1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hỏi đáp về đổi mới căn bản, toàn diện GDĐT – bộ giáo dục

70 293 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 1,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hệ thống trường lớp và quy mô giáo dục phát triển nhanh, thực hiện nền giáo dục toàn dân, đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng tăng của nhân dân và nâng cao được trình độ đào tạo, trình độ

Trang 1

Hỏi đáp về Đổi mới căn bản, toàn diện GDĐT – Bộ

Giáo Dục

1 Việc Trung ương phải ban hành Nghị quyết về đổi mới căn bản, toàn diện giáo

dục và đào tạo Việt Nam có ý nghĩa như thế nào?

Giáo dục Việt Nam (bao gồm cả đào tạo, sau đây gọi chung là giáo dục) đã đạt được nhiều thành tựu, kết

quả, góp phần quan trọng vào thắng lợi của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Tuy nhiên, trong quá

trình phát triển, giáo dục đã bộc lộ những yếu kém, bất cập, trong đó có những vấn đề gây bức xúc xã hội

kéo dài, chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế

Những đổi mới giáo dục trong thời gian qua thiếu đồng bộ, còn chắp vá; nhiều chính sách, cơ chế, giải pháp

về giáo dục đã từng có hiệu quả, nay trở nên không còn phù hợpvới giai đoạn phát triển mới của đất nước,

cần được điều chỉnh,

bổ sung

Công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, đặc biệt là yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng

trưởng theo chiều sâu và cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng chất lượng, hiệu quả, có sức cạnh tranh cao đòi

hỏi giáo dục phải đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng của người dân, nhanh chóng góp phần tạo ra đội ngũ

nhân lực chất lượng cao Nếu không đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo thì nhân lực sẽ là yếu

tố cản trở sự phát triển của đất nước

Nước ta đang trong quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng; sự phát triển nhanh chóng của khoa học

và công nghệ, khoa học giáo dục và sự cạnh tranh quyết liệt trên nhiều lĩnh vực giữa các quốc gia đòi hỏi

giáo dục phải đổi mới Thực chất cạnh tranh giữa các quốc gia hiện nay là cạnh tranh về nguồn nhân lực và

về khoa học và công nghệ Xu thế chung của thế giới khi bước vào thế kỉ XXI là tiến hành đổi mới mạnh mẽ

hay cải cách giáo dục

Trước thực tế trên, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã xác định “Đổi mới căn bản, toàn diện

nền giáo dục theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế” và “Phát

triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và

toàn diện nền giáo dục quốc dân“.

Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục là một công việc hết sức trọng đại Trung ương ban hành Nghị quyết để

thống nhất nhận thức và hành động; phát huy trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân, huy động các nguồn lực với

sự phối hợp của nhiều cơ quan, ban ngành và các tổ chức xã hội cho sự nghiệp giáo dục

2 Những thành tựu, kết quả nổi bật của giáo dục và đào tạo nước nhà trong những

năm vừa qua? Nguyên nhân?

Trang 2

Giáo dục và đào tạo nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng, góp phần to lớn vào sự nghiệp xây

dựng và bảo vệ Tổ quốc Cụ thể là:

1 Hệ thống trường lớp và quy mô giáo dục phát triển nhanh, thực hiện nền giáo dục toàn dân, đáp ứng nhu

cầu học tập ngày càng tăng của nhân dân và nâng cao được trình độ đào tạo, trình độ và kĩ năng nghề

nghiệp của người lao động

2 Công bằng xã hội trong tiếp cận giáo dục có nhiều tiến bộ, nhất là đối với người dân tộc thiểu số, lao

động nông thôn, các đối tượng chính sách và người có hoàn cảnh khó khăn, bình đẳng giới cơ bản được

bảo đảm

3 Chất lượng giáo dục và đào tạo được nâng lên, góp phần đáp ứng yêu cầu nhân lực phục vụ cho phát

triển kinh tế – xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

4 Công tác quản lí giáo dục có bước chuyển biến tích cực

5 Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục tăng nhanh về số lượng, trình độ đào tạo được nâng lên,

từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục

6 Cơ sở vật chất – kĩ thuật của hệ thống giáo dục và đào tạo được tăng thêm và từng bước hiện đại hoá

7 Xã hội hoá giáo dục và hợp tác quốc tế được đẩy mạnh, đạt nhiều kết quả quan trọng

Những thành tựu, kết quả quan trọng của giáo dục bắt nguồn từ truyền thống hiếu học của dân tộc; sự quan

tâm, chăm lo của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, của mỗi gia đình và toàn xã

hội; sự tận tụy của đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục; sự ổn định về chính trị cùng với những

thành tựu phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập quốc tế củađất nước

3 Những hạn chế, yếu kém chủ yếu của giáo dục và đào tạo nước nhà trong

những năm vừa qua? Nguyên nhân?

Những hạn chế, yếu kém chủ yếu của giáo dục và đào tạo nước ta trong giai đoạn vừa qua là:

1 Chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo còn thấp so với yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất

nước, nhất là giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp

2 Chương trình giáo dục còn coi nhẹ thực hành, vận dụng kiến thức; phương pháp giáo dục, kiểm tra, thi và

đánh giá lạc hậu, thiếu thực chất; thiếu gắn kết giữa đào tạo với nghiên cứu khoa học, sản xuất, kinh doanh

và nhu cầu của thị trường lao động; chưa chú trọng đúng mức việc giáo dục đạo đức, lối sống và kĩ năng

làm việc

3 Hệ thống giáo dục thiếu tính liên thông giữa các trình độ đào tạo và các phương thức giáo dục, chưa phù

hợp với yêu cầu phát triển đất nước và hội nhập quốc tế Chưa gắn đào tạo với sử dụng và nhu cầu của thị

trường lao động

4 Quản lí giáo dục và đào tạo còn nhiều yếu kém, là nguyên nhân của nhiều yếu kém khác, nhiều hiện

tượng tiêu cực kéo dài trong giáo dục, gây bức xúc xã hội

5 Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục còn nhiều bất cập về chất lượng, số lượng và cơ cấu; một bộ

phận chưa theo kịp yêu cầu đổi mới và phát triển giáo dục, thiếu tâm huyết, thậm chí vi phạm đạo đức nghề

nghiệp

Trang 3

6 Đầu tư cho giáo dục và đào tạo chưa hiệu quả Chính sách, cơ chế tài chính cho giáo dục và đào tạo

chưa phù hợp Cơ sở vật chất kĩ thuật còn thiếu và lạc hậu, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó

khăn.Nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế, yếu kém:

– Việc thể chế hoá các quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển giáo dục và đào tạo,

nhất là quan điểm “giáo dục là quốc sách hàng đầu” còn chậm và lúng túng Việc xây dựng, tổ chức thực

hiện chiến lược, kế hoạch và chương trình phát triển giáo dục và đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu củaxã hội

– Mục tiêu giáo dục toàn diện chưa được hiểu và thực hiện đúng Bệnh hình thức, hư danh, chạy theo bằng

cấp… chậm đượckhắc phục, có mặt nghiêm trọng hơn Tư tưởng và thói quen bao cấp trong giáo dục còn

nặng nề làm hạn chế khả năng huy động các nguồn lực xã hội đầu tư cho giáo dục, đào tạo

– Việc phân định giữa quản lí nhà nước với hoạt động quản trị trong các cơ sở giáo dục, đào tạo chưa rõ

Công tác quản lí chất lượng, thanh tra, kiểm tra, giám sát chưa được coi trọng đúng mức Sự phối hợp giữa

các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và gia đình chưachặt chẽ

– Nguồn lực quốc gia và khả năng của phần đông gia đình đầu tư cho giáo dục còn thấp so với yêu cầu

Mức chi cho mỗi người học chưa tương xứng với yêu cầu về chất lượng, chưa phù hợp ngành nghề và

trình độ đào tạo

4 Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo cần đảm bảo các yêu cầu gì?

Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm,

tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện;

đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lí của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở giáo dục,

đào tạo và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các bậc

học, ngành học Đổi mới để tạo ra chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng và hiệu quả giáo dục, đáp ứng ngày

càng tốt hơn yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhu cầu học tập của nhân dân

Đổi mới phải bảo đảm tính hệ thống, có tầm nhìn dài hạn, phù hợp với từng loại đối tượng và cấp học, các

giải pháp đồng bộ, khả thi, có trọng tâm, trọng điểm, lộ trình, bước đi phù hợp

Đổi mới căn bản và toàn diện không có nghĩa là làm lại tất cả, từ đầu mà cần vừa kế thừa, củng cố, phát

huy các thành tựu, phát triển những nhân tố mới, tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của thế giới, vừa

kiên quyết chấn chỉnh những nhận thức, việc làm lệch lạc; đổi mới có trọng tâm, trọng điểm, có lộ trình phù

hợp với thực tế đất nước, địa phương Những hạn chế, thách thức của giáo dục phải được nhận thức sâu

sắc, có giải pháp hữu hiệu và lộ trình khắc phục, vượt qua để đưa sự nghiệp giáo dục lên tầm cao mới

5 Các định hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập

quốc tế được thể hiện như thế nào trong Nghị quyết?

“Chuẩn hoá”, “hiện đại hoá”, “xã hội hoá”, “dân chủ hoá” và “hội nhập quốc tế” có quan hệ chặt chẽ, bổ sung

lẫn nhau, được thể hiện trong toàn bộ các quan điểm chỉ đạo, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp đổi mới giáo

dục Có thể nêu một số điểm chính như sau:

– Chuẩn hoá mục tiêu, chương trình đào tạo, các trình độ, kĩ năng nghề nghiệp, kiểm tra đánh giá, chuẩn

đầu ra, chuẩn kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục và đào tạo, chuẩn hoá đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản

lí giáo dục, cơ chế quản lí, cơ sở vật chất và các điều kiện khác bảo đảm chất lượng giáo dục

-Hiện đại hoá mục tiêu, nội dung giáo dục, phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục, phương pháp đánh

giá giáo dục, cơ sở vật chất và hệ thống quản lí giáo dục

Trang 4

– Xã hội hoá:đa dạng chủ thể đầu tư, chủ thể tham gia và giám sát các hoạt động giáo dục; xây dựng xã hội

học tập, bảo đảm điều kiện học tập suốt đời cho mọi người dân; thực hiện tốt phương châm phối hợp chặt

chẽ giáo dục nhà trường, gia đình và xã hội; khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để toàn xã hội tham

gia xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh

-Dân chủ hoá: tạo bình đẳng về cơ hội tiếp cận giáo dục cho mọi người, nhất là các đối tượng vùng khó

khăn và các đối tượng chính sách xã hội; thực hiện cơ chế người học tham gia đánh giá hoạt động giáo

dục; cấp dưới tham gia đánh giá cấp trên Công khai kết quả đo lường mức độ hài lòng của người dân đối

với sự phục vụ của cơ quan quản lí nhà nước về giáo dục và các cơ sở giáo dục; công khai chính sách giáo

dục, công khai tài chính, các điều kiện bảo đảm và kết quả giáo dục; tăng cường vai trò của Hội đồng

trường trong các cơ sở giáo dục, đào tạo…

– Chủ động hội nhập quốc tế về xu thế phát triển chương trình giáo dục, đánh giá, kiểm định chất lượng

giáo dục; mở rộng quan hệ song phương và đa phương trong hợp tác quốc tế về giáo dục; khuyến khích

các tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư, tài trợ,

giảng dạy, nghiên cứu khoa học, ứng dụng khoa học, chuyển giao công nghệ; xây dựng một số ngành đào

tạo, cơ sở giáo dục đạt trình độ tiên tiến trong khu vực

6 Thế nào là chủ động phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị

trường, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển giáo dục và đào tạo?

Cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chi phối ảnh hưởng tới toàn bộ các hoạt động của đất nước

ta, trong đó có giáo dục và đào tạo Thành công của quá trình đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo phụ

thuộc rất nhiều vào sự chủ động, năng lực của chúng ta trong việc chủ động phát huy mặt tích cực, hạn chế

mặt tiêu cực của cơ chếthị trường

Mặt tích cực của cơ chế thị trường:chú trọng giải quyết quan hệ cung/cầu;cạnh tranh, tạo động lực nâng cao

chất lượng đào tạo,chú trọng hiệu quả đầu tư

Mặt tiêu cực của cơ chế thị trường trong giáo dục: chạy theo lợi nhuận tối đa, bỏ quên lợi ích lâu dài của

người học, gây bức xúc xã hội

Thiên chức xã hội và vai trò quan trọng của giáo dục không cho phép biến giáo dục thành thị trường hàng

hóa thông thường Trong bối cảnh kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cần vận dụng những yếu

tố tích cực của kinh tế thị trường để phát triển giáo dục ở phạm vi và mức độ phù hợp Ảnh hưởng của kinh

tế thị trường đến giáo dục là đương nhiên, không nên kì thị, né tránh nhưng phải chủ động phát huy ưu thế,

đồng thời làm tốt công tác quản lí, ngăn ngừa, hạn chế những mặt trái của kinh tế thị trường; khuyến khích

đầu tư giáo dục không vì lợi nhuận

Định hướng xã hội chủ nghĩa trong giáo dục và đào tạo:

– Mục tiêu, nội dung giáo dục và đào tạo phải đảm bảo vì sự phát triển tốt đẹp của con người và xã hội

– Nguồn lực nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong đầu tư ngân sách cho giáo dục và đào tạo Nhà nước tạo

mọi điều kiện thuận lợi để thực hiện công bằng trong tiếp cận giáo dục đối với mọi người dân; hỗ trợ, có

chính sách phù hợp cho giáo dục phổ cập, giáo dục bắt buộc, giáo dục vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều

kiện kinhtế – xã hội đặc biệt khó khăn và các đối tượng diện chính sách; thực hiện xã hội hoá giáo dục, tạo

điều kiện cho giáo dục ngoài công lập phát triển

– Giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các cơ sở giáo dục, đào tạo Nhà nước tăng cường công tác

giám sát, thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật, của các chủ thể trong hoạt động giáo

Trang 5

dục, đào tạo.

7 Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo Việt Nam đứng trước những cơ

hội và thách thức gì?

Những cơ hội:

– Đất nước ổn định về chính trị, thành tựu phát triển kinhtế – xã hội trong 10 năm qua, Chiến lược phát triển

kinh tế – xã hội 2011 – 2020 với yêu cầu tái cơ cấu nền kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng, cùng với

Chiến lược và Quy hoạch phát triển nhân lực giai đoạn 2011 – 2020 là những tiền đề cơ bản để thực hiện

đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Việt Nam

– Đảng, Nhà nước và toàn xã hội đặc biệt quan tâm, chăm lo phát triển giáo dục và đào tạo, mong muốn đổi

mới căn bản, toàn diện nền giáo dục, tận dụng cơ hội phát triển đất nước trong giai đoạn “cơ cấu dân số

vàng(1)” và hội nhập quốc tế mạnh mẽ

– Cách mạng khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin và truyền thông, kinh tế tri thức phát

triển mạnh làm biến đổi sâu sắc các lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo điều kiện thuận lợi để đổi mới căn

bản, toàn diện và đồng bộ các yếu tố cơ bản của chương trình giáo dục (nội dung, phương pháp và hình

thức tổ chức giáo dục), đổi mới quản lí giáo dục và xây dựng một nền giáo dục tiên tiến, hiện đại đáp ứng

nhu cầu của xã hội và cá nhân người học

– Quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng về giáo dục đang diễn ra ở quy mô toàn cầu tạo cơ hội thuận lợi để

nước ta tiếp cận với các xu thế mới, tri thức mới, những mô hình giáo dục và quản lí giáo dục hiện đại và

tranh thủ các nguồn lực bên ngoài để phát triểngiáo dục

– Giáo dục trên thế giới đang diễn ra những xu hướng mới: xây dựng xã hội học tập cùng với các điều kiện

bảo đảm học tập suốt đời; đại chúng hoá, đa dạng hoá, toàn cầu hoá, hội nhập và hợp tác cùng với cạnh

tranh quốc tế về giáo dục…

– Nhân dân ta với truyền thống hiếu học và chăm lo cho giáo dục, sẽ tiếp tục dành sự quan tâm và đầu tư

cao cho giáo dục và đào tạo

Những thách thức:

– Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế đòi hỏi phải có nguồn nhân lực

chất lượng cao, trong khi nguồn lực quốc gia và khả năng đầu tư cho giáo dục của Nhà nước và phần đông

gia đình còn hạn chế Chất lượng nguồn nhân lực còn thấp, đặt ra nhiệm vụ nặng nề và thách thức lớn đối

với sự phát triển giáo dục và đào tạo

– Khoảng cách giàu nghèo giữa các nhóm dân cư, sự phát triển không đều giữa các địa phương vẫn tiếp

tục là nguyên nhân dẫn đến thiếu bình đẳng về cơ hội tiếp cận giáo dục và khoảng cách chất lượng giáo

dục giữa các đối tượng người học và các vùng miền

– Tư duy bao cấp, sức ì trong nhận thức, tác phong quan liêu trong ứng xử với giáo dục của nhiều cấp,

nhiều ngành, của nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục, không theo kịp sự phát triển nhanh của kinh tế – xã

hội và khoa học công nghệ; bệnh thành tích, hư danh, chạy theo bằng cấp trong cán bộ và người dân chậm

được khắc phục

– Khoảng cách phát triển về kinh tế – xã hội, khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo giữa nước ta và

các nước tiên tiến trong khu vực, trên thế giới có xu hướng gia tăng Hội nhập quốc tế và sự phát triển của

Trang 6

kinh tế thị trường đang làm nảy sinh nhiều nguy cơ tiềm ẩn như sự thâm nhập lối sống không lành mạnh,

xói mòn bản sắc văn hoá dân tộc; sự thâm nhập của các loại dịch vụ giáo dục kém chất lượng, lạm dụng

dạy thêm, học thêm, chạy trường,chạy điểm…

8 Trong các quan điểm chỉ đạo thể hiện tại Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 (khoá

XI), những nội dung nào là tiếp tục, kế thừa các quan điểm chỉ đạo về giáo dục và

đào tạo đã có trước đây của Đảng, những nội dung nào là mới?

Các văn kiện của Đảng về giáo dục và đào tạo trước đây đã nêu nhiều quan điểm chỉ đạo đến nay vẫn còn

nguyên giá trị, cần tiếp tục quán triệt và thực hiện: Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho

giáo dục là đầu tư phát triển; giáo dục là sự nghiệp của toàn Đảng, của Nhà nước và của toàn dân; mục tiêu

của giáo dục là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài; phát triển giáo dục gắn với nhu cầu

phát triển kinh tế – xã hội và củng cố quốc phòng – an ninh; đa dạng hoá các loại hình giáo dục; học đi đôi

với hành, giáo dục nhà trường gắn liền với giáo dục gia đình, xã hội; thực hiện công bằng trong giáo dục; ưu

tiên đầu tư phát triển giáo dục vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số và

các đối tượng diện chính sách; thực hiện dân chủ hoá, xã hội hoágiáo dục.Để thực hiện đổi mới căn bản,

toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị

trường, định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhậpquốc tế, Đảng ta đã đề ra một số nội dung mới trong quan

điểm chỉ đạo:

– Giáo dục và đào tạo là một nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc;

đầu tư cho giáo dục được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinhtế – xã hội

-Cụ thể hóa nội hàm quan niệm và các yêu cầu về “đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo” (xem

câu 4)

– Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu chú trọng trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng

lực và phẩm chất người học

– Phát triển giáo dục và đào tạo phải phù hợp quy luật phát triển khách quan, những tiến bộ khoa học và

công nghệ Chuyển phát triển giáo dục từ chủ yếu theo mục tiêu số lượng sang chú trọng chất lượng và

hiệu quả, đồng thời đáp ứng yêu cầu số lượng Thực hiện chuẩn hoá, hiện đại hoá

– Đổi mới hệ thống giáo dục theo hướng mở, linh hoạt, bảo đảm liên thông giữa các bậc học, trình độ và

giữa các phương thức đào tạo; tạo điều kiện thuận lợi cho việc học tập suốt đời; xây dựng xã hộihọc tập

– Chủ động phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo đảm định hướng xã hội

chủ nghĩa trong phát triển giáo dục Phát triển hài hoà, bình đẳng, hỗ trợ lẫn nhau giữa giáo dục công lập và

ngoài công lập, giáo dục các vùng miền

– Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế để phát triển giáo dục và đào tạo, đồng thời giáo dục và đào tạo phải

đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế để phát triển đất nước

9 Mục tiêu tổng quát đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và

đào tạo có những nội dung nào mới so với mục tiêu lâu nay đã xác định?

– Về mục tiêu đào tạo con người: Vừa đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, yêu gia đình, yêu

Tổ quốc, yêu đồng bào, sống tốt và làm việc hiệu quả, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; vừa

đảm bảo phát huy tốt nhất tiềm năng riêng của mỗicá nhân

– Về mục tiêu hệ thống: Xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản lí tốt; có

Trang 7

cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lí, gắn với xây dựng xã hội học tập; chuẩn hoá, hiện đại hoá, dân chủ

hoá, xã hội hoá và hội nhập quốc tế hệ thống giáo dục và đào tạo; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và

bản sắc dân tộc Tạo chuyển biến căn bản mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả, giáo dục đào tạo; đáp ứng

ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân Phấn đấu đến

năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực

10 Thế nào là phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học?

Trước đây mục tiêu giáo dục toàn diện thường được hiểu đơn giản là: Học sinh phải học đầy đủ tất cả các

môn học thuộc các lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn, nghệ thuật, thể dục thể thao…

Không những thế, việc thực hiện mục tiêu giáo dục cũng nghiêng về truyền thụ kiến thức càng nhiều càng

tốt; chú trọng dạy chữ hơn dạy người, chú trọng truyền bá kiến thức hơn đào tạo, bồi dưỡng năng lực của

người học; ít yêu cầu người học vận dụng kiến thức vào thực tế… Tình hình này đã dẫn đến hiện

tượng”quá tải”, vừa thừa, vừa thiếu đối với người học và đối với mục tiêu giáo dục

Mục tiêu giáo dục theo tinh thần đổi mới là: phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học Toàn diện

ở đây được hiểu là chú trọng phát triển cả phẩm chất và năng lực con người, cả dạy chữ, dạy người, dạy

nghề Giáo dục và đào tạo phải tạo ra những con người có phẩm chất, năng lực cần thiết như trung thực,

nhân văn, tự do sáng tạo, có hoài bão và lí tưởng phục vụ Tổ quốc, cộng đồng; đồng thời phải phát huy tốt

nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân, làm chủ bản thân, làm chủ đất nước và làm chủ xã hội;

có hiểu biết và kĩ năng cơ bản để sống tốt và làm việc hiệu quả… như Bác Hồ từng mong muốn: “một nền

giáo dục sẽ đào tạo các em nên những người công dân hữu ích cho nước Việt Nam, một nền giáo dục làm

phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các em“.

11 Thế nào là thực học, thực nghiệp?

Thực học, thực nghiệp là người dạy và người học hiểu đúng mục đích của việc dạy và học; dạy và học thực

chất; kết quả thi, kiểm tra phản ánh đúng, thực chất chất lượng giáo dục; người học là chủ thể trung tâm của

quá trình giáo dục, sau khi tốt nghiệp có đủ năng lực và phẩm chất cần thiết để sống và làm việc

Thực học, thực nghiệp đối lập với hư học, hư danh, bệnh thành tích, với việc chạy điểm, chạy bằng cấp,

bằng thật học giả mà dư luận xã hội bức xúc, lên án

12 Thế nào là hệ thống giáo dục mở?

Hệ thống giáo dục mở là hệ thống giáo dục linh hoạt, liên thông giữa các yếu tố (nội dung, phương pháp,

phương thức, thời gian, không gian, chủ thể giáo dục…) của hệ thống và liên thông với môi trường bên

ngoài hệ thống, bảo đảm tính sáng tạo cho việc xây dựng, tổ chức các nội dung, hình thức giáo dục; tạo cơ

hội tiếp cận giáo dục cho mọi người; tận dụng các nguồn lực cho giáo dục và bảo đảm tính hiệu quả, phát

triển bền vững củahệ thống

Nói cách khác, hệ thống giáo dục mở là hệ thống giáo dục tạo ra cơ hội phát triển chương trình giáo dục,

tạo cơ hội học tập phù hợp cho mọi đối tượng có nhu cầu, không phân biệt lứa tuổi, trình độ học vấn và

nghề nghiệp, địa vị xã hội, giới tính trong mọi thời gian khác nhau và không gian khác nhau Nhờ đó, việc

học tập của con người có điều kiện để thực hiện không ngừng suốt đời

13 Thế nào là học tập suốt đời, xã hội học tập?

Hiện nay, khái niệm “học tập suốt đời” ngày càng được nhắc đến thường xuyên hơn và có mặt trong hầu hết

các chiến lược, chính sách quốc gia về giáo dục của mỗi đất nước Theo UNESCO, “học tập suốt đời” là

quá trình học tập diễn ra trong suốt cả cuộc đời, dựa trên bốn trụ cột: học để biết, học để làm việc, học để

Trang 8

cùng nhau chung sống và học để làm người; thông qua các phương thức giáo dục chính quy, giáo dục

thường xuyên; đặc biệt coi trọng tự học

Xã hội học tập là một xã hội trong đó tất cả các tổ chức trong xã hội đều tham gia vào quá trình giáo dục,

không riêng trường học Ví dụ, một nhà máy, trách nhiệm chủ yếu là sản xuất hàng hoá, nhưng cũng có thể

và cần phải tổ chức huấn luyện, bồi dưỡng nâng cao trình độ, kĩ năng nghề nghiệp cho công nhân và cũng

có thể giáo dục cho công chúng về quá trình sản xuất, về sử dụng sản phẩm, về bảo vệ môi trường… và

những đóng góp của họ cho xã hội Nhà máy phải tham gia cùng nhà trường xây dựng và cải tiến chương

trình giáo dục, là nơi cho học sinh, sinh viên thực hành, thực tập… Một khía cạnh khác của xã hội học tập là

toàn thể công dân đều phải học tập và triệt để tận dụng các cơ hội do xã hội học tập cung cấp.

Học tập suốt đời và xã hội học tập là hai khái niệm có liên quan, gắn bó chặt chẽ với nhau Xã hội học tập là

nơi mà mọi cá nhân đều theo đuổi việc học thường xuyên, học suốt đời, mọi tổ chức đều trở thành những tổ

chức học tập, mọi thành phần xã hội đều tham gia và đóng góp vào việc thúc đẩy học tập và phát triển giáo

dục Học tập suốt đời và xã hội học tập là một quan điểm tổng thể, toàn diện về sự phát triển, thay đổi, hợp

tác và tham gia của mỗi một cộng đồng, mỗi một quốc gia trong thế giới có sự phát triển vũ bão của khoa

học – công nghệ và bùng nổ thông tin, hội nhập và toàn cầu hoá ngày càng sâu rộng

14 Quan điểm chỉ đạo và những nhiệm vụ, giải pháp chính trong Nghị quyết Trung

ương 8 (khoá XI) đối với giáo dục ngoài công lập?

Ngay từ Nghị quyết Trung ương 2 (khoá VIII), Đảng ta đã xác định: “Đa dạng hoá các loại hình giáo dục –

đào tạo”; “Phát triển những trường bán công, dân lập ở những nơi có điều kiện, từng bước mở các trường

tư thục ở một số bậc học như: mầm non, phổ thông trung học (cấp III), trung học chuyên nghiệp, dạy nghề,

đại học”

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 (khoá XI) tiếp tục thể hiện và phát triển thêm đường lối, chính sách của

Đảng, Nhà nước đối với giáo dục ngoài công lập

Về quan điểm chỉ đạo, Nghị quyết xác định: “Phát triển hài hoà, hỗ trợ giữa giáo dục công lập và giáo dục

ngoài công lập“.

Trong các nhiệm vụ, giải pháp, có nhiều điểm liên quan hoặc trực tiếp nói về giáo dục ngoài công lập Cụ

thể như sau:

– Khuyến khích xã hội đầu tư phát triển các trường chất lượng cao ở tất cả các cấp học và trình độ đào tạo

Tăng tỉ lệ trường ngoài công lập đối với giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học Hướng tới có loại hình

cơ sở giáo dục do cộng đồngđầu tư

– Đối với giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, khuyến khích phát triển các loại hình trường ngoài công

lập đáp ứng yêu cầu xã hội về giáo dục chất lượng cao ở khu vực đô thị

– Đa dạng hoá các phương thức đào tạo Đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng năng lực, kĩ năng nghề tại cơ sở

sản xuất, kinh doanh.Có cơ chế để tổ chức, cá nhân người sử dụng lao động tham gia xây dựng, điều

chỉnh, thực hiện chương trình đào tạo và đánh giá năng lựcngười học

– Đối với giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học, thực hiện cơ chế đặt hàng trên cơ sở hệ thống định

mức kinh tế – kĩ thuật, tiêu chuẩn chất lượng của một số loại hình dịch vụ đào tạo (không phân biệt loại hình

cơ sở đào tạo), bảo đảm chi trả tương ứng chất lượng, phù hợp với ngành nghề và trình độ đào tạo Minh

bạch hoá các hoạt động liên danh, liên kết đào tạo, sử dụng nguồn lực công; bảo đảm sự hài hoà giữa các

lợi ích với tích luỹ tái đầu tư

Trang 9

– Đẩy mạnh xã hội hoá, trước hết là đối với giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học; có chính sách

khuyến khích cạnh tranh lành mạnh trong giáo dục và đào tạo trên cơ sở bảo đảm quyền lợi của người học,

người sử dụng lao động và cơ sở giáo dục, đào tạo Đối với các ngành đào tạo có khả năng xã hội hoá cao,

ngân sách nhà nước chỉ hỗ trợ các đối tượng chính sách, đồng bào dân tộc thiểu số và khuyến khích tài

năng Tiến tới bình đẳng về quyền được hỗ trợ của Nhà nước đối với người học ở trường công lập và

trường ngoài công lập Bảo đảm bình đẳng giữa nhà giáo trường công lập và nhà giáo trường ngoài công

lập về tôn vinh và cơ hội đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ

– Khuyến khích các doanh nghiệp, cá nhân sử dụng lao động tham gia hỗ trợ hoạt động đào tạo Xây dựng

cơ chế, chính sách tài chính phù hợp đối với các loại hình trường Có cơ chế ưu đãi tín dụng cho các cơ sở

giáo dục, đào tạo

– Có chính sách hỗ trợ để có mặt bằng xây dựng trường

15 Quan điểm chỉ đạo và những nhiệm vụ, giải pháp chính trong Nghị quyết Trung

ương 8 (khoá XI) về phát triển giáo dục vùng dân tộc thiểu số, vùng khó khăn và hỗ

trợ các đối tượng chính sách xã hội?

Trong những năm qua, nhiều chính sách về giáo dục và đào tạo đối với vùng khó khăn, vùng có đông đồng

bào dân tộc thiểu số sinh sống đã được ban hành, góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực cho

các địa phương nhằm phát triển kinh tế – xã hội, xoá đói giảm nghèo, góp phần bảo đảm an ninh quốc

phòng và giữ vững chủ quyền quốc gia Các chính sách về giáo dục tập trung vào việc phát triển mạng lưới

trường, lớp đến các xã, thôn, bản, tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, thiết bị; các chế độ, chính

sách hỗ trợ cho cán bộ, giáo viên công tác ở vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn, các

trường chuyên biệt vùng dân tộc thiểu số và các chính sách cho người học là người dân tộc thiểu số, người

có hoàn cảnh khó khăn và các đối tượng chính sách, đảm bảo cơ hội học tập cho mọi người nhằm tạo công

bằng xã hội trong giáo dục

Về quan điểm chỉ đạo, Nghị quyết Trung ương 8 (khoá XI) xác định: “Phát triển hài hoà, hỗ trợgiữa giáo dục

công lập và ngoài công lập,giữa các vùng miền Ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo đối với các

vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa và các đối tượng chính

sách Thực hiện dân chủ hoá, xã hội hoá giáo dục và đào tạo“.

Trong mục tiêu, Nghị quyết khẳng định bảo đảm cơ hội cho mọi người, nhất là vùng nông thôn, vùng khó

khăn, các đối tượng chính sách được học tập nâng cao kiến thức, trình độ, kĩ năng chuyên môn nghiệp vụ

và chất lượng cuộc sống; tạo điều kiện để người lao động chuyển đổi nghề; bảo đảm xoá mù chữ bền vững

Để thực hiện có hiệu quả các quan điểm chỉ đạo của Nghị Quyết về phát triển giáo dục vùng dân tộc thiểu

số, giáo dục vùng khó khăn và các đối tượng diện chính sách, nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong thời gian

tới được xác định cụ thể như sau:

– Các bộ, ngành, địa phương xây dựng quy hoạch dài hạn phát triển nguồn nhân lực, dự báo nhu cầu về số

lượng, chất lượng nhân lực, cơ cấu ngành nghề, trình độ Trên cơ sở đó, đặt hàng và phối hợp với các cơ

sở giáo dục, đào tạo tổ chức thực hiện

– Chương trình giáo dục tập trung vào những giá trị cơ bản của văn hoá, truyền thống và đạo lí dân tộc, tinh

hoa văn hoá nhân loại

– Biên soạn sách giáo khoa, tài liệu hỗ trợ dạy và học phù hợp với từng đối tượng học, chú ý đến học sinh

dân tộc thiểu số và học sinh khuyết tật

Trang 10

– Tiếp tục hoàn thiện chính sách hỗ trợ đối với các đối tượng chính sách, đồng bào dân tộc thiểu số Đối với

các ngành đào tạo có khả năng xã hội hoá cao, ngân sách nhà nước chỉ hỗ trợ các đối tượng chính sách,

đồng bào dân tộc thiểu số và khuyến khích tài năng

– Tiếp tục thực hiện mục tiêu kiên cố hoá trường, lớp học và xây dựng nhà công vụ cho giáo viên

16 Vì sao lại giữ ổn định hệ thống giáo dục phổ thông 12 năm như hiện nay, trong

khi có ý kiến đề nghị chỉ nên 11 năm?

Cơ cấu hệ thống giáo dục phải góp phần đảm bảo quyền lợi học tập của người dân Chất lượng giáo dục

của mỗi cấp học phải đảm bảo đạt chuẩn quốc gia và tương ứng với chất lượng quốc tế, phát huy hiệu quả

đầu tư giáo dục.Trong quá trình góp ý cho Đề án đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, có ý kiến

đề nghị số năm học của giáo dục phổ thông (GDPT) là 11 năm Căn cứ của đề xuất này chủ yếu là: (1) Số

năm học giảm đi sẽ tiết kiệm được thời gian ngồi trên ghế nhà trường và giảm được chi phí của Nhà nước

và gia đình, đồng thời tăng thêm được lực lượng lao động cho gia đình và xã hội; (2) GDPT Việt Nam đã

từng có giai đoạn 11 năm; trên thế giới cũng có những nước thực hiện GDPT 11 năm và (3) Hiện nay, học

sinh Việt Nam phát triển nhanh hơn về thể chất và tâm – sinh lí…

Tuy nhiên, sau nhiều hội thảo và nghiên cứu, đa số ý kiến vẫn đề nghị ổn định hệ thống giáo dục như hiện

nay, tức 12 năm GDPT Lí do chính là: (1) Trong lịch sử giáo dục Việt Nam, mô hình giáo dục 12 năm tồn tại

lâu nhất và ổn định nhất (tính từ sau Cách mạng Tháng 8 năm 1945 đến nay, mô hình 12 năm đã tồn tại 32

năm trong phạm vi cả nước); (2) Mô hình GDPT 12 năm được thực hiện ở đa số nước trên thế giới Theo

thống kê của UNESCO, có 163/206 nước, GDPT từ 12 năm trở lên (12 – 14 năm), chiếm tỉ lệ 79,1%; trong

đó, hệ thống GDPT 12 năm là phổ biến nhất: 117 nước, chiếm tỉ lệ 56,8% Nhiều nước phát triển như Anh,

Ý, Na uy… có hệ thống GDPT 13 năm; (3) Số giờ dạy học trung bình của 21 nước trong khối OECD(1) là

8.984 giờ; cao nhất là 12.893 giờ (Hoa Kì) và thấp nhất là 6.128 giờ (Hy Lạp) GDPT Việt Nam 12 năm như

phần lớn các nước trong khối OECD, nhưng do điều kiện khó khăn khách quan, đại bộ phận trường phổ

thông ở nước ta chỉ dạy học 1 buổi/ngày nên tổng số giờ học của học sinh Việt Nam chỉ là 7.924 giờ, ít hơn

16/21 nước trong khối OECD; (4) Xây dựng chương trình giáo dục phổ thông theo hướng phát triển năng

lực học sinh là xu thế quốc tế đã và đang được nhiều nước áp dụng Định hướng này đòi hỏi phải gia tăng

thời lượng cho việc tổ chức các hoạt động học tập, đặc biệt là hoạt động thực hành và vận dụng kiến thức

17 Tại sao hệ thống giáo dục phải đảm bảo sự phân luồng, liên thông hợp lí?

Quy luật phát triển của giáo dục nói chung là càng lên bậc học cao, số lượng người học càng giảm Không

có nước nào, kể cả những nước có điều kiện nhất, toàn bộ số học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông,

chuyển tất cả lên học cao đẳng, đại học Học sinh có những năng lực, sở trường, sở thích khác nhau Xã

hội, thị trường lao động cũng đòi hỏi nhân lực các trình độ khác nhau, không nhất thiết và không cần người

lao động nào cũng phải tốt nghiệp đại học, cao đẳng Vì thế, cần phân luồng ngay từ những bậc học dưới

(thường là sau trung học cơ sở và nhất là sau trung học phổ thông) Nhìn chung, sự phân luồng được thực

hiện theo hai hướng chính: (1) hệ thống trường dạy nghề, trường trung cấp chuyên nghiệp nhằm đào tạo

lực lượng lao động trực tiếp, có tay nghề kĩ thuật; (2) hệ thống các trường cao đẳng, đại học để học sinh

học tiếp lên cao nhằm đào tạo đội ngũ trí thức, nguồn nhân lực trình độ cao và phát triển nhân tài Phân

luồng phù hợp sẽ tạo ra sự cân đối giữa các lực lượng lao động trong xã hội

Bên cạnh việc thực hiện phân luồng một cách phù hợp, hệ thống giáo dục và đào tạo cần phải tạo được sự

liên thông giữa các bậc học, các trình độ đào tạo, hệ thống chứng chỉ, bằng cấp… với mục đích tạo mọi điều

kiện cho việc học tập được chuyển đổi một cách thuận tiện, linh hoạt; giúp mọi ngườidễ dàng tiếp tục học

tập bằng nhiều hình thức khác nhau,chuyển đổi nghề nghiệp khi cần; động viên và đề cao tinh thần học suốt

đời

Trang 11

Làm tốt công tác liên thông sẽ có tác động tích cực trở lạiđối với phân luồng; giúp cho việc phân luồng dễ

dàng và thuận lợi hơn

18 Mục tiêu cụ thể đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục mầm non? Những nội

dung nào là mới so với mục tiêu lâu nay đã xác định?

Mục tiêu cụ thể đổi mới căn bản giáo dục mầm non là: Giúp trẻ phát triển thể chất, tình cảm, hiểu biết, thẩm

mĩ, hình thành các yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ bước vào lớp 1

Hoàn thành mục tiêu phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi vào năm 2015, nâng cao chất lượng phổ cập

trong những năm tiếp theo và thực hiện miễn học phí trước năm 2020 cho đối tượng này Từng bước chuẩn

hoá hệ thống các trường mầm non Phát triển giáo dục mầm non dưới 5 tuổi có chất lượng, phù hợp với

điều kiện của từng địa phương và cơ sở giáo dục

Những điểm mới trong mục tiêu giáo dục mầm non là:

– Hoàn thành mục tiêu phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổivào năm 2015, nâng cao chất lượng phổ

cập trong những năm tiếp theo

– Thực hiện việc miễn học phí trước năm 2020 cho trẻ 5 tuổi

– Từng bước chuẩn hoá trường mầm non và phát triển giáo dục mầm non dưới 5 tuổi có chất lượng phù

hợp với điều kiện của từng địa phương và cơ sở giáo dục

19 Giáo dục bắt buộc là gì?

Giáo dục bắt buộc là quy định, yêu cầu của Nhà nước về chương trình giáo dục tối thiểu đối với công dân

Nhà nước miễn học phí và bảo đảm những điều kiện cần thiết nhất cho mỗi người dân được học tập

chương trình giáo dục bắt buộc Người học có nghĩa vụ và trách nhiệm học tập theo quy định

Trên thế giới hiện nay, số năm giáo dục bắt buộc thường là 9 năm (từ lớp 1 đến lớp 9), có nước ít hơn 9

năm, nhưng có nước 10, 11 năm hoặc nhiều hơn

20 Mục tiêu cụ thể đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục phổ thông? Những nội dung

nào là mới so với mục tiêu lâu nay đã xác định?

Mục tiêu cụ thể là:

– Tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng

năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh

– Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lí tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống,

ngoại ngữ, tin học, năng lực và kĩ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Phát triển khả năng

sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời

– Hoàn thành việc xây dựng chương trình giáo dục phổ thông giai đoạn sau năm 2015 Bảo đảm cho học

sinh có trình độ trung học cơ sở (hết lớp 9) có tri thức phổ thông nền tảng, đáp ứng yêu cầu phân luồng

mạnh sau trung học cơ sở; trung học phổ thông phải tiếp cận nghề nghiệp và chuẩn bị cho giai đoạn học

sau phổ thông có chất lượng Nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục, thực hiện giáo dục bắt buộc 9 năm từ

sau năm 2020

– Phấn đấu đến năm 2020, có 80% thanh niên trong độ tuổi đạt trình độ giáo dục trung học phổ thông và

Trang 12

tương đương.

Mục tiêu trên so với mục tiêu lâu nay có những điểm mới Trước hết là việc nhấn mạnh tập trung hình thành

“năng lực công dân; năng lực thực hành và vận dụng kiến thức vào thực tiễn“ Phát triển năng lực là một

trong những yêu cầu quan trọng, thể hiện rõ nhất việc đổi mới mục tiêu giáo dục lần này Năng lực được

hiểu là sự vận dụng tổng hợp nhiều yếu tố (kiến thức, kĩ năng, thái độ, động cơ, hứng thú…) nhằm thực

hiện công việc có hiệu quả Quan niệm này chi phối toàn bộ các yếu tố của quá trình giáo dục, từ nội dung,

phương pháp đến đánh giá kết quả học tập Mục tiêu phát triển năng lực nhằm khắc phục tình trạng quá chú

trọng vào trang bị kiến thức hàn lâm, kinh viện; người học biết nhiều lí thuyết nhưng thực hành, vận dụng

kém… Thứ hai, mục tiêu “chú trọng ngoại ngữ (trước hết là tiếng Anh), tin học” cũng là nội dung mới nhằm

đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và nền kinh tế tri thức Ngoài hai nội dung vừa nêu, mục tiêu học sinh học

hết trung học cơ sở phải có tri thức phổ thông nền tảng, “giáo dục bắt buộc 9 năm từ sau 2020”, có 80%

thanh niên trong độ tuổi đạt trình độ giáo dục trung học phổ thông và tương đương cũng là nội dung mới

21 Mục tiêu cụ thể đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục nghề nghiệp? Những nội

dung nào là trọng tâm đổi mới so với trước đây?

Mục tiêu cụ thể là:

– Tập trung đào tạo nhân lực có kiến thức, kĩ năng và trách nhiệm nghề nghiệp

– Hình thành hệ thống giáo dục nghề nghiệp với nhiều phương thức và trình độ đào tạo kĩ năng nghề

nghiệp theo hướng ứng dụng, thực hành, bảo đảm đáp ứng nhu cầu nhân lực kĩ thuật công nghệ của thị

trường lao động trong nước và quốc tế

Những nội dung trọng tâm đổi mới mục tiêu giáo dục nghề nghiệp:

– Tích hợp kiến thức, kĩ năng và trách nhiệm nghề nghiệp để hình thành năng lực, phẩm chất cho người

học

– Hình thành hệ thống giáo dục nghề nghiệp với nhiều phương thức và trình độ đào tạo

– Giáo dục nghề nghiệp phát triển theo hướng ứng dụng, thực hành bảo đảm đáp ứng nhu cầu nhân lực kĩ

thuật, công nghệ của thị trường lao động trong nước và quốc tế

22 Mục tiêu cụ thể đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đại học? Những nội dung

nào là mới so với mục tiêu lâu nay đã xác định?

Mục tiêu cụ thể là:

– Tập trung đào tạo nhân lực trình độ cao, bồi dưỡng nhân tài, phát triển phẩm chất, năng lực tự học, tự làm

giàu tri thức, sáng tạo của người học

– Hoàn thiện mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học, cơ cấu ngành nghề và trình độ đào tạo phù hợp với quy

hoạch phát triển nguồn nhân lực quốc gia; trong đó có một số trường và ngành đào tạo ngang tầm khu vực

và quốc tế Đa dạng hoá các cơ sở đào tạo phù hợp với nhu cầu phát triển công nghệ và các lĩnh vực,

ngành nghề; yêu cầu xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế

Nội dung mới so với trước đây:

– Giáo dục đại học không chỉ tập trung đào tạo nhân lực trình độ cao, bồi dưỡng nhân tài mà phải đặc biệt

coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực tự học, tự làm giàu tri thức, sáng tạo của người học.

Trang 13

– Mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học, cơ cấu ngành nghề và trình độ đào tạo phải phù hợp với quy hoạch

phát triển nguồn nhân lực quốc gia; trong đó có một số trường ngang tầm khu vực và quốc tế.

– Thực hiện phân tầng cơ sở giáo dục đại học nhằm phục vụ công tác quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục

đại học phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội; thực hiện xếp hạng các cơ sở giáo dục đại học để

đánh giá uy tín và chất lượng đào tạo phục vụ quản lí nhà nước và ưu tiên đầu tư về ngân sách

– Phát triển giáo dục đại học phải gắn với tiến bộ khoa học và công nghệ; phù hợp với quy luật khách quan.

Chuyển phát triển giáo dục và đào tạo, trong đó có giáo dục đại học từ chủ yếu theo số lượng sang chú

trọng chất lượng và hiệu quả, đồng thời đáp ứng yêu cầu số lượng.

23 Mục tiêu cụ thể đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục thường xuyên? Những nội

dung nào là mới so với mục tiêu lâu nay đã xác định?

Mục tiêu cụ thể là:

-Bảo đảm cơ hội cho mọi người, nhất là ở vùng nông thôn, vùng khó khăn, các đối tượng diện chính sách

được học tập nâng cao kiến thức, trình độ, kĩ năng chuyên môn nghiệp vụ và chất lượng cuộc sống; tạo

điều kiện thuận lợi để chuyển đổi nghề nghiệp đối với người lao động; bảo đảm xoá mù chữ bền vững

– Hoàn thiện mạng lưới cơ sở giáo dục thường xuyên và các hình thức học tập, thực hành phong phú, linh

hoạt, coi trọng tự học và giáo dục từ xa

Những nội dung mới so với mục tiêu lâu nay đã xác định: Nhấn mạnh phát triển giáo dục thường xuyên gắn

kết chặt chẽ và liên thông với giáo dục chính quy để phát triển tài nguyên con người; giáo dục thường xuyên

tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động được bổ sung kiến thức, kĩ năng nghề nghiệp để có thể chuyển

đổi nghề nghiệp, thích ứng với sự phát triển kinh tế – xã hội; mở rộng các hình thức học tập phong phú, linh

hoạt và đặc biệt coi trọng tự học, coi việc thường xuyên học tập, học suốt đời của mỗi cá nhân là yếu tố

quyết định xây dựng thành công một xã hội học tập

24 Giải pháp khắc phục tình trạng quá tải của chương trình và sách giáo khoa giáo

dục phổ thông hiện nay?

Hiện tượng “quá tải” trong nhà trường phổ thông là một thực tế gây bức xúc xã hội Hiện tượng ấy do nhiều

nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân về chương trình và sách giáo khoa Để khắc phục tình trạng này,

phải tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp Riêng về chương trình và sách giáo khoa hiện hành, thời gian qua

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có những giải pháp nhằm khắc phục hạn chế như: Rà soát lại chương trình và

sách giáo khoa, qua đó bỏ bớt những nội dung quá khó hoặc chưa cần thiết với học sinh phổ thông; loại bỏ

các thông tin đã lạc hậu; trao quyền tự chủ cho giáo viên trong việc sắp xếp lại nội dung, cấu trúc bài giảng

sao phù hợp với đối tượng người học của từng vùng miền; đổi mới việc ra đề thi theo hướng mở, tăng

cường yêu cầu vận dụng kiến thức, giảm các yêu cầu ghi nhớ máy móc các số liệu, thuộc lòng các nội dung

học tập

Cách làm trên chỉ là giải pháp trước mắt, phục vụ trực tiếp cho yêu cầu nhằm giảm tải, giảm bớt áp lực và

gánh nặng học hành cho học sinh Sự quá tải của chương trình và sách giáo khoa chỉ có thể khắc phục căn

bản khi xây dựng lại chương trình và sách giáo khoa mới sau 2015

25 Nội dung và phương pháp giáo dục phổ thông được đổi mới theo hướng nào?

Quan điểm chỉ đạo đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục phổ thông là chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ

yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học Học đi đôi với hành; lí

Trang 14

luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội.

Định hướng khái quát này được thể hiện cụ thể ở một số điểmsau đây:

– Chương trình giáo dục phổ thông sẽ được xây dựng thành một chỉnh thể xuyên suốt từ lớp 1- lớp 12; tích

hợp cao ở các lớp/cấp học dưới; phân hoá mạnh ở các lớp/cấp học cao hơn, nhất là ở trung học phổ thông

Số môn học bắt buộc sẽ giảm nhiều; học sinh được tự chọn các môn học/các chuyên đề phù hợp với năng

lực và sở thích, gắn với định hướng nghề nghiệp sau này

– Nội dung các môn học sẽ “tinh giản, cơ bản, hiện đại, giảm tính hàn lâm, tăng tính thực hành và vận dụng

kiến thức và kĩ năng vào thực tiễn” Định hướng trên cũng hạn chế được tính hàn lâm, xa rời cuộc sống

– Phương pháp dạy và học sẽ khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc; phát huy tính

tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học, tập trung dạy cách học, cách

nghĩ và tự học, theo phương châm “giảng ít, học nhiều” Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền

thông trong dạy và học; đa dạng hoá các hình thức tổ chức giáo dục…

26 Dạy học tích hợp và dạy học phân hóa là gì?

Dạy học tích hợplà dạy học, trong đó giáo viên tổ chức, hướng dẫn để học sinh biết huy động tổng hợp kiến

thức, kĩ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm giải quyết có hiệu quả các nhiệm vụ học tập; qua đó

hình thành những kiến thức, kĩ năng mới; phát triển được những năng lực cần thiết, nhất là năng lực giải

quyết vấn đề trong học tập và thực tiễn cuộc sống Dạy học tích hợp sẽ giúp cho việc giảm số môn học và

lồng ghép được các vấn đề thời sự của cuộc sống vào các môn học và hoạt động giáo dục

Dạy học phân hoá là dạy học theo từng loại đối tượng, phù hợp với tâm – sinh lí, khả năng, nhu cầu và

hứng thú của người học nhằm phát triển tối đa tiềm năng riêng vốn có của mỗi người học; người học được

chủ động lựa chọn các môn học hoặc chủ đề phù hợp với năng lực và sở thích của mình

27 Những đổi mới về kiểm tra, thi và đánh giá chất lượng giáo dục Vì sao đổi mới

kiểm tra, thi, đánh giá chất lượng giáo dục được coi là giải pháp đột phá đổi mới giáo

dục?

Việc thi, kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục sẽ được đổi mới theo hướng:

– Đổi mới cả nội dung, phương pháp đánh giá (kiểm tra, thi hết môn, thi lên lớp, thi tốt nghiệp) Chuyển từ

đánh giá kiến thức mà người học nắm được sang đánh giá việc hình thành năng lực, phẩm chất của người

học

– Kết hợp chặt chẽ kết quả đánh giá định kì của người dạy với kết quả thi, đánh giá của người dạy và tự

đánh giá của người học; đánh giá của nhà trường và đánh giá của xã hội

– Tách bạch đánh giá kết quả học tập của từng học sinhvới đánh giá chất lượng giáo dục của nhà trường,

địa phương và cả nước

– Giao quyền tự chủ cho các trường đại học, cao đẳng trong tuyển sinh theo hướng: Các trường lập

phương án tuyển sinh của mình theo hướng dẫn, quy định, trình Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt, để các

trường tăng thêm quyền chủ động và đảm bảo công tác tuyển sinh được thực hiện nghiêm túc

Đổi mới kiểm tra, thi, đánh giá được coi là giải pháp đột phá nhằm đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và

đào tạo Việt Namlà vì:

Trang 15

-Trong bối cảnh của Việt Nam, khi giáo dục nặng về ứng thí và tâm lí sính bằng cấp khá phổ biến trong xã

hội thì công tác kiểm tra, thi, đánh giá có tác động hết sức mạnh mẽ đến việc dạy và học “Thi gì học nấy”

nên đổi mới kiểm tra, thi, đánh giá sẽ có tác động trở lại đến toàn bộ các yếu tố của quá trình dạy và học

trong các nhà trường Đổi mới kiểm tra, thi, đánh giá không đòi hỏi tốn kém nhiều kinh phí

– Hiện trạng công tác kiểm tra, thi, đánh giá của cả hệ thống nước ta còn có nhiều hạn chế, lạc hậu từ mục

tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện đến quy trình, cách thức xử lí, sử dụng kết quả; coi việc đánh giá

kết quả học tập chỉ là việc cho điểm các bài thi, bài kiểm tra…; cách tổ chức còn nặng nề, tốn kém… Do đó,

để đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo, nhất thiết phải thực hiện ngay việc đổi mới kiểm tra, đánh

giá và thi cử

28 Mối quan hệ giữa đổi mới giáo dục phổ thông và đổi mới ở các trường sư phạm

lần này được thể hiện như thế nào?

– Đổi mới sư phạm lấy đổi mới giáo dục phổ thông làm mục đích, mục tiêu Đổi mới ở trường sư phạm gắn

bó chặt chẽ, hài hoà và đi trước một bước đổi mới giáo dục phổ thông Đổi mới sư phạm là điều kiện thành

công cho đổi mới phổ thông Ngược lại, đổi mới phổ thông cũng đặt ra yêu cầu, “bài toán” cho đổi mới sư

phạm Mục tiêu, chương trình, nội dung, phương pháp đào tạo trong trường sư phạm sẽ phải thay đổi để

việc đào tạo, đào tạo lại đội ngũ nhà giáo thực hiện được tốt chương trình giáo dục phổ thông mới

– Giáo dục phổ thông và đào tạo sư phạm đều đã bắt đầu đổi mới Ví dụ, việc đổi mới quá trình đào tạo sư

phạm theo định hướng phát triển năng lực của giáo sinh, nhất là năng lực giáo dục và nghiệp vụ sư phạm

thì không phải chờ đến khi ban hành chương trình giáo dục phổ thông mới; hơn nữa, dù chưa có chương

trình mới thì phổ thông đã đang đổi mới từng phần, đang đặt ra những yêu cầu cấp bách đổi mới sư phạm

Như vậy, sư phạm và phổ thông phải cùng đổi mới, cùng tạo ra và nhân lên sức mạnh tổng hợp

29 Lộ trình đổi mới giáo dục phổ thông sẽ được thực hiện như thế nào? Chỉ còn 2

năm nữa là tới mốc 2015, liệu thời gian này có đủ để các ban, ngành thực hiện đề án

kịp tiến độ?

Sau khi Trung ương ban hành Nghị quyết, tất cả các bộ, ngành, địa phương đều phải xây dựng Chương

trình hành động để thực hiện Mốc thời gian sau 2015 là mốc yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục phổ

thông Đúng là thời gian còn không nhiều, nhưng từ sau Đại hội Đảng lần thứ XI, ngành Giáo dục đã tổ chức

triển khai nghiên cứu nhiều vấn đề xung quanh đổi mới chương trình giáo dục phổ thông từ kinh nghiệm của

Việt Nam đến xu thế quốc tế; không những thế còn tiến hành thực hiện vận dụng những tư tưởng, định

hướng đổi mới vào thực tiễn dạy học, áp dụng một số mô hình và phương pháp dạy học được coi là tiên

tiến, đúng hướng, có hiệu quả vào nhà trường như: Dạy tiếng Việt lớp 1 theo Công nghệ giáo dục Vận

dụng mô hình trường học mới ở tiểu học và đang chuẩn bị mở rộng lên trung học cơ sở Áp dụng phương

pháp dạy học dựa trên sự tìm tòi, trải nghiệm khoa học của học sinh (phương pháp “Bàn tay nặn bột”) Triển

khai hướng dẫn và tổ chức thi sáng tạo khoa học kĩ thuật của học sinhphổ thông…

Bộ Giáo dục và Đào tạo đang khẩn trương hoàn thành Đề án đổi mới chương trình giáo dục phổ thông sau

2015 để trình Chính phủ phê duyệt Trên cơ sở những việc đã và đang triển khai, sẽ triển khai mạnh mẽ,

đồng bộ các mặt công tác và các điều kiện đảm bảo để thực hiện Đề án

30 Vì sao nội dung giáo dục nghề nghiệp phải đổi mới theo hướng tích hợp kiến

thức, kĩ năng, thái độ, hình thành năng lực nghề nghiệp cho người học? Sắp tới, sự

đổi mới này sẽ được triển khai?

Hoạt động nghề nghiệp yêu cầu năng lực thực hiện của người lao động Năng lực được hình thành chỉ

Trang 16

thông qua tích hợp kiến thức, kĩ năng và thái độ, đạo đức nghề nghiệp Nếu chỉ có kiến thức và kĩ năng mà

không có thái độ, đạo đức nghề nghiệp đúng đắn thì người lao động sẽ không thể sử dụng kiến thức, kĩ

năng một cách hiệu quả trong công việc, khó có cơ hội tìm việc làm

Chúng ta chưa làm tốt việc tích hợp 3 thành tố trên trong quá trình thiết kế, thực hiện chương trình đào tạo

Các môn học hoặc học phần được thiết kế và thực hiện rời rạc, thiếu tích hợp nên người học khira trường

thường rất lúng túng khi xử lí các vấn đề trong thực tếhành nghề

Những công việc sắp tới cần làm là phải xây dựng tiêu chuẩn kĩ năng nghề nghiệp quốc gia, khung trình độ,

chuẩn chương trình đào tạo dựa vào tiêu chuẩn kĩ năng nghề nghiệp, các tiêu chuẩn đánh giá; biên soạn và

hiện đại hoá giáo trình, bồi dưỡng giáo viên và cán bộ quản lí theo yêu cầu tiếp cận năng lực; tăng cường

đầu tư cơ sở vật chất cho giáo dục nghề nghiệp bằng nhiều nguồn khác nhau; phải có sự hợp tác chặt chẽ,

thường xuyên giữa nhà trường và doanh nghiệp để huy động nguồn lực và cho phép người học sớm làm

quen với thực tế việc làm theo ngành nghề đào tạo…

Thực hiện đổi mới quản lí giáo dục nghề nghiệp, trong đó chú trọng xây dựng quy hoạch cơ sở giáo dục

nghề nghiệp để đảm bảo đầu tư hiệu quả; hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật như Luật giáo dục

nghề nghiệp, Quy chế đào tạo theo tín chỉ; quy định đảm bảo chất lượng; quy định về tiêu chuẩn định mức,

thành lập Hội đồng tư vấn về giáo dục nghề nghiệp…

31 Vì sao cần phân định và phân định như thế nào công tác quản lí nhà nước về

giáo dục và đào tạo với công tác quản trị của các cơ sở giáo dục, đào tạo?

Công tác quản lí nhả nước về giáo dục là nhiệm vụ của cơ quan quản lí nhà nước về giáo dục Công tác

quản trị (điều hành) các hoạt động giáo dục, đào tạo là trách nhiệm của các cơ sở giáo dục, đào tạo Đây là

hai lĩnh vực khác nhau nên cần phải được phânđịnh rõ:

– Thực hiện chương trình cải cách hành chính của Chính phủ và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về phân

cấp quản lí, trong đó có phân cấp quản lí nhà nước về giáo dục Theo đó, phải tăng cường phân cấp nhưng

bảo đảm việc quản lí thống nhất, thông suốt từ Trung ương tới địa phương; một cơ quan có thể làm nhiều

việc nhưng một việc chỉ một cơ quan làm và chịu trách nhiệm chính Cơ quan quản lí giáo dục các cấp

không làm thay những việc mà cơ sở giáo dục hoặc xã hội có thể làm được và làm tốt để hướng tới một xã

hội dân sự

– Cơ quan quản lí giáo dục từ Trung ương tới địa phương phải tập trung nhiệm vụ chủ yếu là xây dựng

chính sách phát triển giáo dục để ban hành theo thẩm quyền, hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành Tập

trung công tác chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức thực hiện các chính sách pháp luật về giáo dục Tăng cường

công tác thanh tra, kiểm tra, khen thưởng và xử lí vi phạm các cơ sở giáo dục trong việc tuân thủ pháp luật

về giáo dục

– Các cơ sở giáo dục, đào tạo được giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm đồng bộ cả về tổ chức thực hiện

nhiệm vụ, nhân lực, tài chính, tài sản để hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao Đổi mới quản trị của

cơ sở giáo dục, đào tạo theo hướng phát huy dân chủ, tính sáng tạo Trong hội đồng trường bảo đảm vai trò

của Đảng uỷ và cơ quan chủ quản Thực hiện cơ chế tự chủ, chịu trách nhiệm giải trình, công khai, chịu sự

giám sát của các chủ thể nhà trường, của Nhà nước và của xã hội, chịu trách nhiệm báo cáo, giải trình

trước các hoạt động thanh tra, kiểm tra của cơ quan quản lí các cấp

32 Ý nghĩa của việc các cơ quan quản lí giáo dục ở địa phương được tham gia

quyết định các vấn đề về nhân sự, tài chính cùng với quản lí thực hiện nhiệm vụ

chuyên môn của giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục nghề nghiệp?

Trang 17

Cơ quan quản lí giáo dục ở địa phương là Sở Giáo dục và Đào tạo, Phòng Giáo dục và Đào tạo Sở Giáo

dục và Đào tạo là cơ quan chuyên môn giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lí nhà nước về giáo dục trên

địa bàn, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về chất lượng giáo dục trên

địa bàn Ở cấp huyện, Phòng Giáo dục và Đào tạo chịu trách nhiệm trước Sở Giáo dục và Đào tạo, Hội

đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cùng cấp về chất lượng giáo dục trên địa bàn huyện Chính phủ đã ban

hành Nghị định số 115/2010/NĐ-CP quy định các cơ quan này có trách nhiệm bảo đảm chất lượng giáo dục

thì phải được tham gia quyết định, quản lí các điều kiện bảo đảm chất lượng giáo dục về nhân sự và tài

chính Tuy nhiên, thời gian qua, việc triển khai của các địa phương còn nhiều mức độ khác nhau, cần phải

tiếp tục quán triệt, thực hiện và rút kinh nghiệm để thực hiện đúng, đầy đủ vàtốt hơn

Do vậy, Nghị quyết Trung ương xác định vấn đề này là hết sức cần thiết để tạo sự đồng thuận trong toàn

Đảng và chính quyền các cấp, thể hiện đổi mới tư duy và phân cấp, tăng tính chủ động, tự chủ và tự chịu

trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị trong quản lí nhà nước về giáo dục

33 Công tác giám sát, thanh tra, kiểm tra đã được đề cập như thế nào trong Nghị

quyết?

Nghị quyết đã xác định một trong những nguyên nhân của các yếu kém về giáo dục trong thời gian qua là

do “công tác quản lí chất lượng, thanh tra, kiểm tra, giám sát chưa được coi trọng đúng mức” Trong điều

kiện đẩy mạnh phân cấp quản lí, giao quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục, đào tạo thì công tác giám sát,

thanh tra, kiểm tra phải được tăng cường Nghị quyết khẳng định: Giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm

cho các cơ sở giáo dục, đào tạo; phát huy vai trò hội đồng trường; thực hiện giám sát của các chủ thể trong

nhà trường và xã hội; tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra của cơ quan quản lí các cấp; bảo đảm dân

chủ, công khai, minh bạch các hoạt động của cơ sở giáo dục theo quy định của pháp luật

34 Thực hiện Nghị quyết, công tác kiểm định chất lượng sẽ được triển khai như thế

nào trong thời gian tới?

Kiểm định chất lượng giáo dục là hoạt động tự đánh giá của cơ sở giáo dục, đào tạo và đánh giá ngoài của

các cơ quan có chức năng đánh giá độc lập (thường được gọi là cơ quan kiểm định chất lượng giáo dục) để

đánh giá các cơ sở giáo dục, đào tạo hoặc đánh giá các chương trình đào tạo theo tiêu chuẩn chất lượng

giáo dục

Kết quả kiểm định chất lượng giáo dục xác nhận mức độ cơ sở giáo dục đáp ứng mục tiêu đề ra trong từng

giai đoạn nhất định, làm căn cứ để cơ sở giáo dục – đào tạo giải trình với các cơ quan quản lí nhà nước có

thẩm quyền và xã hội về thực trạng chất lượng giáo dục, được công khai, là căn cứ tham khảo cho người

học lựa chọn cơ sở giáo dục, đào tạo và nhà sử dụng lao động tuyển chọn nhân lực từ cơ sở đào tạo

Những yêu cầu chungvề kiểm định chất lượng giáo dục đã được đưa vào Luật giáo dục (2005), Luật Sửa

đổi, bổ sung một số điều của luật giáo dục (2009) và Luật Giáo dục đại học (2012) Bộ Giáo dục và Đào tạo

cũng đã ban hành các bộ tiêu chuẩn đánh giá và các quy trình kiểm định chất lượng giáo dục các cấp học,

các quy định về thành lập các tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục và các tiêu chuẩn về kiểm định viên…

Công tác kiểm định chất lượng giáo dục đang được triển khai trong cả nước Tất cả các Sở Giáo dục và

Đào tạo đều có Phòng Khảo thí và Quản lí chất lượng giáo dục Trên 66% số cơ sở giáo dục mầm non, phổ

thông, thường xuyên trong cả nước đã hoàn thành báo cáo tự đánh giá; nhiều cơ sở giáo dục mầm non,

phổ thông, thường xuyên đã được công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục Từ nay đến năm 2020,

tiếp tục huy động tất cả các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, thường xuyên triển khai tự đánh giá, cải

tiến chất lượng và đăng kí kiểm định chất lượng giáo dục theo chu kì 5 năm/lần

Trang 18

Đối với các cơ sở giáo dục đại học và trung cấp chuyên nghiệp, tiếp tục triển khai thực hiện Đề án “Xây

dựng và Phát triển hệ thống kiểm định chất lượng giáo dục đối với giáo dục đại học và trung cấp chuyên

nghiệp giai đoạn 2011 – 2020” theo Quyết định số 4138/QĐ-BGDĐT ngày 20/9/2010 của Bộ trưởng Bộ Giáo

dục và Đào tạo Theo đó, đến hết năm 2015 sẽ thành lập 3 tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục (tổ chức

kiểm định đầu tiên được thành lập theo quyết định số 3568/QĐ-BGDĐT ngày 05/9/2013), đến năm 2020 có

95% số cơ sở giáo dục đại học, trung cấp chuyên nghiệp và các chương trình đào tạo được kiểm định ít

nhất một lần

35 Đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lí giáo dục có vai trò như thế nào trong việc thực

hiện Nghị quyết? Các giải pháp cơ bản để xây dựng và phát triển đội ngũ này trong

thời gian tới?

Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI khẳng định: Cùng với đổi mới cơ chế quản lí, phát triển đội ngũ nhà giáo

và cán bộ quản lí giáo dục là khâu then chốt của đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo Nghị quyết

Trung ương 8 (khoá XI) yêu cầu: “Nâng cao nhận thức về vai trò quyết định chất lượng giáo dục và đào tạo

của đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục” Để xây dựng, phát triển đội ngũ này, cần:

-Xây dựng quy hoạch và kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục gắn với

nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng và hội nhập quốc tế

-Khắc phục tình trạng phân tán các cơ sở đào tạo nhà giáo; tập trung xây dựng một số trường sư phạm,

trường sư phạm kĩ thuật trọng điểm; điều phối hệ thống trường sư phạm theo mục tiêu, kế hoạch đào tạo,

bồi dưỡng nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục trên phạm vicả nước

– Có cơ chế tuyển sinh và cử tuyển riêng để tuyển chọn được những người thực sự có phẩm chất, năng lực

phù hợp vào ngànhsư phạm

– Đổi mới mạnh mẽ mục tiêu, nội dung, phương pháp đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng và đánh giá kết quả

học tập, rèn luyện của nhà giáo theo yêu cầu nâng cao chất lượng, trách nhiệm, đạo đức nhà giáo và năng

lực nghề nghiệp

– Thực hiện chuẩn hoá đội ngũ nhà giáo theo từng cấp học và trình độ đào tạo Tiến tới tất cả giáo viên tiểu

học, trung học cơ sở phải có trình độ đại học trở lên; giáo viên, giảng viên các cơ sở giáo dục nghề nghiệp

có trình độ đại học trở lên và có năng lực sư phạm, năng lực chuyên môn tương ứng với trình độ và ngành

nghề đào tạo; giảng viên cao đẳng, đại học có trình độ từ thạc sĩ trở lên và phải được đào tạo, bồi dưỡng

nghiệp vụ sư phạm Cán bộ quản lí giáo dục các cấp phải được đào tạo về nghiệp vụ quản lí

Có chế độ ưu đãi đối với nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục:

– Việc tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ, tôn vinh nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục phải trên cơ sở đánh giá

thực tế năng lực, đạo đức nghề nghiệp và hiệu quả công tác Có chế độ ưu đãi và quy định hợp lí tuổi nghỉ

hưu đối với nhà giáo có trình độ cao, đồng thời có cơ chế sàng lọc, miễn nhiệm, bố trí công việc khác hoặc

kiên quyết đưa ra khỏi ngành đối với những người không đủ phẩm chất, năng lực, không đáp ứng yêu cầu,

nhiệm vụ

-Lương và các chính sách khác là một trong những yếu tố chính tạo động lực cống hiến và đổi mới giáo dục

của đội ngũ nhà giáo Nghị quyết Trung ương lần này tiếp tục khẳng định:”Lương của nhà giáo được ưu tiên

xếp cao nhất trong hệ thống thang bậc lương hành chính sự nghiệp và có thêm phụ cấp tùy theo tính chất

công việc,theo vùng”

– Có chính sách hỗ trợ giảng viên trẻ về chỗ ở, học tập và nghiên cứu khoa học; khuyến khích đội ngũ nhà

Trang 19

giáo và cán bộ quản lí nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ Bảo đảm bình đẳng về tôn vinh và cơ hội

đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ giữa nhà giáo trường công lập và trường ngoài công lập Tạo

điều kiện để người Việt Nam ở nước ngoài, chuyên gia quốc tế tham gia giảng dạy và nghiên cứu trong

nước

36 Chính sách đầu tư về cơ sở vật chất và trang thiết bị đáp ứng yêu cầu đổi mới

căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo trong điều kiện hiện nay?

Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo, chú trọng nâng cao hiệu quả sử

dụng vốn trong đầu tư, đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, đúng mục đích phù hợp với điều kiện phát triển kinh

tế – xã hội của đất nước

Xây dựng và hoàn thiện cơ chế chính sách để đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục, khuyến khích các doanh

nghiệp tham gia đầu tư cho giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp, khuyến khích

các loại hình giáo dục ngoài công lập Lựa chọn các dự án và khuyến khích đầu tư theo các hình thức BOT,

PPP… nhằm thu hút vốn ngoài ngân sách nhà nước Có chính sách hỗ trợ để có mặt bằng xây dựng

trường

Khai thác triệt để và sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện có, chỉ đầu tư mới khi cần thiết

và phù hợp với quy hoạch phát triển của hệ thống giáo dục

Ưu tiên thực hiện mục tiêu kiên cố hoá trường, lớp học và nhà công vụ cho giáo viên, từng bước hiện đại

hoá cơ sở vật chất kĩ thuật, đặc biệt là hạ tầng công nghệ thông tin Đảm bảo đến 2020 đủ số phòng học

trên lớp và số học sinh mỗi lớp không vượt quá quy định của từng cấp học Trước mắt, ưu tiên đủ số phòng

học, nhà công vụ cho giáo viên, ưu tiên đầu tư cho phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, ưu tiên cho

vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa và vùng đặc biệt khó khăn; đảm bảo đến năm 2015 đủ số phòng

học trên lớp theo quy định

Ưu tiên đầu tư ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin trong công tác quản lí, đánh giá, đổi mới phương

pháp dạy và học, chia sẻ dữ liệu dùng chung nhằm tối ưu hoá nguồn lực đầu tư

Đối với giáo dục mầm non và phổ thông:

– Nhà nước ưu tiên tập trung đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, phát triển các cơ sở giáo dục công lập và có

cơ chế hỗ trợ để đảm bảo từng bước hoàn thành mục tiêu phổ cập theo quy định

– Khuyến khích phát triển các loại hình trường ngoài công lập đáp ứng nhu cầu xã hội về giáo dục chất

lượng cao ở khu vực đô thị và các vùng có điều kiện kinh tế phát triển

– Trên cơ sở quy hoạch mạng lưới trường, lớp học và tận dụng triệt để, có hiệu quả cơ sở vật chất hiện có,

huy động toàn bộ nguồn lực của xã hội để phấn đấu đến 2015 đảm bảo đủ số phòng học cho phổ cập giáo

dục mầm non cho trẻ 5 tuổi và đủ số phòng học cho việc huy động trẻ từ 4 – 5 tuổi ra lớp đạt tỉ lệ 70%, trẻ

dưới 3 tuổi đạt 25% Hoàn thiện hệ thống các trường dân tộc nội trú trong cả nước để đảm bảo tỉ lệ học sinh

dân tộc được học trong các trường nội trú đạt 7 – 12% số học sinh dân tộc Đảm bảo đủ chỗ ở cho học sinh

các trường bán trú Hoàn thiện hệ thống trường chuyên Củng cố và nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục

tiểu học và trung học cơ sở Đảm bảo đủ trường lớp để tiếp nhận 80% học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở

học trung học phổ thông, học nghề hoặc trung cấp chuyên nghiệp Phấn đấu đến 2020, đầu tư xây dựng cơ

sở vật chất cho các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông đủ các phòng chức năng, phòng học bộ môn,

phòng thí nghiệm, phòng học tin học, thư viện… và các khu chức năng khác phục vụ các hoạt động giáo

dục

Trang 20

– Đầu tư có trọng tâm, trọng điểm thiết bị cho các phòng thực hành với mục tiêu nâng cao kĩ năng thực

hành cho học sinh, đầu tư chất lượng và đồng bộ Tăng cường đầu tư xây dựng các phần mềm nghe, nhìn,

thí nghiệm kĩ thuật số, xây dựng bài giảng điện tử trên cơ sở ứng dụng công nghệ thông tin Từng bước đầu

tư hoàn thiện hệ thống hạ tầng công nghệ thông tin cấp trường/địa phương và cấp toàn ngành Xây dựng

cơ sở dữ liệu dùng chung

Đối với giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp:

– Nhà nước tập trung đầu tư xây dựng cơ sở vật chất một số trường đại học, ngành đào tạo trọng điểm,

trường sư phạm

– Tập trung đầu tư hạ tầng công nghệ thông tin của các trường đại học, nâng cao ứng dụng công nghệ

thông tin trong giảng dạy và học tập, lấy trọng tâm là thư viện, tạo lập hệ thống thư viện dùng chung, chia sẻ

dữ liệu trong hệ thống Xây dựng một số thư viện trung tâm thuộc các khối ngành

– Xây dựng một số phòng thí nghiệm trọng điểm ở một số trường đại học để hình thành những trung tâm

nghiên cứu khoa học và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao; xây dựng hệ thống các xưởng, trạm thực

hành nhằm nâng cao tay nghề, kĩ năng nghề nghiệp cho sinh viên

– Đẩy mạnh xã hội hoá đầu tư cho giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học, khuyến khích các doanh

nghiệp, cá nhân sử dụng lao động tham gia hỗ trợ hoạt động đào tạo, lựa chọn các dự án đầu tư để khuyến

khích đầu tư theo hình thức PPP (đầu tư theo hình thức hợp tác công – tư)

(1) Hiện nay, ở nước ta, số người trong độ tuổi lao động gấp đôi số người trong độ tuổi nghỉ hưu

(1) Tên viết tắt của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (tên tiếng Anh là: Organization for Economic

Co-operation and Development).

Trang 21

Chia sẻ:

4 bloggers like this.

Liên quan

Trang 22

104 phản hồi »

03/06/2014 • 15:57

Đọc bài tôi thấy ưng ý ạ, để thử đọc thêm vài lần nữa xem sao ! Có những điều chính yếu được đềcập, ví dụ như ta muốn giáo dục trẻ em thành người như thế nào, hay là việc học suốt đời, liên thôngcác bậc học… Lời lẽ thì ngắn gọn thế thôi nhưng tôi nghĩ trong thực tế đấy sẽ là một sự thay đổi rấtlớn, rất sâu rộng

Tôi cũng muốn làm sao để các giáo viên, học sinh và cha mẹ học sinh tham gia tích cực hơn vàophát triển giáo dục Nhiều khi chỉ một ý tưởng thôi cũng là rất quý Ít nhất thì họ cũng nói họ thích cái

gì và không thích cái gì !Tôi cũng nghĩ ta nên đặt niềm tin vào thày cô và các nhà giáo dục Có những người không xứng đángvới lòng tin ấy, nhưng nói chung là nếu không tin vào những người trí thức chân chính thì ta sẽ chẳngcòn tin vào bất cứ ai Họ là những người xứng đáng được tin tưởng nhất Cho nên tôi nghĩ là ta nênđầu tư tiền bạc vào giáo dục, đặt tiền vào tay các nhà giáo dục và tin tưởng họ Chứ các bác lúc nàocũng sợ thày cô ăn chặn tiền của các bác, rồi các bác đổ tiền vào ăn chơi, hay là iphone ipad, máytính, suốt ngày ngồi đọc facebook chơi games cho đến khờ cả người ra, còn tiền cho giáo dục thì lạikhông muốn chi, rồi các bác xem con cái các bác chúng sẽ ra sao?

Reply ↓

03/06/2014 • 15:59

Ở bên Pháp, tôi thấy người ta thường hay nhóm các trường Mẫu Giáo, Tiểu học, hoặc Trung học CS

và Trung học với nhau, tạo thành một nhóm trường (groupes scolaires) Như vậy các trường chungnhau một cái sân lớn (có lưới sắt ngăn ra ở giữa), có khi có cả một sân vận động nhỏ, và các lớpthay phiên nhau ra chơi Như vậy khiến cho học sinh có được một khoảng không gian lớn, rất thoángđãng, mà lại tiết kiệm Ở VN thì tôi quên mất như thế nào rồi, nhưng tôi nhớ là các trường có nhữngcái sân nhỏ trông hơi chật hẹp

Reply ↓

ư03/06/2014 • 16:15

Ba mươi sáu câu Hỏi-Đáp này, lẽ ra phải là 36 bài đọc khác nhau Quá cô đọng, nên tôi không biếtbắt đầu từ đâu

Trường học là nơi để quá khứ gặp gỡ tương lai, hay cũng là nơi để tương lại gặp gỡ với quá khứ Ở

VN, học sinh đến trường ngồi chờ người thầy đến dạy Ở bên Mỹ, cô thầy đến trường ngồi chờ họcsinh đến học Hình thức có khác nhau, nhưng nguyên tắc thì cũng như nhau

Trang 23

Có thể so sánh trường lớp như một quán ăn Bên ta, học sinh ngồi vào bàn, thầy cô bưng đồ ăn racho các em dùng Bên Mỹ, cô thầy sửa soạn món ăn, học sinh chỉ phải đến, ngồi vào mà ăn.

Căn bản và toàn diện là các món ăn này có ngon không, có hợp khẩu vị, có tinh khiết, có nuôi dưỡng

để các em lớn lên hay không, hay quá nhiều bột ngọt, nhiều mỡ, nhiều độc tố, làm các em béo phì,

dễ sinh bệnh

Nói đến đây, tôi thấy tội nghiệp cho giới trẻ ngày nay Về thể chất, người ta “như” đang nuôi nhữngcon vật cho chúng béo phì, nhưng bệnh hoạn ? Về tinh thần, thì sao nhỉ ? Chúng ta có thực sự vuntrồng một thế hệ lành mạnh, yêu thương, tự do, ấm no, và hạnh phúc, hay chúng ta đang đầu độcchúng, bỏ bê chúng, cách này cách khác, vì quyền lợi kinh tế cá nhân, hay vì lợi lộc của một nhómngười

Tương lai của chúng ta đấy ! Chúng ta có dám hy sinh để tương lai của chúng ta đẹp đẽ hơn không?

(Đặt vấn đề thế thôi Thực sự, không bi quan như vậy Con người ngày nay thông minh hơn, đang tìm

về với thiên nhiên Để tồn tại, chúng ta biết, mình chỉ có một căn nhà là trái đất Cũng như về thựcphẩm, người dân đang chọn những món ăn lành mạnh, thì về giáo dục, cha mẹ cũng đang tìm chocon cái mình… những ngôi trường tốt Phước của dân tộc mình còn lớn… !)

Reply ↓

04/06/2014 • 02:40

“Những hạn chế, yếu kém chủ yếu của giáo dục và đào tạo nước nhà trong những năm vừa qua?

Nguyên nhân?” : Tôi còn thấy một cái hạn chế yếu kém của giáo dục và đào tạo là giáo dục về thểchất còn chưa được cải thiện Trẻ em của ta sức khỏe yếu ớt, không có sức bền Mỗi tuần nên có 2buổi học thể dục thể thao, trong đó có hướng dẫn các em cách ăn uống, sinh hoạt, giữ gìn sức khỏe

Bởi vì nhiều khi, ở nhà, bố mẹ chúng nó dốt, làm tầm bậy tầm bạ à !

Reply ↓

04/06/2014 • 02:48

“Những thành tựu, kết quả nổi bật của giáo dục và đào tạo nước nhà trong những năm vừa qua?

Nguyên nhân?” : thành tựu kết quả của ta là, tụi học sinh đi du học phần nhiều là chăm học, học giỏi,chứng tỏ là giáo dục phổ thông cũng không tồi, nhưng mà, như vậy có nghĩa là giáo dục đại học kém

!

Reply ↓

Trang 24

04/06/2014 • 03:02

Về hội nhập quốc tế, tôi mong muốn ta làm mạnh hơn nữa Liệu mỗi trường có thể có vài lớp theochương trình song ngữ, trong đó học sinh, từ bậc PTCS, sẽ theo học các môn KHTN bằng tiếng Anh,dùng SGK tiếng Anh? Phụ huynh đóng thêm tiền, và tôi nghĩ là các nước Anh Mỹ sẽ quan tâm, tàitrợ, vì điều đó cũng có lợi cho họ (họ cũng thèm học sinh giỏi) Trước đây đã có chương trình songngữ tương tự bằng tiếng Pháp, theo như tôi được biết, và có vẻ cũng thành công Sau này nhiều họcsinh của mình theo học tiếp bên Pháp, thấy người Pháp cũng có vẻ hài lòng lắm

Reply ↓

ư04/06/2014 • 18:21

Hồi đầu năm, Học khu Garden Grove, chấp thuận cho phép chương trình VELI, VietnameseEnglish Language Immersion, được thành hình tại Cali Tôi hỏi các thầy giáo dạy Tiếng Việttrong Học khu thì biết chương trình chưa đi đến đâu Vấn đề 1 là tìm đâu ra những GV nói thôngthạo được cả hai ngôn ngữ Vấn đề 2 là “đầu tiên”, tiền đâu Sở dĩ, tiếng Hoa và tiếng Đại Hàn

đã thành công, là vì họ được nguồn tài trợ từ Nam Hàn và Trung Quốc Chương trình của Mễ bịthất bại vì không có tiền VELI sẽ theo gót chân ai?

Tôi nghĩ ở VN cũng có chương trình song ngữ loại này rồi, nhưng chưa phổ biến và học phí còncao, vì là trường tư thục Chương trình song ngữ đích thực phải bắt đầu từ Vỡ lòng SGK vàthầy cô sẽ không thiếu Chỉ lo các cụ phụ huynh nhà mình lại bảo: Mất gốc ! Đồng ý, khi học mộtngôn ngữ khác, phải học cho đến khi “cảm” được cái “ẩn khúc” của nó thì mới “khoái” Hômtrước, đọc cái comment của ai đấy có câu “ne t’en fais pas!” nghe đã lắm Cũng như người Tâynói tiếng Việt phải biết dùng ca dao tục ngữ, thì nghe mới “thông minh.”

Mà “khoái” để làm gì, có phải là nhu cầu, hay giúp ích gì cho xã hội không?

Reply ↓

04/06/2014 • 16:10

Về hội nhập quốc tế, tôi vẫn còn thiết tha với ý tưởng dùng SGK môn Ngữ văn của nước ngoài làmSGK môn ngoại ngữ của mình lắm, không biết các bác nghĩ thế nào? (Các bác đừng nghe bạn TH,tôi đảm bảo bạn ấy không phải là dân chuyên văn đâu) Ngôn ngữ hay nhất, tinh tế nhất, đầy đủ nhất,

mà cũng dễ hiểu và giàu cảm xúc nhất, là ngôn ngữ văn học Các bác mà có dịp nói chuyện với cácnhà văn, các bác mới thấy họ nói năng, dùng từ ngữ, hình ảnh… hay và chuẩn xác đến thế nào

Trang 25

Trong thực tế, những người học văn, hay giỏi văn, đều nói năng sử dụng ngôn ngữ, diễn đạt hay hơnngười thường Thế mà, SGK môn ngữ văn của một nước, là họ đã chọn lọc ra những tác giả, nhữngáng văn hay nhất, do các chuyên gia văn học tuyển chọn, sách ấy của họ mà mình không dùng, thìthật là một sự uổng phí lớn Đọc sách của họ, ta còn hiểu thêm tư tưởng, tâm hồn của họ, đấy là hộinhập quốc tế chứ còn gì nữa?

Nếu mà ta đặt vấn đề với họ, tôi tin khả năng rất cao là họ sẽ hỗ trợ, vì tất nhiên là họ sẽ rất thích làngười ta học ngôn ngữ và văn học của họ Hiểu nhau hơn thì bớt đánh nhau, dễ làm việc với nhauhơn Nếu không đủ sức làm trong cả nước, thì ta có thể làm thí điểm ở một số trường lớn Đây là mộtthí nghiệm hết sức tốt đẹp chứ không có “chuột bạch” gì cả, bởi vì đấy là SGK của những nước vănminh tiên tiến, bác nào mà còn chê nữa thì là bác ấy ngu như bò !

Reply ↓

ả04/06/2014 • 16:56

Cái câu cuối làm hỏng cả bài văn của bạn đấy LH à

Mình đâu có dụ dỗ ai phải theo ý mình đâu Ai cũng có ý kiến riêng, như kiểu …người này nghĩ

là con bò nó ngu, người kia lại nghĩ nó không đến nỗi ngu như nhiều người nghĩ Thời đại nàycon người có điều kiện để tự tìm hiểu thông tin, tự chắt lọc được cái gì cần và tốt cho cá nhân

họ Nghĩ thế nào, làm thế nào cũng được, nhưng mà LH bảo “bác nào mà còn chê nữa thì là bác

ấy ngu như bò” thì là không thể được Bạn LH lấy câu nói đó của bạn làm ví dụ cho “cách diễnđạt hay hơn người thường …của những người học văn hay giỏi văn” thì mình e rằng nó phảntác dụng quá Đọc luận văn của Nhã Thuyên còn thú vị hơn!

Chúc bạn LH giữa tuần vui vẻ nhé!

Trang 26

Đây các bác đọc bài này xem có hay không?

post145483.gd

http://giaoduc.net.vn/Giao-duc-24h/La-thuong-ong-bo-sinh-vien-di-thi-tot-nghiep-pho-thong-Mặc dù cái báo Giáo dục tôi đọc rất là ghét, tôi có cảm tưởng ở đấy toàn các vị ù lì, bảo thủ, khôngthân thiện với ông Phạm Vũ Luận Nhưng mà thôi, coi như là họ cũng đóng góp vào phần phản biệncho ông ấy Nói chung tôi thấy ông PVL không tồi chút nào, ông ấy kết hợp được công sức và trí tuệcủa tất cả mọi người để đóng góp cho giáo dục, tôi cho đấy là phẩm chất quý nhất của một nhà lãnhđạo Tất nhiên nếu ông ấy làm cái gì mới, khác đi, thì người ta sẽ nghi ngờ, và những người bảo thủ

sẽ ghét, nhưng những người cấp tiến sẽ thích

Tôi cảm nhận rất rõ những biến chuyển của ngành giáo dục Trước tiên là, học sinh đi thi thoải máihơn Có thể là do đề thi dễ hơn, nhưng tôi không nghĩ vậy, mà tôi cho rằng là, học sinh được học vàchọn thi những môn hợp với sở trường của mình, nên các em phát huy được năng lực của mình mộtcách mạnh mẽ hơn

Bài báo nói trên, nói về một phụ huynh đi thi, là một điều rất tuyệt vời, nó cho thấy lòng tin đối vớigiáo dục bắt đầu quay trở lại, và chúng ta sẽ giáo dục không chỉ học sinh, mà còn cả phụ huynh nữa

Ở bên Pháp, tôi biết nhiều trường hợp người Pháp thất nghiệp, họ đi học lại, sau đó học thêm mộtlớp học nghề, cũng chỉ mất chừng 6-8 thôi, sau đó họ làm nghề mới, và họ rất sung sướng, hài lòng,lương cao hơn (tôi biết có bà vốn làm nhân viên bán hàng, chuyển qua học hướng dẫn viên du lịch,lương mới rất cao, nàng sung sướng kinh khủng, nghĩ mãi không biết nên xài tiền vào việc gì)

Các bác cứ kêu gào về chuyện cử nhân thất nghiệp, chứ lẽ ra các bác phải khuyến khích họ lao độngchân tay Với tri thức của họ, có lao động chân tay một thời gian rồi sớm muộn họ cũng trở thành ôngchủ Tôi biết ở VN, có những người làm phục vụ bàn, sau này thì họ tự mở nhà hàng, có người làmhướng dẫn viên du lịch, sau này làm chủ hãng du lịch tư nhân Ở bên Pháp, tôi thường bắt đầu bằngviệc trông trẻ, phục vụ bàn hay là làm phòng ở khách sạn, nhưng chỉ sau một thời gian là lên làm sếpngay Nhưng vấn đề là, ta không được coi rẻ lao động chân tay, ta phải lao động, thì mới biết cáchchỉ huy người khác cho đúng đắn Sau này, mở doanh nghiệp, lại còn tạo thêm công ăn việc làm chongười khác Kẻ nào lười lao động chân tay thì cứ mặc kệ cho chúng đói khát !

Hihi, viết comment dài, chỉ sợ nó lại rơi vào spam thì vừa tiếc công lại vừa tức lồng lộn

Reply ↓

04/06/2014 • 16:53

6-8 tháng

Reply ↓

Trang 27

05/06/2014 • 07:30

Đầu đề, với cái tít đổi mới Toàn Diện là thấy không ưa rồi, mang sắc màu của các bác cs Đừng nghe

họ nói mà hãy xem họ làm

Reply ↓

05/06/2014 • 08:24

Đây là bài viết tầm thường, sáo mòn, không đáng giá

Reply ↓

Trang 28

05/06/2014 • 09:36

Tôi chỉ ra vài mâu thuẫn ngay trong bài viết

Mục 2.1 mâu thuẫn với 3.5 và 3.6: “Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục còn nhiều bấtcập về chất lượng, số lượng và cơ cấu; một bộ phận chưa theo kịp yêu cầu đổi mới và phát triểngiáo dục, thiếu tâm huyết, thậm chí vi phạm đạo đức nghề nghiệp.” “Cơ sở vật chất kĩ thuật cònthiếu và lạc hậu” Như thế là hệ thống trường lớp và quy mô giáo dục “đáp nhưng chưa ứng” vớinhu cầu về giáo dục của xã hội

2.2 mâu thuẫn với 3.6: “Cơ sở vật chất kĩ thuật còn thiếu và lạc hậu, nhất là ở vùng sâu, vùng

xa, vùng đặc biệt khó khăn” Tức là vùng sâu, vùng xa được đầu tư kém hơn vùng đồng bằng,thành thị Thế là chưa có công bằng xã hội chứ Sao lại là “Công bằng xã hội trong tiếp cận giáodục có nhiều tiến bộ, nhất là đối với người dân tộc thiểu số” ?

2.4 và 2.5 mâu thuẫn với 3.4 và 3.5:

Nếu quản lí giáo dục có nhiều yếu kém thì cũng là bình thường vì sự lớn lên của quản lí giáodục chậm hơn sự lớn lên của hoạt động giáo dục Nhưng “nhiều hiện tượng tiêu cực kéo dàitrong giáo dục” thì làm sao có thể nói là “quản lí giáo dục có bước chuyển biến tích cực” được?

phải nói là quản lí giáo dục chưa có chuyển biến gì chứ?

“Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục còn nhiều bất cập về chất lượng, số lượng và cơcấu; một bộ phận chưa theo kịp yêu cầu đổi mới và phát triển giáo dục, thiếu tâm huyết, thậmchí vi phạm đạo đức nghề nghiệp.” Thế là đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí đáp nhưng chưaứng với yêu cầu phát triển của giáo dục chứ?

2.3 mâu thuẫn với 3.1: Đã là “thấp so với yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội” thì phải là chưa đápứng được yêu cầu nhân lực phục vụ cho phát triển kinh tế – xã hội chứ!

KHÔNG CHẤP NHẬN NỔI AI MÀ VIẾT KÉM THẾ NÀY?

– Thật ra mà nói, không phải so với bạn bè thế giới, nền giáo dục nước nhà từ sau 1975 đến nayhoàn toàn tụt hậu so với nền giáo dục thời Pháp thuộc trước 1945 và nền giáo dục của Miền NamViệt Nam trước 1975 về tất cả các mặt Cho nên, bây giờ nói “đổi mới toàn diện giáo dục” là cách nóivừa đúng vừa không đúng Đúng là vì nhất định phải thay đổi hiện trạng nền giáo dục hiện nay; cònkhông đúng là so với giáo dục thời Pháp thuộc và giáo dục ở miền Nam trước 1975 Có thể thấy, tất

cả những vấn đặt ra trong lần “đổi mới” này đều là những vấn đề mà giáo dục dưới thời Pháp thuộc

và giáo dục ở miền Nam trước 1975 đã triển khai và thành công rồi, tất cả những chuyện này người

Trang 29

ta đã làm rồi Chẳng qua từ khi nước nhà thống nhất để “tiến lên CNXH” mấy chục năm qua, các vị

“lãnh đạo sáng suốt” của ta đã không biết trân trọng mà thẳng tay chà đạp và loại bỏ đi những thànhtựu của giáo dục miền Nam trước đó (vì cho rằng đó là nền giáo dục “của địch”, “của ngụy”, của “kẻthù”…) Vì thế, những chuyện mà người đi trước đã làm rồi giờ mình làm lại thì không thể nói là “đổimới” được; phải nói là “sửa sai” hay “bắt chước” thì chính xác hơn chăng?

– Cho nên, liệt kê ra hàng đống “thành tựu” như trên chẳng qua vẫn là biểu hiện của tâm lý “tự sướngmột mình trong đêm đen”; là không chịu thừa nhận sai sót, không dám nhìn thẳng vào sự thật để màhối cãi; là bảo thủ, là không biết phê và tự phê sự yếu kém của mình Và nếu vẫn giữ cách nhìn, cách

tư duy như vậy thì việc bàn chuyện đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục nếu không phải hôhào suông thì cũng là mị dân mà thôi

– Muốn đánh giá môt nền giáo dục đạt được thành tựu đến mức nào phải nhìn vào thực trạng củađất nước ở tất cả mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hóa,… trong thế đối sánh với bạn bè kháctrên thế giới chứ không phải so sánh với chính mình “hôm qua và hôm nay” Sản phẩm của giáo dụcsuy cho cùng là con người; thành tựu của nền giáo dục là thành tựu về con người; con người biếtlàm và làm được việc; con người biết làm chính trị, biết làm kinh tế, biết vun bồi văn hóa…để xâydựng và phát triển đất nước ngày một giàu, mạnh, văn minh, dân chủ, tự do… Mấy mươi năm qua,

so với thế giới Việt Nam vẫn là một nước nghèo nàn, lạc hậu và trì trệ về mọi mặt; vẫn bị xem là

“nước nhỏ”, bị người anh em đồng chí 4 tốt và 26 chữ vàng hiếp đáp… Tại sao như vậy? Là vì sảnphẩm do nền giáo dục XHCN đào tạo nên phần nhiều chỉ nói mà không làm được; chỉ giỏi hô hào, tựsướng, chỉ giỏi báo cáo trên giấy, chỉ giỏi ảo tưởng về nền giáo dục và đất nước của mình… Sự thật

rõ ràng như vậy, ai cũng thấy thế nhưng vẫn hùng hồn cho rằng mình đạt được nhiều thành tựu thì cóphải trơ trẽn và lố bịch quá không?

– Thôi thì, hãy nghiêm túc một lần thử so sánh sản phẩm giáo dục (con người) thời thuộc Pháp trước

1945 sản phầm giáo dục miền Nam trước 1975 với sản phẩm giáo dục của nước nhà từ sau 1975theo định hướng XHCN sẽ thấy những cá nhân có sức ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển củađất nước được lịch sử nước nhà ghi nhận có sự chênh lệch đến mức nào? Từ đó sẽ thấy nền giáodục theo định hướng XHCN từ khi nước nhà thống nhất đến nay đạt được thành tựu gì, mức độnào…?

Reply ↓

05/06/2014 • 15:30

Bác Rất là buồn, bác đã so sánh thì bác phải so sánh luôn số lượng người đi học và số tiền bỏ

ra cho giáo dục chứ ! Thời Pháp có bao nhiêu người được đi học? Con nhà nghèo họ có được

đi học không? Thời miền Nam Cộng Hòa lương giáo sư một tháng là bao nhiêu (khổ quá cứ nóiđến con số là tôi lại nhầm lẫn lung tung, đại khái là 3 cây vàng hay 30 cây vàng gì đấy !) Tiềnđầu tư cho giáo dục MNCH ở đâu ra? Họ tự phát triển kinh tế tạo ra hay là nhận tiền trợ cấp củaMỹ? Dân nghèo có được đi học không? Mà nền giáo dục tốt như thế, sao họ đào tạo ra nhữngcon người tham nhũng đến mất cả nước như vậy?

Reply ↓

Trang 30

Mà sao bạn hỏi câu hỏi đó ? Trước giờ bạn nghĩ là chỉ có trẻ em miền Bắc được đi học ?

3) Rồi bạn LH lý luận : “Mà nền giáo dục tốt như thế, sao VNCH đào tạo ra những conngười tham nhũng đến mất cả nước như vậy?”

Vậy nếu dùng cái lý thuyết của bạn thì ai cũng có thể hỏi :

“Với những cán bộ được giáo dục ở miền Bắc, thì tính ra họ được tiếp thụ nền giáo dục củaCộng sản VN tới 50-60 năm

Nhưng sao nền giáo dục XHCN tốt thế mà Cộng sản VN đào tạo ra cái xã hội tham những

từ trên xuống dưới, từ ông lớn tới chú công an đứng đường, từ công chức trong nước tớiviên chức lãnh sự quán ngoài nước ?”

4) Cuối cùng, yếu tố phe Cộng sản chiến thắng ở nhiều nơi (VN, TQ, Đông Âu, Cuba,Yugoslavia, Yemen, Algeria, Syria, v.v) thời còn Chiến tranh lạnh không nói lên được nềngiáo dục

Thật ra, một quốc gia có thể có một nền giáo dục tồi tệ, thối nát, phi-giáo-dục, phi-văn-hóa,nhưng quốc gia đó vẫn có thể sản xuất ra được hàng nghìn bộ đội chiến sinh sẳn sàng hysinh

Do đó, để đánh giết tốt, không cần một xã hội có tri thức cao, không cần một xã hội văn hóaphát triển lành mạnh Những quốc gia như Cộng sản TQ, Triều Tiên, các nước Cộng sảnĐông Âu, nhìn chung, đã chứng minh: để đánh giết tốt thì cần một xã hội có văn hóa thấp,tri thức thấp

Reply ↓

ư08/06/2014 • 18:23

Trang 31

Đọc comment này, tôi mà là LH, sẽ buồn lắm Cũng như comment hôm nọ, cái vụ “ngunhư bò,” tôi mà là TH, sẽ giận LH lắm (nhắc lại cho vui!) Tôi có tật hay trích KT, bênTây họ coi KT như ca dao tục ngữ bên mình, họ chấp nhận một cách chung chung KTnói: “vì mày đã ăn trái cây biết lành biết dữ, nên mày phải chết” (Chúa nói với Adam vàEva như vậy) Nghĩa bóng, cây biết lành biết dữ là ước muốn học khôn; chết đâykhông phải là chết tự nhiên, mà là chết tức tưởi, chết vô lý, xã hội đổ vỡ… vì do hằnthù nhau.

Hồi mới sang Mỹ, tôi gặp một ông cha già trong công viên, ông cho tôi 20 đô, rồikhuyên: con đừng học nữa (đừng ăn trái cấm), đi làm đi Nếu tôi quay lại mà xin: Chagiới thiệu việc làm cho con đi, thì bây giờ, cuộc đời tôi có lẽ khác

Nhưng mà tôi đã đi học… tôi đã phê bình và chỉ trích chính phủ Mỹ… tôi đã phê bình

và chỉ trích tôn giáo … tôi đã phê bình và chỉ trích … Có lẽ, học nhiều quá không tốtchăng? hoặc, kém tốt, hơn là học đến nơi đến chốn Aristotlte bảo: con người lànhững thói quen Vậy thì, nhân đức là những thói quen được lập đi lập lại

A… đó mới là điều ta nên HỌC … Tôi sẽ học kính trọng phụ nữ … tôi sẽ học chờ mởcửa cho người khác…

ư08/06/2014 • 18:36

Đọc comment này = Đọc comment của HoQuang ở trên

ả08/06/2014 • 19:03

Bác Huyên ơi, em thấy bạn HoQuang đi thẳng vào vấn đề chứ có xúc phạm cá nhânnào đâu! Em không hiểu bác buồn vì điều gì?

Còn bạn LH hay nói về mọi người như thế nào thì mọi người từ trước tới giờ ai cũngbiết Em mà có thời gian và sức lực để giận những vụ vặt vẽo như thế này thì nêntham gia mấy diễn đàn ở cấp mẫu giáo ạ Em chỉ cười thôi rồi lo nghĩ chuyện khác,bác Huyên ạ Diễn đàn chỉ là nơi trao đổi ý kiến, chứ không thể tìm bạn tri kỷ hay nốikhố, thành ra em cứ vui vẻ mà đóng góp ý kiến thôi!

08/06/2014 • 20:26

Bác pnh, em không bao giờ buồn, em chỉ buồn khi nào thất tình thôi !

Trang 32

Vụ “ngu như bò” là không phải em nói TH, đó là em nói mấy bác hay thấy cái gì đổimới thì lại bảo là “đem trẻ con ra làm chuột bạch thí nghiệm”, thì bây giờ em nói là nếudùng SGK của các nước văn minh thí nghiệm, thì không phải là chuột bạch nữa, cònnói “chuột bạch” nữa, thì là “ngu như bò” Đây chính là “bi kịch đọc không vỡ chữ” củabác !

Mà mấy cái nước đánh nhau loạn xạ, chết người hàng ngày, trẻ con không được đihọc, là mấy cái nước dân chủ của Mỹ đấy chứ, mấy nước Cộng sản bao lâu nay cóthấy đánh nhau gì đâu?

08/06/2014 • 21:06

Cái nền GD tồi tệ, thối nát, phi văn hóa, phi giáo dục, với cái xã hội văn hóa thấp, trithức thấp của miền Bắc nó cũng tạo ra các ông NBC, ĐTS, VHV, NTD… và vô khốiông khác kìa ! Còn sản phẩm giáo dục của miền Nam là bạn HoQuang thì từ từ để đấytôi chỉ cho các bác xem bạn ấy lý luận kém như thế nào!

08/06/2014 • 22:17

Nếu một người nào đó rất thân mật, đặt câu hỏi một cách chân thành với GS Ngô BảoChâu, thì chưa chắc GS sẽ trả lời là nền giáo dục XHCN ở miền Bắc là yếu tố TẤTYẾU đã làm cho GS có giải Fields Thật ra thì không Nếu nói một cách đơn thuần hóa,thì cái yếu tố TẤT YẾU là nền giáo dục Pháp và phương Tây (tức là bao gồm sách báokhoa học về Toán, các giáo sư GIÀ 50-70 tuổi), và trí thông minh của GS NBC

Bạn LH, đã nhiều lần bạn lý luận kiểu du kích, khi bị phản hồi thì dùng những dẫnchứng ít liên quan (“lỗi chính tả”!), ít thuyết phục (“Nhờ nền Giáo dục quá tốt của miềnBắc mà VN mới có NBC” !)

Những lý lẽ hồi đầu của bạn LH, và lý luận phản hồi, thì bạn LH không chủ tâm vào

Trang 33

Điển hình, “Viết sai chính tả, ngữ pháp.”

Trong khi đó, ai cũng biết là mọi cái vấn đề Chính Tả, ngữ pháp, trên các trang mang,trong báo chí, trong các forum, là cả một chủ đề dài có thể được tranh cãi vài trang tớivài chục trang mà vẫn chưa hết

Vậy xin bạn LH trả lời câu hỏi sau đây liên quan trực tiếp với vấn đề “Viết sai chính tả,ngữ pháp.”

Bạn LH cam kết : sách báo chí, bảng biểu ngữ, trong nước có viết sai chính tảkhông ?

Sao không nghe bạn LH hỏi kiểu: “Không biết các cán bộ, các nhà báo, các nhàviết biểu ngữ ấy học được từ cái xã hội thối nát nào mà viết sai chính tả nữa “?

Hây là bạn lại : a) Lý lẽ lượn lẹo là “CÓ SAI chính tả NHƯNG ÍT”, “CÓ SAI chính tảNHƯNG KHÔNG SAO !” , b) Im luôn và lại lý luận với 1 vấn đề khác nữa

Thật ra, chỉ có bạn LH là không hiểu lý luận phản hồi thôi chứ ai ở đây mà không hiểu

Hồi đầu thì bạn lý lẽ là :

Nhà nghèo thời Pháp là không được đi học “Dân nghèo miền Nam có được đi họckhông?” Rồi còn ngụy biện với câu hỏi “Mà nền giáo dục tốt như thế, sao VNCH đàotạo ra những con người tham nhũng đến mất cả nước như vậy”

Khi người ta hỏi lại:

1) Bạn LH có chắc không là– a) Nếu là con nhà nghèo thời Pháp thì “không được đi học” và– b) Nếu là “con nhà nghèo thời sau 1954 ở miền Bắc thì được đi học” ?

2) Rồi người ta trả lời khi bạn LH hỏi: “Dân nghèo miền Nam có được đi học không?”

Nhưng bạn ấy im luôn

4) Rồi khi người ta chỉ cho bạn ấy thấy là:

“Cuối cùng, yếu tố phe Cộng sản chiến thắng ở nhiều nơi (VN, TQ, Đông Âu, Cuba,Yugoslavia, Yemen, Algeria, Syria, v.v) thời còn Chiến tranh lạnh không nói lên đượcnền giáo dục

Thật ra, một quốc gia có thể có một nền giáo dục tồi tệ, thối nát, phi-giáo-dục,

Trang 34

phi-văn-hóa, nhưng quốc gia đó vẫn có thể sản xuất ra được hàng nghìn bộ đội chiến sĩ sẳnsàng hy sinh.”

thì bạn ấy hỏi lại : “Cộng sản VN có một nền giáo dục tồi tệ, thối nát, giáo-dục, văn-hóa … mà có được NBC, ĐTS, VHV, NTD…”

phi-Nếu bạn ấy đọc cho kỹ thì sẽ thấy : “Thật ra, một quốc gia có thể có một nền giáo dụctồi tệ, thối nát, phi-giáo-dục, phi-văn-hóa, nhưng quốc gia đó vẫn có thể sản xuất rađược hàng nghìn bộ đội chiến sĩ sẳn sàng hy sinh.” là đúng

Điển hình: “một quốc gia (Cộng sản TQ) có thể có một nền giáo dục tồi tệ, thối nát, giáo-dục, phi-văn-hóa, nhưng …” Cái này ai cũng có thể kiểm chứng được: Cộng sản

phi-TQ đánh bại phi-TQ Quốc Dân Đảng Nhưng chưa chắc nền giáo dục của Cộng sản phi-TQ làtốt hơn

Bạn ấy hỏi : “Trẻ em nghèo miền Nam VNCH có được đi học không” đã cho thấy cái tưduy kiểu “nhờ ơn Cộng sản mà trẻ em nghèo được đi học”

Người ta có thể chứng minh cho bạn ấy là thời Pháp, đã có trường cho trẻ em nghèorồi Và người ta cũng có thể chứng minh cho bạn ấy là miền Nam cũng có trường chotrẻ em nghèo rồi chứ không phải chỉ giàu mới được đi học

ả08/06/2014 • 22:19

LH ơi, bạn nên tìm hiểu lại lịch sử, về chiến tranh lạnh thì sẽ thấy bạn HoQuang khôngphải nói sai đâu Mà mình là nhân chứng sống đấy vì được tay nắm tag với mấy bạnCộng sản Algeria, Syria và Yemen thời còn chiến tranh lạnh Còn hiện tại ở Biển Đông,Ukraina đang chiến trang nóng, vậy LH có biết ai oánh ai không

ả08/06/2014 • 22:26

Xin lỗi vì bàn phím không nhậy cho lắm nên chạm tay vào chữ h nó ra chữ g Mọingười mắc lỗi chính tả là do sơ xuất khi dùng bàn phím, chứ không thể mắc lỗi kiểunày khi nói hay viết tay được!

Còn bàn về các thiên tài gốc XHCN thì nên hỏi tại sao họ đều chọn đất tư bản để lậpnghiệp

Trang 35

mà lại đi bắn rocquettes, đưa xe tăng, xe bọc thép vào tấn công một thành phố có dâncủa mình cả Thật là ghê tởm không có lời nào tả nổi Chẳng qua là, tất cả bọn đằngsau lão ấy muốn chiến tranh, lão ấy mà không làm thế chắc chúng cũng xực lão luôn.

Còn Cộng sản Hồi giáo, ở mức độ cá nhân hay nhóm thì là ngoại lệ thôi, còn về thểchế thì TH có biết có chính quyền Hồi giáo cộng sản nào không, nói cho mình biết với?

ả08/06/2014 • 23:28

Tại tụi mình từng sống trong chế độ XHCN nên chỉ biết anh hùng và người tài củaXHCN, còn biết bao người tài của nhân loại không thuộc chế độ đó thì tụi mình đâu cóđược tìm hiểu đâu Thế nhưng cũng hơi buồn cười khi cách đây mấy năm anh Roeslercủa Đảng FDP (đặc mùi tư bản) nhậm chức Bộ trưởng bộ KT, kiêm phó thủ tướng Đứcthì VN ta cứ tự hào như người tài Đất Việt Trong khi đó anh ấy thành thật chia sẻ làkhông có chút liên hệ nào tới VN vì khi được nhận làm con nuôi của một cặp vợ chồngTây Đức thì mới có 11 tháng tuổi Giấy tờ về cha mẹ đẻ thì bị chính quyền cộng sảnđốt hết Anh ta về VN với tư cách là người Đức, làm chính trị, chứ không phải ngườicon đất Việt về thăm quê!

ả08/06/2014 • 23:44

Mình đã nói là bạn LH nên tìm hiểu lại lịch sử, về chiến tranh lạnh xem ai cấu kết với

ai Thôi thì đưa cho bạn một cái link về liên minh Soviet-Syria làm ví dụ Còn lại bạnthích thì tự tìm hiểu Mình không muốn đi xa quá vấn đề, liên lụy đến diễn đàn vì nóichuyện riêng quá nhiều

http://www.jewishpolicycenter.org/833/the-syria-soviet-alliance

Ngày đăng: 28/09/2018, 21:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w