kết cấu đề tài

Chương 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả tài chính và các nhân tố ảnh hưởng

đến hiệu quả tài chính của DN:

Trang 15

Hệ thống hóa cơ sở lý luận dựa trên việc tham khảo và tổng hợp các lý thuyết về hiệu quả tài chính, các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính và các nghiên cứu trước đây làm nền tảng thực hiện xây dựng giả thiết nghiên cứu, xây dựng và phân tích mô hình nghiên cứu cho chương tiếp theo

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Dựa trên cơ sở lý thuyết đã được hệ thống trong chương trước, phần này xây dựng các giả thiết nghiên cứu, thiết kế nghiên cứu thông qua cách chọn mẫu và xây dựng mô hình, nêu ra các kỹ thuật được sử dụng để ước lượng mô hình

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Từ mô hình nghiên cứu đã được xây dựng ở chương trước, trình bày các kết quả mô tả thống kê, kiểm định các giả thiết của mô hình nghiên cứu và phân tích kết quả từ mô hình nghiên cứu

Chương 4: Hàm ý chính sách

Nêu được những đóng góp của luận văn và một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả tài chính đối với các DN niêm yết trên thị trường chứng khoán

Tp HCM

Phần kết luận: Tóm tắt lại toàn luận văn

8 Tổng quan tình hình nghiên cứu

8.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Trong nhiều thập kỷ qua, trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu nhằm xác định cụ thể những nhân tố nào thật sự tác động đến đến hiệu quả tài chính của các DN Sau đây, tác giả xin tóm tắt một số nghiên cứu tiêu biểu

Demerhan và Waseem Anwar (2014) thực hiện nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của 140 DN sản xuất ở Borsa Istanbul trong giai đoạn khủng hoảng tài chính năm 2008 Cụ thể, nghiên cứu đã xem xét ảnh hưởng của 4 nhân tố: tính thanh khoản (Liquidity), lợi nhuận

Trang 16

(Profitability), hiệu quả quản lý tài sản (Asset Management Efficiency) và đòn bẩy tài chính (Financial Leverage) đến hiệu quả tài chính được đại diện bởi chỉ số tỷ số giá thị trường của cổ phiếu trên giá trị sổ sách của cổ phiếu (M/B) Kết quả cho thấy tính thanh khoản của DN ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính một cách tích cực trong khi đó lực đòn bẩy cao ảnh hưởng không tốt đến hiệu suất của DN trong thời gian khủng hoảng

Một nghiên cứu khác của Maleya M.O và Muturi W (2013) đã sử dụng mẫu gồm 29 DN niêm yết (không kể các ngân hàng và DN bảo hiểm) Thông qua mô hình hồi quy đa biến, tác giả cũng đã chỉ ra được 4 nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính được đại diện bởi chỉ số lợi nhuận trên tài sản (ROA)

Cụ thể, nghiên cứu cho thấy đòn bẩy có ảnh hưởng tiêu cực đáng kể đến kết quả tài chính Tuy nhiên, một điểm đáng lưu ý là mức độ đòn bẩy tối ưu sẽ giúp DN cải thiện hoạt động tài chính của mình vì nó có thể tận dụng lợi thế thuế liên quan đến cơ cấu nợ tối ưu Nghiên cứu cũng là một bằng chứng thực nghiệm cho vai trò quan trọng trong việc cải thiện hiệu suất tài chính của DN, của khả năng thanh khoản và tuổi của DN Đặc biệt, với thời gian hoạt động càng dài, các DN sẽ dần phát hiện ra điểm mạnh của mình và tìm cách làm tốt hơn Ngoài ra, các DN lớn sẽ có lợi thế cạnh tranh so với các DN nhỏ vì sở hữu nhiều nguồn lực và được hưởng lợi thế về quy mô, do đó có thể cạnh tranh hơn trên thị trường

Almajali và cộng sự (2012) nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tài chính của 25 DN bảo hiểm Jordanian niêm yết tại sàn giao dịch chứng khoán Amman trong giai đoạn 2002 – 2007 Bằng cách sử dụng kỹ thuật phân tích hồi quy đa biến, nghiên cứu này đã tìm ra được 4 nhân tố ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả tài chính (đo bằng chỉ số lợi nhuận trên tài sản) của các DN bảo hiểm: đòn bẩy tài chính, tính thanh khoản, quy mô, chỉ số năng lực quản lý đối với hoạt động tài chính của các DN bảo hiểm Trong đó,

Trang 17

thời gian hoạt động của DN lại ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả tài chính của chúng

Qua tổng lược một số nghiên cứu nước ngoài, tác giả cho rằng kết quả của các nghiên cứu này tiếp tục định hướng cho các nghiên cứu sau về vấn đề tương tự tại các quốc gia khác nhau Các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới thường chú trọng đến các các nước phát triển và các sàn giao dịch lớn, có khá

ít nghiên cứu về vấn đề tương tự tại các nước đang phát triển như Việt Nam Mặt khác, tác giả nhận thấy rằng các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới được thực hiện khá đa dạng trên bộ dữ liệu của nhiều quốc gia từ các nước phát triển đến các nước đang phát triển cũng như đa dạng từ hướng tiếp cận Tác giả cho rằng đây là những cơ sở vững chắc cho các bước tiếp theo của bài nghiên cứu

8.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Tại Việt Nam, tác giả nhận thấy chưa có nhiều bài nghiên cứu về hiệu quả tài chính của DN Tuy vậy, vẫn có một số nghiên cứu đáng chú ý được tìm thấy

Nguyễn Thành Cường (2016) nghiên cứu về tác động của đầu tư vốn lưu

động đến hiệu quả tài chính của các DN chế biến thủy sản ở Khánh Hòa

Nghiên cứu chỉ ra rằng quyết định đầu tư vốn lưu động là rất quan trọng đối với tất cả các DN vì có ảnh hưởng mạnh đến hiệu quả tài chính DN, do đó ảnh hưởng đến giá trị DN Bằng việc áp dụng phương pháp ước lượng GMM trên một mẫu gồm 38 DN chế biến thủy sản tại Khánh Hòa giai đoạn 2006 –

2014 tác giả đã phát hiện có một mối quan hệ hình chữ U ngược giữa đầu tư vào vốn lưu động và hiệu quả tài chính DN Ngoài ra, nghiên cứu cung cấp bằng chứng mới về sự tồn tại của mức độ đầu tư vốn lưu động tối ưu là 32% Điều đó có nghĩa là việc đầu tư vốn lưu động quá 32% sẽ làm giảm hiệu quả tài chính DN Việc đẩy mạnh tăng trưởng doanh thu và nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản có thể góp phần gia tăng hiệu quả tài chính của DN Đồng thời,

Trang 18

DN cần dùng đòn bẩy tài chính để nâng cao hiệu quả tài chính DN, tuy nhiên không nên quá 57.39%

Chu Thị Thu Thủy và cộng sự ( 2015) nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính tại 230 CTCP phi tài chính niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Tp HCM (HOSE) giai đoạn 2011 – 2013 trong 14 ngành Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng ROA là thước đo hiệu quả tài chính và chỉ ra được các nhân tố: tỷ lệ vốn nhà nước, đòn bẩy tài chính, năng lực quản lý, quy mô DN, khả năng thanh toán nhanh và chu kì sản xuất kinh doanh ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả tài chính

Nghiên cứu của Đoàn Ngọc Phi Anh (2010) đã sử dụng dữ liệu trên BCTC của 428 DN niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam để xây dựng dữ liệu, xây dựng danh mục các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính và hiệu quả tài chính của DN Vận dụng phương pháp phân tích đường dẫn, tác giả vừa xác định được các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc tài chính, vừa phân tích được sự tác động của cấu trúc tài chính và hiệu quả hoạt động kinh doanh đến hiệu quả tài chính của DN Từ đó, đưa đến kết luận các DN niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam đã sử dụng tốt công cụ đòn bẩy tài chính để nâng cao hiệu quả tài chính

Nhìn chung, có một thực tế là đa số các nghiên cứu trên thế giới và ngay

cả Việt Nam đang hướng sự tập trung vào các yếu tố nội tại DN Trong khi thực tế môi trường bên ngoài bao gồm tổng thể các quan hệ kinh tế, chính trị,

xã hội cũng có tác động lớn đến hoạt động của DN Vì vậy, về hướng nghiên cứu cho vấn đề này tại Việt Nam, tác giả đề nghị nên tiếp tục dựa trên nền tảng của các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước kết hợp các nhân tố bên ngoài khác như lạm phát, tốc độ tăng trưởng kinh tế… để có cách nhìn toàn diện hơn Chính vì sự toàn diện hóa các mặt này sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách dễ dàng định hướng cũng như bản thân chủ DN sẽ có những cải tiến phù hợp nhằm giúp DN không ngừng nâng cao hiệu quả từ đó đóng góp tích cực vào sự tăng trưởng kinh tế quốc dân

Trang 19

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH

1.1 HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP

1.1.1 Khái niệm hiệu quả

Hiệu quả: là sự liên quan giữa nguồn lực đầu vào khan hiếm (như lao động, vốn, máy móc…) với kết quả trung gian hay kết quả cuối cùng Hiệu quả là một phạm trù được sử dụng rộng rãi trong tất cả các lĩnh vực kinh tế,

kỹ thuật, xã hội Hiểu theo nghĩa rộng, hiệu quả thể hiện mối tương quan giữa các biến số đầu ra thu được so với các biến số đầu vào đã được sử dụng để tạo

C: là chi phí toàn bộ để đạt được kết quả đó

Và có thể khái niệm ngắn gọn:

Hiệu quả kinh tế phản ánh chất lượng hoạt động kinh tế và được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó Quan điểm này đã đánh giá được tốt nhất trình độ sử dụng các nguồn lực

ở mọi điều kiện “động” của hoạt động kinh tế Vậy hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (lao động, máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu và tiền vốn) nhằm đạt được mục tiêu mà DN đã xác định

Trang 20

Khái niệm hiệu quả kinh tế nói chung và hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh nói riêng đã khẳng định bản chất của hiệu quả kinh tế trong hoạt động sản xuất kinh doanh là phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh doanh, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (lao động, thiết bị máy móc, nguyên nhiên vật liệu và tiền vốn) để đạt được mục tiêu cuối cùng của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của DN mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận Tuy nhiên, để hiểu rõ bản chất của phạm trù hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh, cũng cần phân biệt ranh giới giữa hai khái niệm hiệu quả và kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh

Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh là những gì mà DN đạt được sau một quá trình sản xuất kinh doanh nhất định, kết quả cần đạt cũng là mục tiêu cần thiết của DN Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của một DN có thể

là những đại lượng cân đong đo đếm được như số sản phẩm tiêu thụ mỗi loại, doanh thu, lợi nhuận, thị phần, … và cũng có thể là các đại lượng phản ánh mặt chất lượng hoàn toàn có tính chất định tính như uy tín của DN, chất lượng sản phẩm, … Như thế, kết quả bao giờ cũng là mục tiêu của DN Trong khi

đó, công thức (1) lại cho thấy trong khái niệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh người ta đã sử dụng cả hai chỉ tiêu kết quả (đầu ra) và chi phí (các nguồn lực đầu vào) để đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh

Để tiến hành bất kỳ một hoạt động sản xuất kinh doanh nào cũng như thực hiện sự kết hợp giữa lao động với các yếu tố vật chất để tạo ra kết quả phù hợp với ý đồ của DN và từ đó có thể tạo ra lợi nhuận Như vậy, mục tiêu bao trùm lâu dài của kinh doanh là tạo ra lợi nhuận, tối đa hóa lợi nhuận trên

cơ sở nguồn lực sẵn có Để đạt được mục tiêu này, quản trị DN phải sử dụng nhiều phương pháp khác nhau Hiệu quả kinh doanh là một công cụ để các nhà quản trị thực hiện chức năng quản trị của mình Việc xem xét và tính toán hiệu quả kinh doanh không những chỉ cho biết việc sản xuất đạt ở trình độ

Trang 21

nào mà còn cho phép các nhà quản trị phân tích, tìm ra các nhân tố để đưa ra các biện pháp thích hợp trên cả hai phương diện tăng kết quả, giảm chi phí kinh doanh, nhằm nâng cao hiệu quả

Bản chất của phạm trù hiệu quả đã chỉ rõ trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất càng cao, DN càng có khả năng tạo ra kết quả cao trong cùng một nguồn lực đầu vào hoặc tốc độ tăng kết quả lớn hơn so với tốc độ tăng việc sử dụng các nguồn lực đầu vào Đây là điều kiện tiên quyết để DN đạt được mục tiêu lợi nhuận tối đa Do đó, xét trên phương diện lý luận và thực tiễn, phạm trù hiệu quả sản xuất kinh doanh đóng vai trò rất quan trọng trong việc đánh giá, so sánh, phân tích kinh tế nhằm tìm ra một giải pháp tối ưu nhất, đưa ra phương pháp đúng đắn nhất để đạt được mục tiêu lợi nhuận tối đa Với tư cách là một công cụ đánh giá và phân tích kinh tế, phạm trù hiệu quả không chỉ được sử dụng ở giác độ tổng hợp, đánh giá chung trình độ sử dụng tổng hợp các nguồn lực đầu vào trong phạm vi hoạt động của toàn DN, mà còn sử dụng để đánh giá trình độ sử dụng của từng yếu tố đầu vào ở phạm vi toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của DN cũng như ở từng bộ phận cấu thành của DN Nâng cao hiệu quả kinh doanh tức là đã nâng cao khả năng sử dụng các nguồn lực có hạn trong sản xuất, đạt được sự lựa chọn tối ưu Trong điều kiện khan hiếm các nguồn lực sản xuất thì nâng cao hiệu quả kinh doanh là điều kiện không thể không đặt ra đối với bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào

Từ công thức định nghĩa về hiệu quả kinh tế, chúng ta thấy hiệu quả là mối quan hệ giữa đầu ra so với chi phí của các yếu tố đầu vào khan hiếm đã được sử dụng để tạo ra được kết quả đó trong một thời kì nhất định Do đó, hiệu quả phản ánh trình độ sử dụng chi phí nguồn lực đầu vào thấp nhất để đạt được kết quả đầu ra cao nhất

Trang 22

Gọi H là hiệu quả tài chính DN, thì H được thể hiện qua công thức toán học sau:

Qua công thức trên, dễ dàng nhận thấy cứ một đồng chi phí bỏ ra cho các yếu tố đầu vào thì tạo ra được bao nhiêu đồng kết quả đầu ra Theo đó, nếu H>1, chứng tỏ hiệu quả tài chính của DN càng tốt và ngược lại Hiệu suất cao phản ánh hiệu quả quản lý và hiệu quả trong việc sử dụng các nguồn lực của

DN và điều này góp phần vào nền kinh tế của đất nước nói chung Nếu H ≤ 1, chứng tỏ DN không đạt hiệu quả tài chính

1.1.2 Khái niệm tài chính doanh nghiệp

Tài chính DN là một khâu của hệ thống tài chính trong nền kinh tế, là một phạm trù khách quan gắn liền với sự ra đời của nền kinh tế hàng hoá tiền

tệ

Để tiến hành hoạt động kinh doanh, bất cứ một DN nào cũng phải có một lượng vốn tiền tệ nhất định, đó là một tiền đề cần thiết Quá trình hoạt động kinh doanh của DN cũng là quá trình hình thành, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ của DN Trong quá trình đó, đã phát sinh các luồng tiền tệ gắn liền với hoạt động đầu tư vào các hoạt động kinh doanh thường xuyên của

DN, các luồng tiền tệ đó bao hàm các luồng tiền tệ đi vào và các luồng tiền tệ

đi ra khỏi DN, tạo thành sự vận động của các luồng tài chính của DN

Trang 23

Gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các vốn tiền tệ của

DN là các quan hệ kinh tế biểu hiện dưới hình thức giá trị tức là các quan hệ tài chính trong DN Trong các DN, có những quan hệ tài chính sau:

- Quan hệ giữa DN với nhà nước, được thể hiện qua việc nhà nước cấp vốn cho DN hoạt động (đối với các DN nhà nước) và DN thực hiện các nghĩa

vụ tài chính đối với nhà nước như nộp các khoản thuế và lệ phí,

- Quan hệ giữa các DN đối với các chủ thể kinh tế khác như quan hệ về mặt thanh toán trong việc vay và cho vay vốn, đầu tư vốn, mua hoặc bán tài sản, vật tư, hàng hoá và các dịch vụ khác

- Quan hệ trong nội bộ DN, được thể hiện trong DN thanh toán tiền lương, tiền công và thực hiện các khoản tiền thưởng, tiền phạt với công nhân viên của DN; quan hệ thanh toán giữa các bộ phận trong DN, trong việc phân phối lợi nhuận sau thuế của DN; việc phân chia lợi tức cho các cổ đông, việc hình thành các quỹ của DN

Vì thế, có thể nói rằng tài chính DN là quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ phát sinh trong quá trình hoạt động của DN nhằm góp phần đạt tới các mục tiêu của DN Các hoạt động có liên quan đến việc tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ thuộc các hoạt động tài chính của

DN Mặt khác, các quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền với việc tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ của DN hợp thành các quan hệ tài chính của

DN Tổ chức tốt các mối quan hệ tài chính trên cũng nhằm đạt tới các mục tiêu hoạt động của DN

Tóm lại, tài chính DN là hoạt động liên quan đến việc huy động hình

thành nên nguồn vốn và sử dụng nguồn vốn đó để tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản và hoạt động kinh doanh của DN nhằm đạt được mục tiêu đề ra Tài chính DN liên quan đến ba loại quyết định chính: quyết định đầu tư, quyết

Trang 24

định nguồn vốn và quyết đinh phân phối lợi nhuận nhằm đạt mục tiêu đề ra là tối đa hóa giá trị cho chủ sở hữu DN (Nguyễn Minh Kiều, 2010)

1.1.3 Khái niệm hiệu quả tài chính

Từ hai khái niệm trên, hiệu quả tài chính DN là hiệu quả của việc huy

động, sử dụng và quản lý nguồn vốn trong DN Thật vậy, để thực hiện một dự

án đầu tư, bất kỳ nhà đầu tư nào cũng phải huy động nguồn vốn nhất định Có vốn thì dự án đầu tư mới được thực hiện

Như vậy, nhà đầu tư huy động các nguồn vốn từ:

Nguồn vốn thứ nhất là vốn do ngân sách cấp và có nguồn gốc từ ngân sách Đây là nguồn vốn chủ yếu để hình thành nên các DN nhà nước của nước

ta Nguồn vốn này bao gồm giá trị của tất cả các tài sản mà nhà nước giao cho

DN quản lý khi thành lập DN cùng với các nguồn vốn mà DN tự tích luỹ bổ sung trong quá trình hoạt động từ lợi nhuận có được trong kinh doanh trên cơ

sở khai thác và sử dụng nguồn vốn mà nhà nước đã giao

Nguồn vốn thứ hai là nguồn vốn vay hoặc vốn huy động: trong nền kinh

tế thị trường , để thực hiện quá trình tập trung tư bản, các nhà tư bản có rất nhiều cách tiến hành khác nhau Song thông dụng nhất là khai thác các nguồn vốn vay hoặc là các nguồn đóng góp, vốn liên doanh liên kết, hoặc các nguồn vốn huy động từ các chủ đầu tư trong nước đó là người Việt Nam, tổ chức có pháp nhân Việt Nam hoặc các nguồn vốn huy động từ các chủ đầu tư ở nước ngoài Trong quá trình hoạt động, các DN đều tìm mọi cách để khai thác các nguồn vốn này để phục vụ cho mục tiêu phát triển sản xuất, mở rộng quy mô kinh doanh của mình

Đối với nguồn vốn do ngân sách cấp, ưu điểm của nó là số lượng vốn lớn, thường sử dụng cho các dự án phúc lợi xã hội cần nhiều vốn đầu tư hoặc cho các DN nhà nước, người chủ quản lý không cần quan tâm nhiều đến khả năng huy động vốn của mình vì đã có sẵn vốn từ ngân sách cấp Tuy nhiên

Trang 25

nguồn vốn này có các nhược điểm như: trong quá trình sử dụng vốn, người sử dụng không quan tâm nhiều đến hiệu quả của đồng vốn vì không phải vốn do

họ bỏ ra, gây ra tình trạng lãng phí vốn, sử dụng vốn vào các khoản mục không cần thiết, đồng vốn không sinh lời

Đối với nguồn vốn huy động, thì có thể huy động từ các nguồn khác nhau như huy động từ nội bộ, huy động từ vốn vay, từ vốn cổ phần Trước hết, về nguồn vốn huy động từ nội bộ, giải pháp tài chính thông thường là chủ đầu tư phải đảm bảo được một phần kinh phí đầu tư ban đầu bằng vốn tự có của mình, chủ yếu là để đầu tư vào tài sản cố định Đối với các dự án công nghiệp, tỷ lệ vốn huy động từ nội bộ không nên quá thấp mà chủ đầu tư nên

cố gắng giữ được ở mức trên dưới 30% so với tổng vốn đầu tư Để làm được điều này chủ đầu tư thường chuyển một phần vốn tích luỹ được từ lợi nhuận ròng từ trước đến nay của DN để đầu tư cho dự án Ưu điểm cơ bản của nguồn vốn này là chi phí huy động vốn thấp, vì là vốn của chính DN nên không tốn các khoản chi phí khác, vốn thuộc sở hữu của DN nên chủ đầu tư

có toàn quyền chủ động quyết định sử dụng chúng mà không gặp phải bất cứ một sự cản trở nào Mặt khác, nguồn vốn huy động từ nội bộ thường có chi phí cơ hội thấp do đó an toàn hơn cho chủ đầu tư trong quá trình đầu tư Tuy nhiên, nếu gia tăng quá lớn tỷ lệ tài trợ từ nguồn nội bộ thì có thể dẫn đến một

số bất lợi cơ bản sau đây: làm suy giảm khả năng tài chính hiện tại của DN do

đó có thể sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ các hoạt động khác của DN Tiếp theo nó

sẽ làm giảm tỷ suất sinh lợi vốn tự có của DN, vì nếu sử dụng đầu tư vào dự

án trong hiện tại thì thu được lợi nhuận trong tương lai với thời gian khá dài,

do đó làm giảm tỷ suất sinh lợi, điều này trực tiếp ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận trên cổ phần của cổ đông Mặt khác, nếu xem xét theo quan điểm kinh

tế thì chi phí của nguồn vốn nội bộ được đo lường bằng chi phí cơ hội, tức là những khoản lợi nhuận này nếu không giữ lại DN mà chi trả cho cổ đông và

Trang 26

họ dùng nó để đầu tư thu lợi nhuận tại nơi khác cao hơn, như vậy, khi dùng nguồn vốn nội bộ cần xem xét chi phí cơ hội Thứ hai, đối với vốn cổ phần, khi khả năng huy động từ nguồn vốn tích luỹ bị hạn chế, các nhà đầu tư thường tìm nguồn tài trợ mới bằng cách tăng vốn cổ phần, tức là DN sẽ phát hành thêm cổ phiếu mới Ưu điểm của việc tài trợ bằng nguồn vốn cổ phần là vốn được tài trợ bởi chủ sở hữu của các DN cụ thể ở đây là của chủ dự án do

đó đây là nguồn vốn khá chắc chắn và với nguồn vốn này chúng ta không phải trả lãi cho vốn cổ phần đã huy động được mà sẽ chia lợi tức cổ phần cho các chủ sở hữu nếu DN làm ra được lợi nhuận, lợi tức cổ phần chia cho cá cổ đông tuỳ thuộc vào quyết định của Hội đồng quản trị và nó thay đổi theo mức lợi nhuận mà DN đạt được, như vậy nó sẽ giúp DN chủ động trong việc sử dụng vốn và hoạt động có hiệu quả hơn vì các cổ đông đều xem đó là vốn của mình và với nguồn vốn này DN không phải hoàn trả những khoản tiền vốn đã nhận được cho chủ sở hữu trừ khi DN đóng cửa và chia tài sản, và một ưu điểm nữa là DN không phải thế chấp tài sản hay nhờ bảo lãnh bởi vốn huy động là của các chủ sở hữu Tuy nhiên, trong trường hợp huy động vốn mới

từ bên ngoài, DN thường phải tốn kém thêm chi phí để huy động vốn so với việc huy động vốn từ nội bộ, cụ thể huy động vốn cổ phần thì đó chính là chi phí phát hành cổ phần được trả cho dịch vụ phát hành chứng khoán Điều này dẫn đến việc DN chỉ nhận được một khoản vốn thực tế thấp hơn khoản vốn huy động vì phải khấu trừ đi phần chi phí phát hành Trong việc sử dụng vốn

tự có và vốn huy động cổ phần, chủ dự án nên tập trung nó cho việc đầu tư vào tài sản cố định đảm bảo một tỷ lệ hợp lý trong cơ cấu vốn đầu tư Nếu vốn tự có và vốn cổ phần chiếm một tỷ lệ quá cao trong tổng kinh phí vốn đầu

tư có thể dẫn đến lợi nhuận trên vốn tự có giảm tuy rằng lúc đó mức độ độc lập của DN cao hơn và DN có nhiều cơ hội để quyết định kinh doanh mạo hiểm hơn Một nguồn vốn huy động nữa, đó là vốn vay Nếu vốn tự có của

Trang 27

DN ít, dự án thường phải tìm kiếm các khoản tài trợ tài chính thường là thông qua các khế ước vay nợ từ ngân hàng, điều này dẫn đến sự bất lợi cho DN vì phải chịu áp lực lớn của gánh nặng nợ nần dẫn đến việc phải hy sinh nhiều lợi ích để thanh toán các khoản lãi vay đồng thời để mất tự chủ trong kinh doanh, khó khăn trong việc ra các quyết định kinh doanh Với khoản vốn vay này DN phải trả lãi cho các khoản tiền đã vay, do đó chi phí huy động vốn lớn DN phải hoàn trả lại toàn bộ vốn vay cho các chủ nợ vào một thời điểm nào đó trong tương lai, do đó DN phải luôn chịu gánh nặng nợ nần và lo lắng khả năng trả nợ của mình Để vay được DN phải thế chấp bằng các loại tài sản như hàng hoá các loại, tài sản cố định, quyền sở hữu tài sản, cổ phiếu hay các biện pháp bảo lãnh cho vay Trong trường hợp tài trợ bằng vay nợ, rủi ro tài chính sẽ phát sinh do DN phải gánh chịu một khoản lãi phải trả cố định Nhìn chung, các DN có rủi ro trong kinh doanh cao thường có xu hướng sử dụng ít vốn vay hơn so với các DN có mức độ rủi ro thấp Các DN chấp nhận tài trợ bằng nguồn vốn vay cao cũng đồng thời đã chấp nhận phải gánh chịu rủi ro tài chính cao hơn Tuy nhiên hiện nay, bất kỳ dự án nào họ cũng có sử dụng vốn vay, nó có ưu điểm là: vốn vay sẽ bổ sung vốn đầy đủ cho dự án Có vốn vay DN mới có thể cân đối cơ cấu vốn để tỷ suất sinh lời vốn của DN cao hơn Vốn vay sẽ làm cho chủ dự án quan tâm đến hiệu quả hoạt động để đảm bảo khả năng trả nợ vay Trong nhiều trường hợp, lãi suất vay vốn được sử dụng như là chi phí cơ hội để đánh giá kinh tế của các dự án đầu tư, trong trường hợp này chi phí cơ hội được xác định chính là tỷ suất lợi nhuận tối thiểu điều chỉnh theo tỷ suất thuế thu nhập

1.1.4 Chỉ tiêu đo lường hiệu quả tài chính của doanh nghiệp

Đánh giá và đo lường hiệu quả tài chính DN là một trong những vấn đề gây tranh cãi và được thảo luận nhiều trong quản lý tài chính Việc sử dụng các công cụ nào để đánh giá về hiệu quả tài chính DN có vai trò quan trọng

Trang 28

Thực tế, có nhiều chỉ tiêu dùng để đo lường hiệu quả tài chính DN, song các chỉ tiêu thường được sử dụng nhất trong các nghiên cứu có thể chia thành hai nhóm chính: nhóm chỉ tiêu sử dụng công cụ kế toán và nhóm chỉ tiêu gồm các mô hình kinh tế dựa trên giá trị thị trường

Về nhóm chỉ tiêu sử dụng công cụ kế toán: Để đo lường hiệu quả tài chính DN, chỉ tiêu lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) và lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) hiện là hai hệ số được sử dụng phổ biến nhất Chỉ tiêu ROA được tính bằng cách tỷ số của lợi nhuận và tổng tài sản, chỉ tiêu ROE được tính bằng tỷ số lợi nhuận và vốn chủ sở hữu Tuy nhiên, giá trị của hai

hệ số này có thể phụ thuộc vào cách lấy chỉ tiêu lợi nhuận Le và Buck (2011) Wang và Xiao (2011), Hu và Izumida (2008) sử dụng lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT) để tính hai hệ số trên, Ali và Saeed (2011), Thomsen & Pedersen (2000) sử dụng lợi nhuận thuần cộng với lãi vay hoặc Tao và cộng

sự (2009), Tian và Estrin (2008) chỉ dùng lợi nhuận thuần Các hệ số ROA và ROE là những chỉ báo hiệu quả cho kết quả sản xuất kinh doanh hiện tại và phản ánh giá trị lợi nhuận mà DN đã đạt được trong kỳ báo cáovà không đưa

ra một góc nhìn dài hạn cho cổ đông và lãnh đạo DN bởi đó là các thước đo quá khứ và ngắn hạn

Về nhóm chỉ tiêu các mô hình kinh tế dựa trên giá trị thị trường: cũng thường được sử dụng để phản ảnh hiệu quả tài chính Trong đó, hai hệ số MBVR và Tobin’s Q được xem là công cụ đánh giá tốt về hiệu quả tài chính

DN Cụ thể, hệ số MBVR là tổng giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu so với giá trị sổ sách của vốn chủ sở hữu trong khi hệ số Tobin’s Q được tính là giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu cộng với giá trị sổ sách các khoản nợ phải trả so với giá trị sổ sách của tổng tài sản Hai chỉ tiêu này cho biết hiệu quả tương lai của DN bởi chúng phản ánh được đánh giá của thị trường về tiềm

Trang 29

năng lợi nhuận của DN trong tương lai thông qua phản ánh vào thị giá của cổ phiếu

Nhìn chung, hiệu quả tài chính của các DN có thể được đánh giá thông qua hai nhóm hệ số, trong đó 4 chỉ tiêu thiết yếu nhất bao gồm ROA, ROE, MBVR và Tobin’s Q Đặc biệt, sự kết hợp của hai nhóm hệ số này có thể đưa

ra cho nhà quản lý, lãnh đạo DN, cổ đông và thị trường những đánh giá bao quát về hiệu quả tài chính trong quá khứ cũng như tiềm năng trong tương lai Bài nghiên cứu này sẽ sử dụng chỉ tiêu ROE và Tobin’s Q đại diện cho hiệu quả tài chính DN

1.2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP

Hiệu quả tài chính của DN phải chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố khác nhau bao gồm các nhân tố bên trong và bên ngoài DN

1.2.1 Nhân tố bên ngoài doanh nghiệp

Môi trường bên ngoài là tổng thể các quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội

tác động đến hoạt động của DN

Kinh tế đất nước ngày càng mở cửa, yêu cầu đặt ra đối với các DN là làm thế nào tận dụng cơ hội mới để thoát khỏi tình trạng “năng lực cạnh tranh

kém” là không đơn giản Năng lực cạnh tranh kém bắt nguồn từ những hạn

chế về vốn Do đó, họ khó tiếp cận tín dụng (do tài sản thế chấp nhỏ hoặc không có) để thực hiện đầu tư đổi mới công nghệ, dẫn đến chất lượng sản phẩm kém và giá thành sản phẩm cao Theo đó, năng lực cạnh tranh kém đưa đến kết cục hiệu quả tài chính thấp, khó tích tụ vốn để thực hiện đầu tư đổi mới công nghệ và phát triển Việc xâm nhập thị trường Việt của các DN lớn nước ngoài còn có thể tạo ra những xu hướng tiêu dùng mới mà các DN Việt gần như đứng ngoài

Trang 30

Các yếu tố chính trị - luật pháp, kinh tế, kỹ thuật – công nghệ, văn hóa –

xã hội có ảnh hưởng sâu sắc đến hoạt động kinh doanh của DN Trong môi trường đó, đòi hỏi các nhà quản lý phải am hiểu, có tầm nhìn chiến lược, kế hoạch huy động, sử dụng và quản lý hiệu quả nguồn vốn

a Tốc độ tăng trưởng kinh tế

Tốc độ tăng trường kinh tế được xem là một nhân tố sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của DN Thật vậy, khi tăng trưởng kinh tế ổn định sẽ kéo theo sự gia tăng nhu cầu đối với hàng hóa dịch vụ Đây là một điều kiện cần để thúc đẩy các DN đầu tư sản xuất và phát triển thị trường Trong khi đó, các DN luôn tìm mọi cách để tối ưu hóa chi phí thông qua hoạch định kế hoạch, tổ chức và kiểm soát các nhân tố đầu vào Do đó, hiệu quả tài chính của DN sẽ song hành cùng phát triển kinh tế

Các nghiên cứu thực nghiệm cũng tìm được mối liên hệ của tốc độ tăng trưởng kinh tế đến hiệu quả tài chính của DN Kung (2013) kiểm định tác động tích cực của tăng trưởng kinh tế đến hiệu quả tài chính của các DN đại chúng tại Kenya Tương tự, nghiên cứu của Illo (2012) về tác động của các yếu tố môi trường vĩ mô đến hiệu quả tài chính của các ngân hàng thương mại

và cũng tìm được mối quan hệ cùng chiều của tốc độ tăng GDP

b Lạm phát

Lạm phát là một trong những nhân tố vĩ mô tác động đến hiệu quả tài chính của DN thông qua chi phí lãi vay Điều đó có nghĩa là khi lạm phát tăng thì các ngân hàng sẽ điều chỉnh lãi suất cho vay các khoản tín dụng và kết quả

là tăng chí phí đi vay của DN Bên cạnh đó, lạm phát tăng nghĩa là thu nhập thực tế của người dân giảm trong khi giá cả hàng hóa tăng Điều này đồng nghĩa với giảm sức mua hàng hóa và dịch vụ sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến đầu ra của DN Do đó, lạm phát tăng sẽ làm tăng chi phí và giảm doanh thu dẫn đến giảm hiệu quả tài chính của DN

Trang 31

Về phương diện thực nghiệm, Browne và cộng sự (2001) đã tìm được ảnh hưởng tiêu cực của lạm phát lên hiệu quả tài chính của các DN bảo hiểm Tương tự, Mwangi (2013) cũng tìm được kết quả mối quan hệ âm của lạm phát của các DN trong lĩnh vực hàng không

c Nhân tố môi trường ngành

Ở cấp độ ngành, các yếu tố môi trường bao gồm: Sức ép và yêu cầu của khách hàng, các đối thủ cạnh tranh hiện có và tiềm ẩn, mức độ phát triển của thị trường, các sản phẩm thay thế sản phẩm của DN đang sản xuất Những nhân tố này ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu và chi phí sản xuất của DN bao gồm việc làm sao để sản xuất sản phẩm với chi phí thấp, đảm bảo chất lượng và giá cả phải cạnh tranh để không bị đào thải khỏi thị trường là một bài toán khó với các nhà quản trị DN Nhưng cũng nhờ vậy mà để tồn tại trong ngành các DN sẽ không ngừng tìm cách để nâng cao hiệu quả tài chính của mình

Các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới chủ yếu nghiên cứu hiệu quả tài chính trong một ngành cụ thể Browne và cộng sự (2001) nghiên cứu về ngành bảo hiểm, Mwangi (2013) nghiên cứu trong lĩnh vực hàng không, Nguyễn Thành Cường (2016) nghiên cứu về các DN thủy sản Vì vậy, yếu tố ngành có thể sẽ có tác động đến hiệu quả tài chính của DN

1.2.2 Nhân tố bên trong doanh nghiệp

Dựa vào lý thuyết về hiệu quả tài chính, các chỉ số trong các báo cáo tài chính và các nghiên cứu thực nghiệm trước đó, tác giả đề xuất các nhân tố bên trong DN ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính

a Nhân tố tính thanh khoản (Liquidity)

Tính thanh khoản của DN là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá hiệu quả tài chính, theo đó thể hiện mối quan hệ tài chính giữa khả năng thanh toán

và nhu cầu thanh toán của DN trong kì (Nguyễn Năng Phúc, 2008)

Trang 32

Thanh khoản là mức độ nợ đến hạn trong 12 tháng tới có thể được thanh toán bằng tiền mặt hoặc tài sản sẽ được chuyển thành tiền mặt Nó thường được đo bằng tài sản hiện tại với nợ ngắn hạn (tỷ lệ hiện tại) Nó cho thấy khả năng chuyển đổi tài sản thành tiền mặt nhanh chóng và phản ánh khả năng của DN để quản lý vốn lưu động khi giữ ở mức bình thường Một DN có thể

sử dụng tài sản lỏng để tài trợ các hoạt động và đầu tư của mình khi không có nguồn tài chính bên ngoài hoặc do quá tốn kém Mặt khác, thanh khoản cao hơn sẽ cho phép một DN đối phó với bấ bất ngờ và đối phó với các nghĩa vụ của mình trong thời gian thu nhập thấp (Liargovas, và Skandalis, 2008)

Các nghiên cứu thực hiện gần đây cũng tìm được mối liên hệ của khả năng thanh khoản đến hiệu quả tài chính của DN Demirhan và Waseem (2014) kiểm định tính thanh khoản của DN ảnh hưởng tích cực đến giá trị thị trường của DN trong thời gian khủng hoảng Tương tự, nghiên cứu của Almajali và cộng sự (2012) cũng cho thấy tính thanh khoản có ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả tài chính của 25 DN bảo hiểm Jordanian niêm yết tại sàn giao dịch chứng khoán Amman

b Nhân tố quy mô DN (Size)

Quy mô DN được xem là một trong những nhân tố làm ảnh hưởng hiệu quả tài chính của DN Trong đó, quy mô DN có thể được đo lường bằng số lượng nhân viên, tổng tài sản hay tổng doanh thu Cụ thể, các DN có quy mô lớn có khả năng vay nợ nhiều hơn các DN có quy mô nhỏ Điều này

(thông tin của DN tới nhà đầu tư thường không được đầy đủ và chính xác) Vì vậy, các DN lớn được các nhà đầu tư tin cậy hơn, nhất là các ngân hàng

Mối quan hệ của quy mô DN đến hiệu quả tài chính vẫn chưa thống nhất được trong các nghiên cứu Hiện nay, có hai quan điểm liên quan đến mối quan hệ này

Trang 33

Thứ nhất, quy mô DN sẽ tác động tăng hiệu quả tài chính thông qua lợi thế theo quy mô Trong quá trình sản xuất, luôn cần một số lượng tối thiểu các đầu vào để duy trì hoạt động của DN (gọi là chi phí cố định) và không thay đổi theo mức sản lượng Điều đó có nghĩa là các chi phí này bắt đầu từ những mức sản lượng thấp và không tăng cùng với mức tăng của sản lượng Vì vậy, khi sản lượng tăng, DN sẽ đạt được lợi thế kinh tế nhờ qui mô

vì các chi phí cố định này có thể chia cho một số lượng nhiều hơn các đơn vị sản lượng và như vậy nó làm giảm chi phí bình quân cho một đơn vị sản phẩm Mặt khác, khi DN mở rộng sản xuất và thuê thêm lao động thì mỗi người công nhân có thể tập trung vào một công việc cụ thể và giải quyết công việc đó có hiệu quả hơn, do đó có hiệu quả hơn, góp phần làm giảm chi phí bình quân Ngoài ra, DN có quy mô lớn thường cần đến lợi thế của các loại máy móc mới, hiện đại, để có thể sản xuất ra nhiều sản phẩm đến mức làm cho chi phí bình quân giảm Củng cố cho mối qua hệ dương này, kết quả nghiên cứu của Đoàn Ngọc Phi Anh (2010) cho thấy quy mô có tác động cùng chiều lên cấu trúc tài chính và hiệu quả tài chính của DN của 428

DN niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Thứ hai, quy mô và hiệu quả tài chính cũng có thể thể hiện qua mối quan hệ ngược chiều Khi DN lớn hơn thì công việc quản lý trở nên khó khăn hơn, vấn đề này được mô tả như là tính phi kinh tế do qui mô trong quản

lý Các DN lớn thường cần nhiều cấp quản lý, vì vậy các DN sẽ trở nên quan liêu, khó quản lý, gây khó khăn trong việc điều hành sản xuất kinh doanh và khi đó chi phí bình quân bắt đầu tăng lên Nghiên cứu mới nhất của Nguyễn Văn Hương (2016) đã đưa ra kết quả quy mô DN tác động âm có ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của một số DN ở Khánh Hòa

Trang 34

c Nhân tố đòn bẩy tài chính (DFL)

Đòn bẩy tài chính là mức độ mà một DN sử dụng nợ Lợi nhuận trên vốn

cổ phần của một DN sẽ được gia tăng khi DN kiếm được nhiều hơn từ các khoản đầu tư được tài trợ bằng các khoản vay mượn hơn là lãi suất (Brigham

và Houston, 2012 ) Hoạt động sử dụng đòn bẩy tài chính có thể hiểu là việc

sử dụng vốn vay (thay vì vốn tự có) để đầu tư sinh lời và được tính trên số vốn vay/tổng tài sản

Một số nghiên cứu trước đây đã tìm thấy sự liên quan đáng kể giữa đòn bẩy tài chính và hiệu quả tài chính DN Demirhan và Waseem (2014) tìm ra đòn bẩy có ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả tài chính của DN Tỷ lệ đòn bẩy cao được cho là tương quan ngược với hoạt động của DN trong giai đoạn khủng hoảng Điều này cho thấy các DN có đòn bẩy cao gặp nhiều rắc rối trong thời gian khủng hoảng Hoặc nghiên cứu của Almajali và cộng sự (2012) khảo sát 25 DN bảo hiểm Jordanian niêm yết tại sàn giao dịch chứng khoán Amman trong giai đoạn 2002 – 2007 và kết quả nghiên cứu cho thấy đòn bẩy tài chính là nhân tố ảnh hưởng tích cực đến hoạt động tài chính DN

d Thời gian hoạt động của doanh nghiệp (Age)

Thời gian hoạt động là số năm mà DN hoạt động được tính từ khi DN thành lập đến hiện tại Theo Liargovas và Skandalis (2008) các DN hoạt động lâu năm sẽ có nhiều kinh nghiệm hơn, không dễ bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi

và do đó có thể đạt được hiệu suất cao Ngoài ra, các DN này có thể hưởng lợi

từ những ảnh hưởng về danh tiếng, cho phép họ kiếm được lợi nhuận cao hơn trong bán hàng

Ngược lại, Agarwal và Gort (2009) lại cho rằng hiệu quả tài chính giảm khi DN hoạt động càng lâu Thời gian càng lâu có thể giúp DN hoạt động hiệu quả hơn Tuy nhiên một số DN hoạt động quá lâu dễ đi theo lối mòn, khó thích nghi với sự thay đổi của môi trường kinh doanh, kỹ năng nắm bắt xu

Trang 35

hướng kém khiến cho hoạt động kinh doanh giảm sút, chậm phát triển và hiệu quả tài chính cũng chịu những ảnh hưởng tiêu cực

Trang 36

TÓM TẮT CHƯƠNG 1

Với mục đích đem đến người đọc những cái nhìn khái quát nhất về cơ sở

lí luận về hiệu quả tài chính cùng với cơ sở lí luận về các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của DN, chương 1 đã trình bày một cách ngắn gọn nhất

về các định nghĩa, tiêu chí đo lường hiệu quả tài chính và tiếp theo là các cơ

sở lý thuyết về các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của DN Tiếp theo, chương 2 sẽ trình bày phương pháp nghiên cứu cũng như mô hình nghiên cứu đề nghị các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Tp.HCM

Trang 37

CHƯƠNG 2

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU

Ban đầu, tổng sở hữu của người nước ngoài bị giới hạn 20% cổ phiếu (kể

cả chứng chỉ quỹ đầu tư) và 40% trái phiếu Tháng 7 năm 2003, nhằm nâng cao sức hấp dẫn của thị trường và thu hút nguồn vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài cũng như tăng tính thanh khoản, chính phủ đã nâng tỷ lệ sở hữu chứng khoán của nước ngoài lên 30% đối với cổ phiếu và hủy bỏ hoàn toàn tỷ lệ sở hữu hạn chế đối với trái phiếu Cuối năm 2005, giới hạn sở hữu cổ phiếu của người nước ngoài được tăng lên 49%, trừ đối với ngân hàng vẫn giữ là 30%

Để kiểm soát giới hạn này, các nhà đầu tư nước ngoài tham gia giao dịch tại hai trung tâm giao dịch chứng khoán của Việt Nam phải đăng ký để được cấp một mã số giao dịch

Cuối năm 2006, có 35 DN chứng khoán được cấp giấy phép Trong số này, có 9 DN được phép thực hiện tất cả năm nghiệp vụ chứng khoán: môi giới, lưu ký, tư vấn đầu tư và bảo lãnh phát hành, quản lý quỹ và tự doanh Vốn điều lệ tối thiểu bắt buộc để DN được phép thực hiện cả năm nghiệp vụ như vậy là 43 tỷ đồng Theo Luật Chứng khoán có hiệu lực từ ngày 1 tháng

Trang 38

1 năm 2007, mức vốn điều lệ tối thiểu đó là 200 tỷ đồng, các DN đã được cấp phép hoạt động trước đó được gia hạn một thời gian để tăng vốn cho đủ mức quy định

Đến cuối năm 2007, có 210 DN niêm yết trên cả hai sàn Hà Nội và Tp.HCM với mức vốn hóa trên thị trường đạt trên 40% GDP, nếu tính cả trái phiếu, quy mô thị trường đạt gần 50% GDP, đến cuối năm 2007 có khoảng 300.000 nhà đầu tư mở tài khoản giao dịch trên thị trường

Sở Giao dịch Chứng khoán Tp.HCM cũng là một thể chế chính thức mà thông qua đó các trái phiếu chính phủ mới được phát hành và nó có chức năng như một thị trường thứ cấp cho một số phát hành trái phiếu hiện hữu Tất cả các chứng khoán niêm yết trên Trung tâm giao dịch chứng khoán Việt Nam là bằng đồng Việt Nam

Cơ chế giao dịch trên Sở Giao dịch Chứng khoán Tp.HCM là một hệ thống đặt - khớp lệnh tự động "Năng lực của hệ thống là 300.000 lệnh mỗi ngày Giá chứng khoán giao dịch bị giới hạn biên độ thay đổi hàng ngày là cộng - trừ 5% so với giá đóng cửa ngày hôm trước Riêng trong ngày niêm yết đầu tiên của một cổ phiếu, chỉ thực hiện một đợt khớp lệnh, giá giao dịch được thực hiện với biên độ cộng - trừ 20%"

Việc thanh toán được thực hiện tập trung qua Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), một ngân hàng thương mại quốc doanh Nhiều ngân hàng nội địa và DN chứng khoán được phép nhận lưu ký chứng khoán, còn Chi nhánh Tp.HCM của Ngân hàng Hồng Kông - Thượng Hải (HSBC) và ngân hàng Deutsche Bank được nhận lưu ký của khách hàng nước ngoài Việc lưu ký cũng thực hiện tập trung tại Trung tâm Lưu ký Chứng khoán, một cơ quan trực thuộc Ủy ban Chứng khoán Nhà nước

Trang 39

2.1.2 Điều kiện để niêm yết cố phiếu trên thị trường giao dịch chứng khoán Tp HCM

Theo 53 Nghị định số 58/2012/NĐ-CP đã được sửa đổi tại khoản 15 Điều 1 Nghị định số 60/2015/NĐ-CP thì điều kiện niêm yết chứng khoán tại

Sở giao dịch chứng khoán Tp.HCM bao gồm:

- Là CTCP có vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký niêm yết từ 120

tỷ đồng Việt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán;

- Có ít nhất 02 năm hoạt động dưới hình thức CTCP tính đến thời điểm đăng ký niêm yết (ngoại trừ DN nhà nước cổ phần hóa gắn với niêm yết); tỷ

lệ lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu (ROE) năm gần nhất tối thiểu là 5%

và hoạt động kinh doanh của hai năm liền trước năm đăng ký niêm yết phải

có lãi; không có các khoản nợ phải trả quá hạn trên 01 năm; không có lỗ lũy

kế tính đến năm đăng ký niêm yết; tuân thủ các quy định của pháp luật về kế toán báo cáo tài chính;

- Công khai mọi khoản nợ đối với DN của thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Giám đốc (Tổng Giám đốc), Phó Giám đốc (Phó Tổng Giám đốc), Kế toán trưởng, cổ đông lớn và những người có liên quan;

- Tối thiểu 20% cổ phiếu có quyền biểu quyết của DN do ít nhất ba trăm (300) cổ đông không phải cổ đông lớn nắm giữ, trừ trường hợp DN nhà nước chuyển đổi thành CTCP theo quy định của Thủ tướng Chính phủ;

- Cổ đông là cá nhân, tổ chức có đại diện sở hữu là thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Giám đốc (Tổng Giám đốc), Phó Giám đốc (Phó Tổng Giám đốc) và Kế toán trưởng của DN; cổ đông lớn là người có liên quan với thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Giám đốc (Tổng Giám đốc), Phó Giám đốc (Phó Tổng Giám đốc) và Kế toán trưởng của DN phải cam kết nắm giữ 100% số cổ phiếu do mình sở hữu trong thời gian 06 tháng

kể từ ngày niêm yết và 50% số cổ phiếu này trong thời gian 06 tháng tiếp

Trang 40

theo, không tính số cổ phiếu thuộc sở hữu Nhà nước do các cá nhân trên đại điện nắm giữ;

- Có hồ sơ đăng ký niêm yết cổ phiếu hợp lệ theo quy định

2.1.3 Dữ liệu cho nghiên cứu

Để tiến hành nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của các DN, tác giả tiến hành chọn mẫu trên một số đơn vị nhất định nhằm tiết kiệm thời gian, công sức và chi phí Từ những đặc điểm và tính chất của các công ty trong mẫu được chọn ta có thể suy ra đặc điểm và tính chất của cả tổng thể đó Vấn đề quan trọng nhất là đảm bảo cho mẫu phải có khả năng đại diện được cho tổng thể chung Vì thế, tác giả chọn mẫu ngẫu nhiên 60 DN niêm yết trên sàn chứng khoán Tp HCM nhưng loại trừ các DN thuộc ngành Tài chính bao gồm: Ngân hàng, DN chứng khoán, DN bảo hiểm, quỹ/DN đầu

tư, những DN thuộc diện kiểm soát đặc biệt và những DN có số liệu bất thường Để đảm bảm tính bao quát và mang tính đại diện cho mẫu nghiên cứu, 60 DN lựa chọn bao gồm: 20 DN sản xuất, 20 DN bất động sản và 20

DN xây dựng Tuy nhiên có 2 DN chỉ vừa niêm yết trên Sàn giao dịch chứng khoán Tp.HCM những năm gần đây nên sẽ bị loại ra khỏi nghiên cứu để đảm bảo tính chính xác của bộ dữ liệu (CTCP Tập đoàn Đầu tư Địa ốc No Va (NVL) niêm yết ngày 28.12.2016, CTCP Tổng DN Việt Thắng (TVT)

17.07.2017)

Nguồn dữ liệu nghiên cứu được tập hợp từ các báo cáo tài chính (BCTC)

đã được kiểm toán từ năm 2013 đến năm 2015 của các DN niêm yết được chọn Các BCTC của DN này đã được kiểm toán và công bố công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng theo quy định của Ủy ban chứng khoán nhà nước nên độ tin cậy rất cao Bên cạnh đó, dữ liệu cũng được thu thập từ nguồn số liệu vĩ mô của Tổng Cục Thống kê Việt Nam

Ngày đăng: 02/10/2018, 15:08

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w