1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Cơ sở khoa học cho quy hoạch bảo vệ môi trường huyện quỳnh lưu, tỉnh nghệ an

118 192 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 2,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ đó đưa ra các giải pháp có tính tổng thể trong bảo vệ môi trường huyện Quỳnh Lưu để giảm thiểu sự xung đột về khai thác không gian, sử dụng hiệu quả và bền vững tài nguyên thiên nhiên

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-

Nguyễn Nhã Lam Thủy

CƠ SỞ KHOA HỌC CHO QUY HOẠCH BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội - Năm 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

-

Nguyễn Nhã Lam Thủy

CƠ SỞ KHOA HỌC CHO QUY HOẠCH BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN

Chuyên ngành: Quản lý tài nguyên môi trường

Mã số: 60.85.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS NGUYỄN CAO HUẦN

Hà Nội - Năm 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Hoàn thành luận văn này, tác giả xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới

các thầy, cô giáo trong Khoa Địa lý, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên và Bộ môn

Sinh thái Cảnh quan và Môi trường đã tận tình giúp đỡ tác giả trong quá trình thực

hiện và hoàn thiện luận văn

Tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới GS.TS Nguyễn

Cao Huần, người đã tận tình chỉ bảo và giúp đỡ tác giả trong suốt thời gian học tập,

công tác và thực hiện luận văn này

Tác giả xin cảm ơn sự hợp tác và giúp đỡ quý báu về tài liệu của Phòng Tài

nguyên và môi trường huyện Quỳnh Lưu

Cảm ơn sự giúp đỡ và động viên của gia đình, bạn bè trong suốt quá trình

học tập và công tác cũng như trong quá trình thực hiện luận văn

Do thời gian và trình độ còn hạn chế nên luận văn chắc chắn sẽ không tránh

khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự đóng góp của quý thầy cô và các bạn

đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng năm 2017

Nguyễn Nhã Lam Thủy

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các thông tin, tài liệu trích dẫn trong luận văn được ghi rõ nguồn gốc Kết quả trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào trước đây

Hà Nội, tháng năm 2017

Tác giả luận văn

Nguyễn Nhã Lam Thủy

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

LỜI CAM ĐOAN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC HÌNH vi

DANH MỤC BẢNG vii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết 1

2 Mục tiêu và nội dung nghiên cứu 3

3 Phạm vi nghiên cứu 3

4 Cơ sở dữ liệu 3

5 Các kết quả chính 4

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 4

7 Cấu trúc luận văn 4

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 6

1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu liên quan 6

1.1.1 Các nghiên cứu về quy hoạch môi trường và quy hoạch bảo vệ môi trường 6

1.1.2 Các nghiên cứu theo tiếp cận cảnh quan trong quy hoạch bảo vệ môi trường 19

1.1.3 Các nghiên cứu về phân vùng cảnh quan và chức năng môi trường/ chức năng cảnh quan 22

1.1.4 Các nghiên cứu có liên quan đến huyện Quỳnh Lưu 27

1.2 Cơ sở lý luận về quy hoạch bảo vệ môi trường áp dụng cho huyện Quỳnh Lưu 30

1.2.1 Quan niệm về quy hoạch bảo vệ môi trường 30

1.2.2 Những cơ sở khoa học theo tiếp cận địa lý cho quy hoạch bảo vệ môi trường huyện Quỳnh Lưu 31

1.2.3 Mối quan hệ quy hoạch bảo vệ môi trường và các quy hoạch khác 32

1.2.4 Phân vùng cảnh quan và quy hoạch bảo vệ môi trường 34

Trang 6

1.2.5 Xác đinh chức năng các đơn vị cảnh quan cho quy hoạch bảo vệ môi

trường lãnh thổ nghiên cứu 35

1.3 Quan điểm, phương pháp và các bước nghiên cứu 36

1.3.1 Các quan điểm nghiên cứu 36

1.3.2 Phương pháp nghiên cứu 38

1.3.3 Quy trình nghiên cứu 39

Tiểu kết chương 1 42

CHƯƠNG 2: CẢNH QUAN – CƠ SỞ KHÔNG GIAN CHO QUY HOẠCH BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG HUYỆN QUỲNH LƯU 43

2.1 Các yếu tố thành tạo cảnh quan 43

2.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 43

2.1.1.1 Vị trí địa lý 43

2.1.2 Điều kiện tự nhiên 43

2.1.2.1 Địa chất 43

2.1.2.2 Đặc điểm địa mạo 45

2.1.2.3 Đặc điểm khí hậu, thủy văn 46

2.1.2.4 Đặc điểm thổ nhưỡng 48

2.1.2.5 Thảm thực vật 52

2.1.3 Con người với các hoạt động khai thác tài nguyên 57

2.2 Đặc điểm và sự phân hóa cảnh quan huyện Quỳnh Lưu 61

2.2.1 Lựa chọn hệ thống phân loại cảnh quan 61

2.2.2 Đặc điểm các đơn vị phân loại của cảnh quan 62

2.3 Các vùng và tiểu vùng cảnh quan 65

2.3.1 Các tiêu chí xác định các đơn vị phân vùng cảnh quan 65

2.3.2 Các nguyên tắc và cách thức phân vùng cảnh quan huyện Quỳnh Lưu 66

2.4 Đặc điểm các tiểu vùng cảnh quan huyện Quỳnh Lưu 67

Tiểu kết chương 2 71

Trang 7

CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG, DIẾN BIẾN MÔI TRƯỜNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG QUY HOẠCH BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG HUYỆN QUỲNH

LƯU, TỈNH NGHỆ AN 72

3.1 Hiện trạng môi trường và các vấn đề môi trường nổi cộm 72

3.1.1 Hiện trạng môi trường 72

3.1.2 Các vấn đề môi trường nổi cộm 84

3.2 Xu thế diễn biến môi trường theo tiểu vùng tại huyện Quỳnh Lưu 87

3.3 Xác định các chức năng môi trường của từng tiểu vùng cảnh quan phục vụ quy hoạch bảo vệ môi trường 89

3.4 Định hướng không gian bảo vệ môi trường huyện Quỳnh Lưu 93

Tiểu kết chương 3 101

KẾT LUẬN 102

TÀI LIỆU THAM KHẢO 104

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1: Quy trình nghiên cứu của luận văn

Hình 2.1: Sơ đồ vị trí khu vực nghiên cứu

Hình 2.2: Bản đồ địa chất huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An

Hình 2.3: Bản đồ địa mạo huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An

Hình 2.4: Bản đồ thổ nhưỡng huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An

Hình 2.5: Bản đồ hiện trạng sử dụng đất huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An

Hình 2.6: Bản đồ cảnh quan huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An

Hình 2.7: Bản đồ phân vùng cảnh quan huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An

Hình 3.1: Chỉ số TSS của nước biển tại một số điểm ven bờ huyện Quỳnh Lưu Hình 3.2: Chỉ số NH4 của nước biển tại một số điểm ven bờ huyện Quỳnh Lưu Hình 3.3: Chỉ số Xyanua của nước biển tại một số điểm ven bờ huyện Quỳnh Lưu Hình 3.4: Chỉ số Asen của nước biển tại một số điểm ven bờ huyện Quỳnh Lưu Hình 3.5: Chỉ số Coliform của nước biển tại một số điểm ven bờ huyện Quỳnh Lưu Hình 3.6: Bản đồ môi trường huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An

Hình 3.7: Bản đồ quy hoạch không gian cho quản lý và bảo vệ môi trường huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Tổng hợp nội dung của quy hoạch môi trường của một số tác giả 16

Bảng 1.2 So sánh các tiêu chí phân vùng CQ và phân vùng MT 34

Bảng 2.1: Tỷ lệ diện tích của các hệ tầng trong khu vực nghiên cứu 44

Bảng 2.2 Nhiệt độ và lượng mưa huyện Quỳnh Lưu 47

Bảng 2.3 Công dụng một số loài thực vật ở Bắc Quỳnh Lưu 54

Bảng 2.4: Phân bố dân cư của huyện Quỳnh Lưu đến năm 2013 57

Bảng 2.5 Hệ thống phân loại cảnh quan huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An 61

Bảng 3.1 Mức độ rủi ro môi trường nước ven biển Quỳnh Lưu 72

Bảng 3.2 Mức độ rủi ro ô nhiễm không khí ven biển Quỳnh Lưu 77

Bảng 3.3 Mức độ rủi ro của ô nhiễm môi trường đất ven biển Quỳnh Lưu 78

Bảng 3.4 Lượng CTRSH phát sinh trung bình tại các xã trên địa bàn huyện 79

Bảng 3.5 Chất thải rắn y tế trên địa bàn huyện Quỳnh Lưu 81

Bảng 3.6: Tải lượng chất thải rắn chăn nuôi ở huyện Quỳnh Lưu 81

Bảng 3.7 Lượng chất thải rắn từ các làng nghề chế biến hải sản 83

Bảng 3.8: Các chỉ số môi trường tiểu vùng đồng bằng tích tụ sông biển phía đông nam huyện Quỳnh Lưu 85

Bảng 3.9 Tổng hợp các vấn đề môi trường chính theo các tiểu vùng cảnh quan 87

Bảng 3.10 Xác định chức năng môi trường các tiểu vùng CQ huyện Quỳnh Lưu 90

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết

Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và các yếu tố vật chất nhân tạo quan

hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự phát triển tồn tại của con người và thiên nhiên Cùng với giới sinh vật, con người chịu tác động thường xuyên và bị chi phối bởi các điều kiện vật lý, hoá học, sinh học, kinh tế, xã hội… của môi trường xung quanh Song sự tác động của con người vào môi trường tự nhiên là rất lớn Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và những biến đổi về kinh tế - xã hội mang tính toàn cầu trong những thập kỷ qua đã tác động sâu sắc đến tự nhiên và làm cho nguồn tài nguyên ngày càng cạn kiệt, cân bằng sinh thái bị phá vỡ, chất lượng môi trường ngày càng suy giảm Từ những năm cuối thập kỷ 60, mối quan tâm của quốc tế đối với suy thoái môi trường ngày càng tăng Việc quản lý một cách có hệ thống nhằm duy trì chất lượng môi trường đã được tăng cường ở nhiều nước trên thế giới Nhiều luật và nghị định của Chính Phủ được ban hành bắt buộc các tổ chức phải xem xét, tính đến các tác động môi trường trong các quyết định của họ Vì vậy, vấn đề Quy hoạch bảo vệ môi trường được xem là một nhiệm vụ cần thiết của mỗi địa phương, quốc gia

Ở Việt Nam, vấn đề lập quy hoạch bảo vệ môi trường đã được quy định tại điều 3, chương I của Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014 Tuy nhiên, cho đến nay hầu như những quy định này chưa được triển khai trong thực tiễn, mặc dù các thành phố, thị xã và nhiều vùng lãnh thổ đã có quy hoạch phát triển tổng thể được phê duyệt

Tại Nghệ An, vấn đề lập quy hoạch bảo vệ môi trường chưa được quan tâm đúng mức, hiện nay mới có các quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội, quy hoạch sử dụng đất và các quy hoạc ngành khác Quy hoạch bảo vệ môi trường chưa được thực hiện trong một dự án cụ thể nào một mặt vì chưa có các hướng dẫn, mặt khác

do thiếu kinh phí Quyết định số 6000/2008/QĐ-UBND ngày 31/12/2008 của UBND tỉnh Nghệ An phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng

Trang 11

biển và ven biển tỉnh Nghệ An đến năm 2020, quyết định số 4212/QĐ-UBND ngày 16/10/2012 về việc Phê duyệt Kế hoạch tổng thể dự án Nguồn lợi ven bờ vì sự phát triển bền vững tỉnh Nghệ An nhằm xây dựng vùng ven biển Nghệ An thành khu vực phát triển nhanh, năng động là cơ sở pháp lý quan trọng để triển khai các dự án quy hoạch bảo vệ môi trường huyện Quỳnh Lưu – một huyện ven biển cửa ngõ phía Bắc của tỉnh

Quỳnh Lưu là một huyện đồng bằng ven biển với lợi thế về vị trí địa lý nằm trên các trục giao thông trọng điểm hướng Bắc – Nam nên thời gian qua kinh tế của huyện đã có những bước phát triển mạnh Bộ mặt huyện đã có những đổi thay hàng ngày với quá trình cải thiện, nâng cấp, mở rộng đô thị hiện tại, phát triển các khu công nghiệp và các khu du lịch mới Sự tăng trưởng của các ngành kinh tế được thúc đẩy bởi một động lực mà thiên nhiên đã ưu đãi cho Quỳnh Lưu, đó là tài nguyên biển, đặc biệt là thế mạnh về đánh bắt và nuôi trồng thủy hải sản Bên cạnh những thành tựu trong công nghiệp hóa hiện đại hóa, thực tiễn cho thấy môi trường nơi đây ngày càng chịu sức ép mạnh mẽ từ con người: khai thác tài nguyên quá mức, vấn đề thu gom và xử lý chất thải rắn, suy giảm chất lượng nước ven biển… điều này làm thay đổi mạnh mẽ cảnh quan theo hướng tiêu cực, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống dân cư, chiến lược phát triển kinh tế xã hội của khu vực cũng như của cả tỉnh

Từ những vấn đề bức xúc cả về cơ sở lý luận và thực tiễn như vậy, yêu cầu việc phát triển các ngành kinh tế huyện Quỳnh Lưu phải gắn kết chặt chẽ với công tác quản lý và quy hoạch bảo vệ môi trường, nhất là đối với các cơ sở sản xuất gây

ô nhiễm lớn (hoạt động kinh doanh du lịch biển cùng các hoạt động công nghiệp như chế biến muối, thủy hải sản…) Từ đó đưa ra các giải pháp có tính tổng thể trong bảo vệ môi trường huyện Quỳnh Lưu để giảm thiểu sự xung đột về khai thác không gian, sử dụng hiệu quả và bền vững tài nguyên thiên nhiên thông qua sự tham gia xây dựng quy hoạch, thống nhất các định hướng phát triển vùng quy hoạch giữa những các bên liên quan phù hợp định hướng phát triển kinh tế - xã hội hướng đến mục tiêu xây dựng huyện Quỳnh Lưu là huyện giàu mạnh, đạt chuẩn nông thôn mới vào năm 2020

Trang 12

Nhằm góp phần giải quyết những nhiệm vụ cấp bách nói trên, luận văn “Cơ sở

khoa học cho quy hoạch bảo vệ môi trường huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An” đã

được lựa chọn nghiên cứu

2 Mục tiêu và nội dung nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu

Xác lập luận cứ khoa học trên cơ sở nghiên cứu cảnh quan và môi trường phục vụ cho việc quy hoạch bảo vệ môi trường và phát triển bền vững huyện Quỳnh Lưu

Nội dung nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu trên, luận văn đã thực hiện những nội dung chính sau:

- Xác lập cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Phân kiểu và phân vùng cảnh quan (Phân tích tính đặc thù về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên; thực trạng phát triển kinh tế - xã hội, các hoạt động khai thác sử dụng tài nguyên; Phân kiểu và phân vùng cảnh quan)

- Đánh giá thực trạng, phân tích biến động, xu thế biến đổi môi trường trong bối cảnh biến đổi khí hậu từ đó xác định các vấn đề môi trường nổi cộm và các mâu thuẫn trong khai thác tài nguyên

- Xác định chức năng của các đơn vị cảnh quan chủ yếu của huyện Quỳnh Lưu gắn với các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội

- Đề xuất định hướng QHBVMT tổng thể huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An

3 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi không gian: Toàn bộ huyện Quỳnh Lưu bao gồm 1 thị trấn Cầu

Giát và 32 xã và các vùng lân cận

Phạm vi khoa học: Phân tích đặc điểm cảnh quan, môi trường và các vấn đề

môi trường nổi cộm huyện Quỳnh Lưu; xác đinh chức năng cho từng đơn vị cảnh

quan và đề xuất định hướng QHBVMT cho huyện Quỳnh Lưu

4 Cơ sở dữ liệu

Các dữ liệu sử dụng cho luận văn bao gồm:

Trang 13

- Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, các quy hoạch ngành của huyện và của tỉnh như Quy hoạch sử dụng đất của huyện

- Kết quả quan trắc môi trường tỉnh Nghệ An và huyện Quỳnh Lưu năm 2012,

2013, 2014,2015 của Sở Tài nguyên & Môi trường tỉnh Nghệ An và UBND huyện Quỳnh Lưu

- Các tài liệu, số liệu thống kê về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Quỳnh Lưu

- Các tài liệu bản đồ: bản đồ địa hình tỉnh Nghệ An, bản đồ thổ nhưỡng tỉnh Nghệ An, bản đồ hiện trạng sử dụng đất…

- Kết quả khảo sát thực địa

+ Bản đồ cảnh quan huyện Quỳnh Lưu

+ Bản đồ phân vùng cảnh quan huyện Quỳnh Lưu

+ Bản đồ định hướng quy hoạch bảo vệ môi trường huyện Quỳnh Lưu

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

- Ý nghĩa khoa học: kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm sáng tỏ và phong phú cho tiếp cận cảnh quan phục vụ QHBVMT

- Ý nghĩa thực tiễn: kết quả nghiên cứu của luận văn là tài liệu tham khảo bổ ích cho các cơ quan chức năng, khi thực hiện quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế -

xã hội của huyện cần xem xét khía cạnh môi trường và sử dụng hợp lý tài nguyên

7 Cấu trúc luận văn

Trang 14

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn có 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Chương 2: Cảnh quan - cơ sở không gian cho quy hoạch bảo vệ môi trường huyện Quỳnh Lưu

Chương 3: Đánh giá hiện trạng, diễn biến môi trường và định hướng quy hoạch bảo vệ môi trường huyện Quỳnh Lưu

Trang 15

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu liên quan

1.1.1 Các nghiên cứu về quy hoạch môi trường và quy hoạch bảo vệ môi trường

Ngay từ những năm đầu của thế kỷ 19 đã có quan niệm QHMT rộng rãi trong

công chúng Lý thuyết về QHBVMT được phát triển liên tục từ nhà xã hội học người Pháp – Le Play (1877) thừa nhận phải tích hợp “con người- hoạt động- chỗ ở”, đây là ý tưởng đầu tiên nêu lên vấn đề lồng ghép công tác quy hoạch kinh tế với môi trường Vào đầu thế kỷ 20, đến nhà sinh vật học người Scotlen, Sir Patrick Geddes đã nhận thấy sự hình thành song song của “hệ sinh thái – chức năng – sinh vật” (1938) và sau đó là người học trò của ông, Lewis Munford người Mỹ đã mở rộng sự phân tích sinh thái học nhân văn nông thôn áp dụng cho đô thị Sau này là Ian Harg, nhà quy hoạch cảnh quan và là tác giả của cuốn sách “Thiết kế thiên nhiên (Design with nature)” (1939,1969) đã áp dụng các nguyên tắc bảo tồn thiên nhiên – cảnh quan vào một vài ứng dụng quy hoạch cụ thể

QHBVMT thực sự được quan tâm từ sau khi xuất hiện phong trào môi trường ở Mỹ vào những năm 60, khi mà các quốc gia phát triển trên thế giới quan tâm một cách ngiêm túc tới các thông số môi trường trong quá trình xây dựng chiến lược phát triển Đặc biệt, sau khi Bộ luật về môi trường của Mỹ ra đời (NEFA-1969) cũng như các bộ luật về nước sạch, luật về không khí sạch, luật về quản lý vùng ven biển… vào thời điểm này, các thông tin về ô nhiễm môi trường đưa ra ngày càng nhiều, là chủ đề quan tâm lớn trên các bàn hội nghị Sự ra đời đạo luật môi trường Mỹ (NEA) cùng với các công cụ quản lý của nó như đánh giá tác động môi trường (ĐTM) đã thổi một luồng gió vào quy hoạch sử dụng đất đai Ngoài những mục tiêu thông thường khi quy hoạch sử dụng đất, nó còn xử lý những vấn đề khác như chống ô nhiễm môi trường, khai thác hợp lý và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên… Từ thập niên 70 của thế kỉ XX trở đi cũng là thơi kỳ bùng nổ các khái niệm quy hoạch bảo vệ môi trường với nhiều cách hiểu khác nhau

Trang 16

* Quan niệm QHMT đồng nhất với quy hoạch ngành ví dụ quy hoạch sử

dụng đất, quy hoạch xử lý chất thải, quy hoạch đô thị Điều này thể hiện rõ trong

lý luận của các nhà khoa học châu Âu Năm 1984, Badwin chỉ ra rằng QHMT là

“việc khởi thảo và điều hành các hoạt động nhằm hướng dẫn, kiểm soát việc thu thập, biến đổi, phân bố và đổ thải một cách phù hợp” Ortolano (1984) quan niệm

“QHMT bao gồm sử dụng đất, quản lý chất tồn dư và đánh giá tác động môi trường” Theo Toner, QHMT là “sự ứng dụng các kiến thức về khoa học tự nhiên và sức khỏe trong các quyết định về sử dụng đất” Theo Robert Everritt và Kimberly Pawley (2001) thì ở châu Âu, thuật ngữ QHMT thường áp dụng cho quá trình quy hoạch sử dụng đất của khu vực hay địa phương

Nurit Alfasi (2006) cho rằng Hệ thống quy hoạch của Israel, giống như nhiều

hệ thống phương Tây khác, là một hệ thống quy định, có nghĩa là các kế hoạch sử dụng đất theo luật định nhằm thiết lập chính sách quy hoạch dài hạn và xác định quyền quy hoạch

Viện Quy hoạch Hoàng gia Anh (RTPI) cho rằng quy hoạch là một hoạt động khoa học do các nhà quy hoạch thực hiện, cơ bản là một quá trình hỗ trợ cộng đồng trong việc ra quyết định về sử dụng đất và các hoạt động kinh tế xã hội có liên quan

để bảo tồn, phát triển bền vững, quản lý đất đai và các nguồn lực của nó

Hiện nay, quan điểm coi QHMT chỉ dựa trên quy hoạch đất đai chỉ chiếm ưu thế ở châu Âu, do khái niệm quy hoạch này đưa ra chủ yếu chỉ giải quyết được vấn

đề suy thoái đất, trong khi đó các quốc gia châu Á và Bắc Mỹ coi QHMT là một quy hoạch mang tính tổng hợp nhằm giải quyết vấn đề môi trường

* Quan niệm QHMT là cầu nối quy hoạch không gian và việc lập chính sách môi trường Các lý luận theo quan niệm này chủ yếu cho rằng quy hoạch là một bước để thực hiện quản lý môi trường tổng hợp, quản lý hệ sinh thái và quản

lý tổng hợp các nguồn tài nguyên nhằm giải quyết các vấn đề môi trường

Quan niệm này thể hiện rõ trong các quan điểm các nhà khoa học Hà Lan và Đức, các nhà khoa học theo quan niệm này thường sử dụng khái niệm lập kế hoạch môi trường (environmental planning) hoặc thiết kế cơ sở hạ tầng (infrastructure

Trang 17

planning) Alan Gipin định nghĩa “quy hoạch môi trường là sự xác định các mục

tiêu mong muốn đối với môi trường tự nhiên và đề ra các chương trình, quy trình quản lý để đạt được mục tiêu đó” (1996) Theo Chapin & Kaiser (Đức) (1985),

QHMT là „„một kế hoạch toàn diện‟‟ nói chung bao gồm ít nhất (1) mục tiêu chung

và các mục tiêu cụ thể của các yếu tố chức năng trong việc lập kế hoạch và (2) đánh giá sự phát triển và đề xuất tái phát triển cho hai mươi hai mươi lăm năm sau

Mô hình lập kế hoạch hay quá trình hợp lý kiến trúc được Friedmann (1978)

đề ra : (1) Xây dựng mục tiêu; (2) Xác định và thiết kế các giải pháp thay thế chính

để đạt được các mục tiêu được xác định trong tình huống đưa ra quyết định; (3) Dự đoán về những hậu quả chính khi thay thế cấu trúc thiết kế; (4) Đánh giá các hậu quả liên quan đến các mục tiêu mong muốn và các giá trị quan trọng khác; (5) Tham vấn cộng đồng; (6) Quyết định dựa trên thông tin được cung cấp trong các bước trước; (7) Thực hiện quyết định này thông qua các tổ chức thích hợp; (8) Phản hồi

về kết quả thực tế của chương trình Tuy nhiên, nhà khoa học chính trị Lindblom (1995) cho rằng mô hình này hầu như không phù hợp với thực tiễn lập kế hoạch Tác giả này khẳng định rằng, thay vì khảo sát toàn diện và đánh giá tất cả các lựa chọn thay thế, các nhà hoạch định chính sách nên tập trung vào những chính sách khác biệt từ các chính sách hiện hành, đề cao việc chính phủ cần hỗ trợ công dân trong các quyết định đề xuất cải tiến quy hoạch của họ Theo Voogd và Woltjer

(1999), thảo luận quy hoạch có thể không có hiệu quả nếu nó không dựa trên lập kế

hoạch tình báo Điều này bao gồm việc thu thập, tổ chức, phân tích và phổ biến

thông tin từ các bên liên quan đến việc sử dụng và phát triển quỹ đất

Tại Mỹ, Susan Buckingham-Hatfield và Bob Evans năm 1992 nêu ra thuật ngữ QHMT có thể hiểu là quá trình hình thành, đánh giá và thực hiện chính sách môi trường Đến năm 1996, trong cuốn sách “QHMT và phát triển bền vững”, hai tác giả này đã nghiên cứu một số nội dung: Đánh giá, phân tích các khái niệm về Quy hoạch môi trường và phát triển bền vững và các nội dung làm

cơ sở cho QHMT QHMT là quy hoạch lớn dựa trên quá trình thu thập dữ liệu

Trang 18

đáng tin cậy và phù hợp, có sự tham gia của cộng đồng một cách công bằng và đảm bảo tính bền vững

Một nhà khoa học người Mỹ khác là William J Petak quan niệm QHMT “tích

hợp hiệu quả và thực hiện chính sách môi trường liên quan trực tiếp đến hiệu quả quản lý môi trường Xây dựng chính sách và chương trình môi trường hiệu quả hơn đòi hỏi phải phối hợp nhiều yếu tố liên quan đến chất lượng môi trường” Ông cho

rằng cần thiết đưa các nhà sinh thái học tham gia trong hệ thống quản lý/quy hoạch

để xác định chính xác hơn các trạng thái tự nhiên từ đó đề xuất với người lãnh đạo các vấn đề cần quản lý xung đột, tạo điều kiện tích hợp thực hiện chính sách, kế hoạch và chương trình môi trường vào quy hoạch không gian

Ở Singapore, tác giả Leo Lai Choo (1997) đã trình bày quan điểm: QHMT

đáp ứng nhu cầu về nhà ở, việc làm và nghỉ ngơi; giải quyết xung đột về môi trường

và phát triển, cần thiết phải quy hoạch trên cơ sở những vấn đề về môi trường

Tại Việt Nam, khi bàn luận về nội dung quy hoạch môi trường, thường được hiểu theo ba cách khác nhau, đó là: 1) Quy hoạch môi trường, 2) Quy hoạch bảo vệ môi trường và 3) Lập kế hoạch môi trường (ít dùng hơn) Tuy nhiên trong thực tiễn

có hai loại quy hoạch thường được lập: Một là, lập quy hoạch về mặt không gian (spatial planning) là việc phân chia không gian tại một vùng lãnh thổ nhất định nào

đó (khu vực, quốc gia, vùng, tỉnh, huyện) cho các mục đích sử dụng khác nhau dựa trên các đặc điểm về tự nhiên của vùng đó (ở Việt Nam gọi là "phân vùng" – tiếng Anh là "zoning") - sản phẩm cuối cùng là một văn bản kèm theo bản đồ thể hiện các mục đích sử dụng không gian khác nhau (tiếng Anh gọi sản phẩm này là "spatial plan") Hai là, lập quy hoạch bảo vệ môi trường gồm những việc cần làm để bảo vệ môi trường trên một vùng lãnh thổ nhất định nào đó (khu vực, quốc gia, vùng, tỉnh, huyện), trong đó nhiều nhất là việc lập quy hoạch về sự phát triển (development planning) - sản phẩm cuối cùng là một văn bản kèm theo bản đồ thể hiện những việc cẩn phải làm tại vùng được quy hoạch (tiếng Anh gọi sản phẩn này là

"development plan") [Nguyễn Khắc Linh]

Trang 19

Vũ Quyết Thắng đưa ra định nghĩa quy hoạch môi trường “việc xác lập mục

tiêu môi trường mong muốn, đề xuất và lựa chọn phương án, giải pháp để cải thiện

và phát triển một/những môi trường thành phần hay tài nguyên của môi trường nhằm tăng cường một cách tốt nhất năng lực, chất lượng của chúng theo mục tiêu

đề ra” (2005) Chu Thị Sàng, “QHMT là quá trình sử dụng có hệ thống các kiến thức khoa học để xây dựng các chính sách và biện pháp trong sử dụng hợp lý tài nguyên và BVMT nhằm định hướng các họat động phát triển trong khu vực đảm bảo mục tiêu PTBV” Phùng Chí Sỹ (2003) “Quy hoạch môi trường là quá trình sử dụng các hệ thống kiến thức khoa học để xây dựng các chính sách và biện pháp thực hiện tốt nhất trong khai thác sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, cải thiện và bảo vệ môi trường theo không gian và thời gian được xác định làm cơ sở cho các quyết định về phát triển khu vực, đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững”

Các khái niệm theo quan điểm trên chủ yếu khai thác quy hoạch môi trường

từ góc độ quản lý, chủ yếu là đưa ra chính sách giải quyết các vấn đề môi trường chứ chưa thật sự gắn kết QHBVMT với các quy hoạch khác trong mối quan hệ

đa chiều

* Quan niệm QHBVMT là một cụm từ để chỉ một phương pháp quy hoạch tổng hợp, kết hợp nhiều vấn đề bao gồm nhiều quy hoạch ngành cũng như đánh giá các vấn đề môi trường từ đó quản lý môi trường hướng tới mục tiêu phát triển bền vững Hướng nghiên cứu trong quan niệm này nhấn mạnh việc

thực hiện QHBVMT phải phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội; quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh; chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia cũng như bảo đảm thống nhất với quy hoạch sử dụng đất; thống nhất giữa các nội dung cơ bản của quy hoạch bảo vệ môi trường John

M.Edington và M Anh Edington “quy hoạch bảo vệ môi trường là sự cố gắng làm

cân bằng và hài hòa các hoạt động phát triển mà con người vì quyền lợi của mình

đã áp đặt quá mức lên tự nhiên” Richard D Margerum (1997) cho rằng QHMT

bao hàm việc BVMT tổng hợp, quản lý hệ sinh thái và quản lý tổng hợp các nguồn tài nguyên

Trang 20

Nhà khoa học người Anh Anne R Beer (1990) đã trình bày mối quan hệ giữa QHBVMT và quy hoạch vùng trong cuốn sách “QHBVMT cho phát triển vùng” Tác giả đã khẳng định QHBVMT là cơ sở cho tất cả các quyết định phục vụ phát triển bền vũng cho vùng đó, nó là một quá trình quan trọng hỗ trợ cho việc đưa

ra các quyết định liên quan đến vùng đó Công trình này trình bày một cách rõ ràng

và từng bước giới thiệu quá trình thực hiện quy hoạch để một khu vực phát triển một cách bền vững với môi trường Ngoài ra, trong đó cũng thể hiện những thông tin thu thập về tự nhiên và xã hội, môi trường phục vụ cho mục đích đề xuất QHBVMT cho lãnh thổ một cách tốt nhất Công trình này được xây dựng với 5 phần chính là: 1) tác giả đi sâu giải thích các khái niệm về thế nào là quy hoạch và mối quan hệ giữa QHBVMT và quy hoạch vùng; 2) thu thập, thống kê thông tin của vùng bao gồm các thông tin về môi trường tự nhiên, KT-XH, hiện trạng sử dụng đất, công tác quản lý, cảnh quan 3) Xác định không gian cho con người và thiết lập môi trường và chất lượng cuộc sống; 4) quy hoạch vùng 5) quy hoạch đô thị bền vững [30]

Andrew Blowers với cuốn sách “QHBVMT bền vững” (1993,1997) đã đưa

ra 10 vấn đề cho QHBVMT: l) Sự thay đổi theo thời gian 2) Quy hoạch nền, quy hoạch thành phố, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch bền vững cấp địa phương, dự báo tương lai cho quy hoạch 3) Các hệ sinh thái và TNTN (các hệ sinh thái quy hoạch và quản lý tài nguyên, quy hoạch thống nhất, quy hoạch phát triển kinh tế, quy hoạch giao thông) 4) Chính sách năng lượng bền vững 5) Ô nhiễm và rác thải

- gánh nặng của bền vững 6) Xây dựng một môi trường bền vững 7) Lợi ích giữa giao thông vận tải công cộng và tư nhân 8) Kinh tế bền vững 9) Quy hoạch khu vực thành phố bền vững 10) Thực hiện quy hoạch

Tác giả người Úc Conacher, Jeanette (2000) trong cuốn “Quản lý và quy hoạch môi trường tại Úc” nêu ra hướng giải quyết các vấn đề môi trường không theo cách tiếp cận theo ngành đã được thông qua trong Chiến lược Phát triển Bền vững Sinh thái Úc mà giải quyết bằng việc phân chia thành các tiểu vùng môi

Trang 21

trường hoặc bio-region (khu vực sinh học), ví dụ như vùng nhiệt đới bắc, vùng ven biển, rừng ôn đới, vùng cao, vùng bán khô cằn và khô cằn Để giải quyết các vấn đề về đất đai và tài nguyên, các tác giả này nêu rõ kế hoạch phải đi trước quản lý, kế hoạch và quản lý vùng cần lồng ghép quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch bảo vệ môi trường

Tại Châu Mỹ La Tinh: Báo cáo quy hoạch tổng hợp phát triển vùng được thực hiện bởi Cơ quan Phát triển Quốc tế Mỹ (năm 1984) Báo cáo này chỉ rõ sự cần thiết phải kết hợp quản lý môi trường (QLMT) vào trong phát triển bền vững (PTBV) kinh tế vùng ngay từ đầu

Tại Việt Nam, các nghiên cứu của Đặng Trung Thuận, Nguyễn Thế Thôn, Nguyễn Cao Huần, Trương Quang Hải cũng cho rằng QHBVMT là quy hoạch mang tính liên ngành, là một bộ phận của QHPTKTXH được xây dựng theo hướng

phát triển bền vững Cụ thể, Đặng Trung Thuận xem QHMT là sắp xếp, tổ chức

không gian và sử dụng các thành phần môi trường và các yếu tố tài nguyên phù hợp với chức năng môi trường và điều kiện thiên nhiên, KTXH của vùng lãnh thổ theo định hướng PTBV Mục đích của QHMT vùng lãnh thổ là điều hòa sự phát

triển của ba hệ thống: tự nhiên - môi trường - kinh tế xã hội đang tồn tại và hoạt động trong vùng, đảm bảo sao cho sự phát triển của hệ thống KT-XH phù hợp trong khả năng chịu tải của hệ thống tự nhiên, bảo vệ được MT sống và làm cho chất lượng cuộc sống ngày càng tốt hơn (2002) Nguyễn Cao Huần định nghĩa quy hoạch bảo vệ môi trường theo hướng địa lý học, là tổng hợp các không gian quy hoạch liên quan đến quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội QHBVMT kết hợp việc phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường, với mục đích sử dụng tự nhiên và tiềm năng kinh tế - xã hội hiệu quả, ngăn ngừa ô nhiễm và cải thiện chất lượng môi trường QHBVMT là một trong những nhiệm vụ quan trọng cho sự phát triển bền vững lãnh thổ, là một phần của chiến lược phát triển kinh tế xã hội thân thiện với môi trường QHBVMT nhằm giải quyết mâu thuẫn giữa bảo vệ môi trường và phát triển của từng vùng QHBVMT có thể tạo ra những nền tảng để xem xét và điều chỉnh quy hoạch kinh tế trước đó cho khu vực QHBVMT theo quan điểm địa lý có thể áp

Trang 22

dụng hiệu quả cho lãnh thổ cụ thể, và tuỳ thuộc vào QHBVMT này có thể được chia thành các khu vực, quy mô cấp tỉnh và huyện Các QHBVMT khu vực được thực hiện bởi Chính phủ, đối với cấp tỉnh và huyện được thực hiện bởi chính quyền địa

phương và ít hay nhiều được giải quyết hiệu quả

Các quan niệm của các tác giả này cũng phù hợp với nội dung luật môi trường Việt Nam Lĩnh vực QHBVMT ở nước ta cũng đã được đề cập khá cụ thể thông qua các văn bản pháp lý, kỹ thuật như Luật BVMT, Luật đất đai, Luật tài nguyên nước , các đề án phát triển KT-XH, các công trình nghiên cứu liên quan đến môi trường Các cấp và mức tiến hành QHBVMT ở Việt Nam cũng đã được tiến hành như: Kế hoạch quốc gia về môi trường và PTBV, chiến lược bảo tồn quốc gia, kế hoạch hành động quốc gia về môi trường, kế hoạch hành động đa dạng sinh học, báo cáo hiện trạng môi trường, dự thảo chiến lược môi trường, chiến lược phát triển quốc gia đến năm 2020, các báo cáo ĐTM, ĐMC Từ năm 2014, lĩnh vực QHBVMT đã chính thức được đưa vào Luật môi trường, vì vậy nhiều nhà khoa học

sử dụng thuật ngữ QHBVMT thay cho QHMT như Nguyễn Cao Huần, Trương Quang Hải, Nguyễn An Thịnh… Theo đó tại mục 1, chương 2 của luật này đã trình bày những nguyên tắc, nội dung thực hiện QHBVMT cho cấp quốc gia, cấp tỉnh Trong đó nêu rõ các nội dung cơ bản sau: 1) Đánh giá hiện trạng môi trường, quản

lý môi trường, dự báo xu thế diễn biến môi trường và biến đổi khí hậu; 2) Phân vùng môi trường; 3)Bảo tồn đa dạng sinh học và môi trường rừng; 4) Quản lý môi trường biển, hải đảo và lưu vực sông; 5) Quản lý chất thải; 6) Hạ tầng kỹ thuật bảo

vệ môi trường; hệ thống quan trắc môi trường; 7) Các bản đồ quy hoạch; 8) Nguồn lực thực hiện quy hoạch; 9) Tổ chức thực hiện quy hoạch [28] Nội dung QHBVMT cấp tỉnh được thực hiện phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương bằng một quy hoạch riêng hoặc lồng ghép vào quy hoạch tổng thể phát triển KT-

XH Luật này không quy định QHBVMT cho cấp huyện

Nghị định 18/2015/NĐ-CP Quy định về QHBVMT, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường Trong Nghị định đã chỉ rõ QHBVMT gồm 2 cấp (quốc gia và cấp tỉnh) cấp quốc gia gồm

Trang 23

các nội dung chính sau: a) Đánh giá hiện trạng môi trường, quản lý môi trường, dự báo xu thế diễn biến môi trường và biến đổi khí hậu;b) Phân vùng không gian phát triển, bảo vệ và bảo tồn; c) Thực trạng bảo vệ môi trường rừng, bảo tồn đa dạng sinh học; các định hướng quản lý và giải pháp quy hoạch; d) Thực trạng quản lý môi trường biển, hải đảo và lưu vực sông; các định hướng quản lý và giải pháp quy hoạch; đ) Thực trạng xử lý nước thải, các định hướng quản lý và các giải pháp quy hoạch; e) Thực trạng xử lý CTR, các định hướng quản lý và các giải pháp quy hoạch; g) Thực trạng xử lý khí thải, các định hướng quản lý

và các giải pháp quy hoạch;h) Thực trạng hệ thống quan trắc môi trường, các định hướng quản lý và các giải pháp quy hoạch; i) Các bản đồ quy hoạch và Nguồn lực thực hiện quy hoạch

QHBVMT cấp tỉnh cũng bao gồm các nội dung như: a) Đánh giá hiện trạng môi trường, QLMT, dự báo xu thế diễn biến môi trường và biến đổi khí hậu; b) Phân vùng không gian phát triển, bảo vệ, bảo tồn; c) Thực trạng bảo vệ môi trường rừng, bảo tồn đa dạng sinh học; các định hướng quản lý và giải pháp quy hoạch; d) Thực trạng xử lý nước thải, các giải pháp quản lý và quy hoạch; đ) Thực trạng xử lý chất thải rắn, các giải pháp quản lý và quy hoạch; e) Thực trạng xử lý khí thải, các giải pháp quản lý và quy hoạch; g) Thực trạng hệ thống quan trắc môi trường, các giải pháp quản lý và quy hoạch; h) Các bản đồ quy hoạch và nguồn lực thực hiện quy hoạch Ngoài ra trong dự thảo còn quy định QHBVMT lồng ghép vào quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH

Các kinh nghiệm QHBVMT ở Việt Nam bao gồm: quy hoạch bảo vệ môi trường ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, vùng Hạ Long, Quảng Ninh (2000, 2013), thành phố Vinh (2002) và môt số đề tài: nghiên cứu về phương pháp luận quy hoạch môi trường (1998), nghiên cứu xây dựng quy hoạch môi trường vùng đồng bằng sông Cửu Long (1999), quy hoạch môi trường ở Hải Dương… Ngoài ra còn có một số tỉnh khác cũng đã xây dựng và phê duyệt QHBVMT cấp tỉnh như: An Giang, Hà Nam, Cao Bằng, Thanh Hóa, Kon Tum,

Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh, Thái Nguyên, Nghệ An, Quảng Trị, Quảng Ninh,

Trang 24

Bến Tre… đã xây dựng QHBVMT cho quy mô toàn tỉnh Ở cấp nhà nước: Do yêu cầu thực tiễn của công tác quản lý, bảo vệ môi trường, đảm bảo phát triển bền vững và do tính cấp thiết của vấn đề QHMT, trong chương trình nghiên cứu cấp nhà nước giai đoạn 2001 - 2005 về “Bảo vệ môi trường và phòng tránh thiên tai “đã mở ra 2 đề tài về QHBVMT, đó là “Nghiên cứu xây dựng QHMT phục vụ phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bằng sông Hồng, mã số KC 08.02”, “Nghiên cứu xây dựng quy hoạch môi trường vùng kinh tế trọng điểm Miền Trung (Thừa Thiên Huế - Đà Nẵng - Quảng Nam - Quảng Ngãi) mã số

KC 08.03 Ngoài ra, “QHMT vùng Đông Nam Bộ” do Cục Môi trường phối hợp với Viện Môi trường và Tài Nguyên, Trung tâm Công nghệ Môi trường – ENTEC, Trung tâm Công nghệ và Quản lý môi trường – CENTEMA thực hiện trong giai đoạn 2000- 2001 và đề tài “Nghiên cứu QHMT phục vụ cho phát triển KTXH bền vững tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2001 – 2010” do Trung tâm ENTEC thực hiện năm 2001

Tư tưởng chủ đạo xuyên suốt của QHBVMT là những quan điểm về PTBV bao gồm sử dụng hợp lý TNTN, nâng cao chất lượng môi trường sống, phát triển KT-XH trong khả năng chịu tải giới hạn của các HST So với các định nghĩa, quan niệm về QHMT của nhiều quốc gia trên thế giới, định nghĩa

về Quy hoạch BVMT của Việt Nam có điểm tương đồng là phân vùng môi trường để bảo tồn và phát triển, nhằm bảo đảm phát triển bền vững; nhưng thêm yêu cầu là thiết lập hệ thống hạ tầng kỹ thuật BVMT gắn với hệ thống giải pháp BVMT

QHBVMT trên thế giới được định nghĩa theo ba xu hướng: (1) đồng nhất QHBVMT với quy hoạch ngành, (2) là cầu nối giữa quy hoạch không gian và lập chính sách môi trường nhằm giải quyết các vấn đề môi trường, quản lý môi trường

và (3) là quy hoạch liên ngành vừa thực hiện nội dung tổng hợp các quy hoạch ngành vừa hướng tới giải quyết các vấn đề môi trường Có thể tổng hợp các quan điểm về QHMT/QHBVMT theo bảng sau:

Trang 25

Bảng 1.1 Tổng hợp nội dung của quy hoạch môi trường của một số tác giả

Tác giả QHBVMT đồng nhất

với quy hoạch ngành

QHBVMT là hoạt động nhằm giải quyết các vấn đề môi trường, quản lý môi trường

Trên thế giới Badwin (1984) Xem QHMT là QH rác

thải Toner, Robert

Everritt và Kimberly

Pawley (2001),

Nurit Alfasi (2006)

Xem QHMT là QH sử dụng đất

mong muốn đối với môi trường tự nhiên và đề ra các chương trình, quy trình quản lý để đạt được mục tiêu đó”

Chapin và Kaiser

(1985)

QHBVMT là „„một kế hoạch toàn diện‟‟

Voogd và Woltjer

(1999)

Quy hoạch có thể không có hiệu quả nếu nó không dựa trên lập kế hoạch tình báo

SusanBuckingham-Hatfield và Bob

Evans (1992)

QHMT có thể hiểu là quá trình hình thành, đánh giá và thực hiện chính sách môi trường

William J Petak

(2000)

Xây dựng chính sách và chương trình môi trường hiệu quả hơn đòi hỏi phải phối hợp nhiều yếu tố liên quan đến chất lượng môi trường

Trang 26

Leo Lai Choo

Anne R Beer

(1990)

QHBVMT là cơ sở cho tất cả các quyết định phục vụ phát triển bền vũng cho vùng

Andrew Blowers

(1993,1997)

Là quy hoạch liên ngành: Quy hoạch nền, quy hoạch thành phố, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch bền vững cấp địa phương, dự báo tương lai cho quy hoạch

Là cơ sở để thực hiện quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội và quản

lý môi trường

Richard.D

Margerum (1997)

Bao hàm QHBVMT tổng hợp

QHBVMT quản lý hệ sinh thái và quản lý tổng hợp các nguồn tài

Phùng Chí Sỹ

(2003)

QHMT là quá trình sử dụng các hệ thống kiến thức khoa học để xây

Trang 27

dựng các chính sách và biện pháp thực hiện khai thác tài nguyên

và bảo vệ môi trường Đặng Trung Thuận

(2002)

Quy hoạch liên ngành QHMT là sắp xếp, tổ chức không

gian và sử dụng các thành phần môi trường và các yếu tố tài nguyên phù hợp với chức năng môi trường và điều kiện thiên nhiên, KTXH của vùng lãnh thổ theo định hướng PTBV

Nguyễn Cao Huần

(2010)

Tổng hợp các không gian quy hoạch liên quan đến quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội

QHBVMT nhằm giải quyết mâu thuẫn giữa bảo vệ môi trường và phát triển của từng vùng QHBVMT có thể tạo ra những nền tảng để xem xét và điều chỉnh quy hoạch kinh tế trước đó cho khu vực

Mặc dù có nhiều cách diễn giải khác nhau về quy hoạch bảo vệ môi trường nhưng những nghiên cứu ứng dụng của nhiều nước trên thế giới vẫn có nhiều điểm chung

- Trong quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội phải xem xét các yếu tố tài nguyên và môi trường, các mục tiêu phát triển phải gắn với mục tiêu bảo vệ môi trường

- Quy hoạch bảo vệ môi trường (QHBVMT) là một bộ phận cấu thành của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội được xây dựng theo hướng phát triển bền vững Quy hoạch bảo vệ môi trường không thể tách rời quy hoạch phát triển kinh tế

- xã hội

- Quy hoạch bảo vệ môi trường phải tôn trọng các quyền và giải quyết nhu cầu của cộng đồng địa phương

Trang 28

1.1.2 Các nghiên cứu theo tiếp cận cảnh quan trong quy hoạch bảo vệ môi trường

Bất cứ một quy hoạch không gian nào cũng phải đưa ra được phân vùng theo chức năng Rõ ràng phân vùng cảnh quan là một phương pháp phân vùng cơ bản mang tính tổng hợp QHBVMT ngày nay kế thừa nguyên lý phân vùng cảnh quan

và vận dụng nó gắn với chức năng môi trường để định hướng quy hoạch không gian cũng như đề xuất giải pháp sử dụng tài nguyên và phát triển kinh tế - xã hội hợp lý Cảnh quan tự nhiên và nhân sinh thể hiện rõ đặc điểm khí hậu, thổ nhưỡng, sinh vật, địa chất, địa mạo cũng như quá trình tác động con người gây biến đổi địa bàn Vì sự phát triển và biến đổi cũng như đặc điểm mỗi vùng là không giống nhau, phân vùng chức năng môi trường dựa trên phân tích cảnh quan, phân vùng cảnh quan sẽ thấy

rõ lịch sử phát triển của từng vùng và những vấn đề nổi cộm trong quá trình phát triển để đưa ra quy hoạch BVMT cũng như quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế -

xã hội một cách đầy đủ nhất

Như vậy, QHMT trên cơ sở tiếp cận cảnh quan là định ra các chức năng đối

với môi trường thành phần hay môi trường sinh thái tổng hợp của cảnh quan

Ở Tây Âu, công tác phân vùng và hoạch định sử dụng lãnh thổ rất được chú trọng vì diện tích hẹp, mức độ công nghiệp hóa cao, mức độ sử dụng lãnh thổ cao

Ở Ucraina, việc sử dụng và quy hoạch lãnh thổ đều dựa vào các bản đồ cảnh quan

Ở Liên Xô (cũ) các nhà quy hoạch phát triển vùng thường gắn với các vùng địa lý

tự nhiên hay cảnh quan và các đơn vị nhỏ hơn của chúng Ví dụ: vùng kinh tế lớn (tỷ lệ 1/500.000 đến 1/300.000) thì dựa vào cấp địa tổng thể là vùng địa lý tự nhiên, cảnh quan; miền kinh tế (tỷ lệ 1/300.000 đến 1/100.000) thì dùng các cảnh quan hoặc tiểu vùng địa lý; các vùng chăn nuôi, nông nghiệp, công nghiệp, hành chính (tỷ lệ 1/100.000 đến 1/25.000) dùng các tiểu khu, dạng cảnh quan; vùng dân cư trung tâm điều dưỡng (tỷ lệ 1/5.000 đến 1/2.000) dùng các diện cảnh quan

Ở Hà Lan, người ta chia ra 6 vùng sinh thái dựa vào các đặc điểm địa chất, địa mạo, nước ngầm và độ cao Các vùng lại được chia ra 37 tiểu vùng và dựa vào

Trang 29

đó để quy hoạch các vùng phát triển Tại hội nghị về CQST toàn thế giới tổ chức tại Canada năm 1991, các nhà khoa học Hà Lan đưa ra quan điểm “Quy hoạch bảo tồn như là cơ sở của sinh thái cảnh quan” (Conservation Planning as a Basic for Landscape Ecology)

Francoise Burel và Jacques Baudry trong cuốn “Landscape Ecology” có đề cập đến nghiên cứu các HST trong sinh thái cảnh quan đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển và quản lý các kiểu thảm thực vật và động vật Từ năm 1983, IALE đã đề cập đến dùng các nghiên cứu về sinh thái cảnh quan trong việc quản lý đất đai và giới sinh vật trong các khu vực khác nhau Các nghiên cứu về sinh thái cảnh quan cũng đã phục vụ cho việc tính toán tính bền vững trong phát triển nông nghiệp (Baudry, 1993)

Trong cuốn “Lập báo cáo hiện trạng môi trường – Sách tra cứu về phương pháp tiếp cận” của Bộ Môi trường Canada, Viện Y tế về Môi trường quốc gia Hà Lan (RIVM), Chương trình Môi trường Liên Hiệp quốc (UNEP) do Cục Môi trường (Việt Nam) dịch và xuất bản năm 1996 có đề cập đến ưu và nhược điểm của các khuôn khổ và tổ chức không gian trong việc lập báo cáo HTMT Trong đó có nhấn mạnh tính ưu việt của phương pháp dùng bản đồ các HST làm gốc Sự phân tích các đặc tính môi trường như không khí, nước và đất đã được trình bày trong các đơn vị không gian và chức năng là vùng cảnh quan Cần có sự phân loại theo không gian của các HST thực sự nhận biết được tổ hợp và tầm quan trọng của mọi yếu tố giải thích cho việc tồn tại và phân vùng các HST (Omernik, 1995)

Cảnh quan học giúp người QHMT nhận biết mối quan hệ chặt chẽ, tác động lẫn nhau giữa các đơn vị lãnh thổ thông qua trao đổi vật chất và năng lượng, để từ

đó có các phương án bố trí việc sử dụng và chứa, phân hủy chất thải, nguyên, nhiên liệu có hiệu quả Mô hình cổ điển nhất được các nhà địa lý quy hoạch lãnh thổ áp dụng nhiều là quan hệ giữa các hệ thống tự nhiên ở dạng chuỗi theo sườn dốc hoặc lưu vực Khái niệm này đã được biết đến từ lâu và nghiên cứu kỹ (Milne - 1935; Vageler - 1955) Ở Việt Nam, Nguyễn Cao Huần, Phạm Hoàng Hải sử dụng cảnh

Trang 30

quan học trong sử dụng và bảo vệ môi trường gắn với các công trình nghiên cứu tại Uông Bí, Đông Triều (Quảng Ninh) Các tác giả thống nhất quan điểm lấy các đơn

vị CQST, vùng hay các đơn vị lãnh thổ có phân cấp và tính thống nhất về quan hệ tương tác như hệ thống các đơn vị CQST như chúng tôi đã trình bày để làm cơ sở phân tích cho công tác phân vùng CNMT và QHMT có cơ sở hơn

Quan điểm tiếp cận khác: quy hoạch cảnh quan (Landscape planing) đã được

sử dụng khá phổ biến ở các nước Tây Âu, Mỹ bởi vì cảnh quan về bản chất tự nhiên

là một đơn vị lãnh thổ Việc quy hoạch, tái tạo, khôi phục chúng để sử dụng hợp lý

là một việc làm cần thiết

Theo quan điểm này, quy hoạch, khôi phục CQ là sự phân chia lãnh thổ ra các đơn vị CQ theo mục đích sử dụng, có tính đồng nhất tương đối về các yếu tố và quan hệ tương tác của chúng, để ra các biện pháp khôi phục CQ theo hướng có lợi cho con người mà vẫn đảm bảo sự PTBV Có thể lấy các ví dụ như công tác trồng rừng trên đất trống đồi trọc là công việc khôi phục CQ bởi vì phải xác định rõ nguồn gốc của các CQ ở đây là gì thì công cuộc tiến hành trồng rừng theo cấu trúc tương tự mới có hiệu quả Nói một cách khác, quy hoạch sinh thái cũng là một dạng của QHMT

Các nhà khoa học Mỹ Joan Nassauer, Thome làm việc ở phòng cảnh quan kiến trúc đại học Minnesota và Pennsylvania đề cập nhiều đến “khôi phục cảnh quan” (Landscape Restoration) là quá trình tái tạo môi trường sống dựa trên cơ

sở cấu trúc của các CQ nhân sinh cổ truyền (có nghĩa là có cấu trúc gần giống với tự nhiên) Khái niệm quy hoạch, tái tạo và khôi phục các cảnh quan thực chất là cải tạo các cảnh quan đã bị thay đổi theo hướng có lợi cho con người thông qua việc lập lại các cấu trúc tự nhiên để cân bằng sinh thái và các quy luật tự nhiên dần dần được lập lại, công việc này phải dựa vào nghiên cứu lịch sử

và hiện trạng cảnh quan

Trang 31

Ở Việt Nam, việc sử dụng các nghiên cứu về địa lý tự nhiên và cảnh quan học để xây dựng QHMT mới được áp dụng gần đây Một phần do các nghiên cứu theo hướng này chưa sâu, phần lớn chỉ dừng lại ở mức độ mô tả Sau này, một số công trình như “Nghiên cứu xây dựng bản đồ cảnh quan các tỷ lệ khác nhau trên lãnh thổ Việt Nam, 1993”; “Cơ sở cảnh quan học của việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường lãnh thổ Việt Nam” NXB Giáo dục, Hà Nội, 1977”; “Phân vùng địa lý tự nhiên Tây Nguyên” (Hà Nội – 1986) cũng được trích dẫn khá nhiều Một số công trình về phân vùng CNMT cho các tỉnh Quảng Ninh, Bắc Giang, huyện Cư Jut có sử dụng bản đồ CQ hoặc các nghiên cứu theo hướng này để thành lập bản đồ phục vụ cho QHMT

Tuy nhiên trên thực tế, các tư liệu nguồn về các yếu tố, thành phần tự nhiên, KT-XH lãnh thổ lại không đồng bộ, hay số liệu thống kê không tuân thủ quy định của nhà nước, dẫn đến không ít khó khăn cho người làm công tác tổng hợp, thành

lập các bản đồ cảnh quan cũng như các bản đồ quy hoạch, trong đó có bản đồ quy hoạch bảo vệ môi trường

1.1.3 Các nghiên cứu về phân vùng cảnh quan và chức năng môi trường/ chức năng cảnh quan

Hoạt động phân vùng thường được tiến hành dựa vào tư liệu về các yếu tố tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, các hoạt động kinh tế - xã hội và các tư liệu liên quan khác, nhằm đưa ra một bức tranh toàn cảnh về sự phân hóa của vùng lãnh thổ đó, chỉ ra các khu chức năng sinh thái, tiềm năng sử dụng cho mục đích phát triển bền vững Mỗi loại hình phân vùng có một mục đích riêng, dựa vào các tiêu chí, phương

pháp và công cụ khác nhau để tiến hành

Theo Phạm Bình Quyền, Trần Yêm và nnk (2002) "vùng chức năng môi trường là một bộ phận lãnh thổ, trên đó các hoạt động kinh tế - xã hội phù hợp với các điều kiện tự nhiên và tài nguyên môi trường Mỗi vùng có một phạm vi xác định theo yếu tố tự nhiên (không theo ranh giới hành chính) có các đặc trưng riêng và giữ một vai trò nhất định trong nền kinh tế địa phương Cơ sở

Trang 32

xác định các vùng chức năng môi trường là chất lượng môi trường của vùng nghiên cứu, đánh giá về năng lực chịu tải môi trường, đánh giá về mức độ nhạy cảm của các HST trước các yếu tố tự nhiên và các hoạt động KT-XH " Theo quan điểm của các tác giả này thì vùng CNMT được quyết định bởi các hoạt động KT-XH với nguyên tắc đảm bảo sự phù hợp với ĐKTN và tài nguyên môi trường Tuy nhiên quan điểm này là chưa thực sự phù hợp, bởi vì bản thân một đơn vị tự nhiên đã chứa đựng một chức năng môi trường riêng của nó, hoạt động KT-XH được tổ chức trên đơn vị tự nhiên môi trường đó phải phù hợp với các chức năng của nó, nếu không sẽ làm biến đổi sự cân bằng tự nhiên của đơn

vị lãnh thổ đó

Lê Quý An [2] cho rằng: “Nghiên cứu phân vùng các đơn vị CNMT là khoanh gom các vùng lãnh thổ có đồng nhất các yếu tố môi trường và là sự phân tích, đánh giá các biến đổi theo thời gian, không gian của tình hình môi trường do quá trình phát triển KT-XH ở vùng lãnh thổ đó” Để khoanh vùng các đơn vị CNMT có thể sử dụng một số đặc trưng có tính nguyên tắc sau đây: các đặc điểm về điều kiện tự nhiên; Các đặc điểm về phát triển KT-XH; Các đặc điểm về môi trường

và các đặc điểm về quản lý hành chính Theo quan điểm này, việc sử dụng ranh giới các đơn vị hành chính (đồng bằng sông Hồng: cấp vùng, ranh giới các huyện: cấp phụ vùng, ranh giới tự nhiên của các HST: cấp tiểu vùng) tuy nhiên, thông thường ranh giới vùng CNMT mang tính tự nhiên hơn là tính hành chính vì vậy nguyên tắc phân vùng này chưa hợp lý

Dựa vào bản chất của phân vùng địa lý tự nhiên, có thể xem “Phân vùng môi trường” là việc phân chia lãnh thổ thành các vùng, tiểu vùng Mỗi tiểu vùng môi trường là một khu vực lãnh thổ cụ thể, được xem như một địa hệ thống bao gồm các điều kiện tự nhiên, các hoạt động kinh tế - xã hội và có tác động qua lại lẫn nhau tạo nên đặc trưng riêng cho phép định hướng, đề xuất giải pháp tổ chức không gian sử dụng tài nguyên và BVMT Vùng bao gồm nhiều tiểu vùng được xác định theo các tiêu chí ở mức khái quát cao hơn so với tiểu vùng (Nguyễn Cao Huần, Trương

Trang 33

Quang Hải, 2006) [9] Theo quan điểm của các tác giả này, nguyên tắc đánh giá là thông qua các đặc điểm, tính chất hình thành của các tổng thể tự nhiên và các đặc tính thành phần phát sinh để xác định mức độ thích nghi của các thể tổng hợp tự nhiên cho các ngành sản xuất, kinh tế riêng biệt Hầu hết các công trình nghiên cứu này xem xét mỗi đơn vị CQ đã có những chức năng tự nhiên riêng, được hình thành bởi tổ hợp các chức năng của các thành phần tạo nên đơn vị CQ đó Bên cạnh đó mỗi đơn vị CQ lại có thể đảm nhiệm các chức năng về KT-XH và môi trường khác nhau trong sự thống nhất và điều hòa giữa tất cả các chức năng mà nó có thể đảm nhiệm (Mai Trọng Thông, Hoàng Lưu Thu Thủy, 2004; Nguyễn Cao Huần, Nguyễn

An Thịnh, 2006) [9, 10, 25] Nghiên cứu CNMT của các lãnh thổ tự nhiên – các đơn

vị CQ vận dụng quan điểm hệ thống để xem xét mối quan hệ tương hỗ mật thiết của

3 hệ thống chức năng tự nhiên, KT-XH, môi trường trong lãnh thổ khép kín của đơn

vị CQ

Qua phân tích các nghiên cứu liên quan, nguyên tắc phân vùng môi trường huyện Quỳnh Lưu được thực hiện dựa trên tổng hợp nhiều nguyên tắc: nguyên tắc đồng nhất tương đối, nguyên tắc phát sinh, nguyên tắc cùng chung lãnh thổ

- Về tiêu chí phân vùng được tổng hợp từ yếu tố thuộc ba nhóm:

+ Tính đồng nhất tương đối về điều kiện tự nhiên gồm vị thế, địa chất, địa hình - địa mạo, thổ nhưỡng, mạng thủy văn, thảm thực vật, hệ sinh thái

+ Nhóm yếu tố nhân sinh: hoạt động nhân sinh, phát triển đô thị, công nghiệp, lập khu bảo tồn và các hoạt động khai thác tài nguyên

+ Nhóm yếu tố môi trường: nguồn thải và các loại hinh ô nhiễm, chất lượng các thành phần môi trường, các nguồn tài nguyên thiên nhiên, các loại hình tai biến thiên nhiên

- Các nghiên cứu về chức năng môi trường/chức năng cảnh quan:

V.S Preobrazenski cho rằng một đơn vị lãnh thổ tự nhiên chứa đựng các chức năng: sản xuất vật chất, tạo môi trường sống, bảo vệ tài nguyên, thông tin và thẩm mỹ

Trang 34

Theo Nguyễn Thạc Cán (1995), môi trường sống có thể xem là có ba chức năng Chất lượng môi trường tốt hay xấu được đánh giá qua khả năng thực hiện các chức năng này của môi trường: là không gian sống của con người; là nơi cung cấp nguồn tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản xuất của con người; là nơi chứa đựng các chết phế thải do con người tạo ra trong cuộc sống và hoạt động sản xuất của mình

Theo Vũ Tự Lập chức năng là sự biểu hiện những đặc tính là hệ quả của tổ chức kết cấu nội dung sự vật Cấu trúc quy định chức năng cảnh quan và ngược lại chức năng thể hiện ra bên ngoài cấu trúc của cảnh quan Cảnh quan có hai chức năng cơ bản là chức năng tự nhiên và chức năng kinh tế xã hội [14] Chức năng tự nhiên là tiếp nhận các dòng vật chất, năng lượng để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của cảnh quan, còn gọi là chức năng tự điều chỉnh của cảnh quan Chức năng kinh tế xã hội là khả năng sử dụng cảnh quan vào các mục đích phát triển kinh tế xã hội, là thuộc tính thể hiện bên ngoài của chức năng tự nhiên và chỉ xuất hiện khi có con người; nếu sử dụng cảnh quan phù hợp với chức năng kinh tế thì sẽ đảm bảo sự phát triển bền vững cho mối quan hệ giữa tự nhiên và con người [14]

Theo quan điểm của De Groot (1992, 2006), của Bastian và Roder (2002) thì

có thể chia chức năng của một đơn vị cảnh quan ra 3 nhóm chức năng chính là: Chức năng tự nhiên, chức năng sản xuất và chức năng xã hội

- Chức năng tự nhiên hay còn gọi là chức năng sinh thái: Là khả năng cảnh quan có thể tự điều chỉnh các dòng vật chất năng lượng nhằm bảo vệ TNTN và môi trường như: Chống xói mòn, rửa trôi, suy thoái đất đai; cân bằng mực nước, độ ẩm, nhiệt nhằm cân bằng môi trường; phục hồi, bảo tồn đa dạng sinh học

- Chức năng sản xuất hay chức năng kinh tế: Là khả năng có thể cung cấp các nguồn tài nguyên thiên nhiên sinh vật, vật liệu, nhiên liệu, môi trường đất, nước, khí hậu sử dụng vào sản xuất các ngành kinh tế nông, lâm, ngư nghiệp, công nghiệp, du lịch, quần cư

Trang 35

- Chức năng xã hội gồm các khả năng mà cảnh quan có thể ứng dụng vào các mục đích: Giáo dục, nghiên cứu khoa học, thẩm mỹ, giải trí hay giá trị về nhân văn Chức năng cảnh quan được xác định trên cơ sở cấu trúc cảnh quan, mỗi đơn

vị cảnh quan có thể có nhiều chức năng và nhiều đơn vị cảnh quan có thể cùng một chức năng Nếu con người sử dụng cảnh quan phù hợp với chức năng cảnh quan thì hướng sử dụng đó là hợp lý và cảnh quan có khả năng phát triển bền vững, lâu dài; nếu con người sử dụng cảnh quan không phù hợp với khả năng đáp ứng của cảnh quan thì cảnh quan bị suy giảm và thường là không bền vững Con người sử dụng cảnh quan nếu vượt quá khả năng đảm bảo của cảnh quan ở một số bộ phận hoặc thành phần cấu trúc nào đó của cảnh quan thì hệ thống này sẽ có những biến đổi về cấu trúc, phá vỡ cấu trúc cũ hình thành nên cấu trúc cảnh quan mới và khi đó chức năng của cảnh quan cũng sẽ thay đổi theo

Các chức năng của các đơn vị phân vùng môi trường được nêu khá rõ trong các công trình lập quy hoạch bảo vệ môi trường quy mô tỉnh (QHBVMT tỉnh Quảng Ninh (2010, 2013), cấp huyện: thị xã Uông Bí (2004), Đông Triều (2012),

Tp Hạ Long (2014) do Nguyễn Cao Huần và cộng sự thực hiện các chức năng của các đơn vị phân vùng môi trường bao gồm:

- Chức năng bảo tồn, bảo vệ: không gian bảo vệ - bảo tồn là khu vực cần được kiểm soát dựa trên luật và các quy định quản lý có liên quan (hay nói cách khác là các khu vực cần được bảo vệ nghiêm ngặt ở mức độ khác nhau theo Luật và quy định)

+ Khu vực/ không gian bảo tồn (bảo vệ nghiêm ngặt theo Luật, VD: Vườn quốc gia, khu bảo tồn)

+ Khu vực/ không gian bảo vệ (bảo vệ theo các Quy định)

- Chức năng cải tạo, phục hồi môi trường: không gian cải tạo, phục hồi môi trường là các khu vực đất cằn đã thoái hóa, không có tiềm năng sản xuất nếu không

có sự cải tạo của con người, các khu vực bị ô nhiễ nặng gây ảnh hưởng đến sức

Trang 36

khỏe của con người và sinh vật (có thể là không gian cải tạo cảnh quan sau khi khai thác khoáng sản, sau nuôi trồng thủy sản)

- Chức năng phát triển: chức năng này có tên gọi đầy đủ là phát triển đạt QCVN theo mức độ cho phép

+ Khu vực/ không gian quản lý môi trường tích cực: là không gian phát triển thân thiên với môi trường nhưng do nằm ở vị trí có ảnh hưởng tới các khu vực nhạy cảm như khu dân cư, khu du lịch, nguồn nước nên cần thiết có biện pháp quản lý môi trường tích cực để làm hài hòa giữa phát triển và bảo vệ môi trường

+ Khu vực/ không gian phát triển thân thiện với môi trường: là những khu vực phát triển với chất lượng môi trường nằm trong giới hạn cho phép theo Quy chuẩn Việt Nam hoặc Quy chuẩn quốc tế

Một điểm cần chú ý, khi xác định chức năng của đơn vị phân vùng cảnh quan hay đơn vị phân vùng môi trường, ngoài việc dựa vào tiêu chí tự nhiên, tiêu chí kinh tế - xã hội, tiêu chí môi trường cần chú ý đến phân tích vị thế địa kinh tế, chính trị, môi trường của vị trí địa lý của các đơn vị đó trong mối quan

hệ tiểu vùng

1.1.4 Các nghiên cứu có liên quan đến huyện Quỳnh Lưu

Trong những năm gần đây, đã có một số công trình, đề tài, dự án theo hướng nghiên cứu đánh giá tổng hợp, sử dụng hợp lý tài nguyên tại Nghệ An Đây là những tư liệu quan trọng về lý luận và thực tiễn phục vụ thực hiện luận văn Năm 2010, Viện Địa lý đã hoàn thành Dự án: “Đánh giá môi trường chiến lược phục vụ phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Nghệ An đến năm 2020” Dự án đã đề xuất được những mục tiêu và giải pháp bảo vệ môi trường phù hợp nhằm hạn chế những tác động tiêu cực đến môi trường Các mục tiêu và các hoạt động phát triển được đề xuất trong dự án đáp ứng được những yêu cầu của phát triển bền vững, gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường Những nghiên cứu, phân tích, đánh giá của dự

án đối với các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và môi trường cũng như các tác động và biện pháp giảm thiểu tác động của chúng đã góp phần quan trọng vào quy

Trang 37

hoạch phát triển kinh tế xã hội của tỉnh cũng như cung cấp tài liệu, tư liệu rất quý báu cho các nghiên cứu trên quan điểm tổng hợp

Luận án tiến sĩ “Tổ chức lãnh thổ tỉnh Nghệ An” (2010) được Lương Thị Thành Vinh bảo vệ thành công tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội Đây là bức tranh tổng quan về tình hình phát triển kinh tế trên toàn tỉnh qua việc đánh giá những nhân tố chính tác động đến tổ chức lãnh thổ công nghiệp Nghệ An, phân tích hiện trạng một số hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp chính, đặc biệt chú trọng vào phân tích hiệu quả hoạt động của hình thức khu công nghiệp Tiếp đó, Luận án

“Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và môi trường phục vụ lập quy hoạch bảo vệ môi trường tỉnh Nghệ An” của Hoàng Lưu Thu Thủy (2012) theo hướng tiếp cận địa lý tự nhiên tổng hợp trên quan điểm sử dụng hợp lý tài nguyên Trên cơ sở đánh giá các thành phần tự nhiên, các yếu tố KT-XH và môi trường, bản

đồ cảnh quan tỉnh Nghệ An tỷ lệ 1:100.000 được thành lập; qua đó tác giả đã nghiên cứu thành lập bản đồ phân vùng chức năng môi trường trên toàn tỉnh và đề xuất hướng sử dụng các đơn vị lãnh thổ tự nhiên phục vụ công tác lập quy hoạch bảo vệ môi trường tại khu vực nghiên cứu

Gần đây, chương trình quản lý tổng hợp dải ven bờ vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải Trung Bộ đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 được phê duyệt năm 2007 là dự án lớn mang tầm quốc gia, với mục tiêu “tăng cường năng lực quản

lý, bảo vệ, sử dụng và khai thác tài nguyên, môi trường, phục vụ phát triển bền vững các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải Trung Bộ thông qua áp dụng phương thức quản lý tổng hợp đới bờ1 Chương trình này được triển khai trên 14 tỉnh, thành trực thuộc Trung ương ven bờ miền Trung từ Thanh Hóa đến Bình Thuận, kết quả thực hiện chương trình là cơ sở quan trọng để

mở rộng quản lý tổng hợp vùng ven bờ ở các tỉnh thành khác trên cả nước Quỳnh Lưu là một huyện ven biển của Nghệ An nên cũng nằm trong địa bàn nghiên cứu của chương tình này

ven bờ vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải Trung Bộ đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, ra ngày

09/10/2007

Trang 38

Dự án “Xây dựng Quy hoạch không gian tổng hợp (ISP) ven bờ huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An” (2016) do dự án Nguồn lợi ven bờ vì sự phát triển bền vững tỉnh Nghệ An hỗ trợ thực hiện nhằm giảm thiểu sự xung đột về khai thác, sử dụng không gian giữa các hoạt động kinh tế vùng ven bờ của huyện để sử dụng hiệu quả

và bền vững tài nguyên thiên nhiên ven bờ thông qua sự tham gia xây dựng quy hoạch, thống nhất các định hướng phát triển vùng quy hoạch giữa những các bên liên quan

Bên cạnh đó các tài liệu nghiên cứu quan trọng cần được kể đến là nguồn báo cáo, số liệu của các Sở, Ban ngành được nghiên cứu, bổ sung, cập nhật hàng năm như: Báo cáo hiện trạng môi trường, báo cáo tình hình sử dụng đất, tình hình phát triển KT-XH, các số liệu quan trắc môi trường, Quyết định số 6000/2008/QĐ-UBND ngày 31/12/2008 của UBND tỉnh Nghệ An phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng biển và ven biển tỉnh Nghệ An đến năm 2020;Quyết định số 4212/QĐ-UBND ngày 16/10/2012 về việc Phê duyệt Kế hoạch tổng thể dự

án Nguồn lợi ven bờ vì sự phát triển bền vững tỉnh Nghệ An;Quy hoạch nông thôn mới của các xã ven biển huyện Quỳnh Lưu

Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Nghệ An nói chung cũng như huyện Quỳnh Lưu nói riêng còn ít đề cập đến lý luận địa lý học và cảnh quan học làm cơ sở khoa học cho việc tổ chức lãnh thổ và bảo vệ môi trường

* Nhận xét:

Qua nghiên cứu tổng quan quy hoạch bảo vệ môi trường, có thể thấy QHBVMT là một lĩnh vực đang rất được quan tâm hiện nay trên thế giới Có nhiều quan niệm khác nhau về quy hoạch bảo vệ môi trường, các quốc gia châu Âu coi nó

là một quy hoạch ngành độc lập, các quốc gia châu Á và Bắc Mỹ coi nó là một phần của quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội và có mối liên hệ chặt chẽ với các quy hoạch khác, có thể bao hàm nhiều quy hoạch ngành như quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xử lý rác thải, chịu chi phối của định hướng phát triển kinh tế trong quy hoạch tổng thể kinh tế xã hội địa phương Đi liền với đó là các hướng tiếp cận khác

Trang 39

môi trường, hướng tiếp cận quản lý và chính sách, … Hầu hết các hướng tiếp cận này đều đồng ý QHBVMT cần phân chia vùng nghiên cứu thành các tiểu vùng theo các đặc trưng về điều kiện tự nhiên, xã hội gắn liền với vấn đề môi trường nổi cộm từng vùng để có hướng quản lý, cải tạo Hiện nay tồn tại nhiều loại QHBVMT khác nhau chủ yếu chia thành 2 cấp là cấp quốc gia và cấp tỉnh, tuy nhiên một số địa phương có xây dựng bản đồ quy hoạch cấp huyện Các cơ sở nghiên cứu về lý luận QHBVMT trên đây là cơ sở tiến hành xây dựng lý luận cho việc xây dựng cơ sở khoa học cho QHBVMT huyện Quỳnh Lưu, tình Nghệ An

1.2 Cơ sở lý luận về quy hoạch bảo vệ môi trường áp dụng cho huyện Quỳnh Lưu

1.2.1 Quan niệm về quy hoạch bảo vệ môi trường

a Khái niệm về quy hoạch bảo vệ môi trường

Từ phân tích các công trình nghiên cứu đã công bố, có thể rút ra nhận xét:

Về bản chất, thuật ngữ QHMT và QHBVMT có một số điểm tương đồng với nhau

về mục tiêu, nhiệm vụ gắn kết những vấn đề môi trường với quy hoạch phát triển kinh

tế - xã hội của mỗi vùng lãnh thổ Tuy nhiên, QHMT thường phản ánh quy hoạch môi trường thành phần như quy hoạch sử dụng đất có xem xét các vấn đề môi trường còn QHBVMT dựa vào các quy hoạch tổng thể và quy hoạch ngành, các vấn đề môi trường nảy sinh trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội theo không gian của các quy hoạch QHBVMT đã được ghi nhận trong luật Bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13:

“QHBVMT là việc phân vùng môi trường để bảo tồn, phát triển và thiết lập hệ thống

hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường gắn với hệ thống giải pháp bảo vệ môi trường trong sự liên quan chặt chẽ với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội nhằm đảm bảo phát triển bền vững” Phân vùng môi trường trong QHBVMT phải được hiểu là sự phân chia lãnh thổ thành các đơn vị phân vùng theo kiểu loại và các đơn

vị phân vùng cá thể Với mục đích làm rõ hơn nội hàm của định nghĩa trên, QHBVMT được hiểu là sự hoạch định, bố trí không gian sử dụng hợp lý lãnh thổ, bảo vệ môi trường trong mối quan hệ chặt chẽ với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội nhằm cải thiện môi trường sống, giảm thiểu tác hại, ngăn ngừa các nguy cơ ô

Trang 40

nhiễm và tai biến tiềm ẩn Quan điểm chủ đạo xuyên suốt của QHBVMT là quan điểm về phát triển bền vững, bao gồm sử dung hợp lý tài nguyên thiên nhiên, nâng cao chất lượng môi trường sống, phát triển kinh tế - xã hội trong khả năng giới hạn của các hệ sinh thái

b Các dạng quy hoạch bảo vệ môi trường

Cũng như các dạng quy hoạch khác, dựa vào tính chất phức tạp của quy hoạch, QHBVMT có 2 dạng: QHBVMT tổng thế và QHBVMT thành phần (QHBVMT nước, quy hoạch hệ thống bãi rác thải…) Dựa theo quy mô lãnh thổ, QHBVMT được phân thành QHBVMT cấp quốc gia, vùng kinh tế - xã hội, QHBVMT cấp tỉnh huyện, QHBVMT cấp dự án Hiện nay, luật Bảo vệ môi trường Việt Nam (2014) chỉ đề cập đến hai cấp: cấp quốc gia và cấp tỉnh, nhưng thực tế ở Việt Nam nhiều địa phương đã thực hiện QHBVMT cấp huyện (các huyện trực thuộc Quảng Ninh (TP Hạ Long, Uông Bí, Vân Đồn…), huyện Phú Lộc (Huế), thành phố Vinh (Nghệ An)…) Ở thế giới đã thực hiện quy hoạch ở cấp dự án như

dự án phát triển tổng hợp vùng Palawan, Philippin (1985), nghiên cứu quy hoạch lưu vực hồ Songkla, Thái Lan (1985), Quy hoạch môi trường lưu vực sông Hàn, Hàn Quốc (1986), Quy hoạc sử dụng đất tối ưu và quy hoạch môi trường vùng Segara Anakan, Indonexia (1986)…

QHBVMT cấp quốc gia và cấp vùng kinh tế thường gắn với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, chiến lược bảo vệ kinh tế - xã hội, chiến lược bảo vệ môi trường,… còn QHBVMT cấp tỉnh, huyện, dự án phải gắn với quy hoạch phát triển kinh

tế - xã hội cho từng giai đoạn của địa phận Trong luận văn, QHBVMT lựa chọn xây dựng QHBVMT cấp huyện, được thực hiện cho huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An

1.2.2 Những cơ sở khoa học theo tiếp cận địa lý cho quy hoạch bảo vệ môi trường huyện Quỳnh Lưu

Dựa vào các nội dung cơ bản của QHBVMT trong Luật bảo vệ môi trường năm

2014, những căn cứ khoa học theo tiếp cận địa lý cho quy hoạch bảo vệ môi trường được cụ thể hóa đối với huyện Quỳnh Lưu gồm những nội dung chính sau:

Ngày đăng: 01/10/2018, 00:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w