1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá chất lượng tăng trưởng kinh tế tỉnh thái bình giai đoạn 2010 2015

113 167 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 1,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với các nước đang phát triển thì tăng trưởng kinh tế lại càng có ý nghĩa cấp thiết hơn vì tăng trưởng kinh tế là điều kiện số một để gia nhập nhóm các nước phát triển, tăng trưởng ki

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

PHẠM MẠNH HÙNG ANH

ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

TỈNH THÁI BÌNH GIAI ĐOẠN 2010-2015

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH

Hà Nội - 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

PHẠM MẠNH HÙNG ANH

ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

TỈNH THÁI BÌNH GIAI ĐOẠN 2010-2015

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Nội dung luận văn có tham khảo và sử dụng các tài liệu, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí và các báo cáo được chú thích đầy đủ trong danh mục tài liệu tham khảo của luận văn

Tác giả

Phạm Mạnh Hùng Anh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn đến quý thầy cô trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, đặc biệt là những thầy cô đã tận tình dạy bảo, hướng dẫn, giúp đỡ tôi suốt thời gian học tập tại trường

Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến PGS TS Vũ Đức Thanh đã dành nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu và giúp tôi hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè và người thân đã giúp

đỡ, động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Tác giả

Phạm Mạnh Hùng Anh

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU vii

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ viii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 5

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀCƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 5

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về chất lượng tăng trưởng kinh tế và những vấn đề liên quan 5

1.1.1 Một số nghiên cứu tiêu biểu về chất lượng tăng trưởng kinh tế 5

1.1.2 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu 11

1.2 Cơ sở lý luận về chất lượng tăng trưởng kinh tế 12

1.2.1 Một số khái niêm cơ bản 12

1.2.2 Nội dung cốt lõi của chất lượng tăng trưởng kinh tế 16

1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tăng trưởng kinh tế 18

1.2.4 Các tiêu chí đánh giá chất lượng tăng trưởng kinh tế 25

Chương 2 38

TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38

2.1 Nguồn tài liệu và thu thập, xử lý tài liệu 38

2.1.1 Nguồn tài liệu 38

2.1.2 Thu thập và xử lý tài liệu 38

2.2 Phương pháp nghiên cứu 39

2.2.1 Phương pháp phân tích - tổng hợp 39

2.2.2 Phương pháp so sánh 39

2.2.3 Phương pháp logic - lịch sử 40

2.2.4 Phương pháp thống kê mô tả 41

2.3 Khung lý thuyết và hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu đánh giá chất lượng tăng trưởng kinh tế cấp tỉnh 41

2.3.1 Khung lý thuyết nghiên cứu 41

Trang 6

2.3.2 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 42

Chương 3 45

THỰC TRẠNG VỀ CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TỈNH THÁI BÌNH GIAI ĐOẠN 2010-2015 45

3.1 Khái quát về tỉnh Thái Bình 45

3.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của tỉnh Thái Bình 45

3.1.2 Các yếu tố nguồn lực để tăng trưởng kinh tế của tỉnh Thái Bình 46

3.2 Thực trạng chất lượng tăng trưởng kinh tế tỉnh Thái Bình giai đoạn 2010-2015 53

3.2.1 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế 53

3.2.2 Thực trạng các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế theo chiều sâu 57

3.2.3 Các chỉ tiêu phản ánh tăng trưởng kinh tế liên quan đến năng lực cạnh tranh của nền kinh tế 66

3.2.4 Các chỉ tiêu phản ánh tăng trưởng kinh tế liên quan đến phúc lợi xã hội 69

3.2.5 Tăng trưởng kinh tế và an sinh xã hội 73

3.2.6 Các chỉ tiêu phản ánh tăng trưởng kinh tế liên quan đến môi trường và tài nguyên 75

3.3 Đánh giá chung về chất lượng tăng trưởng kinh tế của tỉnh Thái Bình giai đoạn 2010-2015 và một số vấn đề đặt ra 77

3.3.1 Những thành công chủ yếu của Thái Bình trong việc đảm bảo chất lượng tăng trưởng kinh tế 78

3.3.2 Những hạn chế, nguyên nhân và một số vấn đề đặt ra 79

Chương 4 85

ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢIPHÁPNÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA TỈNH THÁI BÌNH TRONG THỜI GIAN TỚI 85

4.1 Định hướng, mục tiêu nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế tỉnh Thái Bình giai đoạn 2016-2020 và những năm tới 85

4.1.1 Bối cảnh hiện nay và định hướng nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế của tỉnh Thái Bình trong giai đoạn 2016-2020 và những năm tới 85

4.1.2 Mục tiêu nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế của tỉnh Thái Bình giai đoạn 2016-2020 86

4.2 Một số giải pháp nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế của tỉnh Thái Bình giai đoạn 2016-2020 và những năm tới 88

4.2.1 Nhóm giải pháp về đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế 88

4.2.2 Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư 89

Trang 7

4.2.3 Tập trung giải quyết các vấn đề môi trường và an sinh xã hội 95 4.2.4 Tăng cường cải thiện môi trường kinh doanh và đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 97

KẾT LUẬN 100 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 101

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

1 GDP Tổng sản phẩm nội địa

2 GRDP Tổng sản phẩm trên địa bàn

3 ILO Tổ chức lao động Quốc tế

4 OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế

5 WB Ngân hàng thế giới

6 KCN Khu công nghiệp

7 GPXK Giấy phép xuất khẩu

8 NSNN Ngân sách Nhà nước

9 CNH-HĐH Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa

10 TTKT Tăng trưởng kinh tế

11 KT Kinh tế

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU

Bảng 3.1: Dân số trung bình phân theo giới tính và phân theo thành thị, nông thôn 46

Bảng 3.2: Dân số trong độ tuổi lao động giai đoạn 2011-2015 47

Bảng 3.3: Số dự án FDI được cấp phép và thực hiện từ 2011 – 2015 48

Bảng 3.4: Tỷ trọng các ngành trong GRDP của tỉnh Thái Bình giai đoạn 2010 – 2015 54

Bảng 3.5: Cơ cấu lao động của tỉnh Thái Bình phân theo nhóm ngành kinh tế 56

Bảng 3.6: Cơ cấu thành phần kinh tế trong GRDP của tỉnh Thái Bình giai đoạn 2010-2015 57

Bảng 3.7: Năng suất lao động xã hội của tỉnh Thái Bình giai đoạn 2010-2015 58

Bảng 3.8: Năng suất lao động một số địa phương trong cả nước năm 2015 59

Bảng 3.9: Năng suất lao động của các ngành kinh tế Thái Bình giai đoạn 2010-2015 59 Bảng 3.10: Cơ cấu vốn đầu tư phân theo khu vực kinh tế của Thái Bình giai đoạn 2011-2015 60

Bảng 3.11: Số doanh nghiệp đang hoạt động phân theo loại hình doanh nghiệp 62

Bảng 3.12: Đầu tư trực tiếp của nước ngoài 63

Bảng 3.13: Đóng góp của TFP vào tăng trưởng của một số nước, 2005 – 2010 65

Bảng 3.14:Thái Bình trong bảng xếp hạng năng lực cạnh tranh cấp tỉnh giai đoạn 2011 – 2015 68

Bảng 3.15: Tỷ lệ thất nghiệp giai đoạn 2010 – 2015 70

Bảng 3.16: Tỷ lệ thiếu việc làm giai đoạn 2010 – 2015 71

Bảng 3.17: Thống kế số cơ sở khám chữa bệnh tại Thái Bình giai đoạn 2010 - 2015 74 Bảng 3.18: Chỉ tiêu thực tế tiêu hao năng lượng của một số ngành công nghiệp ở Thái Bình giai đoạn 2010 – 2015 77

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Hình 3.1: Tăng trưởng của các ngành kinh tế tỉnh Thái Bình giai đoạn 2010 – 2015 55 Hình 3.2: Mức độ đóng góp của vốn vào các khu vực kinh tế 61

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tăng trưởng và phát triển kinh tế luôn là vấn đề thu hút sự quan tâm ở mọi quốc gia trên thế giới Với hầu hết các nước, tăng trưởng kinh tế luôn là điều kiện tiên quyết để phát triển kinh tế, nâng cao hơn nữa đời sống người dân, giảm thất nghiệp và thực hiện nhiều mục tiêu vĩ mô khác Đối với các nước đang phát triển thì tăng trưởng kinh tế lại càng có ý nghĩa cấp thiết hơn vì tăng trưởng kinh tế là điều kiện số một để gia nhập nhóm các nước phát triển, tăng trưởng kinh tế là nhân tố quyết định để đưa đất nước thoát khỏi đói nghèo, lạc hậu, là điều kiện để phát triển kinh tế, tham gia hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, thực hiện công bằng xã hội, nâng cao đời sống người dân…

Ở Việt Nam, tăng trưởng và phát triển kinh tế luôn được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm trong các Cương lĩnh và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.Tuy nhiên, trung tâm của quá trình phát triển không chỉ là tăng trưởng cao mà chất lượng tăng trưởng mới là vấn đề quan trọng và có ý nghĩa quyết định Mối quan hệ giữa tốc độ và chất lượng tăng trưởng đang ngày càng được thể hiện rõ, có lúc khắc chế nhau, lại có giai đoạn hỗ trợ, bổ sung cho nhau Tuy nhiên, xét đến cùng, mục tiêu đúng đắn về tăng trưởng kinh tế của một quốc gia đang phát triển như Việt Nam là tốc độ tăng trưởng kinh tế phải cao, ổn định

và bền vững mà điều này chỉ có được khi tăng trưởng có chất lượng tốt

Thái Bình là một tỉnh thuộc đồng bằng Bắc Bộ Xét về mặt tăng trưởng kinh tế, Thái Bình là tỉnh trung bình khá, với tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm trong giai đoạn 2011 - 2015 là 8,4%, cao hơn con số trung bình của cả nước Để duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế ấn tượng như vậy, Thái Bình phải luôn đặt chất lượng tăng trưởng kinh tế trong mối quan tâm hàng đầu Trong năm 2015, cùng với các mốc sự kiện trọng đại của cả nước, Thái Bình cũng kỷ niệm 125 năm ngày thành lập, đánh dấu những bước ngoặt và ghi nhận những nỗ lực của tỉnh về cả kinh tế, chính trị và xã hội

Trang 12

Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế của tỉnh Thái Bình trong giai đoạn

2010-2015 chưa thực sự ổn định và vững chắc Tăng trưởng kinh tế của tỉnh vẫn chủ yếu là theo chiều rộng, chất lượng tăng trưởng của các ngành kinh tế của Thái Bình đang gặp phải nhiều vấn đề đáng quan tâm, với xuất phát điểm là tỉnh nông nghiệp thuần túy, Thái Bình vẫn là tỉnh có mức thu nhập thấp, các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực xây dựng, công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ chưa có định hướng phát triển mạnh, các sản phẩm nông sản chưa được quan tâm chú trọng, chưa thu hút được lao động có trình độ cao trong xã hội cùng với cơ sở hạ tầng chưa đồng nhất là các yếu tố có tác động chưa tích cực đến chất lượng tăng trưởng của tỉnh Thái Bình Mặt khác, trình độ công nghệ của các doanh nghiệp chưa cao, sản phẩm chế biến sâu chưa nhiều, tỷ lệ lao động qua đào tạo thấp, các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất vẫn chưa thực sự được sử dụng hiệu quả, khai thác khoáng sản chưa hợp lý, cảnh quan thiên nhiên và môi trường sống của con người đang ngày càng bị hủy hoại Nếu các vấn đề này không được giải quyết sớm thì trong một tương lai không xa, nó sẽ là vật cản cho quá trình phát triển của Thái Bình Đây là thách thức to lớn cho những năm sắp tới, khi

mà cạnh tranh và hội nhập kinh tế đang ngày càng trở nên sâu sắc hơn

Nhận thức được tầm quan trọng của các vấn đề nêu trên, việc nghiên cứu

và phân tích chất lượng tăng trưởng kinh tế là một đòi hỏi cấp bách Đó là lý do

mà học viên lựa chọn nghiên cứu “Đánh giá chất lượng tăng trưởng kinh tế tỉnh

Thái Bình giai đoạn 2010-2015”làm đề tài luận văn cao học của mình

Câu hỏi nghiên cứu của đề tài này: Thực trạng chất lượng tăng trưởng

kinh tế của Thái Bình trong giai đoạn 2010-2015 như thế nào? Có những giải pháp nào để Thái Bình đảm bảo và nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn 2016-2020 và những năm tiếp theo?

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài “Đánh giá chất lượng tăng trưởng kinh tế tỉnh Thái

Trang 13

Bình giai đoạn 2010-2015”nhằm đánh giá chất lượng tăng trưởng kinh tế của

tỉnh Thái Bình giai đoạn 2010-2015, chỉ ra những thành công và hạn chế,trên cơ

sở đó đề xuất các giải pháp để nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế tỉnh Thái Bình trong thời gian tới

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hoá các vấn đề lý luận cơ bản về tăng trưởng kinh tế và chất lương tăng trưởng kinh tế, trong đó, xác định nội hàm của chất lượng tăng trưởng kinh tế, các tiêu chí đánh giá chất lượng tăng trưởng kinh tế địa phương

- Xác định các yếu tố nguồn lực chủ yếu ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh

tế tỉnh Thái Bình giai đoạn 2010-2015

- Phân tích và đánh giá thực trạng chất lượng tăng trưởng kinh tế của tỉnh Thái Bình trong giai đoạn 2010-2015

- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế tỉnh Thái Bình trong giai đoạn tới

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vấn đề tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng kinh tế tỉnh Thái Bình trong giai đoạn 2010-2015

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi không gian: Đề tài luận văn được thực hiện tại tỉnh Thái Bình

- Phạm vi thời gian: Đề tài nghiên cứu được thực hiện trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2015

4 Đóng góp mới của đề tài

Thứ nhất, đề tài đã thu thập và tổng hợp một khối lượng lớn các tài liệu liên quan đến đánh giá chất lượng tăng trưởng trong nền kinh tế Đây là những tài liệu không chỉ phục vụ cho việc nghiên cứu và thực hiện luận văn mà còn

Trang 14

khái quát một bức tranh khá hoàn chỉnh về thực trạng tăng trưởng kinh tế của Thái Bình trong thời gian qua

Thứ hai, đề tài đã khái quát khá toàn diện về thực trạng chất lượng tăng trưởng kinh tế của tỉnh Thái Bình trong thời gian qua, xác định và làm rõ mức

độ đóng góp của các yếu tố đến tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh Thái Bình

Thứ ba, đề tài còn là tài liệu tham khảo hữu ích đối với sinh viên, học viên cao học khi nghiên cứu về kinh tế phát triển, đặc biệt là chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế tại các địa phương

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, phần nội dung của Luận văn được kết cấu thành 4 chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận, thực tiễn về chất lượng tăng trưởng kinh tế

Chương 2: Tài liệu và phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Thực trạng về chất lượng tăng trưởng kinh tế tỉnh Thái Bình giai đoạn 2010-2015

Chương 4: Định hướng và giải pháp nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh

tế tỉnh Thái Bình trong thời gian tới

Trang 15

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀCƠ SỞ LÝ LUẬN,

THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về chất lượng tăng trưởng kinh

tế và những vấn đề liên quan

1.1.1 Một số nghiên cứu tiêu biểu về chất lượng tăng trưởng kinh tế

Nghiên cứu về chất lượng tăng trưởng kinh tếđã có rất nhiều các công trình của các tác giả, tập thể tác giả, các tổ chức trong và ngoài nước nghiên cứu Bao gồm các ấn phẩm như, sách chuyên khảo, các bài viết được đăng tải trên các tạp chí, các bài viết chuyên đề, các luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu sau:

- Bài viết “Chất lượng tăng trưởng kinh tế trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang

giai đoạn 2010-2013” của tác giả Phạm Hùng Sơn (Tạp chí Thống kê và Cuộc

sống số 04-2015) đã phản ánh thực trạng chất lượng tăng trưởng kinh tế trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2010 - 2013 qua các khía cạnh về mặt kinh tế,

xã hội, và môi trường nhằm phát hiện những tiến bộ ban đầu, chỉ ra các hạn chế

và nguyên nhân chủ yếu, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế của tỉnh Trong đó, bài viết nêu bật được Chất lượng tăng trưởng về kinh tế của Tuyên Quang được thể hiện qua một số chỉ tiêu như: Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh, thành phố (GRDP); Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng; Trị giá hàng hoá xuất, nhập khẩu; Vốn đầu tư và Hiệu quả sử dụng Vốn đầu tư (ICOR); Tốc độ tăng năng suất các nhân

tố tổng hợp và tỷ phần đóng góp của tốc độ tăng năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) và Ngân sách Nhà nước

- Bài viết “Đánh giá chất lượng tăng trưởng của tỉnh Thừa Thiên Huế

dưới góc độ năng suất các nhân tố sản xuất” của tác giả Phan Nguyễn Khánh

Long (Tạp chí Khoa học, Đại học Huế số 3 – 2012) đã chỉ rõ vai trò của việc nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế hiện là một trong những nhiệm vụ quan

Trang 16

trọng hàng đầu của tỉnh Thừa Thiên Huế Bài viết này sử dụng phương pháp hạch toán tăng trưởng và hàm sản xuất để phân tích chất lượng tăng trưởng của Thừa Thiên Huế dưới góc độ năng suất các nhân tố cho thấy, vốn là nhân tố có đóng góp chủ yếu trong tăng trưởng kinh tế của Thừa Thiên Huế, nhưng năng suất và hiệu quả sử dụng nhân tố này lại rất thấp; đóng góp của năng suất lao động và năng suất các nhân tố tổng hợp còn rất hạn chế Kết quả nghiên cứu của

bài viết cho thấy: Thứ nhất, năng suất lao động của Thừa Thiên Huế mặc dù đã

được cải thiện đáng kể nhưng nhìn chung vẫn còn thấp, và tốc độ tăng luôn thấp hơn so với tốc độ tăng trưởng Điều này chứng tỏ giá trị thặng dư tạo ra còn thấp, ảnh hưởng đến nâng cao mức sống và tích lũy tái đầu tư mở rộng sản xuất;

thứ hai, năng suất và hiệu quả sử dụng vốn của Thừa Thiên Huế là rất thấp và

hầu như không có cải thiện đáng kể, thể hiện ở tốc độ tăng trưởng âm của năng

suất vốn trong và xu hướng tăng của Chỉ số ICOR; thứ ba, kết quả ước lượng

mô hình tăng trưởng cho thấy tăng trưởng kinh tế của Thừa Thiên Huế dựa chủ yếu vào tăng vốn đầu tư, đóng góp của năng suất lao động và TFP là rất hạn chế

- Theo tác giả Đặng Thanh Bảo Trâm với bài viết “Tình hình chất lượng

tăng trưởng kinh tế thành phố Đà Nẵng giai đoạn 1997-2010” (2012, Tuyển tập

Báo cáo Hội nghị sinh viên Nghiên cứu khoa học lần thứ 8 Đại học Đà Nẵng) Tác giả đánh giá Đà Nẵng là một thành phố trẻ, năng động thì vấn đề tăng trưởng và phát triển kinh tế sẽ được coi trọng rất nhiều, kể từ khi trở thành thành phố trực thuộc trung ương thành phố Đà Nẵng đã có những bước phát triển đáng ghi nhận với tốc độ tăng trưởng tương đối cao Bài viết sử dụng nguồn số liệu Niên giám thống kê thành phố Đà Nẵng và xử lý số liệu theo yêu cầu phân tích Đồng thời sử dụng phân tích thông qua phương pháp thống kê mô tả và hàm sản xuất Cobb-Douglas để phân tích thực trạng chất lượng tăng trưởng kinh tế thành phố Đà Nẵng Tác giả đã đề xuất được một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế của thành phố Đà Nẵng trên một số mặt như: một là, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng “dịch vụ - công nghiệp – nông nghiệp” thông qua các chính sách ưu tiên tập trung phát triển dịch vụ, để thành

Trang 17

phố Đà Nẵng thành một trung tâm dịch vụ cho cả khu vực Miền Trung và Tây Nguyên trong một số lĩnh vực trên cơ sở phát triển mạnh ngành vận tải kho bãi, thương mại du lịch, tài chính, y tế - giáo dục và nhà ở; hai là, thực hiện tái cơ cấu nguồn vốn đầu tư, nên đầu tư vào các ngành có lợi thế so sánh, có giá trị gia tăng cao, để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Đồng thời kiểm soát chặt chẽ nguồn vốn đầu tư thuộc sở hữu nhà nước, các hoạt động đầu tư công; ba là, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và nâng cao năng suất lao động thông qua các chính sách về giáo dục và đào tạo, đưa ra các chính sách thu hút nguồn nhân lực

có chất lượng cao, khuyến khích ứng dụng công nghệ để tăng tỷ lệ đóng góp của TFP, cải thiện chất lượng tăng trưởng

- Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Hồng Tâm (2012, Đại học Đà

Nẵng) với đề tài “Chất lượng tăng trưởng kinh tế tỉnh Bình Định” Với đối

tượng nghiên cứu là quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội tỉnh Bình Định giai đoạn 2006-2011, đề tài đã hệ thống hoá các vấn đề lý luận về chất lượng tăng trưởng kinh tế; đã phân tích, đánh giá chất lượng tăng trưởng kinh tế tỉnh Bình Định trong thời gian qua Từ đó, tác giả đã đề xuất định hướng một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế tỉnh Bình Định trong thời gian tới

- Luận văn thạc sĩ của tác giả Lê Ngọc Tường (2011, Đại học Đà Nẵng)

với đề tài “Nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế tỉnh Quảng Nam” Luận

văn đã sử dụng các phương pháp luận như: phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử, phương pháp thực chứng và phương pháp phân tích chuẩn tắc, phương pháp thống kê mô tả, so sánh, đánh giá,… để nghiên cứu chất lượng tăng trưởng kinh tế tỉnh Quảng Nam xét theo góc độ kinh tế và một

số nội dung trong mối quan hệ với các vấn đề xã hội, môi trường Tác giả đã tập trung phân tích làm rõ chất lượng tăng trưởng kinh tế của tỉnh Quảng Nam trong thời gian qua và đề xuất định hướng một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế tỉnh Quảng Nam trong thời gian tới

Trang 18

- Luận án tiến sĩ của tác giả Vũ Thuý Anh (2014, Đại học Kinh tế, Đại

học Quốc gia Hà Nội) với đề tài “Chất lượng tăng trưởng kinh tế Hà Nội” Trên

cơ sở nghiên cứu về khái niệm, các tiêu chí đánh giá, các nhân tố tác động đến tăng trưởng kinh tế,… hình thành các tiêu chí đánh giá chất lượng tăng trưởng kinh tế của Hà Nội phù hợp với cách tiếp cận của kinh tế chính trị Tác giả đã tập trung phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng tăng trưởng kinh tế của Hà Nội và được thực hiện trên các khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường Chỉ ra các hạn chế và nguyên nhân đối với việc nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh

tế của Hà Nội trong thời gian qua và các yếu tố tấc động đến chất lượng tăng trưởng kinh tế, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh

tế của Hà Nội trong giai đoạn mới

- Nhóm tác giả Lưu Tiến Dũng và Nguyễn Thị Kim Hiệp (2015, Tạp chí

Công thương) với đề tài “Nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế Đồng Nai

theo hướng bền vững” Nghiên cứu này trước hết tiếp cận vấn đề chất lượng

tăng trưởng theo những đặc trưng của phát triển bền vững, đảm bảo hài hòa xen cài 3 trụ cột của phát triển bền vững là bền vững kinh tế, bền vững xã hội và bền vững môi trường Tiếp đến nghiên cứu dựa trên phân tích đóng góp của các yếu

tố đầu vào của nền kinh tế đối với tăng trưởng kinh tế địa phương bao gồm vốn, lao động và yếu tố tổng năng suất theo hướng bền vững Kết quả nghiên cứu đã cho thấy tăng trưởng kinh tế Đồng Nai đang hướng theo bền vững, vai trò của lao động có chất lượng và công nghệ đối với GDP có xu hướng tăng trong khi vai trò của vốn sản xuất đối với GRDP Đồng Nai đang có xu hướng giảm Chất lượng tăng trưởng kinh tế tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2011 – 2015 vẫn dựa vào sự tăng trưởng của yếu tố vốn, bên cạnh đó cũng nhìn nhận yếu tố tích cực từ yếu

tố tổng năng suất TFP và lao động khi tỷ trọng của hai yếu tố này đối với tăng trưởng Đồng Nai đang dần tăng và theo xu hướng bền vững hơn Dựa trên kết quả của sự phân tích này, nhóm tác giả đã mạnh dạn đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế Đồng Nai đến năm 2020: (1) Mạnh dạn tiến hành chuyển dịch, xây dựng mô hình tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu và

Trang 19

bền vững; (2) Xây dựng thương hiệu tỉnh Đồng Nai hướng đến các ngành công nghiệp mũi nhọn; (3) Nâng cao nội lực của nền kinh 11 tế phục vụ cho sự tăng trưởng và phát triển bền vững

- Theo tác giả Hoàng Xuân Hoà (2017, Tạp chí Tài chính số tháng

02/2017) với bài viết “Đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng và

sức cạnh tranh của nền kinh tế” Tác giả cho rằng mô hình tăng trưởng theo

chiều rộng kể từ khi đổi mới đến nay đã tạo ra những bước tiến đáng kể đối với kinh tế Việt Nam Việc thực hiện tái cơ cấu nền kinh tế là cần thiết và đã mang lại những kết quả tích cực Tuy nhiên, quá trình tái cơ cấu nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng đang gặp phải không ít khó khăn, thách thức Để tiếp tục ổn định vĩ mô và lấy lại đà tăng trưởng, tạo nền tảng chuyển đổi thành công mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng

và chiều sâu, cần có những giải pháp mang tính đột phá, căn cơ chiến lược và dài hạn Trong đó, cần đổi mới cách thức thực hiện liên kết, phối hợp giữa các địa phương trong phát triển kinh tế vùng; thực hiện có hiệu quả quá trình đô thị hoá Nghiên cứu, rà soát, điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ của chính quyền địa phương và hình thành thể chế điều phối phát triển kinh tế theo vùng và đổi mới

mô hình tăng trưởng gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh Chính sách quốc phòng, an ninh phải tạo thuận lợi và hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội; đồng thời, phát triển kinh tế phải góp phần gia tăng tiềm lực quốc phòng, an ninh Ưu tiên phát triển mạnh các ngành kinh tế biển, gắn với bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia và nâng cao đời sống nhân dân vùng biển, đảo

- Theo nhóm tác giả Nguyễn Thị Tuệ Anh và Lê Xuân Bá (2005) với đề

tài “Chất lượng tăng trưởng kinh tế - Một số đánh giá ban đầu cho Việt Nam”

Tác phẩm đã đưa ra và phân tích những chỉ tiêu phản ánh tăng trưởng và phân tích mối tương quan và tác động của các chỉ tiêu đó lên nền kinh tế Khi tiếp cận vấn đề chất lượng tăng trưởng bền vững, tác giả đều ủng hộ việc sử dụng cách tiếp cận đơn từ phân tích vai trò của các yếu tố, đóng vai trò như đầu vào đối với

Trang 20

tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là yếu tố vốn sản xuất đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế và sự cần thiết phải chuyển dịch mô hình tăng trưởng kinh tế theo hướng thâm dụng yếu tố tổng năng suất, TFP đảm bảo chất lượng tăng trưởng và phát triển bền vững khi mà đóng góp của yếu tố này còn thấp Tuy nhiên trong nghiên cứu của mình nhóm tác giả đã cố gắng phân tích đồng thời cả hai hướng tiếp cận, một từ những đặc trưng của phát triển bền vững, hai là hướng tiếp cận như trên nhằm phân tích được một cách toàn diện nhất chất lượng tăng trưởng kinh tế theo hướng bền vững

- Cuốn sách “Tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam” của

nhóm tác giả Nguyễn Văn Nam và Trần Thọ Đạt, Trường Đại học kinh tế Quốc dân xuất bản năm 2006 Cuốn sách đã khái quát về cơ sở lý luận và thực tiễn về tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế, đồng thời phân tích thực trạng tăng trưởng và chất lượng kinh tế ở Việt Nam và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng kinh tế ở Việt Nam trong những năm tới Tuy nhiên, tác giả cuốn sách lại xem xét, đánh giá về tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn từ năm 1991- 2005

- Cuốn sách: “Tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng kinh tế tại Việt

Nam” của Cù Chí Lợi, Viện Kinh tế Việt Nam năm 2009 cũng đã hệ thống một

cách đầy đủ cơ sở lý luận về tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng kinh tế, phân tích tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam Tuy nhiên, về phần đánh giá thực trạng chất lượng tăng trưởng, tác giả lại chỉ chú trọng tập trung phân tích chỉ tiêu phản ánh tăng trưởng kinh tế liên quan đến phúc lợi xã hội, trong khi đó chất lượng tăng trưởng kinh tế nó còn được phản ánh qua nhiều chỉ tiêu khác

Ngoài ra, các Báo cáo thường niên kinh tế Viêt Nam năm 2011, Báo cáo thường niên kinh tế Việt Nam năm 2012 và các năm 2013, 2014, 2015 do Nguyễn Đức Thành chủ biên đã cung cấp cho ta thấy tổng quan tình hình kinh tế Việt Nam qua các năm 2010, 2011, 2012, 2013, 2014, những sự chuyển dịch

Trang 21

kinh tế, hiện thực đầu tư công, nợ công của đất nước, những chính sách lãi suất, tái cơ cấu hệ thống ngân hàng thương mại hay chính sách đối với việc tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam Mặc dù cung cấp khá đầy đủ những vấn

đề liên quan đến tình hình kinh tế qua các năm 2010, 2011, 2012, 2013, 2014.Tuy nhiên, các báo cáo này không đi sâu phân tích chất lượng của sự tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam qua các chỉ tiêu phản ánh chất lượng tăng trưởng kinh tế

1.1.2 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu

Cho đến nay đã có không ít công trình nghiên cứu về chất lượng tăng trưởng kinh tế nói chung và tăng trưởng kinh tế tại các địa phương trong cả nước nói riêng Những công trình, đề tài khoa học, luận văn, bài báo, bài viết nêu trên

đã đề cập tương đối đầy đủ, toàn diện về chất lượng tăng trưởng kinh tế Đã hệ thống các giải pháp, kiến nghị khá đầy đủ, toàn diện về các nội dung cơ bản của chất lượng tăng trưởng kinh tế như: chất lượng tăng trưởng kinh tế dưới góc độ năng suất lao động; năng suất vốn và hệ số ICOR hay tốc độ tăng TFP,…Nhiều giải pháp rất thiết thực có thể áp dụng vào việc đánh giá chất lượng tăng trưởng kinh tế tại các tỉnh

Mặt khác, hầu hết các nghiên cứu đều kể trên đều đề cập đến tăng trưởng kinh tế, các chỉ số đánh giá tăng trưởng kinh tế và phân tích về mặt số lượng chứ chưa đề cập nhiều đến chất lượng tăng trưởng kinh tế Những nghiên cứu về tăng trưởng hiện đại thường đề cập đến tăng trưởng xanh và tăng trưởng bao trùm, nhấn mạnh sự đóng góp của chất lượng lao động và yếu tố môi trường đi cùng với yếu tố bình đẳng xã hội

Tuy nhiên, có thể thấy chưa có bất cứ nghiên cứu nào về đánh giá chất lượng tăng trưởng kinh tế tại một địa phương như tỉnh Thái Bình, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập sâu rộng của kinh tế Việt Nam vào nền kinh tế thế giới Đây

là khoảng trống cần được tiếp tục nghiên cứu về đánh giá chất lượng tăng trưởng kinh tế tại một số địa phương trong cả nước Do đó, đề tài này trước hết kế thừa

Trang 22

những nghiên cứu lý luận nói trên, đồng thời, tập trung phân tích và đánh giá thực trạng chất lượng tăng trưởng kinh tế của tỉnh Thái Bình, trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp thiết thực nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của tỉnh Thái Bình trong thời gian tới

1.2 Cơ sở lý luận về chất lượng tăng trưởng kinh tế

1.2.1 Một số khái niêm cơ bản

1.2.1.1 Khái niệm về tăng trưởng kinh tế

Những vấn đề cơ bản của phát triển kinh tế luôn gắn liền với tăng trưởng kinh tế Quan điểm hiện đại về tăng trưởng kinh tế chính là phát triển kinh tế với điều kiện là tốc độ tăng trưởng sản xuất trong dài hạn phải bền vững và cao hơn tốc độ tăng dân số (Kuznets, 1981)

Tăng trưởng kinh tế là sự tăng thêm hay sự gia tăng qui mô sản lượng của một nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định (Mankiw, 2001; Phan Thúc Huân,

độ tăng trưởng được sử dụng với ý nghĩa so sánh tương đối và phản ánh sự gia tăng nhanh hay chậm của nền kinh tế giữa các năm

Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản lượng quốc gia (GNP) hoặc quy mô sản lượng quốc gia tính bình quân trên đầu người (PCI) trong một thời gian nhất định (thường là 1 năm) (Dương Tấn Diệp, 2007; Vũ Thị Ngọc Phùng, 2005) Được phản ánh qua mức tăng trưởng và tỷ lệ tăng trưởng

Trang 23

Tóm lại, tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về quy mô sản lượng của một nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm) Sự gia tăng thể hiện ở quy mô và tốc độ Quy mô tăng trưởng phản ánh sự gia tăng nhiều hay ít, còn tốc độ tăng trưởng được sử dụng với ý nghĩa so sánh tương đối

và phản ánh sự gia tăng nhanh hay chậm giữa các thời kỳ Bản chất của tăng trưởng của kinh tế là phản ánh sự thay đổi về lượng của nền kinh tế

1.2.1.2 Khái niệm về chất lượng tăng trưởng kinh tế

Cho đến nay, chưa có một khái niệm chính thức về chất lượng tăng trưởng, để có thể đưa ra một khái niệm tương đối hoàn chỉnh, làm cơ sở cho những phân tích về sau, dưới đây là một số quan điểm về chất lượng tăng trưởng kinh tế

- Chất lượng tăng trưởng kinh tế là cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng nâng cao hiệu quả

Về mặt lý luận, tính hợp lý của quan niệm này thể hiện ở chỗ coi chất lượng sự vật là sự biến đổi cơ cấu bên trong của sự vật không gắn chất lượng sự vật với mục đích tồn tại, bối cảnh, môi trường, điều kiện mà sự vật tồn tại hoặc các sự vật có mối liên hệ tác động mật thiết với nhau

Về mặt thực tiễn, suy cho cùng cơ cấu hay quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế là sự phản ánh sinh động, và thực tiễn cho chất lượng tăng trưởng Ở Việt Nam, quan điểm này đã và đang được minh chứng trong những năm gần đây qua quá trình phát triển công nghiệp Cơ cấu nội bộ ngành công nghiệp chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện dại hoá, phát huy lợi thế cạnh tranh của từng ngành, từng sản phẩm, gắn sản xuất với thị trường

- Quan niệm chất lượng tăng trưởng theo quan điểm hiệu quả

Nội hàm của chất lượng tăng trưởng theo quan điểm hiệu quả được nhìn nhận theo hai phương thức:

Một là, tăng trưởng theo chiều rộng, tức là tăng thêm vốn, lao động và

Trang 24

tăng cường khai thác tài nguyên khoáng sản…

Hai là, tăng trưởng theo chiều sâu, thể hiện ở tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực, trong đó quan trọng nhất là vốn tư bản, nâng cao chất lượng quản lý, khoa học công nghệ, cải thiện môi trường kinh doanh, thể chế và pháp luật vĩ mô…

Tất nhiên, các quốc gia đều nhằm tới mục tiêu tăng trưởng theo phương thức thứ hai – khai thác chiều sâu của quá trình tăng trưởng bởi đó sẽ là những lợi thế so sánh động nếu các quốc gia biết cách khai thác Nhận thức được điều

đó, song thực hiện nó là bài toán khó đối với các nước đang phát triển, khi mà

hạ tầng kinh tế, kỹ thuật và xã hội chưa đáp ứng được các yêu cầu của tăng trưởng theo chiều sâu buộc họ phải thực hiện khai thác tài nguyên, tận dụng các nguồn vốn và lao động

Thực hiện quá trình dịch chuyển thế hệ công nghiệp sang nấc thang thứ 3, yếu tố chất lượng nhân lực và khoa học công nghệ có vai trò vượt trội so với các yếu tố truyền thống (tài nguyên, lao động nhiều và rẻ…) Chất lượng tăng trưởng kinh tế được hiểu theo quan niệm hiệu quả (theo chiều sâu) rất cụ thể và tạo thuận lợi cho mục tiêu tìm kiếm giải pháp thúc đẩy tăng trưởng

- Quan niệm chất lượng tăng trưởng kinh tế là năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, của doanh nghiệp hoặc hàng hoá sản xuất trong nước

Quan điểm này cho rằng, tăng trưởng đi liền với việc nâng cao năng lực cạnh tranh là tăng trưởng có chất lượng cao và ngược lại Quan điểm này chỉ rõ, năng lực cạnh tranh được phân chia theo ba cấp; cấp quốc gia, cấp doanh nghiệp

và cấp sản phẩm

Năng lực cạnh tranh quốc gia là năng lực của một nền kinh tế đạt được tăng trưởng bền vững, thu hút được đầu tư, bảo đảm ổn định kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống của người dân Một số tổ chức quốc tế như Diễn đàn kinh tế thế giới WEF, Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế OECD, Viện phát triển quản

Trang 25

lý IMD Thụy Sĩ… tiến hành điều tra, so sánh và xếp hạng năng lực cạnh tranh quốc gia (nền kinh tế) Các xếp hạng đó áp dụng phương pháp luận tương tự nhau và đi đến kết quả giống nhau về xu thế

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được đo bằng khả năng duy trì và

mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong nước và ngoài nước Một doanh nghiệp có thể kinh doanh một hay nhiều sản phẩm và dịch vụ, vì vậy người ta còn phân biệt năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp với năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ

Năng lực cạnh tranh của hàng hóa sản xuất trong nước (sản phẩm, dịch vụ) được đo bằng thị phần của sản phẩm hay dịch vụ cụ thể trên thị trường

- Chất lượng tăng trưởng kinh tế là nâng cao phúc lợi của công dân và gắn liền tăng trưởng với công bằng xã hội

Theo quan điểm này, quá trình cải thiện và đáp ứng phúc lợi cho người dân là thước đo của chất lượng tăng trưởng kinh tế Phúc lợi không chỉ thể hiện

ở thu nhập đầu người mà còn là chất lượng cuộc sống, môi trường xã hội, môi trường tự nhiên, ý tế, giáo dục… Bên cạnh đó, yêu cầu thu hẹp khoảng cách giàu – nghèo đảm bảo công bằng xã hội luôn đặt ra cho bài toán tăng trưởng được lồng ghép vào quan điểm chất lượng tăng trưởng

Chất lượng tăng trưởng kinh tế được thể hiện ở chỗ tăng trưởng kinh tế đáp ứng phúc lợi cho nhân dân như thế nào

+ Phúc lợi xã hội thể hiện ở thu nhập bình quân đầu người, chất lượng cuộc sống, môi trường xã hội, môi trường tự nhiên, cơ hội học tập và chăm lo sức khỏe

+ Công bằng xã hội thể hiện ở khoảng cách giàu – nghèo trong xã hội được thu hẹp và tỷ lệ người nghèo trong xã hội giảm bớt

Sự kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội sẽ tạo ra chất lượng của tăng trưởng kinh tế

Trang 26

- Quan niệm chất lượng tăng trưởng kinh tế là phát triển bền vững

Theo WB, phát triển bền vững là phát triển theo nguyên tắc: “sự thỏa mãn nhu cầu của thế hệ hôm nay không làm tổn hại đến sự thỏa mãn nhu cầu của các thế hệ mai sau” Phát triển bền vững phải bảo toàn và phát triển ba nguồn vốn: Tài nguyên môi trường, vốn nhân lực và vốn vật chất

- Quan niệm chất lượng tăng trưởng kinh tế là thể chế dân chủ trong môi trường chính trị - xã hội của nền kinh tế

Mức độ dân chủ hóa thể hiện ở tính minh bạch, ít tham nhũng và sự tham gia của người dân vào quản lý kinh tế - xã hội, nó sẽ tác động mạnh đến tăng trưởng kinh tế và ngược lại Dân chủ chính là biểu hiện mặt chất của tăng trưởng kinh tế

Ở Việt Nam, theo GS.TS Nguyễn Văn Nam và PGS.TS Trần Thọ Đạt,

“Chất lượng tăng trưởng kinh tế là sự phát triển nhanh, hiệu quả, bền vững của nền kinh tế, thể hiện qua năng suất nhân tố tổng hợp và năng suất lao động xã hội tăng và ổn định, mức sống của người dân được nâng cao không ngừng, cơ cấu kinh tế chuyển dịch phù hợp với từng thời kỳ phát triển của đất nước, sản xuất có tính cạnh tranh cao, tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường, quản lý kinh tế Nhà nước có hiệu quả”

Tóm lại, có thể khái quát khái niệm chất lượng tăng trưởng kinh tế là sự phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững của nền kinh tế, thể hiện qua năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) và năng suất lao động xã hội tăng và ổn định, mức sống của người dân được nâng cao không ngừng, cơ cấu kinh tế chuyển dịch phù hợp với từng thời kỳ phát triển của đất nước, sản xuất có tính cạnh tranh cao, tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường, quản

lý kinh tế của nhà nước có hiệu quả

1.2.2 Nội dung cốt lõi của chất lượng tăng trưởng kinh tế

Bản chất của chất lượng tăng trưởng chính là hướng đến phát triển bền

Trang 27

vững Phát triển bền vững không chỉ là đảm bảo một nền kinh tế liên tục duy trì được tốc độ tăng trưởng hợp lý trong một thời gian dài để cải thiện đời sống nhân dân mà phát triển bền vững còn phải gắn với vấn đề bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên môi trường; tức là nền kinh tế phải phát triển ổn định, lâu dài

và không gây nguy hại đến môi trường tự nhiên Theo quan niệm này, tăng trưởng có chất lượng phải là sự phát triển nhanh, vững chắc, đảm bảo đáp ứng được nhu cầu hiện tại của xã hội, đồng thời vẫn không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng yêu cầu của các thế hệ tương lai Như vậy, tăng trưởng có chất lượng phải là sự kết hợp hài hoà giữa phát triển kinh tế với phát triển xã hội và bảo vệ môi trường

* Chất lượng tăng trưởng kinh tế xét trên khía cạnh kinh tế bao gồm:

- Tốc độ và tính ổn định của tăng trưởng kinh tế: thể hiện ở tốc độ tăng trưởng kinh tế hợp lý và khả năng duy trì nó trong dài hạn

- Hiệu quả sử dụng các yếu tố của sản xuất: thể hiện tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu thông qua: năng suất lao động, hiệu quả sử dụng vốn (ICOR) và đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP)

+ Năng suất lao động là mức hiệu quả đạt được của hoạt động sản xuất của một lao động trong một đơn vị thời gian

+ ICOR cho biết, để tăng thêm một đơn vị tổng sản phẩm trong nước đòi hỏi phải tăng thêm bao nhiêu đơn vị vốn đầu tư thực hiện

+ TFP là chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất mang lại do nâng cao hiệu quả

sử dụng vốn và lao động, nhờ vào đổi mới công nghệ, hợp lý hoá sản xuất, cải tiến quản lý, nâng cao trình độ Đây là chỉ tiêu phản ánh khái quát nhất hiệu quả sử dụng nguồn lực sản xuất, là cơ sở để phân tích hiệu quả sản xuất, đánh giá tiến bộ KHCN, trình độ tổ chức và quản lý sản xuất

* Chất lượng tăng trưởng kinh tế xét trên khía cạnh xã hội:là phản ánh

tăng trưởng kinh tế dưới góc độ phân phối thành quả của tăng trưởng đối với các

Trang 28

vấn đề xã hội hay ảnh hưởng của tăng trưởng đến các lĩnh vực xã hội, giải quyết việc làm, nâng cao đời sống cho con người, thể hiện sự tiến bộ và công bằng xã hội, chênh lệch giàu nghèo giảm

* Chất lượng tăng trưởng về khía cạnh môi trường: là phản ánh tăng

trưởng dưới góc độ bảo vệ môi trường, tăng trưởng kinh tế luôn gắn liền với mức độ ảnh hưởng đến tài nguyên môi trường, suy thoái khả năng tái tạo môi trường, nhất là nguy cơ tác động xấu hoặc hủy diệt môi trường Đó chính là

“Tăng trưởng xanh” đây cũng chính là xu hướng phát triển mà các quốc gia đang theo đuổi

Theo OECD (2011) Tăng trưởng xanh là thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển với sự đảm bảo rằng các nguồn lực tự nhiên và môi trường sẽ tiếp tục

đủ khả năng đáp ứng nhu cầu tài nguyên và môi trường sống cho con người trong tương lai, khía cạnh này mới đáp ứng tính bền vững Ở khía cạnh quan trọng và mới hơn, tăng trưởng xanh có nội hàm thúc đẩy sự đổi mới, đầu tư và cạnh tranh nhằm mang lại những cơ hội kinh tế mới và sự tăng trưởng hướng tới

“xanh hóa” và “ổn định” nền kinh tế

Việc xem xét chất lượng tăng trưởng về khía cạnh xã hội và môi trường

có ý nghĩa quan trọng đối với tăng trưởng của một nền kinh tế, mục tiêu cuối cùng của quá trình tăng trưởng là vì con người

1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tăng trưởng kinh tế

1.2.3.1 Các điều kiện nguồn lực tăng trưởng kinh tế

Các yếu tố nguồn lực tăng trưởng chính cho nền kinh tế bao gồm: vốn, lao động, công nghệ, tài nguyên Đây là điều kiện cần cho tăng trưởng kinh tế nhưng điều kiện đủ là huy động và cách thức sử dụng các nguồn lực Các nhà kinh tế học thống nhất các yếu tố đầu vào bao gồm 4 yếu tố theo hàm sản xuất Y=F(K, L, R, T) (Vũ Thị Ngọc Phùng, 2005; Đinh Phi Hổ, 2015)

Vốn sản xuất (K): là yếu tố đầu vào của sản xuất như máy móc, trang thiết

bị, nhà xưởng; là bộ phận quan trọng của tổng giá trị tài sản quốc gia, tham gia

Trang 29

trực tiếp vào quá trình sản xuất tạo ra sản lượng quốc gia Các nhà khoa học đã tìm ra được mối quan hệ giữa gia tăng GDP với gia tăng đầu tư thông qua hệ số ICOR, đây là tỷ lệ gia tăng đầu tư chia cho tỷ lệ tăng GDP

Lao động (L): là yếu tố sản xuất đặc biệt tham gia vào quá trình sản xuất bao gồm số lượng và chất lượng lao động, yếu tố thể chất, kỹ năng, kiến thức, kinh nghiệm lao động, kinh nghiệm quản lý, lòng nhiệt huyết ảnh hưởng lớn đến gia tăng sản lượng quốc gia; Do đó đầu tư cho chất lượng lao động là đầu tư gia tăng giá trị yếu tố đầu vào

Tài nguyên thiên nhiên (R): là tấc cả các nguồn lực của tự nhiên bao gồm điều kiện tự nhiên, đất đai, không khí, nước, năng lượng và cả khoáng sản trong lòng đất

Điều kiện tự nhiên: khí hậu, thời tiết, vị trí địa lý, địa hình rất quan trọng đến sự phát triển kinh tế; điều kiện tự nhiên thuận lợi giúp xác định cơ cấu cây trồng, vật nuôi; ảnh hưởng đến năng suất,chất lượng và hiệu quả sản xuất nhưng cũng không ít khó khăn khi điều kiện tự nhiên khắc nghiệt đe dọa đến sự tồn tại và phát triển của sản xuất Vị trí địa lý thuận lợi sẽ tạo điều kiện thuận lợi trong giao thương, mậu dịch và có khả năng thu hút đầu tư nước ngoài nhiều hơn

Nguồn tài nguyên thiên nhiên càng lớn sẽ thúc đẩy sản xuất phát triển, tác động làm tăng sản lượng quốc gia Nó là nguồn lực đầu vào của sản xuất rất cần thiết cho quá trình tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, là sức mạnh nếu biết khai thác và sử dụng hiệu quả

Công nghệ (T): nếu như tăng trưởng kinh tế chỉ dựa vào vốn và thâm dụng tài nguyên thì tăng trưởng không bền vững Dưới tác động của khoa học công nghệ sẽ giúp nền kinh tế phát triển từ chiều rộng sang chiều sâu, nâng cao chất lượng và tăng sức cạnh tranh của sản phẩm tạo điều kiện cho các nước đang phát triển phát triển kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế, làm cho tỷ trọng GDP của ngành Công nghiệp và dịch vụ có xu hướng tăng dần còn nông

Trang 30

nghiệp giảm dần

Hiện nay, mô hình tăng trưởng hiện đại cho rằng nhân tố đất đai là nhân

tố cố định, còn tài nguyên là nhân tố có xu hướng giảm sút Tài nguyên, đất đai

có thể gia nhập dưới dạng vốn sản xuất K Yếu tố tác động trực tiếp đến tăng trưởng là vốn, lao động và năng suất tổng hợp TFP Vốn được xem là nhân tố lượng hóa được tác động của nó đến tăng trưởng và là nhân tố tăng trưởng theo chiều rộng TFP là thể hiện hiệu quả của yếu tố khoa học kỹ thuật, trình độ quản lý; là yếu tố chất lượng của tăng trưởng hay tăng trưởng theo chiều sâu

Sự kết nối giữa nhân tố lao động và trình độ công nghệ là cầu nối nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế Tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ phụ thuộc vào chất lượng lao động, khả năng áp dụng vào thực tế của người lao động Như vậy, số lượng và chất lượng của các nguồn lực cũng như việc huy động và hiệu quả sử dụng các nguồn lực quyết định đến sự gia tăng sản lượng của nền kinh tế Tăng trưởng tổng sản lượng phụ thuộc vào quy mô, chất lượng các yếu tố đầu vào và cách thức phối hợp các yếu tố ấy Mỗi yếu tố giữ vai trò nhất định và tác động qua lại với nhau, tùy vào từng giai đoạn phát triển mà yếu

tố nào được đề cao hơn

1.2.3.2 Mô hình tăng trưởng kinh tế

Harrod-Domar (1914-1947) tranh luận rằng nguồn gốc tăng trưởng kinh

tế chính là lượng vốn sản xuất tăng thêm có được từ đầu tư và tiết kiệm của quốc gia (Đinh Phi Hổ và đồng nghiệp, 2008) Mô hình này cho rằng đầu ra (Y) của bất kỳ đơn vị kinh tế nào hoặc toàn bộ nền kinh tế sẽ phụ thuộc vào tổng số vốn sản xuất (K), (K) chính là giá trị tài sản quốc gia trực tiếp dùng vào sản xuất được gọi là qui mô vốn sản xuất hoặc vốn dự trữ hoặc lượng tư bản

Phương trình cơ bản trong mô hình Harrod- Domar:gY= s/k

Trong đó s là tỷ lệ tiết kiệm, g là tốc độ tăng trưởng của đầu ra, k

=AK/AY= I/AY được gọi là hệ số gia tăng giữa vốn và sản lượng Hệ số này nói lên trình độ kỹ thuật của sản xuất và là số đo năng lực của nhà đầu tư

Trang 31

Tốc độ tăng trưởng phụ thuộc vào tỷ lệ tiết kiệm hoặc ICOR hoặc phụ thuộc vào cả 2 yếu tố trên Nói cách khác, tăng trưởng GDP có quan hệ dương với tỷ lệ tiết kiệm và quan hệ nghịch với ICOR

ICOR được xem là thước đo độ hiệu quả của đầu tư Nếu phân bổ vốn đầu

tư hiệu quả, thì với cùng một mức, sản lượng sẽ tăng thêm và do đó ICOR thấp hơn Nói một cách khác, ICOR cao thể hiện đầu tư không hiệu quả và ngược lại

Ứng dụng hệ số ICOR: Để đẩy nhanh tăng trưởng cần tăng tiết kiệm để gia tăng đầu tư nhưng nếu GDP/người thấp, thì khó nâng cao tỷ lệ tiết kiệm Đây

là trở ngại của nhiều quốc gia có thu nhập thấp Hướng khắc phục chính là thu hút đầu tư nước ngoài

Công thức tăng trưởng trên cũng cho thấy để đẩy nhanh tăng trưởng cần giảm hệ số ICOR, nhưng điều này thường khó khăn cho các nước đang phát triển vì xu hướng ICOR ngày càng tăng theo giai đoạn phát triển kinh tế ngày càng cao Theo nhiều công trình nghiên cứu cho thấy đối với các nước đang phát triển, trung bình chung ICOR = 3, đối với các nước phát triển hệ số này bằng 5

Lý do ICOR tăng dần là do năng suất biên của vốn sản xuất giảm dần Đây cũng chính là hạn chế mà mô hình Harrod - Domar chưa đề cập đến Mô hình chỉ quan tâm đến yếu tố vốn mà bỏ qua vai trò của lao động, vai trò của thay đổi kỹ thuật công nghệ và vai trò của chính sách

Từ các phương trình có thể rút ra nhiều ứng dụng tính toán để phục vụ cho công tác kế hoạch hóa, như ứng dụng để dự tính tốc độ tăng trưởng sản lượng quốc gia (gY), vốn đầu tư nền kinh tế trong một giai đoạn (I), tỷ lệ đầu tư (s), qui mô GDP (Y)

1.2.3.3 Các yếu tố kinh tế vĩ mô

* Đầu tư phát triển các loại tài sản cơ bản

Theo Trịnh Quang Vượng, Ngô Thị Kim Dung (2012), những tài sản đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của từng nước là: tài

Trang 32

sản và tích luỹ tài sản vật chất, con người - nguồn nhân lực của xã hội và tài sản

là nguồn tài nguyên thiên nhiên Tiến bộ khoa học công nghệ và kỹ thuật có một vai trò quan trọng vì ảnh hưởng lớn đến việc sản xuất và sử dụng các loại tài sản trên Để từng bước nâng cao tốc độ tăng trưởng kinh tế cần quan tâm đến tăng tích luỹ tài sản hữu hình, ngoài ra, các loại tài sản khác như con người cũng như nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng phải được quan tâm tương xứng Tích luỹ tài sản, tiến bộ khoa học kỹ thuật, năng suất lao động của các loại tài sản này có ý nghĩa quyết định đến những tác động lâu dài chống đói nghèo

Bên cạnh đầu tư vào tài sản vật chất, con người, nguồn tài nguyên thiên nhiên cùng với đổi mới chính sách và phương thức quản lý kinh tế - xã hội cũng góp phần nâng cao tiến bộ khoa học kỹ thuật và năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP), từ đó lại thúc đẩy tăng trưởng

Hiện nay đánh giá sự phát triển kinh tế người ta thường sử dụng chỉ tiêu tăng trưởng Tổng sản phẩm trong nước (hoặc GDP bình quân đầu người) như là đại diện cho sự phát triển Một phần của tiến bộ xã hội là sự kết hợp giữa tăng trưởng GDP và tăng trưởng lợi ích cá nhân Tuy nhiên, sự tin cậy vào GDP như một dụng cụ duy nhất đo lường sự phát triển xã hội là một hạn chế rất lớn Tăng trưởng GDP có thể với chất lượng cao hoặc chất lượng thấp Một số quá trình và chính sách tạo ra sự tăng trưởng GDP song song với quá trình tăng trưởng của nguồn nhân lực và tài nguyên thiên nhiên, nó trực tiếp ảnh hưởng đến sức khoẻ con người và vai trò sản xuất của họ Những thứ khác tạo ra chất lượng tăng trưởng thấp không liên kết với sự tiến bộ của con người và cải thiện môi trường tài nguyên thiên nhiên Để tổng hợp về chất lượng tăng trưởng kinh tế trong đánh giá về sự phát triển cần đưa ra những chỉ tiêu về sức khoẻ của con người

Tuy nhiên, những sai lệch về chính sách, tham nhũng, quản lý sai lầm, bất

ổn thị trường và những tác động bên ngoài cũng có thể đưa đất nước theo hướng sai lầm và tích luỹ tài sản không cân đối Tình trạng này có thể làm cho tăng trưởng thu nhập và lợi ích thấp dưới mức tiềm năng

Trang 33

Ảnh hưởng của những chính sách sai lầm về tích luỹ nguồn nhân lực và tài nguyên liên quan đến tài sản vật chất có thể làm giảm mức tăng trưởng và phúc lợi Ngược lại, nếu khống chế được tham nhũng, quản lý tốt và có chính sách hợp lý có thể thúc đẩy tăng tích luỹ tài sản, góp phần tăng trưởng nhanh hơn

Quá tập trung vào tích luỹ tài sản vật chất, các nước đang phát triển có thể

bị cuốn vào thực hiện các chính sách trợ cấp đầu tư xây dựng cơ bản Điều này dẫn đến tình trạng các doanh nghiệp đặc quyền luôn được đảm bảo về lợi ích Trong khi đó, có tình trạng đầu tư không đúng mức vào giáo dục, y tế và sức khoẻ, tình trạng khai thác quá mức nguồn tài nguyên thiên nhiên dẫn đến giá trị loại tài sản là nguồn nhân lực bị hạn chế và không được đánh giá đúng mức, tài nguyên thiên nhiên bị tàn phá

* Thể chế chính sách

Thể chế là chính sách, luật lệ, tập quán, hành vi và mối quan hệ cấu thành

sự tương tác xã hội Thể chế bao gồm thể chế chính thức và phi chính thức Thể chế chính thức là những ràng buột được chế tài bởi nhà nước như hiến pháp, luật, các quy định Thể chế phi chính thức là những ràng buột không thuộc phạm

vi chế tài của nhà nước như tập quán, quy tắc ứng xử, văn hóa Vai trò của thể chế làm giảm tính bất định và rủi ro cho nhà đầu tư Ảnh hưởng của thể chế lên tăng trưởng kinh tế là một cấu trúc thể chế sẽ tạo ra một cấu trúc khuyến khích nhất định, ảnh hưởng đến việc phân bổ tài nguyên, con người theo hướng tốt hoặc xấu cho tăng trưởng Chất lượng thể chế là yếu tố quan trọng giải thích sự khác biệt kết quả tăng trưởng kinh tế, chất lượng thể chế tốt thì thường có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn (Phạm Hồng Mạnh, 2013) Một nhà nước có thể chế

và quy định minh bạch, rõ ràng và tính thực thi cao, ít quan liêu, tham nhũng, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ của họ sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế, là điều kiện nội sinh của tăng trưởng (Phạm Hồng Mạnh, 2014)

Trang 34

- Nhà nước với vai trò tạo môi trường kinh doanh và định hướng phát triển: xây dựng hành lang pháp lý cho các chủ thể kinh tế, xây dựng các chiến lược phát triển kinh tế cũng ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế Chính sách của Chính phủ tốt thể hiện qua môi trường kinh doanh cho các doanh nghiệp, tạo điều kiện phát triển năng động, bứt phá trong tăng trưởng

- Nhà nước với vai trò định ra các chính sách xã hội như xóa đói giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, chính sách đại đoàn kết, nâng cao đời sống tinh thần của người dân Như vậy, nhà nước là điều kiện hạt nhân chi phối sự phát triển của nền kinh tế, hướng nền kinh tế đi vào chiều sâu hay chiều rộng

* Cơ sở hạ tầng

Kết cấu hạ tầng bao gồm kết cấu hạ tầng kinh tế và kết cấu hạ tầng xã hội Kết cấu hạ tầng kinh tế là hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho sự phát triển của các ngành, các lĩnh vực kinh tế như hệ thống giao thông vận tải, thông tin liên lạc, điện, nước Kết cấu hạ tầng xã hội là hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho nghiên cứu khoa học, hoạt động văn hóa xã hội nhằm nâng cao dân trí, văn hóa tinh thần của nhân dân như hệ thống công trình phục vụ giáo dục, y tế, văn hóa, thể dục thể thao

Sự phát triển kết cấu hạ tầng phải đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với quy

mô, tốc độ và định hướng phát triển trong các lĩnh vực kinh tế - văn hoá - xã hội, mối quan hệ với các ngành liên quan

Sự phát triển kết cấu hạ tầng phải hợp lý giữa khả năng đầu tư và nhu cầu tăng trưởng kinh tế cụ thể, cần có sự tính toán, dự báo chính xác Trong kết cấu

hạ tầng có thời gian tồn tại rất lâu vì vậy cần phải thiết kế với khả năng cải tiến

và tiếp nhận tiến bộ kỹ thuật

Kết cấu hạ tầng có vai trò hết sức quan trọng, là nền tảng và là động lực phát triển toàn diện của đất nước Cơ sở hạ tầng tiến bộ là lợi thế thu hút đầu tư, giảm chi phí sản xuất, nâng cao chất lượng, sức cạnh tranh kinh tế Tuy nhiên

Trang 35

xây dựng kết cấu hạ tầng phải có nguồn đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn dài hoặc phục vụ mục đích công không hoàn vốn Vì vậy, cần phải có sự cân nhắc, tính toán để đảm bảo không bị lãng phí

1.2.4 Các tiêu chí đánh giá chất lượng tăng trưởng kinh tế

Theo TS Nguyễn Thị Tuệ Anh và TS Lê Xuân Bá, cơ sở để phân tích và đánh giá chất lượng tăng trưởng thường dựa vào bốn nội dung bổ sung cho nhau, đó là: (1) đầu tư hình thành các loại tài sản vốn tham gia vào quá trình tạo giá trị gia tăng; (2) mô hình tăng trưởng của một nước; (3) khía cạnh phân phối (cả thu nhập và cơ hội) trong cả quá trình tăng trưởng và (4) quản lý hiệu quả với nội hàm chính là xây dựng thể chế và chất lượng chính sách của Nhànước

Trong khuôn khổ đề tài này, để đánh giá chất lượng tăng trưởng kinh tế địa phương (cấp tỉnh), các tiêu chí sau đây sẽ được nhấn mạnh:

1.2.4.1 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế theo chiều sâu

- Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng lao động – năng suất lao động:

Bằng cách lấy GDP chia cho số lao động (hoặc giờ lao động) ta có thể tính năng suất lao động cho toàn bộ nền kinh tế Kết quả thu được càng lớn thì năng suất lao động xã hội càng cao

- Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn – Hệ số ICOR:

Hệ số ICOR là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp cho biết để tăng thêm một đơn vị GDP đòi hỏi phải tăng thêm bao nhiêu đơn vị vốn đầu tư thực hiện Nó phản ánh hiệu quả của việc sử dụng vốn đầu tư dẫn tới tăng trưởng kinh tế Hệ số ICOR càng thấp chứng tỏ hoạt động đầu tư có hiệu quả càng cao

Trang 36

Trong đó, I 1là tổng vốn đầu tư của năm nghiên cứu, Y 1 là GDP của năm nghiên cứu, và Y 0là GDP của năm trước đó Các chỉ tiêu về vốn đầu tư và GDP

để tính hệ số ICOR theo phương pháp này phải được đo theo cùng một loại giá (giá thực tế hoặc giá so sánh)

+ Phương pháp 2:

I/Y

g Y

Trong đó I/Y là tỷ lệ vốn đầu tư so với GRDP, g Y là tốc độ tăng GDP Hệ

số ICOR tính theo phương pháp này thể hiện để tăng thêm 1% GDP đòi hỏi phải tăng thêm bao nhiêu phần trăm tỷ lệ vốn đầu tư so với GDP

- Tốc độ tăng TFP và tỷ trọng đóng góp của tăng trưởng TFP

Mặc dù hai chỉ tiêu năng suất lao động xã hội và hiệu quả sử dụng vốn thường được sử dụng nhiều trong phân tích hiệu quả kinh tế, nhưng trên thực tế, trong sản xuất có 3 yếu tố chính làm tăng GDP: lao động, vốn sản xuất và TFP

Nếu chỉ chia GRDP cho lao động hay lấy vốn đầu tư chia cho mức gia tăng GRDP thì những chỉ số này không thể phản ánh đóng góp riêng của yếu tố năng suất Năng suất chỉ là phần tăng GRDP sau khi trừ đi vai trò của việc tăng

số lượng lao động và số lượng tài sản cố định trong sản xuất Phần thặng dư này phản ánh việc tăng chất lượng tổ chức lao động, chất lượng máy móc, vai trò của quản lý và tổ chức sản xuất, được gọi chung là năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) TFP là chỉ số phụ thuộc vào hai yếu tố: tiến bộ công nghệ kỹ thuật và hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào

TFP tăng nhanh và chiếm tỷ trọng cao trong đóng góp vào tăng trưởng kinh tế sẽ bảo đảm duy trì được tốc độ tăng trưởng dài hạn và tránh được những biến động kinh tế từ bên ngoài Tốc độ tăng TFP và đóng góp TFP vào tăng trưởng kinh tế là chỉ tiêu phản ánh đích thực và khái quát nhất hiệu quả sử dụng

Trang 37

nguồn lực sản xuất, làm căn cứ quan trọng để đánh giá tính chất phát triển bền vững của kinh tế, là cơ sở để phân tích hiệu quả sản xuất xã hội, đánh giá tiến bộ khoa học công nghệ, đánh giá trình độ tổ chức, quản lý sản xuất… của mỗi ngành, mỗi địa phương hay mỗi quốc gia

Tốc độ tăng TFP được tính theo công thức:

gTFP = gY – (α gK + β gL)

Trong đó, gY là tốc độ tăng GRDP, gK là tốc độ tăng vốn cố định, gL là tốc

độ tăng lao động làm việc, α và β lần lượt là các tham số đóng góp của vốn và lao động (α + β = 1), thường được xác định bằng phương pháp hạch toán hoặc dựa trên hàm sản xuất Cobb-Douglas

1.2.4.2 Các chỉ tiêu phản ánh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Cơ cấu kinh tế thể hiện cấu trúc bên trong của nền kinh tế Nó biểu hiện qua tỷ trọng của các phần tử tạo nên cơ cấu và qua các quan hệ chặt chẽ hay lỏng lẻo giữa các phần tử hợp thành Cơ cấu kinh tế quyết định sự phát triển hài hòa, nhịp nhàng của tất cả các phần tử tạo nên cơ cấu và cuối cùng đem lại kết quả tăng trưởng chung cho nền kinh tế

Cơ cấu kinh tế được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau:

- Dưới góc độ ngành: Cơ cấu kinh tế xem xét số lượng và chất lượng các ngành tạo nên nền kinh tế, cũng như các mối quan hệ giữa chúng với nhau Thông thường, nền kinh tế Việt Nam được chia làm 3 nhóm ngành lớn là nông – lâm nghiệp – thủy sản, công nghiệp – xây dựng và dịch vụ.Sự dịch chuyển cơ cấu ngành kinh tế là quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành từ trạng thái này sang trạng thái khác theo hướng hiện đại hơn và tiên tiến hơn, cụ thể là tăng tỷ trọng của nhóm ngành công nghiệp và dịch vụ, đồng thời giảm tỷ trọng nhóm ngành nông nghiệp trong GDP Ngoài ra, việc chuyển dịch cơ cấu trong nội bộ từng ngành cũng cần được xem xét

- Dưới góc độ lãnh thổ: Cơ cấu kinh tế được nhìn nhận theo sự bố trí lực

Trang 38

lượng sản xuất giữa các vùng Quá trình chuyển dịch cơ cấu vùng cần đảm bảo

sự phát triển cân đối, hài hòa giữa các vùng Quá trình chuyển dịch cơ cấu vùng cần đảm bảo tính bền vững trong quá trình phát triển Tuy nhiên cũng cần phải xem xét vai trò động lực của từng vùng để lôi kéo và thúc đẩy các vùng khác phát triển

- Dưới góc độ sở hữu: Xem xét có bao nhiêu loại hình kinh tế tồn tại và phát triển trong hệ thống kinh tế; trong đó, loại hình kinh tế nào có ý nghĩa quyết định đối với nền kinh tế Trong điều kiện toàn cầu hóa, định hướng vai trò của các loại hình kinh tế phải vì sự phát triển chung

1.2.4.3 Các chỉ tiêu phản ánh tăng trưởng kinh tế liên quan đến năng lực cạnh tranh của nền kinh tế địa phương

- Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh:

Hiện nay, tại Việt Nam để đánh giá chất lượng tăng trưởng kinh tế tại các địa phương trong cả nước, Chính phủ, cá tổ chức và doanh nghiệp thường nhìn nhận đến năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của địa phương đó để xem xét chất lượng tăng trưởng của địa phương đó theo từng thời kỳ phát triển

Cụ thể, chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) là chỉ số đánh giá và xếp hạng chất lượng điều hành kinh tế của chính quyền cấp tỉnh trong việc tạo lập môi trường chính sách thuận lợi ở mức độ như thế nào cho sự phát triển của doanh nghiệp

PCI là từ viết tắt của cụm từ Tiếng Anh “Provincial Competitiveness Index” Nó được công bố thí điểm lần đầu tiên vào năm 2005 gồm tám chỉ số thành phần, mỗi chỉ số thành phần lý giải sự khác biệt về phát triển kinh tế giữa các tỉnh, thành phố của Việt Nam, theo đó đã có 47 tỉnh, thành phố của Việt Nam được xếp hạng và đánh giá Lần thứ hai, năm 2006 hai lĩnh vực quan trọng của môi trường kinh doanh- Thiết chế pháp lý và Đào tạo lao động- được đưa vào xây dựng chỉ số PCI Từ năm 2006 trở đi, tất cả các tỉnh thành của Việt Nam đều được đưa vào bảng xếp hạng, đồng thời các chỉ số thành phần cũng

Trang 39

được tăng cường thêm Năm 2009, phương pháp luận PCI được điều chỉnh để phản ánh kịp thời sự phát triển năng động của nền kinh tế và các thay đổi trong môi trường pháp lý tại Việt Nam Sau khi loại bỏ chỉ số Ưu đãi doanh nghiệp nhà nước, hiện nay, PCI còn 9 chỉ số thành phần

Năm 2013, PCI đánh dấu bước thay đổi mới khi chỉ số cạnh tranh bình đẳng được đưa vào bộ chỉ số là một thước đo đánh giá, theo đó, một tỉnh được đánh giá là thực hiện tốt tất cả 10 chỉ số thành phần này cần có:

+ Chi phí gia nhập thị trường thấp;

+ Doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận đất đai và có mặt bằng kinh doanh ổn định; + Môi trường kinh doanh công khai minh bạch, doanh nghiệp có cơ hội tiếp cận công bằng các thông tin cần cho kinh doanh và các văn bản pháp luật cần thiết;

+ Thời gian doanh nghiệp phải bỏ ra để thực hiện các thủ tục hành chính

và thanh tra kiểm tra hạn chế nhất (Chi phí thời gian)

+ Chi phí không chính thức ở mức tối thiểu;

+ Cạnh tranh bình đẳng - chỉ số thành phần mới;

+ Lãnh đạo tỉnh năng động và tiên phong;

+ Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp, do khu vực nhà nước và tư nhân cung cấp; + Có chính sách đào tạo lao động tốt;

+ Hệ thống pháp luật và tư pháp để giải quyết tranh chấp công bằng và hiệu quả

Phương pháp tiếp cận PCI có bốn đặc điểm đáng chú ý:

+ Thứ nhất, chỉ số PCI khuyến khích chính quyền các tỉnh cải thiện chất lượng công tác điều hành bằng cách chuẩn hóa điểm số xung quanh các thực tiễn điều hành kinh tế tốt sẵn có tại Việt Nam mà không dựa trên các tiêu chuẩn điều hành kinh tế lý tưởng nhưng khó đạt được, do đó đối với từng chỉ tiêu, có thể

Trang 40

xác định được một tỉnh "ngôi sao" hoặc tỉnh đứng đầu của chỉ tiêu đó, và về lý thuyết bất kỳ tỉnh nào cũng có thể đạt được điểm số PCI tuyệt đối là 100 điểm bằng cách áp dụng các thực tiễn tốt sẵn có

+ Thứ hai, bằng cách loại trừ ảnh hưởng của các điều kiện truyền thống ban đầu (các nhân tố cơ bản đóng góp vào tăng trưởng kinh tế trong một tỉnh và gần như không thể thay đổi trong ngắn hạn như vị trí địa lý, cơ sở hạ tầng, quy

mô của thị trường và nguồn nhân lực), chỉ số PCI giúp xác định và hướng vào các thực tiễn điều hành kinh tế tốt có thể đạt được ở cấp tỉnh

+ Thứ ba, bằng cách so sánh đối chiếu giữa các thực tiễn điều hành với kết quả phát triển kinh tế, chỉ số PCI giúp lượng hóa tầm quan trọng của các thực tiễn điều hành kinh tế tốt đối với thu hút đầu tư và tăng trưởng Nghiên cứu chỉ ra được mối tương quan giữa thực tiễn điều hành kinh tế tốt với đánh giá của doanh nghiệp, và sự cải thiện phúc lợi của địa phương Mối liên hệ cuối cùng này đặc biệt quan trọng vì nó cho thấy các chính sách và sáng kiến thân thiện với doanh nghiệp khuyến khích họ hoạt động theo hướng đem lại lợi ích cho cả chủ doanh nghiệp, người lao động và cộng đồng thông qua tạo thêm việc làm và tăng thu nhập cho cả nền kinh tế

+ Thứ tư, các chỉ tiêu cấu thành chỉ số PCI được thiết kế theo hướng dễ hành động, đây là những chỉ tiêu cụ thể cho phép các cán bộ công chức của tỉnh đưa ra các mục tiêu phấn đấu và theo dõi được tiến bộ trong thực hiện Các chỉ tiêu này cũng rất thực chất vì được doanh nghiệp nhìn nhận là các chính sách then chốt đối với sự thành công của công việc kinh doanh

Ngoài ra, khả năng cạnh tranh của một nền kinh tế được xem xét dưới 3 góc độ: sản phẩm hàng hóa, doanh nghiệp và quốc gia

- Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp sản xuất trong nước

Để đo khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong nước chúng ta thường sử dụng chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên vốn sản xuất kinh

Ngày đăng: 01/10/2018, 00:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Xuân Bá, 2010. Nghiên cứu xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2010 đến 2020. Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Khánh "Hòa giai đoạn 2010 đến 2020
2. Lê Xuân Bá và Nguyễn Thị Tuệ Anh, 2006. Tăng trưởng kinh tế Việt Nam 15 năm, 1991 - 2005): từ góc độ phân tích đóng góp của các yếu tố sản xuất. Hà Nội: NXB Khoa học và kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng trưởng kinh tế Việt Nam 15 "năm, 1991 - 2005): từ góc độ phân tích đóng góp của các yếu tố sản xuất
Nhà XB: NXB Khoa học và kỹ thuật
3. Bộ Ngoại giao, 2014. Bản tin Kinh tế số 17. Vụ Tổng hợp Kinh tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản tin Kinh tế số 17
4. Cục Thống kê tỉnh Thái Bình, 2010-2015. Niên giám Thái Bình 2010-2015. Thái Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám Thái Bình 2010-2015
5. Dương Tấn Diệp, 2007. Kinh tế Vĩ Mô. TP.Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế Vĩ Mô
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
6. Trần Thọ Đạt, 2005. Các mô hình tăng trưởng kinh tế. Hà Nội: Nhà xuất bản Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các mô hình tăng trưởng kinh tế
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
7. Lê Huy Đức, 2004. Chất lượng tăng trưởng kinh tế và các tiêu chí đánh giá. Tạp chí Kinh tế và Dự báo, số tháng 5, tr. 27 - 36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp "chí Kinh tế và Dự báo
8. Hoàng Văn Hiển, 2008. Quá trình phát triển kinh tế - xã hội của Hàn Quốc, 1961- 1993) và kinh nghiệm đối với Việt Nam.Hà Nội: NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình phát triển kinh tế - xã hội của Hàn Quốc, 1961-"1993) và kinh nghiệm đối với Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
9. Nguyễn Quang Hiệp và Nguyễn Thị Nhã, 2015. Vai trò của các yếu tố nguồn lực đối với tăng trưởng kinh tế của Việt Nam giai đoạn 1996 – 2014.Tạp chí Kinh tế và phát triển, số 215, tr. 9-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí "Kinh tế và phát triển
10. Nguyễn Trọng Hoài, 2013. Các chủ đề phát triển chọn lọc: Khung phân tích và bằng chứng thực nghiệm cho Việt Nam. Tp Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản kinh tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các chủ đề phát triển chọn lọc: Khung phân tích và "bằng chứng thực nghiệm cho Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản kinh tế
11. Nguyễn Trọng Hoài và đồng nghiệp, 2010. Kinh tế phát triển. Hà Nội: Nhà xuất bản Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế phát triển
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động
12. Đinh Phi Hổ, 2012. Phương pháp nghiên cứu định lượng và những nghiên cứu thực tiễn trong kinh tế phát triển - nông nghiệp.Hà Nội: Nhà xuất bản Phương Đông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu định lượng và những nghiên cứu thực "tiễn trong kinh tế phát triển - nông nghiệp
Nhà XB: Nhà xuất bản Phương Đông
13. Đinh Phi Hổ, 2015. Kinh tế phát triển: Căn bản và nâng cao, Nhà xuất bản Kinh tế Tp Hồ Chí Minh. Tp Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản Thống Kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế phát triển: Căn bản và nâng cao, Nhà xuất bản "Kinh tế Tp Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nhà xuất bản "Kinh tế Tp Hồ Chí Minh." Tp Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản Thống Kê
14. Đinh Phi Hổ và cộng sự, 2008. Kinh tế phát triển: Lý thuyết và thực tiễn. Tp Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản Thống Kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế phát triển: Lý thuyết và thực tiễn
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống Kê
15. Phan Thúc Huân, 2006. Kinh tế phát triển. Hà Nội: Nhà xuất bản Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế phát triển
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
16. Cù Chí Lợi, 2008. Chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam.Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 336, tr. 3-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nghiên "cứu kinh tế
17. Mankiw và N. Gregory, 2001. Kinh tế học, Bản dịch Tiếng Việt. Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế học, Bản dịch Tiếng Việt
18. Phạm Hồng Mạnh, 2012. Chất lượng tăng trưởng kinh tế trong ngành thủy sản Việt Nam: Nhìn từ khía cạnh hàm sản xuất.Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, số 13, tr. 12 – 17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển "nông thôn
19. Phạm Hồng Mạnh, 2014. Đổi mới thể chế: Giải pháp đột phá để tăng trưởng và phát triển kinh tế tại Việt Nam.Tạp chí phát triển KH và CN, Tập 17, số Q1, 2014 , tr 29 - 46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí phát triển KH và CN
20. Nguyễn Văn Nam và Trần Thọ Đạt, 2006. Tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam. Hà Nội: Nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tốc độ và chất lượng tăng trưởng "kinh tế ở Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w