1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quản lý dịch vụ bảo lãnh tại ngân hàng TMCP công thương việt nam chi nhánh hà tĩnh

98 86 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 1,87 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vận dụng lý luận về quản lý DVBL ngân hàng, kết hợp tìm hiểu thực tế tình hình hoạt động của ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam - Chi nhánh Hà Tĩnh, giai đoạn 2014 đến 2016 và tham khảo

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-

DƯƠNG KHÁNH TOÀN

QUẢN LÝ DỊCH VỤ BẢO LÃNH NGÂN HÀNG

TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM -

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản luận văn này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, chƣa đƣợc công bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào khác Việc sử dụng kết quả, trích dẫn tài liệu từ bên ngoài, thực hiện theo đúng quy định Các trích dẫn qua tài liệu, sách báo, thông tin đăng tải trên các tác phẩm, các báo, tạp chí và trang web đƣợc lập theo danh mục tài liệu tham khảo của luận văn

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện Luận văn Thạc sĩ này, tôi

đã nhận được sự giúp đỡ, tạo điều kiện nhiệt tình và quý báu của nhiều cá nhân và tập thể

Trước tiên, tôi xin trân trọng cảm ơn lãnh đạo Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội cùng các thầy, cô giáo ở Khoa Kinh tế chính trị, Phòng Đào tạo, Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập tại trường và nghiên cứu, thực hiện luận văn

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo PGS.TS Phạm Thị Hồng Điệp, người đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tận tình tôi trong suốt thời gian nghiên cứu để hoàn thành luận văn này

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn đến tất cả người thân, bạn bè đã nhiệt tình giúp đỡ, động viên tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu đề tài

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Trang 5

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT i

DANH MỤC BẢNG ii

DANH MỤC HÌNH iii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ DỊCH VỤ BẢO LÃNH TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 4

1.1.Tổng quan tình hình nghiên cứu 4

1.2 Cơ sở lý luận về quản lý dịch vụ bảo lãnh tại Ngân hàng thương mại 6

1.2.1 Khái quát về bảo lãnh của Ngân hàng thương mại 6

1.2.2 Khái niệm và vai trò của quản lý DVBL trong NHTM 14

1.2.3 Nội dung quản lý DVBL trong ngân hàng thương mại 16

1.2.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến quản lý DVBL của NHTM 22

1.3 Kinh nghiệm quản lý DVBL của các ngân hàng nước ngoài và bài học cho Vietinbank chi nhánh Hà Tĩnh 29

1.3.1 Kinh nghiệm quản lý DVBL của các ngân hàng nước ngoài 29

1.3.2 Bài học cho Vietinbank chi nhánh Hà Tĩnh 30

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32

2.1 Phương pháp luận và cách tiếp cận nghiên cứu 32

2.2.Quy trình nghiên cứu: 32

2.3 Phương pháp thu thập số liệu, thông tin 33

2.4 Phương pháp tổng hợp, xử lý số liệu 33

2.4.1 Phương pháp tổng hợp số liệu 33

2.4.2 Phương pháp phân tích dữ liệu 33

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ DỊCH VỤ BẢO LÃNH TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM CHI NHÁNH HÀ TĨNH 36

3.1 Khái quát về ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam chi nhánh Hà Tĩnh và tình hình triển khai thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh tại ngân hàng 36

Trang 6

3.1.1 Khái quát về ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam CN Hà Tĩnh 36 3.1.2 Tình hình triển khai thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh tại ngân hàng TMCP

Công Thương Việt Nam chi nhánh Hà Tĩnh 39

3.2 Thực trạng quản lý DVBL tại ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam chi nhánh Hà Tĩnh 55

3.2.1 Công tác lập kế hoạch DVBL tại Vietinbank chi nhánh Hà Tĩnh 55

3.2.2 Tổ chức và điều hành DVBL tại Vietinbank chi nhánh Hà Tĩnh 59

3.2.3 Kiểm tra Dịch vụ bảo lãnh tại Vietinbank chi nhánh Hà Tĩnh 62

3.3 Đánh giá chung về công tác quản lý DVBL tại ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam chi nhánh Hà Tĩnh 63

3.3.1 Những kết quả đạt được 63

3.3.2 Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân 65

CHƯƠNG 4: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ DỊCH VỤ BẢO LÃNH TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN 70

CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM CHI NHÁNH HÀ TĨNH 70

4.1 Định hướng công tác quản lý DVBL tại chi nhánh Hà Tĩnh 70

4.2 Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý DVBL tại chi nhánh Hà Tĩnh 71

4.2.1 Nâng cao khả năng đáp ứng của ngân hàng trong hoạt động bảo lãnh 71 4.2.2 Hoàn thiện bộ máy tổ chức, nhân sự và điều hành, đáp ứng yêu cầu quản lý hoạt động DVBL 72

4.2.3 Nâng cao trình độ tư vấn và kỹ năng của cán bộ,nhân viên trong lĩnh vực bảo lãnh ngân hàng 74

4.3 Kiến nghị 75

4.3.1 Kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền 75

4.3.2 Kiến nghị với ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam 76

KẾT LUẬN 77

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 79

PHỤ LỤC

Trang 7

i

DANH MỤC TƢ̀ VIẾT TẮT

Trang 8

ii

DANH MỤC BẢNG

STT Bảng Nội dung Trang

1 Bảng 3.1 Kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng TMCP

công thương Việt nam - CN Hà Tĩnh ( 2014- 2016 ) 38

3 Bảng 3.3 Cơ cấu theo loại hình bảo lãnh tại tại ngân hàng

TMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Hà Tĩnh 51

4 Bảng 3.4

Thống kê số lượng khách hàng có nhu cầu bảo lãnh tại ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam - Chi nhánh Hà Tĩnh 2014 – 2016

54

Trang 9

iii

DANH MỤC HÌNH

STT Hình Nội dung Trang

5 Hình 3.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy ngân hàng TMCP Công

thương Việt Nam - Chi nhánh Hà Tĩnh 37

Trang 10

1

MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu

Cùng với xu hướng phát triển các dịch vụ ngân hàng, bảo lãnh ngân hàng ngày càng được khẳng định vai trò quan trọng, thiết thực đối với nền kinh tế BLNH không chỉ tài trợ vốn, mà còn góp phần hạn chế rủi ro cho các chủ thể khi thiết lập và thực hiện các quan hệ giao dịch dân sự, giao dịch kinh tế (trong đó bao hàm cả các giao dịch Quốc tế) Thực chất, bảo lãnh ngân hàng là một trong các hình thức cấp tín dụng, nhưng khác các hình thức cấp tín dụng ở chỗ: việc cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính… khi thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh, NHTM không phải cung ứng vốn cho khách hàng, mà chỉ dùng uy tín và khả năng tài chính để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ của mình trong tương lai Do được NHTM bảo lãnh

mà trong nhiều trường hợp, khách hàng không phải xuất vốn, mà vẫn được ngân hàng bảo đảm nghĩa vụ liên quan đến thời gian thanh toán, nhận hàng, chất lượng hàng hóa, nghĩa vụ nộp thuế … Chính vì vậy, BLNH ngày càng được mở rộng và góp phần thúc đẩy các hoạt động kinh tế không ngừng phát triển Hiện nay việc quản lý DVBL được các NHTM hết sức coi trọng, đã và đang trở thành một chiến lược kinh doanh không thể thiếu của các ngân hàng

Là một trong những NHTM hàng đầu của đất nước, ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam đã rất chú trọng triển khai, tổ chức chỉ đạo thực hiên công tác quản lý DVBL và đạt đựợc một số kết quả đáng khích lệ Song bên cạnh đó, công tác quản lý DVBL của ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam vẫn còn một số vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện, nhằm tăng cường hiệu quả và an toàn hoạt động kinh doanh, trên cơ sở đảm bảo tuân thủ các công ước quốc tế, quy chế và quy tắc bảo lãnh trong toàn hệ thống

Nghiên cứu vấn đề này tại một chi nhánh cụ thể của ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam, như chi nhánh Hà Tĩnh, sẽ cho chúng ta cái nhìn cận cảnh hơn

về công tác quản lý DVBL của ngân hàng Từ quan điểm quản lý, chúng ta tiến hành nghiên cứu, xem xét, đánh giá kết quả thực hiện, xác định các tồn tại, hạn chế, khuyết điểm và nguyên nhân; trên cơ sở đó, đề xuất với Vietinbank chi nhánh Hà

Trang 11

2

Tĩnh (Chủ thể quản lý) các giải pháp khắc phục, sửa chữa, bổ sung và hoàn thiện nội dung công tác quản lý DVBL ( bao gồm lập kế hoạch, tổ chức điều hành và kiểm tra ) nhằm đưa loại dịch vụ này không ngừng phát triển và đạt hiệu quả thiết thực Vận dụng lý luận về quản lý DVBL ngân hàng, kết hợp tìm hiểu thực tế tình hình hoạt động của ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam - Chi nhánh Hà Tĩnh, giai đoạn 2014 đến 2016 và tham khảo thêm tình hình 6 tháng đầu 2017, tác

giả đã lựa chọn đề tài: ‘‘Quản lý dịch vụ bảo lãnh tại ngân hàng TMCP Công

Thương Việt Nam - Chi nhánh Hà Tĩnh” để nghiên cứu trong luận văn tốt

nghiệp cao học, với mong muốn góp phần quản lý tốt hơn DVBL tại ngân hàng

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu này được thực hiện nhằm mục đích tìm hiểu, xem xét qúa trình

tổ chức, quản lý hoạt động DVBL, kết quả đạt được, những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân, qua đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện quản lý DVBL tại Vietinbank HàTĩnh

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý DVBL ngân hàng tại các NHTM

- Đánh giá thực trạng quản lý DVBL tại ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam - Chi nhánh Hà Tĩnh

- Đề ra các giải pháp nhằm quản lý tốt hơn DVBL tại ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam - Chi nhánh Hà Tĩnh

4 Câu hỏi nghiên cứu

- Thực trạng quản lý DVBL của ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam - Chi nhánh Hà Tĩnh đạt được kết quả ra sao và có những ưu, nhược điểm gì?

- Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam - Chi nhánh Hà Tĩnh cần có định hướng và các giải pháp như thế nào để hoàn thiện công tác quản lý DVBL ngân hàng trong thời gian tới

5 Đối tượng, phạm vi và nội dung nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: quản lý dịch vụ bảo lãnh tại NHTM

Trang 12

3

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Về không gian: quản lý DVBL tại ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam Chi nhánh Hà Tĩnh

-+ Về thời gian: Từ năm 2014 đến năm 2016 và 6 tháng đầu năm 2017

- Nội dung nghiên cứu:

+ Công tác lập kế hoạch

+ Tổ chức điều hành DVBL

+ Kiểm tra hoạt động quản lý DVBL

6 Kết cấu của đề tài:

Phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia thành 4 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về

quản lý DVBL tại ngân hàng thương mại

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Thực trạng quản lý DVBL tại ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam - Chi nhánh Hà Tĩnh

Chương 4: Định hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý DVBL tại ngân

hàng TMCP Công Thương Việt Nam - Chi nhánh Hà Tĩnh

Trang 13

4

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN

VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ DỊCH VỤ BẢO LÃNH TẠI NGÂN HÀNG

THƯƠNG MẠI

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Quản lý DVBL là vấn đề rất quan trọng trong hoạt động của NHTM Chính

vì vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này tại các ngân hàng Trong quá trình thực hiện nghiên cứu này, tác giả đã tiếp cận được rất nhiều tài liệu là các luận án, luận văn, sách chuyên khảo, giáo trình và các bài báo, tạp chí khoa học Trong khuôn khổ luận văn này, tác giả chỉ đề cập một số công trình tiêu biểu, phù hợp với tính chất của luận văn thạc sĩ

Do luận văn nghiên cứu tại ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam - Chi nhánh Hà Tĩnh, nên ngoài các công trình nghiên cứu về quản lý DVBL tại NHTM nói chung, tác giả còn tổng quan các nghiên cứu về chủ đề này tại ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam, một số chi nhánh ngân hàng nước ngoài, hoặc tại các chi nhánh ngân hàng nội địa khác Cụ thể là:

Luận văn của Lê Kim Hoàn: “ Hoàn thiện dịch vụ bảo lãnh ngân hàng tại ngân hàng TMCP Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam” năm 2012 Đây là một đề tài rộng, thực hiện nghiên cứu hoạt động bảo lãnh tại BIDV Đề tài đã đưa ra các rủi ro trong DVBL và biện pháp quản lý rủi ro, giúp cho BIDV có thể kiểm soát rủi ro tốt hơn trong hoạt động DVBL, từ đó kiến nghị những giải pháp phát triển để hoàn thiện công tác quản lý DVBL tại BIDV Đây cũng chính là cơ sở để tác giả học hỏi kinh nghiệm khi đề xuất giải pháp cho luận văn của mình được hoàn thiện hơn

Luận văn của Lê Thị Thanh Ý: “ Giải pháp phát triển hoạt động bảo lãnh tại ngân hàng TMCP Công Thương CN 7- TPHCM” năm 2011 Qua đề tài này, tác giả

đã tham khảo được cơ sở lý luận về bảo lãnh và bảo lãnh NHTM, bên cạnh đó tìm hiểu về quy trình cấp bảo lãnh của ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam để so sánh với quy trình bảo lãnh tại các NHTM khác Trong phần thực trạng, đề tài đã đưa ra những tiêu chí về định lượng và định tính, làm cơ sở để đánh giá kết quả hoạt động bảo lãnh trong phần kiểm tra của đề tài Bên cạnh đó, phần đề xuất giải

Trang 14

5

pháp thực hiện và kiến nghị với các ban, phòng của Vietinbank, nhằm giúp cho DVBL của ngân hàng phát triển tốt hơn Đây cũng là cơ sở để tác giả học hỏi và

bổ sung thêm kiến thức, kinh nghiệm trong quá trình nghiên cứu, thực hiện đề tài

Luận văn của Lê Thùy Trang: “ Phát triển dịch vụ bảo lãnh tại ngân hàng TMCP Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam chi Nhánh Phú Tài năm 2013 Tuy đề tài nghiên cứu trong phạm vi của chi nhánh, nhưng cũng đã nói lên tình hình phát triển DVBL của BIDV Phú Tài, thông qua các chỉ số tăng trưởng của các giai đoạn hoạt động Ngoài ra những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân bên trong, bên ngoài của đề tài, là cơ sở để tác giả so sánh với hệ thống các NHTM trong nước

Luận văn của Lê Thị Phương Thảo: “ Phát triển hoạt động bảo lãnh tại ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn tỉnh Quảng Nam” năm 2010 Đề tài

đã khái quát thực trạng hoạt động bảo lãnh của ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn tỉnh Quảng Nam trong giai đoạn nghiên cứu, cũng như so sánh với các ngân hàng khác trên cùng địa bàn Nghiên cứu này đã đưa ra các chỉ tiêu định tính và định lượng để đánh giá sự phát triển của hoạt động bảo lãnh, là cơ sở

để tác giả thu thập thông tin

Nghiên cứu của Boris Kozolchyk, 1989: “ Bank guarantees and letter of credit: time for a return to the fold” ( Bảo lãnh ngân hàng và thư tín dụng: sự trở lại) Nội dung của nghiên cứu là đề cập về việc thay đổi luật trong hoạt động bảo lãnh ngân hàng, cũng như thư tín dụng và để thành công, thì luật bảo lãnh ngân hàng phải được tín nhiệm và được xây dựng bằng những văn bản dễ hiểu Ngoài ra, các đề xuất của Boris Kozolchyk đối với các tổ chức như ICC, UNCITRAL cũng rất cần cho tác giả luận văn học hỏi

Nghiên cứu của Gary D Koppenhaver (1987): “The effect of regulation on bank participation in the guarantee market” (Sự ảnh hưởng của luật vào ngân hàng

về thị trường bảo lãnh) Nội dung của nghiên cứu đề cập đến những điều luật của ngân hàng, ảnh hưởng đến thị trường bảo lãnh; đây là cơ sở để tác giả minh chứng cho nhận định của mình

Trang 15

6

Nghiên cứu của Nguyễn Trọng Thùy (2000), Bảo lãnh-Tín dụng dự phòng

và những điều luật áp dụng, NXB Thống Kê, Tp Hồ Chí Minh; nghiên cứu của TS Nguyễn Văn Tiến (2003): Đánh giá và phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh ngân hàng, Nhà xuất bản thống kê, Hà Nội… cũng là những tài liệu thiết thực, giúp cho tác giả trong quá trình hoàn thành bản luận văn

1.2 Cơ sở lý luận về quản lý dịch vụ bảo lãnh tại Ngân hàng thương mại

1.2.1 Khái quát về bảo lãnh của Ngân hàng thương mại

1.2.1.1 Khái niệm bảo lãnh ngân hàng

Theo thông tư số 07/2015/TT-NHNN ngày 25/06/2015 của ngân hàng Nhà

Nước Việt Nam thì “Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên bảo

lãnh cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho bên được bảo lãnh khi bên được bảo lãnh không thực hiện, hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh; bên được bảo lãnh phải nhận nợ

và hoàn trả cho bên bảo lãnh ”

Từ đó chúng ta có thể đưa ra khái niệm chung về bảo lãnh ngân hàng như sau:

“ Bảo lãnh ngân hàng (hay Dịch vụ bảo lãnh) là cam kết bằng văn bản của

tổ chức tín dụng (bên bảo lãnh) với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc tổ chức tín dụng thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng (bên được bảo lãnh), khi khách hàng không thực hiện, hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng số tiền đã được trả thay ” ( trích Quy chế bảo lãnh ngân hàng ban hành kèm theo Quyết định số 28/2008/ QĐ-NHNN ngày 28 tháng 8 năm 2008 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước)

1.2.1.2.Các hình thức bảo lãnh của ngân hàng thương mại

Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Việc bảo lãnh phải được lập thành văn bản, có thể lập thành văn bản riêng hoặc ghi trong hợp đồng chính Trong trường hợp pháp luật có quy định, thì văn bản bảo lãnh phải được công chứng hoặc chứng thực.”

Thông thường tại các NHTM, các hình thức bảo lãnh bao gồm:

- Thư bảo lãnh: là cam kết đơn phương bằng văn bản của ngân hàng về việc

Trang 16

- Thư tín dụng dự phòng: là cam kết không hủy ngang bằng văn bản của ngân hàng với người thụ hưởng thư tín dụng về việc ngân hàng sẽ thực hiện nghĩa vụ vụ tài chính thay cho khách hàng (người yêu cầu phát hành thư tín dụng) khi nhận được yêu cầu trả tiền, hối phiếu và các chứng từ khác (nếu có), thể hiện trên bề mặt

là phù hợp với các điều khoản của Thư tín dụng; trong đó nêu rõ việc đòi tiền là do khách hàng không thực hiện, hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với người thụ hưởng ( bên nhận bảo lãnh)

Hình thức bảo lãnh ngân hàng phổ biến nhất hiện nay là Thư bảo lãnh

1.2.1.3 Phân loại bảo lãnh

a) Phân theo mục đích của bảo lãnh, có các loại bảo lãnh như sau:

- Bảo lãnh thực hiện hợp đồng:

Bảo lãnh thực hiện hợp đồng là cam kết của ngân hàng với bên nhận bảo lãnh, bảo đảm việc thực hiện đúng, đầy đủ các nghĩa vụ của khách hàng theo hợp đồng đã ký kết với bên nhận bảo lãnh Đây là một trong những loại bảo lãnh được dùng phổ biến nhất trong hoạt động kinh tế, thông thường, hầu hết các hợp đồng đều có quy định về bảo lãnh thực hiện hợp đồng

- Bảo lãnh dự thầu:

Bảo lãnh dự thầu là cam kết của ngân hàng với bên nhận bảo lãnh ( bên mời thầu) để bảo đảm nghĩa vụ tham gia dự thầu của khách hàng Thực chất mục đích của bảo lãnh dự thầu, là bảo đảm việc người dự thầu không rút lui, không ký hợp đồng, hoặc thay đổi ý định khi đã trúng thầu

Trang 17

8

- Bảo lãnh thanh toán:

Bảo lãnh thanh toán là cam kết của ngân hàng với bên nhận bảo lãnh về việc

sẽ thực hiện nghĩa vụ thanh toán thay cho khách hàng, trong trường hợp khách hàng không thực hiện, hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thanh toán của mình khi đến hạn Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả đầy đủ cho Ngân hàng số tiền đã được trả thay và lãi, phí liên quan

- Bảo lãnh vay vốn:

Bảo lãnh vay vốn là cam kết của ngân hàng với bên nhận bảo lãnh, về việc sẽ trả nợ thay cho khách hàng, trong trường hợp khách hàng không thực hiện, hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán của mình khi đến hạn

- Bảo lãnh bảo hành/tiền giữ lại:

Bảo lãnh bảo hành/tiền giữ lại, là cam kết của ngân hàng với bên nhận bảo lãnh về việc bảo đảm nghĩa vụ bảo hành; hoặc nghĩa vụ hoàn thiện lắp đặt, thi công; hoặc nghĩa vụ chuyển giao công nghệ của khách hàng theo hợp đồng đã ký kết với bên nhận bảo lãnh

- Bảo lãnh thuế:

Bảo lãnh thuế là cam kết của ngân hàng với cơ quan thuế về việc bảo đảm khả năng thực hiện và chịu trách nhiệm nộp thuế và tiền phạt chậm nộp, thay cho khách hàng khi hết thời hạn nộp thuế, nhưng khách hàng chưa nộp xong thuế

- Bảo lãnh bảo đảm chất lượng sản phẩm (không bao gồm bảo lãnh bảo hành):

Bảo lãnh bảo đảm chất lượng sản phẩm là cam kết của ngân hàng với bên nhận bảo lãnh, bảo đảm việc khách hàng thực hiện đúng các thỏa thuận về chất lượng của sản phẩm, theo hợp đồng đã ký kết với bên nhận bảo lãnh Trường hợp khách hàng vi phạm chất lượng sản phẩm và phải bồi thường cho bên nhận bảo lãnh mà không thực hiện, hoặc thực hiện không đầy đủ, thì ngân hàng sẽ thực hiện thay

Loại bảo lãnh này được sử dụng như trong lĩnh vực xây lắp để bảo hành cho các công trình, hoặc các hợp đồng nhận thiết bị toàn bộ để bảo hành chất lượng máy móc, thiết bị

Trang 18

9

- Bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước (bảo lãnh hoàn lại thanh toán):

Bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước là cam kết của ngân hàng với bên nhận bảo lãnh để bảo đảm nghĩa vụ hoàn trả tiền ứng trước của khách hàng theo hợp đồng đã

ký kết với bên nhận bảo lãnh Đây cũng là một trong những loại bảo lãnh rất phổ biến trong các giao dịch kinh tế

b) Phân loại theo phương thức phát hành bảo lãnh

- Bảo lãnh trực tiếp:

Đây là loại hình bảo lãnh đơn giản nhất, được thực hiện dựa trên mối quan

hệ giữa 3 bên trong quan hệ bảo lãnh, trong đó ngân hàng bảo lãnh cam kết thanh toán trực tiếp với người thụ hưởng, không cần phải qua một ngân hàng trung gian nào cả Sau khi đã bồi thường cho người thụ hưởng bảo lãnh, ngân hàng có thể trực tiếp truy đòi bồi hoàn từ người được bảo lãnh

Hầu như phần lớn bảo lãnh hiện nay tại Việt Nam đều là bảo lãnh trực tiếp

Hình 1.1 Sơ đồ bảo lãnh trực tiếp

( Nguồn:Quy định nghiệp vụ bảo lãnh của Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam )

(1) Hợp đồng chính ký kết giữa người được bảo lãnh và người thụ huởng bảo lãnh (2) Khách hàng yêu cầu phát hành bảo lãnh

(3) Ngân hàng phát hành thư bảo lãnh và chuyển trực tiếp cho người thụ hưởng (sau khi xét duyệt và chấp nhận)

- Bảo lãnh gián tiếp:

Bảo lãnh gián tiếp là loại bảo lãnh trong đó người được bảo lãnh sẽ yêu cầu ngân hàng thứ nhất (gọi là ngân hàng chỉ thị) đề nghị ngân hàng thứ 2 (ngân hàng phát hành) đưa ra cam kết bảo lãnh chuyển cho người thụ hưởng Trong loại bảo lãnh này, người được bảo lãnh không trực tiếp bồi hoàn cho ngân hàng phát hành bảo

(3) (2)

(1)

Trang 19

10

lãnh, mà chính ngân hàng chỉ thị sẽ chịu trách nhiệm bồi hoàn cho ngân hàng phát hành, thông qua một cam kết gọi là đối ứng do chính ngân hàng này đưa ra Như vậy, trong bảo lãnh gián tiếp, có ít nhất 4 thành phần tham gia là: ngân hàng phát hành bảo lãnh, ngân hàng chỉ thị, người được bảo lãnh và người thụ hưởng bảo lãnh

Bảo lãnh gián tiếp được sử dụng chủ yếu trong trường hợp người thụ hưởng

là người nước ngoài và ngân hàng phát hành ở ngay tại quốc gia của người thụ hưởng Do vậy, quyền lợi của người thụ hưởng được bảo vệ chắc chắn hơn

Hình 1.2 Sơ đồ bảo lãnh gián tiếp

( Nguồn: Quy định nghiệp vụ bảo lãnh của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam )

c) Phân loại theo đối tượng bảo lãnh

- Bảo lãnh trong nước:

Là loại bảo lãnh mà người yêu cầu bảo lãnh, người được bảo lãnh và ngân hàng bảo lãnh ở trong phạm vi một quốc gia Các hình thức áp dụng cho loại bảo lãnh này là: bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh tiền ứng trước được thực hiện thông qua ngân hàng phát hành thư bảo lãnh

NGÂN HÀNG PHÁT HÀNH (NGÂN HÀNG THỨ

HAI)

NGÂN HÀNG CHỈ THỊ (NGÂN HÀNG THỨ NHẤT)

NGƯỜI THỤ HƯỞNG

LÃNH (1)

(2) (4)

(3)

Trang 20

11

- Bảo lãnh ngoài nước:

Là loại hình bảo lãnh mà trong đó chỉ có một bên ở trong nước, còn bên kia ở nước ngoài Loại hình này thường sử dụng cho một trong các hình thức bảo lãnh sau:

+ Mở thư tín dụng mua hàng trả chậm

+ Ký bảo lãnh trên hối phiếu nhận nợ với nước ngoài

+ Phát hành thư bảo lãnh

+ Lập giấy chứng nhận kỳ hạn nợ

1.2.1.4.Các đặc điểm của bảo lãnh ngân hàng thương mại

a) Các hợp đồng trong quan hệ bảo lãnh vừa phụ thuộc vừa độc lập

Quan hệ bảo lãnh gồm có: quan hệ thư bảo lãnh (giữa ngân hàng với bên thụ hưởng) và quan hệ hợp đồng bảo lãnh (giữa ngân hàng với bên được bảo lãnh) Hai quan hệ này là các quan hệ phái sinh, hình thành trên cơ sở hợp đồng kinh tế giữa khách hàng với bên thụ hưởng bảo lãnh (hợp đồng gốc) Các quan hệ được miêu tả dưới hình

vẽ sau:

(2) (3)

(1)

Hình 1.3 Các quan hệ trong bảo lãnh

( Nguồn: Quy định nghiệp vụ bảo lãnh của ngân hàng TMCP CT Việt Nam )

(1) Quan hệ hợp đồng kinh tế giữa bên được bảo lãnh và bên thụ hưởng bảo lãnh (quan hệ này không phải quan hệ bảo lãnh) Mọi nghĩa vụ kinh tế của hai bên tham gia đều có thể được bảo lãnh Quan hệ hợp đồng kinh tế được coi là khởi đầu của quan hệ bảo lãnh

(2) Quan hệ hợp đồng bảo lãnh (hợp đồng cấp bảo lãnh) giữa ngân hàng phát hành bảo lãnh với khách hàng (bên được bảo lãnh) Hợp đồng này quy định trách nhiệm, quyền hạn của cả ngân hàng phát hành bảo lãnh và bên được bảo lãnh (khách hàng của ngân hàng)

Trang 21

12

(3) Quan hệ thư bảo lãnh giữa ngân hàng phát hành với bên thụ hưởng Trong quan hệ này, bên thụ hưởng có quyền được hưởng bảo lãnh mà không có nghĩa vụ gì với ngân hàng; ngân hàng không có quyền gì mà chỉ có nghĩa vụ thanh toán bảo lãnh khi bên thụ hưởng yêu cầu

Như vậy, 3 hợp đồng trong quan hệ bảo lãnh hình thành trên cơ sở phụ thuộc lẫn nhau Trước khi hợp đồng kinh tế được xây dựng, các bên yêu cầu đối tác phải

có bảo lãnh của ngân hàng Hợp đồng bảo lãnh hình thành căn cứ vào hợp đồng kinh tế Thư bảo lãnh lại phụ thuộc vào hợp đồng bảo lãnh

Tuy vậy, về mặt pháp lý, thì 3 hợp đồng này hoàn toàn độc lập với nhau Mặc dù, mục đích của bảo lãnh là trả tiền cho bên nhận bảo lãnh, khi khách hàng không thực hiện hợp đồng, nhưng việc thanh toán chỉ hoàn toàn căn cứ vào các điều khoản, điều kiện được quy định trong thư bảo lãnh, mà không căn cứ vào hợp đồng kinh tế, hay hợp đồng bảo lãnh Đồng thời, sau khi ngân hàng bảo lãnh trả tiền cho bên thụ hưởng, ngân hàng yêu cầu khách hàng nhận nợ và hoàn trả, thì bên thụ hưởng không quan tâm đến quan hệ bồi hoàn này, tức là không quan tâm đến hợp đồng bảo lãnh Bên được bảo lãnh không đóng vai trò thiết lập thư bảo lãnh, không quan tâm đến sự ràng buộc quyền và nghĩa vụ giữa ngân hàng và bên thụ hưởng

b) Bảo lãnh được hạch toán ngoại bảng

Mặc dù bảo lãnh được xếp loại là một hoạt động tín dụng, nhưng khi phát hành một bảo lãnh, ngân hàng không hề phải chuyển tiền cho khách hàng, mà chỉ dùng uy tín của mình để cam kết thanh toán, vì vậy khi phát hành bảo lãnh, số dư tài sản trong bảng cân đối kế toán của ngân hàng không hề thay đổi

Khi phát hành bảo lãnh, ngân hàng chỉ hạch toán khoản bảo lãnh này vào một tài khoản ngoại bảng để theo dõi

Chỉ khi khách hàng thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên thứ

ba, thì ngân hàng mới phải thực hiện nghĩa vụ tài chính này với bên nhận bảo lãnh, lúc này số dư tài sản của ngân hàng mới thay đổi

Khi đó, ngân hàng sẽ hạch toán số tiền này như một khoản vay bắt buộc đối với khách hàng, tức là ngân hàng sẽ hạch toán nội bảng Khoản chi trả này được xếp

Trang 22

13

vào loại tài sản “xấu” trong nội bảng, cấu thành nợ quá hạn Chính vì vậy, bảo lãnh cũng chứa đựng các rủi ro như một khoản vay và đòi hỏi ngân hàng phải phân tích khách hàng như khi cho vay

c) Bảo lãnh được tiến hành trên cơ sở chứng từ

Giao dịch truyền thống của ngân hàng được dựa trên cơ sở chứng từ, hoạt động bảo lãnh cũng không phải là ngoại lệ Cam kết bảo lãnh (gồm thư bảo lãnh và hợp đồng bảo lãnh) là các chứng từ căn bản để ngân hàng thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh

Khi bên thụ hưởng yêu cầu ngân hàng thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, ngân hàng chỉ căn cứ vào văn bản đòi tiền của bên thụ hưởng và các chứng từ kèm theo nếu có, để trả tiền cho họ, không cần biết khách hàng có thực sự vi phạm hợp đồng kinh tế với bên thụ hưởng hay không Nghĩa là, ngay khi bên thụ hưởng xuất trình

đủ các chứng từ cần thiết, ngân hàng sẽ trả tiền thay cho khách hàng

Sau đó, ngân hàng sẽ có văn bản yêu cầu khách hàng được bảo lãnh bồi hoàn, dù khách hàng không vi phạm hợp đồng kinh tế với bên thụ hưởng, thì khách hàng vẫn phải bồi hoàn khoản tiền mà ngân hàng đã trả thay

d) Bảo lãnh ngân hàng là mối quan hệ đa phương

Để tiến hành được một nghiệp vụ BLNH, thông thường không chỉ có ngân hàng và người được bảo lãnh tham gia, mà cón có người nhận bảo lãnh

Giữa các chủ thể này có mối quan hệ với nhau qua hợp đồng kinh tế

Mối quan hệ giữa bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh, thông qua hợp đồng mua bán hàng hoá

Mối quan hệ giữa ngân hàng phát hành và bên nhận bảo lãnh, thông qua cam kết bảo lãnh, dưới hình thức thư bảo lãnh, hợp đồng bảo lãnh, thư tín dụng dự phòng

Do vậy, ta có thể hiểu rằng, bảo lãnh ngân hàng không chỉ là mối quan hệ song phương mà là mối quan hệ đa phương

1.2.1.5.Các bên tham gia trong hoạt động bảo lãnh

Một nghiệp vụ BLNH thông thường có 3 bên tham gia là, bên được bảo lãnh, bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh Ngoài ra còn có các bên liên quan Đó là các bên có liên quan đến giao dịch bảo lãnh của ngân hàng cho bên được bảo lãnh, như

Trang 23

14

bên bảo lãnh, trên cơ sở bảo lãnh đối ứng; bên xác nhận bảo lãnh; bên bảo đảm cho nghĩa vụ của bên nhận bảo lãnh đối với ngân hàng và các bên khác (nếu có)

Bên được bảo lãnh

Bên được bảo lãnh là tổ chức (bao gồm cả tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân

hàng nước ngoài, tổ chức tín dụng ở nước ngoài), cá nhân được bảo lãnh bởi bên bảo lãnh, bên bảo lãnh đối ứng

Là các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước có quyền thụ hưởng bảo lãnh

của ngân hang

1.2.2 Khái niệm và vai trò của quản lý DVBL trong NHTM

1.2.2.1.Khái niệm quản lý dịch vụ bảo lãnh

Quản lý dịch vụ bảo lãnh là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, điều hành và kiểm

tra hoat động DVBL, nhằm thực hiện tốt nhất những mục tiêu DVBL đã đặt ra ( Trích

từ Quy định nghiệp vụ bảo lãnh của ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam )

Yếu tố trung tâm của quản lý DVBL là tác động lên quá trình chuyển giao tài

sản trong, hoặc sau khi trao đổi sản phẩm dịch vụ, đáp ứng được yêu cầu của chủ thể tham gia Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, với sự tiến bộ vượt bậc của ngành ngân hàng nói riêng và nền kinh tế vĩ mô nói chung, đặc biệt là sự tiến bộ của khoa học công nghệ, sử dụng trong ngành ngân hàng,thì việc quản lý DVBL càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết Quản lý DVBL chỉ thực hiện được vai trò của mình khi phối hợp cùng các chức năng khác như: quản lý tài chính, quản lý marketing, quản lý nhân sự

1.2.2.2 Vai trò của quản lý DVBL trong ngân hàng thương mại

DVBL là một trong những hoạt động cơ bản của NHTM, có vai trò trực tiếp

và quyết định trong kinh doanh, cũng như tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng Vì vậy

Trang 24

- Đối với ngân hàng, bảo lãnh là một trong các dịch vụ được sử dụng để cung cấp cho nền kinh tế Bảo lãnh đem lại lợi ích cho ngân hàng, thông qua nguồn thu phí bảo lãnh Phí bảo lãnh đóng góp vào lợi nhuận ngân hàng một khoản không nhỏ, thường chiếm tỷ lệ khá lớn trong tổng phí dịch vụ của các NHTM hiện nay Không những thế, bảo lãnh còn làm đa dạng hoá các loại hình dịch vụ, giúp ngân hàng giảm thiểu rủi ro hoặc mất vốn Mặt khác, thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh, còn giúp ngân hàng làm tốt hơn chính sách khách hàng, vừa giúp ngân hàng gắn bó với khách hàng truyền thống, vừa thu hút thêm khách hàng mới Ngoài ra, DVBL còn góp phần nâng cao uy tín và tạo điều kiện cho ngân hàng, tăng cường mối quan hệ của mình ra bên ngoài, đặc biệt là trên trường quốc tế Thông qua hoạt động bảo lãnh, ngân hàng tạo được thế mạnh và uy tín, giúp tăng thêm khách hàng và lợi nhuận Vì vậy, quản lý tốt DVBL sẽ giúp cho ngân hàng giảm thiểu rủi ro, tăng lợi nhuận, uy tín và đặc biệt thu hút được nhiều khách hàng mới

- Sự tồn tại của BLNH, là một yếu tố khách quan đối với nền kinh tế, góp phần thúc đẩy nền kinh tế ngày một phát triển Nó có vai trò như một chất xúc tác, kích thích, làm phát sinh hàng loạt các mối quan hệ trong hợp đồng kinh tế Nhờ có bảo lãnh mà các bên đối tác có thể tin tưởng, yên tâm tham gia ký kết các hợp đồng

và tự thấy có trách nhiệm hơn với hợp đồng của mình đã ký BLNH có vai trò quan

Trang 25

16

trọng trong việc tăng thêm nguồn vốn cho các doanh nghiệp, thu hút vốn đầu tư cho nền kinh tế Nhờ vào uy tín của mình, BLNH trở thành công cụ để tiếp cận các nguồn vốn của nước ngoài Nguồn vốn này thường được tập trung vào sản xuất, kinh doanh, tạo điều kiện giúp doanh nghiệp sản xuất ra các sản phẩm, đáp ứng nhu cầu thị trường BLNH còn góp phần tăng cường mối quan hệ thương mại quốc tế giữa các quốc gia Vì vậy, quản lý tốt DVBL không chỉ giúp ngân hàng tăng nguồn thu, mà còn giúp nền kinh tế phát triển

- Quản lý DVBL cùng với các chức năng quản lý khác, sẽ giúp ngân hàng hoạt động hiệu quả hơn; đồng thời tạo khả năng thích ứng với sự thay đổi của môi trường và đáp ứng ngày càng tốt hơn các yêu cầu của khách hàng về chất lượng, thời hạn và sự tiện ích trong việc sử dụng các dịch vụ Qua đó, ngân hàng sẽ không ngừng cải tiến và áp dụng công nghệ hiện đại, nâng cao khả năng phục vụ khách

hàng, nhằm đảm bảo thực hiện các mục tiêu cao hơn

1.2.3 Nội dung quản lý DVBL trong ngân hàng thương mại

Quản lý DVBL là chức năng quản lý theo lĩnh vực, tổng hợp từ bốn yếu tố là: nhân lực, vật lực, tài lực và thông tin, thành một chỉnh thể để thực hiện mục đích hoạt động bảo lãnh của NHTM với hiệu quả cao Quản lý DVBL bao gồm các nội dung sau:

và tương lai; các nghiên cứu này thường là các dự báo trung và dài hạn Bên cạnh

đó, ngân hàng cũng cần phải nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động DVBL như: môi trường, thị trường, sự cạnh tranh, về điểm mạnh và điểm yếu của

Trang 26

rõ trách nhiệm thực hiện mục tiêu và thời hạn hoàn thành đối với các cá nhân, tổ chức tham gia thực hiện DVBL

- Xây dựng các phương án DVBL bao gồm: thứ nhất, ngân hàng cần xác định các phương án DVBL để lựa chọn, trên cơ sở xem xét khả năng tiềm tàng của từng loại hình DVBL; tốc độ phát triển dự báo; chi phí của mỗi phương án và chi phí cho quá trình phát triển đối với mỗi loại hình đó Thứ hai, xem xét các điều kiện chủ quan và khách quan đối với ngân hàng để lựa chọn các phương án phù hợp Cuối cùng, dựa vào các loại hình DVBL đã có của các ngân hàng khác để dự kiến cho từng địa bàn, quy mô hoạt động, mức phí, sản phẩm, công nghệ, mức chi phí và các khía cạnh tài chính, xã hội, chính trị khác của mình Sau khi đã thực hiện các bước trên, ngân hàng phải đánh giá các phương án theo tiểu chuẩn phù hợp với mục tiêu và nhất trí cao với các tiền đề đã xác định, nhằm giảm bớt các phương án lựa chọn

- Lựa chọn phương án DVBL và ra quyết định: sau khi xem xét, cân nhắc một cách thận trọng, chu đáo và đánh giá toàn diện các yếu tố liên quan, ngân hàng lựa chọn phương án tối ưu để ra quyết định, từ đó phân bổ con người và các nguồn lực khác cho việc thực hiện kế hoạch; đồng thời dựa vào ngân quỹ để xây dựng các kế hoạch phụ trợ Phương án DVBL qua lựa chọn, thường được đưa vào thực hiện chính chức tại ngân hàng, vì vậy việc lựa chọn phương án được ngân hàng hết sức quan tâm

Trang 27

18

xét đến công nghệ, thái độ của ngân hàng cấp trên, năng lực đội ngũ nhân viên hiện có

và yếu tố môi trường Thiết lập cơ cấu tổ chức bộ máy còn phải xét đến mối quan hệ, quyền hạn của từng vị trí công tác trong thực thi DVBL, thông qua việc phân bổ cho mỗi cá nhân và mỗi bộ phận đảm nhiệm một, hoặc một số công việc cụ thể, sao cho các

cá nhân và bộ phận đó có thể phối hợp với nhau một cách tốt nhất để thực hiện có hiệu quả mục tiêu đề ra Mặt khác, việc xác định cơ cấu các bộ phận trong triển khai DVBL cũng cần lưu ý các vấn đề quản lý khác, như giới hạn quản lý, quyền hạn tương ứng của từng phòng, ban, bộ phận ( chủ thể quản lý trực tiếp) liên quan đến hoat động DVBL của từng ngân hàng

- Thiết kế hệ thống dịch vụ bảo lãnh: thực chất là việc dự kiến bố trí, sắp xếp

tổ chức, định vị về mặt không gian các phương tiện vật chất được sử dụng để thực hiện DVBL, đáp ứng nhu cầu phục vụ đối với nghiệp vụ này Dựa vào nghiên cứu và dự báo kế hoạch tổng thể các loại hình DVBL để thiết lập hệ thống mặt bằng, phương tiện máy móc và các cơ sở vật chất khác, đáp ứng được nhu cầu của khách hàng và phù hợp với khả năng của ngân hàng Vấn đề lựa chọn những loại hình DVBL sẽ áp dụng trong quá trình hoạt động, cần đảm bảo các đặc tính kinh tế - kỹ thuật, đòi hỏi việc thiết kế phải được tiến hành theo một trình tự nhất định, với sự tham gia của cán bộ quản lý, chuyên gia và kỹ sư trong các lĩnh vực khác nhau Kết quả của việc thiết kế phải làm cho khách hàng hiểu được mục đích và lợi ích của từng hình thức DVBL, qua đó hướng dẫn khách hàng tham gia sử dụng dịch vụ theo đúng yêu cầu Yếu tố cuối cùng cần xét đến trong bước này, là việc liên kết hoạt động DVBL với các hoạt động khác trong ngân hàng, nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu chung

- Công việc tiếp theo trong quá trình tổ chức và điều hành DVBL, là xác định mục đích, tính chất và nguyên tắc hoạt động của các bộ phận nghiệp vu Việc sắp xếp, bố trí các bộ phận, cá nhân và máy móc theo từng nghiệp vụ DVBL phải dựa vào khối lượng DVBL được giới hạn trong phạm vi đã thiết kế ở bước trên, sẽ giúp ngân hàng điều hành quá trình thực hiện một cách hợp lý và có hiệu quả đối với từng hình thức thanh toán đã lựa chọn Kết quả của bước này, là hình thành nên các bộ phận phục vụ, theo từng giai đoạn hoạt động, tương ứng với mỗi vị trí công

Trang 28

19

việc Trên cơ sở đó, xác định số lượng và khối lượng các giao dịch sẽ thực hiện để định ra nhu cầu về vốn, khả năng đáp ứng của mỗi nhân viên và khả năng thu hút thêm khách hàng tham gia DVBL

1.2.3.3 Kiểm tra dịch vụ bảo lãnh:

Nội dung Kiểm tra, giám sát bao gồm: kiểm tra việc lập kế hoạch, thực hiện quy trình bảo lãnh, kỳ hạn, chất lượng và kết quả hoạt động trước, trong và sau khi thực hiện DVBL để phát hiện những sai sót, bất hợp lý (nếu có) Trường hợp có sai lệch, ngân hàng phải tìm biện pháp khắc phục, sửa chữa và điều chỉnh dựa trên mục tiêu, kế hoạch đã xây dựng; đồng thời tìm kiếm các yếu tố có thể khai thác để hoàn thiện nội dung, phương pháp hoạt động DVBL của mình Kiểm tra quá trình thực hiện DVBL có vai trò rất quan trọng trong việc xác định tính đúng đắn của hoạt động bảo lãnh, từ đó phân tích, tìm ra các nguyên nhân để xử lý và có biện pháp phòng ngừa sự tái diễn Kiểm tra chất lượng hoạt động từng loại hình bảo lãnh để

có được thông tin phản hồi từ khách hàng, cũng như nhân viên tham gia giao dịch

Tùy từng đối tượng và nội dung kiểm tra để vận dụng dựa trên các tiêu chuẩn sau:

- Tiêu chuẩn định tính

Là các tiêu chuẩn không thể hiện được dưới dạng các số đo vật lí hoặc tiền

tệ Đặc điểm hoạt động kinh doanh dẫn tới, trong nhiều trường hợp không xác định được cụ thể kết quả của các hoạt động đó bằng các đơn vị đo lường thông thường

Do các đặc tính nêu trên của tiêu chuẩn kiểm tra cho thấy, càng ở tầm bao quát cao

và xem xét trong khoảng thời gian càng dài, thì tính chất định tính của tiêu chuẩn đánh giá càng biểu hiện rõ Việc xây dựng các tiêu chuẩn định tính cần phải đảm bảo các yêu cầu:

Một là, tính nhất quán: thể hiện rằng, một hoạt động DVBL cụ thể bất kì, phải bao hàm trong nó các mục tiêu, đường lối nhất quán với nhau Trước hết, đó chính là sự nhất quán giữa các chỉ tiêu kế hoạch tác nghiệp với các chỉ tiêu kế hoạch trung, ngắn hạn và các mục tiêu hoạt động DVBL Nguyên tắc ở đây là, mục tiêu hoạt động DVBL không phải thay đổi, thì mục tiêu chiến lược cũng không phải thay đổi;

Trang 29

cá nhân vào việc thực hiện các mục tiêu tổng quát của hoạt động DVBL

Hai là, tính phù hợp: nói lên sự phù hợp của hoạt động DVBL, cũng như các

kế hoạch triển khai chiến lược với điều kiện, hoàn cảnh, môi trường kinh doanh; sự phù hợp của các giải pháp hoạt động DVBL, cũng như các giải pháp chiến thuật với môi trường Một mặt, tính phù hợp là một tiêu chuẩn định tính để đánh giá sự phù hợp của các đối tượng, thậm chí không cùng một đặc tính và mặt khác, mỗi kết quả đạt được (mục tiêu, chỉ tiêu) lại do nhiều nhân tố khác nhau tác động qua lại mà tạo

ra, cho nên nhận diện được tính phù hợp là một vấn đề không đơn giản Trong nhiều trường hợp, để nhận diện tính phù hợp phải là các chuyên gia có nhiều kinh nghiệm

Ba là, tính khả thi: xác nhận sự đảm bảo "có thể thành hiện thực" của hoạt động DVBL đã xây dựng Đây cũng là một tiêu chuẩn định tính, khó nhận diện Vấn đề khó khăn lớn nhất là, các mục tiêu hoạt động DVBL, cũng như các chỉ tiêu,

kế hoạch triển khai chiến lược hoạt động DVBL, đều xác định cho tương lai Những nhân tố ảnh hưởng đến các mục tiêu và chỉ tiêu đó, cũng là những nhân tố sẽ diễn ra trong tương lai Khoảng thời gian xác định càng dài, tính chắc chắn của việc đảm bảo những nhân tố đó sẽ thành hiện thực càng mong manh Hơn nữa, do xác định trong tương lai, nên nhiều nhân tố còn phụ thuộc rất lớn vào phương pháp đánh giá,

dự đoán, cũng như sự nhạy cảm của người làm công tác này Về nguyên tắc, tính khả thi đòi hỏi phải chứng minh trong thực hiện hoạt động DVBL, đối tượng sẽ phát triển theo hướng, đúng như đã dự kiến, với độ tin cậy nhất định

Trang 30

21

- Tiêu chuẩn định lượng

Trong kiểm tra, phải đánh giá các nhân tố môi trường kinh doanh, ảnh hưởng như thế nào đến hoạt động DVBL và phát triển của doanh nghiệp, cũng như đánh giá các mục tiêu (mục tiêu tổng quát và mục tiêu bộ phận của hoạt động DVBL), các chỉ tiêu (trong các kế hoạch triển khai thực hiện hoạt động DVBL)

Các nhân tố, mục tiêu, chỉ tiêu được đánh giá có thể là, các phạm trù phản ánh số lượng và cũng có thể là tiêu chuẩn chất lượng Nếu các nhân tố, chỉ tiêu, mục tiêu được đo bằng các đơn vị đo lường vật lí và do đó các tiêu chuẩn xác định, đánh giá chúng cũng được đo lường bằng các đơn vị đo lường vật lí, thì còn có thể gọi chúng là các tiêu chuẩn vật lí Nếu chúng được đo bằng đơn vị tiền tệ, thì tùy từng loại tiêu chuẩn mà người ta có thể gọi là tiêu chuẩn chi phí (nếu phản ánh chi phí kinh doanh), tiêu chuẩn thu nhập (nếu phản ánh doanh thu và các khoản thu nhập khác của doanh nghiệp, hay từng bộ phận trong doanh nghiệp) hoặc tiêu chuẩn vốn (nếu phản ánh đầu tư của doanh nghiệp) Khi xác định tiêu chuẩn đánh giá những nhân tố, mục tiêu, chỉ tiêu này, cần xác định rõ giới hạn sai lệch cho phép đối với từng nhân tố, mục tiêu, chỉ tiêu Mức giới hạn sai lệch cho phép, là ranh giới phạm

vi sai lệch có thể chấp nhận được và vẫn được coi là phù hợp với ý đồ, mục tiêu đã đặt ra lúc đầu Chỉ có trên cơ sở các giới hạn cho phép sai lệch được xác định, có cơ

sở khoa học, các kết luận từ đánh giá hoạt động DVBL mới có thể đảm bảo độ tin cậy nhất định Tùy theo từng loại nhân tố, mục tiêu, chỉ tiêu mà tiêu chuẩn giới hạn sai lệch cho phép, có thể là giới hạn khoảng, giới hạn tối thiểu hoặc giới hạn tối đa

1.2.3.4 Tiêu chí đánh giá hoạt động quản lý DVBL:

- Công tác lập kế hoach: thực hiện đầy dủ, kịp thời, đúng định kỳ; các mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ được xác định rõ ràng, phù hợp với thực tiễn và khả năng phấn đấu của ngân hàng Xây dựng, lựa chọn được phương án, phương thức hoạt động DVBL phù hợp và có tính khả thi

- Hoạt động tổ chức, điều hành: Xác định mô hình, cơ cấu tổ chức bộ máy và

bố trí cán bộ cho hoạt động DVBL hợp lý, đáp ứng đúng yêu cầu; thiết kế và lắp đặt

Trang 31

tổ chức, điều hành hoạt động DVBL; đề xuất các biện pháp khắc phục, sữa chữa và điều chỉnh phù hợp với khả năng và điều kiện của ngân hàng

1.2.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến quản lý DVBL của NHTM

Quản lý DVBL ngân hàng không chỉ chịu tác động từ bản thân NH, mà còn chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố như:

1.2.4.1 Nhân tố chủ quan

* Yếu tố con người:

- Trong bất kỳ hoạt động nào của ngân hàng, với xu hướng ứng dụng khoa học, kỹ thuật hiện đại cần ít nhân lực hơn, thì con người không những không mất đi vai trò của mình, mà ngược lại ngày càng đóng vai trò quan trọng hơn, như việc đòi hỏi rất cao về trình độ nghiệp vụ và kỹ năng công tác của mỗi cán bộ Quản lý DVBL là một hoạt động của NH, do đó con người cũng đóng vai trò quan trọng, quyết định tới chất lượng của nó

- Con người thể hiện vai trò của mình, qua từng nội dung trong việc quản lý DVBL: khi lập kế hoạch, chính con người đưa ra và lựa chọn các phương án, khi tổ chức và điều hành, con người tham gia thiết lập hệ thống từ nhân lực, máy móc và phân bổ các nguồn lực vào DVBL

Con người, là yếu tố quyết định đến sự thành, bại trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, cũng như việc đảm bảo chất lượng bảo lãnh Nhân lực cho hoạt động bảo lãnh của NHTM bao gồm, các cán bộ quản lý và các cán bộ chuyên

Trang 32

Hoạt động bảo lãnh của ngân hàng sẽ thành công hơn, khi có được những cán bộ, nhân viên giỏi về quản lý, thạo về chuyên môn, nghiệp vụ và có đạo đức nghề nghiệp tốt Những sai sót, gian dối của cán bộ, nhân viên sẽ dẫn đến đánh giá sai lệch về khách hàng, về rủi ro của khoản bảo lãnh, có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng, làm thiệt hại cho ngân hàng

Trong thời đại công nghệ thông tin như hiện nay, các nhân viên ngoài khả năng về chuyên môn nghiệp vụ, cũng cần phải hoàn thiện những phẩm chất đi kèm như: nắm bắt công nghệ mới hiện đại, có trình độ ngoại ngữ khá, có tác phong nhanh nhẹn và có văn hoá ứng xử tốt; có khả năng hợp tác trong quá trình làm việc

và có tinh thần chấp hành kỷ luật lao động, …

*/ Hoạt động kinh doanh của ngân hàng

- Uy tín của ngân hàng

Hoạt động bảo lãnh, thực chất là hình thức tài trợ vốn, thông qua uy tín của ngân hàng Vì vậy, uy tín của ngân hàng là vô cùng quan trọng đối với hoạt động bảo lãnh Uy tín của ngân hàng được thể hiện qua vị trí của ngân hàng đó trong ngành và được định lượng qua chỉ tiêu xếp loại ngân hàng

Ngân hàng được xếp loại cao, là những ngân hàng có lợi nhuận lớn, có khả năng thanh khoản tốt, cam kết bảo lãnh của ngân hàng đó sẽ có giá trị cao, được khách hàng và bên thụ hưởng tin cậy Qua đó hoạt động bảo lãnh của ngân hàng đó cũng có điều kiện phát triển, mở rộng Ngược lại, những ngân hàng được xếp loại thấp, là những ngân hàng làm ăn thua lỗ, khả năng thanh khoản kém, tiềm lực yếu, dẫn đến cam kết bảo lãnh của ngân hàng đó sẽ không có nhiều giá trị

Trong các giao dịch bảo lãnh, có liên quan đến yếu tố nước ngoài, thì uy tín quốc tế của ngân hàng càng trở nên quan trọng và cần thiết Những ngân hàng ít tên

Trang 33

24

tuổi, hoặc xếp hạng thấp, sẽ có chất lượng cam kết bảo lãnh thấp và sẽ không mang lại sức mạnh đàm phán cho khách hàng, trong hợp đồng với bên thụ hưởng

- Năng lực tài chính của ngân hàng

Vốn có ảnh hưởng quyết định tới năng lực tài chính của tổ chức tín dụng Vốn thấp sẽ hạn chế ngân hàng mở rộng quy mô và các dịch vụ hoạt động của mình Khi một ngân hàng thương mại có vốn lớn, sẽ có điều kiện mở rộng, phát triển hoạt động bảo lãnh, thực hiện các hợp đồng bảo lãnh có giá trị lớn

Theo quy chế bảo lãnh hiện hành, tổng số dư bảo lãnh của tổ chức tín dụng đối với một khách hàng không được vượt quá 15% vốn tự có của TCTD

Đồng thời, vốn còn là điều kiện để ngân hàng nâng cao chất lượng bảo lãnh, thông qua việc đa dạng hoá loại hình bảo lãnh, nâng cao công nghệ, …

- Chiến lược phát triển kinh doanh của ngân hàng

Chiến lược phát triển kinh doanh, là cơ sở để xây dựng nên các chính sách phát triển đối với từng bộ phận; bao gồm hệ thống các chiến lược như: chiến lược Marketing, chính sách tín dụng, chiến lược giá,… Chiến lược phát triển kinh doanh, nhằm mục đích hướng hoạt động ngân hàng đến thị trường nào và chỉ ra phương pháp tiếp cận thị trường đó Đây là nhân tố ảnh hưởng đầu tiên đến toàn bộ chất lượng hoạt động của ngân hàng, cũng như hoạt động bảo lãnh

Một chiến lược phát triển đúng đắn, thống nhất, có tầm nhìn xa và phù hợp với xu hướng phát triển của nền kinh tế, sẽ giúp cho ngân hàng có một phương hướng phát triển nhất quán, khai thác được tối đa năng lực hiện có của ngân hàng và các yếu tố thuộc về môi trường xã hội Ngoài ra, điều này cũng giúp cho NHTM có thể thích ứng một cách nhanh chóng với những biến động của môi trường kinh doanh, chủ động đáp ứng nhu cầu của thị trường

Đối với nghiệp vụ bảo lãnh, chiến lược phát triển kinh doanh của NHTM cần phải được cụ thể hoá thành các mục tiêu, nhiệm vụ, định hướng khách hàng, thị trường và các loại hình bảo lãnh tương ứng; đưa ra biện pháp nhằm thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ đó; góp phần cân đối hoạt động bảo lãnh trong tổng thể các hoạt động của ngân hàng

Trang 34

25

- Quy trình thực hiện bảo lãnh của ngân hàng

Quy trình bảo lãnh là một trình tự, thủ tục thống nhất và bắt buộc thực hiện đối với các cán bộ ngân hàng có tham gia vào hoạt động bảo lãnh Một quy trình bảo lãnh tốt phải đảm bảo tính chặt chẽ, đầy đủ, không bỏ sót các bước quan trọng, hợp lý, song cũng không quá tốn kém, phức tạp, gây phiền hà cho khách hàng Nếu quy trình bảo lãnh đã trở nên lạc hậu so với thực tế, sẽ làm cho công tác thẩm định của ngân hàng thiếu chính xác, có thể dẫn tới đánh giá không đúng về khách hàng Trong quy trình bảo lãnh, việc thẩm định, xét duyệt cấp bảo lãnh và quản lý bảo

lãnh, phải được chú trọng và thực hiện thận trọng

Quy trình bảo lãnh cần đảm bảo tính an toàn cho hoạt động bảo lãnh, bên cạnh đó, nó cũng cần đem lại tiện ích cho khách hàng, đó chính là điều kiện cần thiết để đảm bảo chất lượng bảo lãnh

- Khả năng quản lý rủi ro bảo lãnh của ngân hàng:

Đây là một nhân tố ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng hoạt động bảo lãnh Khả năng quản lý rủi ro bảo lãnh, là khả năng nhận diện được rủi ro có thể xảy ra của khoản bảo lãnh, đánh giá rủi ro đó, đưa ra các biện pháp phòng ngừa, nhằm hạn chế rủi ro Nếu khả năng quản lý rủi ro của ngân hàng yếu kém, ngân hàng sẽ đối mặt với khả năng xảy

ra tổn thất trong bảo lãnh, đồng thời chất lượng bảo lãnh của ngân hàng cũng giảm sút

Việc thường xuyên theo dõi, phân loại các khoản bảo lãnh đang tồn tại, trích lập dự phòng ngay khi ghi nợ bắt buộc cho khách hàng,… là những biện pháp nhằm giảm thiểu rủi ro cho hoạt động bảo lãnh của ngân hàng

Trang 35

- Rủi ro trong kinh doanh và khả năng quản trị rủi ro của khách hàng

Rủi ro trong kinh doanh phản ánh mức độ ảnh hưởng của môi trường kinh doanh đến doanh thu của khách hàng Doanh nghiệp có rủi ro kinh doanh cao, thì rủi ro của khoản bảo lãnh cũng sẽ cao, chất lượng bảo lãnh thấp

Tuy nhiên, ngân hàng cũng cần xét tới khả năng quản trị rủi ro của khách hàng; nếu doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực rủi ro cao, nhưng thực hiện việc trích lập dự phòng đầy đủ, có phương án kinh doanh thích nghi cao với những thay đổi của môi truờng kinh doanh, thì việc bảo lãnh cho đối tượng khách hàng này sẽ không ảnh hưởng lớn tới chất lượng bảo lãnh của ngân hàng

- Tư cách đạo đức của khách hàng

Đây là yếu tố vô cùng quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động bảo lãnh của ngân hàng Nếu khách hàng có khả năng thực hiện nghĩa vụ với bên thứ ba, nhưng lại không muốn thực hiện nghĩa vụ này, thì khi đó ngân hàng phải trả thay cho khách hàng, điều này dễ dẫn đến khách hàng không muốn trả nợ cho ngân hàng Thông qua tính trung thực của khách hàng, có thể đánh giá được tư cách đạo đức của khách hàng

Nếu khách hàng cố tình lừa dối ngân hàng trong quá trình ngân hàng thẩm định, quản lý các khoản bảo lãnh, như đưa ra thông tin giả, các báo cáo tài chính không chính xác, thì sẽ dẫn đến việc ngân hàng đưa ra đánh giá sai về chất lượng khoản bảo lãnh

Trang 36

27

*/ Nhân tố thuộc về bên nhận bảo lãnh

- Trình độ của bên nhận bảo lãnh:

Mặc dù quy trình bảo lãnh của ngân hàng bao gồm cả hoạt động thẩm định khách hàng được bảo lãnh Tuy nhiên, bản thân ngân hàng không thể nắm rõ các vấn đề kinh tế, kỹ thuật của hợp đồng, dự án, bằng chính các bên thực hiện, giám sát Đôi khi người được bảo lãnh cố tình che giấu những rủi ro tiềm ẩn của dự án, hợp đồng

Nếu trình độ, hiểu biết của bên nhận bảo lãnh về giao dịch không tương xứng, có thể dẫn đến chọn sai đối tác, hoặc đánh giá sai về khả năng thực hiện giao dịch của đối tác Hoặc bên nhận bảo lãnh đưa ra các điều kiện quá khắt khe, không

có tính khả thi, dẫn tới bên được bảo lãnh khó có thể hoàn thành nghĩa vụ đã cam kết, khiến cho chất lượng bảo lãnh giảm Bên nhận bảo lãnh cũng cần kiểm tra khả năng thực hiện hợp đồng, dự án của đối tác trước khi yêu cầu ngân hàng bảo lãnh cho đối tác

- Tinh thần hợp tác của bên nhận bảo lãnh với ngân hàng

Bên nhận bảo lãnh cần thường xuyên liên lạc, thông báo với ngân hàng về tiến độ thực hiện, các thay đổi trong hợp đồng kinh tế, giữa bên nhận bảo lãnh và khách hàng của ngân hàng, điều này tạo điều kiện cho ngân hàng trong việc kiểm soát, quản lý rủi ro của khoản bảo lãnh

Trong trường hợp ngân hàng không được thông báo về sự thay đổi trong hợp đồng, ngân hàng hoàn toàn có quyền từ chối thực hiện nghĩa vụ thay khách hàng, vì thực chất BLNH chỉ căn cứ vào hợp đồng cơ sở giữa bên nhận bảo lãnh và bên được bảo lãnh Cả ba bên trong quan hệ bảo lãnh đều mong muốn khoản bảo lãnh diễn ra suôn sẻ Chính vì vậy, tinh thần hợp tác của bên nhận bảo lãnh là một yếu tố rất quan trọng, ảnh hưởng tới chất lượng bảo lãnh

- Tư cách đạo đức của bên nhận bảo lãnh:

Nếu bên nhận bảo lãnh cố tình lừa dối ngân hàng bằng cách lập các chứng từ giả mạo, đòi ngân hàng thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, khi đó ngân hàng sẽ đối mặt với các rủi ro từ khoản bảo lãnh của mình

Trang 37

28

Ngân hàng có thể đánh giá tư cách, đạo đức của bên nhận bảo lãnh thông qua tính trung thực của bên nhận bảo lãnh

*/ Môi trường kinh tế xã hội

Nghiệp vụ bảo lãnh ra đời xuất phát từ đòi hỏi của nền kinh tế và hoạt động trong các điều kiện liên quan của nền kinh tế Chính vì vậy, những biến động trong môi trường kinh tế, xã hội, chắc chắn sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng bảo lãnh của ngân hàng Môi trường kinh tế lành mạnh, các chủ thể tham gia vào nền kinh tế hoạt động có hiệu quả, sẽ thúc đẩy mở rộng quy mô bảo lãnh

Các yếu tố của môi trường kinh tế, xã hội bao gồm: sự hội nhập kinh tế quốc

tế, sự cạnh tranh trong và ngoài nước, nhu cầu thị trường, sự ổn định chính trị, xã hội,… Quá trình toàn cầu hoá, sự phát triển của kỹ thuật, công nghệ sẽ tạo điều kiện cho ngân hàng đa dạng hoá các loại hình bảo lãnh, mở rộng hoạt động, vươn tới những thị trường mới Ngoài ra, sự cạnh tranh trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ tài chính, đang ngày càng trở nên quyết liệt, cũng như nhu cầu ngày càng lớn của khách hàng, chính là động lực cho ngân hàng mạnh dạn áp dụng công nghệ mới, nâng cao chất lượng của hoạt động bảo lãnh Mặt khác, những biến động bất ngờ về chính trị, xã hội, kinh tế, sẽ ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động của ngân hàng nói chung và hoạt động bảo lãnh nói riêng

*/ Môi trường pháp lý:

Bảo lãnh cũng như tất cả các hoạt động khác đều phải chịu sự điều tiết của cơ quan Nhà nước Các văn bản pháp luật về kinh tế nói chung, về NHTM và bảo lãnh ngân hàng nói riêng, là cơ sở nền tảng để các NHTM thực hiện bảo lãnh theo đúng pháp luật Những quy định này có tác dụng định hướng, quản lý và giám sát hoạt động bảo lãnh của ngân hàng Chính vì vậy, môi trường pháp lý sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng hoạt động bảo lãnh Nếu hệ thống chính sách, pháp luật của Nhà nước lạc hậu, kìm hãm sự phát triển hoạt động bảo lãnh, sẽ làm giảm chất lượng bảo lãnh Pháp luật nghiêm minh, đồng bộ, đầy đủ, phù hợp với thực tế, sẽ là cơ sở quan trọng để ngân hàng xây dựng các chiến lược phát triển đúng đắn, hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng hoạt động bảo lãnh của các NHTM

Trang 38

29

1.3 Kinh nghiệm quản lý DVBL của các ngân hàng nước ngoài và bài học cho Vietinbank Hà Tĩnh

1.3.1 Kinh nghiệm quản lý DVBL của các ngân hàng nước ngoài

Trong xu thế toàn cầu hóa, kinh tế quốc tế phát triển mạnh mẽ, các hoạt động thương mại, dịch vụ ngày càng được đẩy mạnh, DVBL ngân hàng cũng phát triển theo Đây là lĩnh vực được các ngân hàng trong nước, cũng như trên thế giới không ngừng đẩy mạnh Tại Việt Nam, các ngân hàng có vốn nước ngoài, cũng đang tích cực thu hút khách hàng và mở rộng thị phần về bảo lãnh, nổi bật là HSBC, Citi bank, bank of Tokyo… Chúng ta cần học hỏi và vận dụng những kinh nghiệm từ họ để nâng cao trình độ quản lý DVBL cho các ngân hàng nội địa Chẳng hạn: ngân hàng Citibank Mỹ luôn tạo ra cách tiếp cận đến khách hàng rất khác biệt so với đối thủ cạnh tranh Các dịch vụ Citibank thiết kế rất sáng tạo, linh hoạt và hoàn toàn phù hợp với nhu cầu khách hàng Citibank nâng cao số lượng kênh phân phối tự động, phát triển hệ thống giao dịch trực tuyến để giúp khách hàng có điều kiện thuận lợi trong việc giao dịch với ngân hàng…Bên cạnh đó việc ứng dụng công nghệ hiện đại luôn được ngân hàng này chú trọng phát triển nhằm phục vụ cho hoạt động chung của ngân hàng và hoạt động tra cứu, xác minh chứng thư bảo lãnh nói riêng Điều này đã mang lại khả năng cung cấp dịch vụ vượt trội mà không cần chi phí vốn quá lớn Hay như ngân hàng HSBC Anh, là một tập đoàn lớn, nhưng HSBC rất quan tâm đến sự phát triển hoạt động tới từng quốc gia trên toàn thế giới HSBC Anh đưa ra các gói dịch vụ bao gồm một nhóm các dịch vụ, tiện ích ngân hàng có tính chất bổ sung

hỗ trợ cho nhau; một mặt khuyến khích khách hàng sử dụng nhiều dịch vụ ngân hàng cùng lúc; một mặt thỏa mãn tối đa nhu cầu khách hàng thông qua việc gia tăng thêm các tiện ích, ưu đãi; mặt khác HSBC liên kết với các đối tác bên ngoài, đưa ra các dịch vụ, chương trình ưu đãi, đem lại nhiều lợi ích cho khách hàng, cho bản thân HSBC và đối tác v.v

Các ngân hàng này sử dụng nghiệp vụ và quản lý DVBL dựa trên các tiêu chuẩn, quy tắc quốc tế và có tính chuyên nghiệp rất cao Họ có quy trình bảo

Trang 39

30

lãnh và quản lý DVBL chặt chẽ, rõ ràng Ngân hàng xem xét kỹ các tiêu chí về tính khả thi của một dự án bảo lãnh, khả năng và thời hạn cùng với các yếu tố tác động đến quá trình thực thi dự án này Đối với khách hàng, họ rất coi trọng, luôn xem sự hài lòng của khách hàng là thước đo chất lượng DVBL của mình, từ đó nâng cao chất lượng sản phẩm, thay đổi phương thức quản lý nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng Về nội bộ, các ngân hàng này xem con người là yêu tố quan trọng, đòi hỏi cán bộ, nhân viên NH phải nắm vững nghiệp vụ và nghiêm chỉnh thực thi, tác nghiệp theo đúng quy trình, quy chế quản lý DVBL đã

đề ra Bên cạnh đó, việc giải quyết tranh chấp trong bảo lãnh được các bên thỏa thuận chặt chẽ, thống nhất và ghi cụ thể trong hợp đồng ký kết Trong quy trình bảo lãnh, bên cạnh việc quản lý, phân cấp nghiệp vụ, việc giám sát luôn được tiến hành, nhằm đảm bảo tính hệ thống, khoa học và minh bạch Điều này được thể hiện qua hệ thống giám sát nội bộ, áp dụng theo hệ thống dọc từ trụ sở chính đến các chi nhánh, trực tiếp do Tổng Giám Đốc điều hành và chỉ đạo Bộ phận giám sát tại chi nhánh, làm việc độc lập với Giám Đốc chi nhánh, do đó đảm bảo được tính khách quan, hiệu lực và hiệu quả công việc

Ngoài ra, với lợi thế về mạng lưới và uy tín quốc tế, các ngân hàng này cũng

có thế mạnh trong việc xác nhận bảo lãnh theo yêu cầu Đây là một dịch vụ được đánh giá là ít rủi ro và đem lại nguồn thu đáng kể từ phí dịch vụ

Trong hoạt động dịch vụ, ngân hàng nước ngoài rất chú trọng đến uy tín của ngân hàng bảo lãnh cho khách hàng và ngược lại Điều này, một lần nữa khẳng định uy tín quốc tế, là vấn đề rất quan trọng đối với khách hàng đề nghị bảo lãnh, cùng ngân hàng bảo lãnh cho họ

1.3.2 Bài học cho Vietinbank chi nhánh Hà Tĩnh

Với bề dày kinh nghiệm hàng trăm năm, có thể nói các ngân hàng nước ngoài

đã cho thấy sự hiệu quả trong hoạt động BLNH của mình Những kinh nghiệm

đó sẽ giúp ích trong việc hoàn thiện quản lý DVBL cho các NHTM ở Việt Nam nói chung và Vietinbank chi nhánh Hà Tĩnh nói riêng Sau đây là một số bài học kinh nghiệm được Vietinbank chi nhánh Hà Tĩnh rút ra từ hoạt động bảo lãnh và quản lý DVBL của các ngân hàng nước ngoài:

Trang 40

31

- Một là: quản lý DVBL phải dựa trên cơ sở đáp ứng được nhu cầu của khách

hàng Mỗi nhóm khách hàng sẽ có những nhu cầu khác nhau, từ đó ngân hàng phải

có những giải pháp quản lý phù hợp, để đáp ứng với nhu cầu của từng nhóm khách hàng Vì vậy, ngân hàng phải thay đổi cách thức quản lý DVBL phù hợp, để đáp ứng những nhu cầu riêng biệt của từng nhóm khách hàng, đảm bảo tính cạnh tranh, phù hợp với các quy tắc bảo lãnh

- Hai là: việc quản lý con người luôn dặt lên hàng đầu, các cán bộ ngân

hàng phải nắm vững nghiệp vụ, chủ động tiếp thị DVBL của ngân hàng đến từng khách hàng cụ thể và đẩy mạnh việc bán chéo sản phẩm Để làm được điều này, đòi hỏi ngân hàng cần có sự quản lý chặt chẽ, theo một khuôn khổ các quy trình, quy định, đến từng nhân viên

- Ba là: quản lý DVBL luôn chú trọng đến quản lý chất lượng dịch vụ, sự

hài lòng của khách hàng là thước đo chuẩn xác nhất cho công tác quản lý DVBL tại chi nhánh

- Bốn là: quản lý quy trình bảo lãnh chặt chẽ và rõ ràng Việc quản lý tốt sẽ

giảm thiểu rủi ro và tăng hiệu quả cho hoạt động kinh doanh nói chung và DVBL nói riêng

- Năm là: việc giám sát nội bộ là rất quan trọng và cần thiết, nên được thực

hiện theo hệ thống dọc từ trụ sở chính đến các chi nhánh Bộ phận giám sát sẽ làm việc độc lập với giám đốc chi nhánh, do đó có thể đảm bảo được tính khách quan cho việc giám sát hoạt động bảo lãnh của ngân hàng

- Sáu là: việc quản lý DVBL cần có sự hổ trợ của bộ phận chuyên trách về pháp

luật đối với hoạt động bảo lãnh

Trong kinh doanh hiện nay của NH, bảo lãnh đã trở thành loại dịch vụ kinh doanh có nhiều tác động tích cực trong việc thúc đẩy các giao dịch về vốn, các giao dịch kinh doanh, không chỉ ở trong lĩnh vực tín dụng mà cả trong dự thầu, thực hiện hợp đồng, bảo đảm chất lượng sản phẩm…Với vai trò quan trọng như vậy, dịch vụ bảo lãnh đang ngày càng được các ngân hàng, doanh nghiệp quan tâm và phát triển mạnh mẽ

Ngày đăng: 29/09/2018, 00:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm