MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Đói nghèo là một thực trạng của quá trình phát triển kinh tế và hiện hữu trong cuộc sống như một yếu tố lịch sử. Nó có thể sinh ra, tồn tại, phát triển và cũng có thể mất đi ở mỗi con người, mỗi quốc gia hay mỗi xã hội. Đói nghèo hiện vẫn đang tồn tại, bao vây cuộc sống của mỗi gia đình, đe dọa con đường phát triển của mỗi quốc gia, thách thức cả nhân loại. Có thể nói, đói nghèo đã và đang diễn ra trên khắp các châu lục với mức độ khác nhau, đặc biệt ở các nước lạc hậu, chậm phát triển. Với hơn 50% dân số thế giới hiện nay đang phải sống dưới mức 2 USD một ngày, việc xóa đói, giảm nghèo đã và đang trở thành vấn đề toàn cầu, là mục tiêu của thế kỷ XXI và thế giới đã lấy ngày 17 tháng 10 hằng năm là Ngày thế giới xóa đói, giảm nghèo. Hồ Chủ tịch là người đã tìm ra đường lối cứu nước, giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản, chấm dứt sự khủng hoảng đường lối cứu nước, mở ra một thời đại mới trong lịch sử dân tộc thời đại Hồ Chí Minh. Chính Người đã khai phá con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở một nước nông nghiệp lạc hậu, chưa kinh qua chủ nghĩa tư bản, bị chiến tranh tàn phá, từng bước làm cho nghèo trở nên đủ, đủ trở nên giàu, giàu thì giàu thêm 33, tr. 62 để đi tới một xã hội dân giàu, nước mạnh. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người luôn luôn chăm lo đến đời sống nhân dân và đặc biệt chú ý đến vấn đề đói nghèo. Có thể khẳng định rằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người kiến lập và đặt nền móng tư tưởng vĩ đại xóa đói, giảm nghèo. Xóa đói, giảm nghèo là mục đích, một nội dung, một phương hướng chiến lược lâu dài của chủ nghĩa xã hội, nó không phải là công việc cứu tế, là sự ban ơn, mà là một cuộc cách mạng vĩ đại, bền bỉ, tận tâm, tận trí, tận lực. Ngay từ những ngày đầu sau khi cách mạng tháng Tám năm 1945 vừa thành công, Chính phủ cách mạng lâm thời do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu vừa được thành lập, ngày đêm phải đối phó với thù trong, giặc ngoài, nhưng vẫn dành sự quan tâm sâu sắc đến việc chăm lo cuộc sống cho người lao động nghèo khổ, lực lượng cơ bản của cách mạng vừa thoát khỏi cảnh nô lệ, bị áp bức, bóc lột. Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt chú ý đến vấn đề chống đói. Người kêu gọi toàn dân cùng Chính phủ tập trung lực lượng để chống ba thứ giặc: Giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm, trong đó giặc đói được Người đặt lên hàng đầu, vì vậy, diệt giặc đói là một trong 6 nhiệm vụ cấp bách cần phải giải quyết. Người nhấn mạnh: Chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân. Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi 35, tr. 572 và dân đủ ăn đủ mặc thì những chính sách của Đảng và Chính phủ sẽ dễ dàng thực hiện. Nếu dân đói, rét, dốt, bệnh thì chính sách của ta dù có hay đến mấy thì cũng không thể thực hiện được 35, tr. 572. Tiếp tục lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, hơn nửa thế kỷ qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa đói, giảm nghèo đã trở thành mục tiêu phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân, một sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa cao cả mang tính nhân văn sâu sắc, một trọng điểm trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội. Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều quyết sách để xóa đói, giảm nghèo như: Cải cách ruộng đất; miễn giảm thuế; xây dựng các công trình xã hội. Bước sang thời kỳ đổi mới, vấn đề xóa đói, giảm nghèo vẫn luôn được thực hiện. Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ VII của Đảng khẳng định: Hơn bốn năm qua, để đáp ứng các nhu cầu của đời sống nhân dân, chúng ta đã động viên và phát huy khả năng của toàn xã hội, khuyến khích người lao động tăng thu nhập và làm giàu chính đáng 16, tr. 31. Đại hội lần thứ X của Đảng tiếp tục nhấn mạnh: Tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội và trợ cấp về điều kiện sản xuất, nâng cao kiến thức để người nghèo, hộ nghèo, vùng nghèo tự vươn lên thoát nghèo và cải thiện mức sống một cách bền vững; kết hợp chính sách nhà nước với sự giúp đỡ trực tiếp và có hiệu quả của toàn xã hội, của những người khá giả cho người nghèo, hộ nghèo nhất là đối với vùng đặc biệt khó khăn. Ngăn chặn tình trạng tái nghèo 19, tr. 217. Qua hơn hai mươi năm thực hiện công cuộc đổi mới, công tác xóa đói, giảm nghèo đã được xã hội hóa, thu hút được sự tham gia của mọi cấp, mọi ngành, của đông đảo mọi tầng lớp nhân dân. Thành tựu xóa đói, giảm nghèo của Việt Nam đã được thế giới đánh giá cao. Tuy nhiên, công cuộc xóa đói, giảm nghèo ở nước ta hiện đang phải đối mặt với những khó khăn và thử thách lớn. Thu nhập và mức chi dùng bình quân đầu người thấp; khoảng cách chênh lệch giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng miền có xu hướng tăng; tỷ lệ hộ dân tái nghèo còn lớn, xóa đói, giảm nghèo thiếu tính bền vững. Nghệ An là tỉnh nằm ở vị trí trung tâm vùng Bắc Trung Bộ, giáp tỉnh Thanh Hóa về phía Bắc, tỉnh Hà Tĩnh về phía Nam, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào về phía Tây và phía Đông giáp biển Đông. Với diện tích 16.487 km2, Nghệ An chiếm 5,1% diện tích tự nhiên của cả nước. Về dân số, Nghệ An là địa phương đông dân thứ tư của Việt Nam với trên 3,1 triệu người. Mật độ dân số 184 ngườikm2. Với 1120 huyện, thị thuộc khu vực miền núi và núi cao, Nghệ An là một tỉnh nghèo, có tỷ lệ hộ nghèo cao so với bình quân chung cả nước. Trong những năm qua, Đảng bộ và nhân dân Nghệ An rất quan tâm đến công tác xóa đói, giảm nghèo, thực hiện nhiều chính sách, dự án xóa đói, giảm nghèo và đã mang lại hiệu quả tích cực. Các chương trình, dự án phát triển kinh tế xã hội gắn với giảm nghèo trên địa bàn phát huy tốt, tạo điều kiện thuận lợi cho hộ nghèo, xã nghèo vươn lên. Rút kinh nghiệm thực hiện chương trình giảm nghèo thời kỳ 2001 2005; triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp thực hiện chương trình giảm nghèo giai đoạn 2006 2010, từ năm 2006 đến nay, bình quân hàng năm giảm trên 3% tỷ lệ hộ nghèo, tương đương hơn 18.000 hộ nghèonăm, đưa tỷ lệ hộ nghèo từ 27,14% vào đầu năm 2006 xuống còn 17,31% vào cuối năm 2008. Số hộ thoát nghèo là 56.685, bằng 60% kế hoạch giai đoạn 2006 2010. Bên cạnh những thành tựu đạt được, công tác xóa đói, giảm nghèo ở Nghệ An vẫn còn những tồn tại. Tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh vẫn cao hơn so với bình quân của cả nước; một số huyện miền núi có tỷ lệ hộ nghèo cao trên 40%, trong đó có 3 huyện nằm trong tổng số 61 huyện của cả nước có tỷ lệ hộ nghèo trên 50% (Kỳ Sơn, Tương Dương, Quế Phong) 56. Do vậy, tỉnh Nghệ An cần đẩy mạnh hơn nữa việc thực hiện công tác xóa đói, giảm nghèo. Trước yêu cầu đó, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về xóa đói, giảm nghèo cũng như thực trạng đói nghèo, công tác xóa đói, giảm nghèo ở Nghệ An, lý giải một cách khoa học cơ sở lý luận và thực tiễn vấn đề xóa đói, giảm nghèo, vận dụng, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về xóa đói, giảm nghèo để đưa ra các giải pháp phù hợp với thực tiễn địa phương Nghệ An là yêu cầu cấp thiết. Chính vì vậy, chúng tôi chọn Xóa đói, giảm nghèo ở tỉnh Nghệ An hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh làm đề tài luận văn thạc sĩ khoa học chính trị, chuyên ngành Hồ Chí Minh học.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đói nghèo là một thực trạng của quá trình phát triển kinh tế và hiệnhữu trong cuộc sống như một yếu tố lịch sử Nó có thể sinh ra, tồn tại, pháttriển và cũng có thể mất đi ở mỗi con người, mỗi quốc gia hay mỗi xã hội
Đói nghèo hiện vẫn đang tồn tại, bao vây cuộc sống của mỗi gia đình,
đe dọa con đường phát triển của mỗi quốc gia, thách thức cả nhân loại Có thểnói, đói nghèo đã và đang diễn ra trên khắp các châu lục với mức độ khácnhau, đặc biệt ở các nước lạc hậu, chậm phát triển
Với hơn 50% dân số thế giới hiện nay đang phải sống dưới mức 2 USDmột ngày, việc xóa đói, giảm nghèo đã và đang trở thành vấn đề toàn cầu, làmục tiêu của thế kỷ XXI và thế giới đã lấy ngày 17 tháng 10 hằng năm là
"Ngày thế giới xóa đói, giảm nghèo"
Hồ Chủ tịch là người đã tìm ra đường lối cứu nước, giải phóng dân tộctheo con đường cách mạng vô sản, chấm dứt sự khủng hoảng đường lối cứunước, mở ra một thời đại mới trong lịch sử dân tộc - thời đại Hồ Chí Minh.Chính Người đã khai phá con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở một nước nôngnghiệp lạc hậu, chưa kinh qua chủ nghĩa tư bản, bị chiến tranh tàn phá, từngbước làm cho "nghèo trở nên đủ, đủ trở nên giàu, giàu thì giàu thêm" [33, tr 62]
để đi tới một xã hội dân giàu, nước mạnh
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người luôn luôn chăm lo đến đời sống nhândân và đặc biệt chú ý đến vấn đề đói nghèo Có thể khẳng định rằng, Chủ tịch
Hồ Chí Minh là người kiến lập và đặt nền móng tư tưởng vĩ đại "xóa đói,giảm nghèo" Xóa đói, giảm nghèo là mục đích, một nội dung, một phươnghướng chiến lược lâu dài của chủ nghĩa xã hội, nó không phải là công việccứu tế, là sự ban ơn, mà là một cuộc cách mạng vĩ đại, bền bỉ, tận tâm, tận trí,
Trang 2tận lực Ngay từ những ngày đầu sau khi cách mạng tháng Tám năm 1945 vừathành công, Chính phủ cách mạng lâm thời do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứngđầu vừa được thành lập, ngày đêm phải đối phó với thù trong, giặc ngoài,nhưng vẫn dành sự quan tâm sâu sắc đến việc chăm lo cuộc sống cho ngườilao động nghèo khổ, lực lượng cơ bản của cách mạng vừa thoát khỏi cảnh nô
lệ, bị áp bức, bóc lột Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt chú ý đến vấn đề chốngđói Người kêu gọi toàn dân cùng Chính phủ tập trung lực lượng để chống bathứ giặc: Giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm, trong đó giặc đói được Người đặtlên hàng đầu, vì vậy, diệt giặc đói là một trong 6 nhiệm vụ cấp bách cần phảigiải quyết Người nhấn mạnh: "Chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hếtsức chăm nom đến đời sống của nhân dân Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ
có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi" [35, tr 572] và "dân đủ ăn
đủ mặc thì những chính sách của Đảng và Chính phủ sẽ dễ dàng thực hiện.Nếu dân đói, rét, dốt, bệnh thì chính sách của ta dù có hay đến mấy thì cũngkhông thể thực hiện được" [35, tr 572]
Tiếp tục lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, hơn nửa thế kỷ qua, dưới
sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa đói, giảm nghèo đã trở thànhmục tiêu phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân, một sự nghiệp cách mạng xã hộichủ nghĩa cao cả mang tính nhân văn sâu sắc, một trọng điểm trong chiếnlược phát triển kinh tế - xã hội Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều quyết sách
để xóa đói, giảm nghèo như: Cải cách ruộng đất; miễn giảm thuế; xây dựngcác công trình xã hội Bước sang thời kỳ đổi mới, vấn đề xóa đói, giảm nghèovẫn luôn được thực hiện Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ VII của Đảngkhẳng định: "Hơn bốn năm qua, để đáp ứng các nhu cầu của đời sống nhândân, chúng ta đã động viên và phát huy khả năng của toàn xã hội, khuyếnkhích người lao động tăng thu nhập và làm giàu chính đáng" [16, tr 31] Đạihội lần thứ X của Đảng tiếp tục nhấn mạnh:
Tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội vàtrợ cấp về điều kiện sản xuất, nâng cao kiến thức để người nghèo,
Trang 3hộ nghèo, vùng nghèo tự vươn lên thoát nghèo và cải thiện mứcsống một cách bền vững; kết hợp chính sách nhà nước với sự giúp
đỡ trực tiếp và có hiệu quả của toàn xã hội, của những người khágiả cho người nghèo, hộ nghèo nhất là đối với vùng đặc biệt khókhăn Ngăn chặn tình trạng tái nghèo [19, tr 217]
Qua hơn hai mươi năm thực hiện công cuộc đổi mới, công tác xóa đói,giảm nghèo đã được xã hội hóa, thu hút được sự tham gia của mọi cấp, mọingành, của đông đảo mọi tầng lớp nhân dân Thành tựu xóa đói, giảm nghèo củaViệt Nam đã được thế giới đánh giá cao Tuy nhiên, công cuộc xóa đói, giảmnghèo ở nước ta hiện đang phải đối mặt với những khó khăn và thử thách lớn.Thu nhập và mức chi dùng bình quân đầu người thấp; khoảng cách chênh lệchgiàu nghèo giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng miền có xu hướngtăng; tỷ lệ hộ dân tái nghèo còn lớn, xóa đói, giảm nghèo thiếu tính bền vững
Nghệ An là tỉnh nằm ở vị trí trung tâm vùng Bắc Trung Bộ, giáp tỉnhThanh Hóa về phía Bắc, tỉnh Hà Tĩnh về phía Nam, nước Cộng hòa dân chủ nhândân Lào về phía Tây và phía Đông giáp biển Đông Với diện tích 16.487 km2,Nghệ An chiếm 5,1% diện tích tự nhiên của cả nước Về dân số, Nghệ An làđịa phương đông dân thứ tư của Việt Nam với trên 3,1 triệu người Mật độ dân
số 184 người/km2 Với 11/20 huyện, thị thuộc khu vực miền núi và núi cao, Nghệ
An là một tỉnh nghèo, có tỷ lệ hộ nghèo cao so với bình quân chung cả nước
Trong những năm qua, Đảng bộ và nhân dân Nghệ An rất quan tâmđến công tác xóa đói, giảm nghèo, thực hiện nhiều chính sách, dự án xóa đói,giảm nghèo và đã mang lại hiệu quả tích cực Các chương trình, dự án pháttriển kinh tế - xã hội gắn với giảm nghèo trên địa bàn phát huy tốt, tạo điềukiện thuận lợi cho hộ nghèo, xã nghèo vươn lên
Rút kinh nghiệm thực hiện chương trình giảm nghèo thời kỳ 2001 2005; triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp thực hiện chương trình giảmnghèo giai đoạn 2006 - 2010, từ năm 2006 đến nay, bình quân hàng năm giảm
Trang 4-trên 3% tỷ lệ hộ nghèo, tương đương hơn 18.000 hộ nghèo/năm, đưa tỷ lệ hộnghèo từ 27,14% vào đầu năm 2006 xuống còn 17,31% vào cuối năm 2008.
Số hộ thoát nghèo là 56.685, bằng 60% kế hoạch giai đoạn 2006 - 2010 Bêncạnh những thành tựu đạt được, công tác xóa đói, giảm nghèo ở Nghệ An vẫncòn những tồn tại Tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh vẫn cao hơn so với bình quân của
cả nước; một số huyện miền núi có tỷ lệ hộ nghèo cao trên 40%, trong đó có
3 huyện nằm trong tổng số 61 huyện của cả nước có tỷ lệ hộ nghèo trên 50%(Kỳ Sơn, Tương Dương, Quế Phong) [56] Do vậy, tỉnh Nghệ An cần đẩy mạnhhơn nữa việc thực hiện công tác xóa đói, giảm nghèo
Trước yêu cầu đó, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về xóa đói, giảmnghèo cũng như thực trạng đói nghèo, công tác xóa đói, giảm nghèo ở Nghệ
An, lý giải một cách khoa học cơ sở lý luận và thực tiễn vấn đề xóa đói, giảmnghèo, vận dụng, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về xóa đói, giảm nghèo đểđưa ra các giải pháp phù hợp với thực tiễn địa phương Nghệ An là yêu cầu
cấp thiết Chính vì vậy, chúng tôi chọn "Xóa đói, giảm nghèo ở tỉnh Nghệ
An hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh" làm đề tài luận văn thạc sĩ khoa
học chính trị, chuyên ngành Hồ Chí Minh học
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Xóa đói, giảm nghèo được xác định là một trong những nhiệm vụ quantrọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, một chủ trương lớn, một quyếtsách lớn, nhất quán của Đảng và Nhà nước ta, chính vì thế đã được nhiềungười quan tâm nghiên cứu, thể hiện qua một số đề tài khoa học cũng như cácluận án, luận văn
Về đề tài khoa học: Các công trình do Bộ Lao động - Thương binh và
Xã hội làm chủ trì:
- Đói nghèo ở Việt Nam (Hà Nội, 1993);
- Nhận diện đói nghèo ở nước ta (Hà Nội, 1993);
- Xóa đói, giảm nghèo (Hà Nội, 1996);
Trang 5Các đề tài khoa học trên đã cung cấp thông tin tổng quát về tình hìnhđói nghèo ở Việt Nam, về tỷ lệ nghèo và khoảng cách nghèo, về chuẩn nghèo, từ
đó đưa ra một số quan điểm, giải pháp nhằm xóa đói, giảm nghèo ở nước ta
Về các luận văn, luận án:
- Luận án tiến sĩ kinh tế của Trần Thị Hằng: Vấn đề giảm nghèo trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ
Chí Minh, 2001;
- Luận án tiến sĩ kinh tế của Trần Đình Đàn: Những giải pháp kinh tế
- xã hội chủ yếu nhằm xóa đói, giảm nghèo ở Hà Tĩnh, Học viện Chính trị
Quốc gia Hồ Chí Minh, 2002;
- Luận văn thạc sĩ kinh tế của Lô Xuân Vinh: Những giải pháp cơ bản nhằm góp phần xóa đói, giảm nghèo ở các huyện miền núi vùng cao tỉnh Nghệ An, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 1999;
- Luận văn cao cấp lý luận chính trị của Vi Văn Vân: Xóa đói, giảm nghèo ở vùng các dân tộc thiểu số huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An, Học viện
Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2004;
Các luận án, luận văn nêu trên đã đánh giá khá đầy đủ về thực trạngnghèo đói ở Việt Nam cũng như ở một số địa phương, trên cơ sở đó đề ranhững giải pháp cơ bản góp phần thực hiện tốt hơn công tác xóa đói, giảm
nghèo ở nước ta, đặc biệt luận án Những giải pháp kinh tế - xã hội chủ yếu nhằm xóa đói giảm nghèo ở Hà Tĩnh của Trần Đình Đàn, luận văn Những giải pháp cơ nhằm góp phần xóa đói giảm nghèo ở các huyện miền núi vùng cao tỉnh Nghệ An của Lô Xuân Vinh đã nêu ra phương hướng và những giải pháp thiết
thực có tính khả thi trong việc xóa đói, giảm nghèo Đó là cơ sở để chúng tôitiếp thu, tham khảo, định hướng nghiên cứu cho đề tài luận văn của mình
Một số sách và bài tạp chí:
- Hồ Chí Minh: Về kinh tế và quản lý kinh tế, Nxb Thông tin lý luận,
Hà Nội, 1990;
Trang 6- Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh: Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nghiệp giải phóng dân tộc và chấn hưng đất nước, Nxb Chính trị quốc
- Nguyễn Thế Hinh: Tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế và quản lý kinh
tế, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004;
- Cao Ngọc Thắng: Tư duy kinh tế Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc
dụng tư tưởng, Hồ Chí Minh), Nxb Tổng hợp, Thành phố Hồ Chí Minh, 2003
- PGS,TS Tạ Ngọc Tấn: Từ tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển hợp tác xã đến vấn đề xóa đói, giảm nghèo trong giai đoạn hiện nay (Tư tưởng Hồ
Chí Minh về hợp tác xã - những vấn đề lý luận và thực tiễn), Nxb Chính trịquốc gia, Hà Nội, 2008;
Trang 7Nhìn chung, các công trình trên đã tiếp cận và nghiên cứu vấn đề xóađói, giảm nghèo ở nhiều góc độ và địa phương khác nhau Riêng tư tưởng HồChí Minh về xóa đói, giảm nghèo thường gắn với tư tưởng Hồ Chí Minh về
kinh tế, xã hội và thực hiện chính sách xã hội Trong cuốn Bước đầu tìm hiểu
tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế của Phạm Ngọc Anh, tác giả nêu rõ quá
trình, hình thành, phát triển và đặc điểm bản chất của tư tưởng kinh tế Hồ ChíMinh; những nội dung chủ yếu của tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh, trong đókhẳng định: Nâng cao đời sống nhân dân - một nội dung cốt lõi của tư tưởng
kinh tế Hồ Chí Minh Tác giả Nguyễn Huy Oánh trong cuốn Tư tưởng kinh tế
Hồ Chí Minh với xây dựng nền kinh tế định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay đã đề cập tới nội dung: Thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, phát
triển sản xuất để xây dựng chủ nghĩa xã hội và nâng cao đời sống nhân dân.Đây chính là một trong những nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về xóa đói,giảm nghèo Nhưng nhìn chung, chưa có công trình nào nghiên cứu tư tưởng
Hồ Chí Minh về xóa đói, giảm nghèo một cách có hệ thống cũng như vấn đềxóa đói, giảm nghèo ở tỉnh Nghệ An dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh Vìvậy, đề tài mà chúng tôi lựa chọn để nghiên cứu không trùng lặp với các côngtrình nghiên cứu đã được công bố, các luận văn, luận án đã bảo vệ
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích
Luận văn làm rõ, hệ thống hóa tư tưởng Hồ Chí Minh về xóa đói,giảm nghèo; thực trạng xóa đói, giảm nghèo ở Nghệ An, từ đó đưa ra các giảipháp chủ yếu để góp phần thực hiện thành công chương trình xóa đói, giảmnghèo trên địa bàn tỉnh theo tinh thần và phương pháp luận Hồ Chí Minh
3.2 Nhiệm vụ
Để thực hiện mục đích nêu trên, luận văn có nhiệm vụ:
- Làm rõ nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về xóa đói,giảm nghèo;
Trang 8- Đánh giá thực trạng công tác xóa đói, giảm nghèo hiện nay ở Nghệ An;
- Đề xuất các giải pháp xóa đói, giảm nghèo ở Nghệ An dưới ánh sáng
tư tưởng Hồ Chí Minh
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.2 Phạm vi
- Xóa đói, giảm nghèo là một vấn đề vừa mang tính chất kinh tế, vừamang tính chất xã hội; trong luận văn này, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứudưới góc độ khoa học xã hội nhân văn theo tư tưởng Hồ Chí Minh
- Để đề xuất các giải pháp góp phần thực hiện thành công chươngtrình xóa đói, giảm nghèo trên địa bàn tỉnh, chúng tôi khảo sát tình hình côngtác xóa đói, giảm nghèo ở Nghệ An trong thời gian từ năm 2001 đến nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Quán triệt những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng HồChí Minh và đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về xóa đói, giảm nghèo
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở quán triệt phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sửmác-xít, luận văn sử dụng phương pháp lịch sử - lôgíc; phương pháp so sánh,phân tích và tổng hợp tài liệu; phương pháp khảo sát thực tiễn; gắn lý luận vớithực tiễn v.v
Trang 96 Những đóng góp mới của luận văn
- Lần đầu tiên vấn đề xóa đói, giảm nghèo trong tư tưởng Hồ Chí Minhđược nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống, từ đó khẳng định giá trị lýluận cũng như thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh về xóa đói, giảm nghèo
- Trên cơ sở đánh giá, phân tích thực trạng đói nghèo và công tác xóađói, giảm nghèo của tỉnh Nghệ An, luận văn đề xuất các giải pháp nhằm gópphần thực hiện thành công chương trình xóa đói, giảm nghèo trên địa bàn tỉnhNghệ An dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh
7 Ý nghĩa của luận văn
- Góp phần khẳng định giá trị to lớn cũng như tính thời sự của tưtưởng Hồ Chí Minh với tư cách là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hànhđộng của Đảng và cách mạng Việt Nam
- Kết quả nghiên cứu nếu được áp dụng vào thực tiễn, chắc chắn sẽmang lại hiệu quả thiết thực cho công tác xóa đói, giảm nghèo ở Nghệ An
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dungcủa luận văn gồm 2 chương, 6 tiết
Trang 10Chương 1
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO
1.1 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1.1.1 Quan niệm về đói, nghèo
Đói, nghèo hiện nay không còn là vấn đề của mỗi quốc gia riêng biệt
mà đã trở thành vấn đề chung, mang tính toàn cầu Xóa đói, giảm nghèo trởthành một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của nhân loại
Những năm đầu của thế kỷ XXI, có tới 78 quốc gia thuộc nhóm các nướcnghèo và đang phát triển xây dựng chiến lược thoát nghèo toàn diện; trong đó
có gần 30 tổ chức quốc tế, bao gồm cả tổ chức đa phương, song phương xâydựng chiến lược hỗ trợ các nước nghèo trong công cuộc chống nghèo, đói
Tại Hội nghị cấp cao thiên niên kỷ của Liên hợp quốc với sự thamgia của hơn 150 vị đứng đầu Nhà nước, Chính phủ, cùng nhiều quan chức
của tổ chức này đã ra Tuyên bố thiên niên kỷ, trong đó nêu rõ quyết tâm:
Giúp nhân dân các nước thoát khỏi cảnh nghèo đói, cùng cực, tạo dựng ởcác cấp độ quốc gia và toàn cầu môi trường thuận lợi cho phát triển và xóađói, giảm nghèo
Quan niệm về đói, nghèo hay nhận dạng đói, nghèo của con ngườingày càng đa dạng và phong phú, mở rộng và đầy đủ hơn, nhưng cũng phảikhẳng định rằng chưa có một sự thống nhất tuyệt đối trong quan niệm về đóinghèo, bởi vì bản thân quan niệm này cũng đã phải thay đổi rất nhanh chóngtrong suốt ba thập kỷ qua Đầu những năm 70, đói nghèo chỉ được coi là đóinghèo về tiêu dùng, với tư tưởng cốt lõi và căn bản nhất để một người bị coi
là nghèo đói đó là sự "thiếu hụt" so với mức sống nhất định Mức thiếu hụt này
được xác định theo các chuẩn mực xã hội và phụ thuộc vào không gian vàthời gian Tuy nhiên, xã hội ngày càng phát triển, mức sống của con người
Trang 11ngày càng cao hơn, những nhu cầu cho cuộc sống ngày càng nhiều hơn vàquan niệm về nghèo đói cũng được mở rộng Các yếu tố như nguồn lực ngườinghèo, mối quan hệ xã hội, khả năng tham gia vào các hoạt động văn hóa, xãhội và khả năng bảo vệ, chống đỡ các rủi ro đã được đưa vào nội dung củakhái niệm đói nghèo Trong báo cáo phát triển con người năm 1997, Chươngtrình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) đã đề cập đến khái niệm đói nghèo vềnăng lực, khác với quan niệm đói nghèo về thu nhập Theo đó, đói nghèođược tính đến điều kiện khó khăn trong phát triển con người cơ bản Trongbáo cáo về tình hình thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ của Liên hợp quốc năm
2003 đã nhấn mạnh sự cần thiết sử dụng phương pháp tiếp cận đói nghèo trên
cơ sở quyền lợi cơ bản của con người
Ở Việt Nam, quan niệm nghèo đói cũng ngày được mở rộng Nếu nhưnhững năm 90, hỗ trợ người nghèo chỉ giới hạn đến các nhu cầu tối thiểu như
ăn no, mặc ấm thì ngày nay, người nghèo còn có nhu cầu hỗ trợ về nhà ở, giáodục, y tế, văn hóa… tức là nhu cầu giảm nghèo và phát triển
Quan niệm về đói, nghèo hay nhận dạng về đói, nghèo của từng quốcgia hay từng vùng, từng nhóm dân cư về cơ bản không có sự khác biệt đáng
kể, tiêu chí chung nhất để xác định nghèo đói vẫn là mức thu nhập hay chitiêu để thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người Sự khác nhau chủ yếu
là xác định mức độ thỏa mãn ở mức cao hay thấp mà thôi, điều này phụ thuộcvào yếu tố lịch sử, trình độ phát triển kinh tế - xã hội cũng như phong tục tậpquán của từng vùng, từng quốc gia, dân tộc
1.1.1.1 Quan niệm về nghèo
Có rất nhiều định nghĩa về nghèo của các học giả, các nhà khoa họcdưới những góc độ nghiên cứu khác nhau Chỉ tính riêng trong Từ điểntiếng Việt năm 1994, đã có 18 định nghĩa về nghèo và các từ đồng nghĩa vớinghèo Cho đến nay, khái niệm nghèo đươc dùng nhiều nhất là khái niệmđược đưa ra tại hội nghị bàn về giảm nghèo đói do Ủy ban kinh tế và xã hội
Trang 12của Châu Á Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tháng 91993 tại Băng Cốc Thái Lan.
-Nghèo: là tình trạng một số bộ phận dân cư không được hưởng và
thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người, mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển và phong tục tập quán của từng địa phương.
Ở khái niệm trên, cần xem xét ba vấn đề sau:
Nhu cầu của con người bao gồm: Ăn, ở, mặc, y tế, giáo dục, văn hóa,
đi lại và giao tiếp xã hội
Nghèo khổ thay đổi theo thời gian: Thước đo nghèo khổ sẽ thay đổitheo thời gian, kinh tế càng phát triển thì nhu cầu cơ bản của con người sẽthay đổi theo và có xu hướng ngày một cao hơn
Nghèo khổ thay đổi theo không gian: Thước đo nghèo khổ phụ thuộcvào sự phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia, của từng vùng
Đây là một khái niệm chung nhất về nghèo, một khái niệm mở, có tínhchất hướng dẫn về phương pháp đánh giá, nhận diện nét chính yếu, phổ biến
về nghèo Các tiêu chí về mặt lượng hóa được bỏ ngỏ, bởi vì còn phải tínhđến sự khác biệt, chênh lệch giữa điều kiện tự nhiên, điều kiện xã hội và trình
độ phát triển của các vùng miền khác nhau Khái niệm này sẽ được mở rộnghơn theo sự phát triển của xã hội, nhất là khi nhu cầu cơ bản của con ngườiđược mở rộng theo thời gian
Để đánh giá đúng mức độ nghèo, người ta đã đưa ra các khái niệmnghèo tuyệt đối, nghèo tương đối
Nghèo tuyệt đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư không được
hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản, tối thiểu để duy trì cuốc sống.
Nghèo tương đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới
mức sống trung bình của cộng đồng tại địa phương, ở một thời kỳ nhất định.
Trang 13Nghèo tuyệt đối chủ yếu phản ánh tình trạng một bộ phận dân cư khôngđược thỏa mãn những nhu cầu tối thiểu của con người, trước hết ăn, mặc, ở…
Nghèo tương đối lại phản ánh sự chênh lệch về mức sống của một bộphận dân cư khi so sánh mức sống trung bình của cộng đồng địa phươngtrong một thời kỳ nhất định Do đó, có thể xoá dần nghèo tuyệt đối, cònnghèo trong đối luôn xảy ra trong xã hội, vấn đề quan tâm ở đây là rút ngắnkhoảng cách chênh lệch giàu nghèo và hạn chế sự phân hóa giàu nghèo, giảmthiểu tới mức thấp nhất tỷ lệ nghèo tương đối
1.1.1.2 Quan niệm về đói
Đói: là tình trạng của một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới
mức tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo về vật chất để duy trì cuộc sống Hay nói cách khác, đói là một nấc thang thấp nhất của nghèo.
Nghèo đói kinh niên: Là bộ phận dân cư nghèo đói nhiều năm liền
cho đến thời điểm đang xét.
Nghèo đói cấp tính: Là bộ phận dân cư rơi vào tình trạng đột xuất vì
nhiều nguyên nhân như phá sản và các rủi ro khác, tại thời điểm đang xét.
Dựa vào những khái niệm chung do các tổ chức quốc tế đưa ra và căn
cứ vào thực trạng kinh tế - xã hội ở Việt Nam, trong chiến lược toàn diện vềtăng trưởng và xóa đói, giảm nghèo đến năm 2005 và 2010, Việt Nam thừanhận định nghĩa chung về đói nghèo do Hội nghị chống nghèo đói khu vựcChâu Á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc (Thái Lan) tháng9/1993 Đồng thời, vấn đề đói nghèo ở Việt Nam còn được nghiên cứu ở cáccấp độ khác nhau như cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng Do đó, ở nước tacòn có một số khái niệm sau:
Hộ đói: Là hộ cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, con cái không được
học hành đầy đủ, ốm đau không có tiền chữa bệnh, nhà ở tạm bợ, rách nát…
Hộ nghèo: Là hộ đói ăn không đủ bữa, mặc không đủ lành, không đủ
ấm, không có khả năng phát triển sản xuất…
Trang 14Xã nghèo: Là xã có tỷ lệ hộ nghèo cao, không có hoặc rất thiếu những
cơ sở hạ tầng thiết yếu như điện, đường, trường, trạm, nước sạch… trình độdân trí thấp, tỷ lệ mù chữ cao
Vùng nghèo: Là địa bàn tương đối rộng nằm ở khu vực khó khăn, hiểm
trở, giao thông không thuận tiện, có tỷ lệ xã nghèo, hộ nghèo cao
Và còn nhiều khái niệm khác như: Nghèo không gian, nghèo thời gian,nghèo môi trường, nghèo lứa tuổi… Tất cả chỉ xác định rõ hơn đặc điểm, mức
độ, nguyên nhân của các đối tượng nghèo và từ đó có các giải pháp thích hợpcho từng đối tượng nghèo khác nhau
Như vậy, đói nghèo là tình trạng bị thiếu thốn ở nhiều phương diệnnhư: Thu nhập bị hạn chế hoặc thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu tài sản để đảmbảo tiêu dùng những lúc khó khăn và dễ bị tổn thương trước những đột biến,
ít được tham gia vào quá trình ra quyết định… Đói nghèo có nguồn gốc cănnguyên từ kinh tế; nhưng với tư cách là hiện tượng tồn tại phổ biến ở cácquốc gia trong quá trình phát triển, đói nghèo thực chất là hiện tượng kinh tế -
xã hội phức tạp, chứ không thuần túy là vấn đề kinh tế cho dù các tiêu chíđánh giá của nó trước hết và chủ yếu dựa trên các tiêu chí về kinh tế Vì vậy,khi nghiên cứu những tác động ảnh hưởng đến thực trạng, xu hướng, cáchthức giải quyết vấn đề đói nghèo cần phải đánh giá những tác động của nhân
tố chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng; có như vậy mới đề ra cácgiải pháp đồng bộ cho công tác xóa đói, giảm nghèo ở nước ta
1.1.2 Quan niệm về xóa đói, giảm nghèo
1.1.2.1 Khái niệm xóa đói, giảm nghèo
Hộ nghèo, xã nghèo là những thuật ngữ đã được người dân Việt Nam
sử dụng từ ngàn đời xưa, còn thuật ngữ xóa đói, giảm nghèo chỉ mới xuấthiện trong những năm gần đây
Giảm nghèo hay xóa đói, giảm nghèo chính là làm cho bộ phận dân
cư nghèo nâng cao mức sống, từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo, biểu
Trang 15hiện ở tỷ lệ phần trăm và số lượng người nghèo giảm xuống Nói cách khác, giảm nghèo là một quá trình chuyển một bộ phận dân cư nghèo lên một mức sống cao hơn.
Ở khía cạnh khác, giảm nghèo là chuyển từ tình trạng có ít điều kiệnlựa chọn sang tình trạng có đầy đủ lựa chọn hơn để cải thiện đời sống mọimặt của mỗi người
Khi ta nói giảm nghèo thì trong đó đã bao hàm xóa đói và khái niệmgiảm nghèo chỉ là tương đối Bởi, nghèo có thể tái sinh hoặc khi khái niệmnghèo và chuẩn nghèo thay đổi Do đó, việc đánh giá mức độ giảm nghèophải được đánh giá trong một thời gian và không gian nhất định
Giảm nghèo là một phạm trù mang tính lịch sử, do đó, chỉ có thể từngbước giảm nghèo, chứ chưa thể xóa sạch được nghèo Chỉ khi nào xã hội loàingười đạt tới trình độ xã hội cộng sản như chủ nghĩa Mác - Lênin dự đoán thìhiện tượng nghèo sẽ không còn nữa và giảm nghèo cũng không còn
Do cách đánh giá và nhìn nhận nguồn gốc khác nhau nên cũng cónhiều quan niệm về giảm nghèo khác nhau Ở nước ta hiện nay, nghèo đóikhông phải do bóc lột của giai cấp tư sản và địa chủ đối với lao động nhưtrước đây mà do nền kinh tế nước ta đang trong quá trình chuyển đổi từ nềnkinh tế lạc hậu kém phát triển sang nền kinh tế hiện đại Trong nền kinh tếnày, tồn tại và đan xen nhiều trình độ sản xuất khác nhau Trình độ sản xuất
cũ, lạc hậu vẫn còn, trong khi đó trình độ sản xuất mới, tiên tiến lại chưa đóngvai trò chủ đạo, thay thế các trình độ sản xuất cũ Do đó, dẫn đến sự giàu,nghèo khác nhau trong các tầng lớp dân cư
Như vậy, xóa đói, giảm nghèo ở nước ta chính là từng bước thực hiện quá trình chuyển đổi các trình độ sản xuất cũ, lạc hậu còn tồn đọng trong xã hội sang trình độ sản xuất mới cao hơn.
Ở góc độ người nghèo, xóa đói, giảm nghèo là quá trình tạo điều kiện giúp đỡ người nghèo có khả năng tiếp cận các nguồn lực của sự phát triển
Trang 16một cách nhanh nhất, trên cơ sở đó, họ có nhiều khả năng lựa chọn hơn để từng bước thoát ra khỏi tình trạng nghèo
Trong tiến trình phát triển, tăng trưởng kinh tế và xóa đói giảm nghèo
có mối quan hệ biện chứng Tăng trưởng kinh tế tạo ra cơ sở, điều kiện vậtchất để xóa đói giảm nghèo Ngược lại, xóa đói giảm nghèo là nhân tố đảmbảo sự tăng trưởng kinh tế mang tính bền vững Tuy nhiên, trong mối quan hệnày, xóa đói, giảm nghèo vẫn là yếu tố chịu sự chi phối, phụ thuộc vào yếu tốtăng trưởng kinh tế Trong nền kinh tế, nếu tăng trưởng kinh tế chịu tác độngcủa các quy luật kinh tế như: Quy luật giá trị, quy luật cung cầu, cạnh tranh,lợi nhuận, năng suất lao động… thì xóa đói, giảm nghèo lại chịu sự tác độngcủa quy luật phân hóa giàu nghèo, vấn đề phân phối và thu nhập, vấn đề laođộng và việc làm, các chính sách xã hội… Trong quá trình vận động, các quyluật, yếu tố tác động lên tăng trưởng kinh tế và xóa đói, giảm nghèo theonhiều chiều hướng, có khi trái ngược nhau Do vậy, để đảm bảo được tăngtrưởng kinh tế và xóa đói, giảm nghèo đòi hỏi Nhà nước có sự can thiệp saocho sự tác động của các quy luật có hướng đồng thuận Đây là vấn đề không
hề đơn giản và không phải quốc gia nào cũng làm được
1.1.2.2 Xóa đói, giảm nghèo là một yêu cầu cấp thiết để phát triển đất nước bền vững
Đói nghèo là một hiện tượng kinh tế - xã hội, nó vừa là vấn đề lịch sử
để lại, vừa là vấn đề phát triển mà hầu hết các quốc gia đều vấp phải Nó đụngchạm trực tiếp đến cuộc sống con người, từ cá nhân, gia đình đến cộng đồng
xã hội Mỗi quốc gia, ở các mức độ phát triển khác nhau, đều phải quan tâmgiải quyết vấn đề đói, nghèo để vượt qua những trở ngại của sự phát triển nhằmvươn tới sự phồn thịnh về kinh tế và từng bước đạt tới công bằng xã hội
Hiện nay, nghèo đói đã, đang diễn ra trên quy mô lớn và hậu quả của
nó tác động đến mọi vấn đề trong đời sống xã hội, từ kinh tế đến chính trị, xãhội và môi trường sinh thái Nó có ảnh hưởng không chỉ đối với các quốc gia
Trang 17nghèo mà còn có nguy cơ lan rộng và tác động toàn cầu như tàn phá môitrường sinh thái, vấn đề di dân quốc tế ồ ạt, tiêu cực xã hội lan rộng v.v Vìvậy, sự nghiệp chống nghèo đói không chỉ đối với các nước nghèo mà cả đốivới các nước phát triển Để giải quyết vấn đề nghèo, đói cần thiết phải cóquan niệm đúng về nghèo đói Tại khóa họp đặc biệt của Đại hội đồng Liênhợp quốc về phát triển xã hội, tháng 6 năm 2000, tại Gơnevơ - Thụy Sỹ, cácthành viên đã thống nhất cam kết, phấn đấu giảm một nửa số người nghèotrên thế giới Hội nghị kêu gọi cộng đồng quốc tế đẩy mạnh chiến dịch "Tấncông vào nghèo đói" và khuyến nghị các quốc gia cần có chiến lược toàn diện
về xóa đói, giảm nghèo Tại Hội nghị thiên niên kỷ đầu tháng 9 năm 2000,Liên hợp quốc, một lần nữa khẳng định: Chống nghèo đói là một trong nhữngmục tiêu ưu tiên hàng đầu của cộng đồng quốc tế trong thế kỷ XXI
Đói nghèo, bệnh tật và lạc hậu thường đi liền với nhau, là một trongnhững vấn đề bức xúc nhất hiện nay mà cộng đồng quốc tế phải cùng hợp sứcgiải quyết Xóa đói, giảm nghèo không phải chỉ là một giải pháp tình thế mà
nó là một chương trình trong toàn bộ chiến lược phát triển của đất nước Thựchiện xóa đói, giảm nghèo không chỉ bằng cách tăng trưởng kinh tế, mà cònphải thực hiện công bằng xã hội Về thực chất, nó nằm trong tiến trình cải tạosâu sắc về mọi mặt đời sống xã hội Nếu nói đói nghèo là lực cản của pháttriển, thì xóa đói, giảm nghèo là con đường phá vỡ lực cản đó, tạo tiền đề cho
sự phát triển
Xóa đói, giảm nghèo còn là yêu cầu cần thiết ổn định chính trị, xã hội
Ở nước ta hiện nay, có trên 90% số hộ nghèo tập trung ở vùng nông thôn,nhất là vùng trung du, miền núi; trong đó số hộ nghèo là vùng dân tộc ít người
và những hộ thuộc diện chính sách phải ưu tiên chiếm tỷ lệ khá cao Trongnhững năm gần đây, một số vấn đề về chính trị, xã hội ở vùng miền núi vànhững nơi khó khăn diễn biến phức tạp Tình trạng một số tổ chức phản độngkhôi phục, chống phá, truyền đạo bất hợp pháp và nạn mê tín gia tăng, nếugắn với nghèo đói thường xuyên sẽ có nguy cơ tạo nên sự mất ổn định chính
Trang 18trị Điều đó có nghĩa là xóa đói, giảm nghèo ở nước ta không đơn thuần là mộtchương trình kinh tế mà còn là chương trình mang ý nghĩa ổn định chính trị, xãhội, củng cố niềm tin của nhân dân vào chế độ.
Ở khía cạnh khác, nghèo đói về kinh tế sẽ ảnh hưởng đến các mặt xã hội
và chính trị: Các tệ nạn xã hội phát sinh như: Trộm cắp, cướp giật, ma túy, mạidâm đạo đức bị suy đồi, an ninh xã hội không được đảm bảo đến một mức nhấtđịnh có thể dẫn đến rối loạn xã hội Nếu nghèo đói không được chú ý giải quyết,
tỷ lệ và cấp độ của nghèo vượt quá giới hạn an toàn sẽ dẫn đến hậu quả mất ổnđịnh chính trị, ở mức cao hơn là khủng hoảng chính trị, đặc biệt là nguy cơ "diễnbiến hòa bình" và chiến tranh biên giới mềm
Đói nghèo liên quan đến toàn bộ các mối quan hệ kinh tế, xã hội Nếukhông giải quyết vấn đề đói nghèo sẽ nẩy sinh các hiện tượng gây mất ổnđịnh xã hội, ảnh hưởng xấu tới chính trị Phân hóa giàu, nghèo đến một mức
độ nào đó, sẽ trở thành phân hóa giai cấp, xung đột xã hội, nguy cơ làm chệchhướng xã hội chủ nghĩa Mặt khác, bản thân sự đói nghèo đã bao hàm nộidung kinh tế Vì vậy, xóa đói, giảm nghèo là một yêu cầu cấp thiết để pháttriển đất nước bền vững
Nhận thức sâu sắc vấn đề trên, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâmđến vấn đề xóa đói, giảm nghèo Xóa đói, giảm nghèo được coi là mục tiêuxuyên suốt trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Ngay từkhi mới ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định mục tiêu cơ bản tronghoạt động của mình là giải phóng dân tộc, xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa
để đem lại ấm no, hạnh phúc cho mọi người dân
Xóa đói, giảm nghèo vừa là một nhiệm vụ trọng tâm trước mắt, vừa lànhiệm vụ cơ bản lâu dài trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đấtnước ta, bởi vì, sự nghiệp cách mạng và công cuộc đổi mới luôn luôn đặt ramục tiêu: Mỗi bước phát triển kinh tế - xã hội là một bước cải thiện đời sốngcủa nhân dân Chính vì thế, đây không chỉ là việc thực hiện truyền thống đạo
Trang 19lý của dân tộc "thương người như thể thương thân" mà còn là nhiệm vụ đểđảm bảo ổn định xã hội, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc Xóa đói,giảm nghèo không đơn giản là việc phân phối lại thu nhập một cách thụ động
mà phải tạo ra động lực tăng trưởng tại chỗ, chủ động vươn lên thoát nghèo.Xóa đói, giảm nghèo không đơn thuần là sự trợ giúp một chiều của tăng trưởngkinh tế đối với các đối tượng có nhiều khó khăn mà còn là nhân tố quan trọngtạo ra một mặt bằng tương đối đồng đều cho phát triển, tạo thêm một lựclượng sản xuất dồi dào và bảo đảm sự ổn định cho giai đoạn "cất cánh"
Trong những năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, kinh tế tăngtrưởng bước đầu đã tạo việc làm, nguồn vốn và cơ hội vươn lên cho ngườinghèo Hàng loạt các chính sách quốc gia về giải quyết việc làm và xóa đói,giảm nghèo được ban hành và hoàn thiện, cùng với các chương trình hànhđộng cụ thể như: Chương trình phát triển kinh tế - xã hội ở những xã đặc biệtkhó khăn, vùng núi, vùng sâu, vùng xa (Chương trình 135); Chương trình phủxanh đất trống, đồi trọc (Chương trình 137); Chương trình quốc gia xúc tiếnviệc làm (Chương trình 120); thành lập quỹ xóa đói, giảm nghèo, cùng rấtnhiều chương trình, dự án hỗ trợ về nước sạch, và vệ sinh môi trường, dân số,dinh dưỡng…
Qua hơn hai mươi năm thực hiện công cuộc đổi mới, công tác xóa đói,giảm nghèo đã được xã hội hóa, thu hút sự tham gia của mọi cấp, mọi ngành,của đông đảo các tầng lớp nhân dân Thành tựu xóa đói, giảm nghèo của ViệtNam đã được thế giới đánh giá cao Tuy nhiên, công cuộc xóa đói, giảmnghèo của Việt Nam hiện nay đang phải đối mặt với những khó khăn và thửthách lớn Thu nhập và mức chi dùng bình quân đầu người thấp; khoảng cáchchênh lệch giữa giàu, nghèo; giữa thành thị, nông thôn; giữa các vùng miền
có xu hướng tăng; tỷ lệ hộ dân tái nghèo còn lớn, xóa đói, giảm nghèo thiếutính bền vững Bởi vậy, chúng ta cần phải đẩy mạnh hơn nữa công tác xóađói, giảm nghèo Xóa đói, giảm nghèo là một yêu cầu cấp thiết để phát triểnđất nước bền vững
Trang 201.2 CƠ SỞ, QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ NỘI DUNG
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO
1.2.1 Cơ sở, quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về xóa đói, giảm nghèo
1.2.1.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn
* Cơ sở lý luận
- Quan niệm của dân tộc ta về chống đói nghèo, về quá trình vật lộnthoát nghèo
Đói, nghèo là một thực trạng của quá trình phát triển kinh tế - xã hội
Nó hiện hữu trong cuộc sống như là một yếu tố lịch sử Lịch sử dựng nước vàgiữ nước của Việt Nam cho thấy dân tộc ta cũng đã và đang phải đấu tranhchống lại đói nghèo, vươn lên thoát khỏi cái nghèo
Việt Nam là một quốc gia ở khu vực Đông Nam châu Á, với 54 dân tộcanh em sinh sống trên một địa bàn mà thiên nhiên vừa ưu đãi, lại vừa khắc nghiệt.Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới, có khí hậu nắng ẩm mưa nhiều, đất đai rấtthích hợp với việc trồng lúa nước và phát triển của nhiều loài động, thực vật
Vị trí địa lý, điều kiện kinh tế - xã hội đó cùng với cuộc đấu tranhchống ngoại xâm trong hàng nghìn năm đã tạo nên những đặc trưng cơ bảncủa một dân tộc mà nông dân chiếm đại đa số
Sinh sống trong điều kiện thiên nhiên vừa ưu đãi, vừa khắc nghiệt đãtạo cho người Việt Nam đức tính cần cù, thông minh trong việc chống thiêntai để tồn tại và phát triển, để xóa cái đói, giảm cái nghèo Nhân dân ta đã anhdũng chế ngự thiên nhiên, cải tạo điều kiện sống, bảo vệ tính trường tồn vàphát triển của dân tộc Những câu ca dao, tục ngữ như "Nước lụt thì lút cảlàng/ Hễ mà có lụt thiếp chàng cùng lo", hay "Thuận vợ thuận chồng tát biểnĐông cũng cạn", "Thuận bầu thuận bạn tát cạn biển Đông"… nói lên quá trìnhvật lộn chống thiên tai của người dân Việt Nam
Trang 21Thiên nhiên vừa ưu đãi, vừa khắc nghiệt, đức tính cần cù, thông minhdũng cảm đã hun đúc nên ở người Việt Nam tư duy sản xuất giàu tính sángtạo, để vượt qua nghèo đói Với những kinh nghiệm tổng hợp về kỹ thuậtcanh tác, về thiên văn, thủy lợi, kỹ thuật nông nghiệp cổ truyền Việt Nam
được đúc kết thành 4 khâu cơ bản là: Nước, phân, cần, giống có giá trị khoa
học mà sau này còn phát triển Những câu ca dao "Chớ thấy sóng cả mà ngãtay chèo", "Công cấy là công bỏ, công làm cỏ là công ăn", hay "Được mùachớ phụ ngô khoai, đến khi thất bát lấy ai bạn cùng" đã nói lên đức tính siêngnăng, cần cù, vượt khó trong tăng gia, sản xuất, tiết kiệm trong tiêu dùng củacon người Việt Nam
Bên cạnh khó khăn do điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, trong suốt quátrình dựng nước và giữ nước, người Việt Nam luôn luôn phải đấu tranh chốnggiặc ngoại xâm, để giữ vững độc lập chủ quyền của Tổ quốc Với tinh thầnyêu nước nồng nàn, ý chí tự lập tự cường, anh dũng kiên cường bất khuất, conngười Việt Nam đã vượt qua bao khó khăn, đánh tan kẻ thù xâm lược, bảo vệnền độc lập và toàn vẹn lãnh thổ
Người Việt Nam không chỉ bất khuất, kiên trung đấu tranh trong chốnggiặc ngoại xâm; thông minh, cần cù trong lao động sản xuất mà còn là nhữngcon người có tinh thần đoàn kết, sống nhân ái, thủy chung có nghĩa, có tình,
có trước, có sau Những truyền thống tốt đẹp của dân tộc "uống nước nhớnguồn", "đền ơn đáp nghĩa", "lá lành đùm lá rách", nhân hậu, thủy chung…luôn được giữ gìn, bồi đắp từ đời này qua đời khác
Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy rằng, học tập, hiểu biết chủ nghĩa Mác - Lênin
là phải gắn bó chặt chẽ với truyền thống dân tộc; không thể nói đã thấm nhuầnchủ nghĩa Mác - Lênin mà lại không có sự hiểu biết về truyền thống của chínhdân tộc mình Người nói:
Nhân dân ta từ lâu đã sống với nhau có tình có nghĩa như thế
Từ khi có Đảng ta lãnh đạo và giáo dục, tình nghĩa ấy càng cao đẹp
Trang 22hơn, trở thành tình nghĩa đồng bào, đồng chí, tình nghĩa năm châu,bốn biển một nhà Hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin là phải sống với nhau
có tình, có nghĩa Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình,
có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin được [40, tr 554]
Có thể nói rằng, trong quá trình dựng nước và giữ nước, người ViệtNam đã phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, trước sự khắc nghiệt của thiênnhiên, sự xâm lược của ngoại bang… nhưng với tinh thần yêu nước sâu sắc,với những đức tính tốt đẹp như: Thông minh, cần cù, chịu khó… con ngườiViệt Nam đã vượt qua tất cả để tồn tại và phát triển Trong sự nghiệp xâydựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, những con người Việt Nam đang vượt quanhững khó khăn để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, để có được cuộcsống ấm no, hạnh phúc, xóa sạch đói nghèo
Quá trình vật lộn với thiên tai khắc nghiệt, đấu tranh chống giặc ngoạixâm để vươn lên thoát khỏi cái đói, nghèo đã hình thành nên những kinhnghiệm quý báu trong quá trình dựng nước và giữ nước cho dân tộc Việt Nam
và đây cũng chính là một trong những cơ sở để hình thành tư tưởng Hồ ChíMinh về xóa đói, giảm nghèo
- Quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin về chống đói nghèo, lạc hậu;giải phóng quần chúng lao động thoát khỏi nghèo đói, lạc hậu
C.Mác và Ph.Ăngghen khi nghiên cứu, phân tích xã hội tư bản để chỉ
ra những quy luật vận động và phát triển của nó, đồng thời đã đề cập mộtcách khá toàn diện và sâu sắc tình cảnh nghèo đói và bị bóc lột đến cùng cựccủa giai cấp vô sản và những người làm thuê trong chủ nghĩa tư bản Trongcác tác phẩm của mình, C Mác và Ph Ăngghen đã mô tả cặn kẽ, xác thực tìnhcảnh nghèo đói của những người vô sản phải bán sức lao động cho chủ nghĩa tưbản để kiếm sống Phụ nữ và trẻ em phải làm việc đến kiệt sức trong các xưởngthợ; nông dân bị cưỡng đoạt ruộng đất, mất hết tư liệu sản xuất… Họ trở thànhnạn nhân của tình trạng bị bóc lột giá trị thặng dư tương đối và giá trị thặng
Trang 23dư tuyệt đối của các chủ tư bản trong các thời kỳ tích lũy nguyên thủy và thời
kỳ cạnh tranh tự do của chủ nghĩa tư bản Theo C Mác và Ph Ăngghen, nguồngốc trực tiếp dẫn đến tình trạng nghèo đói ở đây là phương thức phân phối giátrị thặng dư trong xã hội một cách bất công giữa nhà tư bản và người laođộng, người lao động chỉ được hưởng một phần giá trị vừa đủ để anh ta tiếptục sản xuất, còn bao nhiêu của cải đều thuộc về nhà tư bản, những người khônglao động trực tiếp Nhưng nguồn gốc sâu xa nhất của tình trạng nghèo đóitrong chủ nghĩa tư bản chính là ở chỗ chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa về tưliệu sản xuất, ở chế độ áp bức bóc lột và tình trạng nô dịch con người C Mác
và Ph Ăngghen cũng chỉ ra rằng chỉ có xóa bỏ chế độ tư hữu, bóc lột mới có thểgiải phóng giai cấp vô sản và quần chúng lao động khỏi cảnh nghèo đói lầmthan, làm cho họ trở thành người lao động tự do và làm chủ, tiến tới một xãhội công bằng, văn minh, đạt được sự hài hòa giữa lợi ích cá nhân và xã hội
Tiếp đến, V.I.Lênin đã phân tích những mâu thuẫn kinh tế xã hội gaygắt trong thời kỳ chủ nghĩa tư bản độc quyền cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX;qua đó ông nhận thấy, nghèo khổ không chỉ ở các nước tư bản mà còn ở trongcác nước thuộc địa, phụ thuộc, các dân tộc bị áp bức V.I Lênin cho rằng,muốn giải phóng toàn bộ giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức khỏi áchthống trị của chủ nghĩa tư bản phải tiến hành cách mạng vô sản do Đảng củagiai cấp công nhân lãnh đạo Sau cách mạng tháng Mười Nga năm 1917,trong bước chuyển từ "Chính sách cộng sản thời chiến" sang "Chính sáchkinh tế mới", Lênin là người chủ trương phát triển kinh tế hàng hóa, dùng lợiích vật chất, coi đó như một đòn bẩy kinh tế, để khuyến khích người lao động,giải phóng sức sản xuất, phát triển kinh tế
Đói nghèo là một phạm trù lịch sử Nó có thể sinh ra, tồn tại, phát triển
và cũng có thể mất đi.Vậy đến khi nào sẽ không còn đói nghèo nữa?
Học thuyết Mác - Lênin dự báo rằng: Xã hội loài người sẽ trải qua haigiai đoạn nữa: Xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa Ở giai đoạn xã hội
Trang 24chủ nghĩa, lao động và phân phối được thực hiện theo nguyên tắc "làm theonăng lực, hưởng theo lao động", ở giai đoạn này vẫn còn đói nghèo Tronggiai đoạn thứ hai, giai đoạn cộng sản chủ nghĩa, khi mà trong xã hội của cảituôn ra dào dạt như nước, lúc đó lao động của con người và phân phối của cảitrong xã hội sẽ theo nguyên tắc "làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu", vàđói nghèo sẽ tự tiêu vong Tất nhiên, nghèo đói chỉ được hiểu theo nghĩa vậtchất, chứ không được hiểu theo nghĩa tinh thần.
Đói, nghèo không thể tồn tại đồng hành với chủ nghĩa cộng sản Ở chủnghĩa tư bản, C Mác đã chỉ rõ ở đó có sự bóc lột thậm tệ của giai cấp tư sảnđối với người công nhân, đưa người công nhân đến bần cùng, cùng cực và đóinghèo nên đã tạo thành mâu thuẫn đối kháng, làm cơ sở tiêu diệt chủ nghĩa tưbản và tạo ra một xã hội mới, chủ nghĩa xã hội tươi đẹp hơn Ở chủ nghĩa xãhội, đói nghèo sẽ từng bước được xóa bỏ, dần dần đưa đến ấm no và hạnhphúc cho mọi người Do vậy, để có chủ nghĩa xã hội, một trong những nhiệm
vụ quan trọng chính là tiêu diệt đói, nghèo Xóa đói, giảm nghèo vừa là mộtđòi hỏi tất yếu khách quan, vừa là một đòi hỏi tự thân và cấp bách cho sự hìnhthành và phát triển của chủ nghĩa xã hội
* Cơ sở thực tiễn
- Thực tiễn đói nghèo của người Việt Nam dưới thời Pháp thuộc.Cuối thế kỷ XIX, sau khi hoàn thành cuộc vũ trang xâm lược, xác lậpách thống trị ở Đông Dương, đế quốc Pháp thi hành ở Việt Nam chính sáchkinh tế hết sức bảo thủ, tàn bạo và phản động Chúng duy trì phương thức sảnxuất phong kiến với việc thiết lập rất hạn chế phương thức sản xuất tư bảnchủ nghĩa Vì vậy, nền kinh tế Việt Nam lúc bấy giờ là nền kinh tế thuộc địa,mang nặng tính chất sản xuất nhỏ, nông nghiệp lạc hậu, đồng thời có một sốyếu tố tiền tư bản chủ nghĩa
Duy trì phương thức sản xuất phong kiến với nền nông nghiệp lạc hậu
ở xứ An Nam thuộc địa, thực dân Pháp vừa đạt được mục tiêu khai thác thuộc
Trang 25địa mà không phải đầu tư tư bản, vừa kìm hãm kinh tế thuộc địa phát triển,vừa có chỗ dựa là giai cấp địa chủ phong kiến để dễ bề thống trị, bóc lột.
Đồng thời với bóc lột kinh tế thuộc địa từ nông nghiệp, nông thôn và
từ tài nguyên thiên nhiên của Việt Nam, thực dân Pháp còn thi hành chínhsách độc quyền về kinh tế Mặt khác, chúng còn đặc biệt coi trọng chế độ bóclột bằng các thứ thuế: Thuế thân, thuế ruộng, thuế chợ, thuế đò, thuế vỉa hè,thuế môn bài…
Chính sách tước đoạt và độc quyền kinh tế của thực dân Pháp làm chonền kinh tế Việt Nam bị phụ thuộc vào kinh tế của nước Pháp, không thể pháttriển độc lập và toàn diện được, mang tính chất tư bản thực dân - phong kiến.Trong nền kinh tế này, số lượng nông dân phải bỏ ruộng, thợ thủ công phải bỏnghề, tư sản dân tộc bị chèn ép rồi phá sản ngày càng nhiều, đời sống nhândân Việt Nam, nhất là nhân dân lao động rơi vào tình trạng đói nghèo, cùng cực
Dưới ách thống trị của thực dân Pháp, công nhân, nông dân, học sinh,công chức và tư sản dân tộc Việt Nam không có quyền chính trị, không cóquyền tự do, sống một cuộc sống nghèo nàn, khổ cực Công nhân Việt Namlàm nhiều giờ, tiền lương ít, nạn thất nghiệp lại thường xẩy ra Nông dân thìnghèo khổ đã sẵn, lại bị sưu cao, thuế nặng, dẫn đến tình trạng phải bán vợ đợcon, nếu gặp hạn hán bão lụt là chết đói đầy đường Giai cấp tiểu tư sản đỡhơn nhưng cũng không thể sung sướng trong lúc cả nước bần cùng Giai cấp
tư sản dân tộc cũng bị đế quốc và phong kiến đè nén, ngăn trở nên cuộc sốngcũng bấp bênh và thường dễ phá sản
Có thể nói rằng, chính sách bóc lột của thực dân Pháp đã đẩy nhân dân
ta vào một cảnh sống nghèo nàn, thiếu thốn, bần cùng, lạc hậu
- Thực tiễn đói nghèo của người Việt Nam sau cách mạng tháng Tám.Sau cách mạng tháng Tám, chính quyền nhân dân vừa mới thành lập đãphải đương đầu với những khó khăn, thử thách rất nghiêm trọng Thử thách,khó khăn đó chính là giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm
Trang 26Vừa mới ra đời, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã bị các nước đếquốc và các thế lực phản động quốc tế và trong nước liên kết với nhau bao vâychống phá quyết liệt Thực dân Pháp đã nổ súng ở miền Nam, bắt đầu cuộc xâmlược nước ta lần thứ hai Quân đội của đế quốc Anh dùng danh nghĩa quân đồngminh giải giáp quân Nhật từ vĩ tuyến 16 trở vào đã đồng lõa và tiếp tay cho thựcdân Pháp quay lại Đông Dương Từ vĩ tuyến 16 trở ra, khoảng 20 vạn quânTưởng ồ ạt kéo sang; chúng mượn tiếng giải giáp quân Nhật, song kỳ thực cómưu đồ tiêu diệt Đảng ta, phá tan Việt Minh, đánh đổ chính quyền cách mạng.Trên đất nước ta lúc đó có 6 vạn quân Nhật đang chờ giải giáp Có thể nói,chưa bao giờ trên đất nước có nhiều quân đội nước ngoài chiếm đóng như vậy.
Trong lúc đó, ta còn phải đối mặt với với những thách thức nghiêmtrọng về kinh tế Nền kinh tế do thực dân Pháp để lại vô cùng nghèo nàn, đấtnước tiêu điều, xơ xác Nạn đói ở miền Bắc do Nhật, Pháp gây ra đã làm chohơn 2 triệu đồng bào ta bị chết Ruộng đất bị bỏ hoang Công nghiệp đìnhđốn Hàng hóa khan hiếm, giá cả tăng vọt, ngoại thương đình trệ Tình hìnhtài chính rất khó khăn, kho bạc chỉ có 1,2 triệu đồng, trong đó quá nửa là tiềnrách nát Ngân hàng Đông Dương còn nằm trong tay tư bản Pháp Quân Tưởngtung tiền quốc tệ và quan kim gây rối loạn thị trường 95% dân số không biếtchữ, các tệ nạn xã hội do chế độ cũ để lại hết sức nặng nề Có thể nói rằng,vận mệnh dân tộc ta lúc này như "ngàn cân treo sợi tóc"
Trước tình hình Tổ quốc lâm nguy, sau ngày tuyên bố độc lập, Chínhphủ lâm thời đã nêu ra những việc cấp bách nhằm thực hiện ba nhiệm vụ lớn:Diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm Trong ba loại giặc trên, nhiệm
vụ diệt giặc đói là một nhiệm vụ mang tính cấp bách
- Thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội, đấu tranh thoát khỏi sự lạchậu, giải phóng quần chúng lao động dưới chế độ Xô viết
Sau thắng lợi của cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại, Đảng cộng sảncầm quyền, tổ chức ra Chính phủ công nông binh, phát đất ruộng cho dân cày,
Trang 27giao công xưởng cho thợ thuyền… để giải phóng giai cấp vô sản và quần chúnglao động khỏi cảnh nghèo đói Trong bước chuyển từ "Chính sách cộng sảnthời chiến" sang "Chính sách kinh tế mới", V.I Lênin đã chủ trương phát triểnkinh tế hàng hoá nhằm giải phóng sức sản xuất, thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Với chủ trương đúng đắn, nền kinh tế nước Nga Xô viết đã đạt đượcnhững thành tựu vượt bậc Nhân dân Nga không những thoát khỏi đói nghèo
mà còn có một cuốc sống ấm no, đầy đủ
Những cơ cở lý luận và thực tiễn nói trên đã hình thành nên tư tưởng
Hồ Chí Minh về xoá đói, giảm nghèo
1.2.1.2 Quá trình hình thành và phát triển
- Thời kỳ trước năm 1954
Thời kỳ này, Hồ Chí Minh đã phản ánh tình trạng đói nghèo củangười dân Việt Nam dưới chế độ thuộc địa, vạch trần bản chất bóc lột củathực dân Pháp; Sau cách mạng tháng Tám, Người đã xem đói nghèo là mộtloại "giặc" và đã chủ trương chống "giặc đói" Từ năm 1946 đến năm 1954,
Hồ Chủ tịch luôn gắn nhiệm vụ xoá đói giảm nghèo, nâng cao đời sống nhândân với kháng chiến, kiến quốc
Hồ Chí Minh sinh ra tại một vùng quê nghèo khó, giàu tình người, đậm
đà văn hoá trong một khung cảnh nước mất nhà tan Quê hương, đất nướctươi đẹp bị giày xéo, người dân lương thiện, cần cù bị lầm than Tình yêu đốivới quê hương đất nước đã thôi thúc Người ra đi tìm đường cứư nước, cứudân để rồi 34 năm sau (1945) đã nở hoa kết trái và hoa trái đó đã được chiađều cho tất cả mọi nhười dân Việt Nam: Cơm ăn, áo mặc, học hành…
Hồ Chí Minh đã trực tiếp chứng kiến nỗi đau khổ của nhân dân dướigót dày thực dân Pháp xâm lược Sự bóc lột đó trước hết thể hiện thông quachính sách thuế khoá nặng nề Dù mùa màng có xấu đến đâu người dân vẫnphải đóng thuế Nhà nước "bảo hộ" mà hoàn toàn không bảo hộ, Hồ Chí Minh
Trang 28đã chứng kiến cảnh đời sống nhân dân khốn khổ và phải bán lúa non Bọn láibuôn mua rẻ theo ước lượng bằng mắt rồi quay lại bán đắt cho dân Không chỉthuế, các sắc thuế vô lý như thuế thân, thuế muối… mà sự bóc lột còn thôngqua cho vay với tỷ suất vay có khi đến 200% thông qua bán nô lệ cho đồn điềncao su Lịch sử Việt Nam thời đó đã viết bằng nước mắt: "Cao su đi dễ khó về,Khi đi trai tráng, khi về bủng beo" Đời sống vật chất của nhân dân vô cùngcực khổ mà cuộc sống tinh thần cũng chẳng có gì hơn ngoài sự đầu độc bằngrượu và thuốc phiện nhằm giết chết họ triệt để Chính sách của thực dân Phápchỉ nhằm mục đích vơ vét tối đa Bức tranh Hồ Chí Minh cảm nhận được cóhai tầng, bọn bóc lột phè phỡn, còn nhân dân ta đói rét, cực khổ và dốt nát.
Với gần 150 bài viết và sách về chủ nghĩa thực dân và hàng chục lầntham luận trên các diễn đàn quốc tế, Hồ Chí Minh đã vạch trần bản chất xấu
xa, phi nhân tính, chính sách vơ vét, bóc lột tàn bạo của chủ nghĩa thực dânđối với nhân dân thuộc địa Các nước thuộc địa đều là những nước nôngnghiệp chậm phát triển, nông dân chiếm tuyệt đại da số dân cư Và họ cũng là
đối tượng bị bóc lột nhiều nhất Trong bài "Tình cảnh nông dân An Nam", Hồ
Chí Minh đã phản ánh sự khổ cực, đói nghèo của người dân Việt Nam nóichung và người nông dân Việt Nam nói riêng dưới ách đô hộ của thực dânPháp như sau:
Là người An Nam, họ bị áp bức; là người nông dân, họ bịngười ta ăn cắp, cướp bóc, tước đoạt, làm phá sản Chính họ lànhững người phải làm mọi công việc nặng nhọc, mọi thứ lao dịch.Chính họ làm ra cho lũ người ăn bám, lũ người lười biếng, lũ người
đi khai hoá và những bọn khác hưởng mà chính họ lại phải sốngtrong cùng khổ trong khi những tên đao phủ của họ sống rất thừathãi; hễ mất mùa thì họ chết đói Đó là vì họ bị ăn cắp hết mọi phía,bằng mọi cách, do các quan cai trị, do bọn phong kiến tân thời vànhà thờ [29, tr 227]
Trang 29Trong tác phẩm "Bản án chế độ thực dân Pháp" một lần nữa Hồ Chí
Minh cho chúng thấy sự đói nghèo của người Việt Nam: "Trong các công sở,những người bản xứ đã làm việc lâu năm và dù rất thành thạo công việc, cũngchỉ được lĩnh một khoản lương chết đói" [30, tr 85]
Hồ Chí Minh đã vạch rõ tính chất phản động dã man của chủ nghĩathực dân đối với người dân thuộc địa, từ đó thức tỉnh các dân tộc bị áp bứcđứng lên dành độc lập tự do, ấm no, hạnh phúc Sinh ra và lớn lên khi đấtnước đã trở thành thuộc địa của Pháp, xót xa trước thân phận nô lệ của dântộc mình, Người đã rời Tổ quốc ra đi với khát vọng tìm được con đường giúpđồng bào mình thoát khỏi cuộc đời lầm than, khổ cực dưới chế độ thực dân
Hồ Chí Minh đã thực hiện một cuộc nghiên cứu, khảo nghiệm sâu rộng nhiềunước thuộc địa và tư bản từ châu Á đến châu Âu, châu Phi, châu Mỹ Do vậy,những tác phẩm của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa thực dân là hết sức sâu sắc,phản ánh một cách toàn diện chế độ thực dân tàn ác trên toàn thế giới cũngnhư chế độ thực dân Pháp trên quê hương của Người Chủ nghĩa đế quốc thựcdân đi xâm lược và thống trị các dân tộc nhược tiểu vẫn rêu rao là thực hiệncông cuộc " khai hoá văn minh", mang lại " tự do, bình đẳng, bác ái" cho cácdân tộc Dưới ngòi bút của Hồ Chí Minh, mục đích thực sự của công cuộc
"khai hoá văn minh" đó dược vạch trần Thực chất của các cuộc xâm lượcthống trị của các lực lượng tư bản phương Tây dù được che đậy dưới nhữngnhãn mác mỹ miều thì vẫn không che giấu được bản chất bóc lột tàn nhẫn vềkinh tế và nô dịch nặng nề về chính trị Tất cả các chính sách của bọn thựcdân ở các nước thuộc địa đều quy tụ vào một điểm là bóc lột, vơ vét tàn bạonhân dân bản xứ cho đầy cái túi tham lam không đáy của chúng Hồ Chí Minhkhông chỉ dừng lại ở việc tố cáo chủ nghĩa đế quốc và thức tỉnh các dân tộc bị
áp bức, mà còn là cơ sở để Người dần hình thành tư tưởng về một nền kinh tếdân chủ sẽ được xây dựng sau khi nước nhà được độc lập Nhà nước dân chủnhân dân ra đời, tình trạng bất công, đói nghèo sẽ được xoá bỏ
Trang 30Sau cách mạng tháng Tám, hậu quả chính sách vơ vét của thực dânPháp và phát xít Nhật đã làm cho đất nước ta đứng trước nạn đói nghiêmtrọng: Hơn hai triệu đồng bào ta ở Bắc Bộ chết đói Tình hình nhân dân cònnặng nề hơn do lũ lụt gây ra Ở Nam Bộ, máu tiếp tục đổ Ruộng đất bị bỏhoang Xưởng thợ, nhà máy, hầm mỏ thiếu nguyên liệu, đình đốn Là ngườiđứng đầu Nhà nước Việt Nam mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh chẳng những đặcbiệt quan tâm tới việc đoàn kết toàn dân, giữ vững nền độc lập dân tộc mớigiành lại được, bảo vệ chính quyền mà còn hết sức chăm lo đến công cuộckiến thiết nước nhà và không ngừng nâng cao đời sống vật chất của nhân dân.Theo Người, độc lập dân tộc chỉ có ý nghĩa thực sự khi nhân dân lao độngđược ăn no, mặc ấm Chính vì vậy, Người đã đề ra và nhấn mạnh quan điểm
chống "giặc đói" Người thấy rất rõ ý nghĩa to lớn của cái ăn chẳng những đối
với nhân dân lao động hằng ngày, nhất là khi vừa thoát khỏi nạn đói khủngkhiếp đầu năm 1945 do thực dân đế quốc gây ra, mà còn đối với thắng lợi củacuộc kháng chiến chống Pháp Từ nhận thức đó, Hồ Chí Minh hết sức quantâm đến sản xuất nông nghiệp nhằm giải quyết cái ăn cho cho nhân dân vàcho bộ đội đánh giặc, từng bước xoá đói, nâng cao đời sống cho nhân dân
Hồ Chí Minh cho rằng: "Loài người ai cũng "dĩ thực vi tiên" (nghĩa làtrước cần phải ăn); nước ta thì "dĩ nông vi bản" (nghĩa là nghề nông làm gốc)
… Thực túc thì binh cường, cấy nhiều thì khỏi đói" [32, tr 114-115] Tănggia sản xuất là cách thiết thực để chống "giặc đói"
Toàn dân ra sức sản xuất, thực hành tiết kiệm, để thoát khỏi nghèo, và
"Nghèo trở nên đủ, đủ trở nên giàu, giàu thì giàu thêm" [33, tr 62], cách tưduy và chỉ đạo thực tiễn đó của Hồ Chí Minh chẳng những rất phù hợp vớihoàn cảnh đất nước phải tự lực cánh sinh kháng chiến chống Pháp và canthiệp Mỹ, mà còn đúng với quy luật kinh tế, nhất là đối với một quốc gia mới
ra đời, một chế độ dân chủ mới theo phương hướng tiến lên chủ nghĩa xã hộibắt đầu được xây dựng
Trang 31Ngay cuối năm 1946 đầu năm 1947, Hồ Chí Minh đã đưa ra quanđiểm kinh tế hết sức đúng đắn, nói lên một trong những vấn đề cốt lõi đồngthời cũng là một trong những mục tiêu của chế độ dân chủ nước ta Đó làquan điểm dân giàu, nước mạnh Theo Người, dân có giàu thì nước mới mạnh;dân muốn cải thiện đời sống và muốn giàu thì dân phải tự mình lo là chính Vìvậy, toàn dân phải tích cực tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm Khi
"lương đủ ăn, vật dùng thừa", thì chẳng những đời sống nhân dân được cảithiện, vươn lên giàu mà Chính phủ cũng "tập trung nhân lực và vật lực", đẩymạnh kháng chiến và hoạt động kinh tế, tài chính và văn hoá, nước nhà trởnên hùng mạnh Dân chỉ thật sự giàu, nước chỉ thực sự mạnh khi ta đã xoá hếtđói, giảm được nghèo Nhờ tăng gia sản xuất mà đời sống của nông dân, côngnhân, bộ đội, cán bộ đều được cải thiện mau hơn Cuộc cải cách ruộng đất ởmiền Bắc nước ta bắt đầu từ năm 1954, tuy cách tiến hành không hoàn toànphù hợp với hoàn cảnh lúc bấy giờ, nên thắng lợi chưa toàn diện Dù sao, vẫn
có thể khẳng định rằng tác dụng giải phóng sức sản xuất, thúc đẩy kinh tếnông nghiệp, cải thiện đời sống nhân dân lao động của nó rất to lớn và rõ ràng
Có thể khẳng định rằng, thời kỳ trước năm 1945, dưới ngòi bút sắc sảocủa mình, Hồ Chí Minh đã vạch trần tội ác tàn bạo của chủ nghĩa thực dân,phản ánh một cách chân thực tình trạng đói nghèo của người dân Việt Namdưới thời Pháp, thức tỉnh tinh thần đấu tranh của nhân dân giải phóng khỏiách nô lệ, lầm than Với tư tưởng chống "giặc đói" sau cách mạng tháng Tám,xoá đói, giảm nghèo gắn liền với kháng chiến, kiến quốc có một ý nghĩa hếtsức to lớn trong việc nâng cao đời sống nhân dân, trước hết là nhân dân laođộng, làm cho kháng chiến thắng lợi
- Thời kỳ 1954 -1969
Thời kỳ từ năm 1954 - 1969, xoá đói, giảm nghèo gắn với việc thựchiện hai chiến lược cách mạng, cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc vàcách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam Đặc điểm lịch sử nổi bật
Trang 32của thời kỳ này là miền Bắc hoàn toàn giải phóng, miền Nam còn bị đế quốc
Mỹ chiếm đóng, áp đặt chủ nghĩa thực dân mới, âm mưu chia cắt nước ta lâudài Lúc này, cách mạng Việt Nam đồng thời có hai nhiệm vụ chiến lược:Miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam tiếptục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân; hai miền Nam Bắc đều nhằmthực hiện mục tiêu chung là giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà, hoànthành cuộc cách mạng dân chủ nhân dân trên cả nước, rồi cùng tiến lên chủnghĩa xã hội Trong cuộc đấu tranh, xây dựng này, miền Bắc có vai trò quyếtđịnh nhất đối với sự phát triển cách mạng cả nước và đối với sự nghiệp giảiphóng miền Nam; còn miền Nam có vai trò quyết định trực tiếp trong cuộcđấu tranh chống Mỹ - Ngụy, giải phóng miền Nam, góp phần bảo vệ miềnBắc, cùng miền Bắc hoàn thành cách mạng dân chủ nhân dân trong cả nước
Từ năm 1955 đến 1957, ở miền Bắc lúc này, khôi phục nền kinh tế bịchiến tranh tàn phá nặng nề trở thành nhiệm vụ trung tâm Hồ Chí Minh đặcbiệt quan tâm tới việc khôi phục và phát triển sản xuất nông nghiệp một cáchtoàn diện, nhất là sản xuất lương thực Người coi khôi phục, phát triển nôngnghiệp là khâu chính của công cuộc khôi phục kinh tế, nhằm đẩy lùi nạn đói,
ổn định tình hình nông thôn, thúc đẩy công thương nghiệp nhanh chóng đượcphục hồi và đi vào sản xuất
Trong thời kỳ này, tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh nổi bật ở một nộidung lớn là: Quan hệ giữa tăng gia sản xuất, phát triển kinh tế và nâng cao đờisống nhân dân gắn bó với nhau như thuyền với nước, nước càng dâng lên thìthuyền càng nổi lên cao
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần nhấn mạnh các câu tục ngữ: "Dân vĩthực vi thiên", và "Có thực mới vực được đạo" Vì vậy, theo Người, mục tiêucủa mọi chính sách của Đảng và Nhà nước ta "trước hết là nhằm cải thiện đờisống của nhân dân, nhất là nhân dân lao động" [36, tr 203] Và đời sống nhândân được cải thiện khi chúng ta xoá được đói, giảm được nghèo Nếu dân đói,
Trang 33Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân
ốm, Đảng và Chính phủ có lỗi Do đó, cán bộ, đảng viên và chính quyền từtrên xuống dưới đều phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân "Dân
đủ mặc thì những chính sách của Đảng và Chính phủ đưa ra sẽ dễ dàng thựchiện Nếu dân đói, rét, dốt, bệnh thì chính sách của ta dù có hay mấy cũngkhông thực hiện được" [35, tr 572]
Muốn xoá đói, giảm nghèo, cải thiện đời sống nhân dân, theo Hồ ChíMinh nhân dân phải cố gắng thi đua sản xuất Người cho rằng " Đời sống vínhư chiếc thuyền, sản xuất ví như nước Mực nước lên cao, thì con thuyềncàng nổi lên cao" [36, tr 141], "Chỉ trên cơ sở tăng gia sản xuất và thực hànhtiết kiệm mới cải thiện sinh hoạt cho nhân dân, cán bộ, quân đội" [36, tr 392]
Hồ Chí Minh nhiều lần nhấn mạnh mọi chính sách của Đảng và Chínhphủ đề ra đều nhằm cải thiện đời sống nhân dân và chỉ rõ mối quan hệ gắn bó,nhân quả giữa đẩy mạnh sản xuất và nâng cao đời sống nhân dân, đồng thờiNgười còn chỉ rõ ràng: Việc cải thiện đời sống cho nhân dân cũng phải donhân dân tự giúp lấy mình là chính, Đảng và Chính phủ chỉ giúp đỡ bằng cách
đề ra chính sách và đưa cán bộ về hướng dẫn thực hiện chính sách, phát triểnsản xuất Những lời chỉ dẫn của Hồ Chí Minh có tác dụng chỉ đạo to lớn đốivới sự nghiệp xây dựng cuộc sống mới, chế độ mới của toàn Đảng, toàn dân
ta, vừa chỉ rõ vai trò lãnh đạo của Đảng và sự điều hành của Nhà nước, vừanhấn mạnh sự nghiệp xây dựng này là chính sự nghiệp của chính bản thânnhân dân lao động Hồ Chí Minh đã từng chỉ rõ: "Tăng gia sản xuất và thựchành tiết kiệm là hai việc then chốt để khôi phục kinh tế, phát triển văn hoá đểcải thiện dần đời sống của nhân dân… Tăng gia sản xuất và thực hành tiếtkiệm là hai việc cần thiết nhất để phát triển chế độ dân chủ nhân dân tiến dầnlên chủ nghĩa xã hội" [36, tr 349]
Có thể nói rằng, từ năm 1955 đến 1957, vấn đề xoá đói, giảm nghèotrong tư tưởng Hồ Chí Minh được gắn liền với nội dung tăng gia sản xuất,
Trang 34phát triển kinh tế và nâng cao đời sống nhân dân Tư tưởng này đã được thựcthi một cách triệt để Sản lượng lương thực tăng cao, đời sống nhân dân đượccải thiện, miền Bắc đã vượt qua được nhiều khó khăn thử thách to lớn, tiếnmột bước vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, khẳng định tính ưu việt của chế độdân chủ nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
Từ năm 1958 đến năm 1968, do tư tưởng nôn nóng muốn nhanh chóng
có chủ nghĩa xã hội, nên lúc bấy giờ chúng ta đã tổ chức, mở rộng hợp tác xãsản xuất nông nghiệp một cách ồ ạt, nhanh chóng và đặc biệt quan tâm thựchiện công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa với nội dung ưu tiên phát triển côngnghiệp nặng Vì vậy, từ năm 1960, nhất là từ năm 1965 trở đi, đời sống vậtchất của nhân dân ta ngày càng khó khăn, tiêu cực trong sản xuất, phân phốixuất hiện ngày một nặng nề Cũng từ năm 1959, cách mạng miền Namchuyển sang thời kỳ mới, tiến lên đấu tranh chống Mỹ - Ngụy bằng conđường bạo lực, đòi hỏi sự chi viện của miền Bắc ngày càng nhiều sức người,sức của Trong điều kiện như vậy, vấn đề cải thiện đời sống cho nhân dân làvấn đề cấp thiết
Ở thời kỳ này, tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế cũng như về vấn đềnâng cao đời sống cho nhân dân, xoá đói, giảm nghèo có những bước pháttriển mới Hồ Chí Minh nói nhiều về chủ nghĩa xã hội ở nước ta là một chế độdân chủ, trong đó người dân lao động thực sự là chủ chế độ, phấn đấu để aicũng có cơm đủ ăn, áo đủ mặc, có nhà ở tử tế, ai cũng được học hành, đượcchữa bệnh, v.v Để dần dần đạt được mục tiêu đó, theo Người, điều quantrọng vẫn phải là đẩy mạnh sản xuất, nhất là sản xuất lương thực, tăng năngsuất lao động, thực hành tiết kiệm, đồng thời nâng cao đạo đức cách mạng,bảo vệ của công, chống tham, ô lãng phí
Theo Hồ Chí Minh, tiến lên chủ nghĩa xã hội tất yếu phải tổ chức hợptác hoá nông nghiệp Khi việc tổ chức hợp tác xã sản xuất nông nghiệp đã trởthành phong trào rộng khắp miền Bắc, Hồ Chí Minh cho rằng phương pháp
Trang 35tuyên truyền thuyết phục tốt nhất để khuyến khích nông dân vào hợp tác xã làlàm sao cho thu nhập của xã viên tăng thêm và đời sống cao hơn hẳn khi chưavào hợp tác xã Người còn nói rằng, muốn tăng gia sản xuất, thực hành tiếtkiệm, trong các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp cũng như trong các cơ sở sảnxuất công nghiệp của Nhà nước phải tổ chức quản lý cho tốt; sản xuất đượcnhiều, lại phải chú ý phân phối cho công bằng, muốn vậy, cán bộ phải chícông vô tư Hồ Chí Minh còn chỉ rõ rằng, công tác cải tiến quản lý, cải tiến kỹthuật và cải tiến tổ chức phải được coi trọng như nhau Muốn làm tốt các việcnày, phải thực hiện dân chủ.
Xây dựng nền kinh tế cũng như tiến lên chủ nghĩa xã hội, theo HồChí Minh, không những phải đúng quy luật, mà còn phải hợp lòng dân TheoNgười, trong kháng chiến hay dưới chủ nghĩa xã hội "đồng cam cộng khổ làmột điều rất hay, rất tốt", nhưng không vì thế mà dưới chủ nghĩa xã hội thựchiện phân phối theo chủ nghĩa bình quân Người nhấn mạnh rằng: "Bình quânchủ nghĩa là trái với chủ nghĩa xã hội" [36, tr 386] Cũng với quan điểm tương
tự như vậy, Hồ Chí Minh cho rằng công bằng hợp lý dưới chủ nghĩa xã hộiphải trên cơ sở nguyên tắc: "Làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, khônglàm thì không hưởng Những người già yếu hoặc tàn tật sẽ được Nhà nướcgiúp đỡ trông nom" [37, tr 175] Vì vậy, Người hết sức quan tâm đến việc lưuthông phân phối, sao cho việc này thực hiện công bằng hợp lý Người nêu rõ:
"Có khi vật tư, hàng hoá không thiếu, mà phân phối không đúng, thì gây racăng thẳng không cần thiết" [40, tr 185]
Có thể khẳng định rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh về xoá đói, giảmnghèo từ năm 1954 đến 1969 được thể hiện rõ trong tư tưởng không ngừngcải thiện đời sống nhân dân trên cơ sở đẩy mạnh sản xuất, thực hành tiết kiệm
và do chính nhân dân tiến hành để tiến tới dân giàu, nước mạnh trong độc lậpdân tộc, dưới sự hướng dẫn của Nhà nước và do Đảng Cộng sản Việt Nam
lãnh đạo
Trang 361.2.2 Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về xoá đói, giảm nghèo
1.2.2.1 Xoá đói, giảm nghèo - Một trong những mục tiêu của cách mạng Việt Nam
Khi lựa chọn con đường cho cách mạng Việt Nam, con đường cáchmạng vô sản, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh đãlựa chọn con đường đem lại ấm no, hạnh phúc cho đồng bào, không chấpnhận đói, nghèo Đói, nghèo không thể tồn tại đồng hành với chủ nghĩa cộngsản Ở chủ nghĩa tư bản, C Mác chỉ rõ ở đó có sự bóc lột thậm tệ của giai cấp
tư sản đối với người công nhân, đẩy người công nhân đến đói nghèo, cùngcực Ở chủ nghĩa xã hội, đói nghèo sẽ từng bước được xoá bỏ, dần dần đưa lạicuộc sống ấm no, hạnh phúc cho mọi người Để có chủ nghĩa xã hội, mộttrong những nhiệm vụ quan trọng chính là tiêu diệt đói, nghèo Xoá đói, giảmnghèo vừa là một đòi hỏi tất yếu khách quan, vừa là một đòi hỏi tự thân, cấpbách cho sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa xã hội Do đó, xoá đói,giảm nghèo là một trong những mục tiêu của cách mạng Việt Nam
Có thể khẳng định rằng, mục tiêu của cách mạng Việt Nam và mụctiêu mà suốt đời Hồ Chủ tịch phấn đấu là một, đó là độc lập, tự do cho dântộc, hạnh phúc cho nhân dân và nhân dân chỉ thực sự hạnh phúc khi khôngcòn đói, nghèo Người nói: "Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc làlàm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do,đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành" [32, tr 161]
Làm cách mạng giành độc lập để cho dân được ăn no, mặc ấm khôngcòn tình trạng đói, nghèo luôn là niềm trăn trở trong tư duy của Hồ Chí Minh.Người cho rằng "Chúng ta tranh được tự do độc lập rồi mà dân cứ chết đói,chết rét, thì tự do độc lập cũng không làm gì Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do,của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ" [32, tr 152] Chính vì vậy, saukhi nước nhà mới giành được độc lập, mặc dù phải giải quyết nhiều vấn đềcấp bách về chính trị, ngoại giao, an ninh quốc phòng, xây dựng và bảo vệ
Trang 37nền dân chủ mới, thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, nhưng Hồ Chí Minh
đã nêu lên nhiệm vụ chống "giặc đói" và xem đó là một trong những nhiệm
vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Người chỉ rõ đóinghèo là một trong ba thứ giặc cần phải diệt và giao nhiệm vụ cho nhân dântoàn quốc "diệt giặc đói" Bác đã đưa ra mục tiêu phấn đấu để nhân dân thoátnạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn, việc làm, ấm no và đời sốnghạnh phúc Hồ Chủ tịch đặc biệt quan tâm đến vấn đề đẩy mạnh tăng gia sảnxuất và tiết kiệm để xoá đói, giảm nghèo Người đề nghị Hội đồng Chính phủphát động một chiến dịch tăng gia sản xuất và mở cuộc lạc quyên cứu đói.Người viết thư gửi đồng bào toàn quốc, kêu gọi nhân nhân chống nạn đói,
"coi cuộc chống nạn đói cũng như chống ngoại xâm"
Hồ Chủ tịch khẳng định: Chương trình của Chính phủ ta là làm thếnào cho toàn quốc đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được họchành Tinh thần đó tiếp tục được thực hiện trong công cuộc kháng chiếnchống thực dân Pháp Khi nói về xây dựng chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh chỉ rõmục đích xây dựng chủ nghĩa xã hội là nhằm sản xuất ra nhiều của cải vật chất
và tinh thần để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân TheoNgười, "nói một cách tóm tắt, mộc mạc, chủ nghĩa xã hội trước hết là làm chonhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm,được ấm no và sống một đời hạnh phúc" [38, tr 17]
Trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc nước ta, Hồ ChíMinh quan niệm chủ nghĩa xã hội là xa lạ với nghèo đói, bần cùng và lạc hậu.Theo Người, chủ nghĩa xã hội phải chứng minh được tính ưu việt của mình ởchỗ đem lại ngày càng nhiều, ngày càng tốt hơn những lợi ích thiết thân hàngngày cho nhân dân như ăn no, mặc ấm, có nhà ở, được học hành Người cònchủ trương làm cho người nghèo thì đủ ăn, người đủ ăn thì khá giàu, ngườikhá giàu thì giàu thêm Theo Người, xoá đói phải tiến tới giảm nghèo và tănggiàu, đói nghèo là một cửa ải cần phải vượt qua, phải tiến tới giàu có, vì "dân
có giàu, thì nước mới mạnh" Trước lúc đi xa, Người còn nhắc nhở: "Đảng
Trang 38cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hoá, nhằm khôngngừng nâng cao đời sống của nhân dân" [40, tr 498] Tư tưởng xoá đói, giảmnghèo, nâng cao đời sống nhân dân luôn túc trực trong trái tim Hồ Chí Minh.
Nó thôi thúc Người trong từng hoàn cảnh để hành động, để thúc giục toàn Đảng,toàn dân cùng hành động bằng được Cho đến nay, mục tiêu về ăn, ở, mặc,học hành cho toàn dân vẫn là mục tiêu hàng đầu, bao quát trong chiến lượcphát triển kinh tế của nước ta
1.2.2.2 Nội dung xoá đói, giảm nghèo
Đối với Hồ Chí Minh, nhân dân luôn là lực lượng vĩ đại và quyền lợicủa dân luôn là tối thượng Đó không chỉ là quyền độc lập dân tộc mà còn lànhững lợi ích vật chất liên quan đến cuộc sống thường nhật của mỗi conngười như ăn, mặc, học hành… Vì vậy, xoá đói, giảm nghèo nâng cao đờisống cho nhân dân là một trong những mục tiêu mà suốt đời Hồ Chủ tịchhướng tới Nội dung của xoá đói, giảm nghèo theo Người chính là làm chodân có ăn, làm cho dân có mặc, làm cho dân có chỗ ở, làm cho dân có họchành, làm cho người nghèo thì đủ ăn, người đủ ăn thì khá giàu, người khágiàu thì giàu thêm Vấn đề này đã được Hồ Chí Minh chỉ rõ trong phiên họpđầu tiên của Chính phủ ngay sau khi giành được độc lập Người nhấn mạnh:
Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói,chết rét, thì tự do độc lập cũng không làm gì Dân chỉ biết rõ giá trịcủa tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ
Chúng ta phải thực hiện ngay:
1 Làm cho dân có ăn
2 Làm cho dân có mặc
3 Làm cho dân có chỗ ở
4 Làm cho dân có học hành [32, tr 152]
"Làm cho dân có ăn": Đây là vấn đề Người luôn trăn trở Là một nước
có nền kinh tế nông nghiệp nghèo nàn, lại bị thực dân Pháp đô hộ hàng trăm
Trang 39năm, người dân Việt Nam đã từng ở mức tận cùng của sự đói khổ Nạn đóinăm 1945 làm chết hai triệu người là nỗi ám ảnh, nỗi đau khôn nguôi của mọingười Việt Nam, cũng là nỗi lo hàng ngày của người lãnh đạo Với một nướckinh tế chưa phát triển, nông nghiệp lạc hậu, năng suất lao động thấp, vấn đềlương thực không chỉ đặt ra sau khi nước nhà mới giành độc lập mà còn luônluôn là nỗi lo của từng gia đình, của toàn xã hội cho đến bây giờ Nông dân ta
có câu: "tháng tám chưa qua, tháng ba đã đến", "tháng tám đói qua, tháng bađói chết" để nói lên rằng nạn đói như người bạn đồng hành của người nôngdân Việt Nam Vì vậy, vấn đề trước hết mà Hồ Chí Minh đề cập là phải xoáđói Trong Hồ Chí Minh toàn tập, vấn đề "xoá đói", "diệt giặc đói" đượcNgười nhắc đến nhiều lần Cụm từ "chống đói" được đề cập 8 lần, còn cụm từ
"diệt giặc đói" được Người đề cập tới 17 lần
Nói đến giặc, chúng ta ai cũng nghĩ đó là kẻ thù hữu hình, có quân đội,
có lực lượng đến chống phá, xâm lược chúng ta, ít ai nghĩ đến những thứ giặc
vô hình, không có chiến trường, không có súng đạn như: Giặc đói, giặc dốt.Đây là một nét rất độc đáo trong tư duy Hồ Chí Minh
Nói đến giặc ngoại xâm có lẽ mọi người đều hiểu được sự nguy hiểm
và sự cần thiết phải đánh đuổi và tiêu diệt chúng Vậy giặc đói, nghèo thì sao?Trong thực tế, mọi người đều thấy được đói nghèo là khổ, là vất vả, nhưngchưa nhận thức một cách thấu đáo được sự cần thiết phải "đánh đuổi" chúng
ra khỏi cuộc sống của mình, của đồng bào mình và của đất nước mình HồChí Minh là người đã nhận thức sâu sắc vấn đề trên Chính vì vậy, Ngườiluôn nhắc nhở: "Đói nghèo là giặc"
Về vấn đề ăn, Hồ Chí Minh lo trước hết là lương thực Với người dâncủa những nước nghèo, có đủ lương thực, họ sẽ không bị đói Người đã từng nói:
Việt Nam ta có câu tục ngữ: "Có thực mới vực được đạo".Trung Quốc cũng có câu tục ngữ "Dân dĩ thực vi thiên" Hai câu ấytuy đơn giản, nhưng rất đúng lẽ Muốn xoá đói, giảm nghèo nâng
Trang 40cao đời sống nhân dân thì trước hết phải giải quyết tốt vấn đề ăn.Muốn giải quyết tốt vấn đề ăn thì phải làm thế nào cho có đầy đủlương thực [38, tr 543-544]
Vì vậy, Người rất chú trọng nhắc nhở việc trồng lúa, trồng hoa màu.Ngoài lương thực, vấn đề ăn còn bao gồm nhiều loại thực phẩm khácnhư thịt, cá, rau quả, mắm muối… Trong Hội nghị tổng kết phong trào sảnxuất nông, lâm, ngư nghiệp năm 1959, Người đã nhắc nhở phải đẩy mạnhphong trào chăn nuôi càng nhiều càng tốt Người còn căn dặn chính quyền vànhân dân nhiều vùng như với hợp tác xã Đại Nghĩa (Hà Đông) phải đẩy mạnhchăn nuôi trâu, bò, dê, thỏ, gà, vịt…, phải đẩy mạnh thả cá, cũng như đẩymạnh trồng các thứ rau và cây ăn quả Sự quan tâm của Người về vấn đề ăncho dân chi tiết đến mức khi về nông trường Đông Hiếu (Nghệ An), Ngườikhuyên công nhân trồng ớt để ăn
Lo cái ăn cho dân, Người quan tâm, nhắc nhở các cấp công đoàn chú ýđến việc nấu ăn cho bếp tập thể sao cho tốt để đảm bảo sức khoẻ cho công nhân.Người nói: "Việc nấu ăn cũng quan trọng Sở dĩ Bác phải nói nhiều về mặt này
là vì ta phải chú ý hơn nữa đến đời sống vật chất của công nhân" [37, tr 372]
"Làm cho dân có mặc": Sau vấn đề ăn, Người còn quan tâm đến vấn
đề mặc Ngay sau khi giành được chính quyền từ tay bọn thực dân Pháp vàbọn phát xít Nhật, Người đã khẳng định chính quyền mới phải "làm cho dân
có mặc" Do đó, khi về thăm nhân dân hợp tác xã Đại Nghĩa (Hà Đông),Người nhắc nhở trồng bông, trồng dâu nuôi tằm Về Nghệ An, Người lại đặtvấn đề: "Đây một năm sản xuất bao nhiêu bông? 2.000 mẫu tây được baonhiêu tấn? 1.000 tấn bông tuy là ít, nhưng nếu chú trọng lương thực mà không
có bông thì tức là có ăn chứ chưa có mặc" [38, tr 446] Nước ta, do điều kiệnthiên nhiên, nên việc trồng bông ở miền Bắc không thuận lợi Nhưng bù lại,lại có nhiều vùng đất phù sa ven sông có thể trồng dâu nuôi tằm, tạo nên loạisợi tơ quý giá, có thể dệt vải cao cấp hoặc có thể đổi được nhiều vải sợi, giải