1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động của các công ty ngành dược phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam

94 228 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu Bài nghiên cứu tập trung vào các mục tiêu: - Hệ thống hóa các lý luận cơ bản về nhu cầu vốn lưu động và thiết lập mô hình cho phép xác định các nhân tố tác động đến

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG -

MAI ĐĂNG PHÁP

NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NHU CẦU VỐN LƯU ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY NGÀNH DƯỢC PHẨM NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Đà Nẵng – Năm 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG -

MAI ĐĂNG PHÁP

NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NHU CẦU VỐN LƯU ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY NGÀNH DƯỢC PHẨM NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

Chuyên ngành: Tài Chính – Ngân Hàng

Mã số: 60.34.02.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Hướng dẫn khoa học: TS ĐINH BẢO NGỌC

Đà Nẵng – Năm 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng

được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Mai Đăng Pháp

Trang 4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 5

2.2

ROA và ROE trung bình của các công ty trong nghiên cứu chia theo hai lĩnh vực phân phối và sản xuất

30

Trang 7

DANH MỤC HÌNH ẢNH

Số hiệu

Trang 8

3.13 Kết quả kiểm định Breusch-Pagan 62

Trang 9

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Câu hỏi nghiên cứu 2

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 3

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4

7 Bố cục đề tài 5

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHU CẦU VỐN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NHU CẦU VỐN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP 6

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN LƯU ĐỘNG VÀ VỐN LƯU ĐỘNG RÒNG CỦA DOANH NGHIỆP 6

1.1.1 Cách tiếp cận các khái niệm liên quan đến vốn lưu động 6

1.1.2 Khái niệm vốn lưu động của doanh nghiệp (Working Capital) 8

1.1.3 Vai trò của vốn lưu động của doanh nghiệp 9

1.1.4 Phân loại vốn lưu động 9

1.1.5 Vốn lưu động ròng của doanh nghiệp (Net Working Capital) 12

1.1.6 Chính sách quản lý vốn lưu động của doanh nghiệp (Working Capital Policy) 13

1.2 NHU CẦU VỐN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP 17

1.2.1 Khái niệm nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp (Working Capital Requirement) 17

1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp 19

Trang 10

1.3 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ CÁC NHÂN

TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NHU CẦU VỐN LƯU ĐỘNG 24

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 27

CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 28

2.1 GIỚI THIỆU CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH DƯỢC PHẨM NIÊM YẾT TẠI VIỆT NAM 28

2.1.1 Giới thiệu khái quát ngành dược phẩm Việt Nam 28

2.1.2 Giới thiệu các doanh nghiệp ngành dược phẩm niêm yết tại Việt Nam 28

2.1.3 Khái quát kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp ngành dược phẩm niêm yết tại Việt Nam 29

2.2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 30

2.2.1 Mô hình nghiên cứu 30

2.2.2 Các biến quan sát trong mô hình nghiên cứu 31

2.2.3 Phương pháp ước lượng 36

2.3 DỮ LIỆU SỬ DỤNG TRONG NGHIÊN CỨU 40

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 42

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ CÁC HÀM Ý CHÍNH SÁCH 43

3.1 THỐNG KÊ MÔ TẢ CÁC BIẾN 43

3.2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 57

3.2.1 Kết quả nghiên cứu 57

3.2.2 Phân tích kết quả ước lượng mô hình 69

3.3 CÁC HÀM Ý CHÍNH SÁCH 73

3.3.1 Đối với các doanh nghiệp ngành dược phẩm 73

3.3.2 Đối với cơ quan quản lý Nhà nước 75

3.4 HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 76

Trang 11

3.4.1 Hạn chế của đề tài 76

3.4.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo 78

KẾT LUẬN 81

TÀI LIỆU THAM KHẢO 82 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI (Bản sao)

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong các năm gần đây, tình hình tài chính vĩ mô trong nước có những diễn biến xấu kết hợp với khủng hoảng kinh tế đã khiến tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp rơi vào tình thế khó khăn Một trong những khó khăn đáng lưu ý nhất là lãi suất cho vay ngân hàng đạt mức cao nhất trong các năm gần đây Việc khó khăn trong tiếp cận nguồn vốn ngân hàng vừa là thách thức nhưng cũng là cơ hội cho các doanh nghiệp Nhiều doanh nghiệp tập trung tăng cường khả năng quản trị vốn lưu động để tăng cường dòng tiền hoạt động nhằm tận dụng nguồn vốn đầu tư nội sinh cũng như nâng cao khả năng cạnh tranh của mình Trong đó, một khía cạnh quan trọng của quản trị vốn lưu động là dự báo nhu cầu vốn lưu động để đưa ra các quyết định vay nợ ngắn hạn với chi phí thấp nhất nhưng vẫn đảm bảo

cơ cấu tài chính lành mạnh Nhằm dự báo chính xác nhu cầu vốn lưu động, việc xác định các nhân tố tác động đến nhu cầu vốn lưu động cũng như mức độ tác động là rất cần thiết

Các nghiên cứu lý thuyết cũng như thực nghiệm về các nhân tố tác động đến nhu cầu vốn lưu động trên thế giới vẫn chưa nhiều Hơn nữa, các nghiên cứu thực nghiệm chủ yếu tập trung ở các quốc gia tương đối phát triển, chỉ có một vài nghiên được thực hiện ở các nước đang phát triển Tuy nhiên điều kiện và môi trường kinh doanh của các nước được thực hiện nghiên cứu không hoàn toàn giống với Việt Nam Do đó, có một nhu cầu về lý luận cũng như thực tiễn để thực hiện một nghiên cứu thực nghiệm về các nhân tố tác động đến nhu cầu vốn lưu động tại Việt Nam

Ngành dược phẩm là một trong những ngành có tác động lớn đến nền kinh tế cũng như đời sống của xã hội Theo một công bố của IMS Health,

Trang 13

Việt Nam là một quốc gia có tốc độ tăng trưởng của ngành dược phẩm khá sôi động, với mức tăng trưởng cao thứ 2 trong nhóm các quốc gia mới nổi Ngành dược phẩm cũng là một trong những ngành được Nhà nước khuyến khích phát triển để có những đóng góp lớn hơn cho kinh tế và xã hội Hơn nữa, việc giới hạn nghiên cứu trong một ngành sẽ giúp nâng cao độ tin cậy của việc xác định, giải thích cũng như rút ra kết luận về các nhân tố tác động Do đó, tác giả xin được phép thực hiện nghiên cứu với đề tài

“Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động của các công ty ngành dược phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”

2 Mục tiêu nghiên cứu

Bài nghiên cứu tập trung vào các mục tiêu:

- Hệ thống hóa các lý luận cơ bản về nhu cầu vốn lưu động và thiết lập

mô hình cho phép xác định các nhân tố tác động đến nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp;

- Vận dụng mô hình đã xây dựng để nhận diện, đánh giá các nhân tố tác động đến nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp ngành dược phẩm niêm yết tại Việt Nam;

- Dựa trên kết quả nghiên cứu, tiến hành đo lường, đánh giá mức độ tác động của từng nhân tố đến nhu cầu vốn lưu động, từ đó rút ra một số kết luận

và hàm ý chính sách đối với các doanh nghiệp ngành dược phẩm niêm yết tại Việt Nam

3 Câu hỏi nghiên cứu

Các câu hỏi nghiên cứu sẽ được tập trung trả lời là:

- Có thể sử dụng các mô hình nào để xác định các nhân tố tác động đến nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp;

Trang 14

- Các nhân tố nào tác động đến nhu cầu vốn lưu động của các doanh nghiệp ngành dược phẩm niêm yết tại Việt Nam và tác động theo hướng nào;

- Doanh nghiệp ngành dược phẩm và các chủ thể liên quan nên lưu ý đến những vấn đề gì khi đưa ra các chính sách liên quan đến nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài của nghiên cứu là “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động của các công ty ngành dược phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” Do đó, đối tượng nghiên cứu sẽ là các nhân tố tác động đến nhu cầu vốn lưu động của các doanh nghiệp ngành dược phẩm niêm yết tại hai sàn HNX và HoSE

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Với mục tiêu nghiên cứu các nhân tố tác động đến nhu cầu vốn lưu động của các doanh nghiệp ngành dược phẩm niêm yết tại Việt Nam, phạm vi nghiên cứu của luận văn này là 14 doanh nghiệp ngành dược phẩm niêm yết trên sàn HNX và HoSE từ năm 2009 đến năm 2014

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp với nghiên cứu định lượng

Phương pháp định tính: Qua việc thu thập thông tin, dùng phương pháp thông kê mô tả, so sánh để phân tích, đánh giá thực trạng nhu cầu vốn lưu động của các doanh nghiệp ngành dược phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Trang 15

Phương pháp định lượng: Sử dụng mô hình ảnh hưởng cố định và ảnh hưởng ngẫu nhiên để xác định các nhân tố tác động đến nhu cầu vốn lưu động của các doanh nghiệp ngành dược phẩm niêm yết tại Việt Nam

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Việc xác định được các nhân tố tác động đến nhu cầu vốn lưu động cũng như mức độ của tác động sẽ giúp các doanh nghiệp có một bức tranh chính xác hơn về nhu cầu vốn lưu động cũng như giúp dự báo nhu cầu vốn lưu động trong kỳ tới Dựa theo đó, doanh nghiệp có thể lên kế hoạch vay nợ ngắn hạn để tài trợ cho nhu cầu vốn lưu động Điều này sẽ giúp nâng cao tính chủ động trong công tác quản lý tài chính, tiết kiệm được chi phí đi vay cũng như góp phần đảm bảo một cấu trúc tài chính lành mạnh Đến lượt nó, điều này sẽ giúp nâng cao tính cạnh tranh của doanh nghiệp và góp phần tạo cơ sở cho việc tăng trưởng trong tương lai

Các nghiên cứu về các nhân tố tác động đến nhu cầu vốn lưu động đã được thực hiện trên thế giới Nhưng số lượng các nghiên cứu này chưa nhiều, mô hình sử dụng vẫn lặp lại và chủ yếu tập trung nghiên cứu ở các nước phát triển Tại các nước đang phát triển cũng đã có một số nghiên cứu

về đề tài này ở Malaysia, Jordan, Nigeria… Tuy nhiên, môi trường kinh doanh cũng như tình hình vĩ mô ở các nước này không hoàn toàn đồng nhất với Việt Nam Do đó, việc áp dụng nghiên cứu này ở Việt Nam sẽ góp thêm một bằng chứng để kiểm định các nhân tố tác động đến nhu cầu vốn lưu động

Tóm lại, nghiên cứu các nhân tố tác động đến vốn lưu động tại Việt Nam vừa là một nhu cầu thực tiễn vừa là một đóng góp cho cơ sở lý luận Phạm vi nghiên cứu được xác định trong một ngành như ngành dược phẩm

Trang 16

giúp việc xác định, giải thích cũng như rút ra các kết luận trở nên dễ dàng và đáng tin cậy hơn

7 Bố cục đề tài

Đề tài nghiên cứu được trình bày gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp và

các nghiên cứu thực nghiệm về các nhân tố tác động đến nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp

Chương 2: Thiết kế nghiên cứu

Chương 3: Kết quả nghiên cứu và các hàm ý chính sách

Trang 17

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHU CẦU VỐN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM

VỀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NHU CẦU VỐN

LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN LƯU ĐỘNG VÀ VỐN LƯU ĐỘNG RÒNG CỦA DOANH NGHIỆP

1.1.1 Cách tiếp cận các khái niệm liên quan đến vốn lưu động

Một khó khăn khi thực hiện các đề tài về vốn lưu động là sự nhập nhằng giữa các khái niệm và sự bất nhất trong việc sử dụng các khái niệm này trong những văn bản khác nhau Sự thiếu nhất quán gây không ít khó khăn cho việc nghiên cứu về đề tài này Do đó, cần có một sự tổng hợp các cách tiếp cận khái niệm vốn lưu động cũng như xác định cách tiếp cận sẽ được sử dụng trong nghiên cứu này

Theo Van Horne và Wachowicz (2008), khi nói đến các khái niệm về vốn lưu động, nói chung ta có hai cách tiếp cận chính:

(i) Cách tiếp cận kế toán;

(ii) Cách tiếp cận tài chính

Theo cách tiếp cận kế toán, vốn lưu động là khái niệm dùng để chỉ phần vốn dài hạn tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh dưới dạng các tài sản ngắn hạn Theo đó vốn lưu động được tính bằng tổng tài sản ngắn hạn trừ đi tổng nợ ngắn hạn Chỉ tiêu vốn lưu động thường được các kế toán viên

sử dụng khi đánh giá khả năng phòng vệ của doanh nghiệp trước rủi ro thanh khoản

Tuy nhiên, trong thực tế, các nhà quản lý tài chính không quản trị sự chênh lệch giữa tài sản lưu động và nợ ngắn hạn mà tách việc quản trị ra làm

Trang 18

hai phần: quản trị tài sản lưu động và quản trị việc tài trợ cho tài sản lưu động

Do đó, khái niệm vốn lưu động theo cách tiếp cận kế toán không có nhiều ý nghĩa trong thực tế quản trị (Van Horne và Wachowicz , 2008)

Theo đó, các nhà quản lý tài chính sử dụng hai khái niệm riêng biệt là: vốn lưu động gộp (hay còn gọi là vốn lưu động) và vốn lưu động ròng Vốn lưu động gộp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp Vốn lưu động ròng là phần vốn dài hạn tài trợ cho vốn lưu động và được đo lường bằng chênh lệch giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn

Bảng 1.1 Tổng hợp các khái niệm về vốn lưu động theo hai cách tiếp cận

Thuật ngữ Cách tiếp cận kế toán Cách tiếp cận tài chính

rõ và đầy đủ các lý thuyết liên quan

Bảng dưới đây tổng hợp sơ lược khái niệm cũng như cách tiếp cận của tác giả trong việc sử dụng các thuật ngữ trong luận văn Việc định nghĩa các khái niệm này một cách rõ ràng hơn xin được để cho các phần sau Tác giả hy vọng điều này giúp đảm bảo tính thống nhất trong việc sử dụng thuật ngữ xuyên suốt luận văn

Trang 19

Bảng 1.2 Tổng hợp sơ lược khái niệm và cách tiếp cận của các thuật ngữ

sẽ được sử dụng trong luận văn

toàn bộ tài sản lưu động của doanh nghiệp

Vốn lưu động được xem là một tiền đề cho sự tồn tại của bất kỳ doanh nghiệp nào (Bhunia, 2010) Doanh nghiệp không thể hoạt động bình thường nếu thiếu một lượng vốn lưu động nhất định Trong một chu kỳ kinh doanh, vốn lưu động liên tục thay đổi hình thái biểu hiện từ tiền mặt, đến hàng tồn kho, khoản phải thu và quay trở lại hình thái tiền mặt

Trang 20

1.1.3 Vai trò của vốn lưu động của doanh nghiệp

Vốn lưu động là điều kiện vật chất không thể thiếu của quá trình sản xuất kinh doanh Để quá trình sản xuất kinh doanh được diễn ra liên tục, doanh nghiệp phải tổ chức hợp lý sự tuần hoàn của tài sản lưu động và phải

có đủ vốn lưu động cũng như có một sự bố trí hợp lý về các thành phần của tài sản lưu động

Vốn lưu động là công cụ phản ánh và kiểm tra quá trình vận động của vật tư Trong doanh nghiệp sự vận động của vốn phản ánh sự vận động của vật tư Vốn lưu động nhiều hay ít, tốc độ luân chuyển nhanh hay chậm sẽ phản ánh số lượng vật tư tồn trữ ở các khâu nhiều hay ít, việc sử dụng vật tư

có tiết kiệm hay không Thông qua tình hình luân chuyển vốn lưu động ta có thể thực hiện kiểm tra việc cung cấp sản xuất và tiêu thụ của doanh nghiệp

Vốn lưu động còn là yếu tố nâng cao tính cạnh tranh của doanh nghiệp Trong quá trình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp có thể gặp phải những rủi ro,

hư hỏng, mất mát vật tư, biến động giá cả Nếu quy mô vốn lưu động của doanh nghiệp đủ lớn và hợp lý sẽ đảm bảo việc làm chủ quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đảm bảo và nâng cao tính cạnh tranh của doanh nghiệp

1.1.4 Phân loại vốn lưu động

a Phân loại theo nguồn hình thành

Vốn lưu động có thể được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, cả bên trong lẫn bên ngoài doanh nghiệp, cả dài hạn lẫn ngắn hạn Các nguồn chủ yếu hình thành vốn lưu động gồm nguồn vốn thường xuyên và nguồn vốn tạm thời

- Nguồn vốn thường xuyên: là các nguồn vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp hoặc doanh nghiệp có quyền sử dụng trong dài hạn Nguồn vốn thường xuyên bao gồm vốn chủ sở hữu và vốn vay dài hạn

- Nguồn vốn tạm thời: là các nguồn vốn mà doanh nghiệp phải trả trong một chu kỳ kinh doanh bình thường, bao gồm vốn vay nợ ngắn hạn và các khoản phải trả

Trang 21

Ngoài ra, các nguồn hình thành vốn lưu động còn có thể được phân ra thành nguồn vốn tức thì (spontaneous fund) và nguồn vốn ổn định (non-spontaneous fund)

- Nguồn vốn tức thì: là các nguồn vốn hình thành một cách tự phát trong hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày của doanh nghiệp Nguồn vốn tức thì bao gồm chủ yếu là các khoản phải trả người bán và các khoản dự phòng phải trả

- Nguồn vốn ổn định: là các nguồn vốn hình thành theo kế hoạch định trước của doanh nghiệp Doanh nghiệp tương đối chủ động trong việc lên kế hoạch sử dụng nguồn vốn ổn định Nguồn vốn ổn định bao gồm vốn chủ sở hữu và vốn vay cả ngắn hạn lẫn dài hạn

b Phân loại theo hình thái biểu hiện

Tài sản lưu động là hình thái biểu hiện của vốn lưu động Vốn lưu động

có thể có các hình thái biểu hiện chủ yếu gồm:

- Tiền: bao gồm tiền mặt, tiền gửi trong tài khoản thanh toán của ngân hàng và các khoản tương đương tiền mặt

- Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn

- Các khoản phải thu: bao gồm phải thu khách hàng, thuế GTGT được khấu trừ, phải thu nội bộ và các khoản phải thu khác

- Hàng tồn kho: bao gồm nguyên vật liệu, công cụ, dụng cụ, sản phẩm

dở dang và thành phẩm, hàng hóa tồn kho

- Các tài sản lưu động khác

c Phân loại theo tính chất thường xuyên

Vốn lưu động có thể được phân thành vốn lưu động thường xuyên (Permanent Working Capital) và vốn lưu động tạm thời (Temporary Working Capital)

Trang 22

Vốn lưu động thường xuyên là phần vốn lưu động mà doanh nghiệp có nhu cầu nắm giữ thường xuyên trong thời gian dài Vốn lưu động thường xuyên có hai khía cạnh giống với tài sản dài hạn của doanh nghiệp Thứ nhất, đầu tư vào vốn lưu động thường xuyên là một đầu tư mang tính dài hạn Thứ hai, nhu cầu với vốn lưu động thường xuyên sẽ tăng lên khi doanh nghiệp phát triển, cũng giống như với tài sản dài hạn

Vốn lưu động tạm thời là phần vốn lưu động mà doanh nghiệp cần đầu

tư trong một khoản thời gian ngắn và mang tính mùa vụ Hình 1.1 biểu diễn bằng đồ thị vốn lưu động thường xuyên và vốn lưu động tạm thời của doanh nghiệp

Hình 1.1 Đồ thị biểu diễn vốn lưu động thường xuyên và vốn lưu động thời vụ của doanh nghiệp theo thời gian (Nguồn: Fundamentals of Financial Management, Van Horne và Wachowicz, 2008)

Trang 23

1.1.5 Vốn lưu động ròng của doanh nghiệp (Net Working Capital)

Vốn lưu động ròng được định nghĩa bằng sự chênh lệch giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn hoặc bằng nguồn vốn thường xuyên trừ đi tổng các tài sản dài hạn

Vốn lưu động ròng = Tài sản ngắn hạn – Nợ ngắn hạn (1)

Trong đó:

· Tài sản ngắn hạn hay còn gọi là tài sản lưu động, là các tài sản có tính lỏng cao nhất của doanh nghiệp bởi các tài sản này là tiền mặt hoặc có thể nhanh chóng chuyển thành tiền mặt với một mức chi phí hợp lý

· Nợ ngắn hạn là các khoản nợ doanh nghiệp có nghĩa vụ phải trả trong một chu kỳ kinh doanh bình thường (thường là 1 năm)

Vốn lưu động ròng = Nguồn vốn thường xuyên – Tổng tài sản dài hạn (2)

Trong đó:

· Tổng tài sản dài hạn bao gồm các tài sản và đầu tư tài chính dài hạn

· Nguồn vốn thường xuyên bao gồm vốn chủ sở hữu và các khoản vay

nợ dài hạn

Theo cách tính (1), vốn lưu động ròng là chỉ tiêu đánh giá tương quan giữa nguồn vốn tạm thời và tài sản lưu động của doanh nghiệp Nó là phần còn lại của tài sản ngắn hạn hiện tại sau khi trừ đi giá trị các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp Nó đại diện cho biên an toàn nhằm đảm bảo doanh nghiệp đủ khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn Vốn lưu động ròng là một thước đo phổ biến nhằm đo lường tính thanh khoản và sức khỏe tài chính của doanh nghiệp

Ø Nếu vốn lưu động ròng dương có nghĩa là doanh nghiệp có đủ giá trị tài sản trên sổ sách để thanh toán các khoản nợ đến hạn Một doanh nghiệp có vốn lưu động dương được coi là có khả năng thanh khoản tốt

Trang 24

Ø Nếu vốn lưu động ròng âm có nghĩa là doanh nghiệp sẽ không có đủ khả năng hoàn trả các nguồn vốn ngắn hạn nếu chúng đáo hạn cùng lúc, đây

là dấu hiệu của doanh nghiệp có tính thanh khoản kém

Ø Nếu vốn lưu động ròng bằng 0 có nghĩa là doanh nghiệp có vừa đủ tài sản để trang trải các khoản nợ của mình Thực tế, các doanh nghiệp có vốn lưu động ròng bằng 0 vẫn thường được xem là có tính thanh khoản kém

Theo cách tính (2), vốn lưu động ròng thể hiện cân bằng giữa nguồn vốn ổn định và các tài sản có thời gian chu chuyển lớn hơn một chu kỳ kinh doanh bình thường hoặc một năm Chỉ tiêu này thể hiện nguồn gốc của vốn thường xuyên góp phần vào việc hình thành vốn lưu động:

Ø Nếu vốn lưu động ròng dương có nghĩa là nguồn vốn thường xuyên

có thể tài trợ cho toàn bộ tài sản dài hạn Phần chênh lệch sẽ được sử dụng để tài trợ một phần tài sản lưu động Trong trường hợp này doanh nghiệp có cân bằng tài chính tốt

Ø Nếu vốn lưu động ròng âm có nghĩa là nguồn vốn thường xuyên không đủ để tài trợ cho toàn bộ tài sản dài hạn Doanh nghiệp phải sử dụng một phần nguồn vốn tạm thời để tài trợ cho các tài sản dài hạn Trong trường hợp này doanh nghiệp có cân bằng tài chính xấu

Ø Nếu vốn lưu động ròng bằng 0 nghĩa là doanh nghiệp đạt cân bằng tài chính, nguồn vốn thường xuyên vừa đủ tài trợ cho các tài sản dài hạn Trong trường hợp này doanh nghiệp đạt cân bằng tài chính

1.1.6 Chính sách quản lý vốn lưu động của doanh nghiệp (Working Capital Policy)

Chính sách quản lý vốn lưu động của doanh nghiệp có tác dụng như một định hướng giúp nhà quản lý ra các quyết định về xác định mức độ đầu tư cho tài sản lưu động, cấu trúc thành phần các tài sản lưu động cũng như cấu trúc nguồn vốn hình thành vốn lưu động Một chính sách vốn lưu động là một

Trang 25

sự đánh đổi giữa lợi ích và rủi ro của nhà quản lý (Van Horne và Wachowicz, 2008)

Với một chính sách vốn lưu động xác định trước, nhà quản lý thường định ra một mức độ tài sản lưu động cần thiết, cấu trúc vốn lưu động cũng như các phương án vay nợ để tài trợ vốn lưu động theo kế hoạch Sau đó, các chỉ tiêu này trong thực tế sẽ được kiểm soát và điều chỉnh về mức kế hoạch

Do đó, tùy theo chính sách quản lý vốn lưu động trung dung, năng nổ hay thận trọng sẽ có ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp

Theo Arnold Glen, 2008, “Corporate financial management”, tái bản lần thứ 4, chính sách vốn lưu động có thể được phân thành 3 loại: chính sách vốn lưu động cẩn trọng (conservative), chính sách vốn lưu động năng nổ (aggressive) và chính sách vốn lưu động trung dung (moderate)

Trong dài hạn, các nguồn vốn ngắn hạn thường có chi phí sử dụng rẻ hơn các nguồn vốn vay dài hạn Do đó, sử dụng nhiều nguồn vốn ngắn hạn sẽ giúp tiết kiệm chi phí sử dụng vốn tuy nhiên điều này sẽ đặt áp lực lớn lên khả năng thanh khoản của doanh nghiệp

Trong hình minh họa chính sách vốn lưu động năng nổ dưới đây, doanh nghiệp đã sử dụng vốn vay ngắn hạn để tài trợ toàn bộ tài sản lưu động tạm thời (đường lượn sóng) và một phần tài sản lưu động thường xuyên (đường thẳng nằm trên)

Trang 26

Hình 1.2 Minh họa chính sách vốn lưu động năng nổ (Nguồn:

Fundamentals of Financial Management, Van Horne và Wachowicz, 2008)

· Chính sách vốn lưu động cẩn trọng

Với chính sách vốn lưu động cẩn trọng toàn bộ tài sản lưu động thường xuyên và một phần tài sản lưu động tạm thời sẽ được tài trợ bởi các nguồn vốn dài hạn Doanh nghiệp sẽ tăng cường năm giữ các tài sản lưu động đồng thời tối thiểu hóa các khoản vay nợ ngắn hạn

Chính sách vốn lưu động cẩn trọng đem lại lợi nhuận thấp nhưng đồng thời cũng giảm thiểu rủi ro cho doanh nghiệp Việc nắm giữ nhiều tài sản lưu động và sử dụng các nguồn vốn vay dài hạn sẽ làm phát sinh chi phí sử dụng vốn lớn Nói chung, trong dài hạn, các nguồn vốn vay dài hạn luôn có chi phí

sử dụng vốn vay lớn hơn các nguồn vốn vay ngắn hạn Tuy nhiên điều này sẽ giúp giảm rủi ro cho doanh nghiệp trên hai khía cạnh Thứ nhất việc nắm giữ nhiều tài sản lưu động như hàng tồn kho sẽ giúp giảm rủi ro trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Thứ hai, vốn vay dài hạn không tạo ra nhiều áp lực thanh khoản cho doanh nghiệp

Trang 27

Trong hình mình họa chính sách vốn lưu động cẩn trọng dưới đây, chỉ một phần vốn vay ngắn hạn nhỏ được sử dụng để tài trợ cho tài sản lưu động tạm thời (đường lượn sóng) Phần lớn tài sản lưu động được tài trợ bởi các nguồn vốn dài hạn

Hình 1.3 Minh họa chính sách vốn lưu động cẩn trọng (Nguồn: Fundamentals of Financial Management, Van Horne và Wachowicz, 2008)

· Chính sách vốn lưu động trung dung

Các cách tiếp cận trên đều có những ưu điểm cũng như nhược điểm của mình Trong một số trường hợp, doanh nghiệp có chính sách tài trợ vốn lưu động cẩn trọng – sử dụng nhiều hơn các nguồn vốn dài hạn để tài trợ vốn lưu động - nhưng không thể tăng các tài sản ngắn hạn lên tương ứng theo như chính sách vốn lưu động cẩn trọng được Chính sách vốn lưu động trung dung không chỉ là sự kết hợp giữa chính sách vốn lưu động năng nổ và cẩn trọng

mà còn điều chỉnh cân bằng giữa rủi ro – lợi nhuận

Trang 28

Trong hình minh hoạt dưới đây, toàn bộ phần tài sản lưu động tạm thời được tài trợ bởi nguồn vốn vay ngắn hạn trong khi nguồn vốn vay dài hạn được sử dụng để tài trợ cho tài sản lưu động thường xuyên

Hình 1.4 Minh họa chính sách vốn lưu động trung dung (Nguồn: Fundamentals of Financial Management, Van Horne và Wachowicz, 2008)

1.2 NHU CẦU VỐN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP

1.2.1 Khái niệm nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp (Working Capital Requirement)

Bắt đầu từ phần này trở đi, ta sử dụng cách tiếp cận kế toán khi đề cập đến các khái niệm vốn lưu động Theo đó, vốn lưu động đo lường mức độ doanh nghiệp sử dụng các nguồn vốn thường xuyên để đầu tư cho tài sản lưu động Vốn lưu động được đo lường bằng sự chênh lệch giữa tài sản ngắn hạn

và nợ ngắn hạn của doanh nghiệp

Các yếu tố thuộc vốn lưu động có liên quan đến chu kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Chẳng hạn, các khoản phải thu có liên quan trực tiếp đến doanh số bán hàng của doanh nghiệp Doanh thu bán hàng

Trang 29

càng tăng thì các khoản phải thu càng lớn Hơn nữa, chính sách tín dụng thương mại của doanh nghiệp cũng có tác động đến doanh thu, điều đó càng làm mối quan hệ này thể hiện rõ hơn Đến lượt mình, doanh thu hàng bán tác động đến hàng tồn kho và các khoản phải trả nhà cung ứng Ngoài ra, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp còn phải tính đến các khoản phải thu khác (thuế GTGT được khấu trừ, phải thu nội bộ, tạm ứng nhà cung cấp,…) và các nguồn vốn tạm thời khác (nợ lương, nợ BHXH, phải trả nội bộ,…)

Do những nhân tố tác động qua lại lẫn nhau như vậy, trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của mình doanh nghiệp phát sinh nhu cầu về hàng tồn kho và các khoản phải thu nhưng đồng thời, một bộ phận của các tài sản lưu động này cũng sẽ được tài trợ thông qua các khoản phải trả hay còn gọi là nguồn vốn tức thì (spontaneous fund)

Phần chênh lệch giữa chúng thể hiện nhu cầu tài trợ cho các tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp nhằm phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh và được gọi là nhu cầu vốn lưu động

Nhu cầu vốn lưu động (Working Capital Requirement) được xác định bằng chênh lệch giữa tài sản lưu động và nợ ngắn hạn

Nhu cầu vốn lưu động = Tổng tài sản lưu động – Nguồn vốn tức thì

(Working Capital Requirement = Current Asset – Spontaneous Fund)

Trong đó:

· Tài sản lưu động là các tài sản sẽ được sử dụng hoặc bán trong một chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp (thường là 1 năm)

· Nguồn vốn tức thì: là các nguồn vốn hình thành một cách tự phát trong hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày của doanh nghiệp Nguồn vốn

Trang 30

tức thì bao gồm chủ yếu là các khoản phải trả người bán và các khoản dự phòng phải trả

Việc dự báo chính xác nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp có vai trò quan trọng trong công tác quản trị tài chính của doanh nghiệp Đó là cơ sở

để doanh nghiệp lên kế hoạch huy động các khoản vốn vay sao cho chi phí tài trợ là thấp nhất và đạt cấu trúc tài chính lành mạnh Để dự báo chính xác nhu cầu vốn lưu động, việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động là rất quan trọng

1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp

Các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp có thể được phân vào hai nhóm chính đó là nhóm các nhân tố nội sinh và nhóm các nhân tố vĩ mô

a Các nhân tố nội sinh

Quy mô của doanh nghiệp

Khi quy mô của doanh nghiệp tăng lên, nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp sẽ lớn hơn để phục vụ cho việc mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh Thêm vào đó, các dự án mới cũng sẽ làm phát sinh nhu cầu vốn lưu động tăng thêm dưới dạng hàng tồn kho và các khoản phải thu

Các nghiên cứu thực nghiệm của Chiuou & cộng sự (2006), Gill (2011) cũng đưa ra các bằng chứng ủng hộ lập luận trên Nghiên cứu của Chiou & cộng sự (2006) thu thập dữ liệu hằng quý của 19.180 doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán Đài Loan từ năm 1996 đến năm 2004 Kết quả nghiên cứu cho thấy quy mô doanh nghiệp, đo lường bằng log của tổng tài sản, có tác động có ý nghĩa thống kê đến nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp

Trang 31

Nghiên cứu của Gill (2011) thu thập dữ liệu của 166 doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán Toronto từ năm 2008 đến năm 2010 Trong nghiên cứu này, quy mô doanh nghiệp cũng được đo lường bằng log của tổng tài sản của doanh nghiệp Kết quả nghiên cứu cho thấy quy mô doanh nghiệp có tương quan dương có ý nghĩa thống kê với nhu cầu vốn lưu động

Hiệu quả quản lý vốn lưu động

Trong cùng một ngành, doanh nghiệp nào có hiệu quả quản lý vốn lưu động tốt hơn sẽ có nhu cầu vốn lưu động thấp hơn Hiệu quả quản lý vốn lưu động cao sẽ giúp tăng tốc độ luân chuyển của vốn lưu động, qua đó giải phóng vốn bị giam trong tài sản lưu động, giúp giảm nhu cầu về vốn lưu động

Một thước đo được sử dụng để đo lường hiệu quả quản lý vốn lưu động

là chu kỳ chuyển hóa tiền mặt (Cash Conversion Cycle) Chu kỳ chuyển hóa tiền mặt đo lường khoảng thời gian từ lúc doanh nghiệp chi tiền mặt ra để thanh toán cho nhà cung cấp cho đến khi doanh nghiệp nhận được tiền mặt từ người mua trong một chu kỳ kinh doanh Vòng quay hoán chuyển tiền mặt được xác định bằng

Chu kỳ chuyển hóa tiền mặt = Kỳ chuyển hóa tồn kho + Kỳ thu tiền bình quân – Kỳ phải trả người bán bình quân

Trong đó:

· Kỳ chuyển hóa tồn kho: là khoảng thời gian bình quân cần thiết để chuyển hóa nguyên vật liệu thành thành phẩm và bán cho người tiêu dùng Kỳ chuyển hóa tồn kho thường được đo lường bằng hàng tồn kho bình quân chi cho giá vốn hàng bán sau đó nhân với 360 ngày (hoặc 365 ngày)

· Kỳ thu tiền bình quân: là khoảng thời gian cần thiết để chuyển hóa khoản phải thu thành tiền mặt, nghĩa là thời gian cần thiết để thu tiền từ khách

Trang 32

hàng kể từ thời điểm ghi hóa đơn Kỳ thu tiền bình quân thường được tính bằng khoản phải thu bình quân chia cho doanh thu thuần nhân với 360 ngày (hoặc 365 ngày)

· Kỳ phải trả người bán bình quân: là độ dài thời gian từ khi mua nguyên vật liệu hay thuê lao động cho đến khi thanh toán nhà họ Kỳ thu tiền bình quân được xác định bằng khoản phải trả người bán bình quân chi cho tổng tiền hàng mua chịu sau đó nhân với 360 ngày (hoặc 365 ngày)

Tăng trưởng doanh thu của doanh nghiệp

Do tác động qua lại lẫn nhau, một sự tăng trưởng trong doanh thu của doanh nghiệp sẽ kéo theo sự tăng trưởng trong tài sản lưu động như hàng tồn kho, phải thu khách hàng… cũng như tăng trưởng trong các khoản phải trả như phải trả người bán, phải trả nội bộ… Theo đó, tăng trưởng doanh thu của doanh nghiệp có tác động trực tiếp đến nhu cầu vốn lưu động

Trong nghiên cứu của mình, Hill & cộng sự (2010) kết luận rằng tăng trưởng doanh thu của doanh nghiệp, đo lường bằng tốc độ tăng trưởng doanh thu hằng năm, có tác động có ý nghĩa thống kê đến nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp Hill & cộng sự (2010) sử dụng dữ liệu gồm 3.343 doanh nghiệp trong cơ sở dữ liệu COMPUSTAT từ năm 1996 đến năm 2006 Mô hình nghiên cứu là mô hình tuyến tính, phương pháp ước lượng là mô hình FEM và REM

Khả năng sinh lời của doanh nghiệp (Profitability)

Khả năng sinh lời của doanh nghiệp là kết quả của việc sử dụng tập hợp các tài sản vật chất và tài sản tài chính, tức là vốn kinh tế mà doanh nghiệp nắm giữ Khả năng sinh lời thường được đo lường thông qua các chỉ tiêu như

tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA), tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) hay khả năng sinh lời trên doanh thu (ROS)

Trang 33

Tác động giữa khả năng sinh lời của doanh nghiệp và nhu cầu vốn lưu động là một tác động qua lại Chẳng hạn, một chính sách tín dụng thương mại nới lỏng sẽ làm tăng nhu cầu vốn lưu động nhưng đồng thời cũng thúc đẩy doanh thu bán hàng của doanh nghiệp, qua đó cải thiện khả năng sinh lời Ở chiều ngược lại, một doanh nghiệp có khả năng sinh lời cao thường có động lực lớn để tối ưu hóa việc quản trị vốn lưu động nhằm tăng cường dòng tiền kinh doanh và bớt sử dụng các nguồn vốn vay nợ bên ngoài

Nghiên cứu thực nghiệm của Molina và Preve (2008) cho thấy có một tương quan dương giữa nhu cầu vốn lưu động và khả năng sinh lời của doanh nghiệp

Sự ổn định của dòng tiền từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Theo lý thuyết trật tự phân hạng, doanh nghiệp sẽ ưu tiên sử dụng các nguồn vốn nội sinh trước, sau đó mới đến các nguồn vốn từ bên ngoài theo thứ tự ưu tiên là sử dụng nợ rồi mới đến phát hành cổ phần hoặc tăng vốn góp Một dòng tiền kinh doanh ổn định sẽ khuyến khích các doanh nghiệp thực hiện một chính sách vốn lưu động cẩn trọng, trong đó sử dụng nhiều hơn phần vốn nội sinh và giảm vay nợ bên ngoài để tài trợ cho nhu cầu vốn lưu động

Các nghiên cứu của Gill (2011), Hill & cộng sự (2010) cũng như Nazir

& Afzar (2009) đều kiểm định giả thuyết về quan hệ giữa dòng tiền từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đến nhu cầu vốn lưu động Tuy kết luận của cả ba nghiên cứu là quan hệ giữa chúng không có ý nghĩa thống kê nhưng nghiên cứu này cũng sẽ kiểm định giả thuyết nói trên ở môi trường Việt Nam

Đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp

Đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp được xác định bằng phần trăm thay đổi của loại nhuận trên vốn cổ phần (EPS) trên phần trăm thay đổi của loại nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT) Đòn bẩy tài chính thể hiện mức độ

Trang 34

doanh nghiệp sử dụng các nguồn vốn bên ngoài đồng thời cũng thường được

sử dụng để đo lường rủi ro tài chính của doanh nghiệp Một doanh nghiệp có đòn bẩy tài chính cao thường theo đuổi một chính sách vốn lưu động năng nổ theo đó sử dụng nhiều khoản vay nợ ngắn hạn để tài trợ cho nhu cầu vốn lưu động

Trong các nghiên cứu thực nghiệm trước đây (Chiou và cộng sự, 2006; Nazir và Afza, 2009; Taleb và cộng sự, 2010; Olayinka, 2012) đã kết luận rằng có một tương quan nghịch giữa đòn bẩy và nhu cầu vốn lưu động

Đặc điểm ngành của doanh nghiệp

Mỗi ngành nghề có một tính chất sản xuất, kinh doanh rất riêng biệt Tính chất kinh doanh này quy định nhu cầu vốn lưu động điển hình của ngành

Ví dụ ngành bán lẻ có nhu cầu vốn lưu động rất khác so với ngành dệt may Đặc điểm của ngành bán lẻ là bán hàng thu tiền ngay trong khi các nhà cung cấp thường cho các doanh nghiệp bán lẻ mua nợ do đó nhu cầu vốn lưu động

là rất thấp Trong khi đó, ngành dệt may lại có nhu cầu vốn lưu động cao để đầu tư cho nguyên vật liệu, thành phẩm, sản phẩm dở danh cũng như các khoản phải thu

Nghiên cứu của Hawawini & cộng sự (1986) là một trong những nghiên cứu thực nghiệm đầu tiên về đề tài này Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích chùm (Cluster Analysis) để kiểm định quan hệ giữa nhu cầu vốn lưu động và các nhóm ngành Kết luận của nghiên cứu là nhu cầu vốn lưu động có sự khác biệt đáng kể giữa ngành này và ngành khác

Trang 35

b Các nhân tố vĩ mô

Lãi suất cho vay ngắn hạn

Lãi suất cho vay ngắn hạn ảnh hưởng đến quyết định vay nợ ngắn hạn của doanh nghiệp để tài trợ cho nhu cầu vốn lưu động Do đó doanh nghiệp có thể điều chỉnh nhu cầu vốn lưu động của mình để đảm bảo nhu cầu vốn lưu động có thể được tài trợ một cách hợp lý Chẳng hạn nếu lãi suất cho vay ngắn hạn quá cao doanh nghiệp có xu hướng thắt chặt tín dụng thương mại cho người mua đồng thời trì hoãn việc thanh toán hóa đơn cho nhà cung cấp

Lạm phát

Lạm phát sẽ ảnh hưởng đến giá cả của các yếu tố đầu vào cũng như đầu

ra của doanh nghiệp Ảnh hưởng cùng chiều hay nghịch chiều của lạm phát lên nhu cầu vốn lưu động phụ thuộc vào nhiều yếu tố như đặc điểm của hàng hóa đầu vào và đầu ra, tỷ trọng của từng loại hàng hóa đầu vào và đầu ra…

Tỉ giá hối đoái

Tỷ giá hối đoái có tác động tương tự như lạm phát ở điểm nó tác động đến giá cả các yếu tố đầu vào và đầu ra của doanh nghiệp liên quan đến xuất nhập khẩu Chiều hướng tác động của tỷ giá hối đoái đến nhu cầu vốn lưu động cũng phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau

1.3 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NHU CẦU VỐN LƯU ĐỘNG

Trong những năm gần đây có nhiều nghiên cứu được thực hiện về đề tài vốn lưu động như của Lamberson, M (1995); Moussawi, Laptane và Kitschnick (2006); Appuhami, B (2008); Melmet, S và Eda, O (2009); Owusu-Frimpong và Martins (2010); Babatunde và Laoye (2011), Nazir & Afzar (2009), Hill & cộng sự (2010), Amarjit Gill (2011) và Farai & Merle

Trang 36

(2014)… Đề tài vốn lưu động không chỉ có ý nghĩa học thuật mà còn là đề tài được các nhà quản lý quan tâm Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu không chỉ ra các nhân tố tác động đến nhu cầu vốn lưu động

Chiou và các cộng sự (2006) thu thập dữ liệu tại sàn giao dịch chứng khoán Đài Loan của 19.180 doanh nghiệp, trong thời kỳ 1996-2004 Nghiên cứu đã phát hiện ra rằng hệ số nợ và dòng tiền hoạt động có ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động và các hệ số khác như chỉ số kinh doanh, đặc điểm ngành, tăng trưởng doanh thu và quy mô doanh nghiệp không có tác động đến nhu cầu vốn lưu động

Nazir và Afza (2008) sử dụng dữ liệu của 204 doanh nghiệp sản xuất thuộc 16 nhóm ngành trên sàn KSE để xác định các nhân tố tác động đến nhu cầu vốn lưu động Kết quả là tương quan giữa nhu cầu vốn lưu động và vòng quay hoạt động, đòn bẩy tài chính, ROA và Tobin’s q có ý nghĩa thống kê

Nghiên cứu của Hill, Kelly và Highfiled (2010) đã chỉ ra nhiều nhân tố tác động đến vốn lưu động như lợi nhuận biên, tốc độ tăng trưởng doanh thu,

tỉ số M/B… Các nhân tố tác động đến nhu cầu vốn lưu động có thể phân thành hai nhóm lớn: nhóm các nhân tố nội sinh như kích thước doanh nghiệp, tăng trưởng doanh thu, lợi nhuận biên, đòn bẩy tài chính, vòng quay hoạt động, khả năng sinh lợi của doanh nghiệp và các yếu tố ngoại sinh nằm ngoài doanh nghiệp như lãi suất, mức độ hoạt động của nền kinh tế

Nghiên cứu của Hawawini và cộng sự (1986) đã cho thấy nhu cầu vốn lưu động của từng ngành là rất khác nhau, nó phản ánh bản chất của từng ngành và tương đối ổn định theo thời gian Trong ngành dược phẩm tại Việt Nam, có thể phân chia các công ty trong ngành thành hai nhóm là các công ty sản xuất dược phẩm và các công ty phân phối dược phẩm Sự khác nhau giữa hai nhóm ngành này có thể dẫn đến sự khác nhau trong nhu cầu vốn lưu động

Trang 37

Lamberson (1995) nghiên cứu 50 công ty trong thời kỳ 1980-1991 và

sử dụng các chỉ số vĩ mô làm biến độc lập và các chỉ số tài chính làm biến phụ thuộc để khám phá mối quan hệ giữa việc thay đổi vị thế vốn lưu động và thay đổi trong môi trường kinh tế vĩ mô Nghiên cứu đã cho thấy thanh khoản tăng nhẹ trong thời kỳ kinh tế phát triển nhưng không thay đổi bao nhiêu trong thời kỳ suy thoái

Trang 38

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Có hai cách tiếp cận phổ biến được sử dụng khi bàn đến các khái niệm liên quan đến vốn lưu động, đó là cách tiếp cận kế toán và cách tiếp cận tài chính Nghiên cứu này sử dụng cách tiếp cận kế toán khi bàn đến khái niệm nhu cầu vốn lưu động Nhu cầu vốn lưu động thể hiện nhu cầu tài trợ cho tài sản lưu động trong ngắn hạn bằng các nguồn vốn ổn định (non-spontaneous fund) của doanh nghiệp Việc xác định chính xác nhu cầu vốn lưu động có ý nghĩa quan trọng, nó sẽ giúp doanh nghiệp chủ động trong kế hoạch vay nợ,

từ đó giúp giảm chi phí đi vay cũng như duy trì một cấu trúc vốn lành mạnh Các nhân tố tác động đến nhu cầu vốn lưu động có thể chia thành hai nhóm chính: nhóm các nhân tố nội sinh và nhóm các nhân tố vĩ mô

Trang 39

CHƯƠNG 2

THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

2.1 GIỚI THIỆU CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH DƯỢC PHẨM NIÊM YẾT TẠI VIỆT NAM

2.1.1 Giới thiệu khái quát ngành dược phẩm Việt Nam

Ngành công nghiệp dược phẩm Việt Nam được xếp vào cấp độ 3 theo thang xếp loại phát triển của Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO) Theo đó, Việt Nam có công nghiệp dược nội địa, có sản xuất thuốc generic và có xuất khẩu dược phẩm Theo đánh giá của IMS Health, Việt Nam được xếp vào các nước có công nghiệp dược đang phát triển cùng với các nước Venezuela, Ba Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Mexico…

Cũng theo IMS Health, tốc độ tăng trưởng doanh thu của các doanh nghiệp dược phẩm Việt Nam đạt khoảng 23% trong giai đoạn 2008-2012 Đây là mức tăng trưởng cao thứ 2 trong nhóm các quốc gia mới nổi Chi tiêu cho sử dụng thuốc tại Việt Nam cũng tăng đều đặn và được dự báo sẽ đạt 248

tỉ đô vào năm 2028

2.1.2 Giới thiệu các doanh nghiệp ngành dược phẩm niêm yết tại Việt Nam

Hiện nay có 15 doanh nghiệp dược phẩm và thiết bị y tế đang niêm yết tại 2 sàn chứng khoán, có thể phân loại theo hai tiêu chí sau:

- Theo sàn niêm yết: có 9 doanh nghiệp niêm yết trên sàn HOSE (DHG, IMP, TRA, DMC, DCL, OPC, SPM, VMD, JVC) và 6 doanh nghiệp tại sàn HNX (PMC, LDP, DHT, DBT, PPP, AMV)

- Theo loại hình hoạt động: 6 doanh nghiệp sản xuất thuốc tân dược (DHG, IMP, DMC, DCL, PMC, SPM), 3 doanh nghiệp sản xuất thuốc đông

Trang 40

dược (TRA, OPC, PPP), 4 doanh nghiệp chuyên về phân phối (VMD, LDP, DHT, DBT) và 2 doanh nghiệp cung ứng thiết bị y tế (JVC, AMV)

Nhìn chung cơ cấu tài sản của các doanh nghiệp trong nhóm sản xuất

và thiết bị y tế khá tương đồng, tài sản ngắn hạn bình quân chiếm 68% tổng tài sản Ngược lại, các doanh nghiệp thuộc nhóm phân phối có tài sản dài hạn chỉ chiếm khoảng 17% (riêng VMD tỉ trọng tài sản dài hạn chỉ 3%) do các doanh nghiệp này không phải đầu tư nhiều vào máy móc, nhà xưởng

Nhóm doanh nghiệp sản xuất duy trì cơ cấu vốn khá lành mạnh, vốn chủ sở hữu bình quân chiếm đến 66% tổng cơ cấu nguồn vốn Ngược lại nhóm doanh nghiệp phân phối lại có tỉ trọng nợ phải trả tương đối cao (bình quân khoảng 70%) và chủ yếu là nguồn vốn vay

2.1.3 Khái quát kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp ngành dược phẩm niêm yết tại Việt Nam

Bảng 2.1 Tổng hợp ROA & ROE trung bình của các công ty trong nghiên

Ngày đăng: 28/09/2018, 19:22

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm