1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá tác động môi trường và hoạt động khai thác tới nguồn lợi cá rạn san hô ở vùng biển ven đảo bạch long vỹ

76 132 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 6,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số khu bảo tồn biển KBTB như Bạch Long Vỹ, Phú Qúy, Phú Quốc, Côn Đảo… được đánh giá là một trong những vùng biển ở Việt Nam có mức độ đa dạng sinh học cao, có hệ sinh thái san hô ph

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

- -

NGUYỄN THỊ THÙY DƯƠNG

ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG VÀ HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC TỚI NGUỒN LỢI CÁ RẠN SAN HÔ

Ở VÙNG BIỂN VEN ĐẢO BẠCH LONG VỸ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

HÀ NỘI, 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

- -

NGUYỄN THỊ THÙY DƯƠNG

ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG VÀ HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC TỚI NGUỒN LỢI CÁ RẠN SAN HÔ

Ở VÙNG BIỂN VEN ĐẢO BẠCH LONG VỸ

Chuyên ngành: Khoa học Môi trường

Mã số: 60440301

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS TRẦN VĂN THỤY

HÀ NỘI, 2017

Trang 3

Lời cảm ơn

Để hoàn thành khóa luận này, tôi xin gửi lời chân thành và sâu sắc tới PGS.TS Trần Văn Thụy – bộ môn sinh thái học – người đã định hướng, trực tiếp hướng dẫn và tận tình giúp đỡ em về nhiều mặt

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô trong Khoa môi trường, các bạn cùng lớp, các đồng nghiệp và lãnh đạo Viện Nghiên cứu Hải sản

đã có những chỉ dẫn và giải đáp quý báu, tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành khóa luận

Trong quá trình thực hiện, luận văn chắc chắn không khỏi có nhiều thiếu sót, vì vậy tôi rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô và các bạn đồng nghiệp để luận văn có thể hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nôi, ngày 4 tháng 12 năm 2017

Học Viên

Nguyễn Thị Thùy Dương

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii

DANH MỤC CÁC BẢNG iv

DANH MỤC CÁC HÌNH v

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 3

1.1 Điều kiện tự nhiên, môi trường vùng biển, đảo Bạch Long Vỹ 3

1.1.1 Điều kiện tự nhiên vùng biển, đảo Bạch Long Vỹ 3

1.1.2 Điều kiện môi trường vùng biển, đảo Bạch Long Vỹ 7

1.2 Tình hình nghiên cứu cá rạn san hô ở vùng biển Việt Nam 8

1.3 Hệ sinh thái rạn san hô – rạn đá vùng biển, đảo Bạch Long Vỹ 13

1.4 Nguồn lợi cá rạn san hô ở vùng biển, đảo Bạch Long Vỹ 14

1.5 Hiện trạng khai thác nguồn lợi cá rạn san hô ở Bạch Long Vỹ 20

CHƯƠNG II: TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

2.1 Phạm vi nghiên cứu 24

2.2 Tài liệu và thời gian nghiên cứu 25

2.2.1 Nguồn số liệu 25

2.2.2 Đồng bộ dữ liệu 26

2.3 Đối tượng nghiên cứu 26

2.4 Phương pháp nghiên cứu 26

2.4.1 Phương pháp kế thừa tài liệu 26

2.4.2 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp 26

2.4.3 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp 26

2.4.4 Phương pháp thu mẫu (mô tả) 26

2.4.5 Phương pháp phân tích thống kê và xử lý số liệu 29

CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30

3.1 Biến động một số yếu tố môi trường vùng biển, đảo Bạch Long Vỹ 30

Trang 5

3.1.1 Điều kiện khí tượng biển khu vực nghiên cứu 30

3.1.2 Các yếu tố môi trường, sinh thái đặc trưng tại vùng biển nghiên cứu 36

3.2 Quan hệ cá rạn san hô với các yếu tố môi trường ở Bạch Long Vỹ 51

3.2.1 Đặc điểm phân bố và biến động nguồn lợi cá rạn BLV 51

3.2.2 Mối liên quan hệ giữa cá rạn với một số yếu tố môi trường 54

3.3 Hiện trạng khai thác và sử dụng nguồn lợi ở vùng biển đảo Bạch Long Vỹ 58

3.3.1 Biến động tàu thuyền khai thác hải sản 58

3.3.2 Cơ cấu nghề khai thác hải sản 60

3.3.3 Lao động trong khai thác hải sản 62

KẾT LUẬN 64

TÀI LIỆU THAM KHẢO 66

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1 Giá trị các thông số môi trường cơ bản nước biển quanh đảo Bạch Long Vỹ 8

Bảng 2 Số lượng loài cá rạn và chỉ số đa dạng (H’) vùng biển Bạch Long Vỹ 16

Bảng 3 So sánh thành phần họ, giống, loài cá rạn san hô ở một số rạn san hô 16

Bảng 4 Mật độ cá rạn theo các nhóm kích thước vùng biển Bạch Long Vỹ 17

Bảng 5 Mật độ cá thể của quần xã cá rạn san hô ở các nhóm kích thước 19

Bảng 6 Tổng trữ lượng cá rạn san hô ở vùng biển Bạch Long Vỹ và một số vùng biển khác ỏ Việt Nam 21

Bảng 7 Cơ cấu nghề khai thác và cơ cấu tàu thuyền ở Bạch Long Vỹ năm 2010 23

Bảng 8 Số lượng họ, giống, loài bắt gặp ở vùng biển nghiên cứu 52

Bảng 9 Một số cấu trúc, thông số môi trường được chọn làm biến độc lập 55

Bảng 10 Số lượng lao động phân theo nghề của thành phố Hải Phòng (2012-2016) 63

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1 Tỷ lệ (%) số lượng loài của các họ cá rạn quanh đảo Bạch Long Vỹ 15

Hình 2 Mật độ cá rạn (cá thể/400m2) theo mùa 18

Hình 3 Khối lượng cá rạn (kg/400m2) theo mùa 20

Hình 4 Sơ đồ vị trí nghiên cứu tại Bạch Long Vỹ 24

Hình 5: Bản vẽ kỹ thuật lưới kéo đáy sử dụng trong chuyến điều tra 27

Hình 6 Biến trình nhiều năm nhiệt độ không khí 30

Hình 7 Biến trình năm nhiệt độ không khí 31

Hình 8 Biến trình ngày nhiệt độ không khí 31

Hình 9 Biến trình năm nhiệt độ không khí trong điều kiện La Nina 32

Hình 10 Biến trình năm nhiệt độ không khí trong điều kiện El Nino 32

Hình 11 Biến trình tháng áp suất khí quyển 33

Hình 12 Biến trình tháng độ ẩm không khí 33

Hình 13 Tốc độ gió trung bình năm 34

Hình 14 Tốc độ gió trung bình tháng 34

Hình 15 Hoa gió các tháng tại trạm đảo Bạch Long Vỹ 35

Hình 16 Biến trình trung bình năm nhiệt độ nước tầng mặt toàn vùng biển nghiên cứu 37

Hình 17 Biến trình trung bình năm nhiệt độ nước biển toàn vùng biển nghiên cứu 37

Hình 18 Phân bố trung bình nhiều năm nhiệt độ nước biển (0C) tháng 1, tháng 4 38

Hình 19 Phân bố trung bình nhiều năm nhiệt độ nước biển (0C) tháng 7, tháng 10 39

Hình 20 Chênh lệch nhiệt độ tầng mặt, tầng đáy (0C) vùng biển nghiên cứu 40

Hình 21a Phân bố trung bình nhiều năm độ dày lớp ĐNNĐBM (m) các tháng mùa Hè 41

Hình 21b Phân bố trung bình nhiều năm độ dày lớp ĐNNĐBM (m) các tháng mùa Đông 42

Hình 22 Phân bố trung bình nhiều năm dị thường nhiệt độ tầng mặt (0C) 43

Hình 23 Biến động trung bình tháng nhiều năm SVPD theo thời gian ở vùng biển Bạch Long Vỹ 44

Hình 24a Phân bố số lượng TVPD (tb/m3) và khối lượng ĐVPD (mg/ m3) tháng 1 và tháng 4 45

Hình 24b Phân bố số lượng TVPD (tb/m3) và khối lượng ĐVPD (mg/ m3) tháng 7 và tháng 10 46

Trang 9

Hình 25 Biến động trung bình tháng nhiều năm độ muối nước biển (‰) tại vùng biển

Bạch Long Vỹ 47

Hình 26a Phân bố độ muối nước biển (‰) trung bình nhiều năm tháng 1, tháng 4 48

Hình 26b Phân bố độ muối nước biển (‰) trung bình nhiều năm tháng 7, tháng 10 49

Hình 27 Phân bố trung bình tháng nhiều năm dị thường độ muối (‰) tầng mặt 50

Hình 28 Chênh lệch độ muối (‰) trung bình nhiều năm tầng mặt, tầng đáy 51

Hình 29 Biến động NSĐB trung bình (kg/h) cá rạn theo thời gian 53

Hình 30 Phân bố NSĐB (kg/h) cá rạn san hô tại vùng biển nghiên cứu 54

Hình 31 Tương quan giữa cá rạn với nhiệt độ (0C) 57

tầng mặt (trái), tầng đáy (phải) tháng 10 57

Hình 32 Tương quan giữa cá rạn với độ muối (‰) 57

tầng mặt (trái), tầng đáy (phải) tháng 10 57

Hình 33 Tương quan giữa cá rạn với TVPD và ĐVPD tháng 10 57

Hình 34 Biến động tàu thuyền (chiếc) và tổng số công suất máy tàu (CV) 58

Hình 35 Cơ cấu tàu thuyền máy theo nhóm công suất giai đoạn 2012 – 2016 60

Hình 36 Cơ cấu nghề khai thác hải sản (%) của thành phố Hải Phòng, tính đến tháng 12/2011 61

Hình 37 Cơ cấu nghề khai thác hải sản (%) của thành phố Hải Phòng, 61

Trang 10

MỞ ĐẦU

Việt Nam là một quốc gia biển đang phát triển và được coi là một trong 16 trung tâm đa dạng sinh học trên thế giới, giầu tài nguyên chính vì vậy biển nước ta chiếm một vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Biển nước ta có ý nghĩa quan trọng về mặt kinh tế do những giá trị nguồn lợi hải sản mang lại Một số khu bảo tồn biển (KBTB) như Bạch Long Vỹ, Phú Qúy, Phú Quốc, Côn Đảo… được đánh giá là một trong những vùng biển ở Việt Nam có mức

độ đa dạng sinh học cao, có hệ sinh thái san hô phát triển tốt là nơi sinh cư của nhiều loài sinh vật biển Trong hệ sinh thái rạn san hô, cá rạn san hô được đánh giá

có tính đa dạng cao nhất trong số động vật có xương sống, không những có ý nghĩa khoa học mà còn có giá trị kinh tế cao và tiềm năng phát triển cho du lịch sinh thái như lặn ngầm, thăm xem cảnh quan dưới nước

Những năm gần đây vấn đề bảo vệ tài nguyên biển nước ta đang đối mặt với những khó khăn và thách thức Nguồn lợi cá rạn xung quanh đảo Bạch Long Vỹ đang có xu hướng suy giảm nhanh chóng, phải chịu nhiều tiêu cực từ con người (khai thác, du lịch, ô nhiễm…) và tự nhiên (sóng, gia tăng nhiệt độ nước biển…)

Sự phát triển kinh tế huyện đảo, xây dựng cơ sở hạ tầng, thay đổi nhanh chóng mục đích sử dụng đất, các hệ sinh thái, những tác động của việc khai thác quá mức nguồn lợi thủy sản đã tạo sức ép lên môi trường sinh thái Tất cả những vấn đề đó nếu không được quản lý chặt chẽ thì có thể dẫn đến mất nơi cư trú của nhiều loài cá rạn, mất cân bằng sinh thái, gây suy giàm môi trường và phát triển không bền vững

Trên thực tế mặc dầu công tác điều tra, đánh giá nguồn lợi cá rạn san hô ở Việt Nam nói chung và BLV nói riêng được quan tâm nghiên cứu từ rất sớm song

về cơ bản, nội dung nghiên cứu lại chủ yếu tập trung cấu trúc, sinh thái, thành phần loài, phân bố cá rạn san hô Ngoài ra là đánh giá biến động nguồn lợi, trữ lượng và khả năng khai thác của các loài hải sản nói chung và đặc điểm sinh học đặc trưng của một số loài hải sản thường gặp, xây dựng phân bố không gian năng suất đánh bắt chung và năng suất đánh bắt theo một số loài, nhóm loài cho nên việc nghiên

Trang 11

cứu thực trạng diễn biến điều kiện môi trường và ảnh hưởng của nó tới biến động nguồn lợi hải sản lại thường được tiến hành một cách lồng ghép, gián đoạn

Chính vì vậy song song với nghiên cứu nguồn lợi hải sản cũng như nguồn lợi cá rạn thì việc tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu và tìm hiểu sự biến động không gian và thời gian các yếu tố môi trường và xem xét mối quan hệ, sự ảnh hưởng của môi trường cùng với hoạt động khai thác tới nguồn lợi cá rạn san hô ở đảo Bạch Long Vỹ là một trong những nhiệm vụ quan trọng luôn được qua tâm

Xuất phát từ thực tiễn đó luận văn đã sử dụng chuỗi số liệu liên tục, đồng bộ

quan trắc được từ năm 2006 đến năm 2015 để “Đánh giá ảnh hưởng môi trường

và hoạt động khai thác tới nguồn lợi cá rạn san hô vùng biển ven đảo Bạch Long Vỹ” nhằm góp phần cung cấp tài liệu phục vụ học tập, nghiên cứu và làm cơ sở

khoa học phục vụ nhu cầu khai thác sử dụng, mục tiêu bảo vệ bền vững nguồn lợi

Trang 12

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1 Điều kiện tự nhiên, môi trường vùng biển, đảo Bạch Long Vỹ

1.1.1 Điều kiện tự nhiên vùng biển, đảo Bạch Long Vỹ

b Địa hình, địa mạo

độ 0m); chiều dài nhất theo hướng Đông Bắc – Tây Nam khoảng 3km, đường bờ theo hướng Đông Bắc – Đông Nam dài khoảng 2km và đường bờ theo hướng Đông Nam – Tây Nam dài khoảng 1,5km Diện tích đảo nổi khoảng 2,5km2 (nếu tính cả phần bãi ngập triều tới mép thềm đá thì đảo rộng tới 4km2) Hình thái đảo Bạch Long Vỹ chủ yếu tạo bởi quá trình địa chất ngoại sinh – phong hóa, xâm thực – bóc mòn và tích tụ Đồng thời, với quá trình xâm thực – rửa trôi bề mặt, bóc mòn đỉnh

và sườn đảo là quá trình xâm thực – mài mòn bờ đảo do sóng và dòng chảy [4]

Theo Đỗ Văn Khương, 2010 tổng quan: Địa hình đảo Bạch Long Vỹ khá

là đất có độ dốc 150, các đường dốc phân cách với nhau bằng các sườn và vách dốc hẹp Đỉnh cao nhất của đảo là được ghi nhận là 62,33m và trung bình là 25m Với

bề mặt khá phẳng (chiều dài 300m, chiều rộng 100m) cho nên Đảo BLV rất thuận lợi cho việc xây dựng các công trình và nhà ở [12]

Theo Nguyễn Đức Cự và ctv, 2006 nhận định: Đảo Bạch Long Vỹ là một dải đồi nhô lên từ mặt bằng đáy biển ở độ sâu 30m nước, chu vi khoảng 6,5km Địa hình đảo chia làm 3 nhóm: nhóm địa hình nguồn gốc biển, nhóm địa hình nguồn

Trang 13

biển gồm bãi cát biển, thềm mài mòn - tích tụ, thềm biển bậc I, II, III tích tụ - mài mòn Nhóm địa hình nguồn gốc gió gồm địa hình thổi mòn - tích tụ đụn cát, trảng cát và sườn cát Nhóm địa hình nguồn gốc bóc mòn gồm sườn tích tụ deluvi - coluvi, sườn bóc mòn tổng hợp và bề mặt xâm thực - bóc mòn [2]

Nguyễn Chu Hồi và ctv, 1995 nhận xét: Tổng diện tích đảo BLV ước tính trên 3km2 (tính từ 0m nước), một số tài liệu khác nghiên cứu khác chỉ ra diện tích đảo nổi là 2,1km2 hoặc 2,5km2 Đảo được hình thành từ các loại đất, đá trầm tích (cuội kết, đá kết và bột kết xen kẽ) Các loại đất trên đảo có độ dày 15 – 20cm Các loại đất gồm đất cát, đất tràng cát, đất Feralit, đất xám, xám sáng, đất xói mòn trơ sỏi có độ phì thấp và đang bị xói mòn [8]

Bờ đảo và vùng triều: 60% diện tích vùng bờ được hình thành từ đá cuội kết,

khoảng 40% cấu tạo từ cát, cuội, sỏi Bờ biển khá thoải, các đoạn có các vách dốc cao 1- 2m thường là bồi tụ đang bị sóng biển xói lở Bãi cát biển thoải rộng 15 – 30m chỉ gặp ở một số đoạn bờ phía Tây Bắc bến tàu cũ [12]

Vùng bãi ngập triều quanh đảo gồm bãi triều cao và bãi triểu thấp có diện tích là 1,3km2 Vùng bãi triều cao diện tích 0,474km2, vùng bãi triều thấp là 0,721km2 và bãi biển ngập triều rộng 0,078km2. Phần lớn bãi ngập triều cao chủ yếu hình thành từ đá cuội gốc và bãi cuội tảng Bãi ngập triều hầu như là thềm đá gốc, cuội tảng có ở một vài chỗ

Đáy biển và ven đảo: Diện tích vùng nước nông ven đảo có độ sâu từ 6m

nước trở vào đến mực triều thấp nhất có diện tích rộng khoảng 4,27 km2 Bậc địa hình từ độ sâu 0 – 6m chủ yếu là đá gốc, bề mặt có độ dốc từ 1 – 20 Khoảng độ sâu

từ 6 – 10m có bề mặt khá bằng phẳng, có độ dốc 10, rộng gần 1km2 Khoảng độ sâu

từ 10 – 30m nước là một sườn cổ khá dốc, cấu tạo từ đá cuội, sỏi, cát và đá gốc Ngoài độ sâu 30m là đồng bằng đáy vịnh với đường bờ cổ, đồi đá gốc độ sâu tương đối khoảng từ 5-10m và các thung lũng sông có hướng Tây Bắc- Đông Nam và các điểm lộ đá gốc Đệ tam [13]

c Khí tượng thủy văn

Trang 14

Hoàn lưu khí quyển và chế độ gió: Thời tiết và khí hậu ở vùng này có tính

biển động thường xuyên do sự luân phiên tranh chấp của các khối không khí có bản chất khác nhau Nằm trong trung tâm Vịnh Bắc Bộ vì vậy đảo Bạch Long Vỹ mang những đặc điểm khí hậu chung của vùng đồng bằng Bắc Bộ và đặc điểm riêng vùng biển xa bờ, một năm có hai mùa rõ rệt Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 kết thúc vào tháng 8 thời tiết nóng ẩm, mưa nhiều chịu tác động của gió mùa Tây Nam, hướng gió chủ đào là Nam và Đông Nam với tần suất là 74 - 88%, tốc độ trung bình là 5,9 – 7,7m/s Mùa khô bắt đầu từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, thời tiết lạnh khô và ít mưa hướng gió thịnh hành là Bắc và Đông Bắc, chiếm tần suất là 86 - 94%, tốc độ gió trung bình là 6,5 -8,2m/s Tháng 4 và tháng 9 là các tháng chuyển tiếp giữa hai mùa [13]

Nhiệt độ và độ ẩm không khí: Nhiệt độ không khí trung bình năm 23,3oC, cao nhất tuyệt đối 33,9oC, thấp nhất tuyệt đối là 7,0 oC, cao vào các tháng 6, tháng 7

và tháng 8 (trên 28oC, cao nhất 28,7 oC vào tháng 7) và thấp vào các tháng 1 và 2 (16,6 - 16,8oC) Biên độ nhiệt năm dao động 9,6 oC - 13,8 oC Biên độ nhiệt ngày đêm nhỏ, thường không quá 5oC Độ ẩm không khí trung bình 86%, lớn nhất 92% vào tháng 3 và 4 và nhỏ nhất là 69% vào tháng 11

Nắng và bức xạ nhiệt: Hàng năm tổng số giờ nắng là 1600 - 1900 giờ nắng

và được phân bổ khá đều, Nắng nhiều hơn vào cuối mùa hè và đầu mùa thu, ít nắng vào tháng 2 và tháng 3 đây là thời điểm có mưa phùn và dộ ẩm cao Tổng lượng bức xạ năm đạt 132,5 Kcal/cm2 và cao hơn các đảo ven bờ Bức xạ cao từ tháng 4 đến tháng 10 (trên 10 Kcal/cm2), cao nhất vào tháng 5 (15,98 Kcal/cm2), các tháng còn lại đều dưới 10 Kcal/cm2, thấp nhất vào tháng 3 là 7,18 Kcal/cm2 [13]

Mưa ẩm và bốc hơi: So với ven bờ Vịnh Bắc Bộ, lượng mưa ở Bạch Long

Vỹ thấp hơn, trung bình đạt 1031mm từ tháng 5 đến tháng 10 chiếm 83% lượng mưa cả năm Từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau lượng mưa đạt 50mm, chiếm 17% so với lượng mưa cả năm Trung bình năm có 107 ngày mưa, lượng mưa cao nhất vào tháng 8 là 214mm (thấp nhất vào tháng 12 là 17,1mm) [8, 15] Lượng bốc hơi cả năm cao hơn lượng mưa, đạt 1461mm, cao nhất vào tháng 6 đến tháng 1 năm sau

Trang 15

đạt trên 100mm, tháng 3 có lượng bốc hơi nhỏ nhất với 57,8mm cũng là tháng có độ

ẩm cao nhất (92%) [4,13]

Bão và các hiện tượng thời tiết đặc biệt: Trung bình xuất hiện từ 1- 2 cơn

bão mỗi năm, mùa bão thường bắt đầu vào tháng 5 và kết thúc vào tháng 10, tập trung nhất vào các tháng 7, 8 và tháng 9 Sức gió mạnh nhất đạt 50m/s Dông xuất hiện trung bình 2-3 cơn/tháng trong đó dông nhiều nhất vào tháng 8 và tháng 9, trung bình 4 cơn/tháng, tháng 12 không có dông Vào mùa dông còn có xuất hiện sương mù làm hạn chế tầm nhìn, ảnh hưởng tới giao thông đường thủy Sương mù trung bình có 24 ngày/năm [13]

Thủy triều và mực nước: Thủy triều mang tính chất thủy triều toàn nhật đều,

với biên độ triều cao và hầu hết số ngày trong tháng là nhật triều Các tháng chuyển tiếp (tháng 3, 4 và 8, 9) độ lớn triều giảm, mỗi tháng có 3-4 ngày là triều bán nhật Mực nước biển trung bình khoảng 1,82m, cao nhất đạt 3,76m và thấp nhất vào giữa mùa đông trên 3,0m Chênh lệch biên độ nằm giữa tháng lớn nhất và nhỏ nhất về thủy triều không quá 50cm [13]

Chế độ sóng: Hướng và tần suất sóng phụ thuộc vào từng mùa trong năm

Mùa đông hướng sóng chủ đạo là Đông Bắc, tần suất 37,9%, độ cao trung bình đạt 0,8 - 1,0m, lớn nhất trong các đợt gió mùa, độ cao lên tới 3,0 - 3,5m Mùa hè, hướng sóng thịnh hành là nam, đông nam, tần suất 22,9%, độ cao trung bình là 0,6

- 0,9m Trong thời gian ảnh hưởng của bão nên độ cao sóng cực đại có thể lên tới 5

- 6m hoặc lớn hơn Độ cao sóng lớn nhất đã quan trắc được là 7,0m [13]

Dòng chảy: Dòng chảy ven đảo thể hiện rõ ảnh hưởng của hình thể đảo Phía

Tây Nam đảo, dòng chảy ưu thế hướng Đông Bắc, Bắc và Tây Nam, Tây Phía Đông Bắc đảo, ưu thế hướng Đông Bắc, Đông và Nam, Tây Nam, Ở phía Đông Nam, hướng chủ đạo là Tây Nam Do đặc điểm địa hình của đảo nên có sự ảnh hưởng đến dòng chảy Tại Đông Nam đảo, tốc độ dòng chảy lớn cực đại là 0,65m/s, trung bình 0,28m/s Tại phía Tây Nam và Đông Bắc cường độ dòng chảy dao động trong khoảng 0,13 - 0,58m/s [13]

Trang 16

Hải lưu vùng biển quanh đảo Bạch Long Vĩ hoạt động theo mùa Mùa Đông

và mùa Xuân, dòng chảy có hướng ngược kim đồng hồ và đạt tốc độ trung bình 0,3

- 0,6 hải lý/giờ Mùa Hè và mùa Thu hướng thuận chiều kim đồng hồ và đạt tốc độ trung bình 0,4 - 0,8 hải lý/giờ Vào thời kỳ chuyển tiếp, hải lưu giảm tốc độ đáng kể

1.1.2 Điều kiện môi trường vùng biển, đảo Bạch Long Vỹ

* Nhiệt độ nước biển:

Bạch Long Vỹ có sự biến động lớn về nhiệt độ, thể hiện rõ rệt quy luật biến đổi theo mùa, mùa mưa cao hơn mùa khô Nhiệt độ nước biển thấp nhất vào tháng

2, tháng 3 (nhiệt độ trung bình nhiều năm xuống dưới 170C) Nhiệt độ cao nhất vào tháng 7 và tháng 8 (nhiệt độ trung bình nhiều năm đạt tới 290C)

Theo kết quả quan trắc của Trần Lưu Khanh, 2007 cũng tương tự với nhiệt

độ nước tháng 4 - 5 ổn định từ 23,40C -24,60C, tháng 9 -10 nhiệt độ từ 28,90C - 30,30C [10]

* Độ muối

Theo kết quả khảo sát của Cục cảnh sát biển Việt Nam (2006), đợt tháng 6 năm 2006 khu vực quanh đảo cho kết quả độ muối khá cao 33,1-34,0‰ Kết quả quan trắc của Trần Lưu Khanh (2007), tháng 4-5 ghi nhận độ muối trong nước khu vực trung bình đạt 34,1‰; tháng 9 - 10, độ muối thấp hơn (trung bình 32,6‰) Kết quả nghiên cứu của Đỗ Văn Khương (2008) cho thấy độ muối nước biển ven đảo Bạch Long Vỹ có sự khác biệt theo mùa giữa mùa mưa và mùa khô Vào các tháng mùa mưa, độ muối ổn định trong khoảng hẹp từ 32,3 - 32,5‰ thấp hơn so với các tháng mùa khô, nồng độ muối 32,8 - 33,8‰ [9, 13]

* Độ đục

Môi trường nước ven đảo Bạch Long Vĩ có độ đục khá thấp, dao động từ 2 -

9 mg/l, trung bình là 4,4 mg/l [13]

Trang 17

Bảng 1 Giá trị các thông số môi trường cơ bản nước biển quanh đảo Bạch Long Vỹ

Nguồn: Đỗ văn Khương, 2010

1.2 Tình hình nghiên cứu cá rạn san hô ở vùng biển Việt Nam

Việt Nam nói chung và Bạch Long Vỹ nói riêng có khá nhiều công trình nghiên cứu về nguồn lợi cá rạn san hô và đã ghi nhận được nhiều kết quả

Giai đoạn trước 1975 các nghiên cứu chủ yếu là về hình thái và đặc điểm sinh học của một số loài cá hoặc nghiên cứu khu hệ động thực vật và địa chất ở các đảo Trong hai chương trình hợp tác giữa Việt – Trung (1959 – 1965) do Tổng cục thủy sản hợp tác với Trung Quốc và Việt Nam với Liên Xô (1960 – 1961) điều tra, khảo sát về điều kiện tự nhiên, nguồn lợi cá tầng đáy, cá nổi ở Vịnh Bắc Bộ Một trong những kết quả thu được theo Viện Nghiên cứu biển (1971) đã tập hợp tư liệu

và công bố danh sách cá ở Vịnh Bắc Bộ gồm 961 loài thuộc 457 giống, 162 họ và

28 bộ trong đó có khoảng 400 loài cá rạn san hộ [11]

Giai đoạn sau 1975, giai đoạn thống nhất đất nước cho nên công tác điều tra biển được quan tâm, đấy mạnh Chương trình nghiên cứu về sinh vật biển nói chung

và cá rạn san hô dược thực hiện Thời kỳ này các nghiên cứu chủ yếu là cấu trúc, sinh thái rạn và thành phần loài cá rạn san hô Ngoài ra còn thu thập thêm những tư liệu về phân bố và hiện trạng khai thác nguồn lợi của cá rạn san hô trong vùng biển

Cụ thể:

Năm 1987, Nguyễn Hữu Phụng và Bùi Thế Phiệt đã xác định được thành

phần loài cá rạn san hô ở các đảo Nam Yết và Sơn Ca

Tháng 4 - 5 năm 1989, chương trình biển 48 khảo sát “Trường Sa 2” nghiên cứu vật lý, thủy văn, địa chất địa mạo, hệ sinh thái rạn san hô, nguồn lợi cá, rùa và

Trang 18

chim biển ở các đảo Song Tử Tây, Phan Vinh, Trường Sa và các rạn ngầm Đá Nam, Tốc Tan, Vũng Mây Kết quả khảo sát được Nguyễn Hữu Phụng phân tích và xác

định được thành phần cá rạn san hô gồm 147 loài thuộc 67 giống và 37 họ [11]

Tháng 4 - 5 năm 1994, nghiên cứu nguồn lợi sinh vật và bổ sung thêm một

số loài cá rạn san hô ở các đảo Nam Yết, Sơn Ca, Trường Sa và Song Tử Tây do phân viện Hải dương học ở Hải Phòng tổ chức khảo sát Theo kết quả thu thập được trong các chuyến khảo sát và tham khảo tài liệu của các tác giả khác, Nguyễn Hữu

Phụng (1996) đã xác định thành phần loài cá rạn sạn hô ở đảo Trường Sa gồm 326 loài, thuộc 122 giống, 44 họ, 13 bộ [11]

Năm 1996, dựa vào tư liệu khảo sát cá rạn san hô thu được ở 3 đảo thuộc quần đảo Trường Sa Nguyễn Hữu Phụng và cộng tác viên đã công bố danh sách cá

rạn san hô gồm 147 loài thuộc 75 giống, 28 họ, 6 bộ [11]

Trong thời gian (1972 -1994) đề tài KT.03.08 do Viện hải dương học Nha Trang thực hiện đã xác định được thành phần loài, phân bố và nguồn lợi cá rạn san

hô ở ven biển Việt Nam Nguyễn Hữu Phụng tổng kết năm 1994 gồm 455 loài thuộc 157 giống 53 họ, 14 bộ [11]

Trong những năm (1993-1997), Viện Nghiên cứu Hải sản đã phối hợp một

số đơn vị khác tổ chức thực hiện đề tài “Điều tra nguồn lợi sinh vật biển các đảo Trường Sa” và tiến hành khảo sát các đảo như Nam Yết, Sơn Ca, Song Tử Tây, Thuyền Chài, các vùng biển phía Bắc, phía Tây Nam và phía Nam quần đảo Trường Sa, các vùng biển Trung Bộ và Đông Nam Bộ Kết quả đề tài đã xác

định được thành phần cá rạn san hô gồm 414 loài thuộc 138 giống, 46 họ [11]

Năm 1994, tiến hành khảo sát và điều tra khu hệ cá rạn san hô trong vùng biển An Thới, Cù Lao Chàm, bán đảo Sơn Trà và Côn Đảo do Viện hải dương học Nha Trang phối hợp Qũy quốc tế bảo vệ động vật hoang dã (WWF) Kết quả thu được trong các đợt khảo sát đã xác định được thành phần cá rạn san hô vùng An Thới có 135 loài thuộc 60 giống, 20 họ; ở vùng biển Cù Lao Chàm phát hiện được

187 loài thuộc 77 giống, 31 họ; trong vùng biển Côn Đảo có 160 loài thuộc 68 giống, 27 họ [11]

Trang 19

Năm 1997, Phân viện Hải dương học tại Hải Phòng hợp tác với Bảo tàng Ontario (Canada) khảo sát cá rạn san hô vùng biển Đông Nam Cát Bà, đã công

bố kết quả có103 loài cá rạn san hô [11]

Năm 1998, Nguyễn Nhật Thi dựa vào các kết quả các đợt khảo sát vùng biển ven bờ Quảng Ninh - Hải Phòng (1994-1997) đác xác định được thành phần cá rạn

san hô trong vùng biển gồm 364 loài thuộc 21 giống, 90 họ 21 bộ

Tháng 12 năm 2000 tiến hành khảo sát KBTB vịnh Nha Trang do Viện Nghiên cứu Hải sản kết hợp với Bảo tàng Tự Nhiên Tokyo (Nhật Bản) tổ chức

Nguyễn Văn Quân và các chuyên gia Nhật Bản đã xác định được 385 loài thuộc

182 giống, 60 họ [11]

Năm 2001, dựa vào kết quả chuyến khảo sát trong tháng 2 - 3/1996 ở xung quanh các đảo Hòn Mun, Hòn Đụn, Hòn Hố, Hòn Miều và Bích Đầm Nguyễn Hữu Phụng và cộng sự đã xác định được thành phần cá rạn san hô ở vịnh Nha Trang gồm có 348 loài thuộc 146 giống, 58 họ, 15 bộ

Trong những năm 2001-2003, Viện Nghiên cứu hải sản phối hợp cùng với một số đơn vị khác thực hiện dự án “Đánh giá nguồn lợi sinh vật và hiện trạng môi trường vùng biển quần đảo Trường Sa” Dựa vào tư liệu của các đợt khảo sát về cá rạn san hô, Nguyễn Văn Quân đã xác định được 322 loài thuộc 133 giống, 44 họ Mặt khác kết quả của dựa án còn đánh giá được trữ lượng, khả năng khai thác các nhóm sinh vật có giá trị kinh tế cao và đề xuất biện pháp, công cụ khai thác hợp lý nhằm bảo vệ lâu bền nguồn lợi [11]

Năm 2004, Nguyễn Nhật Thi và Nguyễn Văn Quân tổng hợp từ các công trình nghiên cứu cá rạn san hô trước đó và xác lập được danh mục cá rạn san hô

vùng biển Trường Sa gồm 524 loài thuộc 192 giống, 59 họ Kết quả này được trình

bày trong báo cáo đề tài nghiên cứu cơ bản mã số 61.38.04

Trong 2 năm 2003-2004 Viện Nghiên cứu hải sản cùng Phân viện Hải dương học tại Hải Phòng tiến hành khảo sát vùng biển VQG Cát Bà và Cô Tô Kết

quả phân tích mẫu và thu thập dữ liệu về cá rạn san hô đã xác định được 188 loài, thuộc 101 giống, 51 họ

Trang 20

Dựa vào kết quả nghiên cứu và tổng hợp từ các chuyến khảo sát đến năm

2005 Nguyễn Nhật Thi và Nguyễn Văn Quân thống kê được thành phần loài cá rạn

san hô ở biển Việt Nam có khoảng 1.206 loài (779 loài thuộc các họ cá san hô tiêu biểu) thuộc 452 giống và 118 họ cá [11]

Năm 2005, Đỗ Công Thung và Massimo Sardi nhận định rằng nhóm cá rạn san hô có số loài cao nhất trong các loài cá biển ven bờ Việt Nam Phân theo nhóm sinh cảnh thì kết quả có 549 loài thuộc nhóm cá rạn, 71 loài thuộc nhóm cá nổi ven

bờ, 150 loài thuộc nhóm cá ven đầm phá và 24 loài thuộc nhóm cá đại dương Cùng

thời gian này dựa vào nghiên cứu trong hai năm 2002-2003 thuộc dự án“Đánh giá

đa dạng sinh học vùng biển Vịnh Hạ Long và đề xuất các biện pháp quản lý phát triển bền vững nguồn lợi” Nguyễn Văn Quân xác định được thành phần cá rạn san

hô ở vùng biển Vịnh Hạ Long với tổng số 111 loài thuộc 71 giống trong 41 họ

Năm 2006, Nguyễn Văn Quân dựa vào dữ liệu, ảnh chụp ngầm và băng ghi Video cùng với mẫu kéo đáy ghi nhận tại hiện trường đảo Nam Yết thuộc quần đảo Trường Sa đã xác nhận được khu hệ cá rạn san hô có 166 loài thuộc 83 giống và 33 họ

Tháng 3- 4 năm 2007 kết quả khảo sát thuộc quần đảo Trường Sa do Viện Tài Nguyên và Môi trường biển thực hiện đã xác định được 250 loài thuộc 109 giống và 37 họ cá trong đó có 25 loài phân bố rộng trên các mặt khảo sát Các đảo

có số lượng loài bắt gặp cao như: Nam Yết, Tốc Tan, Thuyền Chài và Trường Sa lớn, các đảo có số lượng loài bắt gặp thấp là Đá Tây và Sinh Tồn

Tháng 9 - 11năm 2007, Nguyễn Văn Long và Phan Kim Hoàng nghiên cứu

về phân bố và các yếu tố ảnh hưởng đến quần xã cá rạn san hô thuộc KBTB Vịnh Nha Trang đã thống kê được 266 loài, 40 họ và chúng tạo thành 5 nhóm phân bố khác nhau trong quần xã cá rạn san hô

Nghiên cứu gần đây nhất là năm 2005-2007 Viện Nghiên cứu Hải sản đã

triển khai thực hiện đề tài độc lập cấp bộ: “Đánh giá nguồn lợi cá rạn san hô ở một

số vùng dự kiến thiết lập khu bảo tồn biển và một số loài hải sản có giá trị kinh tế cao ở dốc thềm lục địa Việt Nam, đề xuất các giải pháp sử dụng bền vững nguồn lợi” Kết quả đã đánh giá được một số chỉ tiêu liên quan đến cá rạn san hô ở 10

Trang 21

vùng dự kiến thiết lập khu bảo tồn (Cô Tô, Bạch Long Vỹ, Cồn Cỏ, Cù Lao Chàm,

Lý Sơn, Vịnh Nha Trang, Phú Quý, Nam Yết, Côn Đảo và Phú Quốc) như: Hiện trạng thành phần loài cá rạn san hô (514 loài cá rạn thuộc 154 giống và 52 họ), chỉ

số đa dạng sinh học thấp có sự dao động không lớn Phân bố các loài cá rạn có xu hướng tăng dần từ phía Bắc đến các đảo phía Nam và mật độ rạn trung bình cao nhất ở vịnh Nha Trang, Côn Đảo, Phú Quốc do hiệu quả của hoạt động bảo tồn mang lại [8]

Năm 2008 trong báo cáo tổng kết đề tài “Nghiên cứu cơ sở khoa học cho việc xây dựng các khu bảo tồn biển vùng quần đảo Trường Sa” do Viện Tài Nguyên và

Môi trường thực hiện Tổng hợp các kết quả điều tra, khảo sát ở các đảo trọng điểm thuộc quần đảo Trường Sa cho thấy đã bắt gặp 524 loài cá thuộc 192 giống và 59 họ [11]

Giai đoạn tiếp theo từ năm 2007-2010 trong báo cáo tổng kết đề tài “Đánh giá điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội các khu bảo tồn biển phục vụ cho quản lý và xây dựng”, Phần IV: Đảo Bạch Long Vĩ đã đưa ra những kết quả về hiện trạng đa

dạng sinh học và nguồn lợi sinh vật ở vùng biển này đã xác định được 61 loài cá rạn san hô trong đó có 28 loài có giá trị kinh tế, 24 loài cá cảnh và 12 loài cá rạn điển hình cho hệ sinh thái rạn san hô biển nhiệt đới Mật độ phân bố trung bình cá rạn quanh đảo Bạch Long Vĩ là khá cao, ước tính trên 400m2 là 308 cá thể Xu hướng phân bố khối lượng cá rạn theo mùa gió vào thời gian 2007-2010 không có sự thay đổi so với thời gian nghiên cứu trước đó (2005-2007), mùa gió Tây Nam khối lượng

cá rạn trung bình cao hơn mùa gió Đông Bắc [4,12]

Năm 2009 theo số liệu điều tra khảo sát của Viện Hải dương học Nha Trang, rạn san hô ở biển Tam Hải, tỉnh Quảng Nam có đa dạng sinh học cao, phong phú về nguồn lợi thuỷ sản Theo điều tra, khu vực này có khoảng 225 loài cá thuộc 96 giống và 35 họ, trong đó có nhiều loài có giá trị kinh tế và xuất khẩu cao [11]

Trong thời gian nghiên cứu 3 năm 2010, 2011và 2015, Viện Nghiên cứu Hải

sản đã tổ chức khảo sát ở 19 đảo thuộc dự án I2 “Điều tra tổng thể đa dạng sinh học các hệ sinh thái rạn san hô và vùng ven đảo ở vùng biển Việt Nam phục vụ phát

Trang 22

triển bền vững” Kết quả thực hiện trong 2 năm đã xác định được thành phần giống

loài, phân bố số lượng loài, đánh giá được tiềm năng, biến động nguồn lợi cá rạn san hô ở biển Việt Nam [15]

1.3 Hệ sinh thái rạn san hô – rạn đá vùng biển, đảo Bạch Long Vỹ

Ran san hô đảo Bạch Long Vỹ thuộc dạng nền (flatform) rộng và thoải đều, thành phần loài khá đa dạng, độ phủ khá cáo Ở phía Tây Bắc đới mặt bằng rạn khá rộng và ở độ sâu khoảng 2m trải dài đến 1,5km và có nhiều đới cắt ngang theo hướng Đông Bắc – Tây, dọc đới này san hô khá nghèo chủ yếu là xác san hô chết Điều này có thể do ảnh hưởng của chế độ thủy lực và dòng chảy Ở phia Đông và phía Nam thường bị ảnh hưởng mạnh bởi sóng do gió mùa Đông Bắc hoặc gió Nam

do vậy các tập đoàn san hô thường bị sóng đánh bật khỏi giá thể hoặc ấu trùng san

hô không bám đáy được do vậy mà số loài san hô thường ít và có kích thước nhỏ Phía Tây và Tây Bắc đảo được che chắn bởi sườn đảo cho nên ít bị ảnh hưởng bởi sóng và dòng chảy nên san hô phát triển mạnh hơn [4]

Độ phủ san hô quanh đảo BLV đạt giá trị trung bình là 36,4% bề mặt đáy Mặc dù san hô có độ phủ thấp nhưng do đảo nằm xa đất liền nên hầu như còn giữ nguyên được hiện trạng do ít bị tác động bởi hoạt động của con người

Hệ sinh thái rạn san hô, từ mức triều thấp đến độ sâu 15m (cũng là ranh giới nghiên cứu) San hô có độ phủ cao, phân bố đến độ sâu 15m, độ phủ cao nhất ở độ sâu 4-12m Ngoài 20m mật độ san hô thấp, nền đáy là đá gốc, tảng cuội và cát Rạn

ở phía Tây Bắc đảo có số lượng loài cao hơn, dộ phủ đạt tới 94% bề mặt đáy ở vùng sát bờ Số lượng loài và độ phủ giảm dần về phía quanh đảo, thấp nhất là phía Nam đảo, ghi nhận được 16 loài, độ phủ 2,6%

Hệ sinh thái rạn san hô ở BLV chia thành 3 kiểu sau:

Dạng 1 ở phía Tây và Tây Bắc đảo nền đáy là đá gốc cứng, có nhiều các tảng

và cuội, quần xã san hô giữ vai trò chủ đạo Vào những năm 1995 -1997, độ phủ san

hô ở khu vực này từ 34 - 94%, động vật đáy là 25 loài (ngoài san hô) Mật độ tế bào thực vật phù du 2.106 - 1,6×107 tb/m3, động vật phù du dưới 50 - 350mg/m3 và rong

Trang 23

biển 11 loài Tuy nhiên, trên nền đáy cứng, độ phủ san hô ở mức tạo rạn tốt chỉ khoảng 9,2ha [4]

Dạng 2, phân bố ở phía Đông đảo, nền đáy là đá tương đối bằng phẳng, độ dốc thoải từ vùng triểu đến độ sâu 20m nước Đá gốc lộ nhiều hơn, không thấy các loại đá tảng và cuội San hô có 16 loài trên tổng 104 loài Độ phủ san hô thấp,

khoảng 2,6% Các loài thân mềm điển hình như Haliotis, diversicolor, Trochus maculates, Pteria martenssi, Pteria penguin…Thực vật phù du có số lượng 5.106 - 3.107 tb/m3, động vật phù du dưới 200mg đến 1500mg/m3, rong biển khoảng 18 loài [4]

Dạng 3 ở phía Nam đảo là dạng chuyển tiếp giữa dạng 1 và dạng 2 Cấu trúc nền đáy là đá cứng, địa hình thoải hơn hai dạng trên, Quần xã san hô vẫn xuất hiện nhưng không còn nhiều như dạng 1 và cũng không quá ít như dạng 2 Số loài san hô

là 27 loài, độ phủ là 6,7% Sinh vật đáy có 25 loài, chiếm ưu thế là quần thể ốc đụn

(Trochus maculates) Thực vật phù du số lượng tế bào là 5×105 – 3,5×106; động vật phù du đạt trên 180mg/m3 [4]

1.4 Nguồn lợi cá rạn san hô ở vùng biển, đảo Bạch Long Vỹ

(Nemipteridae) chiếm tỷ lệ cao (Bùi Đình Chung, 1995)

Theo kết quả nghiên cứu về đa dạng sinh học của cá rạn san hô và một nhóm loài sinh vật khác sống trên rạn thuộc đề tài “Cá rạn – dốc thềm lục địa” năm 2005-

2007 đã chỉ ra tổng số loài cá rạn xung quanh Bạch Long Vỹ là 61 loài thuộc 35 giống và 17 họ Trong đó, các họ có thành phần loài đa dạng là họ cá bàng chài

(Labridae) có 15 loài (chiếm 24,59%), họ cá thia (Pomacentridae) có 9 loài (chiếm 14,75%), họ cá bướm (Chaetodontidae) có 7 loài (chiếm 11,48%), còn lại 14 họ có

số lượng loài rất ít khoảng 1- 4 loài trong mỗi họ (Hình 1)

Trang 24

Thành phần loài cá rạn biến động theo mùa: mùa gió Đông Bắc là 51 loài thuộc 33 giống và 15 họ; mùa Tây Nam là 31 loài thuộc19 giống và 10 họ.Trữ lượng cá rạn san hô mùa gió Đông Bắc là 43,6 tấn, mùa gió Tây Nam là 505,9 tấn với khả năng khai thác là 235,9 tấn (Đỗ Văn Khương, 2008)

Hình 1 Tỷ lệ (%) số lƣợng loài của các họ cá rạn quanh đảo Bạch Long Vỹ

Nguồn: Đỗ Văn Khương, 2010

Theo kết quả nghiên cứu của các đề tài, dự án đã thực hiện trong những năm gần đây ở khu vực BLV là ngư trường tốt nhất ngoài khơi Vịnh Bắc Bộ, khu hệ cá biển quanh đảo có sự phong phú và đa dạng về cấp loài (393 loài), cấp giống (229 giống) và ở cấp họ (105 họ) và 49 loài có giá trị kinh tế cao Tuy nhiên, đối với nhóm cá rạn san hô vùng biển BLV thì các số liệu công bố còn khá khiêm tốn do những khó khăn tiếp cận của một đảo xa bờ với các điều kiện tài chính và nhân lực khác Các kết quả khảo sát năm 2007, 2009, 2013 dựa trên mẫu vật và ảnh chụp dưới nước trên các rạn san hô quanh đảo đã phát hiện được 58 loài cá rạn san hô trong 15 họ, thuộc 34 giống [17]

* Phân bố về số lượng loài

Trong 61 loài cá rạn san hô xác định ở vùng biển BLV thì xác định được 28 loài có giá trị kinh tế, 24 loài cá cảnh và 12 loài cá rạn điển hình cho hệ sinh thái rạn san hô biển nhiệt đới Khu vực phía Bắc đảo, hệ sinh thái rạn san hô còn tốt (nhiều loài san hô cứng, độ phủ san hô cứng cao) do nằm xa khu vực âu tàu Do vậy, cá rạn san hô có số lượng nhiều nhất 38 loài, khu vực phía Tây là 31 loài tiếp theo là khu vực phía Đông là 26 loài và khu vực phía Nam là 19 loài Chỉ số ĐDSH loài (H’)

1.64 1.64

11.48

1.64 4.92 1.64

24.59 4.92

1.64 6.56 1.64 4.92 3.28

14.75

3.28

Caesionidae Carangidae Chaetodontidae Gobiidae Holocentridae Kyphosidae Labridae Lutjanidae Mullidae Nemipteridae Ostraciidae Pempheridae Pinguipedidae Pomacentridae Scaridae Serranidae Siganidae

Trang 25

của quần xã cá rạn san hô giữa các khu vực nghiên cứu rất khác nhau, giá trị H’ trung bình ở các vùng rạn dao động từ 0,69 đến 1,25 và toàn vùng biển Bạch Long

Vỹ là 1,27 (Đỗ Văn Khương, 2010)

Bảng 2 Số lƣợng loài cá rạn và chỉ số đa dạng (H’) vùng biển Bạch Long Vỹ

Khu vực phân bố Số lƣợng giống Số lƣợng loài Chỉ số đa dạng(H’)

Nguồn: Đỗ Văn Khương, 2010

So sánh tính chất đa dạng về thành phần loài của quần xã cá rạn san hô vùng biển quanh đảo Bạch Long Vỹ với các vùng rạn san hô khác ở Việt Nam thì đây là khu vực chỉ đứng sau Hạ Long (Quảng Ninh|)

Bảng 3 So sánh thành phần họ, giống, loài cá rạn san hô ở một số rạn san hô

vùng biển ven bờ Việt Nam

Đa phần các loài cá thuộc nhóm cá có kích thước nhỏ Kết quả thống kê chỉ

ra 45,13% tổng số cá thể quan sát được có chiều dài nhỏ hơn 10cm; 46,87% cá thể

Trang 26

có chiều dài từ 10 - 20cm; 6,7% cá thể có chiều dài từ 21- 30cm và 1,3% cá thể có

chiều dài trên 30cm (Đỗ Văn Khương, 2010)

Bảng 4 Mật độ cá rạn theo các nhóm kích thước vùng biển Bạch Long Vỹ

Nguồn: Đỗ Văn Khương, 2010

Kết quả nghiên cứu năm 2010 cho thấy có sự chênh lệch không đáng kể về mật độ giữa 2 mùa Mùa gió Tây Nam, mật độ cá rạn trung bình ở 4 phía cuả đảo là

153 - 437 cá thể/400m2, mùa gió Đông Bắc thì mật độ trung bình ở các phía đảo là

98 - 408 cá thể/400m2

Mật độ phân bố cá rạn san hô phân bố quanh đảo Bạch Long Vỹ khá cao, mật độ trung bình cho toàn đảo là 308 cá thể/400m2. Mật độ biến động ở 4 phía của đảo trong 400m2 là khá lớn từ 128 - 416 cá thể/400m2 Nhận thấy, mật độ cá rạn thường phân bố cao ở phía Bắc và Tây của đảo trong khi đó ở phía Đông và phía Nam mật độ cá rạn thấp hơn (Đỗ Văn Khương, 2010)

Trang 27

Hình 2 Mật độ cá rạn (cá thể/400m 2 ) theo mùa tại các khu vực nghiên cứu quanh đảo Bạch Long Vỹ

Nguồn: Đỗ Văn Khương, 2010

Trong chuyến khảo sát năm 2013, thành phần loài cá ghi nhận tại hiện trường phần lớn tập trung vào nhóm cá kích cỡ nhỏ có chiều dài toàn thần (TL) ≤ 10cm Số lượng cá thể trong nhóm này chiếm 87,1% tổng số cá thể xuất hiện trên mỗi mặt cắt (bảng 5) Các họ cá nhóm cá này phải kể đến họ cá Thia

(Pomacentridae), họ cá bướm (Chaetodontidae) và cá bột của một vài họ kinh tế khác như họ cá Sao (Haemulidae), họ cá Mú (Serranidae) và họ cá Hồng (Lutjanidae) Nhóm cá có kích cỡ > 20cm thì hầu như ít gặp mà chỉ thấy chúng tập

trung ở các đàn nhỏ với số lượng 5 -7 con kiếm ăn trong các khe rãnh do san hô tạo

ra Riêng nhóm cá có kích thước > 30cm thì rất hiếm gặp, trong suốt chuyến khảo

sát chỉ phát hiện 3 cá thể thuộc loài Plectropomus leopardus ở khu vực sườn dốc

153

408 416 357

Khu vực nghiên cứu Mùa Tây nam Mùa Đông bắc Trung bình

Trang 28

Bảng 5 Mật độ cá thể của quần xã cá rạn san hô ở các nhóm kích thước

Nguyễn Văn Quân, 2013

* Phân bố về khối lượng

Khối lượng trung bình cá rạn cho toàn đảo là 12,68 kg/400 m2, cao nhất ở khu vực phía Bắc đảo (15,82 kg/400m2) nơi có chất lượng rạn san hô tốt nhất và thấp nhất ở khu vực phía Đông đảo (8,26 kg/400m2) nơi có chất lượng rạn kém So sánh với kết quả nghiên cứu của Đỗ Văn Khương (2008) về nguồn lợi cá rạn san hô

ở đảo BLV cho thấy khối lượng trung bình cá rạn quanh đảo ước tính trên 400m2rạn san hô năm 2010 có xu hướng giảm nhẹ (trung bình từ năm 2005-2007 là 14,95 kg/400m2)

Có sự biến động lớn khối lượng cá rạn theo 2 mùa gió trong năm, ước tính vùng biển Bạch Long Vĩ mùa gió Tây Nam khối lượng trung bình cá rạn biến động

từ 8,42-17,21 kg/400m2, trong khi đó, ở mùa gió Đông Bắc biến động khối lượng trung bình cá rạn từ 8,06-14,86 kg/400m2 (Hình 3)

Trang 29

Hình 3 Khối lƣợng cá rạn (kg/400m 2 ) theo mùa

tại vùng biển Bạch Long Vỹ

Nguồn: Đỗ Văn Khương, 2010

1.5 Hiện trạng khai thác nguồn lợi cá rạn san hô ở Bạch Long Vỹ

Kết quả nghiễn cứu của Đỗ Văn Khương về nguồn lợi cá rạn ở vùng biển Bạch Long Vỹ năm 2005-2007 đã cho thấy trữ lượng cá rạn, sinh khối cá rạn ở Bạch Long Vỹ là thấp hơn so với các đảo (Lý Sơn, Phú Qúy, Côn Đảo…) nhưng cao hơn nhiều so với đảo (Cô Tô, Cù Lao Chàm, Phú Quốc) (bảng 6)

Ước tính tổng trữ lượng cá rạn san hô năm 2010 khoảng 461 tấn với khả năng khai thác bền vững là 230 tấn Khu vực phía Tây đảo có trữ lượng thấp nhất (76,8 tấn), tiếp theo là phía Đông (93,7 tấn), phía Nam (122,5 tấn) và cao nhất là phía Bắc (168 tấn) Như vậy, trữ lượng và sinh khối cá rạn năm 2010 có xu hướng giảm nhẹ so với năm 2008 (Trữ lượng trung bình là 472 tấn và khả năng khai thác

là khoảng 236 tấn) (Đỗ Văn Khương, 2010)

Khối lượng (kg/400m2)

8.06

13.19

10.34 8.26

17.21

11.07 14.22

Khu vực nghiên cứu

Trang 30

Bảng 6 Tổng trữ lƣợng cá rạn san hô ở vùng biển Bạch Long Vỹ và một số

vùng biển khác ỏ Việt Nam

Khu vực

nghiên cứu

Tổng diện tích rạn (ha)

Trữ lƣợng (tấn) Trữ lƣợng

trung bình (tấn)

Mùa gió Đông Bắc

Mùa gió Tây Nam

Nguồn: Đỗ Văn Khương, 2008

* Hiện trạng cơ cấu nghề khai thác thủy sản

Tổng sản lượng khai thác cá rạn ở Bạch Long Vỹ bằng nghề câu và nghề lặn

năm 2006 - 2007 ước tính đạt khoảng 256 tấn/năm Trong đó, sản lượng trung bình

của nghề câu đạt khoảng 121 tấn/năm và nghề lặn đạt trên 135 tấn/năm Mặt khác

sản lượng theo nghề năm 2010 là 21 tấn/năm trong đó câu vàng tầng đáy, câu tay

đạt 19 tấn/năm, nghề lặn sản lượng 2 tấn/năm Như vậy, sản lượng khai thác hàng năm

tính riêng cho nghề câu và nghề lặn đã vượt quá ngưỡng khai thác tối đa cho phép

Nhiều vùng rạn san hô khai thác bằng xyanua và mìn đã gây ảnh hưởng trực

tiếp hoặc gián tiếp đến sự suy giảm nguồn lợi cá, quần xã sinh vật và môi trường

sống trong hệ sinh thái rạn san hô

* Hiện trạng công nghệ khai thác hải sản quanh hệ sinh thái rạn san hô:

Hiện nay, cộng đồng ngư dân ven biển sử dụng các phương pháp khai thác hải sản

quanh hệ sinh thái rạn san hô hay những ngư cụ khai thác cá rạn khá phong phú, đa

Trang 31

dạng Theo thống kê cơ cấu nghề khai thác thủy sản của UBND huyện đảo Bạch Long Vỹ năm 2010 thì ở đây loại nghề phổ biến là lưới rê, câu và nghề lặn Trong

đó, nghề lặn có (10 chiếc) chiếm 31,25% tổng số phương tiện, nghề câu và các nghề khác (đăng chắn, lồng bẫy, lưới đăng, mành) (16 chiếc) chiếm 25% và nghề lưới rê (6 chiếc) chiếm khoảng 19% tổng số tàu thuyển [14]

Thống kê cho thấy tàu thuyền tham gia khai thác quanh rạn san hô ở Bạch Long Vỹ chủ yếu là tàu thuyền nhỏ, công suất thấp Tàu thuyền có công suất nhỏ hơn 20cv chiểm khoảng 59% tổng số lượng tàu thuyền, công suất tàu ≥20 - 50cv chiếm tỷ lệ 25% Loại tàu có công suất ≥50 - 90cv chiếm 16%, không có loại tàu có công suất lớn ≥90cv (bảng 6)

Vùng biển nghiên cứu khai thác chính bằng 3 loại ghề đó là nghề câu vàng tầng đáy, nghề câu tay và nghề lặn, cụ thể:

- Nghề câu (câu tay, câu vàng tầng đáy): Các tàu câu loại công suất nhỏ hơn 20cv hoặc lớn hơn 90cv không có mà chủ yếu là loại tàu có công suất ≥20 - 50cv có

5 chiếc chiếm 62,5% và loại ≥50 - 90cv có 3 chiếc chiếm 37,5%

- Nghề câu vàng tầng đáy: có 2 chiếc tàu khảo sát và các tàu thường trang bị

từ 1000 -1500 lưỡi câu, chiều dài trung bình vàng câu là 20.000 - 30.000m

- Nghề lặn: Ở Bạch Long Vỹ tàu làm nghề lặn có 10 chiếc Loại tàu có công suất nhỏ hơn 20cv chiếm tỷ lệ cao nhất là 5 chiếc, chiếm 50% tổng số tàu thuyền Loại tàu có công suất ≥ 20 - 50cv và ≥50 - 90cv chiếm tỷ lệ lần lượt là 20% và 30% Đặc biệt, số lượng tàu thuyền ở Quảng Ngãi đến đây đánh bắt bằng nghề lặn khá nhiều nhưng các cơ quan quản lý nghề cá ở đảo không nắm bắt được số lượng tàu của các địa phương khác vào đánh bắt xung quanh đảo là bao nhiêu

- Nghề lưới rê đáy: Theo số liệu thu thập được ở các cơ quan quản lý nghề cá huyện Bạch Long Vỹ thì số lượng tàu lưới rê đáy là các loại tàu nhỏ, hoạt động ven đảo có công suất nhỏ hơn 20cv là 6 chiếc

Trang 32

Ngoài các nghề như: câu vàng, câu tay tầng đáy, lặn, lưới rê đáy có số lượng tàu nhiều hoạt động trong vùng hệ sinh thái quanh các đảo thì còn có một số nghề khác như: nghề lưới kéo, nghề lồng bẫy Tuy nhiên, số lượng các tàu này tham gia khai thác không nhiều (bảng 7)

Bảng 7 Cơ cấu nghề khai thác và cơ cấu tàu thuyền ở Bạch Long Vỹ năm 2010

Đơn vị tính (chiếc)

Công suất

Loại nghề

Lưới kéo

Lưới vây

Lưới

rê Câu

Nghề lặn

Nghề khác

Trang 33

CHƯƠNG II: TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Phạm vi nghiên cứu

Vùng biển nghiên cứu được giới hạn trong tọa độ: 19,0oN– 21,0o N và

107,0oE - 108o5'E Là vùng biển có vị trị chiến lược quan trọng, giàu tiềm năng phát triển kinh tế biển cũng như an ninh quốc phòng (Hình 4)

Hình 4 Sơ đồ vị trí nghiên cứu tại Bạch Long Vỹ

Trang 34

2.2 Tài liệu và thời gian nghiên cứu

2.2.1 Nguồn số liệu

Số liệu sử dụng cho việc nghiên cứu mối quan hệ của các yếu tố môi trường

và nguồn lợi cá rạn trong vùng biển nghiên cứu của luận văn bao gồm các nguồn số liệu quốc tế và nguồn số liệu trong nước hiện đang được lưu trữ tại Viện Nghiên

cứu hải sản

a) Dữ liệu khí tượng (nhiệt độ, độ ẩm, khí áp và trường gió) sử dụng để phân tích và đánh giá trong luận văn được tôi thu thập hàng ngày ở các trạm đảo khí tượng trên website (https://www.wunderground.com/history/) từ năm 2006-2015 cùng với 8 trạm đảo khác (Hoàng Sa, Phú Quý, Song Tử Tây, Côn Sơn, Phú Quốc, Huyền Trân, Trường Sa, Thổ Chu) Đây là số liệu thực đo được quan trắc theo các giờ chuẩn (obs) trong ngày: 1 giờ, 4 giờ, 7 giờ và 10 giờ Bộ số liệu này được cập nhật vào cơ sở dữ liệu hải dương học lưu trữ tại Viện Nghiên cứu hải sản

b) Dữ liệu điều kiện môi trường (nhiệt độ tầng mặt, độ muối nước biển, SVPD, dòng chảy ) sử dụng từ nguồn mô hình thuộc dự án Movimar do công hòa Pháp tài trợ

c) Dữ liệu về nguồn lợi cá bao gồm: năng suất khai thác (CPUE kg/h) được thu thập qua các chuyến điều tra khảo sát của Dự án “Điều tra liên hiệp Việt-Trung đánh giá nguồn lợi hải sản trong vịnh Bắc Bộ” Một năm có 4 chuyến khảo sát vào các tháng 1, tháng 4, tháng 7 và tháng 10 Đồng thời được bổ sung thêm nguồn số liệu từ dự án I9 “Điều tra tổng thể hiện trạng biến động nguồn lợi hải sản biển Việt Nam” trong 3 năm (2012, 2013, 2014) với tổng là 8220 số liệu

Liên quan đến số liệu đầu vào gồm có năng suất khai thác và một số yếu tố môi trường kèm theo và tiến hành phép phân tích thống kê, nhu cầu về tính đồng thời, đồng bộ và tính thống nhất về mặt phương pháp, tôi đã đồng bộ số liệu cá rạn với số liệu môi trường trung bình tháng (mô hình) ứng với từng giai đoạn có số liệu năng suất đánh bắt được quy theo khu ô trong thời gian từ năm 2006 – 2015 để tính tương quan

Trang 35

2.2.2 Đồng bộ dữ liệu

Dữ liệu về năng suất khai thác cá rạn san hô và các yếu tố môi trường biển được phân tích, tính toán trung bình nhiều năm cho từng tháng và được đồng bộ theo ô lưới 0,250×0,250 tạo lên một cơ sở dữ liệu chung có dạng kinh độ, vĩ độ

2.3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính là cá rạn san hô ở vùng biển ven đảo Bạch Long

Vỹ

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp kế thừa tài liệu

Trong quá trình làm luận văn có tham khảo sách, báo, tạp chí, các công trình nghiên cứu khoa học được công bố

2.4.2 Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp

Thu thập các thông tin về hiện trạng khai thác nguồn lợi hải sản quanh hệ sinh thái rạn san hô như: năng suất, tàu thuyền, công cụ, nhóm nghề khai thác và đối tượng khai thác từ các báo cáo chuyên đề của dự án Việt Trung, chi cục khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản Hải Phòng

2.4.3 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp

Thu thập dữ liệu lịch sử nhiều năm các yếu tố khí tượng ở đài trạm từ trang

web (http://www.wunderground.com), số liệu hải dương và số liệu cá rạn san hô

từ dự án Việt - Trung

2.4.4 Phương pháp thu mẫu (mô tả)

Điều tra khảo sát thực địa theo “Quy định kỹ thuật điều tra, khảo sát hải văn, hóa học và môi trường vùng biển ven bờ và hải đảo” ban hành theo Thông tư số 34/2010/TT-BTNMT ngày 14/12/2010 cho vùng có độ sâu dưới 20m nước và “Quy định kỹ thuật khảo sát điều tra tổng hợp tài nguyên và môi trường biển bằng tàu biển” ban hành theo Thông tư 22/2010/TT-BTNMT ngày 26/10/2010 cho vùng có

độ sâu trên 20m nước của Bộ Tài nguyên và Môi trường

Các trạm nghiên cứu được xác định bởi nhóm chuyên gia nguồn lợi thủy sản Việt Nam - Trung Quốc Các trạm nghiên cứu được thiết kế theo các tuyến mặt cắt

Trang 36

song song với đường vĩ tuyến và khoảng cách giữa 2 mặt cắt là 15 hải lý Trên cùng mặt cắt, trạm điều tra được thiết kế so le nhau, với khoảng cách giữa các trạm là 30 hải lý Tổng số trạm điều tra nghiên cứu sử dụng trong điều tra nguồn lợi hải sản của tàu BV9262TS là 35 trạm

Ngư cụ sử dụng trong chuyến điều tra là lưới kéo đáy và ván đồng bộ của tàu BV9262TS Lưới kéo đáy được chuẩn bị 2 bộ, 1 bộ sử dụng thường xuyên và 1 bộ

dự phòng Thống số kỹ thuật chính của lưới kéo đáy gồm:

- Chiều dài giềng phao: 26,48m;

- Chiều dài giềng chì: 33,52m;

- Kích thước mắt lưới ở đụt: 2a = 30,0 mm;

- Ván lưới: Ván sắt hình chữ nhật

Hình 5: Bản vẽ kỹ thuật lưới kéo đáy sử dụng trong chuyến điều tra

* Thu mẫu ngư trường và sinh học

Trang 37

Tại mỗi trạm nghiên cứu, tiến hành đánh 1 mẻ lưới Thời gian kéo lưới trung bình là 1 giờ Tùy thuộc vào tình hình thực tế mà thời gian kéo lưới có thể nhiều hơn hoặc ít hơn 1 giờ, tuy nhiên thời gian kéo lưới tối thiểu là 45 phút

Toàn bộ sản lượng của mẻ lưới được phân loại đến loài (hoặc nhóm loài) Số lượng cá thể và khối lượng của từng loài/nhóm loài được cân, đếm và ghi chép Trong trường hợp sản lượng mẻ lớn, việc lấy mẫu phụ để phân tích thành phần loài được tiến hành Việc lấy mẫu phụ được tuân thủ theo nguyên tắc lấy mẫu ngẫu nhiên, đảm bảo đại diện cho toàn bộ sản lượng

Phân tích xác định loài dựa vào các tài liệu định loại của Việt Nam, các nước lân cận và tài liệu của FAO Nhóm cá định loại theo tài liệu của Nguyễn Hữu Phụng

et al (1994-1999, 2001), Nguyễn Khắc Hường (2001), Compagno (1984), Carpenter và Niem (1999; 2000), Eschmeyer (1998) và Nakabo T (2002) Động vật thân mềm một mảnh vỏ và hai mảnh vỏ được phân loại theo Takashi Okutani (2000) và Carpenter và Niem (1998) Động vật giáp xác phân loại theo tài liệu của Phạm Ngọc Đẳng và Trương Vũ Hải (1981)

Đối với các loài kinh tế quan trọng, các mẫu tần suất chiều dài và mẫu sinh học được phân tích Mẫu tần suất chiều dài được đo theo chiều dài đến chẽ vây đuôi hoặc chiều dài toàn thân (tùy thuộc vào từng loài cụ thể) Mẫu được đo theo nguyên tắc “nearest unit below” Mẫu phân tích sinh học các loài được phân tích bao gồm các thông số: chiều dài, khối lượng, độ chín muồi tuyến sinh dục, độ no dạ dày của từng cá thể (theo thang bậc của Nikolski, 1963)

Ngoài công việc phân tích trực tiếp trên biển, theo yêu cầu của công tác nghiên cứu, nhóm cán bộ khoa học đã tiến hành thu mẫu, bảo quản và phân tích sinh học tại phòng thí nghiệm

* Thu mẫu môi trường

Tại mỗi trạm nghiên cứu, các yếu tố khí tượng thủy văn: gió (hướng, cấp độ), sóng (hướng, cấp độ) được ghi chép

Thu mẫu nhiệt độ, độ mặn tại mỗi trạm bằng hệ thống STD, đo dòng chảy các tầng nước tại mỗi trạm bằng máy đo dòng chảy Compax

Trang 38

2.4.5 Phương pháp phân tích thống kê và xử lý số liệu

- Phương pháp phân tích tương quan nhiều biến (đa biến) là công cụ hiệu quả được sử dụng để đánh giá mối tương quan giữa cá rạn với các yếu môi trường, việc đầu tiên là tiến hành lựa chọn các yếu tố hay các biến để tiến hành phân tích:

Đối với các yếu tố môi trường hay còn gọi là biến độc lập lựa chọn các yếu

tố như: nhiệt độ tầng mặt, đáy (oC), độ muối tầng mặt, tầng đáy (‰), độ sâu (m), khối lượng ẩm động vật phù du (mg/m3), số lượng thực vật phù du (tế bào/m3) (Bảng 9) Như vậy, có 16 biến độc lập Đối với biến phụ thuộc chọn: Năng suất đánh bắt chung (kg/h) ở từng trạm

Phương trình tương quan có dạng:

y = 𝑎0 ai

𝑚

𝑖=1

xi

Trong đó: y: biến phụ thuộc – giá trị CPUE chính là năng suất khai thác cá rạn

𝑎0, 𝑎𝑖: các hệ số hồi quy được tìm theo phương pháp bình phương nhỏ nhất

m: số lượng các biến độc lập

𝑥𝑖: các biến độc lập, bao gồm 16 yếu tố môi trường

Hệ số tương quan R được tính theo công thức:

[5]

Ý nghĩa của hệ số tương quan R: đo lường mức độ tương quan giữa 2 biến liên tục

±0,01 ≤ R≤ ±0,1: tương quan quá thấp; ±0,2 ≤ R≤ ±0,3: tương quan thấp

±0,4 ≤ R≤ ±0,5: tương quan trung bình; ±0,6 ≤ R≤ ±0,7 : tương quan cao

±0,8 ≤ R≤ ±1,0 : tương quan rất cao

Ngày đăng: 01/10/2018, 00:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm