1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tính đa dạng và biến động thành phần loài cá ở vùng cửa sông cổ chiên, tỉnh bến tre

86 285 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 3,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mỗi cửa sông lại có những đặc tính riêng, từ đó hình thành nhiều hệ sinh thái và sinh cảnh đặc trưng, tạo nên sự đa dạng sinh học cho vùng cửa sông - ven biển, mang lại nhiều nguồn lợi

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-

Nguyễn Đức Hải

TÍNH ĐA DẠNG VÀ BIẾN ĐỘNG

THÀNH PHẦN LOÀI CÁ

Ở VÙNG CỬA SÔNG CỔ CHIÊN, TỈNH BẾN TRE

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-

Nguyễn Đức Hải

TÍNH ĐA DẠNG VÀ BIẾN ĐỘNG

THÀNH PHẦN LOÀI CÁ

Ở VÙNG CỬA SÔNG CỔ CHIÊN, TỈNH BẾN TRE

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

PGS.TS Nguyễn Xuân Huấn

Chuyên ngành: Động vật học

Mã số: 60420103

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Hoàn thành luận văn thạc sĩ này, trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Xuân Huấn và TS Nguyễn Thành Nam đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô, cán bộ trong Bộ môn Động vật học và Bảo tồn và Phòng thí nghiệm Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, Trung tâm nghiên cứu khoa học sự sống, Khoa Sinh học, Trường Đại học Khoa học Tự Nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi tiến hành thực hiện đề tài, phân tích mẫu tại phòng thí nghiệm và cung cấp những tài liệu cần thiết giúp tôi hoàn thành luận văn của mình

Đặc biệt, tôi xin cảm ơn bố mẹ, người luôn bên cạnh động viên giúp tôi vững bước trong cuộc sống và phấn đấu trong học tập Đồng thời, tôi xin gửi lời cảm ơn đến tất cả các thành viên trong gia đình, bạn bè đã luôn quan tâm, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài

Trong quá trình thực hiện đề tài, do những hạn chế về kiến thức cũng như thời gian thực hiện nên không thể tránh khỏi những thiếu sót Chúng tôi mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu từ các thầy cô, anh chị và các bạn để có thể hoàn thiện kết quả của nghiên cứu này và những nghiên cứu tiếp theo

Xin chân thành cảm ơn!

Học viên

Nguyễn Đức Hải

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

MỤC LỤC i

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iii

DANH MỤC CÁC BẢNG iv

DANH MỤC CÁC HÌNH v

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Khát quát về vùng cửa sông 3

1.1.1 Khái niệm về vùng cửa sông 3

1.1.2 Ranh giới vùng cửa sông 4

1.1.3 Hệ thống cửa sông Việt Nam 6

1.1.4 Phân loại vùng cửa sông Việt Nam 8

1.1.5 Tài nguyên thủy sản vùng cửa sông - ven biển Việt Nam 9

1.2 Lịch sử nghiên cứu cá ở Việt Nam và khu vực nghiên cứu 10

1.2.1 Lịch sử nghiên cứu cá ở Việt Nam 10

1.2.2 Lịch sử nghiên cứu khu hệ cá ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và tỉnh Bến Tre 14

1.3 Thực trạng khai thác và những thách thức đối với nguồn lợi cá vùng cửa sông – ven biển Việt Nam 16

1.3.1 Thực trạng khai thác 16

1.3.2 Khó khăn và thách thức 17

1.4 Điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu 17

1.4.1 Điều kiện tự nhiên 17

1.4.2 Điều kiện kinh tế - xã hội tỉnh Bến Tre 21

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

2.1 Đối tượng nghiên cứu 24

2.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu 24

2.2.1 Địa điểm nghiên cứu 24

Trang 5

2.2.2 Thời gian nghiên cứu 25

2.3 Phương pháp nghiên cứu 25

2.3.1 Phương pháp thu thập, phân tích và tổng hợp tài liệu 25

2.3.2 Phương pháp thu mẫu thực địa 25

2.3.3 Phương pháp nghiên cứu, định loại trong phòng thí nghiệm 26

2.3.4 Phương pháp tính toán thống kê và xử lý dữ liệu 29

2.3.5 Phương pháp xác định mức độ gần gũi về thành phần loài của khu hệ cá tại vùng nghiên cứu và một số khu vực khác 29

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 34

3.1 Đa dạng sinh học cá vùng cửa sông Cổ Chiên, tỉnh Bến Tre 34

3.1.1 Thành phần loài cá ở vùng cửa sông Cổ Chiên 34

3.1.2 Cấu trúc thành phần loài cá và tính đa dạng của khu hệ cá qua các bậc phân loại 47

3.1.3 Sự phân bố của cá theo các nhóm sinh thái 52

3.1.4 Các loài cá có giá trị kinh tế 56

3.1.5 Các loài cá quý hiếm, cần được bảo vệ tại khu vực nghiên cứu 57

3.1.6 Mức độ gần gũi về thành phần loài của khu hệ cá vùng cửa sông Cổ Chiên với một số vùng cửa sông khác 58

3.1.7 Biến động thành phần loài cá theo thời gian 59

3.2 Thực trạng nghề cá và những thách thức đối với nguồn lợi cá ở vùng cửa sông Cổ Chiên, tỉnh Bến Tre 61

3.2.1 Khai thác thủy sản 61

3.2.2 Nuôi trồng thủy sản 64

3.2.3 Dịch vụ hậu cần nghề cá 65

3.2.3 Thuận lợi và khó khăn đối với nghề cá 65

3.2.4 Đề xuất một số biện pháp sử dụng và bảo vệ nguồn lợi cá ở vùng cửa sông Cổ Chiên, tỉnh Bến Tre 67

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 68

TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

PHỤ LỤC (1)

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CV Mã lực (đơn vị đo công suất máy của tàu, thuyền)

ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long

FAO Food and Agriculture Organization of the United Nations

(Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc) IUCN International Union for Conservation of Nature and Natural

Resources (Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới) KVNC Khu vực nghiên cứu

NLTS Nguồn lợi thủy sản

NTTS Nuôi trồng thủy sản

SĐVN Sách Đỏ Việt Nam

Tr.CN Trước Công nguyên

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 1.1 Hệ thống phân loại các thuỷ vực nước lợ của Venice (1959) 4

Bảng 3.1 Thành phần loài cá ở vùng cửa sông Cổ Chiên, tỉnh Bến Tre 35

Bảng 3.2 Tính đa dạng về các bậc phân loại của 2 lớp cá 47

Bảng 3.3 Cấu trúc khu hệ cá ở vùng cửa sông Cổ Chiên, tỉnh Bến Tre 48

Bảng 3.4 Tỷ lệ các loài trong các họ cá ở vùng cửa sông Cổ Chiên 49

Bảng 3.5 Tỷ lệ các nhóm sinh thái của khu hệ cá ở vùng cửa sông Cổ Chiên 52

Bảng 3.6 Các loài cá quý hiếm, cần được bảo vệ ở vùng cửa sông Cổ Chiên 57

Bảng 3.7 So sánh khu hệ cá ở vùng cửa sông Cổ Chiên với một số khu vực khác 58 Bảng 3.8 Biến động thành phần loài cá ở vùng cửa sông Cổ Chiên giai đoạn 2011 - 2015 60

Bảng 3.9 Số lượng tàu cá đã đăng ký, thống kê theo công suất của tỉnh Bến Tre tính đến năm 2014 62

Bảng 3.10 Số lượng tàu cá đã đăng ký, thống kê theo nghề của tỉnh Bến Tre tính đến hết năm 2014 63

Bảng 3.11 Thành phần sản lượng theo nhóm hải sản tính trên địa bàn huyện năm 2014 64

Bảng 3.12 Diện tích và sản lượng nuôi trồng thủy sản tỉnh Bến Tre qua các năm 64

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang

Hình 2.1 Khu vực nghiên cứu ở vùng cửa sông Cổ Chiên 24 Hình 2.2 Các thuật ngữ chuyên môn và chỉ tiêu hình thái chính dùng trong định loại cá Mang tấm (cá Sụn) dạng cá Đuối 30 Hình 2.3 Các thuật ngữ chuyên môn và chỉ tiêu hình thái chính dùng trong định loại cá Vây tia (cá Xương) 31 Hình 2.4 Các loại vẩy và cách tính vẩy, các kiểu miệng, vị trí các xương hàm và các kiểu răng dùng trong định loại cá Vây tia (cá Xương) 32 Hình 2.5 Các đặc điểm cấu tạo, hình dạng của mang, bóng bơi, tia vây, đuôi và vây đuôi dùng trong định loại cá Vây tia (cá Xương) 33 Hình 3.1 Biểu đồ số lượng họ và loài của các bộ cá ở cửa sông Cổ Chiên 48 Hình 3.2 Biểu đồ tỷ lệ % bậc loài của 11 bộ cá ở vùng cửa sông Cổ Chiên 52 Hình 3.3 Biểu đồ tỷ lệ % các nhóm sinh thái của khu hệ cá ở vùng cửa sông Cổ Chiên 53 Hình 3.4 Biểu đồ tỷ lệ % các nhóm cá phân bố theo môi trường sống 55

Trang 9

MỞ ĐẦU

Việt Nam là quốc gia nằm tiếp giáp Biển Đông, có đường bờ biển dài trên

3260 km chạy qua nhiều vùng địa lý tự nhiên khác nhau Cùng với đó, hệ thống sông ngòi phát triển, có nhiều hệ thống sông lớn từ Bắc tới Nam, phần lớn đều đổ ra biển với hơn 100 cửa sông lớn nhỏ, trung bình cứ khoảng 20 km lại có một cửa sông Mỗi cửa sông lại có những đặc tính riêng, từ đó hình thành nhiều hệ sinh thái

và sinh cảnh đặc trưng, tạo nên sự đa dạng sinh học cho vùng cửa sông - ven biển,

mang lại nhiều nguồn lợi về thực vật, động vật đặc biệt là nguồn lợi cá, đóng vai trò quan trọng trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp đối với các tỉnh ven biển Từ trước đến nay, các hoạt động đánh bắt thủy hải sản diễn ra chủ yếu trong phạm vi của vùng cửa sông ven biển Tuy nhiên, nguồn lợi ấy đang có xu hướng suy giảm nghiêm trọng do khai thác quá mức và thiếu quy hoạch Cùng với đó, sự phát triển kinh tế và gia tăng dân số cũng là những mối đe dọa lớn, ảnh hưởng đến sự cân bằng sinh thái tự nhiên tại những khu vực này, đặt ra cho ngành thủy sản nhiều thách thức để có thể vừa khai thác hợp lý, đồng thời phát triển bền vững nguồn lợi thủy sản

Vùng cửa sông Cổ Chiên thuộc lưu vực sông Mêkông (sông Cửu Long) Hệ sinh thái ở đây có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của khu vực ven biển nói chung và của tỉnh Bến Tre nói riêng Tại đây, đã có những nghiên cứu về khu hệ cá nhưng nhìn chung còn riêng lẻ, chủ yếu tập trung vào các loài cá ven biển mà chưa nghiên cứu về cá cửa sông Vì vậy, để góp phần đánh giá tính đa dạng, sự biến động về thành phần loài cá, hiện trạng khai thác, đánh bắt phục vụ cho khai thác hợp lý nguồn thủy sản nói chung và cá nói riêng ở vùng cửa sông Cổ Chiên, tỉnh Bến Tre, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài nghiên cứu “Tính đa dạng

và biến động thành phần loài cá ở vùng cửa sông Cổ Chiên, tỉnh Bến Tre” nhằm mục đích:

1 Xác định thành phần loài và đánh giá tính đa dạng của khu hệ cá vùng cửa sông Cổ Chiên, tỉnh Bến Tre

2 Đánh giá sự biến động của khu hệ cá vùng cửa sông Chiên, tỉnh Bến Tre

Trang 10

giai đoạn 2011 – 2015 từ đó đề xuất một số biện pháp khai thác hợp lý, bền vững nguồn lợi cá tại khu vực nghiên cứu

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 KHÁT QUÁT VỀ VÙNG CỬA SÔNG

1.1.1 Khái niệm về vùng cửa sông

Có nhiều định nghĩa khác nhau được dùng để diễn tả một cửa sông ven biển Theo quan điểm của các nhà địa mạo, cửa sông là cửa của một con sông mà ở đó đang có quá trình sụt lún kiến tạo không được đền bù hoặc là một thung lũng sông

bị chìm ngập do mực nước biển dâng lên, thường có dạng hình phễu Trong các từ

điển, cửa sông được giải thích là “cửa các con sông lớn có thủy triều” (từ điển Oxford) hoặc “một vùng gần bờ được khống chế bởi nước biển khi triều cao, một

vùng biển được tạo thành bởi cửa một con sông” (từ điển Larouse) [26] Theo quan

điểm của các nhà địa mạo thì: “Cửa sông là cửa của một con sông mà ở đó đang có

quá trình sụt lún kiến tạo không được đền bù hoặc một thung lũng sông bị chìm ngập do mực nước biển nâng lên, chúng thường có dạng hình phễu” [26]

Theo quan điểm động lực, năm 1967, D.W Pritchard đưa ra định nghĩa:

“Cửa sông là một thủy vực ven bờ nửa khép kín, liên hệ trực tiếp với biển và ở trong

đó, nước biển hòa trộn có mức độ với nước ngọt đổ ra từ các dòng lục địa” Trong

định nghĩa này đã đề cập tới các đặc trưng vốn có của vùng cửa sông như sự pha trộn giữa nước biển và nước ngọt, sự biến động của các nhân tố môi trường gây ra bởi các yếu tố động lực, đồng thời phân biệt được với các hồ nước mặn thường có

độ muối ổn định theo thời gian Tuy nhiên, quan điểm này vẫn chưa đề cập đến tác động của thủy triều, các hệ cửa sông mù (Blind estuary) và các cửa sông quá mặn (Hyperhaline) bị loại trừ [26]

Do đó, J.H Day (1981) đã bổ sung và đề xuất một định nghĩa có nội dung

rộng hơn: “Cửa sông là thủy vực ven bờ nửa khép kín về mặt không gian, liên hệ

trực tiếp với biển một cách thường xuyên hay theo chu kỳ, trong đó độ muối biến đổi do sự hòa trộn có mức độ của nước biển với nước ngọt đổ ra từ các dòng lục

Trang 12

địa” [26]

Để xác định rõ tác động của thủy triều, đồng thời vẫn đề cập đến sự pha trộn giữa nước biển và nước ngọt, năm 1980, R.W Fairbridge cũng đã đưa ra định

nghĩa: “Một cửa sông là một nhánh của biển đi vào một dòng sông đến nơi mà mực

nước cao nhất của thủy triều còn vươn tới, thường được chia thành 3 phần khác nhau: a) phần biển hay phần cửa sông thấp, nối liền với biển khơi; b) phần cửa sông trung, nơi diễn ra sự pha trộn chính của nước biển và nước ngọt; và c) phần cửa sông cao, chi phối bởi nước ngọt nhưng còn tác động của thủy triều Giới hạn giữa 3 phần này không cố định và biến động theo lượng nước ngọt đổ ra từ sông”

[29, 39]

1.1.2 Ranh giới vùng cửa sông

Vùng cửa sông ven biển được coi là vùng nước lợ, có độ mặn dao động trong khoảng rất rộng, từ 0,5 - 32 ‰ Theo sự phân loại các thuỷ vực được đưa ra tại Diễn đàn Venice năm 1959, dựa trên độ mặn, ta có các thủy vực ở bảng 1.1

Bảng 1.1 Hệ thống phân loại các thuỷ vực nước lợ của Venice (1959) [27]

Trang 13

xảy ra phụ thuộc vào các yếu tố động lực của dòng sông, dòng biển (sóng, thủy triều, hải lưu) và các quá trình địa chất Tại đây có sự chuyển đổi tính chất của nước

từ nước ngọt sang nước mặn Vùng cửa sông cũng là cái bẫy, bẫy các chất dinh dưỡng từ lục địa, biển, bản thân nó cũng tạo nên nguồn thức ăn to lớn Đây cũng là nơi tập trung của các chất gây ô nhiễm từ nhiều nguồn Do phân hóa cao về các điều kiện địa lý - khí hậu, thủy văn,… vùng cửa sông có mức độ đa dạng sinh học cao, mặc dù số lượng thực tế của các loài sinh vật không nhiều Phân bố trong vùng cửa sông là những loài sinh vật rộng sinh cảnh, đặc biệt là loài rộng muối và rộng nhiệt Những loài này trong quá trình thích nghi với điều kiện môi trường đầy biến động

đã tạo nên những quần xã ổn định để tồn tại và phát triển hưng thịnh, làm xuất hiện

ở đây một hệ sản xuất có năng suất sinh học rất cao so với hàng loạt hệ sinh thái khác [26]

Với sự dao động lớn của các thông số đặc trưng, vùng cửa sông được chia ra thành 5 phần khác nhau, không chỉ khác nhau về độ muối, đặc điểm cấu tạo nền đáy, tính chất và tốc độ dòng chảy mà còn tồn tại ở đó các nhóm sinh vật với những đặc tính sinh thái khác nhau (McLusky, 1974) [41]:

- Phần đầu của vùng cửa sông - nơi nước ngọt đổ vào với sự xâm nhập của nước mặn, độ muối cao nhất lên đến 5‰ nhưng ưu thế vẫn là dòng nước ngọt Một

số loài sinh vật nước ngọt có thể xâm nhập xuống kiếm ăn, nhất là khi nước ròng

- Phần trên của vùng cửa sông - tốc độ dòng giảm đi đáng kể do ở đó có sự hòa trộn giữa nước ngọt và nước mặn, nền đáy phủ bùn, độ muối biến đổi từ 5 đến 18‰ Đây cũng là nơi xâm nhập của nhiều loài sinh vật biển rộng muối đi vào kiếm ăn và sinh sản

- Phần giữa vùng cửa sông - đáy phủ bùn với một vài nơi là cát, dòng chảy mạnh lên, độ muối dao động trong khoảng 18-25‰

- Phần thấp của vùng cửa sông - đáy được phủ bởi cát, một vài nơi là bùn Dòng chảy mạnh hơn, độ muối 25-30 (32)‰ Đây cũng là giới hạn thấp đối với những loài sinh vật biển hẹp muối có thể xâm nhập vào kiếm ăn hay sinh sản

- Phần chuyển tiếp - phần tận cùng chuyển từ chế độ cửa sông sang vùng

Trang 14

biển ven bờ Đáy được phủ bởi cát sạch hoặc đá, dòng triều mạnh, độ muối cao gần với độ muối của vùng biển ven bờ, trên 30‰ hoặc có thể lên đến 32‰

Ranh giới của vùng cửa sông rất thay đổi, do khối nước toàn vùng dịch chuyển tuỳ thuộc vào lượng nước của dòng sông và hoạt động của thuỷ triều Trong mùa nước kiệt, giới hạn trên của vùng cửa sông tiến sâu vào đất liền, còn giới hạn dưới ôm sát lấy các cửa sông Trong mùa lũ, lưỡi nước ngọt xâm nhập xa ra biển

Chính sự tương tác sông - biển này đã đem đến hàng loạt hậu quả sinh thái như sự xâm nhập nước mặn vào hạ lưu, tạo ra cửa ngõ cho sự di nhập của các loài sinh vật biển vào nước ngọt và sinh vật nước ngọt ra biển, cũng như gây ra quá trình bồi tụ - bào mòn, sắp xếp lại các trầm tích ở vùng cửa sông ven biển, Về phần đáy, ranh giới ngoài của vùng cửa sông chính là nơi diễn ra quá trình lắng đọng các vật liệu bào mòn do dòng sông đem ra và tuy ranh giới đó không thể tiến xa hơn ra biển so với lưỡi nước ngọt ở tầng mặt, nhưng có thể vượt khỏi độ sâu 15m

Như vậy, vùng cửa sông là nơi chuyển tiếp sông - biển thuộc đới biển ven bờ (coastal zone), nơi tương tác mãnh liệt của lục địa - đại dương, một trong 4 vùng tiếp xúc lớn nhất của hành tinh: Lục địa - đại dương (land - ocean), khí quyển - thủy quyển (atmosphere - hydrosphere), vùng tiếp xúc nước - đáy (pelago-benthos) và cuối cùng là đất ngập nước (Wetland), nơi chuyển tiếp từ nơi đất cao xuống nơi nước sâu ở vùng ven biển đến độ sâu 6m dưới mức triều kiệt [26]

1.1.3 Hệ thống cửa sông Việt Nam

Với đường bờ biển dài và hệ thống sông ngòi dày đặc đổ ra biển, vùng cửa sông Việt Nam trải ra dọc bờ biển từ 8030’ đến 21030’ vĩ độ Bắc và quanh các đảo, tạo nên vùng nước lợ rộng lớn, liên hệ với hàng loạt các hệ thống sông lớn nhỏ Phần lớn các hệ thống sông đổ ra biển theo hướng Tây Bắc - Đông Nam với mật độ khoảng 15 - 20 km/cửa sông, trừ một số sông ở vùng Đông Bắc như Bằng Giang –

Kỳ Cùng chảy sang Trung Quốc, các sông ở phía Tây Trường Sơn đổ vào sông Mê Kông Hầu hết các sông là sông nhỏ, chiếm 90%, chỉ có 9 hệ thống sông lớn với diện tích lưu vực trên 10.000km2 như hệ thống sông Bằng Giang – Kỳ Cùng, sông Hồng, sông Thái Bình, sông Mã, sông Cả, sông Thu Bồn, sông Ba, sông Đồng Nai,

Trang 15

sông Cửu Long Trong đó, hai hệ thống sông lớn nhất nước ta là hệ thống sông Hồng - Thái Bình và hệ thống sông Cửu Long [26]

Các cửa sông ở nước ta có tuổi 2000 - 3000 năm, có lịch sử hình thành và phát triển gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của bờ biển, sự tương tác của dòng sông và dòng biển, hoạt động tương tác của các quần xã sinh vật, bao gồm cả các hoạt động của con người Hệ thống cửa sông Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa với sự phân hóa sâu sắc theo mùa trong năm: Mùa gió Đông Bắc và mùa gió Tây Nam Tuy nhiên, do đặc điểm địa hình, ảnh hưởng của các giải áp thấp nhiệt đới và bão, hoạt động của các hoàn lưu khí quyển mà mỗi vùng có những nét riêng Bên cạnh đó, hoạt động tương tác sông - biển cũng kéo theo những hệ quả đối với vùng cửa sông Hệ thống sông nước ta hoạt động theo mùa, liên quan tới chế độ mưa của toàn lưu vực Mùa lũ các sông ở Bắc Bộ kéo dài từ tháng 6 - 10 Ở thời kỳ này, lượng dòng chảy chiếm 75 - 90% tổng lượng nước và 90% tổng lượng bùn cát

cả năm, vùng cửa sông được mở rộng Ngược lại, trong những tháng còn lại, lượng dòng chảy thấp, vùng cửa sông bị thu hẹp, thủy triều đưa nước biển xâm nhập sâu vào lục địa theo các triền sông

Hệ thống sông miền Trung ngắn và dốc ở phía thượng lưu, còn ở hạ lưu chảy trên dải đồng bằng hẹp, khá bằng phẳng Ở khu vực này, mùa lũ thường kéo dài từ tháng 9 - 12, lượng dòng chảy chiếm 50 - 70% tổng lượng nước cả năm Vào mùa kiệt, vùng cửa sông và hạ lưu sông thuộc duyên hải miền Trung thường bị mặn hóa Nhiều đoạn thấp của sông ít nước, các thung lũng sông khô cạn, trên nhiều đoạn nước chỉ tồn tại ở dòng chảy gốc, cùng với sự tương tác của các dòng sông và dòng biển đã tạo nên các đầm phá với độ mặn có thể cao tới 25 - 29 ‰ Ở Nam Bộ, động lực chính tạo nên vùng nước lợ và mở rộng châu thổ ra biển là hệ thống sông Cửu Long, đây là hệ thống sông lớn thứ 14 của thế giới với chiều dài 4.350km, lưu lượng nước trung bình 11.000m3/s, diện tích lưu vực là 795.000km2 Ở nước ta, lượng dòng chảy của sông Cửu Long đạt 550.109 m3 nước và cung cấp 75 - 100 triệu tấn bùn cát mỗi năm Mùa lũ kéo dài từ tháng 7 - 11, lượng dòng chảy chiếm

60 - 65% tổng lượng nước cả năm làm cho toàn bộ vùng bờ biển ven bờ bị ngọt

Trang 16

hóa, đỉnh lũ xuất hiện vào tháng 9 hoặc tháng 10 Trong mùa kiệt, lưu lượng sông rất thấp, vùng cửa sông bị thu hẹp vào sát bờ, nước mặn theo thủy triều tràn vào các cửa sông rộng, xâm nhập rất sâu vào đất liền, nhất là từ nửa cuối tháng 3 đến trung tuần tháng 4, 50% diện tích đất đai châu thổ (1,7 ~ 2 triệu ha) bị mặn hóa [26]

1.1.4 Phân loại vùng cửa sông Việt Nam

Do lịch sử hình thành, cấu trúc địa chất, đặc điểm địa mạo, lực tương tác sông - biển khác nhau và tồn tại trong các điều kiện khí hậu không giống nhau nên các hệ cửa sông nước ta có các dạng cơ bản:

- Các cửa sông châu thổ như hệ cửa sông Hồng và sông Cửu Long

- Các cửa sông hình phễu và vụng cửa sông mà điển hình là cửa các con sông ở vùng Hải Phòng - Quảng Yên và cửa sông Soài Rạp Một số cửa sông ở miền Trung cũng thuộc nhóm này nhưng không điển hình như cửa Thuận An (sông Hương) và Cửa Đại (sông Thu Bồn – Vu Gia)

Ngoài ra, ở vùng cửa sông ven biển Việt Nam còn có các đầm phá ở miền Trung, điển hình là phá Tam Giang - Cầu Hai, đầm Trà Ổ, đầm Ô Loan và các vũng, vịnh nông ven bờ như đầm Thị Nại, đầm Nha Phu, Tuy nhiên, tại các vịnh nông ven bờ kế cận với các cửa sông, nước ngọt đổ ra từ các sông, suối cũng dần mất tính chất riêng của chúng do sự hòa trộn với khối nước mặn, nên nói chung, dạng thủy vực này không hoàn toàn là một cửa sông điển hình mà trong đó chỉ xuất

hiện “chế độ cửa sông” một cách tạm thời, liên quan với sự tồn tại của lũ thuộc các

dòng sông hay lượng nước ngọt trong các trận giông tố bất thường, rồi sau đó nhanh chóng mất đi do hoạt động ưu thế của các quá trình biển [26, 37] Ở nước ta, những dạng này chính là các vũng vịnh nông ven biển, như Bái Tử long, Hạ Long, đầm Lăng Cô, vịnh Đà Nẵng, vịnh Quy Nhơn, vịnh Nha Trang Đối với hệ thống đầm phá ven biển miền Trung, chủ yếu chứa nước mặn, độ muối biến động với biên độ lớn Vào mùa mưa, các đầm phá như những hồ chứa, nước hầu như bị ngọt hoàn

toàn, độ muối xuống đến 0 ÷ 2-5‰; vào mùa khô, các dòng sông trong vùng đều

cạn kiệt, nước từ biển xâm nhập vào và bị bốc hơi làm đầm trở nên mặn hơn, độ

muối thường cao 15 ÷ 25-29‰ Ở những nơi mùa khô kéo dài, độ ẩm thấp, độ muối

Trang 17

có xu hướng tăng lên đến mức quá mặn (39-41‰) như đầm Ô Loan (Phú Yên), trong khi đó, do hoạt động của con người (xây đập, ngăn sông) có đầm đã biến đổi thành một đầm nước ngọt thực sự như đầm Trà Ổ, tỉnh Bình Định [26]

1.1.5 Tài nguyên thủy sản vùng cửa sông - ven biển Việt Nam

Trong phạm vi vùng cửa sông, phần nước và thềm lục địa có diện tích lớn hơn so với phần đất nổi, do đó nguồn lợi thủy sản đóng vai trò quyết định của tổng thể nền kinh tế ven bờ nói riêng và kinh tế biển nói chung Các hệ sinh thái cửa sông là khu vực có nguồn dinh dưỡng dồi dào, môi trường thuận lợi cho phép các loài rộng sinh cảnh phát triển đông về số lượng, đồng thời là nơi nuôi dưỡng ấu trùng, là bãi đẻ của nhiều loài sinh vật Do đó, hệ sinh thái cửa sông là một trong những nơi có năng suất sinh học cao hơn so với các hệ sinh thái khác Trong vùng xuất hiện hàng loạt nơi sống đặc trưng và là địa bàn tồn tại và phát triển của các quần xã sinh vật, thích nghi với điều kiện nước lợ, chủ yếu có nguồn gốc biển Chúng cũng là kho lưu trữ nguồn gen phong phú cho biển

Trong khai thác nguồn lợi thủy sản, khai thác nguồn lợi cá chiếm tỷ trọng lớn Hiện nay, nghề cá nước ta chủ yếu dựa vào việc đánh bắt các loài cá cửa sông

và nước nông ven bờ, chiếm 80 - 90% tổng sản lượng [26]

Cá ở các cửa sông là đối tượng được nhiều nhà khoa học quan tâm, nghiên cứu Nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến khu hệ cá đã được công bố Khu hệ

cá cửa sông dọc bờ biển nước ta được tổng hợp và công bố lần đầu gồm 580 loài thuộc 110 họ của 25 bộ cá Hiện nay, sau khi bổ sung và chỉnh sửa, sắp xếp lại, số lượng loài cá cửa sông là 615 loài thuộc 120 họ của 29 bộ cá Trong đó có 6 bộ cá sụn (11 họ, 26 loài) và 23 bộ cá xương và còn trên 50 loài chưa xác định được tên khoa học (còn ở dạng sp.) nên số lượng cá cửa sông sẽ còn tăng hơn nữa Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, cá của từng cửa sông riêng biệt không

đa dạng so với vùng biển kế cận và số lượng loài dao động từ 70 - 230 loài [25]

Thành phần các loài cá trong mỗi bộ cũng khác nhau, trong đó, chiếm ưu thế

là bộ cá Vược (53 họ, 339 loài) chiếm 44,17% Về bậc họ, các bộ tiếp theo là Anguilliformes, Scorpaeniformes, Pleuronectiformes,… Về bậc loài, tiếp theo là

Trang 18

Clupeiformes, Pleuronectiformes, Anguilliformes,… Các bộ chỉ có 1 họ và 1 loài không nhiều, gồm Lamniformes, Albuliformes, Gonorhynchiformes,

Những họ giàu loài nhất là họ cá Bống (Gobiidae), họ cá Nục (Carangidae),

họ cá Đù (Sciaenidae),… Những họ đóng vai trò quan trọng cho nghề cá cửa sông

là Megalopidae, Clupeidae, Engraulidae, Synodontidae, Ariidae, Mugilidae, Polynemidae,… Phần lớn các loài thuộc các họ trên thường xuyên có mặt trong vùng, một số loài xuất hiện theo chu kỳ khi xâm nhập vào cửa sông để sinh sản hoặc kiếm ăn Một số loài thuộc các họ như Exocoetidae, Sphyraenidae, Chaetodontidae, Pomacentridae, Labridae, Sparidae,… xuất hiện với tần xuất thấp vào những khoảng thời gian nhất định trong năm Chúng có thể thuộc các loài cá khơi, cá rạn san hô hoặc ở đáy sâu

Khu hệ cá cửa sông nước ta là khu hệ cá biển nhiệt đới, bao gồm những loài thuộc biển kế cận, có khả năng chịu sự biến đổi của môi trường, đặc biệt là các loài rộng muối và rộng nhiệt và nằm trong thành phần các loài động vật thuộc tổng vùng

nhiệt đới Ấn Độ - Tây Thái Bình Dương Càng xuống phía Nam, tính chất nhiệt đới

trong khu hệ cá ở mỗi cửa sông càng bộc lộ rõ nét Ngoài ra, trong thành phần loài

cá cũng có mặt một số loài cá nước ngọt hoặc biển ấm ôn đới [26]

Hiện nay, nghề cá vẫn chưa khai thác hết tiềm năng nguồn lợi thủy sản nói chung và nguồn lợi cá nói riêng trên thềm lục địa Ngư trường khai thác hải sản của nước ta chủ yếu tập trung trong vùng nước cửa sông Bên cạnh đó, lượng phương tiện đánh bắt ven bờ ngày một gia tăng, cường độ đánh bắt quá mức khiến các vùng cửa sông chịu áp lực nặng nề và dẫn tới khả năng bị suy kiệt cao [3, 26]

1.2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU CÁ Ở VIỆT NAM VÀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU

1.2.1 Lịch sử nghiên cứu cá ở Việt Nam

Ngoài các nghiên cứu lớn ở thềm lục địa, chủ yếu tại các nơi có độ sâu trên

20 - 30 mét nước, ở Việt Nam còn nhiều cuộc điều tra khảo sát trong các khu vực cửa sông ven biển, nơi có độ sâu dưới 20 - 30m nước vào bờ, bao gồm các cửa

Trang 19

sông, đầm phá cũng như các hệ sinh thái đặc thù khác (rừng ngập mặn, bãi bồi, các đai cỏ biển, các rạn san hô gần bở hay quanh các hải đảo thềm lục địa) Những nghiên cứu này cũng xuất hiện trong các đề tài thuộc các chương trình biển hay các

đề tài độc lập của các trường đại học, các Viện, Trung tâm nghiên cứu và các cơ sở khoa học địa phương liên quan đến biển So với các khu vực trên thế giới, ở Việt Nam sự phát triển của ngư loại học diễn ra muộn hơn Lịch sử nghiên cứu cá của nước ta diễn ra qua các thời kì, gắn liền với lịch sử đấu tranh, giải phòng dân tộc, có thể chia thành các giai đoạn:

* Giai đoạn trước cách mạng tháng 8:

- Thời kỳ phong kiến (trước năm 1854)

Thời kỳ này chưa có các nghiên cứu về cá Những hiểu biết về đời sống của các loài cá, nghề khai thác và chế biến cá, nghề nuôi cá, làm nước mắm,… được ghi chép trong cuốn “Sử học và kinh tế học thời phong kiến” [25]

- Thời kỳ Pháp thuộc (từ năm 1855 - 1945)

Trong thời kỳ này, các công trình nghiên cứu đều do các tác giả người nước ngoài như Anh Mỹ, Trung Quốc,… tiến hành và hiểu biết về cá đã mang tính chất

khoa học Năm 1881, H E Sauvage công bố cuốn “Nghiên cứu về khu hệ cá Châu

Á và mô tả một số loài mới ở Đông Dương”, gồm 139 loài cá chung cho toàn Đông

Dương và mô tả 2 loài mới ở miền Bắc nước ta Năm 1929, G Tirant đã mô tả 70 loài cá nước ngọt sông Hương, trong đó có 5 loài mới mà ông đã thu thập mẫu từ

năm 1883, P Chevey và J Lemasson (1937) đã công bố công trình “Góp phần

nghiên cứu các loài cá nước ngọt miền Bắc Việt Nam” gồm 98 loài, 17 họ, có thể

xem đây là công trình nghiên cứu đầy đủ nhất về cá của thời kỳ này,… Nhìn chung, trước năm 1945 những nghiên cứu được tiến hành trong phạm vi rộng trên thềm lục địa Biển Đông và các biển kế cận đều do các tác giả nước ngoài thực hiện, nội dung nghiên cứu về hình thái phân loại, khu hệ, phân bố địa lý, giải phẫu, sinh thái địa lý

và hóa sinh của các loài cá Các nghiên cứu về thủy sinh vật và nghề cá cũng được coi trọng nhằm tạo cơ sở cho việc đánh giá tài nguyên, phục vụ cho công cuộc khai thác thuộc địa [35]

Trang 20

* Giai đoạn sau cách mạng tháng 8/1945 đến nay

Sau Cách mạng tháng Tám, đặc biệt là sau khi miền Bắc được giải phóng, các hoạt động nghiên cứu khoa học được chuyển dần sang các nhà khoa học trong nước [35]

- Thời kỳ từ 1945 - 1954

Do ảnh hưởng của chiến tranh, công tác nghiên cứu gần như bị ngưng trệ, chỉ

có một số công trình nghiên cứu về khu hệ cá với quy mô nhỏ [35]

- Thời kỳ 1954 - 1975

Trong thời kỳ này, đã xuất hiện nhiều hơn các công trình nghiên cứu ngư loại học, có sự tham gia ngày càng nhiều các tác giả người Việt Nam với các nghiên cứu chung và cụ thể cho từng vùng với nhiều hướng nghiên cứu khác nhau như phân loại học, khu hệ, sinh học, sinh thái và sinh lý Nguồn lợi cá được tiến hành điều tra

ở hầu hết các vùng sinh thái Đông Bắc, Tây Bắc, Bắc Trung Bộ,… Các công trình nghiên cứu có thể kể đến:

- Đào Văn Tiến và Mai Đình Yên (1958) Nghiên cứu sơ bộ khu hệ cá sông

Bôi gồm 44 loài

- “Sơ bộ thống kê một số loài cá kinh tế vịnh Bắc Bộ” của Bùi Đình Chung

(1964)

- “Khu hệ cá vịnh Bắc Bộ” - L.I Besednow (1971) [35]

- “Danh mục cá biển và cá nước ngọt miền Nam Việt Nam” do J.J Orsi tổng

kết (1974) Đây là kết quả của cuộc khảo sát do Viện Hải dương học Nha Trang họp tác với Viện Hải dương Scripts California, Sở nghề cá và hải quân Thái Lan thực hiện [6]

Các công trình nghiên cứu của Viện nghiên cứu biển Hải Phòng: Điều tra thành phần các loài thực vật nổi và động vật nổi ở vùng cửa sông thuộc hệ thống sông Hồng gồm cửa Ba Lạt, cửa Ninh Cơ và cửa Đáy (Nguyễn Văn Chung và nnk., 1973; Trương Ngọc An và Hàn Ngọc Lương, 1980; Nguyễn Văn Khôi và Dương Thị Thơm, 1980); Nghiên cứu về thành phần các loài cá ở ven biển

Trang 21

Quảng Ninh (Nguyễn Nhật Thi, 1971), cá ở biển Nam Hà (Hồ Sỹ Bình, 1974) Các công trình nghiên cứu trong giai đoạn này có nhiều giá trị cho khoa học

cơ bản và khoa học ứng dụng nói chung và ngư loại học nói riêng

- Thời kỳ từ 1976 tới nay

Sau năm 1975, đất nước hoàn toàn thống nhất, hoạt động nghiên cứu khoa học được đẩy mạnh, nhiều nghiên cứu chuyên sâu về ngư loại học được tiến hành trên phạm vi cả nước như các đề tài nghiên cứu độc lập hay đề tài thuộc các chương trình nghiên cứu cấp Nhà nước khác do Phân viện Viện Hải dương Hải Phòng hay Viện Tài nguyên và Môi trường Biển hiện nay chủ trì cũng được tiến hành trên các địa bàn khác như đầm Cái Tráp (Trương Ngọc An và nnk., 1984), đầm phá Tam Giang - Cầu Hai, Thừa Thiên - Huế (đề tài thuộc Chương trình KT-03) Các công trình nghiên cứu tiêu biểu:

- “Định loại cá nước ngọt các tỉnh phía Bắc Việt Nam” của Mai Đình Yên

(1978) công bố 201 loài, 103 giống [34]

- “Định loại cá nước ngọt Nam Bộ” của Mai Đình Yên, Nguyễn Văn Trọng,

Nguyễn Văn Thiên (1992) công bố 255 loài [36]

Bên cạnh đó, việc nghiên cứu ngày càng được đẩy mạnh, có sự hợp tác giữa các cơ quan, tổ chức trong và ngoài nước như:

- “Nghiên cứu nguồn lợi cá nổi ven bờ vịnh Bắc Bộ” (1974 - 1976) do Viện

nghiên cứu hải sản Hải Phòng và Viện nghiên cứu hải dương học Nha Trang thực hiện

- Báo cáo “Nguồn lợi cá biển – cơ sở phát triển của nghề cá biển Việt Nam”

của Bùi Đình Chung, Chu Tiến Vĩnh, Nguyễn Hữu Đức năm 1999 [32]

Công tác nghiên cứu cũng được đẩy mạnh trong các trường đại học Những công trình liên quan đến khu hệ cá có thể tìm thấy trong các ấn phẩm của khoa Sinh học, trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội (hay Đại học Tổng hợp Hà Nội trước đây), Đại học Tổng hợp Huế (nay là Đại học Huế), Đại học Thủy sản (Nha Trang), Đại học Cần Thơ,… [26]

Đối với khu vực cửa sông ven biển phía Nam có thể gặp các công trình của

Trang 22

trường Đại học Tổng hợp Huế trước đây hay Trường Đại học Huế hiện nay (Hoàng Đức Đạt và Võ Văn Phú, 1977; Nguyễn Thị Phương Liên và nnk., 1981; Phạm văn Miên và Nguyễn Mộng, 1982; Tôn Thất Pháp, 1993; Võ Văn Phú, 1995, 2001,

2004, 2003, ) Trường Đại học Thủy sản Nha Trang hay Đại học Nha Trang hiện nay thường triển khai các nghiên cứu của mình trong các đầm phá Nam Trung Bộ như đầm Thị Nại (Nguyễn Chính, Ngô Anh Tuấn, 1982; Nguyễn Trọng Nho và nnk., 1982); đầm Nha Phu, Phú Khánh (Nguyễn Trọng Nho và nnk., 1982),…

Kết quả của các công trình nghiên cứu trong giai đoạn này đã góp phần tạo

ra một cái nhìn tổng quan, cụ thể với đa dạng sinh học cá ở Việt Nam nói chung và từng khu vực, vùng miền nói riêng, hoàn thiện cơ sở dữ liệu các loài cá ở Việt Nam, tạo điều kiện cho việc phát triển các nghiên cứu tiếp theo, phục vụ sản xuất, quản

lý, khai thác và phát triển bền vững nguồn lợi cá

1.2.2 Lịch sử nghiên cứu khu hệ cá ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và tỉnh Bến Tre

Trước năm 1975, do ảnh hưởng của chiến tranh nên hầu như không có nghiên cứu nào về khu hệ cá ở Nam Bộ và các cửa sông ven biển được thực hiện, chỉ có một số công trình do cán bộ khoa học người Việt Nam phối hợp với người nước ngoài thực hiện Năm 1972 Nguyễn Viết Trương và Trần Thị Túy Hoa đã đưa

ra một danh sách cá nước ngọt ĐBSCL gồm 93 loài [35]

Từ năm 1975 đã có các nghiên cứu do các cán bộ trong nước hoặc hợp tác giữa các tổ chức khoa học trong và ngoài nước được tiến hành, Tiêu biểu là công

trình nghiên cứu của Mai Đình Yên và cộng sự (1992): “Định loại các loài cá nước

ngọt Nam Bộ” với 255 loài [36]; Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993):

“Định loại cá nước ngọt vùng ĐBSCL” với 173 loài [13] Trong những năm gần

đây, cũng xuất hiện nhiều hơn các công trình nghiên cứu:

- Dự án nghiên cứu các loài cá ở ĐBSCL do Quỹ môi trường thiên nhiên

Nagao (NEF) và Trường Đại học Cần Thơ (CTU) được tiến hành từ 2006 [6]

- Năm 2008, Ủy hội sông Mêkông đã xuất bản ấn phẩm: “Field guide to

Fishes of the Mekong Delta” với 363 loài cá phổ biến thuộc lưu vực sông

Trang 23

Mêkông thuộc hai nước Việt Nam và Campuchia [42]

- Vidthayanon (2008) có liệt kê được 461 loài cá trong sách ảnh về các

loài cá ĐBSCL [6]

- Hortle (2009) cho xuất bản “Bộ sưu tập có hệ thống và phân loại chính

xác các loài cá vùng ĐBSCL giúp cho việc loại bỏ những loài chưa rõ” [6]

- Chương trình hợp tác của Quỹ Bảo vệ môi trường tự nhiên Nhật Bản

(NAGAO) với các quốc gia Lào, Campuchia, Thái Lan, Việt Nam đã nghiên cứu

khu hệ cá sông Mêkông từ 10/2006 - 3/2011 đã xác định và lưu trữ mẫu của 540

loài cá, trong đó, ở ĐBSCL có 292 loài, thuộc 188 giống, 70 họ, trong đó có 151 loài đặc hữu, 5 loài chưa được mô tả, 8 loài chưa định loại được, 62 loài mới ghi nhận lần đầu ở lưu vực sông Mêkông và 9 loài mới ghi nhận lần đầu ở Việt Nam [32]

Bến Tre là một trong các tỉnh thuộc ĐBSCL, khu vực có nhiều con sông lớn chảy qua, đem lại nguồn lợi thủy sản phong phú Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu về nguồn lợi thủy sản nói chung và cá nói riêng còn rất ít Một số

nghiên cứu được thực hiện gần đây như: Báo cáo chuyên đề “Đánh giá hiện trạng

đa dạng sinh học và đề xuất giải pháp quản lý, sử dụng hợp lý và phát triển bền vững hệ sinh thái cửa sông Cổ Chiên” tại TP Hồ Chí Minh năm 2013 [1], các đề tài

nghiên cứu của Đại học Cần Thơ như “Điều tra thành phần loài cá kinh tế và hiện

trạng nghề cá vùng ven biển tỉnh Bến Tre” (Nguyễn Thị Cẩm Nhung, 2009) [18];

“Thành phần loài và đặc điểm sinh học của một số loài cá tầng mặt phân bố ven

biển tỉnh Bến Tre” (Phạm Thị Mỹ Xuân, 2009) [33], “Thành phần loài và đặc điểm sinh học của một số loài cá kinh tế của hai họ cá bống Gobiidae và Eleotridae phân

bố ở vùng ven biển tỉnh Bến Tre” (Nguyễn Minh Tuấn, 2016) [30],

Như vậy, mặc dù đã có một số công trình nghiên cứu về khu hệ cá khu vực ĐBSCL tuy nhiên những công trình nghiên cứu này còn mang tính khái quát, nghiên cứu trên phạm vi rộng Đối với tỉnh Bến Tre, bước đầu đã có những nghiên cứu về khu hệ cá nhưng nhìn chung còn riêng lẻ, chủ yếu tập trung vào các loài cá ven biển mà chưa nghiên cứu về cá cửa sông, trong đó có cửa sông Cổ Chiên

Trang 24

1.3 THỰC TRẠNG KHAI THÁC VÀ NHỮNG THÁCH THỨC ĐỐI VỚI NGUỒN LỢI CÁ VÙNG CỬA SÔNG – VEN BIỂN VIỆT NAM

1.3.1 Thực trạng khai thác

Nghề khai thác ở nước ta rất đa dạng phong phú với quy mô cũng như tên gọi Hiện tại, cả nước có trên 40 nghề khai thác thủy sản tập trung tại 5 nhóm nghề chính (lưới kéo, lưới rê, lưới vây, câu và lồng bẫy cố định) Mặc dù phát triển nhanh chóng nhưng nghề khai thác hải sản nước ta vẫn còn mang nặng tính chất của nghề

cá quy mô nhỏ Các tàu công suất máy nhỏ hơn 90 CV chiếm tỉ lệ cao, chủ yếu hoạt động ở ven bờ Hầu hết các tàu đánh cá đều được đóng bằng gỗ, các máy tàu được

sử dụng phần lớn là máy cũ hoặc dùng các máy ôtô vận tải hạng nặng đã cũ để lắp đặt

Cũng theo kết quả các chuyến điều tra từ năm 2000 đến 2005, tổng trữ lượng hải sản Việt Nam ước tính khoảng 4 triệu tấn, trong đó trữ lượng cá nổi khoảng 2,8 tấn, chiếm khoảng 70% tổng trữ lượng; trữ lượng cá đáy khoảng 1,2 triệu tấn, chiếm khoảng 30% tổng trữ lượng; khả năng khai thác hải sản ở biển Việt Nam khoảng 1,8

- 2,2 triệu tấn, trong đó khoảng 1,7 triệu tấn ở ngoài khơi [3]

Theo thống kê của Bộ Thuỷ sản (nay là Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn) thì lượng hải sản đánh bắt đã tăng lên rất nhiều lần nhưng hiệu suất đánh bắt lại giảm rõ rệt Nguyên nhân chính là do quá trình đánh bắt gần bờ và kỹ thuật đánh bắt mang tính huỷ diệt cao như sử dụng thuốc nổ hoặc các loại lưới đánh bắt có cỡ mắt nhỏ Số lượng phương tiện khai thác ngày càng nhiều làm tăng sức ép lên nguồn tài nguyên và môi trường biển, phát sinh mâu thuẫn giữa khai thác tài nguyên biển, các vùng cửa sông với bảo vệ môi trường [3]

Như vậy, có thể nhận thấy, nghề cá nước ta vẫn là nghề cá nhỏ, phương tiện khai thác còn mang tính truyền thống, lạc hậu Các hoạt động khai thác, đánh bắt tập trung chủ yếu ở vùng cửa sông, ven biển, chưa vươn tới được các vùng nước sâu, xa bờ

Trang 25

1.3.2 Khó khăn và thách thức

Một trong những khó khăn lớn nhất trong việc phát triển ngành thủy sản là hạn chế về nguồn nhân lực có trình độ Với trình độ học vấn thấp, ngư dân gặp khó khăn trong việc tiếp thu kỹ thuật mới, nhất là kỹ thuật khai thác xa bờ Trong khi

đó, hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ nghề cá chưa đáp ứng được nhu cầu phục vụ ngành khai thác Mạng lưới chợ cá còn ở trạng thái đang phát triển Việc mua bán, tiêu thụ cá ở các chợ cá phần lớn do các tư thương đảm nhiệm

Sự mất cân đối giữa năng lực khai thác và khả năng hiện có của nguồn lợi vùng ven bờ ngày càng tăng, dẫn đến nguồn lợi ven bờ bị suy giảm, hiệu quả kinh

tế của hoạt động khai thác vùng biển ven bờ ngày càng thấp Trong khi đó, giá nhiên liệu và những chi phí đầu vào cho khai thác tăng không ngừng, đang gây ra những khó khăn lớn cho ngành khai thác hải sản

Để phát triển ngành thủy sản, đòi hỏi cần có các biện pháp nâng cao trình độ người lao động, khả năng khai thác của các phương tiện đánh bắt và đồng bộ về cơ

sở hạ tầng từ đó giúp mở rộng ngư trường, giảm sức ép lên các khu vực gần bờ

1.4 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 1.4.1 Điều kiện tự nhiên

Sông Cổ Chiên là một phân lưu của sông Cửu Long, chảy qua các tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre Sông dài 82km bắt đầu từ thành phố Vĩnh Long, chảy

theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, đổ ra biển Đông qua 2 cửa sông là cửa Cung Hầu

và cửa Cổ Chiên Cửa Cổ Chiên lệch về phía tỉnh Bến Tre còn cửa Cung Hầu lệch

Trang 26

về phía Trà Vinh Trên dòng sông Cổ Chiên cũng có nhiều cù lao và cồn như: Cù lao Nai, cồn Chen, cồn Dung, cồn Lớn Các cồn này thuộc về tỉnh Bến Tre Cửa chính của sông Cổ Chiên đổ ra biển, ít bãi bồi, nên tàu bè ra vào tương đối thuận tiện Trong khi đó cửa Cung Hầu (cửa phụ) do một bãi nông trên mực nước triều ngay trước cửa, nên giao thông rất khó khăn [1]

1.4.1.2 Đặc điểm địa hình

Vùng cửa sông Cổ Chiên nằm giữa 2 cù lao: Cù lao Minh tỉnh Bến Tre và cù lao Long Trị, tỉnh Trà Vinh Khu vực này thuộc đới ven bờ của đồng bằng sông Cửu Long, có nhiều giồng cát chạy liên tục theo hình vòng cung và song song với

bờ biển [1]

Nơi đây có hệ thống sông ngòi và kênh rạch chằng chịt, với mật độ kênh rạch khoảng 20 - 30 m/ha phục vụ tưới tiêu cho đất nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản, diện tích kênh rạch chiếm khoảng 9% Vùng có địa hình bằng

phẳng, xu thế thấp dần từ Tây sang Đông Đáy sông sâu từ -10 -> -20m, phần giữa đáy sông bằng phẳng, có nhiều cồn cát, bãi ngầm tích tụ Địa hình cao nhất (3 - 5m)

gồm các giồng cát phân bố ở An Nhơn, Giao Điền, Thạnh Phú, Nhị Trường, Long Sơn (Cầu Ngang), Long Hữu (Duyên Hải) thuộc tỉnh Bến Tre Xen giữa các giồng

cát là các phần đất thấp có độ cao 1 - 1,5m nên bị ảnh hưởng triều rất mạnh Cuối

cùng là đất trũng thấp luôn luôn ngập dưới mực triều trung bình gồm đất đầm mặn

và bãi thủy triều, địa hình này có độ cao không quá 0,5m [1]

1.4.1.3 Khí hậu

Vùng cửa sông Cổ Chiên nằm trong miền khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo nhưng lại nằm ngoài ảnh hưởng của gió mùa cực đới và chịu ảnh hưởng của khí hậu biển

* Nhiệt độ

Do nằm ở vĩ độ thấp nên khu vực tiếp nhận được nhiều nắng, trung bình trên

2500 giờ nắng/năm Khu vực có nhiệt độ cao, biên độ nhiệt thấp, nhiệt độ trung

bình hàng năm từ 25 - 27oC, không có tháng nào có nhiệt độ dưới 20oC Tháng cao nhất là 29oC (tháng 4 - 5) và thấp nhất 24oC (tháng 12) [15, 48]

Trang 27

* Lượng mưa và độ ẩm không khí

Vùng cửa sông Cổ Chiên là khu vực có lượng mưa thấp nhất ĐBSCL Trong năm có 2 mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, bắt đầu muộn hơn và kết thúc sớm hơn khoảng nửa tháng so với các vùng khác, mùa khô từ tháng 11 đến

tháng 4 năm sau Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1000 - 1250 mm, mùa mưa

chiếm 90% tổng lượng mưa hàng năm Lượng mưa trung bình tháng lớn nhất xảy ra vào tháng 9 và tháng 10

Độ ẩm không khí trong khu vực tương đối cao, chênh lệch độ ẩm trung bình

giữa tháng ẩm nhất và khô nhất khoảng 15% Mùa khô, độ ẩm trung bình đạt 73 -

80% và đạt 83 - 90% vào mùa mưa Tháng 12, tháng 1 có độ ẩm thấp nhất [15]

* Gió

Trong mùa mưa, gió thịnh hành là gió Tây Nam đến Tây Tây Nam, tốc độ

trung bình cấp 3 - cấp 4 Tháng 9 sang các tháng 10 và 11, gió chuyển tiếp yếu gồm

có cả gió Đông Bắc đến Đông Nam, tốc độ thường ở mức cấp 2 Sang tháng 12, đầu

mùa khô, gió chuyển từ Bắc đến Đông Bắc Tháng 1 và 2 gió thịnh hành ở cấp 3 - 4,

chủ yếu hướng Đông Bắc đến Đông Nam Cuối mùa khô, vào tháng 3 và 4, gió

thịnh hành ở cấp 3 - 4, chủ yếu hướng Đông đến Đông Nam [15]

1.4.1.4 Đặc điểm thủy văn

* Chế độ dòng chảy

Dòng chảy của sông Cổ Chiên được tạo nên từ dòng nước ngọt từ thượng nguồn và thủy triều từ biển theo cửa sông xâm nhập vào đất liền Trong năm phân làm 2 mùa rõ rệt, mùa cạn bắt đầu từ tháng 12 đến tháng 5 năm sau, gần trùng với mùa khô và mùa lũ từ tháng 6 đến tháng 11, gần trùng với mùa mưa

Lưu lượng nước trung bình của cửa sông Cổ Chiên là 1480 m3/s vào mùa cạn

và 6000 m3/s vào mùa mưa, phân phối tương ứng cho cửa Cổ Chiên khoảng 710

m3/s mùa cạn và khoảng 2880 m3/s vào mùa mưa

* Chế độ thủy triều

Vùng Biển Đông tiếp giáp cửa sông Cổ Chiên thuộc phạm vi khu vực bán nhật triều không đều, hầu hết các ngày đều có 2 lần nước lên, 2 lần nước xuống

Trang 28

Mức triều ở cửa sông Cổ Chiên từ 1 - 3,5m Càng vào sâu, biên độ triều càng giảm

Mỗi chu kỳ triều dài khoảng nửa tháng, 1 - 2 ngày đầu triều kém, đến giữa chu kỳ chiều cường (thường vào đầu tháng âm lịch hoặc giữa tháng) kéo dài khoảng

3 ngày, cuối chu kỳ là 1 - 2 ngày triều kém [15]

1.4.1.5 Tài nguyên thiên nhiên của tỉnh Bến Tre

a Tài nguyên đất

Bến Tre là tỉnh có nguồn tài nguyên đất phong phú, với nhiều loại đất như: đất cát, đất phù sa, đất phèn, đất mặn Sản xuất nông nghiệp của tỉnh ngày càng mở rộng, nhu cầu thâm canh, tăng vụ ngày càng được chú trọng Hơn 20 năm qua, nhân dân Bến Tre cũng như cả vùng đồng bằng Nam Bộ đã tiến hành nhiều công trình thau chua rửa mặn, cải tạo đất đai nhằm khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên này

có hiệu quả hơn

b Tài nguyên nước

Trên địa phận tỉnh Bến Tre có 4 con sông lớn chảy qua, đó là các sông Mỹ Tho, Ba Lai, Hàm Luông và Cổ Chiên Tất cả đều chảy theo hướng Tây Bắc – Đông nam và đổ ra biển hàng trăm tỷ mét khối nước mỗi năm Qua nhiều năm, lượng phù

sa do các dòng sông cung cấp đã bồi tụ nên vùng Nam Bộ phì nhiêu, trong đó có đất Bến Tre Bốn con sông này đã giữ một vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế, văn hoá của nhân dân trong tỉnh: Cung cấp nước ngọt cho sinh hoạt và cho nông nghiệp, nguồn thực phẩm phong phú như tôm, cá, cua, ốc, tạo nên cảnh quan và điều kiện khí hậu trong vùng Các con sông có một vị trí quan trọng trong hệ thống giao thông đường thủy, không chỉ của tỉnh mà cả miền đồng bằng rộng lớn, tạo điều kiện thuận lợi cho giao lưu văn hoá giữa các vùng

c Tài nguyên sinh vật

Hệ thống sông ngòi và cửa sông đem lại nguồn lợi với nhiều loài thủy sản như cá, tôm, cua, nhuyễn thể,… tạo nguồn nguyên liệu phong phú cho ngành công nghiệp chế biến thủy sản phát triển, đặc biệt là đối với các huyện vùng ven biển như

Ba Tri, Bình Đại, Thạnh Phú Dựa trên kết quả các nghiên cứu khác thuộc tiểu dự

án “Điều tra tổng thể đa dạng sinh học các hệ sinh thái cửa sông Việt Nam” [29],

Trang 29

đã xác định được mức độ đa dạng của các nhóm sinh vật khác ngoài cá tại khu vực nghiên cứu như sau:

* Thực vật nổi: Theo kết quả từ các nghiên cứu trước, đã xác định được 41 loài thực

vật nổi, đa số các loài thực vật nổi phát hiện được trong khu vực là các loài tảo phù

du vùng cửa sông ven biển, có biên độ chịu muối rộng, thích hợp với môi trường nước từ lợ đến mặn, trong đó, ngành tảo Silic Bacillariophyta chiếm ưu thế

* Động vật nổi: So với các cửa sông miền Bắc, động vật nổi tại các cửa sông miền

Nam đa đạng hơn, đã xác định được 47 loài tại cửa sông Cổ Chiên, trong đó, các bộ Calanoida và Cyclopoida có số lượng loài chiếm tỷ lệ lớn, tỷ lệ số lượng loài nước

lợ chiếm ưu thế Tại đây cũng ghi nhận sự xuất hiện của một số loài thường phân bố

ở nước ngọt Mật độ trung bình đạt 10260 cá thể/m3, chiếm ưu thế là nhóm Copepoda Chỉ số sinh học về mức độ phong phú D (Margaleft) trung bình tại cửa sông là 1,84, đứng sau cửa Định An (1,95) và cao hơn cửa Soài Rạp (1,52)

* Giáp xác: Gồm 72 loài, tại các điểm thu mẫu, mật độ đạt từ 4 – 5 cá thể/m2

* Động vật đáy khác: Bao gồm các loài thuộc lớp Giun nhiều tơ, lớp Hải Sâm, bao

gồm 16 họ, 27 giống, mật độ dao động từ 6,25 đến 7,56 cá thể/m2

* Cá: Tỉnh Bến Tre có hệ thống sông ngòi phát triển, cùng với các cửa sông đổ ra

biển: cửa Cổ Chiên, cửa Hàm Luông, Cửa Ba Lai tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều loài sinh cá sinh sống, bao gồm các loài cá nước ngọt di cư từ sông ra biển, các loài

cá cửa sông và nhiều loài cá biển,… trong đó, nhiều loài có giá trị kinh tế cao, số lượng nhiều, là nguồn khai thác chủ yếu cho hoạt động đánh bắt của ngư dân địa phương

1.4.2 Điều kiện kinh tế - xã hội tỉnh Bến Tre

1.4.2.1 Kinh tế

Với 65 km đường chiều dài bở biển và hệ thống sông ngòi phát triển, tỉnh Bến Tre có nhiều lợi thế về nguồn lợi thủy sản, thuận lợi cho việc đánh bắt và nuôi trồng thủy sản Toàn tỉnh hiện có trên 2.886 doanh nghiệp và hơn 44.000 hộ kinh doanh cá thể đăng ký hoạt động trên các lĩnh vực Khu công nghiệp Giao Long và

An Hiệp trên địa bàn tỉnh thu hút nhiều dự án đầu tư Hiện tỉnh cũng đang tập trung

Trang 30

phát triển các loại hình du lịch sinh thái, sông nước [48]

Hoạt động nông - lâm - ngư nghiệp: Diện tích lúa nước tập trung các vùng cao trung bình và trũng thấp ở Thạnh Phú, Châu Thành, Cầu Ngang Cây hoa màu

và ăn quả như lạc, mía, nhãn, dưa hấu,… được trồng trên các giồng cát ở Châu Thành, Cầu Ngang Rừng và đất ngập mặn tập trung ở các khu vực ven biển và các

cù lao cửa sông Tuy nhiên, hiện nay diện tích rừng đang bị sụt giảm nghiêm trọng

do hoạt động của con người Về nguồn lợi thủy sản, ngư dân chủ yếu khai thác, đánh bắt ven bờ với các tàu công suất nhỏ, sử dụng lưới kéo đáy, hiệu quả đạt được không cao Nghề nuôi trồng thủy sản phát triển Các loài có giá trị cao như tôm sú, tôm càng xanh, nghêu, sò huyết được nuôi trồng, đem lại hiệu quả kinh tế [15, 48]

1.4.2.2 Xã hội

Đến năm 2014, tỉnh Bến Tre có khoảng 1,262 triệu người, mật độ trung bình

là 535 người/km2 Tỉ lệ gia tăng dân số đạt 6,58%, trong đó có 780.027 người trong

độ tuổi lao động (chiếm 62,8%) Tỉnh có 2 trường Cao đẳng và trên 60 cơ sở dạy nghề Tỷ lệ lao động qua đào tạo chiếm 36% Tuy nhiên, theo điều tra, mức sống của các hộ trong vùng nghiên cứu còn thấp (<5 triệu đồng/năm), tỷ lệ các hộ đói nghèo từ 7-10% Hầu hết là các xã thuộc diện vùng sâu, vùng xa khó khăn Số hộ nghèo cuối năm 2013 là 4.827 hộ, chiếm 13,62% Hộ cận nghèo có 2.118 hộ, chiếm 5,95% Hộ có thu nhập từ 130% đến 150% chuẩn hộ nghèo là 1.240 hộ, chiếm 3,52% [4,15]

Các huyện Châu Thành, Cầu Ngang có mật độ dân số cao, là khu vực có đất đai màu mỡ, chuyên canh tác lúa nước và cây ăn trái Các huyện ven biển, đất đai bị nhiễm mặn, ít màu mỡ như Duyên Hải, Thạnh Phú có mật độ dân số thấp hơn [5]

Cơ sở hạ tầng, mạng lưới giao thông của khu vực bước đầu được chú trọng đầu tư, các tuyến đường liên huyện, liên xã được nâng cấp và mở rộng Do diện tích ngập nước khá lớn khi triều cường nên vận chuyển đường thủy có hiệu quả nhất so với các phương tiện đi lại khác, đặc biệt là các khu vực ngập sâu thường xuyên Bến Tre cũng có vị trí đặc biệt trong giao thông đường bộ đối với các tình phía Nam: Thành phố Bến Tre nối liền với thành phố Hồ Chí Minh (qua Tiền Giang, Long An)

Trang 31

dài 86 km Quốc lộ 60 từ cầu Rạch Miễu qua TP Bến Tre, qua sông Hàm Luông, thị trấn Mỏ Cày, đến phà Cổ Chiên, sang tỉnh Trà Vinh Quốc lộ 57 từ thị trấn Mỏ Cày, qua thị trấn Chợ Lách đến phà Đình Khao sang Vĩnh Long Tỉnh lộ 888 nối thị trấn

Mỏ Cày với thị trấn Thạnh Phú Tỉnh lộ 885 nối thị xã Bến Tre với thị trấn Ba Tri, qua thị trấn Giồng Trôm Tỉnh lộ 884 từ ngã ba Tân Thành đến bến phà Tân Phú Tỉnh lộ 882 nối quốc lộ 60 với quốc lộ 57 Tỉnh lộ 883 nối quốc lộ 60 qua thị trấn Bình Đại đến xã Thới Thuận Tỉnh lộ 887 từ cầu Bến Tre xuống ngã ba Sơn Đốc,… Tuy nhiên, theo đánh giá chung, cơ sở hạ tầng phục vụ cho giao thông còn thấp, đa

số đường giao thông nông thôn chưa hoàn chỉnh, cầu phà đều chưa an toàn [1,15,48]

Trang 32

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu là thành phần loài cá vùng cửa sông Cổ Chiên, trong

đó tập trung chủ yếu về thành phần loài, phân bố và các loài cá có giá trị kinh tế, sự biến động về thành phần loài cá giai đoạn 2011 – 2015 và thực trạng nghề cá tại khu vực nghiên cứu

2.2 ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

2.2.1 Địa điểm nghiên cứu

Địa điểm nghiên cứu là vùng cửa sông Cổ Chiên, tỉnh Bến Tre (Hình 2.1)

Hình 2.1 Khu vực nghiên cứu ở vùng cửa sông Cổ Chiên

Trang 33

2.2.2 Thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành trong khuôn khổ tiểu dự án “Điều tra tổng thể đa dạng sinh học các hệ sinh thái cửa sông Việt Nam” Các mẫu cá được thu tại thực địa trong 3 đợt:

2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.3.1 Phương pháp thu thập, phân tích và tổng hợp tài liệu

Đây là phương pháp tham khảo, sử dụng và thừa hưởng những tài liệu đã có

về đối tượng nghiên cứu, bao gồm các tài liệu khoa học liên quan đến phân loại, đánh giá nguồn lợi cá, lịch sử nghiên cứu, điều kiện tự nhiên, tình hình phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Bến Tre như các bài báo, khóa luận, luận văn, luận án, kết quả các công trình nghiên cứu,… đã được công bố của các tác giả trong và ngoài nước, các chuyên gia, báo cáo chuyên đề tại hội nghị khoa học

Trong quá trình thực hiện, luận văn có sử dụng ảnh chụp tại thực địa, tư liệu phỏng vấn ngư dân địa phương về các thông tin liên quan đến các loài cá trong vùng nghiên cứu như tên địa phương, sự có mặt của một số loài cá không thu được mẫu, giá trị kinh tế, mùa vụ khai thác, thời gian sinh sản, sự biến động về thành phần, số lượng các loài cá, phương tiện đánh bắt,… do các cán bộ nghiên cứu tiến hành trong quá trình thu mẫu

2.3.2 Phương pháp thu mẫu thực địa

Mẫu cá được thu trực tiếp trên các thuyền đánh cá và theo các loại nghề ở vùng cửa sông Cổ Chiên như nghề giả cào (cá, tôm), lưới vướng (lưới rê), vây, te,

Trang 34

cắm đáy, đăng, bẫy lồng, Các thông tin liên quan đến các loài cá như tên địa phương, thời gian xuất hiện, giá trị kinh tế, thời gian sinh sản, mùa vụ và phương tiện khai thác,… cũng được thu thập trong quá trình thu mẫu Một số mẫu cá còn được thu mua bổ sung tại các chợ cá trong khu vực nghiên cứu nếu biết chắc cá được đánh bắt ở cửa sông Cổ Chiên và có thông tin từ dân địa phương về sự xuất hiện của loài trong vùng Mẫu cá được chụp ảnh trước khi định hình và được bảo quản trong dung dịch formaline nồng độ 8 - 10% và lưu giữ tại Phòng thí nghiệm Sinh thái học và Tài nguyên Sinh vật, Trung tâm nghiên cứu Khoa học sự sống, Khoa Sinh học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội

Để thu thập được đầy đủ thành phần loài cá, mẫu cá được thu từ các loại ngư

cụ khác nhau như: Lưới (gồm các loại lưới với nhiều kích cỡ với mắt lưới khác nhau), câu, chài, vợt,… Tuy nhiên để thu được nhiều mẫu, các mẫu cá chủ yếu được thu trực tiếp từ các thuyền đánh cá theo đủ loại nghề đang hoạt động trong vùng cửa sông nghiên cứu, đồng thời thu mẫu tại lưới cắm đáy, vó ở khu vực cửa sông, lưới đăng và các loại lồng, bẫy trên bãi triều Những thông tin liên quan khác về nguồn lợi cá (ngư trường, nơi tập trung kiếm ăn, sinh sản của các loài cá, tình hình khai thác theo mùa và theo thời gian năm,…) và xuất hiện của một số loài cá ít gặp cũng được điều tra, phỏng vấn trực tiếp từ các ngư dân đánh cá trong vùng và dân địa phương Một số mẫu cá còn được thu mua bổ sung tại các chợ cá trong khu vực nghiên cứu sau khi đã kiểm tra kỹ về địa điểm, thời gian và loại nghề để chắc chắn chúng được khai thác ở vùng cửa sông nghiên cứu

2.3.3 Phương pháp nghiên cứu, định loại trong phòng thí nghiệm

Mẫu cá được tiến hành định loại trong phòng thí nghiệm bằng phương pháp phân tích, so sánh hình thái

Tài liệu chính sử dụng trong định loại tại phòng thí nghiệm là: “FAO species

identification guide for fishery purposes - The living marine resources of Western

Central Pacific Vol 3, 4, 5, 6” của FAO (1999 - 2001) [40] và “Fishes of Japan -

with pictorial keys to the species, English edition - vol I, II” của Tetsuji Nakabo

(2002) [45]; “Ngư loại phân loại học” của Vương Dĩ Khang (1962) [12] Bên cạnh

Trang 35

đó, khóa luận cũng tham khảo thêm các tài liệu nghiên cứu cá ở khu vực ĐBSCL

như “Mô tả định loại cá Đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam - Fishes of the

Mekong delta, Viet Nam” do nhóm nghiên cứu thuộc dự án NEF - CTU thực hiện

[6] và “Fishes of the greater Mekong ecosystem with species list and photographic

atlas” của nhóm tác giả Walter J Rainboth, Chavalit Vidthayanon, Mai Đình Yên

(2012) [47]

Trang web fishbase.org được sử dụng để tham khảo, so sánh, kiểm tra lại tên khoa học, khu vực phân bố của các loài cá đã được phân tích

Tên Tiếng Việt (tên phổ thông) của các loài cá được xác định chủ yếu theo

“Danh lục cá biển Việt Nam - Tập 1, 2, 3, 4, 5 của Nguyễn Hữu Phụng và các tác

giả khác [20-23], ngoài ra có tham khảo thêm tên gọi tại địa phương và tại trang web fishbase.org

Danh sách cá sau khi xác định tên khoa học, tên Tiếng Việt được sắp xếp theo hệ thống phân loại của William N Eschmeyer [38, 51]

* Một số dấu hiệu dùng trong phân loại:

Phương pháp phân tích, so sánh hình thái thường sử dụng khóa phân loại dựa

trên các chỉ tiêu đếm và chỉ tiêu đo theo Paravdin [19] Các số đo và đếm được xác

định trên nhiều cá thể của cùng một loài Sử dụng các dụng cụ: Thước đo, compa, kim mũi mác… khi định loại mẫu cá

a Chỉ tiêu đếm:

- Vây: Thường đếm số lượng vây, phân nhánh hay không phân nhánh, số lượng các tia vây cứng, tia vây mềm

- Vảy: Số lượng các vảy đường bên, số hàng vảy trên và dưới đường bên

- Chỉ tiêu đếm khác: Số hàng răng, số lượng râu, số lược mang, số gai ở bụng, số các lỗ dưới cằm,…

Các kí hiệu trong chỉ tiêu đếm:

- D: Vây lưng (Dorsal fin) Với cá có 2 vây lưng, D1 kí hiệu cho vây lưng thứ nhất, D2 kí hiệu cho vây lưng thứ 2

- A: Vây hậu môn (Anal fin)

Trang 36

- P: Vây ngực (Pectoral fin)

- V: Vây bụng (Ventral fin)

- C: Vây đuôi (Caudal fin)

- L1: Vảy đường bên (với cá có đường bên)

- Squ: Vảy dọc thân (với cá không có đường bên)

b Chỉ tiêu đo:

Các chỉ tiêu đo thường dùng bao gồm: Chiều dài thân, đầu và mõm, khoảng cách trước vây lưng, giữa hai ổ mắt, đường kính mắt, chiều dài cuống đuôi, chiều cao thân lớn nhất và nhỏ nhất, tính tỷ lệ giữa các số đo

Kí hiệu các chỉ tiêu đo:

- L0: Chiều dài mình bỏ vây đuôi

- L: Chiều dài toàn thân cá

- Lc: Chiều dài Smith, từ mõm đến chẻ vây đuôi

- H: Chiều cao lớn nhất của thân

- h: Chiều cao nhỏ nhất của thân

- hD: Chiều cao vây lưng

- hA: Chiều cao vây hậu môn

- hP: Chiều cao vây ngực

- hV: Chiều cao vây bụng

- lD: Chiều dài gốc vây lưng

- lA: Chiều dài gốc vây hậu môn

- a: Chiều dài đầu

- b: Chiều dài mõm

- c: Đường kính mắt

- e: Chiều dài cuống đuôi

Ngoài các chỉ tiêu đo và chỉ tiêu đếm, trong phân loại cũng dùng thêm 1 số tiêu chí khác về hình dạng như kiểu miệng, vảy, răng, hình dạng vây đuôi, đường bên,…

Các chỉ tiêu chính sử dụng trong định loại các nhóm cá được mô tả trong

Trang 37

hình 2.2, 2.3, 2.4, 2.5

2.3.4 Phương pháp tính toán thống kê và xử lý dữ liệu

Quá trình phân tích, đánh giá sự đa dạng về thành phần loài, tỉ lệ giữa các nhóm loài, sự biến động về thành phần loài, sản lượng khai thác,… được tính toán theo phương pháp thống kê bằng phần mềm Excel

2.3.5 Phương pháp xác định mức độ gần gũi về thành phần loài của khu hệ cá tại vùng nghiên cứu và một số khu vực khác

Mức độ gần gũi về thành phần loài của khu hệ cá ở vùng cửa sông Cổ Chiên

và khu hệ cá ở một số cửa sông khác được xác định theo công thức Stugren Radulescu (1961) [7]:

Y (Y’): Số loài (phân loài) có ở khu hệ B, không có ở khu hệ A

Z (Z’): Số loài (phân loài) có ở cả 2 khu hệ

Mức độ gần gũi về mối quan hệ được xác định theo thang 6 bậc:

Trong đó: C: Số lượng loài xuất hiện ở cả 2 khu vực A và B

A: Số lượng loài có mặt ở khu vực A B: Số lượng loài có mặt ở khu vực B

R= -0,69 đến -0,35: Quan hệ gần nhau R= 0,1 đến 0,34: Quan hệ khác nhau ít R= 0,7 đến 1: Quan hệ rất khác nhau

Trang 38

Hình 2.2 Các thuật ngữ chuyên môn và chỉ tiêu hình thái chính dùng trong định loại cá Mang tấm (cá Sụn) dạng cá Đuối [ 40 ]

Trang 39

Hình 2.3 Các thuật ngữ chuyên môn và chỉ tiêu hình thái chính

dùng trong định loại cá Vây tia (cá Xương) [ 40 ]

Trang 40

Hình 2.4 Các loại vẩy và cách tính vẩy, các kiểu miệng, vị trí các xương hàm

và các kiểu răng dùng trong định loại cá Vây tia (cá Xương) [ 40 ]

Ngày đăng: 01/10/2018, 00:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w