Trước đây những nghiên cứu về loài cây Bời lời đỏ một số tác giả đã nghiên cứu,viết tài liệu về cây Bời lời đỏ nhưng tập trung vào việc mô tả, phát hiện và giám địnhtên loài, nêu giá trị
Trang 1
PHAN THỊ TÍN
BÁO CÁO TIẾN ĐỘ
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG THÍCH ỨNG, SINH TRƯỞNG CỦA CÁC GIA ĐÌNH VÀ XUẤT XỨ BỜI LỜI ĐỎ
(Machilus odoratissima Nees) GIAI ĐOẠN RỪNG TRỒNG 9 THÁNG
TUỔI TẠI HUYỆN KON RẪY, TỈNH KON TUM
LUẬN VĂN THẠC SỸ LÂM NGHIỆP
Chuyên ngành: Lâm học
Trang 3
PHAN THỊ TÍN
BÁO CÁO TIẾN ĐỘ
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG THÍCH ỨNG, SINH TRƯỞNG CỦA CÁC GIA ĐÌNH VÀ XUẤT XỨ BỜI LỜI ĐỎ
(Machilus odoratissima Nees) GIAI ĐOẠN RỪNG TRỒNG 9 THÁNG
TUỔI TẠI HUYỆN KON RẪY, TỈNH KON TUM
LUẬN VĂN THẠC SỸ LÂM NGHIỆP
Trang 4ĐẠI HỌC HUẾ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM Độc lập – Tự Do – Hạnh Phúc
BÁO CÁO TIẾN ĐỘ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ và tên học viên: Phan Thị Tín
Chuyên ngành đào tạo: Lâm Học Lớp: Cao học Lâm Học 22D
Tên đề tài luận văn: “Nghiên cứu khả năng thích ứng, sinh trưởng của các gia
đình và xuất xứ Bời lời đỏ (Machilus odoratissima Nees) giai đoạn rừng trồng 9
tháng tuổi tại huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum”
Thời gian thực hiện đề tài: 3/2018 – 9/2018
Nội dung Báo cáo tiến độ.
I Tiến độ thực hiện đề tài: Căn cứ vào đề cương đã được Hội đồng đánh giá đề
cương thông qua, học viên báo cáo:
- Nội dung đã hoàn thành theo đúng tiến độ kế hoạch.
1 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu
Cơ sở lý luận của các vấn đề nghiên cứu.
Để nâng cao được năng suất, chất lượng rừng trồng nói chung và rừng cây Bời lời
đỏ nói riêng thì chúng ta phải nghiên cứu và giải quyết đồng bộ từ khâu chọn giống tốt
là bước quan trọng nhất tiếp đến là chọn vùng lập địa phù hợp để gây trồng vùng sinhthái phù hợp và các biện pháp kỹ thuật thâm canh rừng trồng Song song với nhữngcông tác trên cần nghiên cứu các biện pháp nhân giống phù hợp để cung cấp giốngchất lượng đảm bảo phẩm chất gieo ươm và phẩm chất di truyền tốt
Trước đây những nghiên cứu về loài cây Bời lời đỏ một số tác giả đã nghiên cứu,viết tài liệu về cây Bời lời đỏ nhưng tập trung vào việc mô tả, phát hiện và giám địnhtên loài, nêu giá trị công dụng của nó để sử dụng trong các giáo trình phân loại thựcvật, cây rừng trong danh mục tài nguyên thực vật…Cụ thể:
Nhà xuất bản giáo dục Hà Nội (1967) đã phát hành sách: “Tên cây rừng Việt Namcủa tác giả Lê Mộng Chân và cộng sự
Năm 1967, trong sách “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” của tác giả ĐỗTất Lợi có mô tả hình thái và nêu tác dụng của loài cây này một cách tương đối tỉ mỉ
và đầy đủ hơn về giá trị sử dụng: “…tất cả bộ phận của cây, nhiều nhất là vỏ thân cóchứa một chất nhầy (keo) và một ít tinh dầu nên người ta dùng vào công nghệ keo dán
Trang 5trong kỹ nghệ làm giấy, phụ gia bê tông, làm hương nén Vỏ giã nát đắp lên những nơisưng, bỏng, vết thương…, vỏ còn dùng sắc nước uống chữa bệnh đường ruột, lỵ…Nước ngâm vỏ Bời lời dùng làm cho tóc mượt Dầu Bời lời dùng làm sáp chế xàphòng Gỗ Bời lời dùng làm giấy, đóng đồ gia dụng, làm nhà tạm…”.
Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội (1971) đã phát hành sách: “Cây gỗ rừng miềnBắc Việt Nam” tập I của Viện điều tra quy hoạch rừng
Cả hai tài liệu nói trên mặc dù đã nêu lên về mặt phân loại học, mô tả đặc điểmsinh học của các loài Bời lời nhưng chưa đề cập đến những giá trị, công dụng, kỹ thuậtgây trồng đối với loài Bời lời đỏ
Trong tài liệu về “Cây cỏ Việt Nam” của Phạm Hoàng Hộ đã nói lên được nhữngđặc điểm hình thái và một số công dụng của Bời lời đỏ
Trong tài liệu “Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam” tập II – Nhà xuất bản khoa học
và kỹ thuật Hà Nội, (1971) của tác giả Lê Khả Kế, ngoài việc mô tả cây còn cho biếtthêm một số công dụng của Bời lời đỏ: “…vỏ có tác dụng làm dịu đau, chữa bệnh…quả chứa 45% chất béo dạng sáp gồm hầu hết là Laurin và Olein dùng làm nến và điềuchế xà phòng Gỗ dùng làm giấy, lá làm thức ăn cho trâu bò…”
Trong tài liệu dự án hỗ trợ chuyên ngành lâm sản ngoài gỗ tại Việt Nam – Phần2; đã trình bày cụ thể về đặc điểm hình thái, giá trị sử dụng, đặc điểm sinh thái, sinhhọc phân bố, công dụng của cây Bời lời đỏ Đặc biệt là trong khâu tuyển chọn giốngtạo cây con, kỹ thuật trồng rừng, công tác chăm sóc và bảo vệ sau khi trồng cũng như
kỹ thuật khai thác và bảo quản vỏ sau khai thác
Trong sách “Danh mục thực vật Tây nguyên” của Viện khoa học Lâm nghiệp ViệtNam, xuất bản năm 1984, cũng đã đề cập đến loài Bời lời đỏ nhưng cũng mới chỉ dừnglại ở mức độ mô tả và giới thiệu
Trong tạp chí Lâm nghiệp tháng 7 năm 1994 có bài viết về “Trồng Bời lời nhớt”của Nguyễn Bá Chất Ở bài viết này, tác giả cũng đã đề cập đến một số vấn đề kỹ thuậttrồng Bời lời nhưng chỉ dừng lại ở mức độ khái quát và mang tính chất định tính
Năm 2005, Trung tâm khuyến nông Quốc gia đã xuất bản sách “Kỹ thuật canhtác nông lâm kết hợp ở Việt Nam” do các tác giả Nguyễn Ngọc bình và Phạm ĐứcTuấn biên soạn, trong đó đã nêu nên các đặc điểm hình thái, phân bố, đánh giá hiệuquả kinh tế của một số mô hình NLKH có sử dụng cây Bời lời đỏ: Bời lời xen trongvườn cà phê, trồng cây Đậu đỗ, Ngô, Sắn xen trong vườn Bời lời Các kết quả này chỉ
là các số liệu điều tra phỏng vấn và tổng kết lại kinh nghiệm của người dân mà chưađưa ra những mô hình dự tính, dự báo về hiệu quả của các hệ thống NLKH trên
Cơ sở thực tiễn của các vấn đề nghiên cứu
Trang 6Bời lời đỏ là loài có giá trị kinh tế, sinh thái, môi trường và xã hội cao, nguồn
gen đang bị thoái hoá dần, năng suất và chất lượng rừng trồng chưa cao vì nguồngiống cung cấp không rỏ ràng, chưa được kiểm soát và chưa có rừng, vườn giốngcung cấp hạt giống quy chuẩn cho thị trường Thực tế đã trồng một số huyện ở khuvực nghiên cứu nhưng năng suất chưa cao Đã có một số công trình nghiên cứunhưng còn manh mún chưa có hệ thống và chưa bao trùm được khu vực Với cơ sởthực tiển này đề tài đặt ra là hết sức cần thiết
Bời lời đỏ có phân bố tự nhiên và là một trong số ít loài cây lâm nghiệp có giátrị kinh tế cao ở khu vực miền Trung và Tây nguyên Cây 2 năm tuổi có thể khaithác lấy vỏ, cây 3-4 năm tuổi sản lượng vỏ đạt 15 - 20kg/cây với 20.000đ/kg, + giácây gỗ 70.000đ/cây, vì vậy mỗi cây có tổng doanh thu 370.000 – 470.000 đồng/cây.Nếu trồng rừng mật độ 3000 cây/ha tổng doanh thu có thể tới 1,1 – 1,2 tỷ đồng/ha.(So với keo lai, là cây lâm nghiệp trồng phổ biến hiện nay, doanh thu chỉ 80 triệuđồng/ha/5 năm) chu kỳ khai thác ngắn sau 3-4 năm là có thể khai thác vỏ để bántăng thu nhập và nâng cao đời sống cho người dân Vì vậy Bời lời đỏ thực sự là loàicây xoá đói giảm nghèo cho người dân địa phương
Hiện nay nguồn gen loài cây này chưa cạn kiệt hoàn toàn nhưng do mức độkhai thác và phát triển chưa hợp lý thiếu cơ sở khoa học nên nguồn gen ngày mộtthoái hoá, chất lượng, sản lượng thấp Nếu không tiến hành nghiên cứu khai thác vàphát triển nguồn gen quý này kịp thời thì sẽ mất đi một nguồn gen quý hoặc khôngphát huy hết tiềm năng về kinh tế và sinh thái của nó
Bời lời đỏ là một loài thực vật thuộc họ Nguyệt quế (Lauraceae) Là loài bản địa
của nước ta, phân bố chủ yếu ở các tỉnh Tây Nguyên, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam,Quảng Trị
Bời lời đỏ được đánh giá là loài cây đa mục đích Vỏ bời lời chứa tinh dầu thơm,được chiết xuất tinh dầu trong y học, làm hương thơm, nguyên liệu làm keo dán côngnghiệp, sơn, keo trộn với vôi để xây nhà có độ bền rất tốt Ngoài ra nó còn được dùnglàm nhang đốt trong tín ngưỡng, tôn giáo của người dân Gỗ Bời lời đỏ có màu nâuvàng, cứng không mối mọt, có thể sử dụng đóng đồ dùng, làm nguyên liệu giấy hoặclàm gỗ củi, đặc biệt đóng thùng để đựng nước mắm trong chế biển thủy hải sản thìkhông có loại gỗ nào thay thế được Lá có thể làm thức ăn cho gia súc Đã có nhiềunghiên cứu và chiết xuất nhiều chất có giá trị và ứng dụng trong y học từ các bộ phậncủa cây Bời lời đỏ
1.1 Nghiên cứu nước ngoài
Trên thế giới Bời lời đỏ (Machilus odoratissima Nees) là loài cây bản địa tại
một số nước Ấn Độ, Trung Quốc (Phúc Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây, Hải Nam,Vân Nam), Bangladesh, Bhutan, Nepal, Sri Lanka, Malaysia, Philippines, Australia
Trang 7và một số đảo thuộc Thái Bình Dương (Dassanayake, 1995) Trở thành loài cây manglại hiệu quả kinh tế cao, các nước này cũng đã có một số nghiên cứu về loài cây nàysong còn rất ít, chỉ tập trung vào nghiên cứu giá trị dược liệu được lấy từ vỏ cây vànhân giống từ hạt cụ thể:
a Ấn Độ
Với tên gọi “Nguyệt Quế Ấn Độ” được tìm thấy ở khu vực Đông Bắc, lá và cácchất nhầy từ vỏ cây được sử dụng trong kẹo cao su, lá của Bời lời đỏ được d ùng đểphục vụ chăn nuôi trong các trang trại chăn gia súc và làm thuốc đắp
Các tác giả Radhakrishman.T.R, Ramasany.A, Arfin.S, 1989 đã tách được từ vỏcây Bời lời đỏ chất Sufoof-e-Musammin dùng làm dược liệu trong y học Chất nhầycủa Bời lời đỏ được phân lập từ vỏ bột bằng kỹ thuật khai thác sử dụng nước nóng liêntục và kết tủa bằng cồn tuyệt đối
Năm 2009, các tác giả S.P.Singh và Dipti Singh đã công bố những nghiên cứu vềviệc tìm nguồn nguyên liệu sinh học, đặc tính của các loại dầu sinh học từ nhữngnguồn thực vật khác nhau như là nguồn nguyên liệu thay thế cũng đã mô tả đặc tínhnguyên liệu dầu sinh học của cây Bời lời đỏ được chế biến từ hạt cây Bời lời
Theo tạp chí quốc tế về Công nghệ sinh học và sinh học phân tử nghiên cứu Bờilời đỏ là một cây thuốc có giá trị dược phẩm rất lớn Loài này cực kì nguy cấp do tìnhtrạng khai thác bừa bãi để dùng làm nguyên liệu cho ngành công nghiệp dược phẩm,
nó được sử dụng để sản xuất các loại thuốc giảm đau, có tác dụng hiệu quả trong điềutrị tiêu chảy và bệnh lỵ (Aubriot D, 2015)
Các nhà khoa học Radhkrishman, Ramasani A và Arfin S đã tách được từ vỏcây Bời lời đỏ chất Sufoof- E musummin dùng làm dược liệu trong y học (Tạp chíquốc tế, 2013)
Các nghiên cứu trên có thể khẳng định một cách chắc chắn về giá trị kinh tế củaBời lời đỏ, nhất là trong y dược
b Tại Indonesia
Các tác giả Rizan Helmi và Zamri Adel bằng phương pháp quang phổ đã chiếtxuất từ cành rễ và vỏ cây Bời lời các chất như 2,9 dyhydroxy, 1,10dimethoxyaporhyne, 6 methonyphenan threne 9% dùng trong y học
Tại hội nghị quốc tế về y học dân tộc và những cây thuốc hợp tại Indonexia năm
1990 đã xác nhận cây Bời lời đỏ có thể chiết xuất một số hóa chất dùng trong y dược(Dassanayake, 1995)
Các nghiên cứu tại Indonesia cũng phần nào khẳng định tầm quan trọng của loàicây Bời lời đỏ trong y học
Trang 8c Tại Philippines
Gỗ Machilus odoratissima Nees thường được sử dụng làm nhiên liệu, ngoài ra
loài cây này được đưa vào một số chương trình bảo tồn ở Philippines (Rabena, 2008).Vào thế kỉ 19 trong quần đảo Comoros để đáp ứng nhu cầu cao của các nhà máychưng cất mía, và sau này gỗ của Bời lời đỏ được dùng làm chất đốt (Vos, 2004), một
số nơi còn sử dụng trong y học dân tộc, lá được cắt nhỏ và ngâm trong nước để làmthạch cao
d Tại Trung Quốc
Tháng 9 năm 2011, Yun-Song Wang ở Yunnan Unversity, Kunming, P.R China
đã công bố và mô tả cấu trúc hóa học về một số những chiết suất biệt dược mới từ câyBời lời đỏ có tác dụng trong việc chữa bệnh
Đại học y khoa Quảng Tây – Trung Quốc đã nghiên cứu thành phần hóa học củacác loại tinh dầu từ các sản phẩm tươi và khô của Bời lời đỏ bằng phương pháp chưngcất hơi nước Tổng cộng có 33 hợp chất đã được xác định từ các loại dầu của lá tươi,chiếm 91,01% trong tổng số các loại dầu Trong số đó, các thành phần chính là β-caryophyllene (22,83%), β-ocimene (7,19%), phytol (6,90%), β-pinen (6,79%), α-pinen (5,97%), oxit caryophyllene (5.95% ) và như vậy Tổng cộng có 42 hợp chất đãđược xác định từ các loại tinh dầu của lá khô, chiếm 93,89% trong tổng số các loạidầu Họ chủ yếu là các β-caryophyllene (23,22%), β-ocimene (7,78%),bicyclogermacrene (7,24%), α-aryophyllene (5,89%), α-pinen (5,42%) và như vậy.Nghiên cứu này cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng tiêu chuẩn chất lượng,cũng như sự phát triển hơn nữa và công dụng của loài cây Bời lời đỏ (Qin Wen)
e Các nghiên cứu khác
- Theo nghiên cứu của hai tác giả Bhuakuni và Gupta năm 1983 đã tách được từ
vỏ cây Bời lời đỏ chất Sufoof-e-Musammin dùng làm dược liệu trong y học
Năm 2002, tại Bangalore các tác giả BS Somashekhar, Manju Sharma đã tổngkết, mô tả thực vật và phân loại những bộ phận dùng để làm thuốc và sản xuất biệtdược của những loài cây trong khu vực Trong đó, đã xác nhận bộ phận dùng để làmthuốc và sản xuất ra dược liệu của cây Bời lời đỏ là thân và vỏ than
- Năm 2007 nghiên cứu của Rebena thì vỏ Bời lời đỏ chứa tinh dầu thơm đượcchiết dùng trong y học, làm hương thơm, nguyên liệu và làm keo dán công nghiệphoặc sơn, ngoài ra còn được dùng làm nhang đốt trong tín ngưỡng tôn giáo của ngườidân (A.R Rabena, 2007)
- Theo nghiên cứu của tác giả Wang năm 2010 đã công bố và mô tả cấu trúchóa học về một số chiết xuất biệt dược mới từ cây Bời lời đỏ có tác dụng trong việcchữa bệnh
Trang 9- Theo nghiên của tác giả Shahadat và các cộng sự năm 2010, chiết xuất tinh dầucủa cây Bời lời đỏ có tác dụng trong việc điều trị nhiễm trùng đường tiết niệu và cácbệnh lây lan qua đường tình dục ở người.
- Theo nghiên cứu của tác giả Singh năm 2010 đã công bố những kết quả về việctìm nguồn nguyên liệu sinh học, đặc tính của các loại dầu sinh học từ những nguồnthực vật khác nhau như là nguồn nguyên liệu thay thế cũng đã mô tả đặc tính nguyênliệu dầu sinh học của cây Bời lời đỏ được chiết xuất từ hạt cây Bời lời đỏ
- Tại Thái Lan với một số nghiên cứu cũng chứng minh rằng rễ mang sợi được sửdụng để sản xuất dây và bột giấy
- 2013 Tạp chí Quốc tế về Công nghệ sinh học Molecular Biology đã nghiên cứu
thành công loài cây Bời lời đỏ bằng phương pháp in vitro.
1.2 Một số nghiên cứu trong nước
Với nhiều tên gọi khác nhau: Mò nhớt, Sàn thụ, Bời lời, Bời lời nhớt, Nhớtmèo Hiện được trồng rải rác ở các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình,một số ít ở Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hà Giang, Thừa Thiên Huế đặc biệt là loài cây bảnđịa phát triển mạnh ở Quảng Trị và Tây Nguyên
a Tỉnh Bắc Cạn
Năm 2014, gia đình ông Hồ Văn Hời ở thôn Khuổi Mỹ, xã Hữu Thác, huyện Na
Rỳ tỉnh Bắc cạn đã trồng 6.400 cây Bời lời đỏ trên diện tích 3ha Năm 2014, tại BảnNhuần, xã Quảng Chu, huyện Chợ Mới cũng mạnh dạn trồng 0,8 ha cây Bời lời đỏtrên đất núi đá xen lẫn với ngô Mặc dù trồng xen lẫn với các loại cây trồng khácnhưng cây Bời lời vẫn phát triển khá tốt, tỷ lệ sống khi trồng đạt trên 90% Việc chămsóc loại cây này cũng rất đơn giản, giống như các loại gỗ rừng trồng khác
Cây Bời lời đỏ hiện nay được trồng tập trung tại 2 huyện Na Rỳ và Chợ Mới vớidiện tích khoảng 24 ha Tại Bắc Kạn, cây Bời lời đỏ hiện nay đã được gieo ươm thànhcông (Bản tin nông nghiệp, 2015)
b Tại tỉnh Quảng Trị
Từ năm 2009 đến nay, Trung tâm Khuyến nông Khuyến ngư tỉnh đã tổ chức triểnkhai thực hiện mô hình trồng rừng thâm canh cây Bời lời đỏ diện tích 32,5 ha trên địabàn 2 huyện Hướng Hóa và Đakrông, tổng kinh phí đầu tư gần 400 triệu đồng, điểnhình ở các mô hình:
Bời lời năm thứ 2 trồng xen dưới vườn chuối tại Thị trấn Lao Bảo (Hướng Hóa).Theo các hộ thực hiện mô hình, cây Bời lời đỏ rất phù hợp với điều kiện canh tácnương rẫy của bà con nông dân, giá trị kinh tế và môi trường mang lại từ rừng trồngBời lời khi rừng thành thục là rất lớn và có ý nghĩa trong xóa đói giảm nghèo Qua 3
Trang 10năm thực hiện mô hình, Trung tâm khuyến nông khuyến ngư đã đánh giá được cácphương thức bố trí mô hình trồng rừng cây Bời lời phù hợp với các đặc điểm sinh thái,chỉ ra được các biện pháp kỹ thuật canh tác có hiệu quả cao Việc nhân rộng mô hìnhnày sẽ đưa Bời lời đỏ không chỉ đơn thuần là cây xóa đói giảm nghèo lý tưởng chongười dân, nhất là với đồng bào dân tộc thiểu số, mà trong tương lai sẽ trở thành loạicây làm giàu cho nông dân, góp phần không nhỏ vào việc phủ xanh đất trống đồi trọc(Nguyễn Thị Phương Thủy).
Ở A Vao từ những năm 2004 người dân đã phát triển loại cây này, nhưng đa sốtrồng tự phát, không tập trung đến hiệu quả chưa cao Trước thực trạng đó, tháng8/2012, được sự chỉ đạo của Phòng Nông nghiệp huyện, Trạm Khuyến nông- khuyếnngư cũng như sự hỗ trợ của dự án trồng cây Bời lời đỏ do Oxfam - Hồng Kông tài trợ,
xã A Vao đã triển khai dự án đầu tư mở một vườn ươm giống cây Bời lời đỏ trên diệntích 500 m2 tại thôn Ró Ró 1, với số vốn đầu tư bước đầu là 120 triệu đồng Tính đếnnăm 2014 toàn xã A Vao đã trồng tập trung được gần 10 ha cây Bời lời đỏ (Báo QuảngTrị, 02/01/2014)
c Tại Quảng Nam
Trong quyết định Số: 1518/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án trồngrừng thay thế diện tích rừng phòng hộ, sản xuất chuyển mục đích sử dụng để xâydựng công trình thủy điện Sông Bung 2 có nêu rõ việc thay thế một số loài câytrồng trong đó có Bời lời đỏ đối với rừng sản xuất, mật độ trồng: 1.333 cây/ha,phương thức trồng hỗn loài
Trong đánh giá giữa kỳ về việc hiện dự án BCC, huyện Tây Giang tổ chức hỗ trợ
120 ngàn cây giống Bời lời đỏ cho người dân các thôn trên địa bàn xã Tr’Hy Các thônVoòng, A banh 2: 20.000 cây, thôn Dầm 1: 18.000 cây, thôn A riêu, A chua, Dầm 2:16.000 cây, A banh 1: 14.000 cây
d Các tỉnh thuộc khu vực Tây Nguyên
Trên địa bàn tỉnh Gia Lai trước đây cùng với việc phủ xanh đất trống đồi trọcbằng các loại cây lâm nghiệp như: thông ba lá, keo, bạch đàn… cây Bời lời cũng đượcngười dân các xã Lơ Pang, Đêr A, Đak Trôi, Kon Chiêng, Kon Thụp (huyện MangYang) đưa vào trồng tại các rẫy, tuy nhiên chưa nghĩ đến vấn đề thương mại và nhu cầuthị trường (Báo Gia lai, 2014)
Năm 1991 kỹ sư Nguyễn Hiền đã đưa ra chuyên đề về “Kỹ thuật trồng Bời lờiđỏ” đã giới thiệu một số nét cơ bản về kỹ thuật gieo ươm và trồng rừng Bời lời đỏ.Tuy nhiên chưa đưa ra được các đặc điểm hình thái (Nguyễn Hiền, 1991)
Năm 1997, trong luận văn Thạc sĩ với đề tài “Bước đầu nghiên cứu một số đặc
điểm sinh học của loài Bời lời đỏ (Machilus odoratissima Nees) làm cơ sở cho công
Trang 11tác trồng rừng tại tỉnh Gia Lai” của tác giả Lê Thị Lý, Trường đại học Tây Nguyên đã
xác định được một số đặc điểm sinh học: mô tả thân, cành, lá, rễ, hoa, mùa và chu kỳ
ra hoa, khả năng nảy mầm, kỹ thuật gieo ươm, dự tính sản lượng vỏ trên mô hìnhtrồng thuần và trồng xen trong cà phê Tuy nhiên các dự tính sản lượng vỏ mới chỉ tạmtính trên cơ sở giải tích một số cây cụ thể mà chưa đưa ra được các ước lượng trên cơ
sở hàm tương quan về mối quan hệ giữa sản lượng vỏ với tuổi cây, mật độ trồng…(Mai Minh Tuấn)
Mai Minh Tuấn – Đánh giá sinh trưởng và hiệu quả kinh tế của một số mô hình
trồng Bời lời đỏ (Litsea glutinosa Roxb) tại một số huyện ở Gia Lai.
Năm 2001 trong báo cáo khoa học của Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam về
đề tài xác định một số cây trồng chính phục vụ trồng rừng sản xuất vùng bắc TâyNguyên, tác giả Trần Văn Con đã đề xuất trồng Bời lời đỏ trên các dạng lập địachính là đất đỏ nâu dưới trảng cây bụi, bằng phẳng, tương đối ẩm và đất đỏ nâu dướitrảng cây bụi, cao nguyên bằng phẳng, khô nóng với phương thức trồng theo hỗngiao, nông lâm kết hợp
Năm 2009, Bảo Huy và các cộng sự đã thực hiện đề tài nghiên cứu “Ước lượng
năng lực hấp thụ CO 2 của Bời lời đỏ (Litsea glutinosa) trong mô hình nông lâm kết hợp Bời lời đỏ – Sắn ở huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai” Trong đó nhóm tác giả đã
xây dựng được một số hàm tương quan giữa sinh khối của cây Bời lời đỏ, biểu sảnlượng… Nghiên cứu của Bảo Huy về ước lượng năng lực hấp thu CO2 của Bời lời đỏtrên mô hình NLKH ở huyện Mang Yang-Gia Lai đã mô tả, mô phỏng hóa khá cụ thể
về sinh trưởng, tăng trưởng của Bời lời đỏ ở mô hình này (Bảo Huy, 2009)
Theo ý tưởng nghiên cứu của Nguyễn Đình Hải (2011), người ta hoàn toàn có thểsản xuất dầu Diesel từ dầu của hạt cây Bời lời để làm nhiên liệu sinh học phục vụ sảnxuất, sinh hoạt Lượng quả dồi dào của cây Bời lời đỏ, sau khi thu hoạch quả, qua sơchế, sẽ được đưa vào máy ép tách dầu ra khỏi quả Qua công nghệ sản xuất dầu diesel
từ lượng dầu trên, những lít xăng từ cây Bời lời đầu tiên ở Việt Nam sẽ ra đời Sảnphẩm có giá trị thương mại cao hơn đối với công nghiệp thực phẩm, mỹ phẩm và hóadược, cũng có thể được dùng như dầu diesel sinh học chất lượng hoàn hảo (NguyễnĐình Hải, 2011)
Năm 2011, trong luận văn thạc sĩ “Đánh giá sinh trưởng và hiệu quả kinh tế của
một số mô hình trồng Bời lời đỏ (Litsea glutinosa Roxb) tại một số huyện Gia Lai của
Mai Minh Tuấn đã bước đầu đánh giá sinh trưởng, năng suất và hiệu quả kinh tế của
ba mô hình trồng Bời lời đỏ xen cà phê, xen sắn và trồng thuần loài Nhìn chung, đề tàichỉ bước đầu so sánh sinh trưởng và hiệu quả kinh tế trồng Bời lời ở các phương thứctrồng khác nhau Những nghiên cứu về ảnh hưởng các biện pháp kỹ thuật, điều kiệnlập địa và chất lượng giống chưa được đề cập đến (Mai Minh Tuấn)
Trang 12Theo nguồn báo Gia Lai (2012) trong thời điểm hiện nay cây Bời lời đỏ khôngchỉ có giá trị kinh tế ổn định mà còn giải quyết được việc làm cho người dân Bời lời
đỏ đang trở thành một loại cây “xóa đói giảm nghèo” trong các vùng đồng bào dân tộcthiểu số
Năm 2017, tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn các bài báo “Đặc
điểm sinh trưởng của bời lời đỏ (machilus odoratissima nees) ở tỉnh Gia Lai, Đak Lak
và Kon Tum”; “Đặc điểm sinh trưởng của bời lời đỏ (machilus odoratissima nees) ở
tỉnh Quảng Nam, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế”; “Đánh giá hiệu quả kinh tế rừng
trồng bời lời đỏ (machilus odoratissimanees) thuần loài và xen sắn tại huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai; “Đánh giá hiệu quả kinh tế rừng trồng bời lời đỏ (machilus
odoratissima nees) thuần loài và xen sắn tại huyện Hướng Hoá, tỉnh Quảng Trị”;
“Đánh giá ảnh hưởng của các gia đình đến tỷ lệ sống, sinh trưởng của cây con bời lời
đỏ (machilus odoratissima nees) giai đoạn 6 tháng tuổi ở vườn ươm tỉnh Quảng Trị”
đã đánh giá được từ đặc điểm sinh trưởng đến cây con vườn vươm và đến hiệu quảkinh tế của Bời lời đỏ ở miền Trung và Tây Nguyên
2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum
Kon Rẫy là một huyện thuộc tỉnh Kon Tum Huyện lỵ là thị trấn Đăk Rve
Trang 13Hình 1 Bản đồ huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum
Kon Rẫy nằm ở phía Nam của Kon Tum Phía Đông Nam, giáp thị xã Kon Tum,phía Tây giáp huyện Đăk Hà, phía Đông Bắc giáp huyện Kon Plông, phía Nam giápcác huyện K'Bang, Đăk Đoa, Chư Păh của tỉnh Gia Lai